Đôi khi tôi thấy mình như một dòng sông đêm Trôi lấp lánh những vì sao của nghìn phương diệu vợi Trôi giữa đôi bờ yêu thương mà lòng cứ nôn nao,
cứ rộn ràng như đâu đây lòng em trên bến đợi
Tôi vừa trôi vừa vỗ nhẹ cơn mơ mình Tôi vỗ vào bờ em nghe từng nỗi nhớ quên Đêm thao thức, đêm trở mình nhè nhẹ
Những vì sao cứ rầm rì chuyện kể
Gió xôn xao làm ngàn tiếng sóng loang xa Gió diệu hiền thầm thỉ những lời ca Tôi vỡ sóng lăn tăn như mùa thu rối bời trên tóc Tôi vỡ sóng lăn tăn như hạnh phúc ai ngà ngọc
Trôi vào đêm mầu nhiệm giấc mơ huyền
Tôi vỡ hồn tôi như điệu vũ Nghê thường huyền thoại thần tiên
Tôi trôi với Tôi chảy cùng Tôi tan vào Mê đắm Tôi có phải là dòng sông chảy qua đời em vô tận Chảy trong chiêm bao
Trong huyền mộng
Mênh mang.
ĐƯỜNG CÓ NHIỀU HOA XUYẾN CHI
Trên những con đường có nhiều hoa xuyến chi Tôi bắt gặp mùa thu phơi sương trắng Những sớm mai lòng tôi chưa kịp nắng Và tình em chưa kịp trải lụa vàng
Những đóa hoa xuyến chi rạo rực nở và náo nức tỏa hương Hương của đất nghìn năm còn ủ mật Hương của em thiên thu còn cháy khát Ái ân người rằm suốt một mùa trăng
Tôi bước đi trên những con đường có nhiều hoa xuyến chi Hoa dung dị như môi tình mới nở Hoa hồn nhiên như áo tình bay trong gió Để lụa là chảy mượt mấy dòng thơ
Hoa nở trắng Như người về trắng giấc sương mơ Ôi nhẹ quá, lòng tôi như cánh bướm Ôi nhẹ quá, đôi cánh tình rất mỏng Tôi bay cùng hoa trắng một mùa sương.
NỤ ĐỜI THƠM NGÁT MỘT CÂU THƠ
Tôi trải hồn tôi lên cỏ mượt Nằm nghe chim hót tận rừng xa Em nở búp sen từng nhịp bước Hương chìm trong áo ủ trong hoa
Cơn gió tình si cũng ướp nồng Màu thơm của tóc chảy như sương Màu của thiên thu hồ thủy bích Màu của trăng phai bóng nguyệt hồng
Tôi trải hồn thơ lên nỗi nhớ Mà nghe nhạc rót mật bên trời Trăm đóa hoa mây vờn như bướm Em về hò hẹn cuộc tình vui
Con dế đa tình khan cả giọng Ru mãi lời ru nồng ái ân Xin rước em về đêm huyễn mộng Sương ngàn gió núi cũng dâng hương
Con chim cổ tích về xây tổ Đan chiếc nôi tình trong giấc mơ Huyền diệu lòng em hoa chợt nở Nụ đời thơm ngát một câu thơ.
VƯỜN XƯA
Mai người về lại vườn xưa Nhặt câu thơ cũ cũng vừa rêu xanh Gói câu thơ lại tội tình Chôn vào vô tận mông mênh đất trời Câu thơ còn ấm lệ người Hồn thơ siêu thoát chưa nguôi nỗi tình
Rồi đành quên ! Có đành quên ? Lối xưa vườn cũ vàng hanh nắng chiều Thơ tàn tro khói vàng thiu Ngàn năm bay mãi vào hiu quạnh này
Ai chôn dưới cội mai gầy Hoa vàng mấy độ vàng phai rụng vàng.
TA GỬI GÌ VÀO GIỌT RƯỢU CHIỀU NAY
Ta ném vội nỗi buồn vào quên lãng Những đợi chờ, hy vọng sẽ tàn vơi Và ta sẽ như một loài cây cỏ Cứ nở hoa khoe sắc hiến dâng đời
Lòng ta sẽ vì thơ mà thắm lại Yêu nhân gian, yêu cả những phụ phàng Ta yêu cả những tình đi không trở lại Yêu em như yêu Chúa, bỏ thiên đàng
Ta sẽ ném nỗi buồn không tưởng tiếc Giọt rượu này trôi suốt cõi vô biên Ta yêu cả những sinh tồn hủy diệt Ta yêu em yêu giấc mộng không thành
Chiều nay ta uống mà không thể Gửi đến lòng ta ly rượu cay Đã ném đời ta vào dâu bể Mà nghe tình em như mây bay.
THƠ TÔI LÀ GIỌT LỆ NGƯỜI TRĂM NĂM
Tôi đang khát cháy cả lòng Uống nghìn chung mà nỗi buồn chưa vơi
Đi qua mấy dặm luân hồi Thơ tôi là giọt lệ người trăm năm Đi qua mấy cuộc thăng trầm Thơ tôi là hạt sương tan giữa chiều Đi, về trong cõi quạnh hiu Thơ tôi là tiếng chim kêu cuối ngàn Qua em là những dỡ dang Thơ buồn đọng lại điêu tàn thu xưa
Tôi đang khát, cháy niềm đau Rượu người chảy một dòng sầu vô biên Xin đời giây phút bình yên Cho tôi neo đậu bóng thuyền đời tôi
Xin cho tàn cuộc luân hồi Thơ tôi là giọt lệ người trăm năm.
