CHUYỆN TÌNH ANH TÔN TẪN

lephuhai

Dĩ nhiên Tôn Tẫn chỉ là cái biệt hiệu chúng tôi đặt cho anh để gọi cho vui thôi chứ thiệt ra không có gì giống nhau cả. Theo điển tích thì Tôn Tẫn là người nước Tề, là một quân sư, một nhà chỉ huy quân sự nổi tiếng thời Chiến Quốc. Tôn Tẫn bị Bàng Quyên, một người bạn học vì ghen ghét tài nên đã mượn pháp luật mà trị tội chặt cả hai chân. Còn anh bạn của chúng tôi chỉ bị cụt một chân tới đầu gối, phải đi chân giả khập khiểng. Chúng tôi quen nhau khi cùng lên vùng kinh tế mới sinh sống theo lệnh của nhà cầm quyền. Cả một khu rừng được ủi thành những đường ngang. Một con đường lớn thẳng góc nối những đường ngang này lại thành con đường giao thông chính. Hai bên đường phân ra thành từng lô gia cư nhìn đối diện nhau, phía sau lô gia cư là lưng của một nhà nào đó khác của đường ngang tiếp theo… và những gia đình sống trong cùng một đường ngang đó gọi là một “đội”. Thôn tôi ở có từ đội 1 đến đội 12, nhà tôi ở đội 4, nhà anh Vinh – Tôn Tẫn – ở đội 10, vậy là gia đình anh lên sau gia đình tôi một hai tháng gì đó.
Những người cùng cảnh ngộ thường dễ làm quen với nhau, nhất là trong cái kiểu hoàn cảnh giống như mình bị hiếp đáp và đe nẹt. Hơn nữa dạo ấy chúng tôi chỉ vừa ngoài hai mươi tuổi, cái tuổi sống rất thật và cởi mở tấm lòng. Tôi làm nghề dạy học, anh Vinh cũng như hầu hết người trong thôn làm nghề nông trên những đồng đất tự khai phá. Ngoài ra anh còn có thêm nghề cưa gỗ, cái nghề nhọc nhằn nhưng kiếm tiền thì cũng sướng. Tôi ngày một buổi đi dạy học, buổi còn lại thường lên rẫy với gia đình. Chỉ có buổi tối thì buồn. Rừng sâu heo hút tối om om, đường sá đi lại thì gập ghềnh mùa khô và sình lầy mùa mưa. Tôi thường hay ra khu tập thể giáo viên ở gần đội 10 để chơi. Nói chuyện tào lao riết cũng hết đề tài, chúng tôi bày ra đánh domino, hết đánh domino lại rủ nhau ra quán cá phê cô Mai cạnh đó uống cà phê nói dóc. Bên ngọn đèn dầu leo lét, chúng tôi gọi mấy ly cà phê và dở bịch thuốc rê ra hút, ngồi nghe lén tiếng hát Lệ Thu hay Khánh Ly từ cái máy cassette cũ rè rè vặn nhỏ. Chúng tôi cảm thấy cuộc đời vậy là vui lắm rồi! Và tôi quen anh Vinh cũng trong một dịp cà phê như vậy.
– Buổi tối ngồi uống cà phê nghe nhạc buồn quá. Mấy ông thầy về nhà tôi chơi không? Về kiếm xị rượu uống cho ấm.
Chúng tôi theo anh Vinh về nhà. Nhà chỉ có anh là lớn, tiếp theo là Mân, đứa em trai cũng trạc tuổi như tôi và hai đứa em gái nữa. Anh kêu hai đứa em gái lấy rượu và nướng mấy con cá khô, gọi thằng em trai cùng ra ngồi chơi chung. Tôi hỏi:
– Ông bà già đâu anh?
– Chỉ có mấy anh em thôi. Bà già bịnh chết gần hai năm nay rồi. Ông già thì đang “cải tạo” chưa về.
Tôi im lặng không hỏi thêm nữa vì nghĩ tò mò chuyện gia cảnh người khác cũng không tế nhị lắm. Cũng may Vinh là người vui vẻ, anh rót rượu ra mời và nói cười một cách tự nhiên, kể về chuyện trồng lúa trồng mì, chuyện cưa xẻ gỗ… Sau vài vòng rượu ai nấy đều cảm thấy ấm lên và câu chuyện trở nên tự nhiên hơn. Anh Vinh nói:
– Chắc là mấy thầy cở tuổi thằng Mân em tôi đây. Vậy là tôi lớn hơn đó. Thôi thì… ngoài công việc dạy học ở trường là vai trò ông thầy thì mình coi như anh em đi, để thỉnh thoảng gặp nhau cho vui ha.
Một người bạn của tôi chợt nói:
– Anh bị cái chân như vầy giống Tôn Tẫn quá, vậy gọi anh là Tôn Tẫn được không?
Anh cười hà hà:
– Giống đâu mà giống. Tôn Tẫn bị cụt hai chân, tôi còn chân rưỡi mà. Nhưng muốn gọi sao cũng được. Cái tên Tôn Tẫn này nghe cũng hiên ngang đó.
Một người bạn khác hỏi:
– Anh bị cái chân lâu chưa?
– Năm bảy ba. Thiếu úy nhảy dù mà…
– Vậy là anh đã giải ngũ rồi, sao lại đi kinh tế mới? Tôi hỏi.
– À, mấy anh em tụi này đi kinh tế mới là theo “diện” ông già. Ổng trước đây làm xã trưởng, có đi cải tạo một năm xong rồi. Về nhà lại tham gia “phản động phản điếc” gì đó nên bị bắt lại. Thiệt là tào lao hết sức.
Nói xong anh lại cười khà khà…

xxx

Kể từ sau cái hôm đến nhà chơi đó tôi bắt đầu quen biết và giao thiệp với anh nhiều hơn. Cái tên Tôn Tẫn ban đầu là do chúng tôi gọi anh, sau rồi nhiều người khác trong thôn cũng gọi, riết thành quen luôn. Ngoài tính cởi mở và vui vẻ anh Tôn Tẫn còn rất tháo vác và giỏi tổ chức công việc. Trong nông nghiệp, anh và đứa em trai làm những việc nặng nhọc như cày cuốc, đào xới, chuyên chở, hai đứa em gái làm việc nhẹ hơn như thu hoạch, gieo trồng, chế biến. Ngoài những ngày chính vụ, anh và đứa em trai còn thường xuyên đi rừng cưa gỗ. Anh nói với tôi nông sản chỉ để làm lương thực phòng hờ chuyện thiếu ăn thôi vì mấy món này mua bán rất rẻ. Gỗ chính là nguồn thu nhập và sắm sửa của gia đình. Anh say sưa mô tả về các kỹ thuật cưa líu cưa lo cưa ngang cưa dọc gì đó mà tôi không nhớ được. Khi đã hơi thân nhau rồi tôi có hỏi anh về thời chinh chiến, anh cười buồn: “Chiến tranh thì có gì vui đâu, chỉ là chết chóc và mất mát thôi mà… chỉ có điều nó kết thúc không có hậu chút nào”

Hai năm sau thằng Mân, em trai anh lấy vợ, anh đứng ra tổ chức lễ cưới, mời mấy anh em trong dàn nhạc đờn ca sáo thổi trong huyện về trình diễn. Năm sau nữa ông già anh được tha về, cũng sống lầm lủi rẫy rừng khiêm tốn vậy thôi, mọi lo lắng giao lưu cũng chỉ từ anh Tôn Tẫn. Ngày chủ nhật nghỉ làm anh thường tạt vào trường học chơi với tụi tôi, đánh cờ tướng, cờ domino hoặc đàn hát. Tôi vẫn thỉnh thoảng cầm đèn pin lội bộ từ đội 4 ra đội 10 ghé trường học rồi ghé nhà anh chơi, tào lao ba điều bốn chuyện. Có lần tôi hỏi anh ngày xưa chiến trận ở đâu, anh kêu con em gái lấy cây đàn ghi ta, từng tưng chỉnh dây rồi hát: “Tháng giêng đưa quân ra Huế, cố đô hoang vu điêu tàn… Tháng ba về trấn ven đô, chong mắt hỏa châu giữ cầu….” Rồi anh kể, có lần hành quân qua một xóm nhỏ vào buổi sáng sớm, tự nhiên có một cậu du kích từ trong một căn nhà chạy ra, lính nổ súng và cậu du kích trẻ kia ngã xuống. Anh tới xem, nhìn thấy trong miệng cậu ta còn miếng cơm nhai chưa nát, nước mắt anh chảy dài… Cũng có lần tôi hỏi anh sao không lấy vợ, anh nói ai thương mà lấy thằng cụt chân kia chứ. Tôi nói anh giỏi giang quá trời thiếu gì cô để ý, anh khều khều tôi ghé đầu lại gần nói nhỏ:
– Cái này nói riêng thầy Tám (anh gọi tôi theo thứ ở nhà) biết thôi, không được tiết lộ nghen ?
Tôi tò mò:
– Chuyện gì mà quan trọng dữ vậy ta ?
– Năm bảy ba anh bị cái chân, cũng có bị tổn thương “hai hòn bi”.
– Chết cha! Tôi la lên.
– Ê, nói nhỏ thôi chứ. Anh chỉ bị đường con cái thôi chứ chiến đấu vẫn ngon đó. Tháng trước đi thị xã mua mấy cái lưỡi cưa anh có “thử” rồi, ngon lành lắm nghen, hà hà…

xxx

Ở cuối thôn, đội 12, có cô Thủy, con của một cảnh sát già góa vợ. Thủy là con gái út, các anh chị ở đâu không thấy, chắc là đã có gia đình riêng đâu đó rồi, chỉ thấy cô ở với người cha trong một căn nhà tranh vách đất. Cô này nhỏ hơn tôi vài tuổi nhưng rất lanh lợi và hoạt bát. Cô thường đi buôn bán nông sản về thị xã, dĩ nhiên chẳng nhiều nhỏi gì nhưng trong cái thời ngăn sông cấm chợ thì đây quả là công việc của một người tháo vác. Thủy không đẹp nhưng có duyên, đặc biệt mắt cô như biết cười. Nói chuyện với mình, trước khi miệng cô nở nụ cười thì dường như đã thấy từ mắt cô có sẵn niềm vui chực chờ đâu đó. Rồi một ngày kia cô Thủy có chửa, cả thôn râm ran bàn tán. Lại càng bàn tán hơn nữa khi đám hỏi diễn ra giữa hai nhà cô Thủy và nhà anh Tôn Tẫn. Ngay sau đó là một đám cưới đơn giản diễn ra. Tôi cũng là một trong những thành viên hăng hái dựng rạp che lều chuẩn bị cho đám tiệc. Cuối bữa tiệc, anh Tôn Tẫn ép tôi ở lại uống rượu, tôi say gần chết, nằm ói trên chiếc đi văng của cô dâu chú rễ, sáng dậy mắc cở chả biết trốn đi đâu. Vài tháng sau cô Thủy sinh một bé gái, tôi từ trường học gần đó ghé qua trạm xá thăm, gặp anh Tôn Tẫn đang hân hoan vui sướng. Anh khoe: “Gần ba ký, đẹp còn hơn công chúa Bạch Tuyết trong truyện bảy chú lùn…”

Tôi sau đó cũng lập gia đình và điều chuyển đi nơi khác, cách chỗ cũ gần mười cây số, nhưng vẫn hay đạp xe về thăm vì ba má tôi vẫn còn ở đó. Thôi nôi rồi sinh nhật lần nào của bé Tiên – con gái anh Tôn Tẫn và cô Thủy – tôi cũng được nhắn về tham dự, dù thường là bữa tiệc chỉ được tổ chức đơn sơ và khiêm tốn. Năm bé Tiên khoảng năm tuổi có một sự cố xảy ra. Hôm đó chủ nhật tôi về thăm ba má xong lửng thửng cuốc bộ ra nhà anh chơi. Đến trước cổng nhìn vào thấy hình như nhà có khách. Đang tính lỉnh đi đâu đó chợt anh nhìn ra kêu lên:
– A ! thầy Tám, ghé vô uống miếng nước chơi.
Tôi còn đang phân vân thì anh khập khiểng bước ra khoác tay qua vai nói nhỏ:
– Vô đây với tôi, thằng này là cha ruột bé Tiên tới xin nhận con đó.
– Ủa, thằng cha này ở đâu ra vậy?
– Nó là cán bộ thuế vụ ở trên huyện.
Tôi cảm thấy có chút lo lắng:
– Bé Tiên đâu rồi?
– Cô nó dẫn qua hàng xóm chơi rồi.
Tôi bước vào nhà, chào quanh quất rồi ngồi xuống cái ghế bên cạnh anh Tôn Tẫn. Xung quanh cái bàn vuông còn có cô Thủy, ba cô Thủy và người thanh niên mà tôi vừa biết là cha ruột của bé Tiên. Anh này khoảng tuổi tôi, người tầm thước, nhìn cũng không đến nỗi khó ưa. Anh Tôn Tẫn giới thiệu:
– Đây là thầy Tám, hồi trước là giáo viên ở đây, cũng là người thân thiết của gia đình nên mình cứ tự nhiên nói chuyện.
Anh thanh niên lên tiếng, như tiếp tục câu chuyện đang dở dang:
– Như đã trình bày với chú Hai và anh Vinh, nguyện vọng của tôi là xin được nhìn nhận bé Tiên là con. Tôi biết mình có lỗi vì đã bỏ rơi “giọt máu” của mình nhiều năm nay, tôi hứa sẽ bù đắp hết sức.
Ba cô Thủy nói:
– Thật là khó cho bé Tiên. Tự nhiên ở đâu xuất hiện một người cha khác, chắc là nó không chấp nhận đâu.
– Từ khi con bé sinh ra tới giờ – anh Tôn Tẫn nói – tôi chưa bao giờ nghĩ nó không phải là con ruột của tôi, và tôi chắc chắn nó cũng vậy. Việc cho anh nhìn nhận nó tôi cũng không bằng lòng nói chi tới việc dẫn nó đi. Bây giờ gia đình ai yên phận nấy rồi, tôi nghĩ không nên làm cho nó xáo trộn thêm.
Chàng thanh niên nhăn nhó:
– Kẹt cái là vợ tôi bị “nâng”, đi khám cùng khắp rồi mà đâu có chữa được. Mà ông bà già thì phàn nàn suốt ngày…
Tôi nghĩ mình cũng nên có ý kiến:
– Về mặt pháp lý thì anh chẳng có lý do gì để nhìn nhận bé Tiên là con mình cả. Việc anh Vinh và cô Thủy đây công nhận mối quan hệ huyết thống giữa anh và bé Tiên đã là một việc tử tế rồi. Giả như cô Thủy phủ nhận bé Tiên là con anh thì anh cũng chịu thôi. Đó là chưa nói nếu ra tòa sẽ không ai xử cho anh được quyền lấy lại bé Tiên đâu.
Chàng thanh niên có vẻ tức tối, anh ta to tiếng:
– Nhưng bé Tiên đúng là con tôi, nó là “mầm sống” của tôi!
“Xoảng” cái ly nước vỡ tan tành dưới nền nhà. Anh Tôn Tẫn đứng lên giận dữ:
– Anh ra khỏi nhà tôi ngay trước khi tôi không kềm chế được nữa. “Mầm sống” cái gì? Xin lỗi anh con chó con mèo ngoài kia cũng có mầm sống đó. Anh không hơn con chó con mèo thì nói gì đến mầm sống mầm chết.
Chàng thanh niên chụp lấy cái mũ trên bàn rồi đi như chạy ra phía cổng. Cô Thủy nhào tới ôm chầm lấy anh Tôn Tẫn, gục đầu vào ngực chồng òa lên nức nỡ…

