Phù Dung

phamngoclu

Phải em là khách chiêm bao ?
Từ đêm thiên cổ lạc vào đêm nay
Xiêm vàng áo giấy lay bay
Mơn man nét khói đường mây đa tình

Em từ quê quán Vô Minh
Thoát thai cát bụi tái sinh đào hồng
Khuya nay mở quán Phù Dung
Mời ta khai vị sắc lòng phấn hương

Đêm xưa tao ngộ Tầm Dương
Nhận ra dòng dõi đoạn trường với nhau
Khóc cười chung một bể dâu
Tài hoa đồng hội khổ đau đồng thuyền
Phong trần xé áo rách xiêm
Ba đào đắm mộng truân chuyên hớp hồn
Ta chơi vơi giữa sinh tồn
Em chưa thoát nợ phấn son kiếp nào
Đêm nay rượu gởi tình trao
Đề thơ lên cửa chiêm bao, chạnh lòng…

Lạnh dần một quán hư không
Khép dần một đóa phù dung vô hình
Em chìm xuống đáy Vô Minh
Bỏ ta trên bến nhân sinh bàng hoàng
Sương rơi, đêm cạn, quán tàn
Cô đơn vòi või trần gian ta ngồi
Chung quanh vẫn vậy: cuộc đời !

PHẠM NGỌC LƯ

B Ụ I Đ Ỏ

phamngoclu

Đất khách lênh đênh tròn một giáp
Mười hai năm – mười hai bến đục ngầu
Mười hai mưa nắng nuôi hoa cỏ
Khô héo đời ta cây lá bạc màu

Quê người nương náu kiếp lưu dân
Bụi ba dan có phải hồng trần ?
Đỏ quạch mồ hôi chua cơm áo
Cơm áo bạc tình bán hết thanh xuân

Trời sinh chi đôi vai thêm khổ
Gánh gian nan như gánh tội đồ
Sinh chi kẻ sĩ đem đày đọa
Chôn vùi nơi nắng bẩn mưa dơ

Đi giữa rừng cao su trùng điệp
Lòng đau như vết cạo còn tươi
Mủ cứ chảy bám dày tâm sự
Tâm sự đùn cao như gò mối chôn người !

Đi giữa hoang sơ ruộng bàu khe suối
Gai hổ ngươi cào nát đôi chân
Nghĩ về quê cũ lòng thêm thẹn
Một ra đi là một lỡ lầm

Đi lơ ngơ vừa tròn một giáp
Mười hai năm lệ tủi đời câm
Rượu Nam phương uống cùng tứ xứ
Tứ xứ ly gia dễ mũi lòng
Cũng dễ quên nhau khi hết rượu
Cái ân tình có có không không
Gặp lắm phàm phu quen nhiều hào sĩ
Dăm kẻ nhân từ vài tay ích kỷ
Quây quần lếu láo say sưa
Cũng lắm giai nhân quần nâu áo vải
Chia xẻ dung nhan ngọt tình cây trái
Mà lòng thì sáng nắng chiều mưa…

Cứ hỏi mình: chưa chán ? chán chưa ?
Nhìn núi Chứa Chan mắt buồn chan chứa
Mười hai năm !
Bến nước mười hai đục ngầu bụi đỏ
Sao không quay về bến thứ mười ba:
Bến nước trong xanh soi bóng quê nhà

PHẠM NGỌC LƯ
1994

THÂU ĐÊM TRẰN TRỌC NGHE MƯA

phamngoclu

Chưa mùa mưa trời bỗng mưa mau
Mái nghiêng gác lệch mưa rêm đầu
Nghe lòng chăn chiếu sao tê tái
Hơi hướm giang hồ chẳng ấm nhau
Cứ gom tâm sự nằm nhai lại
Tâm sự một đời hôi bể dâu
Năm năm mười năm không là mấy
Góp lại không đầy một đêm thâu
Đêm thâu nghe mưa rơi trằn trọc
Đời mòn chí mỏi biết về đâu ?
Bao khách xa nhà trong thiên hạ
Đêm mưa thanh khí chẳng tương cầu
Cứ nghe mưa héo mòn trời đất
Tê buốt lòng ngàn mũi kim khâu…

Chưa mùa mưa sao mưa rười rượi
Không chừng trời ốm khiến mưa đau
Chiếu chăn meo mốc chua mùi mộng
Mộng sớm mộng khuya chóng bạc màu
Nhốn nháo sinh linh thời nhiễu loạn
Lều bều thân thế lộn vàng thau
Năm nổi tháng chìm ngày mắc cạn
Đêm mưa lòng nghẽn nước đục ngầu
Nằm suông thức trắng nghe mưa giọt
Sáng dậy lơ ngơ… tóc bạc đầu !

PHẠM NGỌC LƯ

1973.