NỖI BUỒN BỎ QUÊN
Như những chuyến tàu mùa đông Người bỏ quên một nỗi buồn trong tôi Bỏ quên từ những tàn phai Từ câu thơ úa trên tay lá vàng Bỏ quên từ những dỡ dang Từ hoang vắng nhuộm tím hoàng hôn tôi Bỏ sợi mưa ướt vai người Hai bờ tóc rối chảy hoài trong mơ Bỏ quên câu đợi câu chờ Lòng xưa rêu biếc vườn xưa ai về
Hình như những chuyến tàu khuya Réo vào vô vọng tiếng còi mùa đông Người bỏ quên một nỗi buồn Trong tôi là những mênh mông cõi người.
Nhân cách của các Tướng – Tá Quân Lực Việt nam Cộng Hòa
Một chế độ có nền giáo dục tốt sẽ sản sinh những hiền tài cho quốc gia đó. Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) tuy tồn tại trên bản đồ thế giới chỉ có 20 năm, nhưng đã để lại một di sản rất lớn về nhân cách của những người phục vụ cho nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa. Họ là những người đã hấp thụ được một nền giáo dục tốt từ các ngôi trường đào tạo có tầm vóc nhất trong khu vực. Và nền giáo dục được định hướng Nhân Bản, Dân Tộc và Khai Phóng. Triết lý nhân bản của nền giáo dục VNCH là đặt con người vào vị trí trung tâm để định vị cho hướng đào tạo, nên đã cung cấp hàng hàng lớp lớp những con người tinh anh để phục vụ trong quân đội cũng như các cơ sở công quyền thuộc 49 tỉnh với 247 quận.
Triết lý Nhân Bản chấp nhận có sự khác biệt giữa các cá nhân nhưng không chấp nhận dùng sự khác biệt đó để đánh giá con người vì con người tự nó là một cứu cánh chớ không phải là một phương tiện, và Giáo Dục Nhân Bản (GDNB) không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giầu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc… Với triết lý nhân bản, con người có giá trị của con người như nhau, và mọi người đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục. Từ triết lý nhân bản đó, người lính VNCH đã biết đặt chữ Nhân trên nòng súng, đánh giặc là: “Đem Đại Nghĩa Thắng Hung Tàn / Lấy Trí Nhân Thay Cường Bạo” (Bình Ngô Đại Cáo – Nguyễn Trãi) đúng theo lời dặn của Tiền Nhân.
Đây chính là sự khác biệt của người lính miền Nam và miền Bắc. Người lính miền Nam dùng vũ khí để tự vệ, để khử bạo, khác với người lính miền Bắc lấy chủ nghĩa đặt lên nòng súng dùng bạo lực chuyên chính vô sản để trấn áp giai cấp tư sản, tiến hành xây dựng một xã hội không giai cấp (lý thuyết của chủ nghĩa Marx-Lenin).
VNCH một nước nhỏ chỉ từ vĩ tuyến 17 cho tới mũi Cà Mâu với diện tích 173.809 km², chỉ bằng 1/2 CHXHCNVN, với dân số 19,58 triệu người, một nước nhỏ bé không có “đỉnh cao trí tuệ” như CHXHCNVN, không nhiều tiến sĩ, thạc sĩ, giáo sư… Sài thành cũng không nhiều những nhân sĩ trí thức như Hà Thành… không có “bác hồ vĩ đại”, không có “đảng Cộng Sản quang vinh”….. không có những con người khát máu làm tay sai cho Nga Tàu, đem súng đạn về để phá hoại miền Nam VN và tàn sát đồng bào của mình, không có chủ thuyết Marx-Lenin để gối đầu, không bán nước cho ngoại bang như những thế hệ lãnh đạo của VNDCCH và CHXHCNVN… Nhưng trong cái nhỏ bé khiêm tốn đó của VNCH, có rất nhiều hiền tài cho miền Nam trong việc xây dựng một đất nước Tự Do – Dân Chủ với lợi tức đầu người hơn gấp 3 lần VNDCCH . Theo thống kê, vào thời điểm 1960, trong số 10 quốc gia Á Châu, Việt Nam Cộng Hòa (VNCH, South Vietnam, $223) có GDP đầu người đứng sau Tân Gia Ba ($395), Mã Lai Á ($299), Phi Luật Tân ($257), nhưng nhiều hơn Nam Hàn ($155), hơn gấp đôi Thái Lan ($101), gấp 2.4 lần Trung Quốc ($92), gấp 2.7 lần Ấn Độ ($84), và gấp 3 lần Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (North Vietnam, $73).…
Trong thời gian từ 1954 đến 1975, năm 1960 là năm VNCH có nền kinh tế huy hoàng nhất (thời của Tổng Thống Ngô Đình Diệm)
Tổng sản lượng quốc gia VNCH năm 1960 là 82 tỷ đồng VN, trong số này gồm có 4.481 tỷ đồng (5.5%) là tiền viện trợ Mỹ. Sau khi chiến tranh, mặc dù nền kinh tế VNCH bị người Cộng Sản phá hoại triệt để cho tới ngày 30.4.1975, hiền tài của miền Nam khi di tản ra ngoại quốc, đi đâu cũng được thế giới tiếp nhận và tài sản sau cùng trong ngân khố quốc gia VNCH vẫn còn tồn trữ được trên 16 tấn vàng và nhiều hiện kim trị giá hàng chục triệu US đô la để đảng cướp Ba Đình vào khiêng về Bắc, cướp vàng của VNCH xong lại xuyên tạc là Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu đem ra ngoại quốc, mức độ thô bỉ của đảng CSVN đến thế đó!
