Gài thế.

nguyentri

Tiếp theo và hết của Nam mô một bồ dao găm

Chuyện chủ động gài thế và bị gài thế nó phức tạp lắm. Không dễ ai lừa được ai trên trần thế nầy. Kẻ nào có tiền và biết xài tiền đừng mơ có ai lừa được họ. Trí tôi quen với một tay trùm trong thế giới bi-a. Anh ta giả nai khỏi chê một tí ti ông cụ nào. Ai cá độ với hắn cầm bằng phải bán vợ đợ con chứ không ít. Một hôm có một tay thua quá, thua rồi mới ngộ ra mình bị dụ nai. Điên tiết anh ta đập gãy cây cơ đâm bạn tôi một phát lủng bụng. Kẻ đi nhà thương người ở tù. Nhìn chung gài và bị gài và bị đều như nhau. Thằng thắng đâu có ngon và thằng thua thì tất nhiên thúi hoắc rồi.
Năm 1986. Vâng. Vào năm nầy có sự kiện World-cup tổ chức tại Mêhicô. Đây là một mùa bóng mà Trí nhớ mãi. Ngoại trừ hai thiên tài lừng lẫy là Maradona và Platini người yêu thích bóng đá hẳn không quên những Dico, Phancao, Soccrates…. Hẳn không ai quên được vua đá phạt Dico của Braxin và Platini của Pháp sút bóng bay lên trời… Nghe đâu Côlumbia được quyền tổ chức nhưng vì một lý do nào đó lỡ cuộc và Mê hi cô được chọn. Columbia tự an ủi rằng họ đã có Macket và Trăm năm cô đơn rồi nên không có Quơn cúp cũng không sao. Trí tôi được đọc tác phẩm này vào năm 86 ấy. Cũng trong năm nầy có một sự kiện khác tuy nhỏ hơn Macket và quơn-cup nhưng cũng khá đình đám. Đó là tác phẩm văn học có tên “Fidel-Castro và tôn giáo” do đức Hồng y người Braxin tên Frei-betto cho ra đời.
Sợ dĩ Trí tôi lan man chỗ nầy là vì trong tác phẩm “Pi-đen-cat-tơ-rô và tôn giáo” (phiên âm của báo QĐND) Fiddel đã trả lời vị hồng y một câu mà Trí tôi nhớ mãi. Ông nói:
– Người Cộng sản nên học tập những nữ tu, những thầy dòng, cha xứ của Công giáo đức HY SINH và lòng BÁC ÁI. Họ cho đi mà không nhận lại cho mình một điều gì.
Câu nói quá hay. Quá chính xác. Trí tôi Phật giáo nửa mùa nên rất quý người và tôn chỉ của Thiên chúa giáo. Ngày xưa khi còn ở Kon-tum gia đình tôi ở trại gia binh trong khu Võ lâm. Trong khu rừng nầy có một bệnh viện của người Tây đức. Tôi bị bệnh và được điều trị ở đây. Nhìn những nữ tu mặc áo choàng đầu trùm khăn cổ đeo chuỗi hạt có tượng đức Giê su bị đóng đinh câu rút tôi cực ngạc nhiên. Không hiểu vì sao những người Tây mũi cao da trắng nầy lại chọn núi rừng để sống và làm từ thiện. Chỉ có đức hy sinh và lòng bác ái cao vòi vọi mới bỏ cả quê hương xứ sở để một đất nước nghèo, lạc hậu và loạn lạc để làm việc. Ai có thể làm được điều này ngoại trừ người của Thiên chúa giáo?
Lúc còn trẻ tôi có si tình một nàng công giáo. Tôi lẻo đẽo theo sau nàng mà ca cẩm rằng : “ em ngày ấy ngây thơ, hay mặc áo hoa huyền, đi dự lễ Misa, trong buổi sáng tinh sương, trong buổi lễ misa, anh nào biết kinh cầu, anh chỉ biết theo em, khi làm dấu A-men” vì nhan sắc nên tôi quyết làu thông kinh điễn để lấy lòng cha má nàng. Nên chi tôi sành điệu lắm. Về sau ý chừng cha má nàng sợ tôi ngâm câu : “ Con quỳ lạy chúa ba ngôi. Cho con được vợ con thôi nhà thờ” nên họ nhận lời cầu hôn của một anh con nhà gia thế cùng đạo. Sau đó tôi lại si tình một nàng trong Tin Lành nên khá tinh thông Kinh Thánh từ Cựu đến Tân ước. Nên chi từ Phật giáo, Thiên chúa giáo đến Tin lành tôi có biết chút chút. Và cá nhân tôi đặc biệt quý trọng tinh thần Thiên Chúa giáo.
Để mặc được chiếc áo choàng đen đức trên bục giảng lời chúa là cực kỳ gian khó. Khó và khổ nữa. Những sư huynh trong trường dòng năm bảy năm tu tập mà còn phải về đời. Các vị nầy trình độ của họ cao vòi vọi. Họ nói tiếng anh tiếng pháp như nước chảy mây trôi. Quan trọng nhất đức hy sinh và lòng bác ái của họ thì khỏi chê. Ngay ông bạn tôi. Ông trưởng ấp mà tôi đã kể cho các bạn nghe ở trên là một thí dụ điễn hình.
Thật mà nói làm ông trưởng ấp có chi đâu khó. Nhận và phát lệnh ngu và khùng như Trí cũng làm tốt. Nhưng làm ông trùm một họ đạo thì không đùa chơi. Gia đình chỉ cần con không nghe cha mẹ, vợ chồng không kính nhau như khách thì chớ có hòng. Bạn tôi có một gia đình mà ai cũng mong ước. Ông chính quyền cũng rất khôn ngoan khi đề cử anh chức danh ấp trưởng. Thật là tốt đạo đẹp đời. Tôi và anh thân lắm. Anh giúp tôi nhiều nhiều chuyện cơm áo. Quý ông nhà giàu trong xã làm từ thiện anh luôn cho gia đình tôi một phiếu hàng. Có năm tôi nhận những năm lần hàng từ thiện do năm ông nhà giàu nhờ anh phát chẩn. Anh dẫn tôi đi lên chùa xin ở ké, giới thiệu cho tôi làm tài cho Tám Ẩn. Thật là quá xá bác ái phải không?
Hôm đó tôi đang ở nhà thì một người bạn là mục sư của Tin lành tên Bằng đến nhà. Bằng quan tâm tôi lắm. Anh biết tôi có thời gian là tín hữu tin lành nên mời tôi tham gia lại đạo vì e rằng tôi đang bị quỷ satan rủ đi chơi. Bằng hỏi tôi:
– Anh nghe gì chưa?
– Anh ngồi chơi… uống ly nước… có gì không anh?
– Anh không nghe tin ông Hớn bị bắt rồi à?
Tôi giật mình:
– Ông Hớn nào? Sao bị bắt.
Bạn tôi – Hớn – bị công an huyện bắt tại khách sạn X với hành vi mua dâm trẻ vị thành niên.
Thật choáng váng.
Bằng về thì vợ và con Hớn đến. Mọi chuyện là chính xác. Việc nầy mà té bẹ ra thì còn chi danh dự dự danh. Làm sao gỡ bây giờ anh Minh ơi? Anh có kế chi giúp tôi với? Việc nầy do gia đình con quỷ ranh kia mà ra cả. Từ khi nhận được đền bù giải toả đến bây giờ ông ấy đổ đốn ra… mà không… ông ấy hư lâu rồi anh ạ. Tôi đã phải nhẫn nhịn mà cho qua vì con cái dâu rể cháu chít. Gìa hai thứ tóc mà nay bị như vầy sao sống nổi anh ơi? Con quỷ con nầy cà phê ôm bia ôm chuyên nghiệp. Ông tôi già mà hám trẻ… làm sao bây giờ hả anh.
Vì sao vợ con Hớn đến tôi mà không ai khác? Chẳng là tôi có thằng con bốn năm cai nghiện một năm tù. Tôi bị huyện mời lên vì hành vi của con trai cũng dăm bảy bận. Họ tin rằng tôi có thể làm chi đó để họ qua bước đoạn trường. Nhưng tôi biết làm chi? Thằng con tôi bây giờ thì rất nghiêm túc làm ăn nhờ cai nghiện bằng phương pháp uống Mêthađôn chứ lúc mới tù về nó đủ thứ hư hao. Nó nói:
– Để con xem bọn gài thế cỡ nào. Phải bắt tụi nó câm họng lại. Để nó kiện là chết với tội danh mua dâm vị thành niên. Ít cũng chục năm tù chưa kể bồi thường.
Tôi nói:
– Ừ… mày coi giúp ổng một chiêu coi.
Thằng con ra tay. Nó kéo theo hai thằng xâm mình rằn rện đến gặp cái gia đình có con bán cà phê ôm đưa bạn tôi vào tròng. Chả biết nó làm chi mà bọn gài thế không dám kiện. Nói vậy chứ bản thân tôi trên đời nầy không sợ cái chi ngoại trừ thế lực trong bóng tối. Anh đang đi, nó cho một cây vô đầu, một ca acid vô mặt hoặc đang đêm nhà bị một chai bom xăng biết kêu ai? Đúng không? Bạn tôi được thả sau một tuần tạm giam. Chả biết là có hao tốn chi không. Tôi e là có vì mua dâm xứ ta cũng có tội. Hớn về và – tất nhiên – ai mà cho anh làm cán bộ nữa. Vợ con coi như một người xa lạ thì người trong họ đạo coi anh ra chi? Và anh đến tôi để chén tạc thù.
Tôi không trách ông bạn tôi ly lai nào hết. Vì sao? Vì đời là thế sự đời là thế. Một số người trong chúng ta luôn bị đồng bạc làm cho thoái hoá. Nghèo khó kiếm miếng ăn chảy máu con mắt thì đồng bạc xài ra chi li từng khoản một. Khi có dư dăm ba đồng bạc thì hất mặt lên trời ra vẻ ta đây tài ta đây giỏi. Đồng bạc từ trên trời rơi xuống như đồng bạc của giải toả đền bù thì càng khác nữa. Bạn tôi thoái hoá cúng không chi lạ.
Tổng thống như ông Biêu Cờ-lanh-tông còn bị cô Lêquănsờky làm cho thân bại danh liệt. danh thủ Maradona nhiều tiền quá bị ma tuý ám cho thiếu điều mất mạng. Tưởng Platini ngon cơm lắm ngờ đâu cũng bị tiền làm cho mất hết uy danh. Trí tôi đây chạy ăn toát mồ hôi nên quý từng xu một, nếu có nhiều tiền đã chắc chi thoát khỏi bẫy đời? Nhan sắc và ăn chơi ai không thích chỉ thử một anh xem chơi. Những tay một thời lẫy lừng nầy đem so với thẳng con hư hỏng đang làm lại đời như con tôi ai hơn ai? Ít ra thằng con tôi cũng cứu được một người và một gia đình thoát khỏi cửa tử bởi bị gài thế. Đừng tưởng đồ bỏ là không xài được. Đúng không?
Vậy nên nghèo cho chắc. Đừng mơ chi trúng số.
Nhắc đến trúng số tôi mới nhớ đến một người bạn là giảng viên đại học có vợ là quản thủ một thứ viện…

Thảm hoạ của trúng số
Tám Ẩn – người thuê tôi chở ông ta đi chơi – từng trúng đặc biệt. Ẩn một tờ, vợ một tờ và bồ Ẩn năm tờ. Cần rạch ròi chỗ nầy một chút. Rằng Ẩn và bà vợ bẩy mươi tuổi chia hai căn nhà mạnh ai nấy sống. Tôi là người xây tô cái bức tường chia hai nầy. Phần của mình Ẩn làm một cà phê đèn mờ do cô bồ làm chủ. Hôm đó vé số ế ghé qua. Vợ Ẩn mua một tờ còn bao nhiêu cô bồ Ẩn ôm hết. Cô cho Ẩn một tờ và chiều đó vô nguyên xơ ri năm con và mỗi tờ trị giá một trăm hai mươi lăm triệu.
Thằng hủ tíu gõ, thằng nầy thuê cái mặt tiền của vợ Tám Ẩn làm chổ sinh nhai nói với tôi:
– Lý ra con có một tờ nhưng bồ Tám Ẩn dành hết, hứa rằng nếu trúng sẽ cho con một chiếc quây an pha.
– Rồi có cho không?
– Dạ có… thiệt là tức quá… chỉ vì tiếc năm ngàn bạc bằng không con có trăm triệu rồi chú Minh Tàn ơi.
Nghe Ẩn trúng độc đắc tôi như mở hội. Chả là khi rong ruổi trên đường tìm… gái. Ẩn có hứa tao mà vô cái lơn lớn sẽ giúp mày qua thì hoạn nạn. Nay cả đôi uyên ương nầy vô lớn quá. Bỏ cái cô già nhân ngãi ra thì Ẩn cũng lớn vậy. Tôi khoe với bà xã rằng thể nào ông Ẩn cũng giúp mình tí chút em ơi. Vợ tôi nói:
– Tám Ẩn với cái kiểu sống chê già ham trẻ có mới nới cũ thì ông đừng có mà tin. Ông già rồi, lăn lộn cũng lắm mà đi tin kẻ vì gái gú mà bỏ vợ.
Tôi trình bày nếu không nhờ tôi thì Ẩn bị ăn ít cũng năm trận đòn trên đường thiên lý. Nói vậy chứ chuyện tranh nhau một cô trẻ trẻ trong cà phê ôm là có. Có lần một thằng trẻ đòi thoi Tám. May mà đi đâu tôi cũng thủ trong người một lưỡi dao cạo mặt của thợ hớt tóc. Loại dao mà khi cùn thợ cạo thường mài xoẹt xoẹt trên một sợi dây da. Đến quán nào tôi cũng lấy một gương soi con con rồi móc dao ra giả đò xén ria mép. Mấy giang vặt thấy tôi tay hươ dao đến giải quyết sự cố là chúng e lắm. Tôi êm xuôi cho Ẩn ít cũng năm vụ. Vậy nên tôi hy vọng ông chiếu cố mình âu cũng sự thường. Lúc ấy tôi ở nhà trọ, tài sản chỉ là chiếc xe đạp mua lại, tôi ước có một chiếc quây tàu ba triệu bạc.
Ba ngày sau trúng số Ẩn lại ngay nơi tôi trọ. Móc trong túi ra và – mô phật – Ẩn đặt vào tay tôi ba chục ngàn. Ẩn kêu vợ tôi múc một ly chè đậu đen, chả là vợ tôi bán chè trước nhà trọ. Vừa ăn Ẩn vùa than vơi tôi là số Ẩn xui. Cô bồ cho trúng tờ vé số lụi. Nghĩa là chỉ được an ủi, thôi thì mày cấm mấy chục xài đỡ. Xong xuôi Ẩn đứng lên và nói mày trả tiền tao ly chè nhé. Tôi nhìn theo bạn già và lắc đầu, trong khi đó vợ tôi cười mà rằng:
– Tôi nói ông thấy linh không? Khi chưa có thì một tấc đến thiên cung. Cạn đìa mới biết lóc trê phải không Minh Tàn?
Khi vui hay cay đắng vợ tôi cũng gọi tôi là Minh Tàn.
Sỡ dĩ tôi lê thê một chút chỗ này là muốn nhấn mạnh rằng người trúng số bị rất nhiều áp lực. Tôi chả hạn. Với Tám Ẩn đâu có bà con chi mà mong ông ta hổ trợ? Ông ta còn có bà con, anh em và vô khối những hầm bà lằng khác mà có cả tỷ cũng không giải quyết hết nói chi trăm triệu bạc. Chả phải có câu nghèo khó thì chẳng ai nhìn đến khi đỗ trạng chín nghìn nhân duyên đó sao? Tám Ẩn chỉ là chuyện nhỏ. Suy cho cùng ông ta chỉ là một nông dân, trí lự nhỏ bé như Trí tôi thì sống vì bản năng âu cũng thường. Giới trí thức mới thực là đáng để quan tâm khi họ cũng không thoát cái vòng kim cô của hỉ nộ ái ố.
Hồi ở Sài gòn tôi quen thân vơi vợ chồng Kim Lệ. Chồng tên Kim vợ tên Lệ. Anh Kim là giảng viên của một trường đại học chị Lệ là quản thủ một thư viện. Họ có hai con một trai và một gái. Giáo chức vào thời đó chỉ có cái danh chứ đoi lắm. Anh Kim đến trương bằng chiếc 78 cà là mèng, chị Lệ thì cóc cách xe đạp. Hai đứa con đi học cũng xe đạp luôn. Nhà của anh chị không quá hai mươi mét vuông. Có cái gác hai đứa con chia nhau bằng một tấm ván ép làm nơi học tập. Nghèo nhưng hạnh phúc lắm. Chị Lệ làm thêm bằng cách mua giấy của bao xi măng về nhà cắt ra rồi dùng hồ dán lại thành những bao bì dựng hàng hoá cho các tiệm tạp phẩm. Sau bữa cơm chiều nhìn chồng và con vui vẻ phụ mẹ dán bao bì kể chuyện trường lớp thì còn đẹp nào hơn. Về sau tôi bị nợ nần và xã hội đen vây bủa nên bỏ Sài thành đi trốn. Nhưng tai hoạ không ngừng vây bủa. Con cái đứa chết đứa lâm vô sa đoạ nên tôi khổ vô cùng. Những tưởng là không bao giờ gặp lại vợ chồng Kim Lệ nữa
Chủ nhật ấy tôi và Bằng – anh bạn mục sư – đi thăm con ở trại cai nghiện Xuân Phú. Nói đau khổ nhưng chắc tôi không qua ông mục sư Bằng. Vợ chồng ông có hai con trai bị ma tuý hết cả hai. Một thằng vào toilet chích choác sao đó bị chết ngay trên bồn cầu. Còn một thằng thì bị bắt khi đang choác. Hai thằng tôi cùng đi thăm, tôi thì chả nói chi chứ Bằng thì mệt lắm. Anh là mục sự chủ trì một hội thánh. Chủ nhật ấy phải nhờ một Mục sư khác đến truyền đạt lời Chúa thay anh. Tám giờ sáng hai tôi đã có mặt ở một quán cà phê trước cổng trại. Đang nhâm nhi tách cà phê thì một phụ nữ đến trước mặt tôi. Bà có một mái tóc bạch kim tuyệt đẹp. Gương mặt thì tôi luận không ra bao nhiêu tuổi. Và đôi mắt thật u buồn. Bà nhìn tôi, gọi:
– Anh Minh. Minh Tàn.
Tôi nhìn bà, nhíu mày. Nhưng không nhận ra. Lâu lắm:
– Xin lỗi chị…
– Lệ nè. Kim Lệ nè. Không nhận ra sao?
Trời ơi! Tôi kêu lên. Sao mà lại có thể là Kim Lệ được hả trời? Làm sao mà một gương mặt trẻ trung lại già như ri và một mái tóc đen huyền lại như cước thế này thì tề thiên còn bó tay nói gì tôi. Tôi mời chị ngồi rồi mọi chuyện vỡ ra sau khi ba chúng tôi thăm xong những đứa con sa đoạ.
Chị kể rằng ra cớ sự con trai bị ma tuý ám và con gái đang ở phục hồi nhân phẩm là từ hai tờ độc đắc mà ra. Lúc ấy vé số hai nghìn một tờ và đặc biệt là năm mươi triệu:
– Chồng tôi – anh Minh biết rồi đó – một giảng viên hết mực đàng hoàng. Trúng hai tờ vé số chúng tôi mừng lắm. Đầu tiên anh ấy thay cái xe để đi dạy cho lịch sự. Sửa lại cái nhà. Mua cho hai đứa nhỏ chiếc đờ rim của trung quốc. Lúc ấy chiếc xe cả hai chục triệu.
Và…Có tiền nên anh Kim có đàng hoàng hơn, lịch sự và bay bướm hơn một chút. Cái dòng có tiền từ trên trời rơi xuống nó lạ lắm. Kẻ xổi thì khác xa với người giàu có gộc có nòi. Kiểu đôi khi vung tay quá trán của Kim làm một đồng nghiệp nữ trong trường kết mô đen. Trẻ và đẹp và trí tuệ hơn vợ nhà đã làm Kim nhạt lòng. Cuối cùng không thoát khỏi bẫy tình Kim cặp kè với cô kia và gia đình đổ vỡ khi cô giáo kia lớn bụng. Kim đòi ly hôn mặc kệ hai đứa con không đồng ý. Cha con chồng vợ kình cãi nhau dữ dội. Không chịu nổi nên Lệ phải thuận ly hôn. Chán nãn thằng con lớn bỏ ngang đại học sa vô rượu chè rồi ma tuý. Con gái thì… vào phục hồi nhân phẩm.
– Nếu không vì hai tờ vé số. Anh Kim không sắm xe mới xe đẹp đến trường. Không vì đồng bạc từ trên trời rơi xuống. Chúng tôi vẫn kiếm thêm bằng dán bao bì thì không ra bị kịch như hôm nay anh Minh ơi…
Chị nhìn tôi và sa nước mắt. Tôi chả biết nói chi trong hoàn cảnh nầy vì so ra tôi có chi hơn chị để khuyên một đôi lời. Ông mục sư thì khác. Ông kể chuyện Thánh Gióp trong Cựu ước và kết rằng Chúa đang thử thách chúng ta anh Minh chị Lệ ạ. Anh khuyên nên khẩn thiết cầu nguyện với Đức Chúa Trời để xin ngài ân điển. Rằng thì là mọi việc được an bài bởi đấng tối cao. Nhưng nếu chúng ta siêng năng cầu nguyện và tôn vinh Chúa thì sẽ được cứu rỗi. Tôi nhìn vào đôi mắt người đàn bà khổ luỵ. Chừng như đôi mắt chị có một câu hỏi.
Hỏi rằng: Nếu tất cả bị chi phối bởi quyền lực của tối cao nào đó thì con người ở đâu? Con người có ý nghĩa gì trong đời sống nầy?
Tôi định hỏi anh mục sư nhưng sợ sự phân tích của anh quá nên thôi.
Bạn có muốn nghe chuyện anh mục sư nầy không?

mua thánh bán thần
Tôi phải trốn chạy khỏi sài gòn vì bị bọn đen đòi trảm. Cái hoạ đầu tiên đến là chứng áp xe gan. Rượu quá nên ra vậy chứ chả có chi phải thắc mắc. Bầy con tôi phải nghỉ học bán vé số nuôi bệnh cho cha là chuyện nhỏ, bà xã phải bán luôn căn nhà ở Thanh Sơn. Không đủ nên phải ngữa tay vay đồng bạc lãi suất cao của xã hội đen. Sau bệnh làm bao nhiêu cũng không đủ cho phòng trọ và lãi mẹ lãi con. Đùng một cái con gái út bị xe đạp tống một phát gãy tay. Tôi đi phụ hồ bị một cây gỗ đóng coppa rơi bể đầu. Cuối cùng là bọn đen dằn mặt tôi một trận ngay chợ Văn Thánh về tội lâu trả nợ… Cùng đường rồi ta làm chi? Nửa đêm tôi di lý vợ và con ra bến xe miền Đông về quê cũ ở miền Trung xa thẳm làm lại cuộc đời.
Thật là chua xót cho kẻ hai mươi hai năm bỏ quê ra đi nay về với hai bàn tay trắng. Đừng nói đến tha nhân. Ngay cả người thân cũng coi anh là đồ bỏ. Khi là đồ bỏ thì phải chấp nhận sự bỉ khinh. Ở được tám tháng, tôi thì chả nói làm chi vì nhục đã từng chứ con tôi thì tội nghiệp lắm. Để giải thoát cho chúng sự cô độc tôi phải quay lại miền Đông. Cuộc đời tôi – nói thực, ai cười cũng đành chịu – từng trốn nợ bỏ xứ ra đi nhưng chưa khi nào cay đắng bằng tám tháng trở lại quê nhà của năm ấy. Tôi thấm lắm câu thơ quê hương là chùm khế ngọt. Không có quê thì làm chi biết được vị ngọt ấy? Thực vậy.
Tôi thuê phòng trọ ở trấn X. Lại vé số. Trời ơi cái vé số nó cùng cực lắm. Tôi chưa thấy nghề chi mà cam chịu và đớn hèn như nghề nầy. Năn nĩ ráo bọt mép lắm khi khách được mời phán: “đi chỗ khác cho con nhờ tí coi ba, ba dai nhách vậy?” Ai đó nói bán vé số thu nhập cao thì đúng là dốt nát. Ngày bán được trăm tờ là rài rạc cả đôi chân. Không vốn liếng thì vậy chứ biết làm chi bây giờ? Ở phòng trọ X được mười ngày thì tôi lại phải trốn tiếp vì tình cờ con tôi gặp một thằng quen ở khu phố cũ trên Sài gòn. Hai ngày sau một trong số những thằng đen tôi thiếu nợ lãng vảng ngay khu vực. Đang phụ hồ tôi phải di lý cả gia đình lần nữa xuống một nhà căn chòi hoang khác kề bên nghĩa địa. Căn chòi này của một thợ hồ nơi tôi làm việc. Anh ta lấn đất nghĩa địa nên cần người ở. Biết tôi lâm thế cùng nên cho ở vơi giá hai trăm nghìa một tháng, rẻ hơn phòng trọ một trăm. Tử tế vậy chứ sao nữa bây giờ? Ở đây tôi sống với nghiệp mót mủ cao su.
Nói cho đúng là ăn cắp mủ chứ mót cái gì. Công nhân trút xong ngữa chén đẻ hôm sau lấy tiếp anh canh me đêm vô trút mà mót là mót làm sao? Nghiệp nầy được cái không mặc cảm chi ráo bởi cả trăm người ăn cắp. Đêm trong lô ngươi đi như trẩy hội vui ơi là vui. Bốn giờ chiuef cha con tôi tập trung tại một căn nhà sát bên lô. Chủ nhà tên Thanh là một tín hữu của Tin lành giáo. Thanh và vợ con cũng là thành viên của ăn cắp mủ loại thiện chiến.
Dòng họ của Thanh ai cũng phật giáo, riêng anh cãi theo Tin lành. Chả hiểu làm sao Thanh rất cảm tình với tôi. Anh cho cha con tôi dấu mủ trong nhà. Mủ ăn cắp đẻ trong rừng cao su rát dễ bị mất bởi bảo vệ và dân cúng cánh. Anh em ăn cắp của nhau thường lắm. Một hôm kia Thanh mơi tôi ăn bánh xèo. Trước khi ăn anh cáu nguyện, rồi vợ rồi con. Ai cũng cầu nguyện. Vừa ăn anh vừa giải thích cho tôi vì sao anh bỏ phật theo chúa. Rằng thì là nặm ấy anh bị bệnh rất nặng nằm ở bênh viện huyện, sạch bách tiền mà không thuyên giảm thì được một mục sư cuat Tin lành đi làm từ thiện. Ông khuyên anh nên cấu xin đức chúa trời, là cha của chúng ta trên trời, ông sẽ ban ân điển cho con của người. Nhận quà từ thiện xong Thanh cúng cấu nguyện cho phải phép, ngờ đâu hết bệnh. Có thể là tình cờ, bệnh uống thuốc lâu phải thấm cúng không chi lạ. Nhưng có nhưng chuyenj rất linh hiển mà không tin không được. Anh như là… như là… cả chụ thì dụ cho tôi nghe. Cuối cùng anh khuyên tôi nên cấu xin vơi chúa toàn năng xin ngái cho qua cơn thống khổ:
– Anh biết không – Thanh nói – ông Lu the người sáng lập đạo Tin lành vốn là một…
Nghe anh đọc sai tên của giáo chủ Tin lành tôi bèn nổi máu ngoại ngữ mà rằng:
– Ôn ấy tên là Luther và đọc là Líu thơ…
Chả là tôi theo tôn giáo này vào năm 1973, sau khi người mộng công giáo của tôi theo chồng. Động lực đi nhà thờ tắt ngóm tôi bèn theo một tay đàn anh tên Tưởng theo tin lành:
– Mày theo tin lành với tao – Tưởng nói – đợt này ben hội thánh cho mỗi tín hữu một bộ đò Jean hộp. Đi không tao ghi tên. Tuần sau là có…
Vậy là bị bộ đồ Jean hộp quyến rũ tôi gật đầu ngay. Vào rồi, hộp hiệc đâu không thấy nhưng có cái khác cũng quyến rũ không kém, đó là sinh hoạt thanh niên nam nữ vui vô cùng. Nữ tín hữu cô nào cũng đẹp không thua người mộng công giáo của tôi. Tôi si tình một nàng, cô là con gái của ông hội trưởng. Vì nàng tôi cố làu thông Kinh Thánh từ cựu đến tân ước. Tôi lậm vào kinh điễn của Tin lành như một kẻ sinh ra đã là một tín hữu rồi vậy. Cũng chả hiểu tại sao các vị tiến sĩ của thần học như vợ chồng Mục sư Jean và bà Linda lại cảm tình đặc biệt với tôi. Tin hữu tin lành giáo cũng được phép đứng trên bục của hội thánh để giảng và vinh danh lời chúa. Tôi cũng vậy. Chả hiểu được cái ơn chi mà trên bục tôi nói hay như diễn giả. Về sau tôi được mục sư tiến sĩ Jean cho đi học một khoá ngắn ngày về cách nói chuyện trước công chúng. Nếu không có một sự cố xẩy ra chắc chắn tôi đi học Thần học và không chừng ngày nay tôi là mục sư của tin lành chứ chẳng phải chơi.
Hôm đó tôi đến nhà nàng, tức nhà ông hội trưởng của hội thánh. Nàng dẫn vô phòng khách. Tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy trên bàn thờ có một bộ lư hương bằng đồng và một bộ ngũ sự. Tôi hỏi thì nàng trả lời:
– Ba em hồi trước là hội phó hội phật giáo tỉnh nên có bộ đồ thờ nầy.
Thì ra ông hội trưởng từng là một phật giáo. Tôi đem chuyện kể với Tưởng. Tưởng rằng:
– Đù má… thằng cha nầy chơi không đẹp. Bị một vố bên phật giáo mà chưa tỉnh ngộ, nay của tín hữu cũng chơi luôn.
– Là sao?
– Là mấy thằng theo như mình được hội thánh trên thị xã tài trợ nhiều lắm. Bao nhiêu cha nội Hộ ăn sạch. Mấy chục bộ đồ Jean chả cũng nuốt mẹ nó rồi… hồi là hội phó phật giáo tỉnh cũng ăn quá nên bị đuổi…
Thú thật trong tôi Chúa và Phật luôn hiện hữu, nhưng quý vị đại diện – xin thưa – cho em xin. Quý vị cũng là người như thằng khùng tôi mà thôi. Nghe tôi nói về lời chúa dạy Thanh mừng lắm bèn mời sinh hoạt hội thánh cho vui. Tôi yên lặng không trả lời. Vì sao? Bà mẹ nó. Chúa dạy chớ lấy của người làm của mình mà đi ăn cắp mủ thì đi hội thánh làm chi cho nhọc?
Vậy rồi một hôm đẹp trời kia Thanh dẫn đến nhà tôi một mục sư. Anh tên Bằng. Người mà tôi đã nói.Nhà Bằng là một hội thánh với sức chứa chừng năm mươi tín hữu. Anh là con rể của ông mục sư có hội thánh lớn nhất thị trấn X. Tôi theo và sinh hoạt tại hội thánh của Bằng.Là một mục sư nên Bằng có quan hệ rất rộng. Bạn thân của anh là một chủ nhân của một trung tâm ngoại ngữ tin học tư nhân rất lớn ở thị trấn. Trung tâm nầy dậy anh pháp hoa hàn cả nhật ngữ. Ai muốn học chi có nấy. Nghe tôi khoe khoang – tính tôi vốn hay khoe – từng dạy anh văn anh bèn giới thiệu tôi tham gia giảng dạy. sau khi kiểm tra trình độ tôi được giao một lớp ba mươi học viên. May quá tôi dạy Streamlines1. Tức là vỡ lòng. Bằng đem tới tận nhà tặng tôi một bộ áo quần và một đôi giày da xịn. Tôi trả lại anh cà ra vát vì không quen. Nói chung vì cái sự dạy dỗ này tôi đi sinh hoạt hội thánh cũng đúng thôi. Nhưng được một tháng thì tôi bỏ dạy.Nguyên nhân là quý cô cậu con nhà gia thế dốt ngoại ngữ đi học cho vui, cho vừa lòng bố mẹ chứ có học gì đâu. Đến trung tâm váo lớp được mười phút thì xin ra ngoài cùng nhau tự tình trên ghế đá. Còn lại vài cô cậu thực sự học cho biết thì tẻ buồn. Học anh ngữ mà anh chị không trò chuyện tức thực tập với nhau bằng tiếng Anh thì làm sao nói? Vậy thì dạy làm chi cho mang tiếng? Tôi nghỉ dạy và quên luôn chuyện chủ nhật đi… hội thánh. Vậy là Bằng sau vài lần đến nhà… khi biết tôi đã hoàn toàn bị Satan lôi đi theo nên anh xin lại bộ áo quần và đôi giày. Hành động của Bằng làm tôi hơi buồn nhưng cũng đúng thôi. Vì lúc ấy không như bây giờ mà một trăm nghìn bạn có thể mua được một bộ áo quần nghiêm chỉnh. Mười mấy năm rồi còn gì. Hôm ấy tôi và một tay bạn là nhà văn ghé thị trấn làm cái chìa khoá xe bị mất. Tay sửa khoá làm chìa là dân trấn X chính hiệu con nai. Hắn ta từng là chủ nhân một căn nhà bốn tấm trong thị trấn. Sau phá sản vì vợ cầm cái hụi. Vợ bị tù vì thuê xã hội đen truy sát kẻ giật hụi. Tay sửa khoá rất rành Bằng:- Thằng đó hả – sửa khóa làm chìa nói – hỏi tao nè. Nó đâu dưới miệt U minh lên xứ này. Đói chết mẹ nên theo Tin Lành. Con gái ông mục sư ba mấy mà không chồng nên nó nhảy vô xin một chưn. Mà mày biết sao con nhỏ ế không Minh Tàn? Nói mày nghe nó bị xi cà que… vậy là nó lên luôn từ đó.Tay nhà văn khùng khục cười. Nói:
– Mua thánh bán thần thì bị trả giá là phải.
Tất nhiên tay nhà văn biết Bằng có hai đứa con sa đoạ.