Vọng tri âm

phamngoclu

Ngọn bút ba mươi năm
Trầm tư u mặc
Văn chương không tri âm
Chữ nghĩa cùn nhan sắc
Muốn học người xưa
Dốc một hồ trường rót về đông tây nam bắc
Đâu giai nhân mà mơ tái đắc
Đâu tâm giao mà trao tình bút mực ?
Gieo một nỗi lòng
Bốn biển thinh không
Mây trói chân trời
Gió dằn mặt đất
Mượn đỉnh núi cao trú hồn kiêu bạc
Ấp mộng ba ngàn đêm
Thơ hóa thân hoàng hạc
Vỗ cánh xuống trời Nam
Bay qua Lữ Kiều lâu
Bay về Nguyên Minh các
Ôi, con chim trần ai lưu lạc
Bâng khuâng đậu xuống đất lành !
Ly tán hơn vạn ngày
Mừng một giờ tái đắc
Dâu bể bao nhiêu năm
Vẫn uy nghi những tấm lòng son sắt
Ngọn bút từ nay không cô độc
Văn chương một thuở chung tình

Chiều hôm cố xứ
Lên núi một mình
Đọc lại đan tâm
Nhờ núi ký âm
Trông vời thương hải
Đọc tam-thập-niên-tràng-thiên-trường-đoạn
Rót một hồ trường không bao giờ cạn
Kết tinh từ ân sủng văn chương
Lòng bỗng thơm ngọn gió trầm hương…

Phạm Ngọc Lư
2004

Cố lý hành

phamngoclu

Chiều chết đuối trên sông ngờm ngợp
Nước đua chen đớp bọt nắng tàn
Đò qua sông đìu hiu bến đợi
Buồn rút lên bờ cây khai quang
Mây đổ xù lông như chó ốm
Trời bôi nhòe mặt ngóng đêm sang
Thôn ổ tiêu sơ gầy khói bếp
Đồng không mốc thếch lạnh tro tàn

Có biết ta về không cố lý ?
Mười năm chưa lạ mặt xóm làng
Sao phên giậu nghiêng đầu câm nín
Rơm rạ làm thinh chẳng hỏi han
Cổng khép rào vây vườn cỏ dại
Tường xiêu mái rách bóng nhà hoang
Ngõ vắng bàn chân như hụt đất
Tre già đang kể chuyện chôn măng
Nương rẫy đang phơi lòng dâu bể
Nói làm sao hết nỗi bàng hoàng ?
Khóc làm sao vừa lòng cố lý ?
Phải đây là cố lý ta chăng ?
Đâu bóng mẹ già sau khung cửa
Và những người em mặt trái soan
Đâu bóng chị hiền như hoa cỏ
Bên luống cà xanh liếp cải vàng !

Đất đá thở ra mùi u uất
Bốn bề hun hút rợn màu tang
Ai chết quanh đây mà cú rúc
Mà cơn gió lạnh réo hồn oan
Ai trong muôn dặm không về nữa
Cố lý mười năm mộng bẽ bàng
Cố lý mười năm ngày trở lại
Như ngày Lưu Nguyễn xuống trần gian !

Phạm Ngọc Lư(1972)

Cuối ngày, cuối đường .

 

phamngoclu

Ngồi cạnh Chấn là người đàn ông có dáng dấp của một thư ký hành chánh sắp về hưu. Qua nét mặt và cách phục sức của ông, anh dễ liên tưởng đến sự chăm chỉ mẫu mực của kẻ suốt đời an phận ngồi sau đống hồ sơ công văn. Cô gái ngồi kề ông ăn mặc hơi xuề xòa nhưng không vì thế mà vẻ đẹp dịu dàng trên khuôn mặt trái soan kia bị thương tổn. Hai người đàn bà tiếp theo chắc là dân đi buôn, chẳng có gì đáng nói. Chấn liếc mắt nhìn ra mấy hàng ghế sau và thất vọng không thấy một thanh niên nào trạc tuổi mình cả, hầu hết là ông bà già và phụ nữ nếu không kể một người lính xanh xao ốm yếu dường như mới nằm ở quân y viện ra. Nỗi lo âu vẫn lăn tăn trong bụng, một lần nữa Chấn chồm về phía trước hỏi nhỏ người tài xế :

– Đường Bình Đê, Sa Huỳnh an ninh chứ bác ?

– Không sao !

– Chắc ?

– Không sao mà. Rủi lắm mới bị.

Lối trả lời mập mờ lấp lửng của ông ta làm Chấn hoang mang. Dù sao anh cũng không thể thối lui được nữa. Tối nay anh phải đến Huế cho kịp giờ đám cưới của Phương. Chấn lại nhìn khẽ cô gái ngồi cách mình một ghế, bây giờ anh mới hiểu cái cảm giác quen quen khi mới gặp cô ở bến xe chính vì cô ta có nhiều nét hao hao giống Phương, thấp thoáng hình bóng Phương qua dáng người, màu tóc, nước da, nhất là hàng lông mi quá dài như lông mi giả kia.