Tháng Tư Đen lại sắp trở về, hậu duệ VNCH không quên những nhân cách lớn đáng được vinh danh để những người trẻ lớn lên sau ngày 30.4.1975 biết và có cái nhìn, những phê phán đúng đắn hơn về một chế độ mà tà quyền Cộng Sản từng bóp méo, tuyên truyền dối trá đổi trắng thay đen trong nhiều thập niên qua. Những nhân vật, mà chúng tôi hậu duệ VNCH vinh danh ra đây chỉ là một số rất nhỏ trong kho tàng “Nhân Cách Lớn” của VNCH.
Bài Thơ Tháng Tư
Xướng:
Xót cảnh lưu vong mắt lệ tuôn Hận người gây lắm nỗi tang thương Trùng trùng tâm sự sầu xa xứ Lớp lớp trầm tư tưởng cố hương Xây tổ cành Nam chim Việt nhớ Đón hơi gió Bắc ngựa Hồ buồn Tóc xanh giờ đã thay màu bạc Mãi vẫn vương mang kiếp đoạn trường (Chú Bảy Tử Trận)
Họa:
Tháng Tư muôn thuở hận còn tuôn Thế cuộc ai bày nặng tiếc thương Quốc phá nổi trôi người biệt xứ Gia vong phiêu bạt kẻ ly hương Dõi Mây Tần Lĩnh liêu xiêu nhớ Nhìn Nhạn Môn Quan khắc khoải buồn Tự buổi lưu vong giờ tóc bạc Hồn quê canh cánh mỗi đêm trường (Trần Thiên Lang)
Những người đầu tiên mà chúng tôi muốn nói đến là những vị Tướng đã tuẫn tiết ngay sau khi miền nam VN thất thủ:
* Thiếu Tướng Phạm Văn Phú tự tử tại nhà vào ngày 30.04.75.
* Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Quân Ðoàn VI (1927-1975). Vào lúc 11 giờ 30, ngày 30.04.75, Thiếu Tướng Nam sau khi từ giã các binh sĩ đã tự kết liễu đời mình.
* Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Ðoàn VI (19??-1975). Tướng Hưng đã được vinh danh “Anh Hùng An Lộc” trong mùa hè đỏ lửa 1972 ở chiến trường An Lộc Bình Long. Tướng Hưng đã tự sát vào tối ngày 30.04.75 tại văn phòng riêng ở Bộ Chỉ Huy phụ của Quân Đoàn VI (đồng thời là nơi gia đình Tướng Hưng tạm cư trú), sau khi nói lời từ giã với gia đình và bắt tay từ biệt tất cả quân sĩ bảo vệ Bộ Chỉ Huy. Sau đó, ông đã quay vào văn phòng, khóa chặt cửa và tự sát bằng súng lục vào lúc 8 giờ 45 phút tối.
* Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh (1933-1975) Sau khi nhận được lệnh phải đầu hàng, Tướng Vỹ đã tự sát bằng súng lục vào lúc 11 Giờ, ngày 30.04.75 tại Tổng Hành Dinh ở Lai Khê.
* Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 Bộ Binh (1925-1975). Vào đêm ngày ngày 30.04.75, Chuẩn Tướng Hai đã tự sát tại Trung Tâm Ðồng Tâm.
* Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn (1940-1975). Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã anh dũng chiến đấu tới cùng và không chịu đầu hàng. Ðại Tá Cẩn đã bị quân Cộng Sản đem ra xử trước công cộng và sau đó bị xử bắn tại chỗ. Lời cuối của ông nói trước khi bị hành quyết: “Nếu tôi thắng trong cuộc chiến, tôi sẽ không kết án các anh như các anh kết án tôi. Tôi cũng không làm nhục các anh như các anh làm nhục tôi. Tôi cũng không hỏi các anh câu mà các anh hỏi tôi. Tôi chiến đấu cho tự do của người dân. Tôi có công mà không có tội. Không ai có quyền kết tội tôi. Lịch sử sẽ phê phán các anh là giặc đỏ hay tôi là ngụy. Các anh muốn giết tôi, cứ giết đi. Xin đừng bịt mắt”. Cộng Sản Việt Nam hèn hạ dùng nhục hình để xử tử hình Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn ngày 14/8/1975.
* Ðại Tá Ðặng Sĩ Vinh. Vào lúc 2 giờ ngày 30.04.75, hai tiếng đồng hồ sau khi Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng, Ðại Tá Vinh, cùng gia đình gồm vợ và bảy người con đã tự sát bằng súng lục.
* Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn Văn Long. Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn Văn Long tuẫn tiết sáng 30-4-75 dưới chân tượng đài Thủy Quân Lục Chiến.
Cuộc chiến ngưng tiếng súng, toàn bộ QL.VNCH tan hàng, người thì tuẫn tiết để chết theo vận nước, người thì phải vượt biên lánh nạn cộng sản, còn lại những người bị kẹt không di tản được bị CS trả thù một cách hèn hạ bằng cách đưa vào trại tập trung trá hình gọi là ”Trại Cải Tạo”. Trong số những người chấp nhận ở lại chết trên quê hương có Tổng Thống Trần Văn Hương, ông đã từ chối mọi lời mời của Pháp và Mỹ để di tản ra ngoại quốc, ông đã chọn quê hương là điểm đến sau cùng của đời một lãnh đạo VNCH, một lòng vì nước vì dân VNCH. Ông Hương là nhà lãnh đạo cao cấp nhất vào những ngày sau cùng của miền Nam VN. Tuy không bị đưa vào trại cải tạo, nhưng ông lui về sống trong căn nhà 216 đường Phan Thanh Giản, tại đây ông sống với vợ chồng người em gái út cho đến lúc qua đời vào ngày 27 tháng 1, 1982 (nhằm ngày Mồng Ba Tết), hưởng thọ 80 tuổi, hài cốt được hỏa thiêu. Ông đã không chấp nhận việc Cộng Sản trả quyền công dân cho ông và ông giữ nguyên quốc tịch VNCH cho đến khi nhắm mắt. Ông nói với người Cộng Sản như sau: “Chừng nào những người tập trung ‘cải tạo’ được về hết, chừng nào họ nhận được đầy đủ quyền công dân, chừng đó tôi sẽ là người cuối cùng, sau họ, nhận quyền công dân cho cá nhân tôi!”. Tiết tháo của cụ Trần Văn Hương đã cao ngất ngưởng là tấm gương sáng cho các hậu duệ VNCH noi theo.