Nhà văn và thợ sửa khoá.
Thợ tên Hùng, thường gọi Hùng Phá. Phá lắm, phá trời sợ. Nhà Hùng trong hẻm. Hẻm bề thế ông cha chứ không đùa chơi. Trong cái hẻm rộng bốn mét nầy nhà Hùng cao nhất bởi những bốn từng lầu. Lịch sừ đời tay nầy kể một cuốn tiểu thuyết dày 500 trang là không thể hết. Đảm bảo ly kỳ hấp dẫn không thua bố già của Mario Puzo. Hùng nói với tôi:
– Hồi mới giải phóng cả trấn nầy ai cũng sợ tôi. Tại sao anh biết không? – Hùng thua tôi chục tuổi nên gọi tôi bằng anh – tại tôi con nhà giàu. Bảy tám, bảy chín ai đói đâu không biết chứ nhà tôi bét lắm cũng cơm trắng hột vịt chiên. Biết sao giàu không? Bốn bà chị lấy bốn ông chồng Mỹ, định cư ở Mỹ hồi năm 73. Thời nào cũng vậy thằng có tiền nói là trời nói. Cái trấn nầy tám mươi lăm phần trăm là nguỵ tặc, nên tặc chơi với nhau. Năm đó tôi mới mười mấy tuổi biết khỉ khô gì nguỵ hay cách mạng… Anh mới về đây nên không biết chứ cái trấn nầy thằng nhà lầu nào cũng có đô la mẽo hết và không thằng nào chưa từng ở dưới trướng tôi. Biết sao không? Người thân tụi nó ở Mỹ là sau nầy. Từ vượt biên, mua con lai cho đến hát ô hô… tui ăn đô la trước tụi nó cả chục năm, giúp tụi nó biết là bao nhiêu…
Thoạt tiên tôi rất ngạc nhiên khi nghe kể. Ngon lành vậy mà sao phải ké vỉa hè để sửa khoá làm chìa? Thì ra là rất chi ngậm ngùi cho Hùng Phá. Là con trai duy nhất nên mấy bà chị ở Mỹ gửi tiền về cho em út nuôi cha mẹ già. Nhiều tiền quá nên sinh hư. Hùng ăn chơi xã láng cuộc tình. Xỉn lên đập phá rồi đền là chuyện nhỏ. Uýnh lộn rồi đền bồi cơm thuốc cũng nhỏ luôn. Có tiền thì tiên còn mua được nói chi ba thứ khác. Phá vậy mà không bị hốt đi cái tạo cũng hay đó chớ. Thì đã nói có tiền mà. Lớn thì không dám nói chứ quan chức nho nhỏ trong trấn này Hùng nói lắm kẻ nghe. Hùng nói với tôi vậy.
Chơi riết cũng chán Hùng lấy vợ. Tất nhiên rồi. Vợ của Hùng đẹp ác liệt luôn. Liền trong hai năm nàng hạ sinh hai hoàng nam đẹp như thiên thần. May mà hai đứa chứ nữa thì chắc Hùng tan như xác pháo. Nhờ đô la mỹ nên hai đứa con được đến trường ngon lành, giáo dục tốt nhứt thị trấn. Kẹt cái hai đứa nó giống cha cái khoản phá. Mơi lớp năm chúng đồng lòng bỏ học ở nhà phụ mẹ việc bán buôn. Chả là Hùng làm căn bốn tấm xong liền bổ hàng về cho vợ đứng chủ trì một cửa hiệu tạp phẩm ngon lành đệ nhứt hẻm nhựa rộng bốn mét. Đời cứ thế mà lên. Nào đô la nào tạp phẩm tiền vô như nước lũ thế kia thì con cái không học cũng chả chết thằng tây lai nào. Đúng không?
Không phải vậy đâu. Đùng một cái Hùng bị thần kinh toạ.
Hùng kể rằng cái vụ toạ nầy là hiểm ác nhứt trần ai. Nó như kim chích từ thắt lưng xuống tận chân. Nằm yên một chỗ còn chịu không nổi nói chi bước. Bao nhiêu cái bệnh viện ở sài gòn từ nhà nước đén tư nhân, tây cho đến bắc y, nam dược ai chỉ chi cũng làm. Đắt bao nhiêu cũng không ngại. Tiền ra như nước lũ mà than ôi bệnh không thuyên. Thế có chết không?
Và…- đù má – Hùng văng tục – chuyện giường chiếu tôi hoàn toàn thua cuộc nên con vợ nó có… bồ. Anh biết không – Hùng buồn rầu – đàn bà khi đã nhạt lòng là xong. Và cái thằng người bị thần kinh toạ là tôi đây sống còn không thiết nói chi đàn bà. Thằng bồ con vợ tui nó đào mỏ cực kỳ. Vợ tôi trước có khui hụi nhỏ nhỏ cho vui. Sau chơi lớn luôn mới là sạt nghiệp. Phần thì trai ăn, phần tay em hốt hụi rồi dông. Hai thằng con tôi xài tiền gấp tám lần tôi còn trẻ. Mấy bà chị từ Mỹ về thăm nhìn cảnh họ hiểu liền… Con vợ tôi ngu dại thuê xã hội đen chém tay em giật hụi, chém luôn thằng đào mỏ bạc tình. Thằng được thuê chém bị bắt khai ra người thuê…
– Giờ mày bớt đau chưa? – tôi hỏi.
– Cũng đi được để sửa khoá. Tuần nào cũng lấy thuốc, ngày nào cũng châm cứu.
– Bà xã ra sao rồi?
– Tù chớ sao.
– Còn hai thằng con đâu?
– Chơi riết quen. Lâu lâu còn ghé tui chôm tiền. Mà tui thì anh biết tháng nào cũng lo đóng lãi ngân hàng.
– Làm chi mà phải vay?
– Cất nhà xong. Vài tỷ bạc cho cái nhà chứ anh tưởng ít sao. Sau đó phải cầm sổ đỏ cho ngân hàng để lấy vốn làm ăn. Đang ngon lành thì ngã bịnh. Vậy là tiêu.
– Nợ bao nhiêu dữ vậy?
– Năm trăm triệu.
– Mẹ cha ơi… dữ vậy sao?
– Là vầy… tôi nhời bạn trong ngân hàng vay giúp. Ba cái thủ tục nầy đâu phải giỡn. Không tay trong tay ngoài làm sao vay, không chúng chi dễ gì ổn. Tôi vay ba trăm, thằng bạn vay giúp vay thêm cho nó hai trăm. Tôi phải gật vì không giúp nó nó không giúp mình. Thủ tục chung chi hết năm chục triệu một mình tôi lãnh. Cuối cúng thằng bạn bị tù vì thụt két… anh thấy có chết bà nội tôi không?
Tôi nhìn Hùng mà ngậm ngùi. Suy ra tôi c tuy bán vé sổ mà chả khổ hơn hắn bao nhiêu. Ngày nào Hùng cũng mua cho tôi nguyên xê ry 10 tờ. Mõi tờ lúc ấy 2000 đồng và đạc biệt 50 triệu:
– Nếu vô – Hùng nói – tui cho ông một tờ, ba tờ trả nợ ngoài, còn sáu trả bớt ngân hàng.
– Mày còn nợ đâu nữa?
– Búa xua a lua mua khắp thị trấn này. Tôi làm chìa sửa khoá ngày kiếm hai trăm ngoài mà không đủ để trả lãi. Chưa nói đến máy bà chị lâu lâu gửi về cho tí đỉnh vấm không đâu ra đâu. Tôi mà lấy lại sổ đỏ là bán tức khắc kiếm căn khác sinh sống.
– Sao không nhờ mấy bà chị bên Mỹ giúp cho?
– Mấy bả biết tôi thăm nuôi con vợ nên cạch tài trợ… anh nghĩ coi mình là thằng đàn ông ăn chơi đàng điếm ngoài đường. Vợ con cả lốc vấn bướm bay bay bướm. Mình nằm một đống vợ chăm lo. Nó có lên giường với người khác âu cũng thường tình. Nhu cầu sống thì anh vất đi đâu? Khi biết bị lừa nó còn dám thuê người chặt thằng kia. Mình bỏ sao được phải không?
Tôi kính phục Hùng ở cái nét rất đàn ông nầy.
Nhưng Hùng cực ghét tay nhà văn bạn tôi.
Chả là ông nhà văn, nhà thơ kiêm hoạ sĩ nầy – thật ra – tôi cũng không ưa. Nhưng vốn ba phải nên tôi vờ cho qua. Chả là tôi là mối vé số của ông ta. Này ông cũng mua cho tôi ngày được dăm tờ. Vậy nên nghe ông khoe tài năng một chút cũng chả sao? Mà lạ nghe, những nhà văn thơ nhạc hoạ khác chả biết sao chứ ông nầy thì khoe dữ lắm. Mỗi khi nói về văn thơ ông cứ hất hất cái mặt lên trời ra vẻ ta đây thấy ghét lắm. Ông hơn tôi hai mươi tuổi, tức là hơn Hùng ba mươi tuổi. Tôi gọi ông bằng bác nhưng Hùng gọi bằng ông. Ông già đó ông già kia nghe khinh mạn lắm. Ông nhà văn thơ nhạc họa tặng tôi một cuốn tiểu thuyết một tập truyện ngắn lại ký hoạ cho tôi bức chân dung. Tôi đem sách cho Hùng dọc. Hùng đọc dữ lắm. Thời gian rỗi trong nghề sửa khoá nhiều hơn thời gian thi công. Rảnh Hùng đọc báo đọc sách.
Hôm đó đọc xong cuốn tiểu thuyết Hùng nói với nhà văn thơ nhạc hoạ:
– Nè ông già… cuốn sách của ông…

Nhà văn và thợ sửa khoá.
Tặng sách cho tôi nhưng anh nhà thơ văn nhạc hoạ nói:
– Tao biết chú mày bận, không có thời gian để đọc, nhưng tặng là bởi tao quý chú mày. Nếu có thời gian rãnh đọc cho vui. Có gì góp ý nhé.
Các loại nhà nói đúng. Tôi lết bộ từ sáng đến mười giờ đêm, có khi hơn. Đặt cái lưng xuống nền xi măng không ai kêu dậy là dám đi một mạch về âm phủ không thèm về, tỉnh dậy là vừa gặm bàn mì vừa lê thân tàn bán vé số thời gian đâu mà sách với báo? Có vậy nên tôi giao cho Hùng Phá đọc rồi kể lại tôi nghe. Có lần đọc xong tập thơ nó nói:
– Đù má… thằng già bạn của anh gian manh quá. Cái tập thơ của nó tôi đọc thấy có hình bóng của Tế Hanh, Đoàn Văn Cừ và cả Anh Thơ trong nầy nè.
Tôi cũng chả hiểu làm sao mà một thằng bước ra đời năm mười hai tuổi như Hùng lại biết nhiều đến vậy. Tôi hỏi nó:
– Là sao?
– Cha nội nầy sửa thơ của quý cụ đời xưa rồi ký tên mình ông ơi.
– Thiệt vậy không? Sao mày biết?
– Cha tôi hồi còn sống nghiền ba cái thứ nầy ghê lắm. Tui cũng nghiền luôn. Cha nội nầy không qua được tui đâu. Bữa nào anh dẫn ông ta đến đây tui cho một trận.
– Kệ người ta – tôi nói – ổng ta là mối vé số của tao. Mày xử quê ông ta nghỉ chơi vơi tao là mất mối Hùng ơi.
– Trong tất cả các loại ăn cắp – Hùng nói – ăn cắp thơ văn của người ta rồi ký tên mình là bẩn nhứt ông biết không?
Tôi đâu có rảnh để đưa ngài các loại nhà đến gặp Hùng mà bù khú. Sở dĩ có sự gặp gỡ của cả hai là do thị trấn nầy duy nhất Hùng làm nghề sửa khoá. Nó làm ăn được là nhờ thế độc quyền. Nhiều thằng lơ mơ ra hành nghề bữa trước bữa sau là con trai Hùng cho ăn cù loi ngay tức khắc. Thơ văn nhạc hoạ đến làm chìa và ra sự vụ. Tôi có mặt và nghe đấu khẩu. Hùng nói:
– Nè ông già… cuốn sách của ông…
Thấy trong tay Hùng cuốn tiểu thuyết của mình, mắt các loại nhà sáng lên:
– Ồ… làm sao anh có cuốn nầy? Anh đọc chưa? Thấy thế nào? Tôi đã viết cuốn nầy trong hai năm đó.
– Tôi đọc rồi – Hùng nói – văn của ông, nói chung cũng tàm tạm. Có điều nội dung ông viết nhiều cái vô lý quá. Vô lý đến độ hoá thành ba láp luôn.
Trong lúc các loại nhà trố mắt vì bị đạp vỗ mặt, Hùng nói về một đoạn trong cuốn sách đại loại có một cô giao liên qua suối để làm công tác chi đó, nước suối hơi cao nên cô cởi quần để lội vì sợ ướt. Cởi quần thì chả sao nhưng:
– Ông tả cô ta không có quần chíp – bà mẹ nó – bộ ông đứng đó hay sao mà biết? Ông xạo nó vừa thôi, hư cấu sạch sẽ một chút. Bộ tả cô giao liên mặc nguyên áo quần qua suối không được hay sao hả ông già? Đã vậy còn có một thằng thiểu số canh me cô gái qua rồi đè ra hiếp… trời ơi là trời… nè nếu dư tiền ông cho Minh Tàn đây làm vốn mua cái xe đạp đi bán vé số chứ in ba cuốn sách như vầy là bôi bác nền văn học lắm ông biết không?
Nghe đến dây Trí tôi lĩnh đi gấp vì sợ văng miểng. Đã vậy còn nghe vọng:
– Ông đi chỗ khác mà làm chìa. Tui không làm cho ông.
Đã nói thằng Hùng Phá nầy viết về nó cả năm trăm trang là không thể hết. Ngang đầu cứng cổ khỏi chê. Cả hai ngày sau tôi không dám gặp ông nhà văn, sợ ông trách tôi sao giao sách của ông cho một thằng quái như Hùng. Nhưng mà việc nầy đâu phải lỗi ở tôi. Đúng không? Vậy rồi nhà văn chủ động gặp tôi, trước mua vé số sau tâm sự. Cũng cấn nói thêm một chút chỗ nầy. Tôi vốn ba phải lắm, ai nói chi cũng ừ, cũng gật. Lại biết chịu khó lắng nghe. Có thể ví cái sự chịu ngồi nghe mà ông nhà văn khoái chăng? Ông nói:
– Người đọc góp ý là tốt. Có điều thằng làm chìa nầy không biết thế nào là cái khốn khó trong chiến tranh. Tao từng đi qua hai cuộc kháng chiến nên rành.
Ông rành nhưng tôi thì sợ vụ kháng nầy lắm. Mỗi khi nhập ông nói về thực dân và đế quốc đến là mệt. Ông ta có thể nói cả ngày không hết chuỵên. Nào là gặp Văn Cao ở đâu. Nguyễn Tuân ăn thịt chó như thế nào… ông ngủ vơi hoạ sĩ… mấy đêm. Nói chung ông là bạn, là học trò của hầu hết các văn nghệ sĩ trong nước thời kháng chiến. Tôi mệt ông lắm. Nhưng cũng có chiêu trò để thoát ra. Nhà văn vừa trả tiền vé số là tôi vờ… dạ dạ… em qua liền anh hai. Chả là ông nhà văn hơi nặng tai.
Chuyện dưới đây mới là tè le hột me giữa Hùng và ông nhà thơ văn nhạc hoạ. Hôm đó nhà văn đích thân đến tôi. Tôi bệnh nên nằm nhà. Hùng thì đi hốt thuốc nam chữa thần kinh toạ ở một thầy thuốc do tôi gíới thiệu. May quá, uống thuốc nầy bệnh của Hùng giảm thấy rõ nên anh ta cám ơn tôi lắm lắm. Hùng ghé tôi làm vài xị ba xi đế sương sương. Đang tì tì xị thứ hai thì nhà văn đến, dẫn theo một người bạn cũng già xấp xỉ ông. Tôi nói nhỏ với Hùng:
– Tao lạy mày nghe Hùng.
– Em biết mà. Có gì ở ngoài đường chứ đây là chỗ ở của anh. Ồn ào chủ phòng trọ nó đuổi anh thì sao.
Nhà thơ văn nhạc hoạ giới thiệu:
– Đây là anh Văn Xình. Nhà thơ nổi tiếng của… hiện là hội viên của hội… còn đây là Minh Tàn bán vé số. Chú Hùng là…
Nhà thơ Văn Xình ốm như con cò và lùn một khúc. Đầu sói sọi tóc thì dài phủ vai. Tôi nhìn ông tự nghĩ nếu ông ta cạo trọc thì hay quá. Được cái ông nầy nói như cồng kêu. Rõ ràng từng từ một. Văn Xình làm một hơi hai ly xây chừng. Rượu vào nên lời ra. Ông ta đọc thơ. Tôi vốn không thông minh mấy. Thơ muốn hiểu phải nằm mà chiêm nghiệm. Hùng khác tôi, cứ Văn Xình xong một bài thờ là nó vỗ tay gật gù ra cái vẻ hay quá, thơ hay quá đọc tiếp đi anh. Được thể Văn Xình tha hồ đọc. Nhà văn của tôi rất điệu đàng, ông mang tới một túi thịt chó luộc với mắm tôm riềng củ sả đủ bộ, thêm một chai Vokka, chả biết thiệt giả nhưng cứ rượu chai là sang cả rồi:
– Bài thơ nầy – Văn Xình nói – nghe tôi đọc xong ông Trần Đăng Khoa bảo sao hai chú em biết không?
– Sao chú? – Hùng Phá hỏi.
– Hãy gọi anh bằng anh. Vì anh là nhà thơ, mà nhà thơ thì không có tuổi.
– Dạ… thì anh. Trần Đăng Khoa nói sao anh?
– Nó nói – dám kêu một nhà thơ lớn bằng nó thì ghê thật – rằng nghe đọc bài thơ nầy Khoa nhận ra mầm mống của Nobel đang hiện hữu trong thơ anh.
– Á đù… – Hùng kêu lên.
Tôi kín đáo bấm nhẹ vào tay Hùng, sợ nó khùng bất tử lên thì hư bột hư đường hết. Nhà thơ tiếp tục:
– Hội trưởng hội nhà văn Việt nam mời anh vào hội nhưng anh không thèm
– Á đù…
Nghe tiếng á đù Hùng thốt ra lần thứ hai tôi hơi hãi. Thằng nầy mà xử quê nhà thơ thì mệt quá. Nhưng không. Hùng lịch sự và nhỏ nhẹ đến bất ngờ. Nó nhìn Văn Xình nheo nhoe mắt rồi nói:
– Anh tuy nhỏ con mà thần thái như vầy chắc giường chiếu ngon lành chứ hả?
Nhà Thơ cũng nheo mắt:
– Nói ra chắc em không tin chứ sự thật là một đêm anh từ quan đi động hoa vàng trung bình là bốn bận
– Á đù ù ù ù…. mà… – lần nầy chính tôi thốt lên,
Sau đó không nhịn được tôi khả khả khả cả một tràng dài. Trời ạ, buồn cười chết đi được. Một thằng người như con cò tóc tai sói sọi mà bố láo chưa kìa? Có rượu nên tôi không tự chủ được. Cố nén nhưng nén thì tiếng cười lại phát ra thanh âm khùng khục đến nỗi Hùng phát một phát vô đùi tôi:
– Yên coi Minh Tàn. Ông đúng là chả biết gì. Chuyện nầy có chi mà phải cười. Thần kinh toạ như tôi mà một đêm còn chừng đó bận nè.
Tôi thò tay bốc cái củ sả nhai cho qua cơn cười. Hùng tiếp tục:
– Thưa anh… nghe mấy bài thơ anh đọc em ngưỡng mộ lắm. Ngoài trừ thơ, giường chiếu anh còn chơi lĩnh vực nào nữa không ạ?
Tôi ngừng nhai cảnh giác nhìn Hùng. Thằng này mà nhỏ giọng lịch sự và có vụ thưa gửi là mới à. Có khi nào ưng lên nó phang cho đối phương cú đấm không ta? Dám có lắm. Nghĩ vậy nên tôi nhích lại gần nó một chút để có gì mà can ra. Nhà thơ nghe hỏi liền lôi từ trong túi dết để bên mình ra một lốc những tờ tạp chí và báo. Ông giơ lên một cái mề đay:
– Đây là cái huy chương của hội văn học thuật thuật X tặng anh vì sự nghiệp thi ca.
Chúng tôi chuyền tay nhau cái mề đay. Chà! Ra văn học nghệ thuật cũng có mề đay cơ đấy. Ai biết đâu? Hùng cón ướm thử lên ngực trái của mình ra cái vẻ kính cẩn nghiêng mình. Nhà thơ đeo lên ngực. Đúng là linh diệu. Mặt nhà thơ nghiêm trọng hẳn ra và không khí buổi thịt chó luộc cũng long trọng hẳn lên. Nhà thơ đưa cho Hùng một cuốn tạp chí chỉ vào một trang:
– Đây là truyện ngắn của anh.
Hùng nhìn rồi hỏi:
– Sao lại là Tần Hoái?
– À.. đó là bút danh của văn xuôi. Còn thơ là Văn Xình.
– Bút danh của anh đúng là sốc. Đàn em thật sự ngưỡng mộ ông anh. Em xin mới ông anh một ly và nếu được em xin phép…
Nhà thơ làm phát hết ly xây chừng nói:
– Xin gì em cứ nói.
– Cho phép em được đọc cái truyện ngắn nầy cho cả bàn cùng nghe.
Mẹ cha ơi. Nghe thơ đã mệt óc lắm rồi nay văn xuôi nữa có mà chết cha ông nội luôn quá. Nhưng tôi biết làm sao bây giờ? Ông văn thơ nhạc hoạ lại gật gù lấy ra một cây bút chì và một xấp giấy a4 ngồi săm soi vẽ nhà thơ. Tôi nhai thịt chó còn Hùng thì hắng giọng đọc truyện ngắn. Sư cha cái cuộc đời, đây là lần đầu tiên có một buổi nhậu đọc truyện đêm khuya. May quá. Hùng có một giọng đọc không đến nổi nào. Cũng du dương bổng trầm lên xuống không thua chi mấy tay trên đài phát thanh. Truyện viết về một đám trẻ con đi tát cá trong một cái hố bom. Đại khái có bom rơi đạn nổ người chết vân vân. Tát được mớ cá trong đó con con cá lóc bự. Bầy trẻ nướng cá xong đem đến nơi thờ những liệt sĩ để cúng. Cúng xong chúng nhào vô ăn. Hết chuyện thì văn thơ nhạc hoạ cũng hoàn tất bức ký hoạ. Tôi nhìn Văn Xình trong bức ảnh. Nhìn đi nhìn lại cả chục bận chỉ ra cái đầu không có tóc. Hùng trầm trồ:
– Giống quá ông già. Ông vẽ giống thiệt.
Nhà thơ cũng công nhận giống ông y khuông. Sao tôi lại không nhận ra vậy ta? Đúng là không có tầm nhìn nghệ thuật. Vé số mà thuật thiệt gì ở đây? Nhà thơ hỏi tôi:
– Em thấy truyện anh thế nào?
– Hay. Phải nói là quá hay.
– Còn em? – nhà thơ hỏi Hùng. Có gì cứ phê thẳng. Anh thích sự thẳng thắn.
– Nếu anh cho phép em xin nói.
– Anh cho phép – nhà thơ phán – anh không bao giờ tự ái.
– Văn của anh, nói chung có chất thơ – nhà thơ gật gù – lưu loát lắm – lại gật gù – cả hai nghìn chữ mà em đọc không vấp là biết văn anh có thần – lại gật gật – có điều – nói thật anh đừng buồn – truyện này dối trá quá. Không thực. Có vẻ nịnh hót nữa.
Tôi giật mình. Nhà thơ cũng giật đánh thót còn văn thơ nhạc hoạ thì trố mắt:
– Chi tiết cho bầy trẻ đem con cá lóc nướng trui đi cũng liệt sĩ là quá mức dối trá và nịnh hót. Chi tiết ấy làm giảm giá trị của truyện. Theo em thì cúng những người hy sinh vì đất nước cũng có ngày có giờ. Còn nhớ thì trong tâm anh ạ… xin lỗi anh… là thằng đọc sách, em có sao nói vậy người ơi. Vào thời điểm đó thằng con nít nào nhớ đến liệt sĩ anh đem đầu tôi chặt đi. Tôi nói vậy đó, anh có buồn cũng mặc kệ.
– Anh có buồn chi đâu. Đã nói là anh thích sự thẳng thắn mà. Đâu phải cứ truyện đăng báo là hay đâu em.
Toi phát giác ra thằng Hùng nầy rất khéo chửi. Tháy mặt nhà thơi hơi sượng nên tôi đánh trống lãng:
– Xin lỗi anh theo đạo nào?
– Anh hả? Anh là Phật giáo. Gia đình anh truyền thống Phật giáo
– Thưa anh – tôi lịch sự không kém Hùng – cho em hỏi thế nào là Đại thùa và Thế nào là Tiểu thừa ạ? Thế nào là tịnh xá và thế nào là tịnh độ ạ?
Văn Xình rằng thì là rà thì lằng một thôi một hồi những ê và a. Tôi nghe mà không hiểu chi sất. Hùng cũng vậy. Nó chặt ngang:
– Ông Mình Tàn nè. Ông hỏi kiểu đó thiền sư còn không trả lời nổi nói gì nhà thơ.
Nó quay sang văn thơ nhạc hoạ hỏi:
– Còn ông thì sao hả ông già?
– Tôi thì là hội viên hội nhà văn việt am nhưng bị tước danh hiệu hồi năm…
– Á đù… sao bị tước?
– Tôi là thành viên của Nhân văn giai phẩm kỳ đó…
– Mẹ cha ơi – Hùng kêu lên thảng thốt – Thiệt vậy sao ông già. Bút danh của ông là chi?
– Tôi là Cuồng Thu.
Tôi và Hùng thi nhau nhíu mày vắt óc. Tôi tuy vé số, nhưng trước khi lâm thế cùng cũng một thời sách báo. Mấy ông trong nhân văn giai phẩm tôi rành. Cuồng Thu là ai mà tôi không nhớ ra vậy kìa? Thôi kệ đi.
– Bác theo đạo gì? – Tôi hỏi.
– Tao không chúa phật chi hết. Tao qua hai cuộc kháng chiến có dược như ngày hôm nay là nhờ vào Đảng và Bác Hồ. Tao chỉ biết ơn Bác và Đảng còn không đạo chi hết.
Đúng lúc nầy bà xã và mấy dứa con đi vé số dạo về. Văn thơ nhạc hoạ mua chục tờ rồi phát cho ba thàng tôi người hai tờ. Hùng lấy một xê ry. Vợ tôi vui vẻ (bán dược ai chả vui):
– Ông Năm nè. Ông thầy An ở chùa mình…
Hùng hỏi:
– Ông Thích Giác An đó hả chị? Ổng sao rồi?
– Nghe nói bị trục xuất khỏi giáo hội.
– Sao vậy?
– Nghe đồn ổng đi chơi ở phố đèn đỏ trong khu công nghiệp bị công an bắt.
Hùng cươi khè khè:
– Đúng là Thích Giác An.
Chỉ mình tôi biết đó là Duy.