Biết đâu chốc nữa đây tai họa bất ngờ sẽ xảy ra dọc đường mà anh là một nạn nhân oan uổng, liệu Phương có biết ? Phương sẽ âm thầm tội nghiệp giùm anh trong giây phút ? Phương sẽ trách anh đã rồ dại khi bôn ba vượt muôn dặm đường dài trở về sắm vai kẻ tình chung ?

Thử tưởng tượng tối nay, khi tiệc cưới của nàng bắt đầu, kẻ tình chung sẽ bất ngờ xuất hiện với dáng dấp của một tên lãng tử khinh bạc phóng túng. Y sẽ nổi bật trước đám tân khách áo quần diêm dúa sang trọng. Người ta sẽ lo ngại cái bàn tay y thủ trong túi áo khoác như đang hờm sẵn một chuôi dao, một trái lựu đạn, mưu toan bày trò thích khách. Nội cái phong thái tàng tàng bất cần đời của y cũng đáng bắt họ đề cao cảnh giác. Thử tưởng tượng nàng sẽ trố mắt nhìn y như nhìn một vật lạ từ cung Trăng rơi xuống và chú rễ thì bẻn lẻn tiến ra bắt tay y, lúc đó y sẽ gật đầu cười chua chát “Tôi là kẻ đến trước nhất mà bây giờ hóa ra muộn nhất…”

– Chiều ni có chắc mình về nhà kịp không ba ?

Người đàn ông đeo bộ mặt im lìm như tượng buông cái gật đầu tựa ngủ gật.

Đúng như Chấn đoán, hai người là cha con. Anh gợi chuyện :

– Bác ra Huế ?

– Phải.

– Nếu không trắc trở gì thì khoảng sáu giờ rưỡi chiều xe tới Huế.

– Anh cũng về ngoài mình ?

– Dạ. Cháu về thăm một người quen bên Gia Hội.

– Anh chưa đi lính ?

– Dạ rồi. Cháu được biệt phái.

– Tui có thằng con đầu đi Sư đoàn 22

– Chắc bác đi thăm về ?

Đôi mắt người đàn ông bỗng mờ đi, xa vắng :

– Hắn vô phúc chết hồi Tết Mậu Thân rồi. Tui vô viếng mộ.

– Bác chôn anh ấy ở trong nầy ?

Người đàn ông rơm rớm nước mắt :

– Chôn với cất chi. Hồi nớ cả nhà tui chạy giặc bán sống bán chết có biết chi mô.Một tháng sau mới có tin con tử trận. Khi tui vô tới nơi, người ta chỉ cho nắm đất vừa xanh cỏ và miếng bia trơ trụi. Thảm lắm anh…

Cô con gái khẽ thúc vào hông cha như ra dấu hãy giữ im lặng. Chấn cúi đầu. Giọng người đàn ông còn mếu máo gì đó không rõ. Chấn ngẩng lên và bối rối trước những giọt nước mắt mau mắn lăn dài trên má ông. Anh áy náy tưởng như chính mình vừa gây ra nông nỗi. Cô gái có vẻ bực bội vì sự xúc động dễ dãi của cha mình, nói như phân trần với Chấn :

– Ba tui thương anh nớ lắm, mấy năm ni hể nhắc tới là khóc.

Chấn mấp máy môi nhưng không nói được tiếng gì. Hai mụ đàn bà ngồi gần cửa thì mở cặp mắt  tò mò nhìn người đàn ông đau khổ một cách lỗ mãng.

Xe đang đi giữa một vùng đồi thấp, những trái đồi tròn trĩnh nom thật thà hiền hậu. Nắng mai rực sáng trên cánh đồng vừa tan sương. Bỗng Chấn níu cửa xe suýt kêu lên mừng rỡ khi nhìn thấy vài ba cánh cò đang lượn lờ quanh một đầm nước nhỏ, lòng anh hớn hở tưởng như vừa gặp lại một cố nhân. Đã mười mấy năm nay anh chưa hề thấy một bóng cò trên các cánh đồng thấm mùi lửa đạn. Mười mấy năm nay, hàng vạn chim bồ câu được người ta tung lên khung trời an lành ở các thành phố để cầu nguyện hòa bình thật là phí phạm, bởi chưa ai biết tung một cánh cò. Chấn khẽ ra dấu cho cô gái cùng nhìn về phía đầm nước. Cô ta chăm chú mở lớn mắt nhưng không chia xẻ với anh nỗi mừng rỡ ngây thơ.

– Chim chi rứa anh ?

– Chim “thái bình” !

– Tên ngộ quá.