Thức Tỉnh Tháng Tư năm đó đã qua Nỗi đau uất hận, và là mất quê Tháng Tư đi… mãi không về Bao người nằm xuống… ”lời thề nước non” Kính dâng tâm nguyện nước Trời Đón đưa hết thảy Hồn Người Lính, Dân Yên lòng ngơi nghỉ…. Thiên thần Phù trợ hồn Việt chinh thân vững bền….
Tháng Tư sử sách làm nền Sẽ noi gương sáng Tiền Nhân hậu đời Tháng Tư nay phải tiếp lời Tiền Nhân giữ nước “hậu đời” giữ Quê Thức tỉnh, chớ có u mê Quê ta, ta giữ chẳng nề gian lao Xiết chặt tay giữ chiến bào Một lòng vì Nước lẽ nào không nên….
Tháng Tư thắp nén nhang lòng Quân Dân Cán Chính ngủ say ngàn đời.
(T/g Nguyễn Văn Được)
Chúng tôi, những người trẻ trong mùa tưởng nhớ về vận đen của đất nước VNCH sắp đến (30.4.1975 -30/4/2018) xin thành kính dâng lên hương hồn Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Hương và quân, cán, chính VNCH các cấp đã nằm xuống trong việc bảo vệ miền Nam trước sự phá hoại của Cộng Sản Bắc Việt. Những nén hương lòng của chúng tôi để kính nhớ và vinh danh công trạng của tất cả những người đã tuẫn quốc vì sự tự do của miền Nam trước30/4/1975.
Cơn đại dịch quét ngang bầu trời gây tai ương cho nhân loại, từ vật chất đến tinh thần. Để tránh lây lan, chính phủ các nước kêu gọi dân chúng tự giác tự cô lập ngay tại nhà. Hiện nay, một nửa dân số trên thế giới đã tự cách ly tại nhà. Nếu ra đường cần cách giãn. Bác sĩ, y tá, và các nhân viên y tế túc trực ngày đêm tại bệnh viện để cứu các nạn nhân. Con số nạn nhân bị nhiễm đã hơn một triệu, tỷ lệ tử vong là 5.5%. Các nhà khoa học bi quan tiên đoán rằng nếu không tự cô lập, nếu không có thuốc ngừa hoặc thuốc chữa, tỷ lệ lây nhiễm có thể lên đến 60% dân số thế giới; nghĩa là khoảng 4,5 tỷ người.
Bóng đêm đang bao trùm lấy nhân loại. Tuy thế, con người vùng vẫy nhưng luôn nuôi giữ niềm hy vọng.
Hai nghìn năm trước, một người đàn ông cũng vùng vẫy nhưng không hề tuyệt vọng.
Ngay cả lúc quỳ bên tảng đá trong vườn Giếtsimani để cầu nguyện, người đàn ông hầu như chìm trong nỗi tuyệt vọng. Sự cô đơn và nỗi lo sợ khủng khiếp bủa chụp lên người đến nỗi xảy ra hiện tượng hemahidrosis; khi mồ hôi đổ ra đượm màu hồng. Đây là sự kiện hiếm hoi được y học giải thích rằng sự sợ hãi cùng cực làm nứt các mạch máu và máu thấm vào tuyến mồ hôi, nên gây ra màu hồng. Hiện tượng thường xảy ra cho binh sĩ trước khi giao tranh, hoặc tử tội trước giờ hành quyết.
Bóng đêm của cô đơn và lo sợ đang vây bủa người đàn ông là Đức Giêsu. Người công giáo tôn vinh Đức Giêsu là Thiên Chúa, và Chủ nhật vừa qua toàn thể Giáo hội mừng lễ Lá, kỷ niệm ngày Đức Giêsu vinh quang tiến vào thành Giêrusalem trên lưng lừa giữa muôn tiếng reo hò của dân Do-thái, trên tay họ vung vẩy cành cọ, miệng la to: “Hosanna! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa.” Một nghi thức chỉ dành riêng để đón tiếp các bậc vua chúa.
Nhưng nghi thức huy hoàng chỉ kéo dài trong giây lát. Giáo dân dự lễ tay cầm cành cọ như dân Do-thái xưa, tiến vào nhà thờ (năm nay xem lễ trực tuyến nên không có cành cọ cầm tay). Vị linh mục đọc đoạn Phúc âm diễn tả khung cảnh huy hoàng khi Đức Giêsu tiến vào thành Giêrusalem. Đoạn Phúc âm dài hơn 10 đoạn, chưa tới 200 chữ, kéo dài chừng hơn phút. Toàn bộ phần còn lại của lễ Lá dành để diễn tả cái chết đau thương và nhục nhã của Đức Giêsu.
Năm đó, Đức Giêsu khoảng chừng 33 tuổi. Một thanh niên đang ở giai đoạn sung mãn nhất của đời người. Vậy mà chỉ cần chưa đến một ngày, từ vườn Giếtsimani vào khuya đêm thứ Năm đến xế trưa ngày thứ Sáu, thân hình Đức Giêsu rách nát, tơi tả treo trần truồng trên cây thập tự với hình phạt tàn khốc nhất của đế quốc La-mã.