Lê Phú Hải

hạt lựu chiều hôm

lephuhai

buổi chiều vàng áo mỏng
đuôi mắt giấu nụ cười
hạt lựu cắn trên môi
vỡ ra màu đỏ nhạt

giữa đời ôm đàn hát
nghe sông suối quanh co
một mình nên âu lo
thương ai sầu quá thể

mắt em buồn nhân thế
anh xin làm mi ngoan
bàn chân em gót son
anh sẽ là viên sỏi

người ơi kìa tóc rối
lược- anh cứ chải đầu
anh xin sợi tóc rầu
trên vai em nhỏ nhắn

lỡ thương nên chắc hẵn
nhớ lắm lúc đi xa
trái tim anh bao la
người ơi xin giữ lấy

chẳng có gì nghịch lý
trong chuyện ta yêu nhau
nên người ơi đi mau
chân anh đang vội bước…

LÊ PHÚ HẢI

SÁO KHÔNG BAY QUA SÔNG…

lephuhai

Tôi gọi tên em là Sáo. Mười tám tuổi, Sáo như đóa quỳnh hương hé nụ chờ tinh anh phát tiết. Thương ba mẹ và các em bán quán vất vả, Sáo xin nghỉ học để phụ việc với gia đình. Ban đầu ba mẹ còn ngại ngần chưa chấp nhận vì ông bà muốn Sáo cứ tiếp tục thi, hoặc ít nữa thì ghi danh vào đại học để được “bằng chị bằng em”. Sáo năn nỉ. Cô nói mình không muốn rời xa gia đình. Cô thích luôn được sống trong vòng tay thương yêu trìu mến của ba mẹ và không khí đầm ấm của gia đình. Cuối cùng vì thương con ba mẹ cũng đành nghe theo. Ba nói thôi thì tùy con, sau này có sao ráng chịu, không được trách móc ai… Từ đó, Sáo trở thành cô hàng cà phê xinh đẹp nhất phố. Không thể nào đếm hết được những chàng trai đã từng thẩn thờ vì Sáo. Đó có khi là một anh nghệ sĩ tỉnh nhỏ chưa thành danh trầm ngâm bên ly cà phê đen nhỏ giọt, một cậu ấm lòe loẹt khói thuốc phì phà, một anh giáo trẻ đỉnh đạc, một gã lính kiểng hay một anh chàng “đồng bóng” nào đó. Nhưng đông đảo nhất vẫn là những cậu tú tương lai ham nhạc Trịnh Công Sơn và mê thơ tiền chiến…
xxx
Hai mươi ba tuổi, Sáo rực rở như đóa hướng dương dưới ánh mặt trời. Cô đẹp như một thiên thần. Có nhiều bài thơ, bản nhạc viết tặng cô với những lời yêu thương tha thiết. Mắt, môi, gót chân, bàn tay… của cô đi vào thơ nhạc họa một cách tự nhiên và trọng vọng. Một vài kẻ đã thất tình vì cô. Chàng nghệ sĩ vẫn kiên trì mỗi ngày bên ly cà phê chưa bao giờ uống cạn. Cậu ấm lòe loẹt thôi không còn phì phà thuốc lá nữa, hắn bỗng trở thành kẻ biết buồn.Thầy giáo trẻ vẫn điềm đạm như ngày nào nhưng ai cũng thấy có một chút sầu bi ẩn sau đôi kính trắng. Gã lính kiểng ngày nào giờ không thấy mặt, chắc anh ta đã đi ra chiến trường. Riêng anh chàng “đồng bóng” thì vẫn đồng bóng như thuở nào, nhưng trong vẻ điệu đàng của anh ta có phần nào uể oải. Các cậu tú tương lai vẫn đông đảo và ầm ĩ nhưng không phải những gương mặt quen xưa.
Một sĩ quan đến tỏ tình với Sáo chỉ để nhận được lời cảm ơn. Sáo thấy mình còn quá trẻ và nhất là cô không muốn làm ai buồn.
xxx
Hai mươi lăm rồi ba mươi tuổi, hết chiến tranh, Sáo vẫn còn đẹp lắm. Sau một khoảng thời gian xa cách, xáo trộn và lắm sự đổi thay, quán cà phê nhà Sáo tiếp tục được mở ra như trước dù tiếng nhạc đã khác đi, tranh treo đã khác đi và góc vườn cũng khác đi. Sáo lần lượt gặp lại những người xưa. Chàng nghệ sĩ đã thôi không còn để tóc dài như trước nữa, chỉ lặng lẽ nhìn vào ly cà phê nhỏ giọt. Cậu ấm lòe loẹt hình như đã không còn giàu có. Thầy giáo xưa không còn trẻ nhưng vẫn nghiêm trang một nỗi sầu ẩn dấu. Gã lính kiểng trở về sau ngày hòa bình bây giờ là anh phu xe vui tính hiền lành. Anh chàng đồng bóng đã lấy vợ và chắc chắn đã không còn điệu đàng, hoa mỹ nữa. Các cậu tú tương lai ngày xưa bây giờ đã là người lớn nên khá chững chạc, không còn vui đùa ầm ĩ, họ đã biết suy tư. Viên sĩ quan tỏ tình ngày nào nghe đâu đã chết trong trận đánh cuối cùng… Bất chợt Sáo tự hỏi sao mình vẫn tồn tại? Sao mình đã không bay qua sông?
xxx
Ba mươi lăm rồi bốn mươi tuổi, Sáo bây giờ đã là một người chị khả kính. Các em Sáo lần lượt lập gia đình rồi đi ở riêng, chỉ còn mỗi mình Sáo và ba mẹ già lưng còng tóc bạc. Sáo ít khi soi gương dù biết rằng mình vẫn còn giữ được nét xuân sắc một thời. Bằng chứng là Sáo vẫn thường được nghe những lời bóng gió xa xôi. Cây bàng ngày xưa giờ cũng già vì đã qua bao mùa thay lá. Chàng nghệ sĩ bây giờ râu dài tóc xám, vẫn chưa thành danh và vẫn gật gù thinh lặng bên ly cà phê. Cậu ấm ngày xưa bây giờ đã nghèo thật rồi, những lúc buồn cứ ca cẩm về một thời sang trọng. Người thầy bây giờ cũng đứng tuổi, đã thuyên chuyển về quê và đã lập gia đình, rất hiếm khi về phố. Gã lính kiểng và anh chàng “đồng bóng” cũng bạc nửa mái đầu, không ngừng tất tả chuyện mưu sinh. Các cậu tú tương lai ngày xưa bây giờ có người là công chức, có người là công dân. Họ đều còn khá trẻ và bận rộn nên có lẽ không nhớ gì về những ngày đã cũ. Chỉ có Sáo là một lòng hoài niệm về những ngày đã qua, về một thời tuổi trẻ, về những con người đã từng đến rồi đi, những cảm tình còn để lại… Bất chợt ngại ngần. Có lúc Sáo muốn nhắm mắt sang sông nhưng còn e dè lắm nỗi…
xxx
Bây giờ Sáo đã năm mươi tuổi rồi. Sáo cười đầy dẫy vết chân chim. Đôi má tròn ngày xưa đã bắt đầu chảy xệ. Nhưng tôi vẫn nhìn ra được nét hương sắc ẩn dấu bên trong. Những người xưa bây giờ đâu tá? Tôi – thôi cũng chả thèm dấu nữa – gã nghệ sĩ ngày nào giờ bạc đầu, răng rụng quá nửa, những lúc buồn trốn vợ trốn con đến trầm ngâm bên ly cà phê của Sáo để lắng nghe tiếng thời gian róc rách chảy ngược trở về. Tôi quí Sáo lắm! Sáo đã vì đời mà chẳng chịu sang sông.

(Đêm uống cà phê quán N ở Tuy Hòa, năm 2000)
Lê Phú Hải

VÀ NHƯ THẾ…

lephuhai

… Và như thế chúng mình chia tay
Anh vẫn chưa nói hết được với em những điều anh muốn nói
Sáng sân ga trong mắt em có khói
Và riêng anh sóng vỗ ở trong lòng

Không hò hẹn. Tình cờ thôi. Phố chợ
Mùa hè thủ đô khăn áo rộn ràng
Anh chỉ đến rồi đi mà bỡ ngỡ
Mà xôn xao tàu hú mỗi trưa vàng

Hà Nội ơi chiều nay còn ở đó
Những chuyến xe màu cổ tích chở em tôi?
Và ai đứng bên thềm ga mắt đỏ
Áo trắng hiền lành thương nhớ lắm người ơi

Còn bây giờ…
Qua mấy núi mấy đèo anh trở lại
Thành phố xanh lơ biển biếc ru hời
Sao mà nhớ mắt xoe tròn con gái
Rủ gió mùa thu hớn hở chạy qua đời.

Lê Phú Hải

ÔNG THẦY LUCKY LUCKE

lephuhai

Mới đây tại xóm Bàn Cờ tôi ở có mở thêm cái quán hớt tóc đề tên “Chương”. Tôi rất mừng vì khỏi phải đi xa, xe cộ phiền hà, chỉ cần cuốc bộ năm phút là tới. Trời Sài Gòn nóng nực quanh năm, mình chẳng còn trẻ trung gì nữa nên chuyện đẹp xấu không thành vấn đề, hớt tóc là để cho mát mẽ cái đầu, sẵn cạo bớt râu ria cho gọn gàng.
– Tiệm mới mở hả? bữa giờ qua lại tôi không thấy. Tôi hỏi
– Dạ mới thuê được cái mặt bằng này đó anh. Anh thợ hớt tóc tên Chương trả lời
Tôi leo lên ghế ngồi. Vừa choàng tấm vải qua người tôi anh Chương vui vẻ nói:
– Trước đây tôi cũng đã từng hớt tóc ở xóm này đó anh. Khách quen nhiều lắm. Thiệt tình tôi hớt cũng không đẹp lắm đâu nhưng khách quen vẫn thích đến để nói chuyện. Có khi phải điện thoại hẹn trước đó.
Tôi hỏi:- Vậy rồi đi đâu hay sao mà bây giờ mới quay lại?
– À, cách đây ba năm người ta lấy lại mặt bằng không cho thuê nữa nên đành phải về bên nhà ở hẽm Điện Biên Phủ. Bên đó không bằng đây. Cầm cự thời gian ế ẩm quá tới bây giờ mới thuê được chỗ này, hy vọng khách ngày xưa còn nhớ sẽ tới.
Tôi tin là anh nói thật vì nét mặt và cách nói năng của anh ẩn hiện một điều gì tử tế. Thấy anh bước đi hơi khập khiểng tôi hỏi thăm dò:
– Bộ trước có đi lính tráng gì hay sao mà chân như vậy?
Anh cười hì hì:
– Trời! Lính tráng gì đâu anh. Tôi coi vậy chứ còn trẻ mà. Hồi tết Mậu Thân mới có tám tuổi chớ mấy. Chỉ có ông già hồi xưa là lính không quân. Còn cái chân này là do sốt bại liệt hồi nhỏ.
Tôi nói để anh yên tâm:
– Ờ, ba tôi trước đây cũng là lính. Tôi thì cũng suýt đến tuổi đi lính thôi… Vậy bây giờ ông già anh làm gì?
– Ổng chết rồi, tận cái hồi Mậu Thân. Bị bắn chết.
– Ủa, lính không quân mà…?
– Chắc là do cái số. Ổng là lính không quân ở phi trường Tân Sơn Nhất, làm ở dưới đất thôi, không phải lái máy bay đâu. Hồi đó nhà tôi còn ở Chợ Lớn, tối giao thừa năm đó ông già được ở nhà. Đến hồi súng đạn tùm lum cả nhà phải trốn dưới gầm giường. Gần nhà có cái lô cốt của Biệt Động Quân, đánh nhau chỗ đó cũng dữ lắm. Gần sáng ổng nói để ra phụ mấy ông BĐQ tiếp tế súng đạn chớ lúc này mà chạy tới phi trường thì xa quá. Ai dè ra đó chẳng bao lâu ổng trúng ngay một phát đạn vô ngực…
Im lặng một chút anh nói tiếp:
– Tội nghiệp bà già. Hồi đó bả cũng còn trẻ. Trên tôi là một bà chị cũng mới mười tuổi chớ mấy. Còn hai thằng em nữa. Vậy mà từ đó cho tới sau này một tay bả lo lắng hết, ở vậy nuôi con.
– Chính phủ hồi đó không có trợ cấp gì sao?. Tôi hỏi
– Có chớ – anh trả lời – Sau khi khám xét cẩn thận người ta biết ổng chết là do viên đạn AK bắn trúng ngực, nên mới làm thủ tục công nhận tử sĩ. Cũng nhờ đó mà mấy chị em mới được ăn học tiếp tục. Tôi và bà chị học trường Quốc gia nghĩa tử ở Tân Bình. Hai thằng em học trường Quốc gia nghĩa tử ở Thủ Đức để ở nội trú luôn. Anh có biết hai trường này không?
– À, tôi có nghe nói trường Cao đẳng Kỹ thuật bây giờ trước đây là trường Quốc gia nghĩa tử, nằm gần bệnh viện Vì Dân của bà Thiệu, bây giờ là bệnh viện Thống Nhất. Còn trường ở Thủ Đức thì không biết.
– Đúng rồi đó anh. Hồi đó gần trường còn có cái nghĩa địa Tây nữa. Ngày xưa đi học ở đó cũng nhiều kỷ niệm lắm… Tiếc là mới học hết lớp tám thì “giải phóng” tuốt. Nhớ nhiều nhất là ông thầy Lucky Lucke.
– Ủa, ông thầy Lucky Lucke nào?…