Chấn cười. Cô gái chớp mắt e thẹn, một ngón tay bối rối đưa lên gải nhẹ khóe môi.

– À, nhớ rồi. Hồi học tiểu học, tui có con bạn cao ngòng và ốm teo, nhất là cái cổ, nên bị cả lớp gọi là Cò. Nhưng nó chết rồi, tội ghê !

– Ngày nào dứt chiến tranh, bóng cò sẽ bay rợp trên khắp các cánh đồng quê hương, cô thích không ?

– Biết ngày mô ?

Bất giác người đàn ông thở dài quá lớn tiếng. Chấn hiểu, ông vừa trả lời cho con gái mình. Có thể tính ra đằng đẵng thời gian trong cái thở dài ấy.

Xe qua khỏi Tam Quan, dập dềnh trên đoạn đường lở lói. Hành khách níu ghế chịu đựng những dằn xóc liên hồi. Nét mặt người đàn ông nhíu lại đau đớn, chốc chốc ông

đưa tay lên trần xe như muốn nâng đỡ che chở một vật gì đó. Cô gái cũng ngước mắt trông theo bàn tay cha, nhíu mày lo lắng.

– Sắp tới quãng đường nguy hiểm.

– Chỗ mô rứa anh ?

– Bắt đầu từ ngọn đèo thấp trước mặt.

– Anh biết rứa mà cũng dám đi xe đò.

– Chắc không sao. Hôm nay ngày tốt lắm, hồi nãy cô có thấy hai ba đám cưới ở Bồng Sơn ?

Người đàn ông quay qua con gái mình nói nhỏ :

– Lo chi. Có vong hồn anh mi đang phù hộ trên đầu trên cổ.

Cô gái lại thúc hông cha ra dấu giữ im lặng. Chấn cẩn thận rút ví lấy những giấy tờ có liên quan đến lính tráng nhét vào đáy xách tay. Tay anh đụng phải tấm thiệp cưới màu hồng phấn của Phương. Phương giờ nầy hẳn bóng loáng màu hạnh phúc, rực rỡ như nét chữ kim nhũ tô điểm tên nàng bên cạnh tên một kẻ lạ. Chấn đã thiếu thốn nhiều điều kiện để tiến lên đứng song song bên nàng ngay từ buổi dầu, vậy cớ sao anh còn quay về ? Không lẽ chứng mất ngủ tai hại suốt mấy đêm rồi đã góp phần quyết định chuyến đi không trù tính nầy ? Anh tưởng lòng mình  nguôi ngoai êm ả sau khi đã gởi cho nàng cái điện tín chúc mừng hạnh phúc, không, anh vẫn còn nhiều điều chưa nói hết với Phương. Gạt đi những bọt bèo tự ái để nhìn thẳng vào đáy lòng mình : than ôi, anh vẫn còn yêu nàng quá đỗi !

Chấn ngẩng đầu lên và bắt gặp đôi mắt dịu dàng của cô gái :

– Anh đội cái nón ni lên đầu. Xe sắp lên đèo rồi.

– Không sao đâu.

– Đừng giỡn mặt.

Giọng cô gái gần như mệnh lệnh. Chấn bẻn lẻn quàng quai nón ngang cằm, cười :

– Trông tôi giống phụ nữ chút nào không ?

– Thôi mà. Cúi đầu xuống.

Sau lưng Chấn, người lính đã thay bộ quần áo lính bằng bộ pyjama từ hồi nào và đầu cũng che nón lá như anh. Xe vòng lên tới chóp đèo, tăng tốc lực, rú lên hớn hở như con thú dữ vừa đánh hơi mùi tử khí phảng phất đâu đây. Một người nào đó nói khẽ :

– Sắp tới Sa Huỳnh

Sa Huỳnh, Đức Phổ, Mộ Đức… Núi xanh rờn tai ương lớp lớp. Đồng gầy guộc xương xóc hoang tàn. Chốc chốc ven đường xuất hiện những dãy lều tạm bợ bằng tôn gỉ và giấy bìa của dân tỵ nạn trông như cảnh đóng trại của đám người đi khai hoang. Rải rác những tường xiêu cột cháy nhà hoang của trùng trùng những tháng năm khói lửa. Tìm đâu bóng cò bay lả bay la ?

Chấn khép mắt ngủ chợp được một giấc ngắn trong cái nóng hun đốt hâm hấp trên đầu. Gió Lào từ những ngách núi tràn xuống ào ào, muốn xô bạt cả xe. Trong xe, nhiều tiếng ngáp lộ liễu nối nhau hô hố, những cặp mắt lờ đờ nhá nhem, những chân cẳng tê cứng nhức mỏi. Đường vẫn còn xa hun hút.