Đức Giêsu bị bắt vào khoảng giữa khuya đêm thứ Năm. Ngài bị dẫn đến tư dinh quan Annas, vị thượng tế già nua nhưng đầy quyền lực. Theo luật Do-thái, tòa án Sanhedrin, gồm 71 thành viên, có quyền định đoạt số phận của tội nhân. Vì thế, thầy Annas gửi lệnh truyền cấp bách đến từng nhà các thầy thượng tế, kỳ mục, và kinh sư. Tòa án Sanhedrin cần phải triệu tập gấp để quyết định số phận của Đức Giêsu.
Trong khi chờ trời sáng, bọn lính dẫn Đức Giêsu ra một góc sân. Chúng bịt mắt Đức Giêsu, và bắt đầu cười nhạo, thay phiên đấm đá thẳng tay đến mệt mới thôi. Tảng sáng, thầy cả thượng phẩm Caipha, người đứng đầu toà án Sanhedrin, chủ toạ buổi hỏi cung, và thầy nhanh chóng kết án tử hình Đức Giêsu. Vì dân Do-thái đang bị đế quốc La-mã thống trị nên mọi sự đều phải được phép quan tổng trấn Philatô, kẻ thay mặt hoàng đế Tiberius, cai quản cả ba miền Giuđêa, Samaria, và Galilê. Bà vợ quan Philatô khuyến cáo chồng không nên dính máu Đức Giêsu nên quan đẩy Ngài sang dinh quan Hêrôđê Antipas để tránh trách nhiệm. Quan Hêrôđê cười cợt và chế giễu Đức Giêsu thật chán chê rồi khoác chiếc áo choàng màu đỏ lên người Ngài, màu dành riêng cho vua chúa, với ngụ ý chế nhạo Ngài là vua dân Do-thái, và trả về dinh quan Philatô.
Tại dinh quan Philatô, Đức Giêsu bị đánh đòn, hình phạt khởi đầu trước khi đem đi xử tử.
Hai cổ tay bị treo lên đầu cột, Đức Giêsu đứng trần truồng gần như ôm lấy cột. Hai tên lính La-mã đứng chênh chếch khoảng 45 độ phía sau, làm thành một góc vuông. Tay cầm ngọn roi (flagrum) cán gỗ. Đầu cán roi gắn ba sợi dây da dài chừng 1m, bện xoắn chặt ở cuối dây, và tủa ra ba sợi ở đầu. Mỏm dây gắn nhiều viên bi sắt, bên dưới gắn thêm những mẩu xương cừu có móc. Chính móc này sẽ cấu ra một mẩu thịt khi tên lính rút roi về. Máu cứ theo đó mà chảy ra ngoài. Bi sắt có tác dụng làm chảy máu bên trong nhưng không đến nỗi làm tội nhân chết, vì phải để dành sức cho tội nhân vác thanh gỗ ngang (patibulum) đến chỗ hành hình. Với sức quật từ trên xuống, những viên bi sắt đập vỡ mạch máu chạy chằng chịt trên lưng, gây chảy máu bên trong. Thường nạn chân chỉ chịu chừng 20 roi thì ngất xỉu.
Cái cảm giác bỏng rát chạy ngang lưng từ vai đến hông khi sợi dây da vụt đi với tốc độ thật nhanh, [về sau khảo cứu cho thấy vận tốc của ngọn roi phải nhanh hơn tốc độ của âm thanh, 340m/s, nên mới tạo ra âm thanh xé gió (sonic boom)]. Những viên bi sắt đập vào lưng tạo cảm giác ê ẩm lan ra khắp cơ thể. Mẩu xương có móc cắm phập vào lưng tạo cảm giác như kim đâm nhưng khi ngọn roi được kéo về Đức Giêsu cảm thấy đau nhói. Phải mất chừng vài giây cả thân hình mới ngấm được cái đau đớn, sự bỏng rát của ngọn roi, và dịu dần đi. Nhưng sự đau đớn không có thời gian để thấm, dịu, và phai dần, vì ngọn thứ hai lại đập vào lưng ngay sau khi ngọn trước vừa thu về. Hai tên lính đứng chéo luân phiên vụt roi nên khoảng thời gian giữa hai lần roi hầu như rút ngắn lại. Nhịp nhàng và đều đặn như một màn biểu diễn của các vũ công. Thân hình Đức Giêsu vừa oằn xuống lại cong lên hứng chịu ngọn roi. Đầu, lưng, mông, và mặt sau của chân đỏ dần, hiện tượng chảy máu bên trong. Tĩnh mạch và động mạch bị dập, nứt, và vỡ. Máu ướt đẫm lưng, nhỏ từng giọt xuống sàn gạch, đỏ loang tạo thành một vũng sền sệt.
Sự đau đớn về thân xác tưởng đã chấm dứt, nhưng không, đây mới chỉ là phần giáo đầu Cuộc Thương khó của Đức Giêsu. Phần cuối, cao điểm của Cuộc Thương khó, là cái chết trần truồng treo trên thập giá. Chính cái chết đó mới nói hết sự sỉ nhục, đau đớn khôn cùng mà Đức Giêsu phải gánh chịu.
Tính ra, khi bị đóng đinh và treo trên thập giá vào lúc 9 giờ sáng (Mc 15:22-25) đến lúc trút hơi thở cuối cùng vào lúc 3 giờ chiều (Lc 23:44-46), Đức Giêsu đã trải qua 6 tiếng trong tận cùng đau đớn về thân xác. Tiếng Anh gọi những giờ cuối cùng của cuộc đời Đức Giêsu là “passion,” có gốc Latinh “passionem,” có nghĩa là “chịu đau đớn.”