Sau khi ba tôi chết trong tết Mậu Thân 68, chúng tôi được gởi học tại trường QGNT. Đây là trường được thành lập trong thời kỳ tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, là nơi dành cho con em tử sĩ và thương phế binh theo học, qui chế như một trường công lập, chưa kể có những đãi ngộ đặc biệt khác.
Năm tôi học lớp bảy, giáo sư phụ trách là một thầy giáo, ốm và cao lòng nhòng, miệng hay ngậm điếu thuốc trông rất giống nhân vật Lucky Lucke trong truyện tranh hồi đó nên chúng tôi đặt tên thầy là Lucky Lucke, dĩ nhiên là chỉ nói sau lưng thôi. Thầy dạy môn Toán, giọng nói hơi khàn khàn nhưng nghe cũng dễ hiểu bài. Chúng tôi được biết thầy là lính biệt phái, trước đó thầy là trung úy thuộc sư đoàn 7 bộ binh. Thầy rất vui vẻ và có óc khôi hài. Lớp chia ra 4 đội, thầy gọi là tiểu đội và phong cho cấp bậc đàng hoàng. Trưởng lớp là chuẩn úy, đội trưởng là trung sĩ, còn lại là binh nhì, binh nhất. Mỗi lần kêu lên bảng giải toán thầy toàn kêu binh nhì, binh nhất, ví dụ như: “tiểu đội 1 binh nhì Chương, tiểu đội 2 binh nhất X, Y, Z v.v… lên bảng giải bài toán này”. Bài toán quá khó binh nhì giải không ra thầy lại tiếp tục: “Binh nhì đứng qua một bên, mấy trung sĩ lên cứu bạn đi” và mấy đội trưởng tiếp tục lên giải bài tập. Cũng có khi gặp trường hợp bài khó thầy gọi chuẩn úy – là trưởng lớp – lên giải quyết. Kiểu quân sự hóa chuyện học hành như vậy làm chúng tôi thấy vui vẻ và không khí thi đua hăng hái lắm, tuy áp lực lên mấy “trung sĩ” và “chuẩn úy trưởng lớp” hơi căng thẳng…
Nhưng nhớ nhất không thể nào quên là đợt liên hoan cuối năm. Xong phần bánh trái nước ngọt là đến phần văn nghệ. Vài đứa chúng tôi lên hát giúp vui, thầy Lucky Lucke đệm đàn ghi ta. Cuối cùng thầy nói:
– Hôm nay thầy sẽ chia tay các em luôn vì hết năm học này thầy sẽ không còn gặp các em nữa. Thầy được điều động trở về đơn vị vì tình hình chiến cuộc căng thẳng quá. Để chia tay, thầy sẽ hát tặng các em bài hát “Đồi thông hai mộ”. Đây là bài hát mà thầy rất thích vì nó in đậm một kỷ niệm khó quên trong đời lính của thầy…
Chúng tôi nhao nhao lên:
– Kể đi thầy, kể kỷ niệm Đồi thông hai mộ đi thầy…
– À, chuyện là như vầy, chiều hôm đó đại đội của thầy vừa hành quân đến một vùng quê thuộc tỉnh Kiến Tường, lặng lẽ đóng quân rãi rác kéo dài ven một con sông nhỏ. Sáng hôm sau thức dậy sớm thầy ra bờ sông súc miệng, tự nhiên nghe có tiếng hát văng vẳng “Một chiều rừng gió lộng một chiều rừng nhớ chuyện bên đồi thông. Nàng năm ấy khi tuổi vừa đôi chín tâm hồn đang trắng trong…”. Chỉ có một câu hát mà lập đi lập lại hết giọng nam lại đến giọng nữ. Thầy chui vào một lùm cây núp nhìn ra sông. Một lát nghe có tiếng mái chèo rồi chẳng mấy chốc hiện ra một chiếc xuồng nhỏ, trên có một đứa con trai và một đứa con gái còn rất trẻ, mặc đồ bà ba đen cổ quấn khăn rằn. Thì ra chàng trai đang bày cho cô gái hát. Lúc đó thầy hơi hoảng. Chết cha! VC… Không nghĩ ngợi thầy chạy vội lên bờ gọi điện đàm cho toán quân đóng ở phía dưới báo tin có hai VC đang chèo ghe xuôi dòng. Không lâu sau rộ lên mấy tràng súng nổ. Thầy vội vả mặc áo quần xách súng chạy xuống. Đến nơi chỉ còn thấy hai cái xác lổ chổ vết đạn nằm sát cạnh bờ, chiếc xuồng lật úp nằm bên cạnh. Tới gần thầy nhìn thấy cuốn vở đang mở ra, vẫn còn nguyên chỗ bài hát có đầu đề “Đồi thông hai mộ”. Thầy thấy lòng xót xa quá. Chiến tranh mà, thầy đâu thể làm gì khác hơn được! Từ đó thầy bị ám ảnh và cứ thích hát đi hát lại bài hát này. Không biết hai cái mộ của chàng trai và cô gái kia bây giờ ở đâu?
Nói xong thầy hát “Một chiều rừng gió lộng một chiều rừng nhớ chuyện bên đồi thông…” giọng khàn khàn và buồn bả…

Kể xong câu chuyện anh thợ hớt tóc chợt nói bâng quơ: “Không biết bây giờ ông thầy ra sao rồi, còn sống hay đã chết, có tù tội gì nhiều hay không nữa…” Những câu hỏi không chờ đợi được trả lời…
Câu chuyện kể của anh thợ hớt tóc tên Chương cũng làm tôi băn khoăn cả ngày hôm đó. Dĩ nhiên người thầy giáo trung úy biệt phái trong câu chuyện cũng có tên tuổi đàng hoàng, nhưng tôi muốn giữ cái tên Lucky Lucke bởi vì trong ký ức thời thơ ấu của chúng tôi nhân vật Lucky Lucke là một con người trượng nghĩa, trừ gian diệt bạo xong lại một người một ngựa lên đường đi về phương trời vô định. Biết rằng chỉ là một liên tưởng vui vui vậy thôi nhưng nó cứ bắt mình nhớ lại những chi tiết không đâu. Kiểu như nhớ lại có lần tôi nghe anh tôi nói với má tôi trong một chuyến nghỉ phép về từ sư đoàn 23 trên cao nguyên:
– Chiến tranh thật là kinh khủng má ơi! Người chết và bị thương nhiều lắm, ngày nào cũng có, bên nào cũng có. Nhiều khi nhìn xác VC chết đầy dẫy mà lòng con cũng xót xa…
Má tôi buồn bả nói:
– Hay là con ở nhà luôn đi, đừng trở lên đó nữa?
– Đâu có được, má. Đơn vị rồi bạn bè lính tráng còn đó mà sao bỏ đi cho được…
Trong một giây phút tôi chợt hiểu ra rằng những người như ông thầy Lucky Lucke hay như anh tôi cũng chính là số đông những người lính cầm súng ngày ấy. Họ được dạy Tổ quốc – Danh dự – Trách nhiệm nhưng không được dạy lòng hận thù. Họ được học cách chiến đấu để sinh tồn chứ không phải học nghề đao phủ. Họ là những chiến binh nhân ái… Và bây giờ đội quân này đã không còn nữa. Có khi rồi mai mốt đây vết tích cũng chẳng còn.
Nhà văn Võ Phiến trong một biên khảo về văn học miền Nam sau này có trích mấy câu thơ của Nguyễn Bắc Sơn và Hà Thúc Sinh như sau:
Ta vốn hiền khô, ta là lính cậu
Đi hành quân, rượu đế vẫn mang theo
Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo
Xem chiến cuộc như tai trời ách nước
(Chiến tranh VN và tôi – Nguyễn Bắc Sơn)

“Giao thừa đâu mà vội
Hãy khoan đã chú mày
Cứ đóng xa vài dặm
mà ăn uống cho say
Ta cũng người như chú
cũng nhỏ bé trong đời
có núi sông trong bụng
mà bất lực hôm nay…
………………………
Vì nói thật cùng chú
Trăm năm có là bao
Binh đao sao biết được
Sinh tử ở nơi nào.”
(Nghinh địch hành – Hà Thúc Sinh)

LÊ PHÚ HẢI

Bóng Đổ Chiều Trôi

lephuhai

Mùa hè năm 2011 anh tôi gả chồng cho con gái. Vì nó là đứa con gái duy nhất của gia đình nên anh tôi muốn sự có mặt đầy đủ của hai bên họ hàng nội ngoại. Cẩn thận hơn anh tôi chọn ngày cưới rơi vào thứ bảy và chủ nhật, lại là ngày 30 tháng tư, sẽ không ai có cớ bận việc để chối từ. Nói đến ngày 30 tháng tư thì chắc ai cũng biết, ở VN đây là ngày lễ kỷ niệm trọng thể, mọi người đều được nghỉ làm việc trong ngày này. Nếu ngày lễ trúng vào thứ bảy hay chủ nhật thì sẽ được nghỉ bù vào ngày trước hoặc sau đó. Chị dâu tôi quê ở Sài Gòn nên phần lớn anh chị em sinh sống nơi đây. Họ bàn nhau hùn tiền thuê nguyên chiếc xe ca để về quê dự đám cưới. Đoạn đường từ Sài Gòn về Nha Trang khá xa, xe đi nhanh cũng phải mất gần mười tiếng đồng hồ, mọi người bàn nhau nên đi buổi tối để tiết kiệm thời gian. Mấy năm nay tôi sinh sống ở Sài Gòn nên cũng đóng tiền tham gia cùng đi cho tiện. Mọi người đi cả gia đình, riêng tôi chỉ đi mình ên…

Nói anh tôi ở Nha Trang là nói cho dễ hình dung hoặc cho “oai” chứ thật ra gia đình anh tôi ở tại xã Diên Xuân thuộc huyện Diên Khánh, cách thành phố Nha Trang gần ba mươi cây số về hướng tây, cách ngả ba Thành gần hai mươi cây số. Tên thường gọi nơi đây là Đất Sét, nguyên trước kia là vùng “kinh tế mới” mà năm 1976, sau khi “cải tạo” về anh tôi và vợ con bị cưỡng bức lên đây lập nghiệp. Dĩ nhiên ngày đó cảnh vật còn hoang vu nhưng giờ đây đã đông vui lắm rồi. Sinh hoạt bán buôn, quán xá cũng nhộn nhịp không khác gì một thị trấn nhỏ…

Sau đám cưới mọi người bàn nhau trên đường về sẽ ghé lại biển Nha Trang chơi trong khi chờ chiều tối đi về lại Sài Gòn cho mát mẽ. Tôi chẳng có ý kiến vì Nha Trang đối với tôi có xa lạ gì đâu. Tôi sinh ra, lớn lên và ăn học tại đây cho đến khi mười tám tuổi mà… Chiếc xe ca dừng lại chợ Đầm cho mọi người đi chợ trước khi chạy ra hướng biển. Biển cũng như xưa, đường cũng như xưa, chỉ khác là có thêm khá nhiều tòa nhà bê tông cốt thép và hè đường toàn lát gạch xi măng. Nhìn phía biển thấy lác đác mấy cây dừa, và hàng dương ngày xưa bây giờ già ngơ già ngắc, thân xù xì vặn vẹo như ông già hết gân. Chỉ có biển và mấy hòn đảo phía xa xa là hoàn toàn không thay đổi, lặng lẽ và im lặng… Xe chở chúng tôi ngừng ngay bờ biển cạnh đường Nguyễn Tri Phương. Mọi người vội vả chui vào mấy gốc dương tránh nắng và lần lượt bày biện thức ăn, đồ uống. Lũ trẻ con lâu ngày được nhìn thấy biển vui mừng chạy nhảy reo hò inh ỏi. Mà không chỉ chúng tôi, chung quanh còn có khá đông du khách. Nhìn để đoán thì thấy có kẻ ở thôn quê ra, người tỉnh xa mới đến. Ai cũng vui vẻ và hài lòng, vì lúc này đang là dịp cuối tuần và nghỉ lễ.