NGUYỄN TRÍ

Nam mô một bồ dao găm

nguyentri

Ngày xưa cách đây chừng khoảng 25 năm. Thằng khùng tôi có thân với hai anh em nhà Đạt Duy. Đạt là anh có vợ trước nhưng không ở riêng vì không vốn liếng ra riêng cho chết à? Cả hai vợ chồng và thằng em tên Duy cùng nương nhờ dưới bóng bà mẹ làm nghề bói toán. Phải công nhận càng nghèo người ta càng tin vô bá láp. Cỡ Trí tôi mà đôi khi còn xoè tay nhờ con mụ ba trợn coi cho một quẻ nói chi dân ngu khu đen.
Đùng một cái thằng Duy quy y của phật. Chả là gần nơi tôi tạm ngụ có một cái chùa, tuy nhỏ nhưng linh lắm, bá tánh vẫn thường đến ngôi tự nầy để xin ơn trên phù hộ cho… trúng số. Ở chùa được ba tháng Duy về thăm mẹ già với cái đầu trọc và mặc một bộ áo nâu. Anh em gặp lại mừng thôi thì hết lớn. Trí tôi mới hỏi bạn rằng:
– Mày có bị khùng không mà xuống tóc đi tu? Bộ có ông Phật nào độ mày hả?
Duy lắc cái đầu trọc lóc:
– Ở nhà khổ quá tao vô chùa cho phẻ. Nói vậy chớ vô chùa có đồng ra đồng vô hơn ở nhà.
Tôi kinh ngạc;
– Làm đếch gì mà ở trỏng có tiền.
Thông cảm cho. Trí tôi vốn bụi đời nên ăn nói có hơi báng bổ.
Duy kể rằng trong chùa bá tánh công quả nhiều lắm, lâu lâu Duy chôm trong thùng công đức nên có chút đỉnh. Sau đó Duy đưa tiền cho anh là Đạt đi mua bia lên cơn về uống. Hồi đó có bia Vitamen là quý hoá lắm. Tôi hỏi:
– Làm sao chôm?
Duy trả lời:
– Tao vót một thanh tre mõng thiệt mõng rồi bôi mủ mít lên đầu thanh tre, thọc vô kẻ hở rồi lôi lên. Nhưng phải chôm lúc hai giờ sáng chứ ban ngày sư ông biết là chết mồ tổ liền.
Có bia lên cơn nên Duy khai tiếp:
– Trong chùa có ni Tâm là ngon cơm nhứt.
– Ngon làm sao?
– Cứ lễ lớn là sư trụ trì làm một cây lộc. Trên đó gắn cả ngàn cái phong bì đựng câu sấm. Ai hái lộc xong là nhờ ni Tâm giải . Giải là cho tiền. Hiểu không?
Nghe qua thằng khùng tôi buồn cười tợn. Nhưng tợn nhất là Duy nhờ tôi dẫn đi khu bả đậu. Khu bả đậu là khu để đàn ông mua còn đàn bà bán tình. Chỉ có thứ đồi truỵ mới đến khu nầy. Tôi nói:
– Tu hành kiểu mày chắc xuống địa ngục a tỳ sớm quá Duy ơi.
Duy nói:
– Kệ mẹ tao. Mày không biết ông trụ trì của chùa tao ở đâu. Ổng còn quá cha ông nội tao nữa.
– Sao?
– Ổng ba đứa con hai bà vợ luôn đó mày.
– Trời đất ơi…
Có vitamen bia lên cơn nên Duy cười khùng khục:
– Mày nghĩ coi. Thầy chùa không có vợ thì làm sao có phật con? Mà thôi. Có đi khu bả đậu không?
Trí tôi phải dẫn ông con đi chớ biết sao giờ? Lâu lâu bạn bè nhờ không giúp đâu có được. Với lại bia bọt uống rồi. Xôi chùa ăn là ngọng miệng. Đúng không?
Tất nhiên là Duy phải thay nâu sồng bằng một bộ xi vin. Ai lại mặc đồ tu vào khu bả đậu? Hai mươi lăm năm trước, tức là sau thống nhất mười lăm năm, chả hiểu làm sao tàn dư của chế độ cũ – báo chí gọi vậy – vẫn không chịu già. Họ vẫn trẻ như tuổi đời họ khai: “Em mới mười tám hai mươi hà…” e là chế độ cũ đã bào chế thành công thuốc trường sinh bất lão rồi quá. Và. Chắc ai cũng biết, vào lúc mà chúng ta đang sống đây, một cô gái chạy hoả hoạn từ một karaôkê che mồm bằng áo chip đã bị chửi cho tắt bếp nói gì đến mua bán tình. Nhất là hai mươi lăm năm về trước thì chết chứ chẳng chơi.
Trong phim “ tôi vào đời” diễn viên Y Phụng đóng vai bán hoa và bán ở bờ sông Sài gòn. Truy quét đến là chạy như ngựa tế. Xã hội ta. Đất nước ta luôn tôn vinh phụ nữ. Chỉ có bọn tư bản phương tây mới đồi truỵ còn ta thì không. Mua bán tình là phạm tội. Kẻ mua người bán nhỡ bị hốt cốt thì vong mạng. Nên chi muốn mua phải tinh thông ngõ ngách chợ tình. Sỡ dĩ Duy nhờ tôi mà không nhờ ai khác là vì tôi – trí khùng – vốn là thằng ăn nhờ ở đậu ở bến tắm ngựa đến tinh như quỷ sứ. Nhưng quỷ cỡ nào rồi cũng bị phản đòn. Vụ phản nầy do Duy mà ra.
Duy cho tôi một suất mua tình – tất nhiên rồi – đời ai chả cho không ai cái gì cả đúng không? Nhưng tôi thề tôi không mua. Nói láo cho bà bắn chết không kịp ngáp. Có hai lý do. Một là tôi sợ. Sợ cái gì xin nói sau. Hai là lúc ấy Trí tôi vợ con rồi. Nhà đói lắm. Thèm cơm nhiều hơn thèm đường phèn. Trí nhét túi đồng bạc của mình để mua gạo cho vợ con. Thiệt là vậy. Xin thề lần nữa. Biết rằng có thề nghìn lần cũng chả ai tin. Vì suy cho cùng đàn ông ai thấy lạ và nõn nường lại không ham?
Một thằng dẫn mối đưa Duy vào một khu hoang hoá và đen hơn bóng tối. Nơi sinh sống của muỗi mòng và bẩn thỉu. Tôi ngồi ngoài quán cóc uống ly trà đá chờ bạn. Mụ nội cha ơi. Đùng một phát – trong bóng tối của khu hành sự đèn pin của truy quét tệ nạn loang loáng trong tiếng chửi thề hậm hực. Đứng lại. Đứng lại… tôi đứng lên nhìn từng cặp nam nữ bị điệu ra. Thằng Duy – trời ạ – một tay bị cột chung với một nữ lưu. Chuyến nầy có mà chết cả nút. Tại Duy mà ra. Nó đòi tôi đi xa xa chứ gần nhà sợ thiên hạ biết. Tôi phải dùng xe đạp thồ đưa ông con ra tận nơi nầy. Vậy mà vẫn bị dính chấu, biết làm sao đây trời hỡi?
Ngộ biến phải tùng quyền. Mọi cách phải giải cứu thằng nầy ra khỏi chốn a tỳ, bằng không chuyến nầy nó chết. Tôi lân la đến bên một anh có súng, móc trong túi ra điếu thuốc mời anh. Dăm câu ba chuyện một hồi tôi trổ giọng hối lộ như thời kỳ đi rừng mua bảo vệ. May quá anh chịu ăn. Ở đời cái gì ăn được ta cứ ăn phải không? Anh đòi tôi chung bằng bốn lần Trí tôi có trong túi. Và vậy là thằng khùng tôi hoàn toàn thua cuộc. Móc hết ra trí năn nĩ:
– Em còn có nhiêu đây. Anh tha cho thằng bạn em một lần.
– Nó làm gì mà cạo trọc? Chống chế độ hả?
– Dạ đâu có. Nó mới sốt dậy nên trọc đầu.
– Sốt mà còn gái gú.
Anh nhìn mớ tiền trên tay Trí rồi nói:
– Nhiêu đây thì thua đi đại k.
– Em năn nĩ anh giúp cho một lần. Em cũng biết sống biết chơi. Thề là không quên ơn anh.
Anh ngẩm nghĩ một hồi rồi gọi:
– Ê… Dũng… lại nói nghe nè…
Người tên Dũng bước tới. Anh ta ngó tôi một hồi rồi reo lên:
– Trời đất… Minh Tàn… mày làm cái đếch gì ở đây?
Đúng là trời cao bất phụ hảo nhân tâm. Để kể cho quý bạn nghe về tay Dũng này. Nhân đây nói luôn chuyện sợ. Chính tay Dũng nầy khiến Trí tôi sợ chuyện mua tình. Trước đây Dũng là bảo vệ rừng. Suốt kiếp trong rừng nên lâu lâu về phố gã ngu lắm. Lèo quèo sao đó để bị nổ ống khói nên hắn gặp tôi nhờ cứu độ. Tình thiệt mà nói tôi vốn rất bố láo. Có ba giọt rượu cũng hay pháo rằng ba cái giang mai mồng gà hoa khế hột xoài với tao là chuyện nhỏ. Nổ rằng:
– Tụi mày biết không? Giang mai hay sùi mào gà ngó vậy nhưng không nguy bằng hột xoài. Không biết cách trị cho dứt điểm thì vi khuẩn sẽ nằm yên trong dương vật chờ ngày bột phát. Lúc nầy thuật ngữ y học gọi là KIS. Đến khi ta già trên bảo dưới không nghe thì vi khuẩn sẽ sống lại làm bộ phận sinh dục cứng như đá và đau đớn kinh khủng. Lúc ấy phải cắt bỏ và lúc nầy thuật ngữ gọi là KOS. Thằng nào lỡ bị cái nầy thì gặp tao.
Dũng bị ngay bon và gặp tôi. Tôi bảo nó sử dụng trụ sinh từ Pini đến Lincocin đều không thuyên giảm. Thì ra ông con bị lây cấp tá trở lên chứ không là cấp uý. Vậy là phải sử dụng Plageltin mới dứt điểm. Đây là loại trụ sinh thế hệ thứ ba, một hộp bốn viên đắt bằng ba tháng lương của Dũng. Nhìn Dũng đau khổ vì hoa liễu tôi sợ lắm. Dũng thề rằng có dịp sẽ trả ơn tôi. Nên đây cũng là dịp. May cho tôi là không móc tí tiền còm để chung chi cho giải cứu. Duy thì sao các bạn biết không? Trái đất tròn và hẹp té. Bảy năm trước đây tôi gặp lại Duy.
Tôi vốn là một tín đồ phật giáo bán chính thống. Cần phải nói cho rõ vụ chính và bán nầy để khỏi gây hiểu lầm cho quý chư liệt vị. Để hiểu biết về Phật giáo cho cặn kẽ thì Trí tôi không có cửa. Ít học thì đừng có mơ mà hiểu được nền triết lý cao thâm của tôn giáo này. Những có không không có. Có đó mà không đó hoặc hãy buông bỏ anh sẽ ngộ ra đời không là gì cả, hoặc là tỉnh động động tỉnh khó hiểu chết bà. Đọc trong một cuốn sách nào đó kể rằng: Có hai sãi áo nâu đang quét dọn sân chùa. Một cơn gió đi qua làm lay một cánh hoa trong chậu. Một sãi nói: – Hoa động. Sãi kia cãi: – Hoa không động, gió động. Inh củ tỏi một hồi sư ông đi đến khỏ đầu hai sãi mà rằng: – Hoa không động. Gió không động tâm hai ngươi động. Nghe xong hai sãi liền đốn ngộ. Là sao? Hiểu thằng khùng tôi chết liền.
Là tín đồ bán chính thống sức hiểu về phật giáo của tôi là niệm phật. Nghe rằng niệm phật một lần là phúc đẳng hà sa. Trí tôi cũng thuộc được vài thời kinh nữa đó. Những Chú Đại Bi. Liên Hoa. Bát Nhã tôi nằm lòng. Đêm đêm thắp hương lên bàn thờ phật và gia tiên Trí tôi thường tụng lắm. Tụng xong là cầu xin ơn trên phù hộ cho cả nhà bình an may mắn. Mấy đứa con đi làm công ty đừng bị chủ quản nó đì là con cảm tạ vân vân… vậy gọi bán chính thống là quá xá đúng. Và cái không hiểu, cái bán chính thống thường đưa con người ta tin vào hảo huyền. Tức là tin vào cái tượng đất thó chứ không tin vào chính mình. Thậm chí tin đến cuồng. Tục gọi cuồng tín.
Tám năm trước Trí tôi ngoại trừ bần cùng còn bị tai hoạ bủa vây. Con trai lớn lâm vô sa đoạ và bị bắt đi cai nghiện cưỡng bức. Tâm tư người cha có đứa con lâm cảnh tội tù xa xót lắm tha nhân hỡi. Được vài tháng đến đứa con gái bị giết. Chao ôi là đau đớn. Đoạn trường ai có qua cầu mới hay. Trí tôi ôm niềm đau nằm trên võng tì tì nốc rượu cho quên sầu nhân thế. Nói thiệt nghe. Về rượu dám nói một câu chỉ Kiều Phong trong Thiên long bát bộ và Lệnh Hồ Xung trong Tiếu ngạo giang hồ mới dám ngồi chung bàn với thằng khùng tôi. Đứa con gái chết vào tháng tám trời mưa trời mưa không dứt. Xe đưa áo quan ra huyệt phải có năm thằng thanh niên vai u thịt bắp luân phiên cật lực tát nước mới đưa được áo quan về đất mẹ. Tôi ngồi giữa nghĩa địa nốc bao nhiêu rượu cũng không say. Chợt nghĩ đến những bà mẹ của hai miền nam bắc trong chiến tranh có người mất cả chục đứa con. Mình thằng đàn ông buồn đã có rượu chia lửa còn họ thì sao?
Đêm nào Trí tôi cũng bên bàn thờ tụng cầu siêu cho con gái. Hết siêu đến an cho thằng con trong trại. Cuồng đến độ tin rằng tụng càng nhiều thì con gái sẽ sớm đầu thai, con trai sẽ mau chóng bị con ma tên tuý từ bỏ. Con gái chả biết có siêu không chứ thằng con thì chịu. Bằng chứng là sau hai mươi bốn tháng cai nghiện về được bốn tháng mười hai ngày nó bị hốt đi lần thứ hai. Trí tôi lòng lòng những Đại Bi, Bát Nhã, Liên Hoa là vì vậy. Cả văn tế thập loại chúng sinh cũng làu luôn mới là hay ác.
Có ông bạn người công giáo trùm một họ đạo lại là tổ trưởng an ninh nhân dân kề bên nhà vẫn tạc thù với Trí khuyên rằng:
– Anh phật giáo thì nên lên chùa nhờ trụ trì đích thân cầu siêu cho cháu mau siêu thoát.
Nhìn cái nhà của Trí như cái chuồng heo anh cám cảnh:
– Tôi quen thân với sư trụ trì. Ổng có cái nhà bỏ không. Mai anh đi với tôi lên nói với ổng một tiếng xin ở nhờ, luôn tiện coi ngó dùm ổng luôn.
Còn gì quý hoá hơn. Hôm sau tôi lê thân tàn đi theo cán bộ. Anh dẫn tôi vô chùa. Vô hẳn phòng riêng của sư trụ trì và trình bày vấn đề. Nghe xong sư nói:
– Chuyện cầu siêu của thí chủ thì để thầy nói với các sư đến tụng nhân 49 ngày của cháu. Còn cái nhà thì không được…
Trầm ngâm một hồi sư tiếp:
– Thí chủ đừng nghĩ thầy ích kỹ mà tội lắm. Chẳng là cái nhà nầy một người bà con của thầy nhờ mua hộ. Nhưng có đơn tố lên trên thầy dùng tiền công quả để mua nhà riêng… mô phật… vậy nên xã đang quản lý. Căn nhà nầy không được cho ai ở trong khi chờ giải quyết.
Nghe xong anh bạn cán bộ gật gù rồi cáo biệt thầy ra về. Tôi nấn ná:
– Anh về trước nhé, tôi về sau.
– Tôi nhìn sư thầy một hồi. Thực mà nói. Khi nhìn một sư ông áo vàng chả biết chư liệt vị ra sao chứ tôi ít để ý lắm. Cứ như cái áo nó ám đến mụ mị con mắt mình vậy. Nhất là quý sư thường như nhau. Mặt thịt hay xương chi đầu trọc tếu bằng nhau khiến cho ai cũng như ai. Vị trụ trì nầy tôi ngờ ngợ. Chừng như tôi đã gặp đâu đó trên đời. Nhìn một chặp tôi thốt lên:
– Trời ơi… Duy. Nhớ tao không?
– Cái mặt tôi – nói thiệt – bạn bè cách xa nhau nhưng bốn chục năm gặp là họ nhận ra tôi liền. Bơi tôi có gương mặt rất là du côn. Vậy mà sư ông không nhận ra mới lạ chứ. Sư nói:
– Mô phật… thì chủ nhầm tôi với ai rồi.
Tôi suýt cái chửi thề:
– Cái sẹo trên màng tang của mày tao quên sao được. Mày nhớ vụ bị bắt ở xóm bả đậu không?
Thầy nhìn tôi rồi hấp háy mắt:
– Ủa… Minh Tàn hả… lâu quá mình nhận không ra…
Trên đường về, thoạt tiên tôi có trách. Nhưng ngẫm một hồi và tự đặt mình vào hoàn cảnh của Duy nếu là tôi liệu dám nhận lại bạn cũ không? Rất biết sống biết chơi từ đó tôi cạch luôn cái chùa – nơi mà – thàng bả đậu đang trụ trì. Việc gì tha nhân không muốn ta chớ có nên làm. Có ngày ăn mã tấu vong mạng. Hồi mới bước chân ra đời kiếm sống tôi bị nắng gió miền trung thiêu cho đen như cột nhà cháy. Một hôm có thằng bạn gọi: Ê Minh Hắc. Cái giọng của nó vừa kỳ thị vừa bỉ khinh làm tôi nóng mủi. Tôi không ư hử. Nói gọi tiếp lần nữa. Tôi nói hắc một tiếng nữa là tao đập đó. Nó nói:
– Mày đen tao nói hắc chứ có nói bạch đâu mà tự ái.
Vậy là một cú đấm vô mặt nó liền. Ừ. Cái gì xấu hoặc không hay không phải của tha nhân chớ dại mà lôi ra làm trò. Tôi không chùa nhưng bà xã thì thường xuyên, thậm chí ngày sinh nhựt của thầy trụ trì cô vẫn lên bếp chùa làm công quả, gọi là xin chút ít phúc đức cho con cháu về sau. Cũng đúng thôi. Ngày công phụ hồ bét dem cũng hai trăm nghìn nay phụ không công cũng có cái ân điễn trị giá chừng đó chứ. Đúng không? Tôi bán chính thống phật giáo thì nghĩ vậy. Có hôm chùa về vợ tôi khoe:
– Ông Năm nè…. Hôm nay sinh nhựt thấy ông biết riêng cái khoản tiền nếp nấu xôi hết bao nhiêu không?
– Nhiêu?
– Bảy triệu.
– Mấy? Trăm hay triệu?
– Triệu.
– Bà nội cha ơi…
Tôi suýt thốt lên với vợ là bà biết tay trụ trì là ai không? Làm sao bà xã tôi biết được Duy đang là chưởng môn nhân cái chùa nầy? Thì ngay tôi còn không nhận ra nói gì cô ấy. Ngày xưa mười bốn ký nay tạ tư là hiểu rồi. May mà tôi kìm được.
Nhưng đời không bao giờ đơn giản. Có những cái ta không muốn nhưng sự đời cứ mặc nhiên đưa lại buộc phải nghe phải thấy phải biết. Ông bạn an ninh nhân dân trùm một họ đạo bò lên được cái trưởng ấp giới thiệu tôi với một lão gia kính cận tám độ. Ông này là nhân vật còn sót lại từ thời di cư ‘54. Bẩy mươi ba tuổi tên Tám Ẩn. Ông có một chiếc rim tàu mua được từ tiền trúng số đề. Già, mắt kém nên không dám chạy. Cần một người có tuổi, chạy xe cẩn thận để đưa ông đi chơi. Ngày năm chục ngàn xăng ông ta chịu. Lúc ấy công thợ hồ là năm chục. Chạy xe chở đi chơi cơm chủ bao thì hết sức là vô mánh. Tám Ẩn tuy già nhưng sành sỏi chiêu thức Trâu già khoái gặm cỏ non. Tôi có bổn phận dọc theo lộ mà rề rề. Nơi tốp lại là những quán cà phê mái lá. Ở đó rất nhiều nữ tú đang chơi tiến lên hoặc tứ sắc. Có khách là một cô chạy ra hỏi uống gì anh. Đem thức uống ra cô hỏi tiếp mát xa không anh? Các cô không gọi Ẩn mà gọi Ẩu. Bữa nay Tám Ẩu đến kìa. Hỏi sao gọi vậy các cô nói:
– Thì đụng đâu bốc hốt đó nên gọi Ẩu.
Kể ra vậy cũng vui.
– Hôm đó chạy đâu chừng năm mươi cây số Tám Ẩu ra hiệu cho tôi ngừng lại một quán lá. Quán nầy mới nên chả em nào biết Ẩu là ai. Một cô ngồi chung võng với tôi thăn thỉ thư giản đi cưng, từ sáng giờ ế quá không có đồng nào hết cưng ơi. Tôi nói chú chỉ là thằng tài chạy thuê cho ông già đó thôi cháu ơi. Nghe vậy cô dợm chân đứng lên thì tôi vội ôm cô ta lại và vùi mặt vào tóc cô. Cô ta tưởng tôi muốn mát xa nhưng làm bộ.
Từ trong cánh cửa một hộ pháp bước ra.
Tôi phải vùi mặt để tránh vì đó là Duy.
– Thực ra đời sống nầy chả có gì đáng phải buồn hết. Suy cho cùng bản năng sống của chúng ta là gì? Ông Bùi Hữu Nghĩa đã diễn tả tứ khoái của loài người qua bốn câu: Cơm phiếu mẫu, chiếu bồ đoàn, ngữa nghiêng loan phụng, nhẹ nhàng nương long. Ăn, ngủ, làm tình, đi ngoài là bốn cái không thể thiếu của loài người. Nén lại một cái dứt khoát nó nổ cái ầm. Cái buồn nhất đây là nam mô một bồ dao găm. Anh lợi dụng niềm tin bá tánh để mưu lợi riêng cho mình là nguy hại lắm. Giá trả không ít đâu.
Tôi ở Thanh Sơn Định Quán Đồng nai từ khi chưa thành lập xã. Khi tôi bỏ xứ này ra đi chưa có cái chùa nào hết. Vừa qua đọc trên báo nghe có một trụ trì của chùa chi đó mơi xây dựng bị bắt về tội quan hệ với một vị thành niên. Tôi hỏi. Một vài học trò của tôi nói ông sư này bị gài thầy ơi. Nhỏ nầy mới mười bốn nhưng cà phê ôm bia ôm hơn năm rồi. Chuyện bị gài thế để kiếm tiền của một số kẻ táng tận lương tâm là có. Nhưng anh là ai, là gì mà để bị gài? Thầy tu cả trăm ông đang khất thực trên đường chả ông nào không có cái ai phôn tàu đẻ xem phim… đồi truỵ? Đừng nói quý vị ngây thơ. Ông sư ở Thanh sơn khi bị bắt mới thòi ra ông bị giáo hội trục xuất vì rất nhiều bá láp từ khuya rồi. Vậy, nhưng anh vẫn qua mặt được chính quyền sở tại để trụ trì mà ngây thơ sao?
Làm sao nói bị gài? Tôi không tin. Chuyện của Duy đến đây tôi dừng, kể nhiều e mệt trí bạn đọc. Ngày mai tôi sẽ kể cho quý chư liệt vị chuyện bị gài đến thân bại danh liệt, vợ con không ngó của bạn tôi. Tay tổ trưởng an ninh nhân dân, tay trưởng ấp, trùm một họ đạo…
Tát nhiên là nếu các bạn còn muốn đọc.

NGUYỄN TRÍ

Cao su rụng lá

nguyentri

Bông đùa như một diễn viên đang tấu hài mua vui cho bà con cô bác. Năm Kép trả lời câu hỏi vì sao lớn nhứt nhà mà lại năm chứ không là hai như bao gia đình khác ở xứ nầy:
– Biết sao không? Tại trước tao còn có ba bà chị. Bà hai bà ba bà tư rời khỏi trần gian ô trọc nầy khi vừa mới ra đời. Vậy nên tao thứ năm. Còn Kép là bà nội tao đặt chứ ông bà già không có tí quyền gì trong chuyện đặt tên con cái trong nhà. Bà nội tao là một Lý Phi Nương thứ thiệt, má tao kể vậy…
– Lý Phi Nương là ai?
– Là bà má chồng ác nghiệt trong tuồng cải lương Lâm Sanh Xuân Nương…
Từ cái thuở xa xưa nào đó bà nội goá chồng của Kép hứa hẹn sẽ xuôi gia với một bà bạn cũng goá chồng khi cha Kép còn cởi truồng tắm mưa. Lớn lên ông cha phải lòng một nhan sắc tầm chim sa cá lặn là bà Loan – người Kép gọi bằng má:
– Tụi mày thấy tao năm mươi rồi mà còn đẹp trai không? – Kép hỏi bạn nhậu.
– Quá đẹp luôn. Mày mà ăn học đến nơi đến chốn không chừng bây giờ là dziễn dziên.
– Tao đẹp dzầy em tao đẹp cỡ đó thì má tao nhứt sóc nên ông già tao mê là quá xá đúng. Kẹt cái bà nội Lý Phi Nương không ưa bà già tao. Đó là lý do tại sao tao ra đời ở trong rừng.
Những tưởng đẻ xong là má chồng sẽ đổi thái độ với một đứa con dâu không cưới hỏi. Ngờ đâu ra đời được một ngày là thiên thần về trời không rõ nguyên nhân. Ba năm liền ba đứa. Bà má chồng mê tín thuộc loại trời thần đất lỡ cho rằng con trai đã lấy nhầm một loại chúa của hồ ly nên đẻ ra con ranh con lộn. Nhưng không sao, ông bà có câu chồng ghét thì ra mụ gia ghét thì vào. Chồng thương vợ quá nên rất dịu dàng nói với mẹ rằng:
– Bà mà khó quá là tui ra ở riêng à.
Khì khì khì – Năm Kép tiếp tục – ông già tao là bất hiếu loại chúa. Ông bà nội tao cho đi học bây biết ổng học ở đâu không? Ở ngoài sông cái chớ đâu. Ông nội tao ra sông thì ổng dông tuốt vô rừng. Về sau ông nội tao bắt theo xe bò vô rừng kéo be luôn. Để ở nhà thiên hạ đến mắng vốn ngày cũng mười tám giác. Biết tính con trai nói là làm nên bà già không thèm mè nheo mà im như người câm. Trong nhà con dâu hỏi mà mẹ chồng không ư hử thì có mà chết cho rồi. Vậy nên bà Loan xin chồng theo vào rừng cho vui. Chồng hiểu nên ô kê cái rụp liền.
Nói về sự ra đời của mình Năm Kép rành như anh ta đích thân cắt rún cho mình vậy. Đang kéo một lóng cây cả một kíp rưởi thì bà Loan đau bụng. Rất bình tĩnh vì vụ đỡ đẻ bởi ông cha rành không thua bất kỳ ai làm nghiệp nầy. Chả là bà nội của Năm Kép là bà mụ chính danh, trang lứa Năm Kép ai cũng được bà móc miếng vỗ mông. Ba bà chị vắn số cha Kép phụ mẹ nên rất rành:
– Nói thiệt với tụi bây tao sanh non nên như dzầy chớ đủ ngày đủ tháng không chừng giờ tao là ông nầy bà nọ.
– Mày sanh thiếu tháng hả?
– Không. Thiếu ngày… thiếu mười ngày.
Cả bọn đang khề khà chén rượu lăn ra cười vì cái hài hước của Kép. Đã nói Kép rất có duyên chọc cười thiên hạ bởi cái giọng tưng tửng và bộ mặt tỉnh khô.
– Sư cha mày. Sao biết thiếu mười ngày? Mẹ… thiên hạ sanh thiếu hai ba tháng là thường thôi ông con?
Ông cha cắt rốn cho Kép bằng lạt giang. Quấn lại bằng cái áo trận đẩm và hôi rình mùi mồ hôi của dân cật lực với rừng. Lóng be được tháo xuống và sản phụ nằm ôm con trên cái sạp bằng cây rừng ung dung về nhà. Bà má chồng thấy dâu đẻ cháu trai mừng đến sa nước mắt. Bà thắp một bó nhang to đùng cầu xin với đất trời thiện địa, có bao nhiêu ông thánh bà thần trên đời bà dập đầu xin đừng có ăn cắp cháu của bà đi nữa. Lời cầu xin ứng nghiệm. Kép mạnh khù, nhanh như con sóc rừng và vô cùng hiếu động. Sau đó bà má đẻ tiếp:
– Biết sao tao tên Kép mà thằng em tao tên Nhứt không?
– Sao?
– Là bà nội tao mê lắm cái cải lương tuồng. Tao chưa thấy ai thuộc cải lương và nước mắt ròng ròng khi nghe tuồng chứ đừng nói coi. Bả chửi bà Tào Thị với bà Lý Phi Nương thiếu điều tắt bếp. Vậy mà bả cũng không thua. Tên anh em tao bả đặt hết. Đã kép thì phải nhứt. Kế là con Đào cuối cùng là thằng Nhì. Kép Nhứt Đào Nhì tụi mày thấy vần không? May mà ông già tao chết sớm bằng không anh em tao cả trung đội chứ không ít.
– Sư mày… cha chết mà may. Ông già mày sao chết?
– Ông già tao là bộ đội địa phương. Xứ mình năm đó cộng hoà phối hợp với lính mỹ đi càn dữ lắm. Bên càn bên tập kích ông già tao bị một phát ép tay( m16) vậy là lên bàn thờ ngồi.
Sau thống nhất đất nước. Nhà Kép cũng liệt sĩ như ai, kẹt cái lúc đó cán bộ đương chức đương thời còn hẻo. Cả bà mẹ anh hùng còn hát câu trong đời nay thanh bình mẹ chìm dưới cơn mưa nói chi ai. Cái năm bo bo độn mì, ai ngủ thức dậy cũng bị hai cục ghèn nặng cả ký ngồi gỡ thiếu điều sứt hết lông mi riêng anh em nhà kép no như cưỡng. Chả là Kép là sư thúc tổ kiếm lộc từ rừng. Thiên hạ khai thác lâm sản bị hốt cả người lẫn dụng cụ riêng anh em Kép thì không, chả phải nhờ cái uy liệt sĩ chi ráo. Kép là tổ sư trèo cây hái trái. Đảm bảo nguyên cả vùng miền đông nam bộ không ai sành rừng cho bằng Kép. Nhìn cái lá Kép biết ngay cây gì. Đã nói dân ra đời trong rừng chứ đâu phải giỡn chơi. Thiên hạ muốn có trái cây rừng đem bán thì hì hụi hạ cây. Kép nhoáng một cái là đã lên đến ngọn. Nào chôm chôm rừng, bù lộp, vú heo, xay, gùi, vò viên… ngày nào con em gái tên Đào cũng có thức đem bán ở chợ. Trái cây rừng một thời gian dài nuôi hai đứa Đào và Nhì ăn học. Riêng Kép và Nhứt thì chưa tốt nghiệp lớp bốn là nghỉ luôn. Không có cái bỏ vô miệng ở đó mà học với hành.
Nhưng rừng miền đông bị tàn phá cấp kỳ. Các nơi đổ xô vào ra tay tàn phá kiếm nương rẫy cho qua thì đói rách. Kế là ông nhà nước đưa dân đi lập kinh tế mới. Cuối cùng là cả vạn hecta rừng ra đi nhường chỗ cho những nông trường cao su. Vùng rừng Kép nương nhờ nhanh chóng biến khỏi trần ai. Nhưng không sao. Không còn rừng nguyên sinh thì ta có rừng con người sinh. Kép bò vô rừng cao su cổ thụ từ thời Pháp còn xâm lược xứ ta kiếm ăn. Cao su ở những vùng nầy có cây lớn hơn một vòng ôm người lớn. Cành khô trên loại này rất nhiều. Dân lấy củi khô chủ yếu bằng câu liêm. Kép thì không. Anh ta trèo lên cây rồi dùng rựa chơi luôn cho nó nhanh. Cao su là tài sản quốc gia, vàng trắng chứ không đùa. Ai vào phá phách là tù như chơi, nhất là ăn trộm mủ. Kép không trộm, không phá. Vả lại cành khô là kẻ thù của dân cạo mủ, đang cạo hoặc trút mủ mà một cành nổi ưng nhè cái đầu rơi xuống là mệt lắm. Có đội mủ bảo hộ thì cái đầu cũng vênh vang. Nên chi dân kiếm củi được vào. Nhưng trèo lên dùng rựa thì chỉ một Kép. Chả là thằng Nhứt qua thì khốn khó xin vô làm bảo vệ nông trường cao su. Con liệt sĩ thì bảo vệ là hết sức có lý. Thiên hạ một quan là cả họ nhờ. Đằng nầy Kép nhờ thằng em bảo vệ có cành củi khô cũng chả gì là không có lý.
Thuở mà dầu hoả chỉ sử dụng cho đèn hột vịt, mới tám giờ nhà nào cũng phủi chân lên giường chuyện trò trong bóng tối thì củi đuốc lên ngôi. Dân thất nghiệp ở phố mua củi về nhà chẻ ra và bó lại bằng dây thun đi bán khắp hang cùng ngõ hẹp thì ba cái lò bún lò phở ở xứ ruộng chịu lắm cái anh củi cao su. Dân ruộng năm làm một vụ nên nông nhàn cũng vào lô kiếm thêm. Cành trên cây cao su đâu có mà khô hoài. Thiếu đói khiến con người ta sử dụng thủ đoạn sao cho mình có cái ăn thì thôi. Một trong những chiêu trò là chặt rể cao su. Bộ rể mất, một cây gió ào qua là cao su ngã cái oành, kéo thêm vài cây khác ngã theo lúc ấy ta tha hồ mót. Chiêu nầy rất mau bị phá sản. Bảo vệ đánh ra mùi phá hoại dương súng lên và a lê hấp biến ngay. Rừng cao su là tài sản quốc gia. Đã cấm mà còn dám vào thì què chân ráng chịu.
Chỉ duy một Kép là được vào với tư cách trèo lên lấy cành như làm vệ sinh cho cây vậy. Thậm chí bảo vệ lô còn đến tận nhà rằng Kép ơi ở lô 2 có mấy cây cành khô dữ lắm mày vô tỉa dùm cái. Vậy nên ngày nào Kép cũng có một xe đạp củi đầy ặp, đừng nói kiếm cơm, Kép kiếm cả vàng để cưới vợ nhờ vô vụ nầy luôn đó.
Nhưng quan trọng là – thiên hạ tự hỏi – Ở đâu mà ngày nào nó cũng có cành khô vậy kìa? Lại cành to nữa mới là kỳ quái. Hỏi. Kép nói tụi bây vô mà hỏi cây cao su chứ sao hỏi tao, còn chuyện tao được vào mà tụi mày không là bởi tao không chặt rể phá hoại. Và nhờ thằng Nhứt là bảo vệ nên tao ưu tiên. Với lại tao có cái bằng liệt sĩ thì tụi bây tị nạnh chi cho mệt người. Khà khà khà…
Cứ thế Kép bám vô rừng hết nguyên sinh đến người sinh mà qua hết các thì. Nhờ cành cao su mà bầy con Kép học hành đến đầu đến đũa chứ không chơi. Nói cho công bằng là nhờ bà xã Kép phần hơn. Kép lấy trúng một em , đẹp thì chớ còn tháo vát bậc nhất. Nghĩa là tháo xong rồi vác đi chứ không để đó như thiên hạ. Tiền củi đưa về bà xã nhân lên bằng cách ra chợ ngồi. Thời mà kẻ nào buôn bán, cả buôn thúng bán bưng đều bị liệt hàng tư sản mại bản. Cà chớn là quý ông du kích tịch thu tất. Lúc nầy cái liệt sĩ mới phát huy chức năng. Bà má liệt sĩ tên Loan mắng vô mặt quý anh du kích con con rằng;
– Bà nội cha tụi bây. Cha bây không nhờ tao là cộng hoà nó cho lên bàn thờ ngồi rồi chớ bây nghĩa gì mà láu cá. Biết thằng Thâm chủ tịch huyện nầy không? Trước là lính của cha thằng Kép đó.
Vậy là bà xã kép tha hồ bán với buôn
Thời xăng dầu không còn quý như máu và thiên hạ bớt coi xe như con. Điện đóm tuy tràn khắp chợ thì quê nhưng mấy cái lò phở lò bún vẫn xài củi. Thời mủ cao su có giá dân đi mót một đêm kiếm vài ba trăm ngàn Kép vẫn cứ củi mà tới. Kép không đụng vô mủ vì đó là ăn cắp chứ mót con khỉ chi?
Công nhân cao su đang lên cao thiệt cao bởi giá cao su ngút ngút tận trời xanh, cả dân mót còn nghe ngọt như mật ong rừng. Giá mủ ba mươi nghìn một ký. Mót khơi khơi một đêm chục ký là thường. Dân cạo chính thống sắm chiếc tay ga dễ hơn cán bộ thời bao cấp mua chiếc xe đạp Phụng hoàng. Ngon lành vậy bổng nhiên giá tuột dốc thảm hại. Thảm chưa từng có bởi nghe đâu bên đối tác không thèm thu nữa mới là chết ông bà cố nội luôn. Bên trên bắt đầu thanh lý hằng loạt hằng loạt để xây dựng nhà máy với công ty.
Ai chết kệ ai Kép vẫn tồn tại với cành khô cao su.
***
Bây giờ cả dân cạo cũng muốn rửa tay gác thùng gác dao nói chi dân mót. Có cho họ cũng không thèm bởi chả còn ai dính dấp vô mua bán mủ lậu nữa. Bên chén rượu Kép trả lời câu hỏi vì sao cành cao su khô luôn có cho Kép lấy:
– Nói thiệt với tụi bây. Tao giờ cũng có tuổi rồi dấu làm cái khỉ khô chi nữa, nói ra bây cũng không thể bắt chước mà làm được, có được chăng nữa cũng hết cơ hội rồi. Cao su xứ mình đang bị triệt để cho nước ngoài thuê mướn làm công ty. Sỡ dĩ cánh cao su bị khô là do tao.
– Mày trèo lên gọt võ thân cây hả?
– Ừ… cứ cành nào tương đối lớn tao cạo quanh cho sạch cả lớp lụa thì cành đó phải chết thôi. Nhờ vậy nên tao có củi bán hoài.
– Tụi bảo vệ không biết à?
– Mày còn đoán trúng phóc nói chi bảo vệ lô. Nhưng tao là thằng biết sống biết chơi, biết cả mánh khoé kiếm ăn của bọn nó và giúp tụi nó kiếm ăn ngon nên nương nhau mà tiến tới. Hiểu không?
– Không. Hiểu chết tức khắc. Mày giúp cho tụi nó cái đếch gì?
– Khì khì khì… tụi mày biết lúc cao su có giá dân mót một đêm bị bảo vệ lô bắt cả tấn mủ chứ đâu có ít. Họ chỉ giao nộp cho nông trường một nửa thôi. Còn một nửa quăng cho mấy thằng buôn mủ lậu để kiếm chác để nâng cao đời sống. Nương vô cái lương ba cọc ba đồng lấy đâu đi hát karaôkê ôm. Tao nói tụi mày nghe kịp không?
– Kịp, nhưng giúp cái gì mà tụi nó để yên cho mày cạo vỏ cành cao su?
– Tao dẫn bọn mua mủ lậu vô cân mủ bị bắt. Chỉ đường cho tụi nó tránh bảo vệ nông trường.
– Là sao?
– Là bảo vệ lô bán mủ. Bảo vệ nông trường canh me bắt chớ sao. Khì khì khì… sau đó tao lại kêu lái khác vô mua lại mủ mà bảo vệ nông trường bắt. Bảo nào tao cũng chơi vệ nào tao cũng biết. Anh em có qua có lại. Môi tao mà hở ra là răng tụi nó lạnh liền. Để yên cho tao cạo vỏ cành cây cũng đâu có chết chóc chi ai. Tao nói tụi mày hiểu không?
Đến nước nầy mà không hiểu thì cái đầu toàn bả đậu chắc luôn.
Nguyễn Trí