Mười một giờ xe tới bến Quảng Ngãi, đây là trạm nghỉ trưa của những chuyến xe xuôi ngược vào ra nên nhộn nhịp ồn ào tiếng rao hàng mời níu lao xao, cả tiếng la tiếng chửi trộn với tiếng máy xe rầm rì, tiếng còi xe thúc giục toe toe. Chấn xuống xe, hai bàn chân nhẹ hẩng như mất hẳn trọng lực. Người đàn ông nhô đầu ra ngoài, ngước lên mui xe kiểm soát lại hành lý, mắt ông nheo lại, có vẻ bất bình.

– Mời bác và cô xuống kiếm gì ăn trưa.

Cô gái chải lại mái tóc rối tung :

– Cảm ơn anh, tui không dám ăn chi cả, cứ sợ mữa.

– Thì uống gì đó qua loa.

Cô gái lắc đầu cười. Chấn ngần ngừ rồi bỏ đi.

Lúc anh trở lại, người đàn ông đang loay hoay xếp đặt gì đó trên mui xe. Anh trao lon Coca cho cô gái :

– Cô uống chút nước đỡ khát.

Người đàn ông tụt xuống đất, đôi mắt đỏ hoe như vừa mới khóc.

– Phải tìm tấm vải chi che lại chứ nắng gớm quá…

Cô gái nháy mắt bảo cha im. Ông dụi mắt ngó quanh rồi bương bả đi qua chỗ bán tạp hóa. Chấn nói :

– Cô xuống một tí cho đỡ cuồng chân.

Nàng vén vạt áo tần ngần bước xuống, nhăn mặt :

– Xe chạy chậm quá anh hí, mệt đừ người.

– Chốc nữa xe chạy cô gắng ngủ một giấc để giết thời gian.

– Ở Huế anh ở chỗ mô ?

– Má tôi là người Huế, quê ngoại tôi ở Kim Long. Gặp cô, nghe giọng cô nói tự dưng tôi “nhớ nhà” ghê. Huế bao dung tôi một thời thơ ấu tuyệt vời, nhưng…

Người đàn ông vừa mua về một tấm vải nhựa và nhờ người lơ xe phủ lên cái rương gỗ trên mui. Lát sau ông còn leo lên kiểm soát và giằng buộc lại thật cẩn thận. Bây giờ Chấn mới hiểu, chính cái rương gỗ đang bị phơi nắng ấy chính là đầu mối lo lắng nãy giờ của ông.

Khi lên xe hai cha con vô tình ngồi lộn chỗ của nhau nên bây giờ Chấn ngồi cạnh cô gái. Xe rời bến Quảng Ngãi, tiếp tục chuyến đi. Bữa ăn trưa dù vội vã qua loa nhưng cũng tạo lại sinh khí tươi tĩnh trên nét mặt hai mươi mấy hành khách. Chuyện vãn ròn rã, tở mở.

Hồi lâu Chấn tưởng cô gái đã khép mắt ngủ được. Nhưng mỗi lần xe cán phải ổ gà nhảy rùng lên, nàng hốt hoảng níu tay cha. Người cha thì ngẩng đầu lên trần xe như một phản ứng. Ông sợ cái rương gỗ rớt mất chăng ? Thỉnh thoảng ông lại chồm ra cửa ngó lên dõi chừng.

– Sao bây giờ cô im lặng quá ?

Nàng vuốt nhẹ má, cười gượng :

– Nói nhiều sợ anh nhớ nhà.

– Nhưng mai mốt, mỗi lần nhớ nhà chắc tôi phải nhớ đến cô.

Nàng nguýt anh, không nói.

– Ra Huế, hy vọng còn gặp lại cô.

– Chắc không có mô !

– Biết đâu chẳng dịp tình cờ.

– Con gái tụi tui không thích hai tiếng “tình cờ”. Răng nghe nó mong manh quá !

Xe qua khỏi Chu Lai, bon bon giữa những trảng cát trắng không bóng cây không mái nhà, chỉ dằng dặc một màu hoang dã mông quạnh lạnh người.

– Cô có thấy những nhà ga xe lửa trầm ngâm như những tháp Chàm hoang phế ?

– Dạ.

– Cô đi tàu lửa lần nào chưa ?

Chấn quay đầu vào. Cô gái đang thiêm thiếp ngủ. Anh nhận rõ sức nặng của một phần thân thể nàng đang truyền qua vai anh, mềm mại, âm ấm, tưởng như đếm được từng dây tơ cảm xúc run rẩy e ấp. Vài ba sợi tóc của nàng bay nhởn nhơ ngang mặt, tinh nghịch, chọc ghẹo, bất giác anh ngậm lấy, cắn chặt. Có mùi hương thoang thoảng vỡ ra đâu đó. Hương xưa ? Mái tóc Phương ? Giờ nầy, hẳn mái tóc kia đã được bới cao lên, cài hoa giắt lược rỡ ràng ?