Đã ba giờ chiều mà trời vẫn còn rất nắng. Mặt trời ở đằng tây chiếu xiên qua các tòa nhà đổ bóng xuống đường Duy Tân dọc bờ biển. Từng nhóm người dưới mỗi gốc cây vẫn còn túm tụm nhau ăn uống chuyện trò rôm rả, giấy báo và bịch ny lông bay khắp chung quanh. Có cả những lon bia rỗng nằm lăn lốc. Loáng thoáng thấy có bóng áo xanh của mấy người đàn bà lao công đang quét dọn. Tôi đưa mắt nhìn ra phía biển, nắng nhuộm vàng cả bãi cát kéo dài. Tự nhiên tôi để ý đến mấy ki ốt lợp tranh lá mọc lên chênh chếch chỗ tôi ngồi. Có cả những chiếc giường gỗ be bé, trên có mấy người đang nằm đọc sách. Ủa, cảnh này thấy quen quen, giống như ở mấy cái resort trong Mũi Né mà tôi có qua lại mấy lần. Có cả mấy ông Tây bà Đầm đang ngồi phơi nắng. Thỉnh thoảng lại thấy có anh bồi đeo cà vạt cẩn thận dắt vài ba người khách ngoại quốc ở trần băng qua đường Duy Tân từ một tòa nhà lớn phía đối diện. Họ đang đến với khu vực “resort” mà tôi quan sát nảy giờ. Chuyển cái tò mò sang tòa cao ốc, tôi ngước nhìn lên cao. Hàng chữ hotel Sheraton thật to phía trên tòa nhà hiện ra mà khi mới đến tôi chưa kịp nhìn thấy. Cái tên cũng quen quen, có lẽ cái hotel này cũng có “bà con” gì đó với khách sạn Sheraton ở Sài Gòn thì phải? Toàn bộ khu vực tòa nhà nằm ngay góc đường Duy Tân và Nguyễn Tri Phương. Nhớ rồi! Khu vực này sau biến cố bảy lăm là cửa hàng ăn uống, còn trước đó hình như là một cơ quan gì đó của người Mỹ tôi không nhớ rõ. Nhưng có hề chi, dù là gì đi nữa miễn là nó phục vụ cho con người là tốt rồi. Điều ngạc nhiên ở đây là vấn đề “sở hữu”. Không biết có luật lệ nào qui định hay không nhưng có vẻ như hotel Sheraton sở hữu luôn cả khu vực bãi biển phía trước nó. Tuy không có một sợi dây nào giăng ra nhưng nhìn vào ai cũng thấy bờ biển ngay trước mặt tòa nhà là thuộc quyền riêng tư, không lấn thêm hay hẹp hơn dù chỉ một mét. Chỉ khác ở chỗ các khu resort Mũi Né nằm sát trên bờ cát, việc dành riêng bãi tắm tiếp nối ngay đó không làm mình ngạc nhiên hay thắc mắc, còn ở đây tòa nhà nằm bên kia đường Duy Tân hai chiều xe chạy, tưởng như không có mối liên quan nào tới bãi biển. Bởi vậy nên khi mới nhìn thấy tôi đã ngỡ ngàng tưởng như có cái resort be bé nào đó của Mũi Né rơi ngay xuống bãi biển Nha Trang này. Kể ra thì cũng hay hay, cũng sang trọng, nhưng nhìn tổng thể thấy giống cái mụt cóc trên mu bàn tay thật chướng.

Nhưng mà thôi! Đó là chuyện của thiên hạ. Nha Trang trong ký ức tôi vẫn là Nha Trang của tuổi học trò hồn nhiên thơ mộng. Tôi dự định đi bộ lòng vòng qua vài con đường quanh đó xem đổi khác có nhiều không. Cũng ngay góc đường Nguyễn Tri Phương và Duy Tân này là trường Lasan Bá Ninh. Tôi có học tại đây hai năm lớp tám và lớp chín. Trường có nhiều đổi khác. Các dãy lầu cũ phía bờ biển vẫn còn đó nhưng đã mọc thêm nhiều tòa nhà mới bên trong, khoảng sân trông như có vẻ bị thu hẹp lại. Khu vực phía tây thay đổi nhiều hơn, cổng trường cũng đổi khác và có thêm nhiều cổng phụ. Bây giờ nơi đây là trường cao đẳng của tỉnh nên có lẽ họ cần xây dựng thêm tối đa để khai thác. Chỉ tội cho cái sân trường. Nếu tôi nhớ không lầm thì ngày xưa cả Nha Trang chỉ có hai trường Lasan Bá Ninh và Khải Minh (trường Tàu) là có sân bóng rổ…
Từ trường Lasan Bá Ninh đi thẳng theo Nguyễn Tri Phương đến cuối đường rẻ trái là trường nữ trung học Huyền Trân, rẻ phải đến đường Bá Đa Lộc, nơi có trường nam Võ Tánh. Kế bên trường nữ trung học, qua bên kia đường Lê Thánh Tôn có trường trung học bán công Lê Quí Đôn, nằm trên đường Tô Hiến Thành. Tôi đã theo học ở đây hai năm lớp mười và mười một cho đến khi giải tán năm bảy lăm. Vì là địa điểm có nhiều trường trung học nên mỗi buổi tan trường ở khu vực này rất vui. Học sinh từ các con đường túa ra như hàng đàn bướm trắng mỗi độ vào mùa. Tôi và mấy thằng bạn đã từng đứng đó tập tễnh làm thơ. Và chắc chắn rằng đã có không ít người sẽ trở thành thi sĩ nhờ những buổi tan trường này. (Đó là chưa kể trường Hưng Đạo, Thánh Tâm và Vinh Sơn ở ngả Sáu, trường Hàn Thuyên và College của người Pháp ở gần đó).

Tôi đứng ở ngả tư bâng khuâng tự hỏi không biết những người của ngày xưa nơi đây nay có còn ai không ta? Tự nhiên tôi thèm được nói chuyện với một ai đó, khơi gợi lại chút ký ức thuở học trò xa xưa. Một ai đó chỉ cần đã từng có mặt trong đám đông ngày ấy thôi cũng được, không cần phải là người quen biết…
Bên kia đường có một quán cóc, người bán là một phụ nữ trạc thế hệ tôi, to con và có khuôn mặt dễ cảm tình. Thật ra đó không phải là cái quán, chỉ là cái bàn nhỏ, trên để mấy chai nước ngọt và tủ thuốc lá, nằm sát bên trạm xe buýt. Cạnh đó là cái bàn nhựa và bốn cái ghế nhỏ dành cho khách. – Uống gì anh hai? Tôi đưa mắt nhìn vào mấy chai nước ngọt bày sẵn trên bàn. Nắng rọi trên mấy nhãn hiệu màu xanh màu đỏ của chai nước làm tôi thấy ngại ngùng. Tôi nói: – Sao để nước ngoài nắng vậy hả chị, hư hết còn gì? – Dạ để mấy chai làm mẫu thôi anh hai. Nước bán em để trong két phía trong đây nè. Anh uống gì không để em lấy? Tôi nghĩ ngợi chút xíu rồi chọn mua chai nước lọc. Người phụ nữ đặt chai nước và ly đá lạnh lên bàn nói bâng quơ: – Trời sắp chiều rồi mà cũng còn nắng ghê. Ra đường khát nước lắm đây. À, anh hai đi theo đoàn tham quan hả? – Tham quan gì đâu – Tôi cười – theo xe đi ăn đám cưới về ghé biển chơi chút rồi vô lại Sài Gòn. À, mùa này chắc khách du lịch đông lắm hả chị? – Dạ, cũng đông. – Sao bán buôn gì có mấy cái ghế vậy, lỡ khách vô nhiều chỗ đâu ngồi? – Bán lề đường mà anh hai. Phải gọn gàng để mỗi khi trật tự đô thị tới thì mình chạy cho nhanh chớ. Người ta đâu có cho buôn bán trên vĩa hè này, sợ mất thẩm mỹ. Tôi tỏ vẻ thông cảm: – Chà, cũng cực dữ ha. – Quen rồi anh ơi!
– Nhà chị có ở gần đây không? – Tôi hỏi.
– Dạ em ở trên Phương Sài, gần chợ Phường Cũi.
– Từ Phương Sài xuống đây bán cũng hơi xa à?
– Dạ, bán lâu nên cũng quen anh ạ. Ờ, mà anh hai người Sài Gòn hay ở đâu vậy?
– Sài Gòn gì, trước đây tôi cũng ở Nha Trang đó chớ.
– Vậy sao? Ờ, mà anh hai biết không, nói chắc không ai tin chớ từ nhỏ tới giờ em chưa vô tới Sài Gòn bao giờ cả.
Tôi ngạc nhiên: – Ủa, sao lạ vậy? Cũng đâu có xa xôi gì.
– Thì bởi vậy mới nói. Thiệt ra em cũng có một vài người bà con xa ở trong đó, và có mấy lần em tính vô Sài Gòn một chuyến cho biết, nhứt là ghé mấy cái chợ lớn coi người ta buôn bán ra sao. Nhưng lưỡng cước rồi không đi. Mà nghe nói trong đó người Sài Gòn hồi xưa không còn nữa, người ta đi hết trơn rồi.
– Ủa, người ta đi đâu?
– Thì đi di tản qua ngoại quốc chớ đâu. Bây giờ toàn là người mới tới không hà.
Tự nhiên tôi có cảm giác hơi giật mình. Người phụ nữ này có cái suy nghĩ thật lạ, mà nghĩ cho đến cùng cũng không sai. Ví như tôi đây cũng chỉ mới lưu lạc sinh kế trong đó chưa tới mười năm, chưa đủ sức dựng cho mình một mái che trú mưa trú nắng. Và những người tôi gặp trong bước đường bươn bả mỗi ngày cũng vậy, chẳng phải họ từ miền bắc, miền trung, hay miền tây về đó hay sao? Kể cả những căn nhà phố, nhà trệt, nhà lầu, chung cư hay biệt thự chẳng hạn, chắc gì chủ nhà là những người Sài Gòn trước kia còn lại? Chắc là không còn. Công việc của tôi đi lại tiếp xúc khá nhiều và cũng chưa hề gặp người nào.
Tôi chỉ tay qua bên phía trường cao đẳng: – Trước đây tôi có học trường này hai năm. Hồi đó là trường Lasan Bá Ninh. Còn chị trước có học trường nào gần đây không?
– Dạ không, em học ở Phương Sài.
– Ủa, Phương Sài có trường nào vậy ta?
– Là em nói trường tiểu học đó. Em đang học lớp sáu là “giải phóng”, sau đó có đi học thêm hai năm nữa nhưng nhà cực quá nên nghỉ luôn.
Tôi cảm thấy hơi chưng hửng. Cứ tưởng người phụ nữ này nếu không phải đồng trang lứa với tôi thì chí ít chỉ nhỏ hơn hai ba lớp là cùng. Ai dè! Tôi lén nhìn kỹ lại khuôn mặt của chị ta. Kể ra thì cũng chưa đến nỗi “già” như tôi nhưng có lẽ do vất vả và chả sửa soạn gì nên mới nhìn tưởng đã lớn tuổi. Có lẽ hiểu lầm vẻ mặt đang ngớ ra của tôi, cô ta nói tiếp, như là muốn phân bua. – Hồi đó đáng lẽ em cũng còn tiếp tục đi học nữa nhưng vì ba em chết năm bảy lăm nên gia đình cũng sa sút , đành phải nghỉ học để đi làm.
– Vậy năm bảy lăm gia đình chị có đi di tản hay chạy loạn gì không mà bác trai bị chết vậy?
– Dạ không. Ba em chết trận.
Tôi thoáng chút ngạc nhiên. Còn nhớ rất rõ ngày 10 tháng 3 thất thủ Ban Mê Thuộc, ba tôi bị mất liên lạc trong những ngày này. Sau đó đoàn người di tản đi theo tỉnh lộ 7 về Tuy Hòa. Ngày 1 tháng 4 mất Tuy Hòa, 2 tháng 4 mất Nha Trang.
Tôi nói: – Ngày 2 tháng 4 là “giải phóng” Nha Trang rồi. Vậy ba chị chết trận lúc nào.
– Dạ, đâu là sau tết. Em nhớ tết đó ba còn về ăn tết mà. Ba chết ở Qui Nhơn. Ba là lính của “sư đoàn bốn lăm”.
Tôi im lặng nghĩ thầm, năm bảy lăm người đàn bà này chừng mười hai tuổi, đâu có hiểu gì về chiến tranh, tội nghiệp! Có lẽ ba cô ta là lính của sư đoàn 22.
Tôi tò mò: – Hồi đó chị cũng còn nhỏ mà. Có còn nhớ gì về ba không?
– Sao lại không nhớ, hồi đó em cũng lớn rồi mà anh hai – Cô ta bỗng trở nên sôi nổi – Anh hai biết không, hồi trẻ ba em rất đẹp trai, ổng làm nghề sửa đồng hồ ở chợ Phương Sài ai cũng biết. Má em thương ổng nên dù cho phía ngoại không bằng lòng bả vẫn cứ đòi lấy ổng cho được. Cho tới lúc tới tuổi đi lính. Không thể sống xa được vợ con nên ổng trốn. Ổng dời tiệm đồng hồ ngoài chợ về nhà làm, khi nào có cảnh sát xét nhà thì ổng lánh mặt. Miết sau này ông trưởng ấp tới nói trốn hoài đâu có được, sớm muộn gì cũng bị bắt nên ba em mới đi đăng lính. Ổng nói đăng lính ở Qui Nhơn cũng không xa, có thể chạy về thăm vợ thăm con được. Bình yên được mấy năm ai dè qua năm bảy lăm thì ổng chết. Tội ghê. Ráng thêm mấy tháng nữa là qua được rồi.
Tôi nói theo kiểu xuôi xị: – Thì cũng là cái số thôi chị à, cái số phải chết trận.
– Thì đó! Ba bị đạn bắn chết khi hai bên đang đánh nhau.
– Rồi có đưa xác về được không?
– Có chớ. Má ra Qui Nhơn nhận xác ba. Xe nhà binh chở về trong này. Nghe má kể lại trên xe không phải chỉ có ba, còn có nhiều xác lính khác nữa. Mà trên đường về cũng rất nguy hiểm, bị chận đánh và pháo kích dữ lắm, nghe đâu là chỗ cái đèo gì ngoài đó em cũng chẳng nhớ nữa. Cực lắm mới đưa được về tới Nha Trang.
Tôi hình dung có lẽ người lính này chết trong những ngày tháng ba năm bảy lăm, ở một trong những trận đánh cuối cùng nào đó của quân đội miền Nam, vì sau đó không lâu thì cả miền trung bị thất thủ. Cô ta kể tiếp: – Đám tang của ba cũng trọng thể lắm anh hai ạ. Hòm của ba có phủ cờ và có lính khiêng đàng hoàng. Có súng bắn tiễn đưa nữa đó. Bây giờ nhắc lại thấy thương ba quá chừng.
Chà! không biết cô bạn này có “nổ” không vậy ta? Lính lác chớ có phải sĩ quan đâu mà súng bắn tiễn đưa? Tôi nhìn qua người phụ nữ, thấy cô ta đang rơm rớm nước mắt. Và tôi nghĩ chắc cô ta không khoác lác. Lúc đó cô ta chỉ là đứa bé con còn bây giờ thì đâu có lý do hay vinh dự gì để nói khoác. Cô ta chỉ đang nhớ ba mình và kể lại những hồi ức chập chờn còn mất. Nhà tôi ở sát bên nghĩa trang núi Sạn nên tôi đã từng nhiều lần chứng kiến người ta chôn cất những người lính chết trận. Có người chôn trong hòm kẽm, có người chôn bằng hòm gỗ, luôn có một lá cờ vàng sọc đỏ phủ lên trên. Tôi còn biết những người nằm trong hòm kẽm là xác đã chết lâu ngày và chuyển từ mặt trận ở xa về. Thường trước khi lấp đất người ta phải dùng xà beng đâm thủng một lổ trên nắp hòm, để thông hơi cho xác chết mau tiêu. Những lúc ấy mùi hôi thối bốc lên thật là kinh khủng. Ba của người phụ nữ này chết trong những ngày tháng cuối cùng của một chế độ, còn kịp đón nhận loạt súng tiễn đưa, xét ra cho cùng vẫn còn may mắn hơn hàng vạn người chết vất vưởng bụi bờ sau đó…