Về đâu người hỡi

nguyentri

Vợ chồng Tư Nhạn và con cái sống nhờ vào nghề bán vé số. Bốn người ngày bán sạch bốn trăm tờ. Lời ngày bốn trăm ngàn. Tháng ra mười hai triệu. Đó là tính gọn chưa kể khách mua, trúng nhỏ không nói làm chi chứ lớn lớn họ cũng cho tí đỉnh. Ngoài ra vợ chồng Tư Nhạn còn ghi thêm đề đóm kiếm thêm ngày trăm ngàn hoa hồng nên cũng tậu được cái nhà và cái xe. Phải kể thêm cái sự vụ liều mạng của Nhạn nữa mới là thuyết phục cái vụ nhà và xe. Đó là ôm. Hể vé ế là Nhạn ôm. Trước, cứ ba giờ mà còn là lo tuôn ra đại lý trả lại. Hôm đó Nhạn lừng khừng bên mâm rượu nên ôm hết năm chục tờ. May thay chiều đó mười tờ vô lô bốn con. Kiếm mớ kha khá nên từ đó hể ế Nhạn ôm luôn.
Nhạn chỉ hơi thất thu một chút vào mùa đi học. Hai đứa con đến trường nên vé số phải lấy bớt lại. Tội nghiệp hai đứa nhỏ. Ở trường về ăn xong cơm là mỗi đứa lại nhận năm mươi tờ lo rong ruổi mà giải quyết. Bà Mười – má vợ Nhạn – nói với con gái rằng:
– Mày tham vừa vừa thôi. Hai đứa nhỏ vừa học vừa bán vé số thì ra cái ôn dịch gì?
– Thì tối cha nó kèm thêm rồi. Bà lo chuyện bà đi, lo nhà tui làm chi?
Nhạn nói:
– Bộ vé số không phải nghề hả? Tao ôm mà vô chục tờ độc đắc là thế gian nầy coi tao là ông cố nội liền. Yên tâm đi. Rồi sẽ có ngày đó.
Ông Mười nói với Tư Nhạn:
– Nói như mày là trật chìa. Tiền là tiền, học là học. Tiền không thay thế cho sự học được mày hiểu không? Học là để hiểu biết…
– Dẹp ông đi – có rượu nên Nhạn hổn hào – đi học rồi cuối cùng cũng dùng cái sự học để nuôi cái thân mình. Bán vé số cũng vậy thôi. Mà đâu có mắc gì tới ông?
Ái chà… Con rể mà ông ông tui tui với cha vợ nghe hổn dữ? Thực ra với bà Mười thì Nhạn là con rể ruột chứ với ông Mười thì ghẻ chóc thôi. Chả là bốn mươi sáu xuân tình bà Mười bước thêm bước nữa với cha con Dung – tức ông Mười – Hai bầy con của tân lang và tân giai nhân muộn nầy đắc co cái rụp cả hai tay và hai chân. Bà Mười xong bổn phận làm mẹ đơn thân nuôi bốn đứa con tạm gọi là xuất sắc. Hai đứa con gái lớn lấy chồng tương đối bảnh ở Sài- gòn. Chỉ con Tư là thúi hẻo khi lấy trúng thằng vé số chuyên nghiệp. Bà nội cha nó. Đẹp như nữ chính trong phim mà dính vô cầu bơ cầu bất trong khi biết bao thằng xin chết vì em? Bà Mười quyết không. Cái thứ đã vô nghề nghiệp mà còn hủ hèm là không có cửa. Kẹt cái Tư thương quá nên Tư cho. Nhạn cũng vậy. Anh thương nên cho lại cô cái bầu. Vậy là bà Mười đớ lưỡi.
Năm Lộc – con út bà Mười – hoàn thành xong nghĩa vụ được ba tháng là lấy vợ. Bà và hai con gái lớn lo cho cái đám cưới hành tráng lệ luôn. Bao nhiêu tiền thu được từ đám bà cho hết con trai. Làm mẹ vậy chớ sao nữa giờ? Vậy nên khi cha con Dung có tình ý với bà Mười là bầy con xúm vô khích lệ. Nói vậy chứ bốn mươi sáu thì xuân chán, và đàn ông năm mươi tuổi như ông Dung thì quá xá đẹp. Bầy con ông Dung đứa nào cũng vợ chồng nhà cửa riêng tư nên ông Dung một mình trong nhà đi ra đi vô cũng hiu quạnh lắm. Một hôm kia ông làm cái tiệc nho nhỏ mời bạn bè và bầy con đến thưa với bà vợ đã khuất cho đi bước nữa. Vậy là bà Mười về ở với ông. Chồng bà đã có con trai hương khói. Thằng Dũng con trai lớn ông Dung cũng đem bàn thờ mẹ về thờ. Cặp sồn sồn ở với nhau đúng là một trời hạnh phúc. Cả hai được bầy con viện trợ từ a đến â. Không nhiều nhưng gì chứ sống thì tốt chán.
Khoản góp sách cho cha mẹ già vợ chồng Tư Nhạn được miễn. Ai mà lại đang tâm để kẻ mà cái nhà chỉ hơn cái chòi một xíu? Còn cái xe? Mô phật! Sườn 67 do chợ lớn sản xuất, máy của tàu ba trợn. Trong khi thiên hạ đã lên cúp kiếc bảnh bao thì Tư Nhạn bố láo:
– Xe tụi mày còn bị giao thông thổi chứ tao thì cho nó cũng không thèm. Mà lỡ có tuýt còi tao cũng quăng luôn không phạt phiếc gì hết.
Mà thiệt vậy. Đã đôi lần giao thông chỉ gậy tấp vô lề nhưng phải cho đi vì đem về mắc công làm bẩn nơi tạm giữ xe. Hai đứa con của cặp đôi này được bà ngoại thương lắm. Ông ngoại tuy không máu mủ chi cũng cám. Vậy nên hai ông bà chưa già mấy lâu lâu cho cháu vài đồng, có ế vé số bà cũng mua giúp luôn. Hai bà dì trên phố lớn lâu lâu về thăm mẹ cũng giúp cho cô em thúi hẻo vài tờ có mệnh giá lớn.
Hôm đó dì Hai của hai thằng cu, thằng lớn lớp ba tên Hải thằng em lớp hai tên Hà. Hai thằng ôm hết mười bốn tờ vé số. Ôm thì cha chúng chỉ la la chút thôi chứ không tội lệ gì, nhưng mà ôm rồi xé nó đau lòng lắm. Một buổi bán năm chục vé lời được mười xé bỏ bảy thì ở nhà quách cho xong. Ôm để chờ trời gọi như cha chúng ước hả? Còn khuya. Thấy vậy bà dì mới mua giúp hai đứa cháu gọi là tình thương mến thương. Lúc ấy bầy em của hai bên, bên bà Mười và bên ông Dung cũng có mặt để dùng bữa cơm thân mật. Bữa cơm nầy hai con cô gái lấy chồng thành phố bỏ tiền ra nên thịnh soạn lắm. Chị Hai mới nói với em rể Nhàn như vầy:
– Nè… mày giữ mười bốn tờ này dò dùm chị. Chiều mà xê ry bảy tờ vô bất kỳ lô nào là tao cho mỗi đứa một tờ. Còn bảy tờ kia nếu trúng thì chia nhau mà sống.
Cả bọn vỗ tay hoan hô chị Hai. Ai cũng nghĩ ba cái vé số sáng mua chiều xé mơ gì giải lớn. Còn giải hai, ba con thì cho Tư Nhạn quách cho rồi.
Nhưng sự đời hoàn toàn không phải vậy.
***
Câu chuyện đến đây tạm dừng vì chủ quán hỏi người kể:
– Theo chú Ba thì Tư Nhàn có ém bảy tờ vé số đó của bà Hai không?
– Tất nhiên là có. Nếu không thằng Dũng bên ông Dung và thằng Lộc bên bà Mười không sửng cồ lên để ra cái hậu quả kẻ chết người bán thân bất toại và thằng Nhạn phải ngồi tù.
– Tui là tui nghĩ khác ông. Nếu Tư Nhạn ém bảy tờ vé số đó thì sao vợ con nó khổ vậy? Nếu có tiền trong tay con Tư đâu phải bước thêm bước nữa khi chồng mới ngồi tù có hai năm?
– Mày dỡ quá. Thằng Nhạn ém vé số chứ vợ nó có ém đâu. Sự cố xảy ra là công an thộp cổ nó đi liền. Con Tư biết thằng Nhạn dấu ở đâu cũng không dám lấy ra để lãnh giải. Hiểu không?
Chủ quán nhậu chưa kịp trả lời thì một trẻ trai khác có mặt:
– Chào chú Ba. Nhậu hả chú?
– Lai rai ba sợi cho vui chứ nhậu nhẹt gì mậy. Bữa nay mày đi làm về sớm vậy? Thích thì ngồi xuống làm vài ly cho vui.
– Dạ… không dám. Tuần này con làm ca đêm. Sáng nay về đến nhà là vùi đầu vô ngủ, tỉnh dậy nghe vợ con nói con trai chú mới về. Chớ thằng Lâm đâu rồi chú?
– Nó ở nhà mày ơi.
– Con mừng cho chú. Vậy là bữa nay chú lai rai cho đời bớt khổ phải không?
– Khổ hay sướng sao biết được mậy. Đời đến đâu hay đến đó. Mày ngồi đi… rót thêm chai nữa chủ quán. Nói mày nghe nè… thằng Lâm nói với tao là Tư Nhạn được chuyển về ở chung phòng với nó. Hai tháng chín tới đây chắc chắn thằng Nhạn được về.
– Thằng Nhạn bị hai chục năm lận mà chú Ba? – Chủ quán hỏi.
– Thì cải tạo tốt là giảm án. Nó cũng ở mười ba năm rồi chứ ít sao?
– Chú nói tiếp cái sự vụ Tư Nhàn đâm thằng Dũng và thằng Lâm đi. Con mới về xứ nầy nên không rành lắm. Con nghe nói mấy tờ vé đó chỉ giải nhất phải không chú?
– Vậy mới nói…
Già ba kể tiếp rằng. Một tiếng đồng hồ sau là bữa cơm thân mật tan sòng. Già Ba và ông Mười là chiến hữu nên ngồi lại lai rai thời sự quốc tế. Đang khề khà thì vợ chồng thằng Danh cùng xóm chạy lại nhà nói rằng trúng được một tờ giải nhất mua của thằng Hải con Tư Nhạn. Cái thời điểm ấy một tờ vé số chỉ hai ngàn đồng, lô độc đắc là năm chục triệu và giải nhất chỉ mười triệu mà thôi. Nhưng cách đây mười ba năm thì chục triệu là cả một gia tài chứ không phải chuyện chơi. Nghe vậy cả hai gia đình mới xúm lại mà mừng hết cỡ luôn. Bảy tờ bảy chục triệu. Hai ông bà già rổ rá cạp lại và sáu gia đình vậy là bảy phần ngọt xớt. Để coi, vàng năm trăm ngàn một chỉ mười triệu là hai cây. Chao ôi đời nó đẹp là đẹp. Già Ba ngồi nhìn gia đình bạn vui trong hạnh phúc mà tủi cho thân già hiu quạnh.
Thằng Dũng hỏi lại cho chắc trong khi chờ Nhạn đi lảnh tiền trúng đề ngoài thị trấn để giao cho tay em:
– Mà có thiệt là xê ry đó không chị Hai?
– Tao đâu có rành. Mua giúp vế ế cho hai thằng Hải và Hà rồi đưa cho cha nó dò giùm chớ tao đâu có coi thử số mấy.
– Phải xê ry có đuôi 18 không Hải?
– Đúng rồi cậu Dũng. Con ôm bảy tờ đó mà.
Vậy là quá xá đúng rồi. Chị Hai nói:
– Vậy thì cứ mỗi đứa một tờ. Tao hứa sao là làm y như vậy.
Năm Lộc bày bàn rượu cụng ly cái cốp với Dũng:
– Bà cha nó… có một tí cho đời bớt khổ.
– Tao kiếm cái xế chạy ôm. Cám ơn chị nghe chị Hai. Chị đúng là Quan Âm của tui à.
Mãi đến tám giờ tối tiếng 67 của Tư Nhạn về đến ngõ. Ngõ vắng xôn xao lên tức thì. Mấy cha mấy mẹ trúng đề đang chờ muốn hụt hơi để nhận cái một ăn bảy mươi của mình. Nhưng chục ngàn ăn bảy chục ngàn đâu có lớn bằng cái giải nhất chục triệu. Năm Lộc hỏi anh rể:
– Vô giải nhứt hả ông Nhạn?
Nhạn trả lời làm cả bọn đơ như cây cơ:
– Nhứt gì? Nhứt cư thì có.
Nói rồi Nhạn móc túi quần sau trình ra cọc vé số. Cả bọn chuyền tay nhau. Đúng là mười bốn tờ, trong đó bảy tờ nguyên xê ry đuôi 18 nhưng ba số còn lại chả có ăn nhập gì cái giải nhứt như thằng Danh đã trúng. Cả bọn đưa mắt nhìn Tư Nhạn. Đôi mắt nào cũng ánh lên sự nghi ngờ. Có ba sợi nên Năm Lộc cười khẩy:
– Đù má… ông đừng có qua mặt. Lừa ai chứ lừa người trong nhà ông ngó được sao?
– Trời ơi – tao thề xe cán đó Lộc ơi – tao cũng tưởng vô mánh lớn rồi. Ai ngờ bảy tờ đều bị lụi. Tao mà gian cho chết không toàn thây. Bao nhiêu vé chị Hai đưa tao để y nguyên trong túi đến bây giờ. Đừng nghi tao tội nghiệp.
Chính ông Mười cũng khẩy một cái cười:
– Mày đừng có mà gian vậy. Lụi lụi… lụi dao vô họng mày thì có.
Cả nhà ồn lên như chợ vỡ. Mấy người trúng lô đề cũng ê ê Tư Nhạn chuyện của mày kệ mẹ mày nhưng mà chung lẹ tao đi về. Thì từ từ tui chung liền đây – Tư Nhạn nói -. Nhưng sự việc diễn biến nhanh quá. Năm Lộc rời bàn nhậu. Với tay từng qua lính tráng nầy đừng có giỡn chơi nghe. Du côn xứ nầy anh ta trị là xếp re hết đó. Lộc xốc cổ áo Nhạn lên:
– Ông không giao mấy tờ vé số ra là tui cho ăn cù loi à.
Tư – vợ Nhạn – nhảy vào xô em trai ra. Chi không biết chứ em cô mà nóng lên thì cô nó còn cho bạt nói chi chồng. Lộc nắm cú đấm lại và – a lê hấp – một cú thôi sơn vô mặt Tư Nhạn cấp kỳ. Tất nhiên khi bị ăn đấm thì chả thằng nào không khùng lên mà văng tục. Dân vé số như Nhạn gì chứ chửi thề thì khỏi chê. Tư ta cho cả ông Mười ăn đủ thứ ăn. Vậy nên thằng Dũng mới nóng lên mà rằng:
– Mày mà chửi cha tao một tiếng nữa là tao đập mày luôn à.
– Mày ngon đập tao coi thử? Tao đù má mày đó, mày làm gì tao.
Vậy là Dũng nhào vô. Thôi thì ì ì xèo xèo, chả ai can chi được. Ngay cả tổ trưởng an ninh nhân dân chạy đến cũng khoanh tay chịu sầu. Bị Dũng và Lộc đánh đau quá nên Nhạn chạy ra nhà sau vớ được ngọn dao phay. Nhạn vừa chửi thề vừa tuyên bố:
– Đánh cái nữa tao lụi cho bây coi
Nhưng Lộc xưa nay chưa từng sợ ai. Mẹ cha nó… đã gian tham mà còn đâm với chém. Lộc tới và đưa cái bụng ra:
– Nè đâm đi. Không đâm tao cho mày chết bữa nay.
Nói vậy chứ ai dám đâm. Nhạn thỏng tay dao. Phải chi lúc đó Lộc đừng manh động quá thì đã không lớn chuyện. Có lẽ thấy thằng anh rể chỉ miệng hùm gan sứa nên Lộc được nước chăng? Lộc bước tới và phang thêm cú đấm. Lần này trúng vô cánh mũi nên máu đổ. Vậy là máu cuồng điên bất chợt trổi dậy Nhạn vung một dao vào bụng Lộc. Ngọn dao dài những bốn mươi phân từ bên dưới đâm lên. Lũng bụng đứt ruột chả nói làm chi. Trái tim cũng chẻ ra làm hai. Hồ sợ bệnh án của pháp y ghi vậy.
Dũng thấy vậy nhào vô, ý chừng giật lại lưỡi dao. Nhưng Nhạn lại tiếp dao nữa, cũng vào bụng. Cú đâm trực diện không đến độ chết người nhưng nó mạnh đến độ gãy cột sống.
Thật dữ dội. Thật bàng hoàng.
Kẻ chết. Người bán thân bất toại. Nhạn lảnh án hai mươi năm tù giam.
Bọn trúng đề đành chịu sầu khi Nhạn bị bắt. Còn bảy tờ vé số thì trúng hay lụi vợ Nhạn cũng không biết. Cô có dính gì vô chuyện tay trời này đâu? Nhưng em ruột cô chết. Cái tội nầy cô phải chịu sự ghẻ lạnh của cả nhà.
Chả ai ngó cô đã đành. Cả cháu ngoại bà Mười cũng lơ luôn.
***
Mười tháng sau vụ án mới được đem ra xét xử. Trong mười tháng ấy là một chuỗi những hệ luỵ đổ xuống cả hai nhà của bà Mười và Ông Dung. Cái nầy tiếp nối cái kia, thậm chí chồng lấn lên nhau theo một kiểu dữ dội thê lương nhất trần ai. Kẻ nào có máu phiêu lưu tưởng tương đến hết thế cũng không hình dung ra sự thể nó có thể xẩy ra như vậy. Ngay cả cái án hai mươi năm của Nhạn đem so với những điều đã xẩy ra trong mười tháng ấy cũng chả có chi gọi là bi.
Cặp uyên ương già ngay lập tức lui về ai lo phần nấy. Bà Mười vừa khóc con trai chết tức tửi vừa vỗ về cô con dâu lại phải à ơi ru thằng cháu nội mới tám tháng tuổi. Con vợ khóc chồng thảm không xiết kể. Thảm nhất là sau đám hai bà chị của kẻ vắn số cũng phải lui về nhà mà lo cho chồng và con của họ chứ ở mãi có mà nhà chồng chửi cho tắt bếp. Thôi thì người chết cũng đã yên mồ người thân phải cố mà vươn qua để sống. Con Hạnh vợ Năm Lộc đâu có ngồi đó mà khóc mãi được. Lấy cái gì ăn mà khóc? Bao nhiêu tiền tha nhân đi đám đâu có đủ để trang trãi. Cô gửi cháu cho bà nội, phải dứt sữa khi thằng cu mới chín tháng tuổi. Chồng chết mới một tháng phải ra đời kiếm cơm. Tội quá thì thôi.
Vậy cũng còn thở được so với ông Mười. Ba tháng sau thằng Dũng được cha và vợ đưa về nhà. Xe cấp cứu của bênh viện rề đến tận hẻm và hai nhân viên y tế đưa Dũng vào nhà bằng băng-ca. Con vợ đi một bên và ông Mười tay xách chiếc xe lăn. Ta bà đứng xem chỉ chép miệng thương cảm chứ biết làm sao? Gãy cột sống thì còn chi của? Và trên trần ai khoai củ nầy không có còn bàn huống gì có chuyện. Bàn rằng:
– Phải chi thằng Dũng và Con Linh có một đứa con thì…
– Thì là mà cái con khỉ khô. Có con như vợ thằng Lộc thì cũng vậy à. Tao nói là linh như miểu cho bây coi. Con Hạnh còn trẻ quá, lại đẹp. Bước thêm bước nữa là chắc nụi luôn.
– Thằng Lộc chết rồi nói làm chi. Con Hạnh thêm bước nữa cũng là tất yếu. Tao nói nếu thằng Dũng với con Linh có với nhau đứa con…
– Mày ngu chết mẹ. Thì cũng vậy thôi con ơi.
– Vậy là vậy làm sao?
– Gãy cột sống thì chuyện giường chiếu coi như bỏ con ơi.
– Vậy à? Sao mày biết.
– Mày không đọc báo nên không biết gì sất. Mày biết thằng diễn viên người Mỹ chuyên đóng vai súp phờ men không?
– Siêu nhân đó hả? Sao?
– Nó phi ngựa bị té gảy đốt sống cổ nên bất toại như thằng Dũng. Triệu phú đô la mà cũng không giữ nổi vợ. Nói vậy mày hiểu chưa?
Và xưa nay dân gian nói và dân gian luôn đúng. Trong mười tháng, chỉ mười tháng mà biết bao thảm cảnh. Nó bắt đầu bằng việc ra đi không hẹn ngày trở lại của cô Linh. Mười tám tuổi và mơi lấy chồng được tám tháng. Hương lửa đang nồng say Linh đã vấp phải một bãi lầy giữa mùa đông giá lạnh. Dũng tuyệt vọng và chỉ muốn chết. Làm sao người ta có thể chấp nhận được cảnh nằm yên một chỗ hỡi tha nhân? Dũng bẳn tính, anh ta chửi đất chửi trời chửi luôn ông Mười và chửi luôn cô vợ. Trời ơi. Linh phải tắm phải cho ăn phải đổ bô và đủ thứ. Vậy mà anh ta còn chửi thì ai mà chịu được? Hai con chị của Dũng là Dung và Hiền cũng chả bất ngờ chi khi Linh biệt dạng. Ông Mười xắn tay áo lo cho con trai. Thời gian đâu nữa mà hú hí vơi tình già?
Bà Mười cảnh giác với cô con dâu tức khắc. Bà không rời tay khỏi thằng cháu đích tôn. Mẹ nó lạt lòng ẳm con đi theo tiếng gọi là bà tự vận liền. Đời nầy kiếm sao cho ra cái cô Diệu trong vở kịch Lá sầu riêng? Bà can ke con dâu còn hơn cú dòm nhà bệnh. Y như rằng. Một hôm kia Hạnh đi làm như thường lệ và chiều ấy không về. Thằng cu ngủ với bà nội quen rồi nên không vọng động. Chỉ mười tháng mà hai cặp trẻ tàn đàn xe nghé kéo thêm cặp già xẻ nghé tan đàn thì chuyện hai chục năm tù của Nhạn phỏng có ra chi?
Nhưng bi nhất là cô Tư và hai đứa con trai của Nhạn.
Cả nhà ông Mười thù hận cô tuy không đúng nhưng còn khả dĩ chấp nhận được vì chồng cô cho con em họ ra thân tàn phế. Nhưng bà Mười ghẻ lạnh con gái thì quả mười phần sai. Cô nào có tội tình chi? Cái lý bà Mười nói với thiên hạ là xưa kia trong nhà nầy chả ai chấp nhận cái thằng đó là rể. Con Tư đã lấy trúng một con quỷ đột lốt người. Bà Mười không ngó cả hai thằng cháu ngoại. Một là bà quá nhọc với cháu nội, hai là thằng sát nhân thì con nó cũng chả ra chi. Cái nầy mới thiệt là giận qua hoá sai. Toà án họ còn cho rằng Nhạn đã tự vệ một cách thái quá mà ra chuyện chứ hoàn toàn không dụng tâm.
Ghẻ lạnh với cô Tư quả là không đúng.
Nhưng thiên hạ mới là bất công. Cô Tư và hai đứa con dẹp luôn nghề bán vé số vì chả ai thèm mua nữa. Người mẹ tội nghiệp phải chạy vô mấy cái rẫy xin làm thuê kiếm gạo nuôi con. Ngày ra toà cô nhìn chồng chả nói được một câu. Án kêu hai mươi năm chồng cũng không nói câu gì với vợ. Hai mươi năm là mất hẳn nhau rồi.
Nhạn lên xe bít bùng thụ án. Tư lại tiếp tục thuê mướn nuôi con. Cô nhận khoán cuốc cỏ trông khoai để hai đưa con phụ thêm mà qua thì gian khó. Học hành làm sao được khi giật gấu và vai vậy hả con? Hơn cả vá vai giật gấu là bạn học của hai cu nhỏ. Chúng không bè bạn với kẻ có cha là sát nhân. Nhìn con cô Tư sa nước mắt. Mười tám Tư lấy chồng. Hai mươi tám con lớn mới chín con nhỏ mới bảy tuổi mà phải lê la nương rẫy kiếm ăn thì sa nước mắt là đúng rồi phải không hỡi thượng đế tối cao? Tư đẹp nhất nhà, đáy mắt long lanh nước. Vậy nên ông ghen tỵ phải không ông trời?
Đúng rồi. Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen. Nếu không cô Tư đã không tựa đầu vô bờ vai một thằng khố rách khác mà nức nở.
Khố rách là dân tha phương. Tài sản chỉ có cái chứng minh nhân dân lận lưng. Gã cũng thảm cảnh không thua chi Tư. Rằng vợ bị mất vì sốt hậu sản. Con cũng ra đi theo mẹ. Buồn quá Thuận – tên của khố rách – lên đường tìm quên. Vào xứ nầy Thuận quanh năm rẫy mướn, và tất nhiên cây khô tưới nước cũng khô, nghèo thì đến xứ mô cũng móc bọc. Thuận ngó đen đen xấu xấu nhưng được cái ăn nói có duyên. Cả hai tâm hồn đơn độc và khổ luỵ như nhau nhanh chóng kết tình bè bạn. Mụ nội cha nó bạn với bè. Bên không vợ bên không chồng. Ông bà dạy lửa gần rơm lâu ngày nó phựt luôn chứ bén thì nhằm nhò chi.
Hai tháng sau khi tiễn chồng lên đường Tư và Thuận nên một cặp trời sinh. Trời sinh thiệt chứ không phải chơi đâu nghe. Hai đứa con Tư thích cha ghẻ một phép. Chả là giang hồ Thuận biết cách mua lòng con trẻ lắm. Con không ưa thì còn lâu mẹ mới chịu. Thứ nữa là cái bụng Tư lum lên. Trời ơi – thiên hạ nói – đã lấy chồng thì cho được một chút, thằng vé số đã không ra ôn dịch gì nay bá vô thuê mướn thì sao mà ngu thế Tư ơi? Ba quân nói như vậy là sai. Thử hỏi có thằng nào ngon lành dám nhảy vô sương phụ hai con? Đúng không?
Và xưa nay cái đói, cái thiếu thốn luôn làm bẩn chật hồn người. Ngày vui của Tư và Thuận qua rất nhanh. Đứa con gái ra đời đã làm bẩn chật cô đặc lại. Tâm hồn Thuận cũng quánh theo. Trời ạ. Vợ thì nằm cử. Hai cu con thì đứa mười đứa tám đứng còn chưa vững thì lấy gì cho kẻ khác nương? Thuận cáu kỉnh với trời đất sao số mình đen đủi. Sau đó cáu luôn với hai thằng cu. Vụ cáu kỉnh nầy rất nhanh chóng thành bệnh nhất là khi có ba sợi. Mười hai tuổi Hải cự lại cha ghẻ khi ông ta mắng Tư là đồ ăn hại:
– Dượng không được chửi má tui.
Thuận lừ lừ cặp mắt mí lót:
– Mày du côn như cha mày rồi đó nghe.
– Ông không được đụng đến cha tui. Cái nhà nầy là của cha tui đó.
– Cha mày về thì tao trả. Tao không cướp đâu mà lo. Đồ mất dạy.
Anh em Hải Hà chạy qua bà ngoại. Bà Mười có đứa cháu trai đẹp như thiên thần lại quậy như giặc nên cũng nguôi ngoai chuyện đã rồi. Hai thằng cu ngó vậy mà được việc. Chơi với em đã đời lại chạy qua ông Dung chăm sóc Dũng. Dũng cũng quen rồi cái chỗ nằm. Hai thằng cu nhấc lên xe lăn đẩy đi dạo xóm nhỏ kể cũng vui. Tối đến hai cu con ngủ với ông Dung cho có bạn. Hai thằng này ngó vậy mà kể chuyện tiếu lâm tây tiếu lâm ta hay số dách. Nó làm cho kẻ bán thân thấy đời không đáng chết. Bằng chứng là Dũng không xin cha cho anh ta chết nữa. Hơn cả vui chơi chúng còn lo cho ông Dung và cả bà Mười cái ăn bằng đồng bạc kiếm được nữa đó. Cái dòng con không cha, mẹ có đó cũng như không. Chúng khôn thôi thì nẻ võ.
Và mười ba năm trôi qua như một giấc mộng.
***
Chủ quán nhậu thở dài:
– Thằng Nhạn sắp về. Sao mà tui lo cho con Tư quá anh Ba? Rối như canh hẹ cho anh coi.
– Chuyện gì đến sẽ đến. Lo chi cho nhọc mậy.
– Thằng Nhạn về – chủ quán lại tiếp – đương nhiên phải trả lại nhà cho nó. Vậy thì thằng Thuận và con gái nó đi đâu về đâu?
Biết về đâu?
Nguyễn Trí