Xe qua khỏi thị trấn Tam Kỳ. Vẫn những trảng cát buồn thiu. Gió lộng. Chấn thiu thiu ngủ. Vai anh bỗng nhẹ hẩng đi. Hai cha con cô gái đang nói nhỏ với nhau gì đó. Một lát, người đàn ông lại chồm người qua phía anh, thò đầu ra ngoài. Chắc cái rương gỗ kia đựng những đồ quý giá lắm ? Xe dừng lại ở một trạm kiểm soát. Từ Quảng Ngãi ra đây quá nhiều trạm kiểm soát, khổ cho Chấn phải trình giấy lia lịa. Như mấy chỗ kia, người lính nầy nhắm ngay vào gã thanh niên duy nhất trên xe là anh :

– Cho coi giấy tờ.

Như một cái máy, Chấn trao cho anh ta xấp giấy đang cầm sẵn trên tay.

– Giấy hoãn dịch của ông đâu ?

– Tôi là quân nhân biệt phái.

– Ông không có thẻ tại ngũ. Mời xuống xe.

– Có giấy chứng nhận của Trưởng cơ quan kia. Tôi là công chức.

– Ông đào ngũ. Xuống xe !

Cô gái mở lớn mắt lo lắng nhìn Chấn và phân bua giùm anh :

– Những trạm kiểm soát trong tê đều….

Người lính trừng mắt, nạt :

– Cô biết gì. Nhớ là tôi chưa xét giấy cô. Ông có xuống xe không ?

Chấn quay qua cười với cô gái :

– Thôi bác và cô ra Huế trước. Cãi cọ dùng dằng chỉ làm phiền cả xe.

Chấn lững thững bước xuống bờ đường. Xe chạy. Cô gái ngoái đầu nói gì đó anh không nghe rõ. Tấm vải nhựa đậy cái rương gỗ lay bay trên nóc xe như vẫy tay chào anh. Anh quay lưng lại, đây là chỗ nào ? Người lính giữ mớ giấy tờ của anh thì đi thẳng vào cái quán cóc chuyện gẩu với một người đàn bà còn trẻ. Y cười hể hả , đắc thắng, chị đàn bà cũng hí hửng cười, khứng chịu. Chấn coi đồng hồ, sốt ruột. Anh bước vào quán, tiến lại phía người lính, xuống giọng năn nỉ :

– Giấy tờ tôi hợp lệ, anh thông cảm, tôi đang nôn nóng về nhà. Chiều nay đám cưới… em tôi.

Chấn rút tấm thiệp cưới của Phương đưa ra trước mặt y để làm chứng cho lời mình nói. Người lính tạo lại bộ mặt lầm lì khinh khỉnh, xẳng giọng :

– Tôi không biết. Ông vào Bộ chỉ huy Trung đoàn hẳn hay.

– Tôi gấp về, em tôi đang trông ghê lắm. Anh hiểu cho…

– Ông ra ngoài kia đứng. Chốc nữa có xe đến giải giao về Ban 1 Trung đoàn.

Chấn mím môi. Sự tức giận khiến anh chóng mặt, thốt ra một tiếng chửi thề cộc lốc. Người lính đứng dậy hung hãn :

– Mày vừa nói chi ?

– Ông hãy đưa tôi về cấp chỉ huy của ông gấp bây giờ. Để tôi còn đi.

– Tao giam lỏng mày ở đây. Mày tiếc con nhỏ trên xe hả ? Đào ngũ mà tình tứ quá.

Chấn cười gằn bước ra ngoài nhổ một bãi nươc bọt. Anh bối rối nhìn cây kim đồng hồ đang quay nhanh, thật nhanh. Anh tiu nghỉu nhìn theo từng chiếc xe đò đang chạy ra hướng Đà Nẵng sau khi chỉ dừng lại chốc lát. Người lính vẫn hú hí chuyện vãn với người đàn bà, chẳng thèm ra kiểm soát để bắt thêm bọn “đào ngũ”. Chấn nhìn bóng mình đổ dài trên bờ đường, lẩm bẩm chửi thề.

Một giờ đồng hồ sau, một người lính dùng xe Honda áp giải Chấn  về Bộ chỉ huy tận trong chân núi. Anh gục đầu trên lưng kẻ lạ và nghĩ đến Phương xa vời. Thôi muộn cả rồi. Kẻ tình chung đành dở dang vai kịch. Chấn chồm lên vai người lính :

– Anh có biết hôm nay người yêu của tôi đi lấy chồng ?

Người lính ngoảnh mặt lui ngơ ngác. Chấn hét lớn :

– Khi người yêu bỏ đi lấy chồng thì mình có nên đến dự đám cưới không ?

– Đ.M. dự làm chó gì !

Chấn cười hô hố theo anh ta :

– Phải lắm. Cảm ơn các ông đã bắt giữ tôi lại. Không thì chiều nay tôi ngu ngốc dẫn xác tới chiêm ngưỡng hạnh phúc của một kẻ bội tình !