Một cái đám cưới, một ngày 30 tháng tư, một chuyến đi và một chút hồi ức về thời học sinh tự nhiên lại dẫn tôi quay về với nỗi ngậm ngùi của những mất mát qua câu chuyện riêng tư của người phụ nữ bán nước ven đường. Tôi trả tiền nước rồi quay về theo hướng biển. Trời đã chiều, ánh nắng chiếu cái bóng tôi dài ngoằng đang bước đi trên hè đường. Cái bóng có vẻ buồn và cô độc.

Lê Phú Hải

THỜI GIAN KHÔNG TRÔI ĐI…

lephuhai

Khi tôi lớn lên dì Hạnh vẫn còn trẻ lắm. Vết chân chim lờ mờ hai bên khóe mắt vẫn không làm xấu đi khuôn mặt tươi trẻ của dì. Dì sống tại khu phố cũ với đứa con trai bị lùng khùng từ nhỏ. Nhà của dì nằm lọt thỏm giữa một vườn cây đủ loại, từ các loại cây ăn trái như mít, xoài, ổi cho đến các thứ cây cảnh được trồng không theo một thứ tự nào. Và dường như tất cả được phủ lên bằng một lớp rêu xanh cũ kỹ cho phù hợp với mái ngói âm dương đang trân mình cố chịu dãi dầu với dòng thời gian không ngừng đi qua trước ngõ…
Nhà dì ở khá gần sông nhưng không khi nào dì đi ra bờ sông mặc dù mùa hè ở đây rất mát và cảnh trí không ngừng được công ty cây xanh tu tạo ngày càng thêm đẹp đẽ. Dì chỉ quanh quẩn với khu vườn, căn nhà và cái quán may nhỏ bé của mình nằm bên cạnh cổng. Hồi nhỏ tôi rất thích cái quán may của dì vì lúc nào nơi đây cũng tíu tít tiếng cười đùa của những cô gái học việc. Họ thường là những người ở quê ra với nguyên xi những chân chất thơ ngây, thậm chí thô vụng của mình. Và vì vậy dì tôi rất thương yêu họ.. Nhưng điều hấp dẫn tôi lúc đó ngoài tiếng máy may kêu xành xạch là mấy thẩu bánh kẹo to đùng và đủ loại mứt hoa quả do dì chế biến từ các nhóm cây trái trong vườn… Tôi thường đạp xe qua nhà dì, làm bộ lăng xăng lít xít để được dì cho ăn, nhưng ngại nhất là sợ bị phải trông coi thằng Tuấn – con dì. Nó thường hay lang thang đâu đó rồi đi lạc khiến mọi người phải cuống cuồng tìm kiếm. Những lúc ấy dì tôi trông lo lắng đến tội nghiệp… Lên khoảng sáu bảy tuổi thì thằng Tuấn bị bệnh rồi mất. Dì ở lại một mình trong căn nhà hai gian rộng và hoang vắng. Tôi lại càng hay qua lại với dì nhiều hơn, để dì đở buồn, má tôi vẫn thường nói như vậy.

Lớn hơn một chút tôi mới biết thêm về cuộc đời dì qua lời kể của má và bà ngoại. Hóa ra ngày xưa dì cũng là cô giáo. Dì tốt nghiệp Đại học cộng đồng duyên hải Nha Trang từ trước bảy lăm và về đây dạy học. Năm bảy ba dì lấy chú Khoa là bạn học cũ thời trung học. Năm ấy chú Khoa vừa tốt nghiệp trường Quốc gia hành chánh ở Đà Lạt và đi làm việc tại Phú Bổn. Dì Hạnh vừa mang bầu thì xảy ra biến cố bảy lăm, bắt đầu từ Tây nguyên. Chú Khoa mất tích trong đoàn người di tản tán loạn lúc đó. Tại thị xã dì Hạnh cũng bị cuốn đi trong cơn lũ tháo chạy. Dì bị chìm ghe trong lúc vượt qua sông. Rồi cũng chẳng biết nhờ đâu dì được cứu thoát và khi tỉnh dậy trên bờ cát, tiếng súng vẫn còn nổ ì ầm trong đêm. Dì thất thểu quay về nhà ngoại. Còn chú Khoa vẫn bặt vô âm tín.
Mãi tới khi mọi việc xong xuôi, chính quyền mới được thành lập, rồi được triệu tập đi dạy trở lại, dì vẫn cứ mãi ngóng trông vì nghĩ rằng chắc chú Khoa chỉ bị thất lạc đâu đó. Sau này có người nói đã thấy chú bị đạn chết trên đường dì cũng vẫn không tin, vẫn bình thản chờ đợi như thể chú vẫn còn đi làm xa đâu đó chưa về. Sau đó dì sinh thằng Tuấn. Không hiểu do bẩm sinh hay vì ảnh hưởng của đạn bom mà từ lúc sinh ra nó đã bị ngớ ngẩn. Dì Hạnh xin nghỉ việc ở nhà chăm sóc con từ đó… Điều đặc biệt là dì không hề tỏ ra khắc khổ hay ưu phiền quá độ. Dì vẫn cười nói, vẫn vô tư và vui vẻ. Chỉ có điều khái niệm thời gian của dì hình như dừng lại, và đối với dì như vậy là đủ. Mẹ tôi nói dì vô tâm vô tính. Nhưng tôi nghĩ khác, phải là một người hết sức yêu quí cuộc đời dì mới vượt qua được những khó khăn chồng chất, kể cả về tinh thần. Một vài người đàn ông đến với dì rồi lặng lẽ ra đi như thể không cách nào hòa nhập được vào cái thế giới nhỏ nhoi nhưng đầy ắp hoài niệm của dì. Chỉ có tôi, đứa cháu gái tong teo của dì là lần mò theo từng vùng ký ức của dì qua những lần trò chuyện bâng quơ cũng như có chủ đề…

Những ngày còn nhỏ tôi thường hay qua nhà ngủ với dì trong những đêm mưa lũ. Thích nhất là nằm nghe tiếng nước chảy ào ào ngoài sông, tiếng rả rích mưa rơi trên mái ngói và tiếng dì kể chuyện rì rầm. Dì hay kể cho tôi nghe về những chuyện tinh nghịch ngày xưa khi còn bé sống với các chị và ông bà ngoại, về những ngày tháng khi còn đi học, về những bạn bè của dì có những cái tên nghe lạ hoắc lạ huơ như trong một miền cổ tích nào xa lơ xa lắc… cho đến khi tôi chìm vào giấc ngủ êm đềm. Thường trong những lúc đêm khuya, tôi hay lén sờ vào vú dì, có khi ôm lấy bai bầu vú đầy đặn rắn chắc của dì, có khi lấy ngón tay nghịch lăn tăn cái đầu vú nhỏ như đầu mút đũa. Những lúc ấy dì thường đẩy tay tôi ra và nói: “Con bé này hư quá!” rồi ôm riết tôi vào lòng như muốn chuyền trọn vẹn cái ấm êm của thân thể lẫn tình cảm bị dồn nén của mình cho tôi. Những lúc như vậy tôi cảm thấy thật là hạnh phúc.
Rồi đến những ngày bước vào cấp ba, tôi được phép qua ở với dì Hạnh luôn để dì chăm lo và kềm kẹp việc học hành. Trong những ngày này, mùa nắng cũng như mùa mưa, dì Hạnh thường hay gọi tôi dậy vào lúc sáng sớm để đi lễ nhà thờ. Tôi không biết dì thật lòng tin vào Chúa hay đó là cái tính cách được hình thành từ những thói quen được lập đi lập lại nhiều lần. Tôi cũng theo dì và có được thói quen đó. Có lần tôi hỏi, dì có cầu nguyện không, dì trả lời có. Dì có xin được lấy chồng khác không, dì cốc đầu tôi nói cái con này, tào lao ghê!…
Ngoại tôi chỉ có ba người con. Má tôi, đến dì Đức và cuối cùng là dì Hạnh. Má tôi cũng có ba người con: chị hai, chị ba và tôi. Má tôi thường nói mày giống dì Hạnh y hệt, vô tâm và… lạc hậu. Tôi hỏi dì, tại sao má chê dì lạc hậu, dì nói bởi vì dì không “à la mốt”. Mà đúng thật như vậy, trong tủ áo của dì toàn là những trang phục được may từ những năm bảy mươi mấy. Hơn mười cái áo dài bông cổ thấp, không chít eo và ngắn củn cởn không còn hợp thời dì Hạnh vẫn vui vẻ mặc như thường. Tôi hỏi dì sao không may áo khác đúng mốt hơn, dì nói không cần, dì quen mặc như vậy từ thời đi dạy học. Tôi nói như vậy là quê lắm, dì chỉ cười nói chưa chắc ai quê hơn ai.
Tôi thường hay kể với dì về những buồn vui bắt gặp và những điều xảy ra ở trường, ở lớp. Có lần tôi suýt thất tình vì anh chàng lớp trưởng, buổi sáng nằm khóc vùi, dì kéo tung mền gối dựng tôi dậy và nói: “Sáng hôm nay cháu của dì buồn như một con chó ốm/ Như con mèo ngái ngủ trên tay anh/ Đôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình/ Để anh giận sao chả là nước biển…” Tôi la lên dì nói tầm bậy gì vậy? Sao tầm bậy, thơ tình đó cháu ơi. Tôi thút thít: Con buồn muốn chết đây mà dì còn nói con là chó, là mèo, là cá ươn… Ai biểu cháu thất tình làm gì. Thôi ngồi dậy rửa mặt dì cho cái này ăn ngon lắm…
Dì Hạnh cũng thường hay nói chuyện văn chương cho tôi nghe. Dì nói Chinh phụ ngâm hay hơn truyện Kiều. Tôi cãi: Ai cũng công nhận truyện Kiều là đệ nhất tác phẩm của Việt Nam. Dì nói: Truyện Kiều cũng hay nhưng buồn quá. Cái buồn của Chinh phụ ngâm dễ chịu hơn, ngôn ngữ mang nhiều hình ảnh và màu sắc hơn. Rồi dì đọc: Ngòi đầu cầu nước trong như lọc/ Đường bên cầu cỏ mọc còn non/ Đưa chàng lòng dặc dặc buồn/ Bộ khôn bằng ngựa thủy khôn bằng thuyền… Tôi chê: Tối nghĩa quá, dì lại đọc sai nữa: “ngoài đầu cầu” chớ sao lại “ngòi đầu cầu”? Rồi cái gì lại “dặc dặc”, phải là “dằng dặc” mới đúng. Còn “khôn” bằng ngựa “khôn” bằng thuyền là làm sao? Quá khó hiểu! Dì Hạnh cười: Đây là cổ văn nên cháu không hiểu. Ví dụ như “khôn” có nghĩa là “đi” đó cháu ơi. Cháu chả biết gì hết. Phải hiểu nghĩa của từ mới thấy được cái hay của câu, của đoạn. Mà thôi, dì đọc cho cháu nghe bốn câu này: Thuở đăng đồ mai chưa dạn gió/ Hỏi ngày về chỉ độ đào bông/ Nay đào đã quyến gió đông/ Phù dung lại nở bên sông bơ thờ… Đó, cháu thấy hình ảnh có đẹp không? Hay cũng không hiểu nữa hả con… khỉ đột…