Nợ đời

nguyentri

Cổ chí kim, đông sang tây, âu sang á. Xưa nay người thân trong gia đình bị tai hoạ thì chắc chắn phải buồn. Bậc làm cha mẹ ắt phải đau lòng sa nước mắt nếu con cái giã từ mình đi trước về âm cảnh. Có câu lá vàng khóc lá xanh rơi. Trường hợp người thân ra đi mà… mừng cũng không hiếm. Trầm kha trên giường cả năm ròng, nhắm mắt được thì người thân phải mừng. Trường hợp nầy niềm đau trong tâm kẻ ở lại có giảm đi nhiều phần, nhưng vẫn có. Cũng có những trường hợp ra đi mà kẻ ở lại mừng ơi là mừng. Trong ruột cả cha lẫn kẻ rứt ruột đẻ ra không một tí đau nào sất. Thiệt đó. Xin thề là nói thiệt. Nếu xảo ngôn hay ngoa ngữ một li lai nào là hộc máu trào cơm chết tức khắc liền. Mà cũng chẳng thề thốt chi cho ác miệng cứ đến trấn X là ra đầu ra đũa mọi chuyện. Đừng nói X, và huyện Y ai cũng rành sáu câu vụ chết chóc của hai thằng Mười Lâm và Sáu Ngón. Riêng thằng Chín Địa thì đang hấp não đâu đó trên phố lớn.
– Sao hấp não? Mà hấp não là sao?
– Ai biết. Nghe nói sao tao kể lại y vậy. Đại khái là nó bị Tí Anh chém một mã tấu vô đầu. Sao đó không biết mà phải hấp.
– Má ơi… thà chết cho rồi chớ vậy thì tiền tỷ cũng cứu không nổi. Mà sao vậy? Sao mà bar Moon-beer phải đóng cửa? Tụi nó chơi nhau trong quán hả? Chuyến nầy bên nhà thằng Mười Lâm với gia đình Sáu Ngón thoát được hai cái nợ đời rồi phải không mậy?
– Ừ, thoát chắc rồi. Mày biết không? Ngay cả hai trại hàng Ngũ Hành và Bát Quái cũng không thèm hai cái xác nầy nữa đó. Xưa nay có cái chết nào mà thoát khỏi họ? Vậy mà không ngó là đủ biết sao rồi, thậm chí cả hai gia đình nghe báo hai ông con đang nằm trên nhà xác bệnh viện cũng không động tâm. Hai thằng nằm từ tám giờ tối mà đến tận hai giờ chiều hôm sau nhà mới lên nhận xác. Tay trực nhà xác đòi đóng tiền xuất xiếc chi đó bị thằng Năm Ngưu anh Sáu Ngón nói cho thì tao mang về bằng không tao để đây luôn. Tay bảo vệ phải xuất cho rồi. Biết Sáu Ngón về nhà bằng xe gì không?
– Gì?
– Hoa Lâm ba bánh của thằng Quang. Cha thằng Sáu biểu thằng Năm đi mua mấy tấm ván coffa về đóng hòm, thấy vậy hội bảo thọ xã cho một cái. Thằng Mười Lâm cũng yên vị trong hàng của hội luôn. Chỉ có nhà Chín Địa là bái xái, nhưng nghe nói cả nhà tính đưa ông con về rồi chết chóc tính sau. Của cải đâu mà nuôi người bị hấp não?
– Mọi chuyện làm sao mà hậu quả trầm trọng vậy?
Băng của Sáu Ngón một bàn, băng Mười Lâm một bàn. Hai phe ăn nhậu trong lẩu bò Đức Phát. Một thằng bán kẹo kéo dạo có nhạc nhẽo vô mời. Mười Lâm giựt mi cờ rô và rống và nhảy một bài lá cải. Sáu Ngón có rượu vô nói câm cái họng lại. Vậy là ra chuyện đòi đập nhau. Cha Đức Phát yêu cầu cả hai phe ra khỏi quán. Vậy là ra một trận. Công an trấn X đến thì cả bọn đâm đầu bỏ chạy. Mười Lâm chạy về đến Moon-beer thì Sáu Ngón rượt kịp. Sỡ dĩ Tí Anh dính líu và nặng tội là vì cả hai thoi luôn Tí khi thằng nầy ra can. Tí Anh bảo kê cho Moon-beer nên đâu thể để lơm cơm làm mất uy của mình, nó rút dao ra cho mỗi thằng một lụi. Chín Địa là đàn em Mười Lâm cầm mã tấu nhảy vô chém Tí Anh. Tí giựt được mã tấu và cho Chín một nhát vô đầu. Vậy đó.
Vậy là các quán cà phê từ cóc đến cao cấp ở trấn X cứ ngồi xuống là chuyện vụ án được banh ra mổ xẻ. Thiên hạ thở dài sao mà bầy trẻ ngày nay manh động dữ? Hở tí là dao thái với mã tấu để thị uy. Chuyện từ đời não của hai thằng chết, thằng hấp não và Tí Anh được bàn kỹ nhất. Kẻ nói từ gia đình mà ra cả. Con cái đẻ ra mà không quan tâm dạy dỗ chi ráo. Họ kể chuyện Sáu Ngón vì sao mà nghỉ học:
– Nó hư lắm. Mới lớp chín mà hút thuốc, cãi lại cô giáo dạy anh văn, bị tổng phụ trách nêu tên buổi chào cờ đầu tuần nên bỏ học luôn. Lúc đó nó thân với Mười Lâm nên ông nội Mười nghỉ theo luôn cho có bạn.
– Sao thân nhau mà ngày nay đánh nhau bằng hung khí? Sao cãi lại cô giáo? Với lại tui thấy chuyện tên tuổi học trò ra nêu trước chúng bạn cũng không phải quý ông ơi. Bầy trẻ ngày nay nhạy cảm hơn bọn mình xưa kia gấp nhiều lần. Xưa kia mình sợ chứ bây giờ chúng nó hận.
– Để nói cho nghe vì sao thằng Sáu Ngón cãi cô giáo. Chuyện này hơi nhạy cảm một chút. Mấy ông nghe tên cô Sao Mai dạy anh văn chớ hả? Bà cô nầy buộc học trò học thêm là có đó, không ngoa tí nào đâu. Con Hiền cháu ngoại tui nói không học là bả kiếm đủ chuyện để răn. Thằng Sáu Ngón dốt đặc môn tiếng anh, mất căn bản từ lớp sáu thì ông trời cũng chịu sầu nói chi cô Sao Mai. Bà cô nói ông con đi học thêm thì ông con nói một câu làm bà Sao Mai xám mặt.
– Câu gì mà dữ vậy?
– Nó nói lớp sáu em không biết thì ép em học thêm lớp chín làm chi?
– Mất dạy vậy?
– Là do bữa đó ông con phê rượu.
– Trời đất ơi. Mới lớp chín mà rượu? Rượu đâu mà nó uống?
– Ông đúng là không biết gì hết trơn. Cứ ghé mấy cái quán xung quanh trường là mục kích mấy đứa cá biệt hút thuốc xực rượu. Thằng Sáu Ngón và Mười Lâm sáng nào cũng chơi chai xì tinh và ly rượu đế cưa hai uống cho bốc rồi mới vô lớp.
– Mấy thằng bán quán thất nhơn vậy?
– Sao thất nhơn? Có tiền không bán nó phá chứ chơi à?
Gia cảnh Sáu Ngón khó khăn lắm. Sau nó còn hai đứa em nữa. Xưa nay đông con luôn kéo theo nghèo. Mà đã nghèo thì các bậc cha mẹ cũng có lơ là tí đỉnh trong việc nuôi dạy con. Riêng gia đình nầy thì lơ thiệt luôn chứ tí đỉnh cái con khỉ. Thậm chí thằng Sáu có đi học hay không chả ai quan tâm. Mười bốn tuổi nó chơi một vố chấn động cả thị trấn. Sau đó bị bắt đi giáo dưỡng hết hai năm.
Nó đến nhà của Danh Hồng, bạn rất thân của cha, lễ phép thưa rằng cho ba con mượn cái xe lên huyện có tí việc. Danh Hồng cho mượn thì chớ còn đưa luôn cà vẹt và bảo hiểm. Cho nó chắc, lỡ bị giao thông tuýt còi là có ứng phó liền. Sáu Ngón đem xe ra tiệm, nó không cầm mà bán đứt. Tiền trong tay liền bắt taxi đi sài gòn chơi cho thoả. Đầm Sen Suối Tiên có món gì nó chơi món đó. Hai ngày sau nó bao taxi về. Tài xế thấy ông con chơi sộp nên bị ru. Thử hỏi nó mời vô quán ăn uống rồi móc bóp trả tiền sang như tây ai không tin? Đến chừng xuống xe ông con quăng mình bỏ chạy. Một trăm mấy chục cây số đường đâu phải ít. Một vài người gần đó nghe phân trần biết ngay Sáu Ngón chứ không ai vô liền khuyên tài xế đến trụ sở uỷ ban gần đó thưa việc. Lợi dụng tín nhiệm lấy tài sản người khác là một, lừa đảo là hai, đủ tuổi là tù chắc. Không tù thì giáo dưỡng gọi.
Hai năm sau ông con về đời trông phong trần lắm. Ông cha vừa mở miệng con ơi con hỡi tu tâm dưỡng tánh mà làm ăn là Sáu xực lại ông ông tui tui du côn hết phép. Điên tiết lên cha già chửi cho một trận rồi đe rằng:
– Đồ mất dạy. Mày đi luôn đi.
Ở đâu có bạn đó. Trong trại Sáu kết thân được với một mớ đời bụi. Mớ nầy có anh em ngoài đời làm đủ thứ trời ơi. Vậy là Sáu kết bầy đàn làm đệ tử cho một anh thứ thiệt. Anh ngồi trong bóng tối điều hành lũ trẻ con làm bậy. Về sau Sáu thấy kiểu cách của anh làm ăn ngon quá nên lén làm riêng. Ai ngờ riêng tư mới được hai vố thì bị công an bài trừ tệ nạn hốt cốt khi đang hành sự. Sáu Ngón ngu quá. Ma tuý mà bỏ trong cốp xe, bị bắt là phải. Nó bị kêu bốn năm tù giam về tội tàng trữ chất gây nghiện. Ra tù nó nói với bè bạn:
– Tao đâu có ngu mà bỏ trong cốp, thằng Hậu chủ trì hết. Không ngờ đàn anh mà chơi dơ.
– Ai biểu mày qua mặt?
– Đù má…. lấy hàng rồi giao hàng nó lời tiền tỷ mà chung cho em út như ăn mày…
Lửng lơ vậy mà một hôm kia đàn anh Hậu được đưa lên bệnh viện vì bị đâm lủng bụng. Công an trấn X kết thức vụ truy lùng một tội phạm. Thằng Hậu nầy là ma chứ không phải người và dân hẻm Z cứ như dân đảo Corse bên Pháp vậy, sợ tội phạm hơn sợ công quyền. Biết thằng khốn ở đó ở kia nhưng họ không tố. Ngu sao tố. Đã có lần Hậu bị bắt vì có người mật báo. Ai ngờ sáng bắt chiều thả. Đã vậy Hậu còn biết ai đã bán đứng mình, nó cho thằng phản một bài học dân chơi nhìn qua là thất kinh. Không có chuyện tự thanh toán dễ chi triệt được con ma nầy. Nhưng mà ai đâm nó vậy kìa?
Ai biết được. Thằng Hậu còn không biết vì bị đâm khi đang ngủ. Tuy nhiên giang hồ vặt trấn X có vể nể nang Sáu Ngón lắm. Chúng xì xáo rằng Sáu Ngón chứ không ai vô. Không vỗ ngực xưng danh nhưng mấy cái quán karaôkê có bia bọt và phục vụ nữ biết điều với Sáu lắm. Ba cái quán nầy dĩa trái cây trăm ngàn, lon bia vài chục ngàn. Khách khứa toàn đài với hàn sờ em gái tí tí anh bo đôi trăm. Đi chơi một tí anh cho một triệu. Không chung mấy thằng vặt nó phá, khách không tới là mệt mỏi lắm.
Trấn nầy có cả chục cái ka ra như vậy. Đàn anh Hậu ra đi thì Sáu Ngón và bạn thân Mười Lâm xìa tay nhận tiền. Phải chi yên vậy thì hay quá. Đằng nầy hai thằng khốn lấn sân qua lĩnh vực đá đấm. Tục gọi ngáo đá đá ngáo. Đã là dân chơi, bão tố còn không sợ nói gì mưa. Hai anh giao hàng cho các em thích cảm giác. Bất ngờ không phải một mà cả hai anh luỵ một nhan sắc có tầm. Nàng đẹp ôi thôi đẹp.
Đừng tưởng mấy thằng bị cái chết trắng giết lần mòn mà không mê gái nghe. Chúng đắm hơn người thường gấp chục lần. Tầm cỡ Trụ Vương mê Đắt Kỷ, Ná pồ lế ồng mê Đố dề phin chứ không ít. Đắm chừng nào ghen chừng đó. Nàng tên Thanh Trúc. Mụ chủ của ka ra Hoàng Hôn chửi hai thằng khốn không tiếc lời. Sư cha nó, có được con đào đẹp để câu, nó giữ riệt làm của riêng, ai không tức? Bà chủ liền méc với một anh có quyền vẫn thường đến kiểm tra quán. Anh hứa sẽ chặt bay đầu bọn du côn. Nhưng mà chị cứ làm như vầy nè… vầy nè…
Hôm đó Sáu Ngón đến quán yêu cầu Trúc tiếp khách. Bà chủ nói Mười Lâm dẫn con Trúc đi chơi rồi. Nóng mũi Sáu đi tìm Mười. Khi Mười đến chị chủ nói Trúc đi chơi với Sáu. Chỉ vậy thôi mà hai thằng ngu sinh chuyện. Riêng em Trúc thì anh nào cũng được, anh nào có tiền thì em hầu. Chỉ vì một cô gái mà hai thằng thân nhau như huynh đệ hoá kẻ thù một khi. Cho hay nhan sắc bén như dao cạo chứ không đùa.
Vậy rồi chuyện xẩy ra, chả ai nhịn ai. Chúng đánh nhau và chạy về Moon-beer chơi tiếp.
Sự cố xẩy ra bên ngoài quán bar. Vậy mà chả hiểu sao Moon-beer đóng cửa. Bộ có dính líu hay sao vậy kìa? Mới khai trương mà kỳ vậy ta?
***
Nói về Tí Anh thì ba quân sợ hơn hai thằng bị chết nhiều. Cha Tí Anh qua đời sớm. Má nó buồn quá nên lấy cờ bạc làm vui. Má nó hay lắm, có thể ngồi bên sòng tứ sắc hai bốn tiếng mà không biết đau lưng là chi. Một hôm bà ta đứng dậy vì nghe tin thằng con trai bị bắt lên thị trấn về tội đánh người gây thương tích trầm trọng.
Kẻ bị đánh là thầy tổng phụ trách. Hôm thứ hai, thầy nêu tên những học sinh cá biệt và những hành vi phá rối của chúng. Sau đó yêu cầu cả bọn lên cột cờ cho ba quân chiêm ngưỡng. Nguyễn Văn Anh thường gọi Tí Anh không lên mà trèo tường bay ra ngoài. Nó ngồi ở cái quán trước cổng chờ tan học. Thầy tổng vừa ra là nó nhào tới uýnh liền. Tất nhiên mấy bà bán hàng rong điện cho công an. Học trò đánh thầy quả là thời buổi nhiễu quá rồi. Quỷ lộng. Quỷ lộng. Hai ông thầy khác kẹp tay Anh giữ yên cho đến khi công an đến. Tay tra vô còng mà Anh còn hăm he:
– Hai thằng này khoá tay tao thì nhớ đó. Ra tù tao sẽ cho tụi mày biết lễ độ.
Công an tên Trường xáng cho bạt tai. Tí Anh nói:
– Đánh đi. Đánh cho chết nghe. Tao mà sống là mày đừng có trách.
Trời đất ơi. Con nít mươi lăm tuổi mà ghê chưa kìa.
Sau hai năm giáo dưỡng. Yên vị mới được ba ngày thì bọn cho ăn lời cắt cổ đến đòi tiền má nó vay vì cờ bạc. Không riêng má nó đâu nghe, ba con chị cũng một khuôn. Vậy thôi, rau nào sâu nầy, mẹ sao con vậy. Không tiền trả thì cắt đất để trừ. Đang nhậu nhẹt với bè bạn Tí Anh liền về nhà. Có tí men nên máu tù trổi dậy:
– Mấy thằng mày muốn gì? Má tao vay trong sòng thì từ từ trả. Thằng nào cá chớn tao chém thấy mẹ à. Thiếu nợ giấy tờ đâu?
– Tao bẻ gãy họng mày bây giờ thằng ôn con. Tưởng giáo dưỡng về là ngon hả. Dao nè, chém đi.
Nói xong đối tác quăng ra ngọn dao bầu. Loại dao băm thịt chặt xương trong mấy quán phở. Xưa nay hăm he thì ai chả mạnh miệng, quan trọng là dám hay không. Nhưng Tí Anh gan cùng mình, nó cầm ngọn dao lên và nhắm thằng xâm mình to con nhất chém liền. Ngọn dao dính vô vai làm thằng kia thất sắc. Hai thằng còn lại ngớ người chưa kịp phản ứng thì Tí nhào tới buộc chúng phải lui gót. Tí ra theo mặt lạnh như tiền. Má nó và ba con chị run thôi là run:
– Bọn mày xâm nhập gia cư bất hợp pháp là tao chém. Dao của tụi mày đó nghe.
– Được rồi – thằng bị chém nói – hãy đợi đó. Cả nhà mày không yên với tao đâu.
Nói xong cả ba lên xe rồ ga phóng đi. Chả nói chả rằng Tí kêu một thằng bạn chở mình chạy theo. Nó đến tận đại bản doanh của ba thằng côn đồ đòi nợ mướn. Đó là nhà của chủ trại hàng Bát Quái. Một trong hai chủ trại đang làm ông làm cha của thị trấn.
Thật là biết người biết ta. Chủ trại ra tay giảng hoà và mời Tí Anh về làm việc với mình. Công việc chả có chi. Chỉ đi đòi nợ kẻ thiếu mà ù lì không trả. Nhất là mấy nhà có con chết chôn cất rồi mà lâu quá không xong cái vụ tang ma.
Thời nầy ba biếc trên phố họ ăn nên làm ra quá. Phố làm được thì tại sao thị trấn không làm? Bộ tưởng dân trấn thua phố lớn chắc? Chả phải ở đây bò lên phố để đốt tiền đó sao? Nghĩ vậy nên trại chủ Bát Quái mở bar Moon-beer để phục vụ khách chơi.
Mới khai trương có chục ngày đã phải đóng cửa. Thiệt là tình.
Nhưng tại sao phải đóng? Chuyện thằng Tí làm nó chịu. Không có nó thì thằng khác bảo kê. Đúng không?
Ta bà ơi là ta bà. Các ngươi chỉ thấy cái nổi mà không hề thấy cái chìm. Để một quán bar ngự trị trên đất nầy bộ một mình Bát Quái hả? Một mình thì có mà ăn cám. Rồi ba biếc chỉ bia và gái hả? Nếu vậy ra mấy quán ôm cũng đầy. Thằng Tí mà khai là chết cả lũ. Tạm thời đóng cửa để yên yên đã rồi ta tính sau.
Quan trọng là làm sao cho Tí Anh câm họng lại. Nguy quá. Nó mà khai vơi điều tra xét hỏi tỉnh – những người mà – trình độ nghiệp vụ cao tận trời thì thằng du côn nầy nghĩa lý chi. Chao ôi Tí mà khai có thuốc lắc có hàng trắng có cả đá điếc thì mười Bát Quái cũng tiêu vong nói chi một. Đùng một phát như sấm động cả trấn X giật thót mình khi nghe tin Tí Anh tự sát chết ngắc trong tạm giam.
Bát Quái mừng rơn nhưng không mừng bằng bà má và ba con chị của nó. Nhớ lúc mới giáo dưỡng về, tụ tập với chúng bạn xì ke. Cơn nghiện lên không kể chi mẹ hay chị không đưa tiền là nó đập từ trái sang phải.
Chết phải rồi. Mừng cũng đúng luôn.
Không tin cứ đến trấn X là tinh thông liền.
Chỉ tội nghiệp cho gia đình Chín Địa. Thà là Chín chết cho rồi chứ cả nhà xúm vô hầu hạ một kẻ ngờ nghệch thì mệt quá trời ơi.
Nguyễn Trí