Nên phân tích cái chết của Đức Giêsu dưới cái nhìn của y học, để thấy sự đau đớn trong 6 tiếng đồng hồ đến thế nào, và tự hỏi làm thế nào một con người bình thường có thể chịu đựng được một hình phạt khủng khiếp đến vậy. Tiến sĩ Cahleen Shrier, giáo sư phân khoa Sinh Hoá tại ĐH Azusa Pacific, giải thích chi tiết cái chết của Đức Giêsu cho các sinh viên ngành Sinh học, một cách học hỏi môn cơ thể học. Sau đây là cái chết được mổ xẻ qua kiến thức về cơ thể học của một nữ giáo sư chuyên ngành.
Cần biết một điều quan trọng là Đức Giêsu đang ở trong tình trạng thể chất tuyệt vời. Thân cao tầm 1,7m, nặng chừng 68kg. Vì cha nuôi là thánh Giuse làm nghề thợ mộc, Đức Giêsu đã biết lao động chân tay ngay từ thuở nhỏ. Nghề mộc cần sức lực khiêng vác, nên thân hình Đức Giêsu tuy không vạm vỡ nhưng sức lực dẻo dai. Hơn nữa, trong suốt 3 năm giảng dạy, Ngài đi bộ trên khắp ba miền Giuđêa, Samaria, và Galilê… ước chừng trên 5 nghìn km, một cách rèn luyện sức khoẻ và sức chịu đựng. Người ta nghiệm ra một điều, nếu sự tra tấn phá nát thân thể một người đàn ông có thể lực tốt như vậy thì hình phạt thật vượt quá sự hiểu biết bình thường của con người, và sức chịu đựng của Ngài thật phi thường.
Matthêu 26:36-46, Marcô 14:37-42, Luca 22:39-44
Sau lễ Vượt qua, Đức Giêsu đưa các môn đệ của Ngài đến Giếtsimani để cầu nguyện. Trong lúc cầu nguyện lo lắng về những sự kiện sắp tới, Đức Giêsu đổ mồ hôi máu. Đây là hiện tượng hemahedrosis, khi các mạch máu nuôi dưỡng các tuyến mồ hôi bị vỡ. Máu thoát ra từ các mạch trộn lẫn với mồ hôi; do đó, những giọt mồ hôi trở nên màu hồng. Tình trạng này là do sự thống khổ về tinh thần hoặc sự lo lắng cao độ, một trạng thái mà Đức Giêsu thể hiện qua lời cầu nguyện, “tâm hồn Thầy buồn đến chết được,” (Matthêu 26:38). Hemahidrosis làm cho da mềm hơn, do đó, tình trạng thể chất của Đức Giêsu trở nên tồi tệ hơn một chút.
Bị dẫn từ dinh quan Philatô đến dinh quan Hêrôđê và trở ngược lại, Đức Giêsu bước khoảng hơn 3km. Cả đêm bọn lính thay phiên chế giễu và đánh đập nên Ngài không thể ngủ, (Luca 22:63-65). Tính ra, đã hơn một ngày Đức Giêsu chưa chợp mắt một chút nào. Ngoài ra, làn da của Ngài vẫn còn mềm do hemahedrosis. Tình trạng thể chất của Đức Giêsu xấu dần đi.
Philatô ra lệnh đánh đòn Đức Giêsu chiếu theo luật La-mã trước khi đem đi đóng đinh. Hình phạt đánh đòn dã man ở chỗ tội nhân có muốn chết cũng không thể chết, nhưng đau đớn thấu xương tuỷ. Theo truyền thống, tội nhân đứng trần truồng, hai tay bị trói vào cột, để lộ vai, lưng, và phần sau của cặp đùi. Cán roi ngắn, vừa cầm tay. Những hòn bi sắt hoặc chì bện dọc theo 3 sợi dây da dài khoảng 1m, cuối mỗi sợi dây được gắn thêm những mẩu xương cừu. Người ta đoán Đức Giêsu chịu ít nhất 100 roi, căn cứ vào dấu vết còn để lại trên tấm vải liệm Turin, hiện được cất giữ tại Vương cung Thánh đường Turin, Piedmond, miền Bắc Ý.
Lính La-mã lực lưỡng, cao tầm 1,68m hoặc hơn, nặng cỡ 80kg; thể lực rất khoẻ, binh khí và áo giáp nặng tầm 40kg, và thao luyện mỗi ngày bước hơn 30 cây số. Vì thế, ngọn roi phóng ra với lực mạnh vũ bão. Những mẩu xương cừu cắm phập vào người Đức Giêsu do vận tốc xé gió của ngọn roi. Lúc kéo roi về, những mẩu xương kéo theo một mẩu da và chút thịt. Cứ thế, máu chảy ra từ những vết thương này. Chịu chừng 20 roi, lưng và đùi của Đức Giêsu đã hằn những vết roi đỏ tươi, nằm chằng chịt. Đến thời điểm này, Đức Giêsu đã mất một lượng máu lớn khiến huyết áp tụt thấp. Do cơ thể cố gắng cân bằng tình trạng mất máu nên Đức Giêsu khát nước, (Gioan 19:28). Gần nửa ngày, Ngài chưa uống một hớp nước nào. Nếu được uống nước trong lúc này, lượng máu của Ngài sẽ tăng lên.