Còn nhớ năm đầu tiên ra trường đi dạy học ở một vùng xa tôi đã yêu một người. Mối tình đầu đối với tôi thật đậm sâu và trọn vẹn. Lòng yêu của tôi mạnh mẽ đến độ tôi đã một lần dạn dĩ trao thân cho anh ta mà không hề hối hận. Chỉ đến lúc bị nói lời từ biệt tôi mới thật sự hoảng loạn. Tôi đã chạy ngay về nhào vào đôi tay dì Hạnh khóc như mưa. Dì âu yếm ôm tôi vào lòng để nghe tôi kể cho dì tất cả nỗi niềm. Lặng đi một chút, dì hỏi: Cháu có thật lòng yêu người ấy không? Tôi trả lời có trong tiếng thổn thức. Không sao đâu, cháu của dì đừng buồn – dì áp đầu tôi vào ngực nói nhỏ nhẹ – miễn là cháu có yêu. Bà Nguyễn Thị Hoàng có nói “Cho không phí, chỉ có nhận mà không biết dùng mới phí”, nên người mất chính là anh ta chứ không phải là cháu. Cháu xinh đẹp và tốt bụng như vậy nhất định rồi sẽ hạnh phúc. Tôi không biết bà Nguyễn Thị Hoàng là ai nhưng quả thật những lời an ủi của dì đã mau chóng giúp tôi tìm lại được niềm vui tưởng chừng như không bao giờ trở lại.

Ngày tôi lấy chồng dì Hạnh vui mừng tíu tít. Dì lo lắng cho tôi từ chiếc khăn tay cho đến cái nịt ngực. Tôi đùa: Con lấy chồng chớ dì có lấy chồng đâu mà vui quá vậy? Dì nói, dì vui vì thấy lại hình ảnh của mình nhiều năm về trước. Trước buổi tiễn dâu, dì lén vào phòng đưa tôi một chiếc hộp vuông nhỏ. Dì nói: Dì nghèo quá không có gì cho cháu, tặng cháu cái này. Tôi mở ra. Trong hộp là chiếc nhẫn mặt ngọc bằng vàng tây đã cũ. Trên mặt đá có khắc hai chữ H và K lồng vào nhau theo kiểu cổ điển. Tôi không nhận, nói đây là vật kỷ niệm của vợ chồng dì. Dì không chịu, nói, thôi thì cứ coi như cháu giữ dùm cho dì vậy. Mắt tôi bất chợt cay cay. Dì vuốt má tôi: Đừng khóc, lấy chồng thì phải vui lên chứ. Tôi chỉ biết nghẹn ngào vì thương dì quá đỗi…
Cuộc sống gia đình tôi cũng rất bình thường. Chồng tôi là một người đàn ông tốt. Anh ấy cũng dạy học như tôi. Ngoài những giờ trên lớp anh ấy chỉ ở nhà chăm sóc tôi, con gái và nhà cửa. Không thể nói rằng tôi không hạnh phúc. Nhưng đó hình như là một thứ hạnh phúc hơi buồn. Tôi cũng chả nhớ gì về mối tình đầu của một thời dại dột. Có vẻ như thế hệ của chúng tôi bình yên quá. Mà cũng có thể bởi cuộc đời chẳng có một biến cố hay thay đổi kinh khủng nào nên những tháng ngày của tôi chỉ là những tháng ngày nhàn nhạt. Chỉ những lúc đến với dì Hạnh, hòa nhập vào cái thế giới nhỏ bé riêng tư của dì tôi mới thấy lòng mình như lắng lại, như mơ hồ có một khoảng không gian và thời gian không thật chập chờn đâu đó…

Bây giờ dì tôi không còn nữa. Dì mất vì bệnh ung thư lúc vừa bước sang tuổi năm mươi. Dì ra đi cũng bình yên và tĩnh tại. Căn nhà được khóa lại và vườn cây lá rụng um tùm. Chỉ có tôi những lúc nhớ dì lại chạy về quét dọn và đốt lên vài ngọn nến nhỏ trên bàn thờ. Thường những lúc ấy tôi tôi hay nằm trên chiếc võng treo ở nhà sau khe khẽ đong đưa mà nhớ thương dì đến chảy nước mắt. Bà ngoại và má tôi đòi bán căn nhà đi nhưng tôi nhất quyết không cho. Bởi lẽ ngoài dì ra chỉ có tôi là người duy nhất biết được rằng ngay tại căn nhà và khu vườn này thời gian không trôi đi. Nó cứ chậm rãi lượn lờ rồi quẩn quanh đâu đó. Một lát nữa thôi, bước ra ngoài đường kia sẽ là phố xá với nhịp sống hối hả. Còn trong ngôi nhà này, đã có dì, và chắc sau này sẽ là tôi với những hoài niệm về một thời đã qua ngọt ngào và cay đắng…

Lê Phú Hải

Cư An Tư Nguy

lephuhai

Xe đò dừng lại đổ thêm xăng khi sắp vào thị trấn. Con đường nhựa ngoằn ngoèo quanh co qua mấy ngọn đồi trước khi đổ dốc vào trung tâm huyện lỵ. Nắng tháng chạp dát vàng trên các ngọn cây, đồi cỏ trong buổi chiều tà. Mấy chiếc xe bục bịch ngược chiều nặng nề leo dốc như muốn ì ra vì mệt. Tôi cũng thấy thân thể mỏi nhừ vì nửa ngày trời ngồi bí rị trên chuyến xe đi từ thành phố về…
Thị trấn núi hiền lành hiện ra trước mắt tôi với nhiều đổi khác. Bến xe nằm sát ngay chợ trung tâm, chung quanh là các hiệu buôn, tiệm vàng, quầy tạp hóa đông đúc người qua lại. Nơi này xưa kia là bãi ruộng khô ăn nước trời một vụ. Rồi nhà cửa hiện ra san sát và thẳng băng theo các con đường ngang dọc như bàn cờ. Cảnh vật đối với tôi mới mẽ và lạ lẫm như thể tôi chưa hề sống tại đây trong một khoảng thời gian dài cách đây đã hơn hai mươi lăm năm. Cũng phải thôi! Hai mươi lăm năm, một phần tư thế kỷ chưa hẳn là khoảng thời gian thật dài so với một đời người nhưng cũng khá đủ cho mọi sự đổi thay, người ta vẫn hay nói “thương hải tang điền” mà… Và nếu không có việc xác nhận hồ sơ để làm thủ tục bảo hiểm chuẩn bị cho việc về hưu sớm thì có lẽ tôi cũng chẳng có dịp nào quay về chốn cũ…
Tôi đi dọc con đường lượn theo chân đồi, nơi cuối đường là ngôi trường trung học nằm nấp sau những tán cây cổ thụ. Con đường này trước đây tôi vẫn thường hay đi lại, bây giờ cũng đổi khác. Thảm bê tông nhựa thay thế cho con đường đất đỏ gập ghềnh những ổ chuột ngập nước trong mùa mưa và bụi mù những ngày nắng. Tôi dừng lại và ngồi dưới gốc cây da to trước cổng trường. Gốc cây như gồ ghề và xù xì hơn nhiều so với trước đây, trên mình chi chít những dấu vết nghịch phá của lũ học trò. Một khoảng trời xa lắc trong ký ức tôi chợt hiện ra…

xxx

Học xong sư phạm năm bảy chín tôi được phân công về dạy tại huyện miền núi này. Cầm quyết định trên tay tôi do dự và băn khoăn mãi. Má tôi nói, thôi bỏ dạy ở lại phố bán buôn ngoài chợ với mẹ. Ba tôi thì trầm ngâm chẳng nói gì, thỉnh thoảng lại tặc lưỡi và khẽ khàng trách cứ ngành giáo dục quá khắc khe khi phân nhiệm con gái ông về công tác miền núi, rồi nói tôi muốn sao thì muốn, tùy. Sau một tuần lang thang khắp phố phường gặm nhấm nỗi cô đơn đến cùng cực, nhìn lũ em nheo nhóc, thêm cám cảnh phố thị nghèo nàn của những năm đầu sau giải phóng, tôi quyết định lên đường. Và thế là tôi đã đến đây, lòng không hề nghĩ rằng mình sẽ gắn bó với vùng đất này suốt năm năm sau đó.
Cũng chẳng có gì đáng nói về những ngày tôi dạy học ở ngôi trường này. Vui buồn là qui luật bất biến của đời sống và tôi cũng đã có đủ những niềm vui, nỗi buồn, sự bực tức và kể cả nhiều cảm tình thú vị. Người ta thường hay có thói quen cứ gắn kết cho kỷ niệm những điều vui để xuýt xoa mỗi lần hồi tưởng hay nhớ lại. Tôi cho đó là sự cường điệu màu mè. Tính mày ngang bướng và giống đàn ông. Mẹ tôi vẫn thường hay nói về tôi như vậy dù thật ra trong đời tôi đã gặp phải kha khá đàn ông… còn tệ hơn tôi nhiều.