Sinh nghề tử nghiệp

nguyentri

Lớp ba trường làng chưa xong thì Bảy Bền đã xếp bút bi phụ mẹ lo cho hai em có cái tọng vô mồm. Bà má nói học cho nhiều cũng vậy thôi con ơi, cái mả nhà mình không phát đường chữ nghĩa. Vô rừng theo cha mày cho chắc.
Hai cha con đi lấy đặc sản rừng. Mùa nào thức nấy. Rừng miền đông trái cây thôi thì vô thiên vô lũng. Nào Xay, Cám , Bù lộp, Gùi… đến mùa măng thì bà má ngày nào cũng có mặt ở chợ bán đủ loại măng khô măng tươi. Đúng là nghề dạy nghề. Mùa chính mưa ở miền Đông dầm dề không thua chi mùa mưa ở Huế trong thơ Nguyễn Bính mà cha của Bảy Bền thừa tài để cho ra măng sấy là quá xá hay. Nghề không cao dễ chi được. Chưa kể bẫy cò ke còn cho bà má có thu nhập thêm từ thịt rừng. Ngày nào ông cha cũng khề khà vài ly ba xi đế bên một đĩa thịt tú hụ không Cheo, Chồn thì cũng Nhím, Sóc hay Gà rừng. Hai cha con còn tham gia lấy cây về bán cho những trại mộc. Ai làm nhà cần loại cây chi cứ gặp cha con Bảy Bền là xong tuốt. Nhờ chí thú nên mười lăm tuổi Bảy Bền đã có một cặp bò kéo xe chiến đấu. Trên cổ xe bò Bảy đi sâu vô những cách rừng lồ ô đem loại cây nầy về xóm nhỏ dựng nghề chẻ tăm nhang cho bà con cô bác kiếm thêm.
Với rừng, Bảy Bền tinh thông hơn cả căn nhà của mình.
Nhờ cái tinh thông nầy mà những năm khốn khó sau chiến tranh rất nhiều các ông các bà có của nương theo Bảy Bền mà ăn nên làm ra, lên luôn cả hàng tỷ phú xứ ta chứ triệu phú thì khỏi nói. Đặc biệt những năm rừng bị nghiêm cấm, ai vào rừng không giấy phép là tù không cãi cọ lôi thôi. Kẹt cái lúc đó kinh tế còn khó quá, cấm thì dân nghèo lấy chi sống? Thôi thì gỗ thì cấm triệt chứ mây tre lá ta cho qua. Cấp giấy phép cho họ và ta thu thuế nuôi rừng. Nhưng quý vị thị thành muốn biết đâu đó trong nguyên sinh có tre có mây có lá thì phải thông qua thằng chưa tốt nghiệp lớp ba là Bảy Bền, còn gọi nó là anh nầy anh nọ nữa mới là ngon hung. Bảy hoá thành thần tài cho các vị có giấy phép.
Mỗi chủ khai thác chí ít trong tay năm mươi lính lác. Họ giao hết cho Bảy. Bảy đưa thợ vào những cách rừng nơi ngự trị toàn lồ ô. Người ta đưa lồ ô cây về nhà máy để sản xuất đũa. Mỗi cây người thợ rừng hưởng bẩy trăm đồng. Zin 130 đưa về nhà máy là hai nghìn đồng. Mỗi cây chủ thầu lời một ngàn ba, cho chung chi thuế má xăng cộ hết một ngàn ta còn ba trăm. Mỗi xe sáu trăm cây ta có một trăm tám mươi nghìn lãi. Mỗi ngày ta có năm xe về nhà máy thì không tỷ phú thì là chi? Ngoại trừ lồ ô cây ta còn cho ra niền để chế biến tăm nhang, mỗi bó niền thợ rừng ăn bốn ngàn về đến chỗ bán là bốn mươi ngàn, cho chi phí tối đa ba mươi ngàn. Mỗi Kamax chở bốn trăm cục niền, ngày đi hai xe. Mẹ cha ơi vàng để đâu cho hết nói chi tiền.
Về sau một đại gia rất am tường thiên thời địa lợi và lòng nhân ái bao trùm không chừa một khoản trống nào ở vùng rừng X. Vợ của Bảy Bền nhờ ông ta mà thoát chết, cảm tạ cái ơn nầy nên Bảy kính cẩn gọi đại gia là anh Sáu và nghiêng mình dưới trướng anh trong nghiệp khai thác độc quyền mây tre lá. Anh Sáu lên Bảy cũng lên theo và anh Sáu nâng Bảy Bền như nâng trứng. Chao ôi Bảy hay lắm. Lồ ô dưới lũng sâu mới là loại nhiều năm tuổi. Muốn ra một cặp đũa không bị toè đầu phải lồ ô ba năm tuổi đi lên, cây non là bỏ. Tăm nhang cũng vậy, chẻ xong đem đánh bóng thì cây tăm non sẽ gãy, nếu may mắn còn nguyên chúng sẽ bị cong vòng khi cắm lên bát hương. Bọn nhiệm thu rút lên một nắm chỉ cần một cây bị oằn là chúng bỏ cả kiện. Hàng xuất khẩu đang nằm ở bến cảng mà bị trả là chết, nên chi bước khai thác thô phải tuyệt đối cây già. Muốn cây già thì xuống lũng. Nhưng lũng trong rừng miền Đông không thua chi dốc cao khúc khuỷu dốc thăm thẳm trong thơ ông Quang Dũng tí nào. Nhưng với Bảy Bền thì không sao. Anh ta điều trị tốt.
Thợ rừng cứ cho ra sản phẩm bất kỳ nơi đâu, đèo cao hay suối sâu. Khó khăn cỡ nào cũng không qua được Bảy. Xét cần hai ba chiếc Zin sẽ vào bốc hàng một chỗ để cùng nhau hợp lực mà qua truông qua đèo. Bảy sẽ cùng một tốp công nhân chuyên xẻ đường luôn có mặt trên từng cây số với cuốc chim và xẻng trên vai. Bọn tài xế Zin ba cầu và Zin 130 phong Bảy lên hàng kỹ sư cầu đường luôn. Còn nói vầy:
– Mấy thằng kỹ sư thời nay phải gọi Bảy Bền bằng sư phụ.
Khai thác mây tre tạm gián đoạn khi mùa Đười ươi đến. Mẹ cha ơi. Dân rừng Miền Đông lên hay không nhờ loại trái cây nầy. Tháng giêng là thợ đã xuyên rừng tìm cây và dánh dấu. Cây nào có tên là xin đừng rờ vào, thợ rừng nói chuyện với nhau bằng cú đấm là chuyện nhỏ. Dao rựa cũng nhỏ luôn. Cây tao mà mày dám tra búa vô hạ là bao nhiêu tao lấy hết. Luật rừng đã định rồi. Cây đã khắc tên ai biểu mày đụng vô? Tháng hai là túa ra đi lượm Ươi bay. Loại trái nầy trị được bách bệnh đa nghe. Nóng trong người, thiệt đó, đang xỉn rượu tối mặt mà chơi một ly hai trái ươi là nhẹ liền, cả táo bón kinh niên cũng chào thua đàn anh Ươi. Nghe đâu nó còn trị được tiểu đường và thấp khớp. Nhưng nếu chỉ vậy thì không thể trả lời cho câu hỏi vì sao Ươi đắt như vàng. Đến mùa đầu nậu thu mua để xuất khẩu. Chả ai cần biết xuất để làm chi chỉ biết nó cao giá lời nhiều là em làm cái đã tính sau.
Nhưng mà đi lượm Ươi bay thì một ngày được mấy trái? Cơn ăn cơm dỡ vô rừng mà đi lượm thì ở nhà đi móc bọc ni lông còn có ăn hơn. Quý ông thợ rừng tra búa tra rìu vô cây hạ hết. Khổ cái là rừng đang được bảo vệ. Cụm rừng anh đang khai thác lồ ô tại sao cây ươi nầy bị đốn? Chỉ một cây bị ngã là anh bị tước giấy phép ngay tức khắc nghe chưa? Dạ nghe.
Lúc nầy mới thòi ra cái thông minh của thằng chủ soái Bảy Bền. Bảy không đốn mà trèo lên cây để hái. Mẹ ơi. Cây Ươi trái nhiều phải là cây trưởng thành cả hai vòng ôm người lớn và cao tầm hai mươi mét, ông cố nội ai leo cho được thưa quý anh? Ai không được chứ Bảy Bền thì pha. Bảy chả có võ nên nào biết Bích hổ du tường là cái ba láp ba xàm chi, Bảy cũng chả tin cái vụ nhún một phát bay lên như trong phim tàu. Tôn Ngộ Không cũng xạo luôn. Bảy trèo theo kiểu của Bảy và truyền nghề cho anh em thợ chả dấu diếm chi.
Bảy ra lò rèn đặt đánh bốn mươi cây đinh. Mỗi cây dài bốn mươi phân bằng thép lò xo phuộc nhún của xe Zeep lùn còn sót lại từ thời mồ ma ông cộng hoà. Không có loại thép nầy thì phải tạm sử dụng sắt rằn Pi 12. Thêm một cây búa ba ký mà cái cán cũng được hàn bằng thép trắng. Một sợi đai lưng dùng để trèo trụ điện cao thế là xong bộ đồ trèo cây. Cứ thế Bảy trèo. Cứ lên cao năm tấc nện một cây đinh lút vô hai mươi phân, bốn mươi cây là hai mươi mét. Lên đỉnh rồi tha hồ ta hái. Lưng lửng bao là thả xuống bằng một sợi tời vẫn đeo sau lưng khi chinh phục đỉnh cao. Cái vụ trèo nầy phải gan góc cỡ Phàn Khoái thời Hán Sở tranh hùng bên tàu. Lên cao là gió ngàn lồng lộng thổi. Những ai từng trèo dừa để làm cỏ chắc biết gió ra sao khi trên cao. Nhưng trên một ngọn dừa kẻ trèo không có cảm giác ngợp bởi bên dưới là nhà và vợ con đang à ơi hát bài quê hương. Cái ngợp của màu xanh đại ngàn cực bí hiểm. Ta có cảm giác như đang một mình trên biển xanh bao la với một mảnh thuyền con. Cái ngợp ấy là niềm cô đơn của một sinh linh bé mọn trước hùng vĩ của cao thâm.
Dân sống bằng rừng tất nhiên gan dạ có thừa. Đối phó với sốt rét rừng hay hùm beo lợn rừng thậm chí cả ông Bồ cũng không sợ. Con nít mới lớn cũng coi pha. Một thợ rừng thật sự phải dám trèo lên đỉnh cao khi đi Ươi. Mỗi tốp đi Ươi thường bốn nhân mạng, hai trong bốn dám trèo là bảnh lắm, thông thường mỗi tốp chỉ một đại ca. Những đại ca nầy mệt một tí khi khi trèo và hái trái, bù lại khi gùi sản phầm về xuôi đại ca có quyền đi tay không. Về xuôi để bán không dễ đâu thưa quí anh hào. Ươi cao giá nên lắm thằng trời ơi hạ cây lấy trái, kiểu thu một lần là tận tuyệt. Vì vậy bảo vệ và kiểm lâm bắt rạt gáo bất kể anh trèo hay hạ. Thợ phải cắt rừng xuyên sơn không để hàng làm ra bị lấy lại. Lắm khi phải băng sơn cả ngày mới đến nơi.
Vậy nên Bảy Bền kết nghĩa đệ huynh với một thợ rừng cũng gan góc không thua. Hắn tên Minh Tàn. Tay này một vợ và ba con. Lâm tặc loại chiến. Minh Tàn từng ở tù vị tội trộm gỗ quý trong rừng Cấm. Tù xong hắn nép mình dưới trướng đại gia Sáu làm lồ ô nuôi vợ con. Mùa Ươi có Tàn, Bảy Bền khoẻ re vụ trèo cây. Tàn tuy nhỏ con nhưng khoẻ như con bò, vài chục ký trên vai hắn bước cả cây số mà hơi thở không nặng. Một cục niền năm mươi ký hắn nhấc lên xe bằng hai tay như Trụ Vương bê nàng Tô Đát Kỷ trong phim Phong Thần. Chỉ mùa Ươi mới kéo Tàn và vợ con hắn ra khỏi khổ luỵ của cơm áo gạo tiền. Cho hay nghèo mà ham vui nên khổ thì ráng chịu con ơi. May cho Tàn là biết sống biết chơi nên Bảy lâu lâu cứu trợ bạn hiền vài đồng cho qua thì mưa gió. Không có Bảy e rằng vợ Tàn qua không khỏi cái đận bị hư thai đứa thứ tư. Mẹ cha ơi đêm hôm khuya khoắt mà vợ hắn than đau bụng. Bảy phải đích thân đánh Zin 130 qua mặt đại gia Sáu đưa vợ bạn lên bệnh viện Huyện. Bạn bè vậy chớ sao nữa bây giờ hả ba quân? Tốt quá thì thôi.
Nhưng có một chuyện mà Minh Tàn nhớ ơn Bảy suốt đời không thể nào quên. Ơn nặng bằng sinh thành chứ không ít. Số là mùa Ươi năm ấy Tàn bị một tai nạn hi hữu tưởng chết. Sống được thì quả là mạng lớn tầm thái sơn. Tàn trèo lên đỉnh một cây ươi hái trái sao đó không biết mà hắn bị sẩy tay rơi xuống, may thay một cánh tay của thân Ươi giữ Tàn lại bởi xóc vô áo. Áo thợ rừng bằng nilon tốt nên Tàn ta tòng teng. Nó mà toác một phát thì Tàn du địa phủ. Dưới gốc cả bọn toát mồ hôi khi nhìn Bảy Bền bò ra cành cây cứu thằng bạn. May quá cây Ươi ngó vậy mà dai. Ơn cứu mạng nầy đã khiến Tàn và thợ rừng làm mây tre cho chủ Sáu kính trọng Bảy lắm.
Nói chung về gan dạ và tinh thông rừng Bảy Bền là số một. Sống với bè bạn có tình có nghĩa cúng hết ý luôn.
Nhưng như vậy đâu đã hết cái ngon lành của Bảy với rừng. Ba cái cây ăn trái và mây tre lá chỉ là chuyện vặt, dù cái vặt nầy là sự sống của vô thiên vô lũng dân dưới đáy cuộc đời. Cái làm nên tên nên tuổi Bảy Bền là một nghiệp khác, nghiệp nầy có làm vẫn đục đi tí chút tình thân của Bảy và Minh Tàn. Tàn cho rằng trên đời nầy không có chi độc ác hơn là phá nhà cướp của nhà người. Ủa… chớ nghiệp chi mà nghe rỡn ốc vậy kìa? Xin thưa đó là nghiệp ăn Ong. Đúng rồi. Đi lấy mật ong đồng nghĩa với phá nhà cướp của chớ còn chi nữa. Nhưng nói vậy liệu có cực đoan không? Té ra câu vật phải dưỡng nhơn là sai à? Vậy thì lấy mật đâu mà… rơ lưỡi cho trẻ mới sinh?
– Nói thiệt với mày – Bảy Bền nói với Minh Tàn – Bọn nhà giàu ăn Tay Gấu, Óc khỉ, Hà nàm(1) cheo chồn nhím thỏ heo rừng có sao đâu? Nói như mày thì hạ một cái cây cũng ác vậy. Ác ác ác cái con khỉ. Tao thấy mấy thằng quyền chức khen cái rượu ngâm ong non quá chừng luôn. Nhất là Vò vẻ hay ong Lỗ.
– Mày chỉ biết cái trước mắt mà không biết cái nguy hại về sau. Con ong cái kiến hay bất cứ một sinh linh nào có sự sống là có quyền tồn tại như tao và mày. Một cái cây cũng có linh hồn của nó. Trong Truyện Kiều ông Nguyễn Du viết rằng: Cũng là phận cải trôn kim. Nghĩ là một hạt cải, một cái trôn kim bị sứt cũng có số phận của nó…
– Dẹp mày đi. Tao mới lớp ba chả biết ông Du cô Kiều nào hết. Tao làm gì kệ mẹ tao, rủ mày đi kiếm tiền không đi thì thôi đừng có dạy khôn tao.
Nói vậy chứ ăn ong đâu phải ai cũng làm được. Không có nghề ong nó đốt cho mất xác chứ chơi sao? Ong ở rừng miền Đông đâu phải như ở miệt U Minh trong Đất rừng phương nam của ông Đoàn Giỏi. Đâu đơn giản đến mùa là vào rừng canh hướng gió đặt kèo chờ ngày lấy mật. Ong mật miền Đông đóng tổ trên cổ thụ cao cả mười lăm mét là thấp. Có tổ to bằng tấm chiếu đơn, chỉ cần xin một nữa là có cả vài mươi lít tinh tuý của rừng. Phải có bí quyết mới dám đụng vô nơi ở của chúa rừng. Xưa nay ai cũng nhầm ông ba mươi là chúa sơn lâm. Xin thưa chúa của rừng xanh phải là Ong mới chính xác. Có những tổ ong đóng trên cao cả Gấu chúa cũng chờn không dám to toe. Chưa leo đến đã bị đánh cho tối mặt còn đâu nữa mà ăn? Riêng cái khoản ong Lỗ thì chúa sơn lâm phải cong đuôi chạy dài. Thậm chí chạy mà vẫn bị đuổi theo đánh cho kỳ chết mới thôi. Thiên hạ nghe đến ong Vò vẻ là đã chờn, Vò vẻ mà so với ong Lỗ thì chẳng ra chi. Đã có người bị ong Lỗ đánh đến thối thịt.
Có dữ đến mấy vào tay của Bảy Bền là xếp giáo quy hàng. Hôm đó một thợ rừng đang vác lồ ô vào đống thì bị ong Lỗ tấn công. Ba chân bốn cẳng anh ta chạy về chòi. Nghe kể, Bảy Bền liền khoác túi dết rồi thân chinh đến nơi. Chỉ một mồi lửa và một cái chi đó trong túi dết được đốt lên mà Bảy Bền dám bật nắp một tổ ong Lỗ mà vĩ chứa ong non có đường kính những năm mươi phân. Cả chục vĩ như vậy. Bảy Bền khẳng định rằng trong tất cả các loại con non các loài thì ong Lỗ và Vò vẻ là tốt nhất. Hà nàm của thú bốn chân cũng không qua. Con ong non ngâm rượu là một loại phục hồi khí lực của đàn ông tốt nhất trần đời. Cả sâm nhung quy thục bên tàu cũng không dám bì với ong non. Nhìn tổ ong Lỗ bị diệt Minh Tàn lắc đầu:
– Tổ ong nầy đâu có ghẹo mày mà mày giết nó vậy?
– Thằng Dũng Giỏi suýt bị giết mày biết không?
– Đụng đến thì nó cảnh giác vậy thôi, nó đuổi chứ có đánh đâu, nếu nó đánh thằng Dũng chạy lên trời cũng không thoát. Mày coi chừng bị trả quả cho coi.
– Nhân với chả quả. Mày yên cho tao nhờ cái coi.
Dữ như ong Lỗ mà Bảy Bền còn trị cái một thì ong Mật là nguồn thu tuyệt vời nhất mà Bảy có. Thời nào cũng vậy gian trá luôn đi kèm. Thấy một thằng chở mật trong rừng ra, mật còn nằm trong vĩ sáp hẳn hoi mà vẫn cứ là nước đường. Chỉ mật của Bảy là tuyệt đối không pha. Và nguyên chất luôn có giá của nó. Đại gia nào muốn có mật tốt cứ gặp Bảy. Ai mua mật muốn biết thiệt chơn cứ đưa cho Bảy. Ba cái vụ thử lá hành không đáng tin bằng cái lưỡi của chính chúng ta. Mật ong là tinh tuý của hương hoa đương nhiên nó phải nhẹ hơn mật của đường. Một chai mật ong bọn gian trá luôn cho mật thiệt nằm trên. Muốn thử ta rót ra chén. Mật ra trước trong lưỡi ta có vị khác mật giữa chai. Chả một thằng bán mật gian manh nào qua được Bảy.
Thiên hạ rừng X gọi Bảy là chúa không ngoa tí nào hết.
Và chúa chết vô cùng thảm khốc.
***
Ngày nay hầu hết dân X vẫn còn kể cho nhau và con cháu nghe về cái chết của Bảy Bền. Quả ông bà dạy sinh nghề tử nghiệp không ngoa tí nào hết. Ăn ong lên đến hàng sư như Bảy mà vẫn không thoát sự truy sát của thần rừng. Ai từng mục kích và tham gia chôn cất Bảy Bền đảm bảo tin rằng rừng có thần.
Mùa Ươi tàn. Dân mây tre trở lại nghiệp chính, tuy vậy vẫn còn một số kiếm cú chót trước khi mùa mưa đến. Những năm tháng ấy rừng còn nhiều nên thời tiết rất ổn định. Giữa tháng ba âm lịch dân nương rẫy đã xuống giống đón mưa, và chắc ăn là chỉ ba ngày sau khi xuống là cây mưa đầu mùa đến tức khắc.
Hôm ấy thằng Đen chạy về hào hển nói vOi Bảy Bền:
– Chú Bảy ơi… tui đi mót Ươi gặp một tổ ong Thế to lắm.
– Ở đâu?
– Nó đóng tổ trên một cây Ươi ở đồi Tượng.
– To cỡ nào?
– Bằng cả tấm chiếu chú ơi. Tui đang lượm nghe ù ù trên đầu, sợ quá chạy về báo cho chú hay
– Mày dẫn tao đi lại chỗ đó coi.
Ngay chiều hôm ấy Bảy Bền theo xe về xuôi. Hôm sau có mặt tại hiện trường thêm thằng em vợ tên Bằng và một đệ tử tên Hoà. Thường thì khi lấy Ươi có thêm Minh Tàn là đủ bộ tứ. Nhưng gì chứ ăn ong thì không có tên Minh. Theo Bảy Bền thì chẳng qua Tàn ta sợ ong đánh nên lên giọng chứ đạo đức cái con mẹ gì thằng tù đó:
– Mẹ nó – Bảy Bền nói – nó tù thì chớ còn từng làm trong lò mổ heo. Trâu mà nó con lột da sống bằng lưỡi câu nữa kìa.
Nói xong ba thày trò lên đường, Đen theo luôn cho đủ bộ:
– Mày cứ ngồi yên dưới gốc coi tụi tao làm, về tao cho mày năm lít. Được chưa?
Trước khi nện đinh thép vào thân cây Bảy Bền đốt sáu cây nhang đại. Nhang đại dài tám mươi phân to bằng ngón tay cái. Bảy dắt vô dây lưng ba cây, ba cây còn lại giao cho ba đệ tử. Trước đó bầy ong nghe động đã thả rơi tự do từng tảng ong xuống đầu bộ tứ rồi bay lên nghe ù ù như tiếng máy bay. Vậy mà không biết trong mấy cây nhang Bảy pha chế cái chi mà bầy ong không dám lao xuống. Chúng chỉ bay đen ngòm và đặc sệt bên ngoài ù ù ù ù nghe vô cùng kinh rợn. Không kinh nghiệm lão luyện là đứng tim chết tại trận. Thăng Đen lần đầu nên mặt tái như chàm đổ. Không có cái tỉnh khô của Hoà và Bằng là nó bỏ của chaỵ lấy người.
Cứ thế Bảy nện đinh đến đâu lần lên đến đó bằng đai lưng trèo trụ điện. Bầy ong tuốt trên cao ù ù hâm doạ chả làm Bảy động tâm. Đóng đến cây đinh thứ ba mươi, nghĩa là độ cao áng chừng mươi lăm mét thì sự cố đến.
– Trợt chân chăng?
– Không.
– Dây thắt lưng bị đứt?
– Không. Dây cáp dù bẹ ba xịn đứt sao được.
– Vậy thì cái gì?
– Trời hại.
Đúng lúc đó mây đen kéo đến và cây mưa đầu mùa của rừng Miền Đông nhanh chóng tràn qua. Trời hại hay thần rừng lấy mạng thì cũng như nhau. Mưa đủ để tắt sạch mấy cây nhang đại – cái mà – dùng để cho tất cả các loại ong hãi sợ hoàn toàn mất tác dụng. Về sau mấy thằng chuyên ăn ong kể rằng, thông thường khi mưa đến ong sẽ lui về để bảo vệ tổ và ong chúa. Nếu vậy thì Bảy Bền đủ thời gian để tuột xuống và chạy. Nhưng không hiểu sao bầy ong ào vào Bảy và tấn công. Hàng tỷ con ong Thế. Loài ong mật dữ như gấu ngựa, con nào con nấy to bằng ngón tay út tha hồ đánh kẻ đang phá nhà mình. Ba thằng dưới gốc hãi quá ba chân bốn cẳng tuôn theo đường mòn chạy về chòi.
Sau cây mưa toàn thể thợ rừng ngồi ở chòi nghe báo cáo sự thể. Không một thằng nào dám lên hiện trường xem Bảy sống chết ra sao. Mẹ ơi có nghề có cả đồ nghề còn chết nói chi tay không. Tài xề chở lồ ồ về xưởng báo ngay cho đại gia Sáu. Sáu báo lên chỉ huy lâm trường. Ngày hôm sau các quan rừng và vợ cùng hai đứa con của Bảy có mặt. Cũng chả ai dám thâm nhập hiện trường. Lúc đó đại gia Sáu mới nhớ đến Minh Tàn.
Minh Tàn đang chăm bà xã hắn ở bệnh viện. Đại gia Sáu phải nhờ môt hộ lý chăm lo người bệnh rồi đưa Tàn lên rừng bằng Min khơ 125 phân khối. Minh đến ngay hiện trường không một chút sợ hãi. Về sau hắn nói với anh em rằng sau hai ngày một đêm cái xác đã lạnh giá. Ong là loài thanh khiết và tinh khôn. Bằng chứng là nó chỉ giết kẻ phá mình chứ tha cho ba thằng ăn theo. Chúng mà cố tình thì cu Đen, Hoà và Bằng lên trời cũng không thoát. Xác chết đã nặng mùi tử khí nên đàn ong phải ra đi.
Đưa cái xác của Bảy xuống là một kỳ công của Minh Tàn.
Và rất ngoạn mục.
Những sợi dây trên những chiếc Zin 130 dùng để cảo cứng lồ ô trước khi rời rừng được tập trung. Tàn nối một sợi dài thăm thẳm rồi theo nhưng ngọn đinh trên cây ươi cứ thế leo lên. Tất nhiên là cũng đai lưng tử tế. Đến bên Bảy Bền, Minh Tàn cột một đầu dây vào lưng anh ta. Lấy cái túi dết đựng đinh và cây búa. Minh tiếp tục nện đinh vô thân cây lên đến cái nhánh mà cái tàng ong trắng như hoa bưởi đang tại vị. Nó to bằng tấm chiếu là có thật. Minh cột sợi dây vào nhánh cây rồi lại bò xuống chỗ xác chết. Hắn ta rút trong túi dết ra một lưỡi dao, thọc mũi nhọn vào cái đai lưng của Bảy Bền. Đai lưng đứt và Bảy Bền tòng teng bởi sợi dây được cột chặt bên trên.
Thật khủng khiếp.
Một người chết đang lơ lửng trên không.
Minh Tàn lại trèo lên nhánh cây. Tháo sợi dây đưa xác chết từ từ xuống đất và Bảy Bền lên xe Jin về nhà để ra nghĩa địa.
Nguyễn Trí

Cô giáo Trinh

nguyentri

Đủ mười bẩy điểm. Trong đó hai điểm ưu ái người thiểu số và một điểm cho mã vùng sâu xa Trinh vào đại học sư phạm. Cô chọn khoa tiểu học cho hành trình chinh phục tương lai.
Ông dượng của Trinh – ông nầy nông dân nên dùi đục lắm – bàn rằng:
– Sao không trung mà tiểu học? Thời nầy lương lậu giáo chức vẫn còn dứt cháo, theo trung học chuyên toán lý hoá sinh ngữ để thêm bớt mà dạy còn kiếm chút cháo chớ tiểu học thì có mà đoi sắc sớm. Mày không thấy mấy ông thầy bà cô ở đây à? Tay ga nhà tô nóc thái là dạy thêm mà có đó con ơi.
– Con không dạy thêm đâu. Con thề đó.
– Thề sao? Sao mà thề?
Cô Trinh kể chuyện học thêm nghe mà tội nghiệp. Bà má và bà bác của cô đi làm thuê muốn hộc xì dầu ở mấy cái nông trang trồng rau củ quả. Lương lậu hẻo lắm và lại làm thời vụ, nghĩa là có việc thì người ta kêu, hết thì xù. Mẹ goá con mồ côi, bà bác không chồng, nhà ở thì như cái tổ đĩa. Vậy mà lòng dạ nào để thêm bớt cái vụ học? Bà má tội nghiệp thương con lắm, bà bác còn thương hơn. Họ quyết cho Trinh ra ngô ra khoai, không thể để dốt nát làm cùn mằn con cháu như họ được. Trinh học cũng khá nhưng hai bà già muốn con cháu mình phải giỏi. Có giỏi mới vô được đại học. Và giỏi à? Vậy thì phải học thêm.
Trinh mồ côi cha nên nhạy cảm lắm với mồ hôi và ánh mắt của hai bà mẹ. Ở năm lớp tám Trinh nhận ra sự bất thường. Bạn cùng lớp, cùng khối lớp công khai nói về sự không hay trong thêm bớt. Rằng nhỏ đó thêm nên bài kiểm tra tuần nầy nó điểm cao vì biết trước, nghĩa là cô đó, thầy đó lấy bài dạy thêm cho làm kiểm tra ở lớp. Bạn cùng lớp học như bị buộc và Trinh nhận ra cách đối phó của bạn. Chỉ cần học thêm thì cái chuẩn lên lớp ăn chắc không cần thi lại. Thậm chí tiên tiến cũng không chi lạ. Tất nhiên muốn thêm phải có tiền. Nhiều tiền. Nghèo như nhà Trinh để thêm bốn môn toán lý hoá sinh ngữ thì thật sự nhiêu khê. May quá. Mẹ và bà bác ráng được. Mắt của mẹ có tối một chút cũng không sao. Tay bà bác có chai thêm một tí cũng không sao. Cả hai bảo vậy. Nhưng Trinh không thấy vậy.
Trinh thấy mình là gánh rất nặng.
Ở nửa năm lớp tám Trinh đã manh nha ý định đi làm. Đơn giản là anh chị em bà con cô bác trong xóm nhỏ nơi Trinh cư ngụ xong lớp chín là chia tay trường lớp để mưu sinh. Chưa đủ tuổi lao động để trở thành công nhân thì họ làm thời vụ. Cũng có anh chị xong đại học nhưng vẫn bế tắc chuyện công việc. Nhìn họ bà bác nói:
– Con Trinh cố cho xong mười hai rồi vô trung cấp kế toán, học thêm tiếng Hoa đi làm cho mấy công ty Đài Loan là nhứt hạng. Con Hồng con bà Thắm lương bây giờ là tám triệu một tháng lại làm trong phòng máy lạnh, sướng như tiên.
Chao ôi! Niềm mơ ước của bà bác rất chi lớn với gia cảnh hiện tại. Mơ ước và sự lam lũ của hai người thân khiến Trinh chạnh lòng. Nó làm cho cô gái bắt đầu dậy thì những nghĩ suy vẫn vơ. Nhiều vơ vẫn tụ lại cũng hoá lơn lớn. Chính nó khiến sự học của Trinh chững lại. May mà các môn thuộc tự nhiên Trinh không bị mất gốc nên bình yên, riêng vụ anh văn cô đã làm mất lòng cô giáo bộ môn. Không riêng Trinh mà hầu hết tuy lớp tám nhưng thì hiện tại đơn giản dùng để diễn tả cái chi thì chỉ vài ngoe biết được. Và cái sự biết nầy được gia đình gửi thêm bớt từ lúc còn tiểu học. Trinh thì một câu hoàn chỉnh viết còn không xong lấy đâu để nói? Các cô thầy của bộ môn nầy còn bó tay nói chi trò. Hơn một lần khách nước ngoài đến tham quan Trinh đã thấy cô giáo nói chuyện với họ bằng tay và giấy bút. Làm sao người ta có thể nói tiếng Anh khi xung quanh toàn người Việt? Cô nói không xong thì trò viết không thành cũng có chi lạ đâu. Vậy mà cô giáo mắng Trinh ngay giữa lớp là lười biếng là dốt nát vân vân:
– Mày không học thêm là không yên với bả đâu. – Bạn cùng lớp nói với Trinh.
– Tao không học đâu.
– Bả đì mày cho coi…
– Đì thì đì… mất gốc như tao học thêm cũng ngu thôi. Sao tao thù cái vụ học thêm nầy quá. Tao thề nếu chẳng may thành giáo viên sẽ không bao giờ dạy thêm.
– Không thêm thì ăn cháo.
– Cháo thì cháo…
Nhưng đời lắm cái thật buồn cười, chả ai định trước được cho mình cái chi sất. Tương lai muôn đời là bí ẩn. Hai bà mẹ kiên trì đưa Trinh qua cái ải cấp ba một cách xuất sắc nhưng cái mơ ước trung cấp kế toán đi làm cho công ty của bà bác bị ông dượng dùi đục chắm mắm cáy đập tan tành:
– Có làm thuê thì thuê cho bảnh. Cố cho có đại học thì thuê mướn vẫn cứ ngon lành hơn.
Và chỉ có sư phạm miễn học phí đào tạo nên Trinh thi. Khi cô chọn khoa tiểu học ông dùi dục mắm cáy bàn rằng tiểu học mệt lắm lại không thêm bớt chi được. Thời nầy không dạy thêm thì đói con ơi…
Ông không biết Trinh ghét vụ thêm bớt nầy.
***
Ở ký túc xá nhưng bốn năm sáu tháng mà Trinh khắc kỷ như một nữ tu vậy. May mà bạn cùng phòng cũng xuất phát điểm từ ruộng đồng nương rẫy. Ai cũng khó nên không dám màng đến cái phồn hoa của thị thành. Cả yêu đương cũng không. Các cậu trai đành bó tay chấm o rờ gờ khi nghe Trinh và bạn cùng phòng nêu quan điểm phải làm chủ đời mình trước khi chọn một ai đó để nhờ cái bờ vai. Trinh xinh xắn dễ thương lắm lắm nhưng ám ảnh bởi sự cằn cỗi của hai bà mẹ nên quyết khoan cái vụ yêu. Lắm anh con nhà sẵn sàng cho cô một bước lên xe hơi.
Sau bốn năm sáu tháng cô ra trường với cái bằng tốt nghiệp loại khá.
Chừng ấy thời gian hai bà mẹ dồn hết tâm và lực của mình để cho cô gái xong sự nghiệp là một nổ lực to lớn. Nhưng tấm ảnh cô Trinh mũ áo tân khoa tay cầm bằng tốt nghiệp không đánh tan niềm âu lo trong mắt hai bà mẹ tội nghiệp, ngay cả Trinh cũng không vui. Xong đại học thất nghiệp là thường ngày ở huyện, xong sư phạm như cô không có nơi để dạy cũng hết sức thường. Cả ba chung một hiu quạnh khi nghe rằng trong nghiệp nầy, vào thời nầy, không chung chi thì không thể có một suất trên bục giảng. Nghe đâu phải năm bẩy mươi triệu, dính líu với tiêu cực không có cò là bằng không. Cứ cầm chắc trăm triệu là đâu vào đấy. Và – trời ạ – chung chừng ấy để có lương vài triệu một tháng thôi ư? Và nếu hai bà mẹ có ngần ấy tiền thì họ dư sức để làm một cái chi đó ung dung nhàn nhã hơn để sống chả cần chi nhiều vô chữ nghĩa. Thực là khó.
Nhưng ông dùi đục bàn như vầy:
– Mày cứ nộp các cái lên phòng giáo dục, cứ đi thi công chức đâu ra đó cho đàng hoàng. Trong khi chờ đợi thì đi xin dạy hợp đồng ở ba cái cơ sở tư thục xem sao. Đừng có nghe nói… hề hề hề… tao cũng có nghe và cũng có biết sơ sơ vụ chung chi trong cái ngành cao quý nầy. Nhưng… hề hề hề… cái bằng của mày là dạng khá mà, với lại tiểu học ở xứ mình đang hiếm. Cứ làm như tao rồi hạ hồi phân giải. Trong mười cái tiêu phải có ba cái tích. Không ai dám tiêu sạch sành sanh đâu. Mày sẽ là một trong ba cái tích tao vừa nói nếu mày thật sự khá.
Hè thì hè tư thục vẫn hoạt động như thường. Hồ sơ của cô chả có chi phải bàn. Được đứng lớp hai bà mẹ mừng chi xiết kể. Các cái trong tầm chuyên môn nên không có chi khó với cô giáo trẻ. Hai triệu tám trăm nghìn cho tháng lương đầu đời Trinh đưa nguyên phong bì cho mẹ, bà mẹ mặt tươi như hoa khi con gái duy nhất đã tự kiếm ra được tiền, nhưng ông dùi đục cười:
– Tao lớp năm trường làng. Theo phụ hồ được năm tháng là lên thợ, lương ngày ba trăm, một tuần cầm chắc triệu tám, ưng làm, không ưng ở nhà nhậu. Bà mẹ nó – mười hai năm phổ thông thêm năm năm đại học được ba triệu bạc. Kỳ cục thiệt.
Kỳ cục chỉ là chuyện nhỏ. Dùi đục nói tiếp:
– Tao đây bộ áo quần lao động bảy chục ngàn bạc là hết phép. Mày giáo viên phải luôn luôn đẹp. Ba triệu thì làm sao hả con? Hồi đó tao đã nói theo cái trung học dạy thêm mới đặng vậy mà mày không nghe… Mà thôi liệu cơm gắp mắm. Tư thục chỉ tạm thời thôi. Lo nộp hồ sơ lên phòng nếu may mắn được đứng chính quy trong ngành thì mới tồn tại lâu dài. Tư thục là lệ thuộc dữ lắm, ưng nó hợp đồng không ưng nó cho nghỉ là vong mạng liền.
Trinh đi thi công chức và có vị thứ chín trong tổng số bốn mươi thí sinh dự thi. Quả là lời bàn của thiên hạ vô cùng bá láp. Ngay cả ông dùi đục cũng thay đổi suy nghĩ khi Trinh được phòng giáo dục điều về một trường tiểu học cách nhà năm cây số để tham gia giảng dạy. Ban giám hiệu trường cũng như toàn thể giáo viên đón Trinh như đón người thân. Cô nói với ông dùi đục sau một tuần đứng lớp:
– Con tưởng tốn như người ta nói.
– Chẳng qua cái bằng của mày nằm dạng khá. Thi công chức trong tóp mười. Quan trọng nhất đại học tiểu học đang là hàng hiệu ở xa xôi như xứ mình. Vậy là tạm gọi yên bề. Nhưng bây giờ cũng chỉ nằm trong dạng thực tập thôi con. Phải giảng dạy cho giỏi là một, hai là quan hệ với đồng nghiệp và lãnh đạo phải thiệt tốt thì mới có cơ hội vô biên chế. Hiểu không?
– …
– Trong cái quan hệ với đời sống của dượng mày đây cũng nghệ thuật lắm đa con. Phải biết mềm như mây và dẽo như nước. Thằng thợ hồ như tao cũng tự cho mình là nhứt huống chi kẻ chữ nghĩa và quyền thế trong tay. Nói nhỏ mày nghe ông phật nói Thiên thượng hạ địa duy ngã độc tôn, nghĩa là trên trời dưới đất chỉ có cái tôi của ta là tổ chảng. Mày hiểu không? Chớ có tự hào, tự mãn. Đừng tưởng mình quan trọng mới mong mà sống được trên trần ai nầy.
Trinh nghe thì nghe vậy chứ cô gái hai mươi lăm tuổi làm sao hiểu được thế nào để mềm như mây dẽo như nước. Trinh sống và hành động theo kiểu của cô. Cái kiểu sống của một con người luôn luôn phải dấu cảm xúc thật của mình bởi sự túng hụt. Tập sự nên cô phải nhờ vã người đi trước hơn là có ai đó nhờ cô. Đại học của cô chả có gì cao giá so với những người đã đừng lớp từ vài ba cho đến cả chục năm. Trinh chả có chi để tự mình khen mình nói chi hào hay mãn. Và – quan trọng bậc nhất – lương tập sự của Trinh chỉ hai triệu năm trăm nghìn một tháng. Nó thua anh tư thục những năm trăm nghìn.
Nhưng ông dượng dùi đục chắm mắm cáy không có thời gian để nói câu thợ hồ như tao bảnh hơn mầy gấp hai lần rưởi.
Ông tròn xoe mắt ra mà kinh ngạc.
***
Thợ hồ là em rể của bà bác là anh rể của mẹ Trinh. Vợ chồng ông nầy nghèo mà ham vui nên những bốn đứa con. Tổ sư thực dụng nói:
– Trên đời nầy thằng ngu nào cũng muốn con cái mình ăn học đến nơi đến chốn. Nhưng không điều kiện thì – a lê hấp – nhứt nghệ tinh nhứt thân vinh. Ruộng bề bề không bằng một nghề trong tay…
Con cái ông dùi đục xong lớp chín là học nghề ráo. Thằng theo cha làm thợ hồ, đứa bào đục ăn lương trong trại đóng hòm, hai đứa con gái làm công nhân. Nói chung chả giầu có gì nhưng cũng rượu sớm trà khuya. Dùi đục vô cùng kinh ngạc khi bà chị nói:
– Dượng kêu thằng Huy – Con trai của dùi đục – đóng cho con Trinh hai chục bộ bàn ghế.
– Chi vậy?
– Con Trinh thuê nhà dạy thêm.
– Dạy thêm?
– Ừ.
Để giải phóng bất ngờ bà chị vợ kể rằng ở cái trường Trinh đang công tác cô thầy nào cũng thêm hết. Lớp của ai người ấy tự thêm. Trinh được đồng nghiệp giới thiệu thuê một căn nhà làm nơi mở lớp. Bây giờ là đóng cho ra hai chục bộ bàn liền ghế dành cho bốn mươi học sinh.
– Bốn mươi đứa học thêm hết luôn?- Dùi đục cực ngạc nhiên.
– Ừ.
– Cả trường ai cũng thêm sao không mượn phòng ốc của trường cho tiện?
Cô Trinh nói với thợ hồ rằng ban giám hiệu trường vờ nhắm mắt cho giáo viên thêm thắt. Cũng chẳng quan trọng chi vì thêm bớt đang nằm trên bàn tranh luận, và trong khi tranh ta cứ thêm, nhưng không nên để dư luận xì xào. Vậy là ai muốn thêm thì tự thân vận động. Trinh hiền diệu, dễ thương. Tốt nghiệp đại học dạng khá nhưng khiêm tốn cực kỳ. Đồng nghiệp yêu lắm nên nói cô thêm đi để cải thiện. Rõ ràng là lương Trinh nhận suốt một học kỳ đã cho cô cặn kẻ thế nào là thanh bạch của nghề giáo.
May quá – thiệt là may – nơi Trinh dạy đang đô thị hoá để đạt chuẩn nông thôn mới. Bốn mươi học sinh lớp Trinh dạy hầu hết cha mẹ đang làm việc tại những công ty. Buổi sáng đưa con cháu đến trường trưa chúng về với ông bà nội ngoại. Chiều chúng làm chi có trời biết. Vậy cho chúng học thêm với cô thầy đương nhiệm còn chi tốt hơn. Cái mà cô Trinh từng thề không bao giờ thêm bớt nếu mình trở thành giáo viên nhanh chóng phá sãn bởi lương chính quy và phụ huynh khẩn khoản. Có là thánh cũng không cản được sức cám dỗ của phù hoa và lời đường tiếng mật nói chi cô Trinh.
Bốn mươi học sinh học thêm một tuần sáu buổi chiều phụ huynh trả cho Trinh ba trăm nghìn một tháng. Bốn mươi nhân ba trăm. Ông thợ hồ kinh ngạc:
– Mười hai triệu?
Nhưng chuyện không ngừng ở đó. Dạy thêm chỉ là chuyện nhỏ, rất nhỏ. Quà tặng cho thầy cô ngày hai mươi tháng mười một cũng bé tí hin. Thợ hồ lại ra tay cơi nới phần sân nơi dạy học để bà chị và cô em vợ làm thêm công tác hậu cần cho học trò cô Trinh. Phần sân là nơi giảng dạy. Bên trong nơi mẹ và bà bác phục vụ bữa ăn và nghỉ trưa cho bốn mươi học sinh của cô.
Thợ hồ dùi đục trầm ngâm khi khui móng xây nhà cho bà chị vợ:
– Bà mẹ nó – tui cũng cố cho thằng cháu nội đến nơi đến chốn. Muốn không muốn cũng buộc nó theo đại học tiểu học.
Nguyễn Trí