Lính La-mã đặt một mão gai trên đầu và choàng áo trên lưng Đức Giêsu, (Matthêu 27:28-29). Áo choàng giúp máu đông (giống như lúc băng bó cầm máu) và Ngài không bị mất máu nhiều hơn. Khi lính đánh vào đầu Đức Giêsu (Matthêu 27:30), những chiếc gai đâm sâu vào da gây chảy máu đầm đìa. Những chiếc gai đâm trúng dây thần kinh chạy đến khuôn mặt, gây đau đớn dữ dội từ mặt xuống cổ. Khi chế nhạo Ngài, bọn lính thản nhiên khạc nhổ vào mặt Đức Giêsu, (Matthêu 27:30). Chúng xé toạc chiếc áo choàng ra khỏi lưng Đức Giêsu làm vỡ vết thương và máu lại chảy ra như trước.
Tình trạng thể chất của Đức Giêsu trở nên nguy kịch. Do mất máu quá nhiều, Ngài không còn hơi sức đâu nữa. Đức Giêsu vác thanh gỗ thật vất vả lên đồi Sọ nằm ngoài thành Giêrusalem, nhưng Ngài may mắn được ông Simon xứ Cyrene vác đỡ một đoạn đường (Matthêu 27:32).
Người Ba Tư phát minh khổ hình đóng đinh vào khoảng năm 300-400 trước CN. Có lẽ đây là hình phạt gây cái chết đau đớn nhất trong lịch sử nhân loại. Cái chết đau đớn, chậm chạp, kéo dài và thách thức sức chịu đựng của tội nhân. Như Đức Giêsu phải chịu đau đớn như thế trong suốt 6 tiếng, từ 9 giờ sáng (Marcô 15:22-25) đến 3 giờ chiều (Luca 23:44-46). Hình phạt này chỉ dành cho đám nô lệ, người ngoại quốc, bọn nổi loạn, và những tên tội phạm tàn ác nhất. Tội nhân bị đóng đinh vào thập tự; tuy nhiên, thập giá của Đức Giêsu có lẽ không phải là hình chữ thập theo kiểu Latinh, mà là chữ thập Tau (T), giống chữ t trong ký tự Hy lạp. Cây cột gỗ đứng (stipes) được chôn vĩnh viễn trên ngọn đồi. Tội nhân chỉ vác thanh gỗ ngang (patibulum) lên đồi. Thanh gỗ đặc chỉ nặng 34-57kg, nhưng cả cây thập tự theo kiểu Latinh nặng cỡ 136kg.
Tính từ lúc bị bắt đến lúc vác thanh gỗ đặc, Đức Giêsu đã thất thểu bước chừng 4km, nhưng chặng đường cuối 1km từ dinh quan Philatô đến đồi Sọ mới thật đau thương, vì Ngài đã mất máu quá nhiều; lại thêm bị đánh đòn đến bầm dập cả người, chưa kể đòn đấm đá của bọn lính La-mã khiến thân hình rã rệu, mềm như bún.
Trên đỉnh của patibulum gắn một bảng gỗ, ngụ ý tội nhân bị kết án tử hình vì vi phạm luật pháp. Trường hợp của Đức Giêsu, biển gỗ khắc hàng chữ, “Đây là Vua dân Do Thái”, (Luca 23:38). Tội nhân bị đóng đinh vào patibulum trong tư thế nằm, nên Đức Giêsu bị bọn lính thẳng tay lột hết quần áo và xô ngã xuống đất. Lớp vải thấm máu vừa đủ khô thì bị bóc trần, miệng vết thương mở toang, máu cứ thế rỉ ra ngoài. Hai tên lính kéo căng cánh tay của Đức Giêsu và đóng một cây đinh dài chừng 15cm. Chắc chắn Đức Giêsu bị đóng đinh vào cổ tay, vì nếu đóng đinh vào lòng bàn tay, sức nặng của thân hình sẽ kéo toạc lớp thịt dễ dàng. Cây đinh làm vỡ hoặc làm đứt dây thần kinh dẫn đến bàn tay. Điều này gây đau đớn liên tục lên cả hai cánh tay của Đức Giêsu.
Sau khi đóng hai cây đinh vào hai cổ tay, bọn lính kéo lê khúc gỗ patibulum đến cột gỗ đã trồng đứng. Khi nâng lên, toàn bộ trọng lượng cơ thể của Đức Giêsu bị kéo xuống và giữ thẳng nhờ hai cây đinh ở cổ tay. Điều này khiến vai và khuỷu tay bị trật khớp (Tv 22:14). Ở vị trí này, cánh tay của Ngài bị kéo dài tối thiểu 15cm so với chiều dài ban đầu.
Hai bàn chân của Đức Giêsu bị đóng đinh thẳng lên trên cây gỗ đứng như thường thấy trong hình. Ở vị trí này (đầu gối phải uốn cong khoảng 90 độ), trọng lượng của cơ thể đẩy xuống cây đinh ở bàn chân và tử tội phải dùng hai mắt cá chân để hỗ trợ trọng lượng. Đinh không xé toạc lớp thịt mềm ở bàn chân. Một lần nữa, cây đinh làm vỡ hoặc làm đứt dây thần kinh (nó cắt đứt động mạch bàn chân) và gây đau đớn khôn cùng.