Mới đầu tôi chẳng hiểu từ lúc nào và tại sao lũ học trò của tôi gọi anh ta là “chú kinh tế mới”. Anh ta còn khá trẻ và nếu chịu khó nhìn kỷ thì thấy cũng… đẹp trai, dù bộ râu mép lởm chởm cùng cái đầu bù xù làm anh ta thêm tối tăm bên cạnh nước da rám đen vì dang nắng. Hỏi ra mới biết cách trường tôi dạy gần mười cây số có một vùng kinh tế mới, nơi tập trung sinh sống của nhiều sĩ quan chế độ VNCH sau khi đã mãn hạn tập trung cải tạo. Ban đầu tôi chỉ đứng xa nhìn, thấy anh ta cười cười nói nói gì đó với mấy đứa học trò. Những lúc ấy tôi cảm thấy thật khó chịu. Tôi vốn dị ứng với người hay cười. Bởi vì hai lý do. Thứ nhất, (không phải tôi là người khó tính nhưng) với tôi nụ cười phải xuất phát từ đáy lòng, và như vậy chỉ cười khi có được niềm vui đích thực chứ không dùng để nịnh nọt hay cầu cạnh ai đó. Lý do thứ hai (là quan niệm chủ quan của tôi): người hay cười thường là người hèn, tất nhiên không tính tới những nụ cười của sự thân thiện chân tình.
Công việc của “chú kinh tế mới” cũng đơn giản và hay hay: bơm mực bút bi và bán một số học cụ như compa, thước kẻ, bút máy… Nhưng có lẽ điểm hấp dẫn đối với bọn trẻ là được khắc tên miễn phí. Một cây thép nhọn đơn giản cày trên mặt bút thoáng chốc bỗng là Trần Thị X, Nguyễn Văn Y với những đường cong mềm mại và đều tăm tắp. Thoa một lượt phấn trắng lên nữa là xong, cây bút, cây thước in rõ tên chủ sở hữu đầy ấn tượng. Trong những dịp lễ tết hay chuẩn bị nghỉ hè thì thay vì những cái tên là những dòng chữ lưu niệm, những lời chúc tặng, chia tay… Tôi lại “di ứng” một lần nữa với anh ta bởi tôi rất ghét màu mè, “đồng bóng”. Trước giờ tôi vẫn nghĩ hình như những lời chúc tụng hoa mỹ có vẻ gì đó không thật. Chẳng hạn như ngày tết chúc nhau an khang, thịnh vượng, phát tài phát lộc trong khi ngày thường chả yêu quí gì nhau, nếu không muốn nói là ghét nhau. Hình như bản chất con người là rất thích nghe những lời lẽ tâng bốc cho vừa lòng mình, dù đôi khi vẫn biết đó là những lời dối trá. Và như vậy thì thật là tệ hai!
Thường những lần xong giờ dạy giữa buổi học, tôi lững thững đi bộ về khu nội trú giáo viên, ngang qua gốc cây da nơi có chiếc xe đạp với “quầy hàng lưu động” của anh ta và liếc nhìn vào. Có lúc thấy anh ta đang sắp xếp lại những thứ đồ đạc lỉnh kỉnh, có lúc thấy anh ta chạm chạm khắc khắc, có lúc lại thấy anh ta ngồi buồn thiu dưới gốc cây, mắt nhìn đi đâu đó, chả thấy anh ta mời chào, chọc ghẹo, hay thậm chí để mắt tới mình. Càng tốt. Mới đầu tôi nghĩ vậy nhưng mấy lần sau tự nhiên hơi bực. Một đứa con gái “trí thức” và dễ nhìn lại mang cái mác thành phố như tôi – biểu hiện qua cách ăn mặc nè – lẽ nào không hề gây sự chú ý gì nơi một gã đàn ông?… Thôi kệ, tôi tự nhủ. Tri ngã dã bất tri ngã dã… Nhưng kệ gì thì kệ, vẫn có một chút ấm ức chạy dọc suốt từ bụng tôi lên tới cổ…
Mùa xuân năm đó trường tổ chức cho các lớp thi báo tường. Yêu cầu phải đầy đủ các thể loại văn thơ nhạc họa. Văn thơ và tranh vẽ phải là những sáng tác mới của các em, riêng nhạc được phép sưu tầm các bài hát quen thuộc và điểm chấm được tính vào việc chép đúng, đều và đẹp các nốt và lời ca của bản nhạc. Tôi được phân công vào ban giám khảo chấm phần hình thức. Thật lạ! Các nhạc phẩm đều được các em chép đều, đẹp và vô cùng cân đối. Các nốt nhạc hoặc to, hoặc nhỏ, hoặc nghiêng, hoặc đứng đều thẳng băng và giống nhau như đúc. Có vẻ như có cái gì đó không bình thường ở đây. Bởi vì trong hai mươi tờ báo của hai mươi lớp chỉ có mười tờ có những bản nhạc đẹp, mười tờ kia nốt nhạc vụng về, méo mó và đầy lỗi. Không thể có sự chênh lệch trong cái khéo tay của lũ học trò cùng trang lứa được. Nhưng dù sao đi nữa cũng phải chấm, cho điểm, bình chọn và trao giải cho kịp ngày các em nghỉ tết. Tôi tạm gác lại chuyện này để chuẩn bị về nhà ăn tết với gia đình.
Mồng sáu là ngày các em đi học lại. Nhưng chỉ là qui ước vậy thôi chứ ở thôn quê người ta hay kéo dài thêm niềm vui của ba ngày tết. Cũng là điều hợp lý bởi quanh năm đầu tắt mặt tối bán lưng cho trời bán mặt cho đất để có được ba ngày xuân thì quả là hơi ít. Chơi thêm cho đến hết rằm vậy. Bởi vậy thầy trò chúng tôi chỉ dạy và học kiểu cầm chừng, dành thêm thời gian đến chúc tết phụ huynh và các giáo viên người bản xứ. Và qua trò chuyện với các em tôi được biết thêm một điều thú vị là những bản nhạc trên báo tường hôm trước được kẻ thật đều và đẹp kia đều do một tay “chú kinh tế mới” làm ra. Tôi ngạc nhiên, tò mò và có ý mong gặp lại anh ta… Nhưng rồi mãi đến gần nghỉ hè tôi mới được gặp lại vì anh ta đi vắng từ trước tết cho đến tháng tư. Hôm ấy lấy cớ cần khắc một dòng chữ trên chiếc bút máy làm quà cho nhỏ em trong dịp nghỉ hè, tôi tìm tới gốc cây da. Trong lúc anh ta chăm chú khắc chữ tôi gợi chuyện:
– Anh làm việc này lâu chưa?
– Ý cô hỏi việc gì?
– Thì bán dụng cụ học sinh và khắc chữ nè.
– À, cũng gần hai năm nay rồi.
– Anh có làm nghề gì khác nữa không?
– Có chớ. Nghề chính của tôi là làm rẫy mà. Đây chỉ là công việc làm thêm, trước cho vui, sau là kiếm thêm chút đỉnh để bồi dưỡng thịt cá cho ông bà già.
– Anh vẫn còn ở với cha mẹ à? – Tôi tò mò.
– Chớ sao, nếu không thì tôi ở với ai bây giờ.
Tôi hơi bối rồi: – À không, ý tôi là…
– Ờ, tôi hiểu rồi. Tôi chưa có gia đình riêng. Còn trẻ mà cô. – Anh ta thoáng nhìn tôi mĩm cười.
– Vậy chắc nhà anh đông người lắm hả? Nếu không thì anh đâu phải đi làm thêm để… – tôi loay hoay tìm chữ để diễn đạt – cải thiện đời sống?
Anh ta cười hì hì:
– Nhà chỉ có ông bà già với tôi thôi. Tôi cũng có mấy anh chị nhưng họ đã có gia đình riêng cả rồi.
Máu tò mò con gái trong tôi lại nổi lên:
– Từ tết tới giờ anh đi đâu mà không thấy tới đây “chơi” với mấy đưa học trò?
– À, sau tết tôi kẹt thu hoạch mía. Xong cây mía lại làm đất chuẩn bị cho mấy đám lúa thổ để sau mồng năm tháng năm là xuống giống.
Tôi vờ khen:
– Anh giỏi thiệt đó. Anh còn biết việc gì nữa không?
Anh thật thà:
– Giỏi gì đâu cô. Chỉ là cuộc đời dạy cho thôi mà. Tôi cũng biết nghề mộc nữa đó. Nghề này học được trong tù, à quên, trong trại cải tạo…
Anh ta mở hộp lấy viên phấn trắng bôi lên hàng chữ vừa khắc, lấy khăn lau qua một lượt, những lớp bụi bên ngoài biến mất còn lại hàng chữ trắng nổi lên trên nền xanh của cây bút.
Anh cầm bút đưa tôi:
– Đây, bút của cô. Tôi không lấy tiền công đâu. Khắc dùm cô chút thôi. Lần sau có cần giúp gì cứ nói, cô đừng ngại.
Không biết nói gì nữa tôi đành phải chào rồi đi. Vẫn chưa có cơ hội để hỏi về những nốt nhạc. Tôi cứ băn khoăn hoài. Tính tôi trước giờ như vậy. Hễ muốn điều gì là phải làm hay tìm hiểu cho bằng được mới thôi. Thật ra tôi không phải là đứa hiếu kỳ hoặc có nhiều đòi hỏi. Tôi chỉ có mỗi cái tật (ưu hay khuyết đây?) rằng đã làm việc gì thì phải làm cho đến cùng, đã hiểu biết gì thì phải hiểu cho tường tận, cho đến khi thỏa mãn thì thôi. Má tôi vẫn thường hay nói tính mày đa mang, rồi không sướng đâu con ạ. Tôi không tin.

Cuối năm học, một phụ huynh tặng tôi súc gỗ hương đủ để đóng một cái table de nuit hoặc một cái bàn trang điểm nho nhỏ. Tôi chợt nghĩ đến anh ta và cho mời anh đến. Xem xét hồi lâu anh nói:
– Đóng cái table de nuit phải mất ba ngày công đó cô.
Tôi nói: – Được thôi, anh sắp xếp công việc giúp tôi ba ngày được không?
– Tôi có thể chở súc gỗ này về đóng tại nhà cũng được.
Tôi suy nghĩ một lát. Tôi muốn xem anh ta làm, và sâu xa hơn là tôi muốn nói chuyện với anh:
– Không phải mất công vậy đâu, anh cứ làm việc tại đây đi. Sáng lên, chiều về, đồng ý chớ? Buổi trưa tôi sẽ nấu cơm cho anh ăn.
Anh cười cười:
– Không phiền vậy đâu. Nếu cô muốn tôi sẽ mang đồ nghề lên đây làm cho cô cũng được. Còn chuyện ăn uống tôi tự lo được thôi.
Trong ba ngày sau đó, ngoài giờ lên lớp tôi thường ngồi xem anh làm việc. Súc gỗ được mang ra lâm trường xẻ thành nhiều khúc đoạn. Cái thì để làm khung, làm đế. Mặt ván có những đường vân đẹp được chọn làm mặt và cánh tủ. Vừa cưa cưa đục đục anh vừa nói chuyện với tôi. Thì ra anh nguyên là sinh viên trường Mỹ thuật Sài Gòn, bị động viên đi lính năm bảy hai. Sau bảy lăm bị cải tạo năm năm vì là sĩ quan thủy quân lục chiến. Sau khi được thả về cả nhà anh phải đi kinh tế mới vì thuộc diện cần tập trung quản lý. Mấy vụ này tôi chẳng lạ gì vì tôi sống và lớn lên ở miền Nam, và dù ba má tôi chỉ là người buôn bán nhưng bà con họ hàng không thiếu gì người tham gia bộ máy chính quyền trước đây nay phải long đong lận đận.
Tôi chợt hỏi một câu lãng nhách:
– Anh có buồn không?
Anh cười:
– Buồn gì chớ? Chỉ hơi áy náy là vì mình mà cha mẹ già phải chịu khổ lây. Nên mọi việc tôi cố làm đây chỉ là để báo đáp phần nào cho cha mẹ thôi.
Tôi lại tiếp tục “lãng nhách” bằng mấy câu kiểu an ủi vụng về. Anh cười to, nói:
– Trời, tôi đã nói là tôi có buồn gì đâu. Sao cô lại phải an ủi tôi làm gì. Tụi tôi là dân “cư an tư nguy” mà.
Tôi ráng gồng mình, vận dụng trí nhớ xem cái “cư an tư nguy” này hồi xưa mình có học ở đâu chưa nhưng chịu, chả nhớ là đã nghe bao giờ. Biết là hơi quê nhưng tôi vẫn hỏi:
– À, cái “cư an tư nguy” mà anh vừa nói là…?
Nhìn thấy vẻ ngượng nghịu trên mặt tôi, anh vội nói:
– Ờ, câu này cũng xưa rồi, nay không còn ai dùng nữa nên cô chưa nghe đó…
Tôi cảm thấy mặt mình đỏ lên vì xấu hỗ nhưng cố trấn tĩnh lại, chuyển qua hỏi về mấy bản nhạc trong báo tường của học sinh hôm tết. Anh nói:
– Có gì đâu. Thấy tụi nhỏ chép nhạc vất vả quá nên tôi kẻ dùm tụi nó cho nhanh.
– Nhưng sao hình nốt trong mỗi bài không giống nhau, dù nhìn kỷ vẫn biết là do một người viết ra?
– Tôi kẻ nhạc theo nội dung bài hát. Nếu là hành ca, nốt nhạc phải cao, nhọn, nốt móc phải sắc bén như gươm đao, hình nốt phải to, khỏe. Nếu là tình ca, nốt nhạc phải hơi nghiêng về phía trước như những lời thì thầm trò chuyện với nhau, nốt móc phải hơi gầy, bụng thon, hình nốt ô van vừa phải. Nếu là bài ca về trường lớp, về thầy cô, nốt nhạc phải đứng đắn, trang trọng, nốt móc phải bầu bĩnh, hình nốt hơi tròn… Còn nếu là bài hát nói về tuổi học trò hồn nhiên nghịch ngợm thì nốt nhạc phải hơi nghiêng về phía sau, nốt móc ngắn và nhỏ, hình nốt dẹp, vân vân. Nói tóm lại để kẻ một bản nhạc mình phải nắm được cái hồn của nó…
Nhìn tôi mở to mắt ngạc nhiên anh cười:
– Có bài hát nào cô thích cứ đưa vở đây, tôi sẽ kẻ nhạc giúp cho cô…

Tôi còn có dịp trò chuyện với anh nhiều lần sau đó. Lúc thì nhờ anh kẻ hộ một nhạc phẩm mới của Trịnh Công Sơn, một bài hát cũ của Văn Cao, lúc thì chỉ tán chuyện vu vơ về âm nhạc và hội họa. Cuối năm học ấy mãn nhiệm, tôi thuyên chuyển về phố. Trước ngày tôi về anh mang đến tặng tôi một tượng gỗ nhỏ chỉ bằng gang tay. Đó là chân dung tôi với khuôn mặt và mái tóc ương bướng nhìn không lẫn đi đâu được. Anh nói gia đình anh cũng sắp sửa chuyển đi và chúc tôi gặp mọi điều may mắn… Bận rộn với nhiệm sở mới nên tôi cũng quên, ít khi nhớ hoặc nghĩ về anh và những nốt nhạc. Chỉ thỉnh thoảng những lúc ngồi nhìn bức tượng nhỏ tôi lại nghĩ về anh ta chút đỉnh rồi thôi… Một vài người đàn ông đã đến với tôi. Hôn hít, vuốt ve nhau một cách nhạt nhẽo rồi chia tay. Mẹ tôi phàn nàn nói tôi là đứa tàng tàng. Năm tháng trôi qua, cuộc sống cũ kỹ với những va chạm nhỏ mọn mãi rồi cũng làm tôi tuyệt vọng. Tôi đã nghĩ lựa chọn công việc “dạy học” thì mình sẽ được bình yên nhưng hóa ra trật lất. Ở đây đi tìm cái “liêm sĩ” cũng mệt nhoài! Bây giờ thì tôi đã hiểu cái “cư an tư nguy” mà một người đàn ông đã từng nói với tôi nhiều năm về trước. Tôi chợt nhận ra rằng phải có cái tâm lớn thật sự người đàn ông kia mới thể hiện chân thật cuộc sống qua từng nốt nhạc hay tác phẩm nào đó của mình. Thảo nào anh ta đã sống lạc quan và yêu đời như vậy! Không biết bây giờ anh ấy ở đâu, làm gì? Còn ở trong nước hay đã đi ra ngoài nước? Nhưng dù ở đâu và làm gì đi nữa tôi vẫn xác tín rằng anh không bao giờ là một người bất hạnh…

LÊ PHÚ HẢI

KHÓI HUYỀN BAY LÊN CÂY…

lephuhai

Thuở còn là học sinh trung học, chúng tôi rất thích hai câu thơ ”Thơ viết chớ xong thuyền trôi chớ đỗ/ Cho nghìn sau… lơ lững… với nghìn xưa… “và cứ nhầm tưởng đây là hai câu thơ của thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Thật ra hai câu thơ này nằm trong bài thơ “Ngập ngừng” của Hồ Dzếnh với những câu thơ hay và ngộ nghĩnh thường được thế hệ chúng tôi thời ấy ưa thích và truyền miệng cho nhau nghe. Bài thơ được mở đầu bằng tứ thơ ngộ nghĩnh và dễ thương:
Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé
Để lòng buồn tôi dạo khắp trong sân
Ngó trên tay, thuốc lá cháy lụi dần…
Tôi nói khẽ: gớm, sao mà nhớ thế!…

Có lẽ chúng tôi đã từng thích thơ Hồ Dzếnh trước hết bởi nét giản dị và không hàm chứa ý nghĩa triết lý cao siêu. Có vẻ như ông xúc cảm thế nào thì viết ra thế ấy. Thỉnh thoảng giữa mạch thơ nghiêm túc ông lại đưa ra một câu thơ tưng tửng khôi hài:
Có lần tôi thấy tôi yêu
Mắt nhung, cô bé khăn điều cuối thôn
Lâu rôi tôi đã… hơi khôn
Biết cô hang xóm có còn nhớ nhau?