Chạng vạng tối Chấn mới về tới Đà Nẵng, mệt phờ người. Anh tạt vào cái phòng ngủ ở bến xe thuê một chỗ nằm để nằm dài ra thở dốc. Thở no nê, anh cảm thấy mình ngứa ngáy và nhớp nhúa như một miếng giẻ rách. Tắm rửa xong, Chấn thay áo quần ra phố. Phố chưa bớt tấp nập ồn ào nhưng nhờ thế anh bớt lẻ loi thui thủi. Giờ nầy chắc tiệc cưới của Phương đã bắt đầu. Kẻ tình chung đã không về kịp, Phương an tâm ? Chấn bước vào một tiệm ăn có vẻ mặt bề ngoài khá sang trọng nhưng thức ăn thì quá tồi, anh bỏ mứa, kêu rượu. Không có. Cho một chanh tươi không đường. Cho vừa lòng anh đang chua ngoét.

Chấn trở về phòng ngủ với chai Napoleon mới mua. Bỗng, anh đứng khựng lại ở cầu thang, đôi mắt dướn cong lên như một cặp dấu hỏi. Cô gái bỡ ngỡ nhìn anh trân trối :

– Anh….

– Tên lính đó bướng bỉnh phá tôi chơi. Tôi lên cấp chỉ huy của hắn trình giấy lại rồi đi liền. Mà sao cô ở đây ?

– Đường đèo Hải Vân bị kẹt, xe quay lui hết. Không biết sáng mai đi được chưa.

– Bác đâu ?

Cô gái chỉ tay lên lầu. Chấn thở dài, hoan hỉ :

– Không ngờ còn gặp lại cô, thật hi hữu. Cô thấy chưa, cuộc đời còn lắm tình cờ.

Nàng che miệng cười, ngượng ngập :

– Anh thuê phòng số mấy ?

– 12, đằng kia. Để tôi lên thăm bác một chút.

Lên khỏi cầu thang cô gái dừng lại, ngập ngừng :

– Chắc ba tôi đang nằm nghỉ, thôi mình chớ khuấy rầy ông.

Chấn gật đầu và bước lại khoảng bao lơn hẹp phía trước, đặt chai rượu xuống chân. Cô gái nhìn theo :

– Anh uống rượu ?

– Đêm nay tôi không muốn phải thao thức trằn trọc.

Nàng bước tới gần, dựa lưng vào tường. Chấn khoác tay vu vơ :

– Tôi phải quên đi một chuyện buồn. Cô biết, giờ nầy ở Huế, người yêu tôi đang rực rỡ hạnh phúc bước xuống thuyền…

– Chỉ có rứa mà anh phải uống rượu ?

Chấn nóng nảy, bực dọc :

– Tôi đau khổ ghê lắm. Cô bắt tôi phải làm gì nữa khi đành chôn chân ở đây ?

– Anh tưởng say là quên được ?

Chấn cúi đầu, trầm ngâm :

– Ừ nhỉ, còn gì mà nhớ mà quên.

Chấn chụp chai rượu đưa lên ngang mặt rồi bất thần ném thẳng xuống đường. Cô gái hốt hoảng đưa tay bịt tai lại. Một tiếng vỡ khô, đục và nghẹn. Chấn cười lớn :

– Cô nhìn kia, người yêu tôi đang la ơi ới, tên đàn ông nọ thì mảnh chai găm trúng mặt. Cả đám tân khách xô bàn tiệc giẫm lên nhau mà chạy. Ha ha !

– Anh say rồi.

– Và tôi cũng vừa quên hết rồi. Thôi ghé lại thăm bác, sớm mai tôi quay về Quy Nhơn.

Cô gái bước lại mở hé cửa và bối rối xô Chấn lui. Nhưng anh cũng vừa thấy kịp cảnh tượng trước mặt : người đàn ông đang gục đầu lên cái rương gỗ khóc tức tưởi, bên cạnh bó nhang tỏa khói và mấy ngọn đèn cầy leo lét, buồn thảm. Cô gái chảy dài nước mắt, nói mếu máo :

– Tội nghiệp anh tui phải nằm lại dọc đường đêm nay… Cái rương gỗ ấy đựng hài cốt anh tui !