Bay cao thì mặc bay cao

nguyentri

Thật kỳ lạ. Chả có cái nhà nào trong toàn cõi nước Nam như nhà ông Quốc. Chắc là mã tổ táng trên đất dữ. Ông Quốc là một, thằng con tên Đĩnh là hai giờ đến phiên thằng cháu nội Đạc cũng bị luôn thì có kỳ quái không? Dư ruột. Hai từ nầy tuy dễ phát ngôn nhưng trị nó thì lắm anh nhà giàu còn chới với nói chi nghèo. Hãy xem cu Đạc.
Đang yên đang lành bổng cu Đạc héo hon gầy mòn nuốt không được và xả không ra. Từng bị nên Đĩnh tức tốc đưa con đi viện. Sau vô số cái gọi là siêu âm đến nội soi. Hồ sơ bệnh án kết luận cu năm tuổi bị dư ruột. Muốn yên phải cắt bỏ. Muốn phẩu thuật chí ít Đạc phải có trọng lượng là hai mươi ký lô. Trước mắt là đục một cái lỗ bên hông cho chất thải vô bịch nilon. Gia đình mang về bồi dưỡng kỹ vào, mỗi tháng tái khám một lần. Chừng nào đủ kí lô và đảm bảo sức khoẻ ta tính tiếp. Hai vợ chồng Đĩnh thiếu điều đi ăn mày.Chòm xóm láng giềng thương lắm nhưng biết làm sao? Đĩnh phải na cái thân từng bị cắt bỏ năm tấc ruột đi kiếm tiền. Việc kiếm tiền của Đĩnh bị thiên hạ cho là thất đức. Mà thất thiệt chứ không chơi.
Đĩnh hành nghề bẫy chim bán cho bá tánh. Bá tánh ở đây gồm ba loại.
Loại thứ nhất là dân chơi chim kiểng.
Loại thứ hai là quán nhậu
Loại thứ ba là dân mua thiên đường và niết bàn bằng chiêu thức phóng sinh.
Nghiệp nầy Đĩnh kế thừa từ ông Quốc. Thuở thiên hạ nếu không nương rẫy phải rừng rú mới có cái tọng vô mồm thì từng qua mổ xẻ vì dư ruột như ông Quốc sức đâu mà cuốc ruộng hay chặt cây? Bù lại ông trời cho Quốc một tài vặt là giả giọng rất hay. Bất kỳ con nào Quốc giả thì con thú ấy còn bị nhầm nói chi con người. Dân nhậu rất chuộng mồi màng các loại chim. Lá rụng, Két hoặc Cút rừng không con nào qua được mặt con Cuốc. Cuốc hiếm lắm, chỉ kiếm ăn vào ban đêm. Bên những con lạch, bờ tre hồn ông vua trong hai câu thơ “ khắc khoải sầu đưa giọng lững lơ, ấy hồn Thục đế thác bao giờ…” gõ nhịp cuốc cuốc thảm sầu không xiết kể. Để bẫy phải có tài dụ dỗ bằng cách giả giọng. Rất nhiều thằng theo nghiệp nhưng không trụ được như Quốc. Vì sao? Vì có đêm Quốc kiếm được cả chục thì thằng khác nhiều lắm hai con là hết phép. Đâu phải cứ giả giọng là xong. Quan trọng anh phải biết cái giọng kiếm bạn tình của loài chim nầy mới ăn. Về sau mỏi miệng quá Quốc mới tậu cái thu băng. Bốn giờ sáng bà con cô bác nghe tiếng cuốc vang vang là biết ngay Quốc đang lặn lội kiếm tiền để lo cho cái dư ruột của thằng con tên Đĩnh. Vậy là bá tánh vừa cầu cho linh hồn con chim Đỗ Quyên siêu thoát vừa cầu cho cu Đĩnh mau đủ hai chục ký mà mổ. Một con Cuốc quán nhậu thu gấp chục lần con Cút. Không có nó không chừng ngày nay Đĩnh xanh cỏ như cha.
Ông Quốc còn có tài bẫy Nhồng. Loài chim nầy nhà giàu nuôi để làm kiểng bởi nó biết nói. Muốn bẫy kẻ theo nghề phải có một con mồi thiệt ngon. Một con nhồng mồi giá ít nhất là năm chỉ vàng, phải kiệt cùng kiểu người thân có nguy cơ chết chủ sở hữu mới đành đoạn bán. Nhồng mồi phải là loại mới ra ràng. Dân chuyên nghiệp phải rập rình lúc nào anh chị yêu đương, lúc làm tổ và lúc nào đẻ. Loài chim này không làm tổ dưới đồng bằng mà trong hốc những cây cổ thụ trên non. Có anh chị làm nhà trên ngọn cây cao cả hai mươi mét. Chờ cho chim con tập bay ta trèo lên lúc đêm hôm khuya khoắt mới bắt được. Trèo cổ thụ bắt Nhồng khó gấp một chục lần bắt ong. Bắt ong người ta dùng đinh thép dài bốn mươi phân đóng vô thân cây. Thắt lưng giầy đinh của thợ trèo trụ điện lên đến đâu nện đinh đến đó. Bắt Nhồng không được để cho chim mẹ nghe động. Phải khéo léo như vua ăn trộm Thời Thiên trong Thuỷ Hử mới đặng. Vậy mà chỉ con non sợ bóng tối chứ mẹ thì đừng hòng bắt được. Để có một chú nhồng non khó vậy đấy, nhưng đó chỉ mới là bước đầu tiên. Để luyện cho ra một con mồi thì nhiêu khê hơn một tỷ lần. Con Nhồng ăn ớt thuộc loại khủng nhưng hể thấy máu là lăn ra chết. Để thần phục người ta cho Nhồng ăn cơm trộn chung với lòng đỏ trứng gà ta, phải âm ấm nó mới ăn, nóng nó chê, nguội ngoảnh mặt. Đã nói một con mồi trị giá năm chỉ vàng chứ đâu ít. Và đó mới chỉ là xong một con chim mồi.
Để kiếm ăn Nhồng luôn di chuyển. Người đánh bẫy phải đi theo. Tháng nầy ở Đồng Nai, tháng sau phải có mặt ở rừng Phan Thiết. Đi xa thì phải một hội bốn năm anh em. Cứ đường mòn trong rừng ta phóng xe đạp. Mỗi chuyến đi phải một tuần trang bị như hành quân giết giặc. Mỗi em một tấm lưới chụp. Hạ trại rồi ta sẽ dọn sạch một khoảng trống giữa rừng. Bốn tấm lưới sẽ liên hoàn thành một vòng vây. Bãi phải dọn cho thật sạch và thả các thức trái cây mà các em Nhồng khoái khẩu. Đu đủ chín vàng là một. Ớt chín là hai. Hai hoặc ba chú Nhồng mồi vừa hót vừa mổ réo gọi đồng bọn xuống chung vui. Trong cái mớ thức ăn dụ dỗ kia có cả cơm trộn với lòng đỏ trứng gà. Loài người thật buồn cười. Làm sao mà họ cho chim ăn cái thứ mà con người mới biết nhỉ? Có trong nghề mới biết. Thủ đoạn chứ chả nhân đạo chi. Mầu vàng trứng để lừa lũ chim rằng đây là đu đủ chín nè mấy con. Ăn đi. Ăn xong thì chóng hay chầy lũ chim sẽ nghiện. Cứ nhìn mấy con mồi thì biết, thả khơi khơi trong rừng mà chúng chả thèm đi đâu ngoài phạm vi bẫy chụp. Cơm trộn trứng người chủ nấu bằng nước lá cần sa. Ăn xong chú chim sẽ không bao giờ dám rời xa chủ nữa. Dân cà phê cóc dã chiến khi xay ra bột cà phê đã rang họ trộn bông và lá cần sa để khách nghiện. Uống cà phê trộn cần sa khác hẳn thứ cà phê trộn chung với bột của hạt cau khô. Nếu bột hạt cau làm ta khó chịu thì cần sa cho ta một hưng phấn rất chi dịu dàng.
Thợ săn sẽ ém bất động trên những cánh võng giăng giữa rừng. Chim trời khôn lắm, đang yên bình bổng nhiên có một khoảng trống đầy nắng. Bên trong là hai ba đồng loại đang nhởn nhơ chơi trò rống rắn lên mây. Lũ chim sẽ nghiêng ngó hỏi nhau rằng cái gì vậy kìa? Rồi một hai em nhảy xuống thăm dò. Ồ không sao cả. Chả có chi trừ các thức mà ta thích. Ngày thứ nhất trôi đi, ngày thứ hai trôi đi. Thứ ba thứ tư thứ năm cũng trôi đi luôn. Và bầy chim mất cảnh giác bởi sự gian trá của loài người. Một hai ba giật. Bốn mảnh lưới sập xuống và chí ít một chục chú nhồng về với lầu son gác tía mua vui cho các cô các cậu con nhà thế gia.
Năm Đĩnh mười hai tuổi thì ông Quốc chết. Đang cùng nhau dọn sân bẫy ông bị một con rắn Hoa Mai đớp một phát vô kẻ tay. Nọc độc của loài rắn nầy mạnh đến độ nạn nhân chết tức khắc. Bạn phường săn cáng ra lộ bằng võng rồi lên xe về nhà. Lúc ấy Đĩnh đang làm công cho quán nhậu Chim Lá Rụng. Công việc chính là nhổ lông chim. Tức là một năm sau ngày mổ bỏ năm tấc ruột già bị dư Đỉnh chỉ còn nhổ lông chim là vừa với sức khoẻ. Cha chết Đỉnh chả biết làm chi ngoài trừ theo mấy tay đi lấy lộc từ chim trời.
Sau một ngày rong ruổi, mặt trời tắt nắng là chim Lá Rụng hội lại thành đoàn kiếm chỗ trú thân. Nơi qua đêm của Lá Rụng là những đám mía. Ở xứ Đĩnh ngụ, rẫy của cư dân nương nhờ nhiều vào mía. Mía bạt ngàn, nương nầy nối tiếp nương kia cả vài mươi héc ta. Khi mía cao quá đầu người thì chim Lá rụng đổ về từng đoàn. Đã có người hỏi rằng vậy những ngày tháng kia chúng ở đâu khi đêm xuống? Rồi khi mía thu hoạch chúng về đâu? Cũng chả ai biết mà trả lời. Nói chung đó là chuyện của Lá rụng và trời cao, hơi sức đâu mà xen vào cho rách việc. Chiều đến chúng tụ lại đen kịn cả một góc trời rồi cùng nhau rụng xuống một đám mía nào đó. Nhìn cảnh những cánh chim rơi trong trời chiều đẹp không bút nào tả xiết. Phải nhanh chân để xem nghe bạn, mươi phút là không còn một cánh chim nào trên bầu trời. Chả chi nhanh bằng rụng.
Phường săn đứng trên lộ nhìn Lá Rụng sa. Xác định được đám mía của ai rồi họ sẽ đến nhà chủ rẫy ngã giá đặt bẫy. Lá Rụng xuống đám mía của ai nhà đó vớ một cú cũng âm ấm. Xong vụ ngã giá sẽ đến tiết mục thuê người đuổi chim. Bốn giờ sáng làm việc đến năm giờ. Chỉ một tiếng trả cho anh nửa ngày công nhật. Tám giờ tối phường săn sẽ giăng lưới vây quanh một phần ba đám mía. Bốn giờ sáng cùng nhau ta a la xô. Lá Rụng đang ngủ bị đuổi sẽ ào lên phía trước và cứ thế sa hết vô lưới. Ta chỉ việc cuốn lưới lại rồi cho tất cả vô lồng. Mỗi lồng chí ít là năm trăm em Lá Rụng. Một đêm đi càn chót bẹt cũng một chục lồng. Làm phép nhân đơn giản là ra ngay hai từ kinh khủng liền. Chim di lý về mấy quán nhậu. Cân cái lồng ra số ký là biết số con. Cứ chục mười hai ta chốt sổ. Bầy con nít sinh ra trong gia cảnh nghèo sẽ làm lông lũ chim nầy. Con chim vặt sạch lông nhưng vẫn còn sống lổm ngổm và chéo chét đầy sân nhà nhìn qua buồn muốn khóc luôn đó hỡi người ơi.
Nghề nầy phải có vốn kha khá bởi một bộ lưới bẫy không ít tiền. Đĩnh đi theo với tư cách long tong cho các anh sai vặt. Hết mùa Lá Rụng nó đi theo bẫy Nhồng, hết Nhồng là Két. Học nghệ và làm nghề từ năm mười hai tuổi nên năm hai mươi tuổi Đĩnh lên hàng sư phụ. Nó lại hơn bạn phường săn cái tài giả giọng di truyền từ cha. Không một cuộc phiêu lưu nào thiếu Đĩnh. Mọi việc đang trôi êm bổng nhiên khựng lại. Khựng một cái kịch.
Nguyên nhân là bạn cùng hội cùng thuyền nghỉ hẳn trò chơi chim chuột. Đất nước đổi mới rồi, con cái của họ làm việc trong mấy công ty nên dư thừa của ăn của để. Bầy trẻ nhận ra sự độc ác cuả cái nghiệp cha ông chúng vì thiếu đói mà sa chân. Chúng buộc các ông ở nhà bằng cách thẩy cho đứa cháu nội hay ngoại chi đó nhờ trông chừng. Nghiệp săn chim để sống đâu thể một mình mà nên chuyện. Một mình cũng đặng nhưng chỉ để chơi cho thoả cái mê. Đĩnh thì còn quá trẻ để ngộ ra câu làm mai lãnh nợ gác cu cầm chầu. Đến cái lúc mà ngay cả con Cút cũng được nuôi đại trà thì thậm nguy cho Đĩnh lắm. Loài chim nầy khi nuôi thịt thà của nó cả rô ty cũng chẳng ra chi vì nhảo nhét và một con cút hoang dã giá gấp năm lần con được nuôi bằng cám thực phẩm vẫn không có mà giao hàng. Lý do là ruộng đồng nương rạch đã vào quy hoạch để xây dựng nhà máy sạch bách rồi. Rừng cũng lùi xa đến cả Két và Nhồng cũng biệt mù tăm dạng. Chỉ còn một vài loài như Sáo hay Chào Mào đỏ đít còn gọi là Đội Mũ là tàm tạm để duy trì nghiệp, dù chỉ một mình.
Con Sáo thì ngây thơ lắm lắm. Một lần chị chàng Sáo dại dột làm tổ ở cây Tràm sau nhà. Canh me chim non đủ ngày tháng Đĩnh chơi nguyên tổ cho vào lồng để nuôi. Chim mẹ chéo chét tới đòi con. Thấy vậy Đĩnh xách lồng treo lên cây tiếp tục để mẹ nuôi con. Lũ chim non nầy có giá lắm. Dân có của mua về để luyện nói nghe chơi. Đĩnh để lại một con làm mồi. Nhờ con mồi và một cái bẫy sập mà Đĩnh có cả một lồng Sáo, cứ ung dung trên xe đạp kiếm cơm. Mùa tình Sáo mẹ lôi về một anh trống cùng làm tổ trong vườn nhà. Vậy là lại có chim non.
Nhưng Sáo hay Đội Mũ là loài để chưng diện. Người mua hiếm lắm. Có hôm Đĩnh dừng chân qua năm cái chợ mà chả bán được một em. Đồng nghiệp khuyên rằng thôi cho chim về trời lại đi Đĩnh ơi. Kiếm một công ty nào đó mà gia nhập. Thời nầy ai ai cũng công nhân. Chả ai nên cửa nên nhà nhờ vào chim chóc. Mày mà còn theo nghiệp nầy chả ai dám gã con gái cho mày. Nói chi gã bán cho mệt, ngay cả yêu đương Đĩnh cũng mệt cầm canh. Mấy cô mấy chị thà ế chứ chả ai yêu đương với chàng. Gia cảnh nhà Đĩnh ảm đạm quá. Cha chết sớm, mẹ bỏ đi còn sớm hơn. Chả là năm Đĩnh bị dư ruột, khổ quá, thiếu thốn quá bà má bỏ đi một hơi không ngoảnh lại. Thêm cái hết ông cha tới Đĩnh cùng chung một dư ruột. Các nàng và cha má các nàng tin rằng tới phiên mình cũng bị luôn. Dư ruột không di truyền nhưng cái nghiệp sẽ cho ta quả đắng.
May thay thời công nghiệp hoá quán cà phê mờ đèn đầy dẫy khắp chợ thì quê phục vụ các anh xa quê hương chuyện ái tình. Đĩnh đến karaoke để nghe em hát bài đừng xa em đêm nay. Một em như vậy đồng ý về nhà nấu cơm cho anh ăn. Chàng đi buôn chim thì nàng ở nhà đi hát ka ra. Lúc cô vợ lớn bụng thiên hạ nói Đĩnh đổ võ ốc cho ai đó rồi. Biết ai trong số lũ lượt khách đến karaoke yêu cầu em hãy ôm anh và hãy nói em cần anh?
Thiên hạ nói bậy. Con Đĩnh chính xác đến từng xăng ti mét một mà không phải thử máu hay ADN chi. Năm tuổi thằng Đạc lại bị dư ruột. Hoạ vô đơn chí phúc bất trùng lai. Con bị bệnh hiểm cùng lúc với cái hát năm en nờ một tràn ngập toàn thế giới. Thiên hạ đem gà vịt và cả chim tiêu diệt sạch. Bầy chim của Đĩnh không ngoại lệ.
Nhưng không sao. Ông trời luôn có đức hiếu sinh. Vợ Đĩnh vẫn ung dung kara là ô kê. Giọng ca cô chả hay ho gì, tầm cỡ ca sĩ còn bó tay chịu sầu nói chi miệt ruộng.Nhưng nhan sắc của gái một con thì ta còn chết nói chi tây và tây đui.
Đĩnh ở nhà chăn con sao cho đủ hai mươi ký mà mổ.
***
Hỡi các mẹ hiền trên khắp thế gian – những người mà – con cái rất xinh tươi, rất ngoan hiền và mạnh khoẻ. Chỉ cần con của mẹ trái gió trở trời thì lo lắng đến thức trắng đêm. Nếu các mẹ đứng trong hoàn cảnh của Đĩnh thì mới biết thế nào là niềm đau khổ. Để có một trọng lượng hai mươi ký cho một thằng cu bị dư ruột thì khó vô cùng. Chả có con bệnh nào trên thế gian nầy thèm ăn, người lớn còn biết đánh vần chữ ráng chứ trẻ con ta làm sao? Vợ đi hát kara từ sáu giờ tối đến mười hai giờ khuya. Về là lăn ra ngủ. Mệt mỏi quá biết làm sao? Rất nhiều đêm khách mời đi chơi đến sáng, không đi thì không được với chủ nhà hàng. Ai bảo đẹp không khổ?
Đĩnh và cái nghề săn chim tàn cuộc đành ngâm câu gái chơi đã trở về già hết duyên. Ở nhà chăn con cho vợ kiếm tiền. Tay cầm chén dẫn con loanh quanh trong sân nhà chủ yếu dụ dỗ con nuốt được miếng nào hay miếng đó. Không ăn thì uống sữa cao cấp ngoại nhập. Thằng cu đã không ăn còn đòi cầm chén, vậy là cơm cháo vương vãi khắp sân. Bầy chim sẽ trên mái nhà ríu rít nhảy xuống kiếm hạt cơm. Con đau nên bao nhiêu chim chóc trong nhà Đĩnh đổ tháo hết rồi, chả còn lấy một con giống cho cu con vui mắt. Nhìn thằng cu chạy theo bầy sẽ khúc khích cười bà xã Đĩnh bảo:
– Bắt cho nó vài con đi anh.
Đĩnh lặng yên suy nghĩ. Làm sao để bắt sống một con chim bây giờ ta? Thợ săn liền vào nhà lôi ra một tấm keo diệt chuột. Đơn giản thôi mà. Vài hạt gạo rãi trên tấm keo, ngay lập tức không phải một mà những ba em sa lưới tử thần. Kẹt cái thứ keo nầy dính khiếp đảm, chú chim tội nghiệp vừa sa chân là ngã. Để gỡ cho ra thì chú đơ cán cuốc, không thể nào rửa sạch keo, chỉ còn nước cho mấy tay già mà ham lấy tiết để luyện môn cường dương đại bổ. Chả hiểu từ đâu mà thiên hạ tin rằng tiết chim sẽ rất thần diệu vụ chiếu giường. Vậy là ngay lập tức thợ săn Đĩnh khấp khởi mùng vì biết cách làm ra tiền phụ vợ lo cho con.
Mấy tay già mà ham no cơm nên rửng mở lắm. Đĩnh mang tiếng ác khi làm cái nghiệp nầy nhưng đâu đã nhẫn tâm bằng họ. Kéo trong tay họ xắp một phát là mỏ chim bay mất. Máu từ đó sẽ nhỏ vào ly rượu, cả mười chú chim mới cho ly rượu trắng hoá màu hồng. Một bàn nhậu chừng ba anh trai già là có một mâm ba mươi chú se sẻ rô ty. Vâng, để phục vụ cho một trong tứ khoái thiên hạ lên rừng tàn sát cả tê giác thì ba con chim bé tí nào có nghĩa địa gì. Đúng là khi mang lấy nghiệp vào thân khó lóng mà bỏ lắm. Đĩnh mua về cả lốc tấm keo diệt chuột cắt nhỏ ra rồi cột vào những khẳng khiu của cành cây. Không dụ dỗ được bằng cách rãi thực phẩm thì ghi âm tiếng chim rủ rê bạn tình đi ăn tiệc. Thời buổi mà một cái ghi và phát âm bằng ngón tay thì đại bàng còn sa lưới nói chi ri rích các loài chim.
Nhưng để có chim bán cho quý ông quý bà phóng sinh mua đường bình yên sau khi chết thì chỉ một Đĩnh mới biết. Bí mật chuyện nầy. Bể ra bọn cạnh tranh nhào vô liền. Chả phải thấy Đỉnh kiếm ăn được với keo diệt chuột bọn vô công cũng nhảy vô mà phá giá đó sao? Thời buổi mà chục rưởi con chim sẻ đã có một liều ma tuý thì tội cha chi chúng không nhập cuộc? Và cả hội vô cùng ngạc nhiên khi Đỉnh xách cả lồng chim se sẻ, chủ nhật thì đứng trước cổng nhà thờ, rằm mồng một thì đứng trước cổng chùa để bán. Làm sao có được chim không dính keo để thả lại với thiên nhiên vậy kìa?
Nhìn những cánh chim bay trở lại trời xanh sao mà đẹp quá. Nhưng se sẽ là giống núp dưới mái ngói hiên trường, mái nhà thờ và mái nhà lợp rạ. Chúng bay đi đâu khi rừng đã quá xa xôi rồi. Và bay đi đâu khi món khoái khẩu của Se sẻ là thóc? Có tung đi đâu Sẽ vẫn chốn cũ tìm về. Mà về thì lọt vào keo diệt chuột. Chú nào may mắn vào tay Đĩnh thì còn có cơ hội đôi ngày nhìn được cuộc đời. Nhưng bọn ma tuý khôn ranh lắm. Chúng quyết tìm cho ra bí mật mà Đĩnh đang sỡ hữu. Đĩnh giăng bẫy và máy ghi âm ở đâu chúng liền đến để chọc phá. Bọn nghiện chả luận một thằng cha ẳm đứa con bệnh tật đi kiếm sống chi ráo. Con chim thấy bóng người là vù mất dạng, làm sao bẫy được khi hai ba thằng ngồi dưới cành cây dán keo để đấu láo thì chịu sầu. Và cả bọn đến tận nhà yêu cầu Đĩnh cho bí mật.
– Ô kê. Nhưng với một điều kiện – Đỉnh yêu cầu.
– Nói đi, được là bọn tao ô kê.
– Bất kỳ thằng nào bẫy ngày nào cũng giao cho tao một cặp se sẻ.
Cả bọn phá ra cười. Cười đã chúng nói:
– Một cặp chục ngàn bạc. Bọn tao mỗi thằng cho mày một ngày hai chục ngàn. Được chưa?
– Tao không cần tiền. Chỉ cần chim.
– Ô kê. Cầu thì được ước thì thấy.
Ra cái loại keo Đĩnh sử dụng nằm trong mấy công ty sản xuất ván ép. Ba cái mạt cưa và gỗ vụn người ta sử dụng loại keo nầy để ép. Chỉ cần móc ngoặc với một công nhân làm ở khâu ép yêu cầu nó bán cho dăm chục nghìn là xài mệt xỉu:
– Loại keo nầy – Đĩnh nói – dính rất chặt nhưng hể dấp nước là bung, cả một cọng lông cũng theo ra. Tụi mày biết đó, ba cái ván ép hể đụng nước là bung liền… khì khì khì, tụi sản xuất khôn trời thần. Ván ép mà như tụi Mỹ đem qua nước mình thời chiến tranh thì mấy công ty sản xuất thời này chết đói hết.
Vậy là cổng chùa và nhà thờ tha hồ mua chim phóng sinh. Những ngày thường se sẻ đến quán nhậu cho mấy quan anh chặt mỏ lấy tiết, sau tiết là rô ti hay xào lăn thì tuỳ. Nhưng mấy tay chơi ma tuý muôn đời không uy tín. Vụ cống nạp gọi là tạ ơn anh đã cho em biết bí mật. Thậm chí giới thiệu cái thằng ăn cắp keo bán cho quý anh cũng chả nhớ. Mấy anh xù dù hai con se sẻ chả đáng là bao. Bán phóng sanh thì nhiều lắm được chục nghìn một con, còn quán nhậu năm nghìn là hết phép. Sao mà mất uy tín quá.
Thực ra nào phải vậy. Hãy nghe Hải xì ke nói:
– Bà mẹ nó thằng điếm thúi Đĩnh… Tụi mày biết hai con chim mà nó bắt trong lồng của tụi mình là chim gì không?
– Gì?
– Không để ý là không nhận ra. Không được mách nước là cũng mù luôn.
Thì ra trong cái giống se sẻ hiền lành kia trăm con cũng lọt vô được một cặp rất kỳ lạ. Không để ý là không phân biệt được. Khi bỏ riêng người ta mới nhận ra được sự khác biệt. Loài chim luôn đi thành đôi, dáng dấp như chim sẻ nhưng màu lông hơi khác. Một con phớt mầu đỏ và con kia phơn phớt trắng. Con phớt đỏ là trống và phớt trắng là mái. Dân chuyên môn gọi là Phong Thuỷ. Cặp Phong Thuỷ nầy những trăm nghìn một cặp. Mấy tay nhà cao cửa rộng cần lắm loài chim nầy. Có nó nhà cao sẽ cao thêm. Quyền uy sẽ được củng cố chắc như bắp.
Đĩnh lại tiếp tục đứng ở cổng chùa nhìn thiên hạ tung chim. Vừa tung họ vừa nói, bay đi con, bay cao lên, cao lên, cao cao lên…
Trong óc Đĩnh hiện lên câu ca dao… bay cao thì mặc bay cao…
Nguyễn Trí

Xưa lắm rồi Mót ơi

nguyentri

Toàn thể cư dân của tổ 2 xóm 1 ấp Thanh Long, đừng nói tổ xóm ấp, cả xã luôn, không một ai không ngớ người khi nghe tin nhỏ Út Mót cuốn gói đi theo thằng lôtô hội chợ.