(Quê hương)
Ổ rơm bác Xã thôi nằm
Chân đi guốc thấp, xỏ nhầm guốc cao
Mắt còn líu ríu chiêm bao:
“Với cho tao điếu thuốc lào, cu con!”

(Sáng quê)
Hay như trong bài “Rằm tháng giêng”:
Chị tôi vào lễ trong chùa
Hai chàng trai trẻ khấn đùa hai bên:
“Lòng thành lễ phật đầu niên
Cầu cho tiểu được ngoài giêng đắt chồng”
Chị tôi phụng phịu má hồng
Vùng vằng suýt nữa quên bồng cả tôi…

… Nghe nói mùa này bên đất Pháp
Ngày hè dài tới… chín giờ đêm
Hẳn vì cây cối xanh tươi lắm
Nên nắng quên đi, đắm đuối nhìn…
(Paris, mùa nắng)

Thật ra thơ Hồ Dzếnh khá trữ tình và không kém phần lãng mạn. Ở miền Nam trước đây học sinh không ai không thuộc và không từng nghêu ngao đôi ba câu trong bài thơ “Chiều” của ông đã được nhạc sĩ Dương Thiệu Tước phổ nhạc trên nền điệu tango nhịp nhàng và quí phái:
Trên đường về nhớ đầy
Chiều chậm đưa chân ngày
Tiếng buồn vang trong mây
Tiếng buồn vang trong mây
Chim rừng quên cất cánh
Gió say tình ngây ngây
Có phải sầu vạn cổ
Chất trong hồn chiều nay?
Tôi là người lữ khách
Màu chiều khó làm khuây
Ngỡ lòng mình là rừng
Ngỡ hồn mình là mây
Nhớ nhà châm điếu thuốc
Khói huyền bay lên cây…

Thể loại thơ năm chữ như bài “Chiều” trên đây của Hồ Dzếnh không nhiều. Có vẻ như ông sở đắc thể loại lục bát và thất ngôn nhiều hơn. Đặc biệt thơ lục bát của ông dù viết về đề tài gì đi nữa cũng không thể thiếu được yếu tố ngộ nghĩnh qua cách quan sát tinh tế. Ông đã tả về phố huyện và làng quê ông như sau:
Vài thanh đá dựng làm hè
Vài nhà tranh yếu vai kề sát nhau
Phố tôi trông dáng buồn rầu
Khó khăn của kẻ làm mầu vô duyên…

Khi vàng đứng bóng im trưa
Tiếng khô lá rụng làm thưa phố phường…

(Phố huyện)
Làng tôi thắt đáy lưng… tre
Sông dài, cỏ mượt đường đê tư mùa
Nhịp đời định sẵn từ xưa:
Ươm tơ tháng sáu, lên chùa tháng giêng…
…Trong làng lắm gái thưa trai
Nên thường có luật chồng hai vợ liền!…

(Lũy tre xanh)
Trên đường đê bé chạy dài
Bóng trâu trên nước bóng người trên cây
Ngoài trời mây sáng hây hây
Nước son tô loãng da ngày cuối thu
Đáy hồ mấy mắt sao lu
Và trên nón dạ sương mù quệt ngang…

(Sáng quê)
Ở thể thơ thất ngôn ông cũng rất có duyên trong sử dụng câu chữ để diễn đạt ý tình:
Trời đẹp như trời mới tráng gương
Chim ca, tiếng sáng rộn ven tường
Có ai bên cửa ngồi hong tóc
Cho chảy lan thành một suối hương…

Sắc biếc giao nhau cành bắt cành
Nước trong, hồ ngợp thủy tinh xanh
Chim bay, cánh trĩu trong xuân ý
Em đợi chờ ai khuất bức mành?
Giữa một giờ thiêng, tình rất đẹp
Rất buồn và rất… rất thanh thanh
Mày ai bán nguyệt, người ai nhỏ
Em ạ, yêu nhau… chết cũng đành!

(Xuân ý)
Đã có khá nhiều bài viết nói về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Hồ Dzếnh. Cuộc đời ông vốn không bằng phẳng và hoàn cảnh riêng cũng có nhiều trắc trở, long đong. Tuy nhiên ông cũng đã sống trọn vẹn cho đến cuối đời và tác phẩm để lại cả văn và thơ là dấu ấn riêng của một thời ông đã sống và làm việc. Đối với thế hệ chúng tôi, nói đến Hồ Dzếnh là nghĩ ngay đến những câu thơ tình chan chứa và hình ảnh của một lãng tử yêu đời:
Tôi không chọn nắng, cầu mưa
Nhớ người không cứ về trưa hay chiều
Tôi yêu vì nắng cây reo
Bướm bay vô cớ, gió vèo tự nhiên…

(Lặng lẽ)
Và:
Chiều nào nghe xuống hoàng hôn
Tôi rười rượi nhớ, quay hồn về mơ
Chiêu Quân biệt Hán sang Hồ
Có buồn cũng đến như là… thế thôi!

(Buồn Chiêu Quân)

Lê Phú Hải

MÁI NHÀ ĐÊM BẠCH HẠC

lephuhai

Nói đến nhà thơ Quang Dũng, ai cũng nghĩ ngay đến chàng chiến sĩ vệ quốc và khúc hành ca “Tây tiến”: Sông Mã gầm lên khúc độc hành. Lứa học sinh chúng tôi ở miền Nam trước 1975 cũng có biết đến ông như một “chinh phu” của một thời “Trống Trường thành lung lay bóng nguyệt” (Chinh phụ ngâm), rất oai phong và cũng rất trữ tình. Bởi, bên cạnh một Tây tiến người đi không hẹn ước lại còn có lúc Thoáng hiện em về trên đáy cốc, Nói cười như chuyện một đêm mơ (Đôi bờ).

Từ sau ngày đất nước đổi mới đến nay, sáng tác của ông đã được nhìn nhận trở lại với sự đánh giá khách quan, chân thật và chính xác hơn. Chúng tôi đã có dịp lật lại từng trang Tuyển tập Quang Dũng (NXB Văn học, nhà thơ Trần Lê Văn tuyển chọn và giới thiệu) để hiểu thêm về đời tư, gia đình và bạn bè ông qua một số bài viết ngắn. Và cũng nhờ đó được biết thêm rằng ông đã thật sự xếp “kiếm cung” tự trước thuở đầu hòa bình lập lại trên miền Bắc (1954). Trở về ông vẫn tiếp tục sáng tác nhưng trong những bài thơ sau này đã không còn tìm đâu được cái giọng điệu hào sảng của một thời “khoác chiến y phi tuấn mã”. Có lẽ vì ông đã không còn trẻ nữa, không còn là người lính, mà cũng có lẽ vì lịch sử đã sang trang, cả dân tộc đang lao vào một cuộc chiến đấu mới. Một số sáng tác của ông là hoài niệm về một thời chinh chiến cũ như: Đường trăng, Rừng, Gửi Sơn Tây, Nhớ một bóng núi…, một số là nỗi niềm riêng dành cho mỗi vùng đất, tên làng: Hồ Nam, Bố Hạ, Thu quê ai… và một ít dành cho tình cảm riêng tư: Nhớ về mẹ, Nhớ bạn, Không đề…

Tuy nhiên, trong từng tác phẩm, ta vẫn thấy như phảng phất đâu đó cái yêng hùng, cái giang hồ, cái hào hoa của một chàng lãng bạt.

Gần tuổi năm mươi, ông có bài Đêm Bạch hạc viết trong một dịp “lữ hành”. Ngay từ đầu bài thơ, ta đã thấy cái lãng đãng, mơ hồ, cái lang thang trên dặm trường rong ruỗi:

Có những chiếc giường lạ
Nhìn ra mảnh sân nào
Nửa đêm chợt thức giấc
Thấy ta nằm ở đâu

Người đọc bỗng chạnh lòng và cảm thương cho người lữ khách thường xuyên “ăn nhờ ở đậu” đến nỗi thức giấc nửa đêm không kịp nhận ra mình đang ở nơi nào. Không gian và thời gian ở đây như giãn ra, dài ra… bất định. Chàng đã tự ví mình như một cánh chim trời tung bay, bay mãi cho đến khi bất chợt mỏi cánh tự lúc nào không hay. Và như thế cánh chim giang hồ kia không thể và không cần chọn cho mình một chỗ trú ngụ ấm êm, như ý:

Như cánh chim mỏi cánh
Tạt vào rừng không quen
Không chọn cành ngủ đổ
Nào mong gì ấm êm

Để đêm nay bất chợt nhận ra:

Đêm nay đêm Bạch hạc
Ta lại vào nhà ai
Nghe sông Lô cuộn nước
Duềnh lên suốt đêm dài

Đêm trung du như dài ra vì khách lữ hành chợt thức giấc nửa đêm, nằm nghe tiếng sông Lô cuồn cuộn chảy. Dòng sông của một thời kháng chiến vẻ vang đã từng làm nên chiến thắng? Dòng sông có những kỷ niệm êm đềm của một thời đánh giặc ngoại xâm?

Bạch Hạc, tên một vùng đất? Tên một dòng sông? Hay chính là tên của một loài chim đang mãi hoài bay xuôi theo dòng đời chưa mỏi mệt? Đã có một tên đất như thế, tên một dòng sông như thế và chắc chắn rằng đã có tên một loài chim-lữ-khách như thế: Bạch Hạc. Nhưng không phải là “một con hạc trắng bay về bồng lai” mà là một cánh chim bay cô đơn giữa đời, giữa trời bão giông với những hoài niệm dĩ vãng chưa thể nào quên được.

Sớm mai rồi tiễn biệt
Tóc đẹp nhường bâng khuâng
Một đêm dài để nhớ
Những người xa vô cùng

Ai đã và sẽ là “những người xa vô cùng” ấy để chàng lãng tử suốt đêm nằm nhung nhớ? Người vợ hiền thảo ở chốn quê nhà? Cô em vườn ổi ngày xưa? Cô gái tản cư bán quán bên đường hay một người “tóc đẹp” nào miền non nước sông Lô đang chờ nói câu tiễn biệt? Ta như thấy ẩn nấp đằng sau những câu thơ kia có dáng một “bóng hồng”. Nhưng sẽ là điều không phải nếu cứ đi tìm một con người cụ thể. Bởi vì đường đời mà người lữ khách kia đi qua dặm dài nhiều theo năm tháng, chất chứa trong trái tim độ lượng của thi nhân chừng như không mang nổi. Hãy cứ nhìn thấy ở đây một tâm hồn hiệp sĩ vị tha, chan chứa lòng yêu. Dễ thương yêu và khoáng đãng như mây trời đến nỗi chỉ một khoảnh khắc cảm nhận bất chợt dọc đường thôi cũng đủ làm sợi dây hồn rung lên những nốt ngậm ngùi, cảm xúc. Và cũng giống như năm xưa người lính vệ quốc rời quán nước giữa trưa ra đi: Hồn lính vương qua vài sợi tóc, Tôi thương mà em đâu có hay, bây giờ, chàng lữ khách tóc sương lại khăn gói lên đường mà lòng mơ hồ bâng khuâng mãi:

Mái nhà đêm Bạch Hạc
Có nhớ người đi không?

Câu hỏi thể hiện như một tự vấn không đòi được trả lời. Thậm chí câu hỏi không phải là ngụ ý “ai đó” có nhớ “tôi” không mà cái tình riêng ở đây – nếu có – đã đồng hóa vào cái vật chất là “mái nhà đêm Bạch Hạc”, và cái “tôi” ở đây bỗng như lớn vượt ra ngoài cái tôi-bản-ngã để trở thành cái tôi-người-đi. Mái nhà đêm Bạch Hạc, Có nhớ người đi không?

… Và bây giờ người lữ khách ấy đã thực sự đi rồi (1988). “Con hạc trắng” đã thực sự đi vào “cõi bồng lai”, bỏ lại cho đời, cho người một cõi lòng rộng lớn đầy ắp yêu thương. Và chắc chắn rằng những “mái nhà đêm Bạch Hạc” sẽ không bao giờ quên được bóng hình ông.

Lê Phú Hải