PHẠM NGỌC LƯ

Tuy Hòa, 1973

                                               

ĐẤT TRÍCH

phamngoclu

Mươi lít gạo trộn vài cân muối
Nấu với tình em ăn vẫn ngon
Tình em: nước sông Ba đầy bát
Đời ta như nồi trống niêu trơn

Bốn phía rừng xanh màu nước độc
Đông tây nam bắc núi chận đường
Một lũng đất bằng khu chén nhỏ
Trói chân ta vào chân Trường sơn

Bó đời ta nửa manh chiếu rách
Đêm nằm mộng lớn nuốt mộng con
Chiêm bao cứ thấy mình mọc cánh
Bay với chim trời ra cố hương

Canh khuya cọp gầm vang núi Lá
Giật mình tưởng ai gọi đầu non
Nằm chi đây, thân tàn đất trích
Chờ ai đây, đói lả chết mòn

Mươi nắm gạo trộn vài vốc muối
Đeo lên vai nặng nghĩa đầy ơn
Mai ta bỏ thân ngoài sạn đạo
Xin tình em một mảnh đất chôn

PHẠM NGỌC LƯ

Chiều nay rực rỡ hoàng hôn

phamngoclu

(những câu thơ đề trên một tấm ảnh…)

Người đi neo bóng bên bờ
Có sông thêm tội nước chờ thuyền lui
Nước đau từng sợi ngậm ngùi
Cuốn tình tôi chiếc lá vùi đáy sông
Người đi hồn chẳng đi cùng
Khói sương chẳng đậu, đèo bòng chi tôi
Tà dương như thể trêu ngươi
Chờ chi… chưa rụng chưa trôi chưa chìm
Người đi ! Con nước đứng tim !
Chết tôi chiếc bóng ngồi im bên bờ…

PHẠM NGỌC LƯ

C Ả M N G Ộ

phamngoclu

Hoa rụng vô tình nghiêng chén rượu
Xuân tàn bất chợt trắng bài thơ
Tóc nhuộm khói chiều thù mây bạc
Ai lau nhan sắc để gương mờ

Hoa nở bao giờ? Chiều nay rụng
Xuân đến bao giờ? Sáng nay đi !
Chén rượu thuyền quyên cầm tôi lại
Thoáng hương xưa bối rối xuân thì

Cứ tưởng gặp nhau trong vạn cổ
Ngỡ ngàng em: thục nữ Kinh Thi
Ngỡ ngàng tôi: nho phong hàn sĩ
Rượu hồng đào nặng chén tương tri

Cứ tưởng giang đầu giao giang vĩ
Sông Tương cạn đấy hết đôi bờ
Sao tôi ngơ ngác, hoài Tương thủy
Giọt rượu tương phùng chết đuối thơ !

Đâu biết xuân già hoa khai muộn
Vô tình tôi mọc trái tim non
Em ngó lại rơi màu tóc biếc
Chén rượu tan tành vỡ khói sương.

PHẠM NGỌC LƯ

ẢO M Ộ N G

phamngoclu

Ân tình mấy phen chưa khiếp
Sao đời còn lụy khói sương
Chưa đắm ba đào nhan sắc
Sao lòng rực rỡ tai ương !

Tô chi màu son huyết dụ
Cười lên rớm máu nỗi buồn
Vẽ chi đôi quầng mắt biếc
Nhìn lên thăm thẳm trùng dương
Tóc xanh không xanh màu biển
Mà đa tình gió ngàn phương
Xiêm y phất phơ tà mộng
Mơn man bờ cõi hoang đường
Em về bên ta lãng đãng
Đêm nao thao thức mùi hương
Hoa quỳnh băn khoăn chưa nở
Trăng xuân mọc chậm không tròn
Chim khuya mơ màng quên ngủ
Bướm khuya vỗ cánh chập chờn
Em về bên ta mờ tỏ
Môi khô huyết dụ mù son
Mắt xanh ngàn trùng mây gió
Liêu trai mái tóc mù sương
Thực hư bàn tay khói lượn
Mời ta chén rượu quỳnh tương
Trao ta nỗi lòng cô phụ
Khóc ta tiếng khóc đoạn trường
Kể chi vần thơ mắc nợ
Đau lòng nghiệp dĩ văn chương
Xui chi thuyền quyên gặp gỡ
Xót xa quân tử cùng đường
Ta về căm thù Số mệnh
Bay lên tra hỏi Càn Khôn

Rơi xuống vực sâu vô vọng
Tan ra dòng nước sông Tương
Nhấp nhô ba đào nhan sắc
Dìm ta xuống đáy đau thương !
Đêm nay em không về nữa
Ân tình trao gió viễn phương
Đã đành lòng em sấp ngửa
Còn bày gieo quẻ âm dương
Quẻ rằng, “bèo mây tan hợp”
Cắn môi rớm máu nỗi buồn
Chớp mắt tan tành ảo mộng
Lòng ta lộng lẫy tai ương !

Mai kia đất trời hiu quạnh
Thơ ta nằm chết trần truồng
Hoa quỳnh không bao giờ nở
Vầng trăng vàng vọt héo mòn
Mai kia ngàn thu tái ngộ
Khóc cười kể chuyện khói sương
Chút tình phù du một thuở
Chép thành tình sử ngàn chương…

PHẠM NGỌC LƯ