Vợ chồng Bảy Sánh có trả lại một ngàn đô cho con mẹ Cẩm Hồng chưa chắc yên. Bởi giao một ngàn cho gia đình Út Mót thì mẹ Cẩm Hồng lấy của thằng già Đài Loan phải hai ngàn. Sức mấy con mẻ chấp nhận câu của đổ mà hốt. Bây giờ Bảy Sánh một xu teng còn không có, ở đó mà một ngàn, tức là hai mươi hai triệu tiền xứ ta. Nguy chưa?

– Chồng thì rượu vợ thì cờ bạc. Tiền tỉ còn hết nói gì triệu.

– Mày hiền dữ? Rượu bao nhiêu? Còn tứ sắc thì chơi vui đỡ ghiền. Chẳng qua ba cái giấy tờ ăn hết mày ơi. Tao đây xong mọi cái cho con Thắm lấy chồng Hàn là bảy trăm ngoài luôn đó.

– Dữ vậy sao?

– Con gái mày đủ tuổi, có chứng minh nên chuyện lấy chồng ngoại dễ như ăn ớt. Còn Út Mót cũng như con tao không khai sanh, không có tên trong hộ khẩu lại hô biến từ mười lăm lên mười bảy là tốn không ít đâu ông nội.

– Chuyến nầy nguy cho vợ chồng Bảy Sánh quá. Bầy xăm mình dưới trướng mẹ Cẩm Hồng chắc cho cả nhà ăn dao phay quá.

– Nó lụi luôn chứ chém là còn đỡ lắm.

Cả tổ 2 tuôn vô hội chợ làng lục lọi từng gian một để tìm Út Mót giùm Bảy Sánh. Dân hội chợ rất kinh hồn vụ mồm loa mép giải. Chời ơi là chời – họ bài hãi – Nó theo thằng lôtô thì lại dàn lôtô mà tìm. Tui là tui không chứa.

Hai thằng Hòa và Hiệp – anh trai Út Mót – quắc cặp mắt cú vọ:

– Câm cái họng lại. Muốn tao đốt sạch khu hội chợ nầy không?

– Tao thách đó. Hộp quẹt gas nè, muốn xăng tao cho luôn. Bà nội mẹ… sao mà ngu quá dzị con. Đã bỏ nhà theo trai nó ngu sao trốn ở đây? Giờ nầy chắc tuốt luốt trên xì ghềnh rồi. Hai mươi mấy quận huyện thì có mà chịu sầu em ơi.

Người ta truy căn thằng lôtô. Nó tên Hùng. Quê đâu tìm mà hỏi. Nó hát hay, đờn địch cũng biết chút chút. Hô lôtô chẳng ai dưới gầm trời hội chợ nầy qua được. Mấy đứa hai phai gặp nó ngoài quán dẫn về cho một chưn kiếm cơm tạm qua thì khốn nạn.

Đẹp trai cao to nên hai thì khoái lắm. Kẹt cái nó chuẩn men nên không bồ bịch với nửa y nửa thị. Nhỏ Út Mót đi chơi hội chợ làng, xứ nầy ba cái con mấy cờ ra rồi cờ ra con mấy là sự kiện văn hóa nghệ thuật, một năm được hai lần là nhiều. Nên chi bà con cô bác tới cúng tiền cũng phải thôi.

Trên sân khấu lôtô Hùng thấy một em rất chi đẹp liền quăng mi-cờ-rô nhảy xuống tận mặt xem sao. Mẹ cha ơi, em đã thơm thì chớ còn duyên dáng nữa mới là tuyệt diệu. Hên cho thằng lôtô là trước đó nó vừa ca xong bài Tình anh bán chiếu.

Thiệt mà nói, nghe nó ca thì Út Trà Ôn cũng phải bỏ nghề. Ông Út chỉ một mùi tận mạng chứ Hùng thì còn ngọt như mật nữa. Em Út Mót khoái liền dù chỉ còn nửa tháng là em đăng ký kết hôn như lịch trình đã hẹn.

Nói về cái sự vụ liều thì dân đây ai cũng kiềng mặt Út Mót. Đi bán vé số đứa nào giành mối là chết với nó liền. Mót theo bà má và hai ông anh đi bán vé số từ năm bốn tuổi. Không biết một chữ nhưng tính nhẩm nhanh như sao xẹt và hát karaoke kẻ biết đọc phải chào thua. Tội nghiệp Út lắm. Không có cái vụ môi giới hôn nhơn lấy chồng ngoại chắc Út bị đì suốt kiếp.

Cô Bảy, vợ cha nội Sánh, tục gọi Bảy Sánh, thuở con trẻ lòng dạ nhẹ tựa lông hồng. Thằng bồ thứ nhứt cho cái bụng rồi quất ngựa truy phong, thằng thứ hai cũng một khuôn. Hai anh em Hòa Hiệp đứa lên năm đứa bốn tuổi thì Út Mót lên ba. Bà ngoại của ba đứa nhỏ chịu không xiết cảnh khổ nên qua đời. Bảy lôi con theo mình đi bán vé số.

Mót bốn tuổi thì cô Bảy mượn tạm bờ vai cha Sánh làm điểm tựa. Sánh xúi dại Bảy bán miếng đất của bà má về ở chung với mình. Khi khổng khi không Sánh được vợ lời thêm ba đứa con biết kiếm tiền. Cái dòng con nít đi bán vé số là bá tánh thương lắm. Đã mua họ còn cho thêm tiền. Con nít kể khổ cha chết mẹ bịnh thì lòng Tào Thị còn chết nói chi thường nhân.

Ta bà thương anh em Út Mót bao nhiêu thì bực bội cho cái nhẹ dạ của bà má tên Bảy bấy nhiêu. Sao mà có người ngu dữ vậy kìa? Tin chi cái thằng sáng xỉn chiều say vậy không biết? Thằng Sánh là chúa khốn nạn. Đâu phải con ruột nên nó nào biết yêu thương chi. Nó xui dại người ta bán đất về ở chung, bao nhiêu tiền bạc nó sửa lại nhà.

Bốn mẹ con tưởng êm, ngờ đâu cong lưng đi làm nuôi nó chết mụ nội, đã vậy say lên nó đuổi như đuổi tà. May mà bốn mẹ con ngụ trong nhà chỉ từ mười hai giờ đêm đến sáng là hết phép. Nghề bán vé số sáu giờ đã có mặt khắp hang cùng ngõ hẹp để thưa bà thưa chú thưa anh mua giùm em vài vé, hông ấy một vé cũng được…

Bốn giờ chiều lại tiếp tục nhận vé mới và sau giờ xổ số lại rong ruổi đến mười hai giờ đêm. Cơm hàng cháo chợ tiện đâu xực đó. Đời anh em Út Mót nào biết đến mâm ăn. Vậy lấy đâu ra tình thương mến thương anh em dành cho nhau hỡi tha nhân?

Mười tuổi Mót đã có sáu năm thâm niên trong ngành vé số dạo. Năm đó nó phải bươn bả một mình vì bà má thảm thương bị bệnh. Đàn bà con gái sanh đẻ không kiêng cữ, lại lết bộ ngày mười lăm tiếng đồng hồ thì mấy cái khớp nó khua cũng phải thôi.

Ba anh em kể cũng lớn rồi, thôi thì má ở nhà để tụi tui lo. Bảy ở nhà buồn tình nên ghé chị em chơi cho khuây khỏa. Dân tổ 2 xóm 1 ấp Thanh Long mười nhà đã hết sáu có con lấy chồng không Hàn thì Đài nên ngoại tệ cũng có chút chút. Họ tụ tập điều binh khiển tướng cho vui.

Bảy ghé một tuần là sành điệu. Cái dòng tứ sắc nhìn sơ là biết cần chi học hỏi. Ba đứa nhỏ đang nuôi một thằng cha ghẻ chốc luôn siểng tảng trong rượu nay thêm bà má nghiện bài.

Ở cái tuổi mười lăm con khô lưỡi trâu Út Mót bỗng phổng phao bởi trổ thì con gái. Nó tuy đen thủi đen thui vì dầm mưa dãi nắng nhưng phụng hoàng chứ không hề là quạ đen. Thiên hạ chưa kịp trầm trồ thì trùm môi giới hôn nhân Cẩm Hồng lân la đến.

Thằng cha ghẻ chốc đắc co liền. Còn má Bảy? Nhìn nhà người có con lấy chồng Đài mà ham. Đừng nói chồng, mấy đứa trong xóm đi ôsin đâu bên Sing bên Mã là đã nhà xây rồi. Vậy là má cũng gật gù. Mót cũng ừ. Bà nội nó – Mót văng tục nghĩ thầm – Bảy chục tuổi tao cũng ừ nói chi năm chục. Tao thù cái vé số nầy tận xương rồi.

Vậy là Cẩm Hồng bung tiền để cho xong cái gọi là hợp thức hóa. Mười lăm sao cho đủ tuổi lấy chồng là một lốc tiền. Thằng anh lớn mới mười bảy thì Mót làm sao mười tám? Xem như phải làm lại hộ khẩu. May mà mấy ông quyền chức đồng ý trên tinh thần khai lại lý lịch cho chính xác theo yêu cầu.

Cầm cái chứng minh tên Nguyễn Thị Hồn Nhiên, Mót thích ơi là thích. Cẩm Hồng bỏ tiền để má Bảy tút tiếc nhan sắc cho Mót. Chỉ hai tháng mà nước da bánh ít đường đen của Mót hóa sang đường thùng rồi đường cát. Cuối cùng là trắng gần bằng bông bưởi luôn. Có vậy Mót mới hồn nhiên mà yêu anh lôtô hội chợ.

Cẩm Hồng đe hai thằng du côn Hòa Hiệp:

– Nó mà không dzìa là hai thằng mày đi âm phủ đội chuối khô với tao. Ai cho tụi bây đánh thằng lôtô? Tại sao không cho tao biết con Mót bồ bịch? Tao biết sớm thì một tiếng là thằng lôtô biến. Tụi mày ăn cái gì mà ngu vậy?

Quay sang Bảy và Sánh, con quỷ môi giới nghiến răng:

– Một ngàn đô hai vợ chồng mày lo bán nhà trả gấp. Lãi mười hai phân kể từ ngày giao.

Nói xong chị hai lên xe dông tuốt. Dân tổ 1 xóm 2 xúm lại vừa bàn vừa chửi rằng:

– Kệ bà nội con Cẩm Hồng. Lâu lâu tổ trác một lần cho nó biết thế nào là lễ độ. Bà cha nó… vụ con tao nó nuốt ít cũng hai ngàn. Vợ chồng Bảy Sánh với hai thằng bây đừng lo đếch gì cho mệt. Cho vàng nó cũng không dám đụng. Ông chính quyền xã mình không để cho nó manh động đâu. Lớn chuyện là lòi ra biết bao nhiêu cái hồ sơ khai man tuổi… Bây hiểu không?

Nói vậy chứ hai thằng Hòa Hiệp sợ lắm. Bầy em út của Cẩm Hồng toàn dân xăm mình. Nó đâu có ngu mà đánh người công khai. Đang lơn tơn dính một cây vô đầu hay một ca axit thì có mà chết. Mót ơi là Mót, mày ở đâu về đi, không về là chết cả ổ Mót ơi. Hai thằng long trọng hứa với Cẩm Hồng sẽ đi tìm Mót về để giải quyết hợp đồng. Nhưng sáu mươi bốn tỉnh thành trên đất nước nầy biết đâu mà tìm hỡi trời đất ơi.

Trong lúc mọi người nhao nhác như gà mất mẹ thì Nguyễn Thị Hồn Nhiên thường gọi Mót đang vui vầy bên lôtô. Cả hai thuê phòng trọ hưởng trăng mật.

Được hai tháng thì lôtô dông tuốt.

Kề bên phòng của Mót là phòng của chị Thùy. Chị đi làm mười hai giờ đêm mới tan ca. Nghe Mót tỉ tê khóc chị liền thăm hỏi xem sao. Nghe qua chị biết con nhỏ mười lăm tuổi bị sở khanh nó dụ. Chị nói:

– Nín ngay. Nín tức khắc. May là nó không bán qua Trung hay Miên là chết mụ nội mày. Về nhà đi, chị cho tiền xe.

Nghe Mót kể gia cảnh chị Thùy cũng rùng mình:

– Mẹ ơi… Lấy thằng Đài năm chục tuổi hả? Sao mà gia đình mày ngu dữ dzị cưng? Nó đưa mày qua bển để làm nô lệ hả? Thôi… ở đây đi làm với chị. Chừng nào có tiền thì về trả lại cho con Cẩm Hồng.

– Em chỉ biết bán vé số thôi chị ơi.

– Đẹp như mày ngu sao bán vé số. Nghe tao là nên cửa nên nhà cưng coi.

Vậy là Hồn Nhiên theo chị Thùy đi làm. Nơi làm việc của chị là một quán karaoke cao cấp. Có trên hai mươi tiên sa thơm như mít tố nữ làm việc. Công việc thì nhàn ơi là nhàn. Hồn Nhiên Mót chỉ việc rót bia khi ly khách đã cạn. Khách toàn dân nói tiếng Đài.

Hôm đầu tiên chị Thùy xin chủ cho Mót làm chung bàn. Chị uống bia với khách, ngả đầu vào vai khách. Khách ôm chị rồi hôn lên má lên môi chị. Chị cũng hôn lại. Vậy là khách nhét tiền vào áo ngực chị… Hôm đầu tiên Mót ngỡ ngàng lắm. Nó mới qua tay thằng lôtô nên nào có biết chi mô răng rứa gì. Một ông khách đài ngà ngà hơi men ôm Mót vào lòng. Giật mình Mót xô khách ra. Khách liền móc ra một tờ năm trăm ngàn lẹ tay nhét vào cóc-xê Mót:

– Chiều nó tí cưng. Chả có mất gì đâu mà cưng sợ.

Nửa đêm là xong hai tua khách. Mót được tiền bo những bảy trăm ngàn. Taxi đưa hai chị em về lại phòng trọ. Nhưng chỉ một mình Mót về phòng còn chị Thùy thì đi khách sạn. Tảng sáng chị mới về. Lúc làm đẹp cho Mót để tiếp tục cho đêm vui, chị nói:

– Nghiệp nầy phải đẹp cưng hiểu không? Tụi Đài hay Hàn sộp hơn dân mình trăm lần. Ôm và hun hít là có tiền. Còn muốn qua đêm thì một trăm đôla Mỹ. Tụi nó xa quê hương xứ sở, cái gì cũng có chỉ thiếu đàn bà.

Mót tròn mắt. Chị lại tiếp tục:

– Tao không lừa mày đâu mà sợ. Tao thương là vì mày giống cái cảnh đời khốn nạn của tao. Thằng nào muốn rủ cưng đi đâu thì hỏi chị một tiếng. Nghe không?

Lại cấm:

– Đừng có ngu mà nốc bia cho cố. Lớn bụng là bỏ. Cũng không được bài bạc hay tứ sắc. Va vô là lún cả đời vào cái vũng lầy tăm tối nầy. Làm một thời gian kiếm đủ tiền rồi lo làm lại để kiếm đứa con mà hú hí.

Hồn Nhiên đẹp như tiên nên chỉ một năm cô có đủ bất cứ thứ gì mà một công nhân trong xí nghiệp làm chục năm chưa chắc có.

Một ngày của tháng thứ mười ba kể từ ngày Út Mót bỏ nhà ra đi thì hai thằng anh, bà má tên Bảy và mụ Cẩm Hồng xuất hiện. Kẻ đưa tất cả lên gặp Mót là thằng bạc tình lôtô hội chợ.

– Bà muốn gì? – Mót hỏi Cẩm Hồng.

– Trả lại tiền cho tao. Cả lãi luôn.

Chị Thùy có mặt:

– Bao nhiêu?

– Ba ngàn đô.

– Nói lại đi. Thắt họng vừa phải thôi. Cà chớn là không một xu teng nào hết. Bà đưa cho má con Mót bao nhiêu?

– Bao nhiêu mày khỏi cần biết. Không trả là có người trảm cả nhà mày đó Mót.

Hồn Nhiên Mót lên tiếng:

– Tao đéo trả xu nào hết. Gan thì mày giết hết đi.

Nói xong Mót vào phòng và khóa trái cửa.

Bà Bảy vắn dài nước mắt Mót ơi Mót hỡi bỏ má sao con. Rằng thì là má khổ lắm con ơi. Tiếng ồn làm bồ chị Thùy thức dậy. Làm cái nghiệp nầy không có mặt rằn bảo kê làm sao trụ? Anh điểm mặt lôtô:

– Mày còn dám lên đây hả thằng khốn? Mày tưởng hôm nay như hôm qua tháng nầy như tháng trước sao? Quỳ xuống. Còn chị – anh nói với Cẩm Hồng hết sức nhẹ nhàng – Con Mót nói có một ngàn, chị đòi ba ngàn là hơi quá. Con Mót bây giờ là em gái tôi, chị muốn trả thì tôi trả cho. Mót đâu. Mở cửa tao giải quyết cho xong mọi chuyện.

Cẩm Hồng mặt xanh đít nhái. Phải chấp nhận điều kiện anh đưa ra. Một ngàn trả làm ba. Lần đầu bốn trăm. Còn sáu trăm sẽ trả trong vòng sáu tháng.

Lúc taxi đến để đưa hai chị em đi làm, ngang qua thằng lôtô đang quỳ, Mót đưa ai-phôn lên chụp một pô. Thùy hỏi để làm chi vậy, Mót nói bắn lên phây-búc cho bà con biết mà cảnh giác thằng sở khanh.

Mót bây giờ là Hồn Nhiên chứ đâu phải như xưa.■

Đen hơn bóng tối

nguyentri

Sáng nào cũng thế. Sau lễ Misa là bốn mái đầu muối tiêu ghé quán cóc làm ly đen. Nhìn bốn lão là thấy một trời trí thức. Mục kỉnh trên mắt và anh nào cũng chúi mũi vào, không báo thì cuốn sách dầy cộp. Chủ quán khoái lắm bởi họ là linh hồn của quán. Không có họ dân chơi xứ ruộng không thèm ghé thứ quán cóc keng năm nghìn một ly đen nóng.
– Nầy – một tóc muối tiêu lên tiếng – hôm nay mời mấy ông đi phở bò Lý Quốc Sư với tôi nhé.
– Có gì vui mà đãi thế bạn già? Mà tôi thấy chớ nên vô cái thằng Lý giả hiệu đó. Thua cái xe bình dân của bà Bẩy Phở xa lắc.
– Nhưng bà Bẩy thì nóng quá ông ạ. Biết giả hiệu nhưng mà dù sao cũng có cái quạt hơi nước. Thời tiết nầy ăn tô phở mà mồ hôi chảy ròng ròng thì có ngon cũng vô vị
– Ừ thì lý quốc. Nhưng ông vô cái gì mà đãi thế? Đô la con gái gửi về à?
– Hơn cả đô la, hơn cả trúng độc đắc ông ạ. Tôi vừa hút cái chết.
– Ghê thế?
– Mấy ông biết không? Hôm trước tôi đi nghĩa trang giáo xứ đọc kinh cho bà chị. Đạp trúng một kim tiêm đầy máu. Sợ quá, tôi lên trung tâm y tế dự phòng xin xét nghiệm. Mấy ngày nay tôi đọc có cả nghìn thời kinh cầu cho bình an. May quá, hôm qua cầm kết quả xét nghiệm. Không bị hát có ết tôi như sống lại lần nữa các ông ạ.
– Ôi dào…Ông nói tôi mới nhớ. Đừng nói chi nghĩa trang. Ngay cả khu công viên cây xanh của thị trấn cũng đầy kim tiêm ông ạ.
Một tóc bạc khác góp chuyện:
– Đời sống bây giờ tăm tối quá. Tôi nhớ những năm mới thống nhất, tuy kinh tế có khó nhưng không có cái nhìn đâu cũng ra hiểm nguy như hôm nay. Ngoài đường thì bầy trẻ chạy xe như ăn cướp, trong nhà thì con giết cha, vợ đốt chồng… cầm tờ báo là thấy toàn cướp của giết người, lừa đảo. Thậm chí người tu hành cũng uống rượu ăn thịt chó ôm gái ngay trong nơi thờ phượng.
Một khách trẻ trong quán ý kiến:
– Mấy bác cho con góp một ý. Chuyện nhà ông Đa còn bi bội phần.
– Ừ – tóc bạc thứ tư nói – Tôi thấy ông Đa chả còn gì bi hơn.
– Ông ấy ra sao rồi?
– Dạo nầy khốn đốn vì thằng con hư hỏng lắm.
– Vẫn cứ đường cũ mà đi à? Mà tôi thấy chừng như ông ấy cũng quen rồi với những bất hạnh mà thằng khốn đổ lên đầu cha mẹ. Tôi thấy ông ấy đã biết chấp nhận khi sống chung với lũ. Đâu chừng tháng trước gặp tôi ông Đa còn hả hả cười nữa kìa.
– Bây giờ thì không như vậy. Bi và tối lắm các ông ạ.
***
Một khách trong quán nói:
– Chỉ khi nào thằng Vũ chết đi thì may ra ông Đa sáng lên một tí.
– Bây giờ nó có chết thì vẫn cứ tối tăm thôi.
– Còn chuyện gì thằng khốn mang về cho ông ấy nữa vậy?
– Lúc thằng Vũ bị bắt vì tội tổ chức sử dụng chất cấm tôi nghĩ rằng ông Đa thoát hiểm rồi. Ai ngờ không đủ chứng cứ để tống ông con đi tù nên công an phải thả.
– Sao không tống nó vào trung tâm cai?
– Ông làm như dễ lắm. Phải test máu. Phải cũng cố hồ sơ, đến đợt mới đưa đi tập trung, đâu phải muốn đưa đi lúc nào cũng được. Kinh phí ở đâu để chỉ đưa một thằng đi cai? Ông Đa bây giờ còn có cái gì để đưa đi tự nguyện? Mấy ông thấy đó, ba lần cai hết sáu năm, thêm một năm tù mà nó vẫn cứ ngựa quen đường cũ. Ma tuý đã dính vào là xem như bỏ. Một nghìn thằng may ra được một.
– Nhưng bây giờ thì làm sao rồi?
– Sau khi được thả thằng Vũ dẫn về nhà một đứa con gái buộc ông Đa nhận làm con dâu. Nhưng mấy ông và mấy cháu biết con nhỏ đó là đứa nào không?
– Đứa nào vậy chú?
– Con vợ thằng Thành, dâu ông Thạch bán vé số.
– Trời đất ơi!
Thiên hạ xứ nầy ai cũng biết ông Thạch vé số. Ông nầy chả hiểu vì sao mà chỉ một cu Thành là con, nghe đâu khó quá nên cô vợ quăng con lại và biến mất. Mười sáu tuổi Thành ham vui nên đòi lấy vợ. Cả xóm bu lại khuyên chớ có nên, một là dưới vị thành niên không thể đăng ký kết hôn, hai là, ông Thạch người thiên chúa giáo, chả có vị linh mục nào làm bí tích hôn phối cho đâu. Nhưng thằng Thành con một được nuông từ nhỏ. Nó quyết theo kiểu con cái đặt đâu cha mẹ ngồi đó. Ông Thạch bỏ tiền ra hỏi cưới. Xe hoa đưa về một cô dâu hơn Thành ba tuổi. Nhỏ nầy dân chơi hết phép. Nó ở được hai tháng là dông tuốt. Hỏi sao bỏ chồng nó nói:
– Ông già lựu đạn khó quá. Tui hồi nhỏ giờ đâu biết nấu ăn. Kho nồi thịt bị cháy mà ổng chửi tui hư. Nghe thằng Thành nói nhà nó ngon ai ngờ dân vé số dạo, tui xù.
Vậy là Thành qua một đời. Đến năm mười chín nó dẫn về một con mặt xinh như diễn viên điện ảnh. Vòng một vòng ba trông cũng bắt mắt chỉ có cái vòng hai quá khổ vì bầu. Lại đồn rằng nhỏ tên Nhí nầy trước yêu đương với một anh tên Lộc. Lộc thấy đẹp thì qua đường tí thôi chứ chịu trách nhiệm cái em đang mang thì không có tên anh, anh nói đâu phải mình tao là người yêu của nó. Thành đưa đầu ra chịu là nó yêu Nhí thiệt, tin trăm phần trăm cái trong bụng ẻm là con mình. Ông Thạch dân vé số dạo nên nghe cũng tràn hai lỗ tai, nhưng biết làm sao khi con mình thương. Chừng con Nhí lâm bồn ra một trai cũng tai mắt mũi họng chim cò tốt như bất kỳ thằng liền ông nào là ông Thạch mê ngay. Ông nâng thằng cu như nâng trứng ẳm đi khắp xóm khoe cháu nội, nhưng bà con cô bác xì xầm rằng nhìn thằng nhỏ là ra cái mặt thằng Lộc. Thiệt là hết biết.
Tò mò Lộc cũng đến thằng bạn Thành xem hư thực. Chả biết nó xem cái gì mà một hôm kia thằng Thành quả tang Lộc và Nhí trong nhà nghỉ Nhị Kiều. Đúng là tình cũ không rủ cũng tới. Mà cũng thông cảm cho. Đã nói Nhí đẹp như diễn viên. Đẻ xong cô đẫy ra và mơn mởn người phàm ai chả động? Lòng đầy cay đắng Thành dẫn vợ về. Nhưng cái nết vụng trộm Nhí không bỏ được. Thành buộc phải trả cô về nguyên quán, dù lúc về bụng cô đã vượt mặt. Thành không tin cái bụng ấy là con mình. Lộc cũng không. Nhưng bên ngoại Nhí thì tin cháu ruột họ trăm phần trăm. Bà má goá chồng và mấy bà dì ế ẩm sẵn sàng cứ đẻ tao nuôi.
Tù về Vũ gặp Nhí trong một Karaôkê. Mầy thằng xì ke tù tội miệng mồm ghê gớm lắm. Không ghê dễ gì chúng lừa cha dối mẹ tạo niềm tin với xóm giềng để kiếm tiền. Vợ Vũ quăng hai đứa con một trai một gái cho vợ chồng ông Đa rồi ôm cầm theo thuyền khác khi Vũ đi cai nghiện lần thứ hai. Cũng đúng thôi. Chả có con ma nào ngu mà đi chờ đợi một thằng lấy ma tuý làm mạch sống. Ông Đa vừa chăm cháu vừa thăm nuôi thằng con hư hỏng thiếu điều sói trán, cũng mong nó về mà làm lại đời. Ai ngờ mới về được một tháng thằng Vũ cùng đồng bọn tham gia trộm xe, lại tù thêm một năm. Hai mươi bảy tuổi mà có thành tích bảy năm ở trại. Thiên hạ mới bình rằng:
– Gặp con tao, tao cho một búa chết cho rồi.
– Rồi mày đi tù hả?
– Tù cũng được. Phá quá chịu sao xiết?
– Mày có nghe câu nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại không? Mày người ngoài nên nói vậy thôi, có lâm cảnh mới biết. Con dại thì cái mang, chồng hoang vợ phải chịu. Ông bà dạy vậy.
Chả biết cặp Vũ Nhí yêu nhau đến cỡ nào mà Vũ dẫn Nhí về nhà. Nhí cũng giới thiệu với ba quân trong giới bụi rằng Vũ là chồng.
– Rồi ông Đa phản ứng ra sao?
– Dữ dội lắm. Ông Đa và già Thạch vé số là bạn. Ông ta mặt mủi nào cho con nhỏ hư hỏng đó vào nhà? Mấy ông nghĩ coi. Thằng Vũ quăng hai đứa con cho ông bà Đa. Con Nhí một đứa cho già Thạch, một đứa cho má nó. Tệ hại như vậy thánh thần còn không dung nói chi ông Đa.
– Ông ấy bảo sao?
– Ông Đa nói với thằng Vũ rằng mày muốn lấy ai đó kệ mày. Nhưng đừng dẫn bất kỳ ai về nhà của tao. Thằng khốn liền đưa con kia đi thuê phòng trọ.
– Vậy thì kệ chúng nó. Có chi mà tăm tối với tối tăm?
– Ông có biết vì sao mà thằng Thành buộc phải bỏ con Nhí và má con nhỏ chấp nhận nuôi cháu và mặc kệ con ruột ra sao thì ra không?
– Không?
– Con Nhí khi tư thông với thằng Lộc đã bị thằng nầy cho hít đá. Nó mê đắm vô cái chất gây nghiện nầy nên…
– Bà mẹ nó – một thằng trẻ kêu lên –. Nhưng mà bọn nầy ráp vô vui chơi có thưởng chứ có chi mà tối hả chú?
– Tối ở chỗ là con Nhí đang vun cái bụng lên mày ạ.
Cả quán cóc lại tiếp tục ồ lên. Lần nầy thì kinh dị thật sự. Bàn tán một lúc rồi ai đó cất giọng:
– Nhưng chắc gì con thằng Vũ. Con Nhí vẫn gặp thằng Lộc kia mà?
– Thằng Lộc bị tập trung cai nghiện sáu tháng rồi con ơi. Con Nhí bá vô thằng Vũ mới ba tháng nay. Vậy cái bầu là của ai chắc mày rõ?
– Vậy đẻ ra thì chúng nó phải nuôi.
– Nuôi hay không không biết. Nhưng trước mắt chúng nó đã quăng con chúng cho ông bà nội ngoại. Hôm qua tao gặp ông Đa. Nghe ông ấy than thở mà tao muốn sa nước mắt.
Ông Đa nói với bạn thân rằng e là đẻ ra chúng sẽ quăng cho ông nội. Con Nhí và thằng Vũ đã không ngó đến những đứa con chúng đã sanh thì bây giờ có vất thêm cũng không có chi lạ. Hãy hình dung một đêm nào đó trước cửa nhà ông có tiếng trẻ con khóc, mở cửa ra thì một hài nhi không cha mẹ, và chắc chắc rằng đó là cháu mình ông Đa sẽ làm sao?
Ông Đa kể cho bạn già nghe chuyện một cầu thủ lừng danh của Manu hồi thập niên chín mươi của kỷ hai mươi tên Dright Yorke. Cầu thủ nầy cặp kè với một người mẫu cũng lừng danh. Cả hai đều nghiện rượu. Chỉ rượu thôi mà khi ra đời đứa con của họ đã bị mù bẩm sinh. Vậy một đứa bé mà cả cha và mẹ nghiện ma tuý sẽ ra sao?
Ra sao hỡi bóng tối?
Nguyễn Trí