Thông thường, để hít vào, hoành cách mô (cơ lớn nằm giữa khoang ngực với khoang bụng) phải ép xuống. Điều này giúp mở rộng khoang ngực và không khí tự động di chuyển vào hai buồng phổi (hít vào). Để thở ra, cơ hoành nâng lên, nén không khí trong phổi, đồng thời đẩy không khí ra ngoài (thở ra). Khi Đức Giêsu bị treo trên thập tự, sức nặng của cơ thể đè nặng lên cơ hoành và không khí di chuyển vào buồng phổi và nằm ứ ở đó. Muốn thở ra, Ngài phải dùng hai cây đinh ở bàn chân làm bàn đạp để rướn người lên và đẩy cơ hoành lên trên. Vì thế, hai bàn chân của Đức Giêsu đau đớn đến tê dại mỗi khi muốn thở ra. Và thao tác thở ra gây đau đớn như thế trong suốt 6 tiếng đồng hồ. Nếu tính trung bình Đức Giêsu nén hơi và thở ra trong 30 giây, Ngài phải chịu cơn đau 720 lần, liên tục, không ngừng nghỉ vì không thể ngưng thở, chưa kể sự đau buốt ở hai bàn tay và toàn thân thể.
Để nói, không khí phải đi qua thanh quản trong lúc thở ra. Kinh thánh cho thấy Đức Giêsu đã nói 7 lần từ trên cây thập tự. Thật không hiểu nổi trong cơn đau đớn mà Ngài vẫn cố gắng nói, nhưng xúc động nhất là khi Đức Giêsu rướn người lên để nói, “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”, (Luca 23:34).
Sự khó khăn của thao tác thở ra dẫn đến một dạng nghẹt thở chầm chậm. Khí carbon dioxide (CO2) tích tụ trong máu, dẫn đến nồng độ axit carbonic (H2CO3) trong máu cao. Cơ thể phản ứng theo bản năng, kích hoạt sự ham muốn thở. Đồng thời, tim đập nhanh hơn để khí ôxy đang có sẵn được lưu thông. Lượng ôxy giảm (do khó khăn khi thở ra) gây thương tích cho các mô và mao mạch bắt đầu rò rỉ chất lỏng từ máu vào mô. Điều này dẫn đến sự tích tụ chất lỏng xung quanh tim (tràn dịch màng tim) và phổi (tràn dịch màng phổi). Phổi suy sụp, tim cũng suy, cơ thể mất nước và không có khả năng cung cấp đủ ôxy cho các mô là nguyên nhân cốt yếu làm tội nhân nghẹt thở. Lượng ôxy giảm cũng gây tác hại cho chính tim (nhồi máu cơ tim) dẫn đến tim ngừng đập. Trường hợp nghiêm trọng khi tim quá căng thẳng, tim thậm chí có thể vỡ nát; y học gọi là rách tim. Đức Giêsu rất có thể chết vì một cơn truỵ tim.
Sau khi Đức Giêsu chết, tên lính đập gãy chân của hai tên tội phạm bị đóng đinh hai bên, (Gioan 19:32). Khi hai chân tội nhân bị gãy, cả thân hình không còn gì chống đỡ, nên sức nặng của thân thể kéo trì xuống, kéo theo cơ hoành và tội nhân không thể thở ra được nữa. Điều này gây nghẹt thở. Thường tội nhân sẽ chết chỉ sau vài phút. Khi tên lính đến trước cây thập tư treo Đức Giêsu, thấy Ngài đã chết nên hắn không đập gãy chân, (Gioan 19:33). Nhưng muốn chắc chắn, tên lính cầm giáo đâm vào ngực, (Gioan 19:34). Kinh thánh thuật lại hành động này, “tức thì máu và nước chảy ra,” (Gioan 19:34), vì chất lỏng tích tụ quanh tim và phổi.
Thật nhức nhối khi mô tả một vụ giết người tàn bạo, nhưng chính chiều sâu của sự đau đớn khôn lường của Đức Kitô nhấn mạnh đến mức độ yêu thương của Thiên Chúa đối với loài người. Dựa trên sinh lý học để miêu tả từng chi tiết về cái chết của Đức Kitô như một lời nhắc nhở tha thiết về tình yêu tuyệt vời của Thiên Chúa đối với nhân loại đã được thể hiện cách đây hơn hai nghìn năm trên đồi Sọ. Sự hiểu biết tường tận từng chi tiết về cái chết Đức Kitô giúp tôi tham dự thánh lễ sốt sáng hơn, luôn tưởng nhớ đến sự hy sinh của Ngài, với một lòng biết ơn vô vàn. Tôi choáng ngợp cứ mỗi lần nhận thức được rằng, Đức Giêsu với con người bằng xương bằng thịt như tôi, Ngài đã hy sinh cho nhân loại từng tế bào, từng thớ thịt của thân thể qua cái chết trên cây thập giá. Có tình yêu nào dành cho bạn hữu lớn hơn thế này không, thưa quý bạn?
* * *
Bóng đêm bao phủ vườn Giếtsimani, ánh trăng thượng tuần mờ nhạt. Bóng tối tràn ngập tâm hồn Giuđa, kẻ phản bội. Khi Đức Giêsu trút hơi thở cuối cùng trên thập giá, bóng tối bao trùm nhân loại, cho dù lúc đó chỉ mới 3 giờ chiều. Bóng ma cơn đại dịch đang phủ ập lên thế giới đang vũng vẫy cố ngoi lên tìm sự sống. Trong bài giảng lễ Lá vừa qua do Đức cha Robert Barron chủ tế, tổng giáo phận Los Angeles, ngài nói về bóng đêm u buồn. Ngài chia sẻ, “nhưng cái chết của Đức Kitô như ánh sáng đem đến cho nhân loại niềm hy vọng, vì chính Ngài là sự sáng. Khi đầm mình vào bóng đêm tội lỗi, Đức Kitô mang ánh sáng vô tận đến cho loài người. Vì hễ nơi nào có ánh sáng, bóng tối lập tức thoái lui. Khi Đức Kitô phục sinh, chính là lúc ánh sáng bùng phát từ ngay trong bóng đêm, xua tan màn tối của trần gian.”