Cá linh non

 

Tháng mười gió chướng về se se lạnh bờ vai,lách luồn vào ký ức khơi dậy trong tôi những hoài niệm đẹp tuổi thơ.Nước lũ từ thượng nguồn sông Mekong mang theo món quà phù sa ban tặng những cánh đồng lúa,vườn cây ăn trái. Đặc biệt là những con cá linh non óng ánh vãy bạc. Con cá linh đã từ lâu sống gần gũi với người dân miền Tây trong canh tác nông nghiệp và ẩm thực. Ông bà ta thời trai trẻ thường ca ví đối đáp nhau,có câu đố tả hình dáng con cá linh như ” ốm yếu hình dong là con cá nhái. Thiệt như lời vái là con cá linh” hay câu ca dao ” Nước không chưn sao kêu nước đứng. Con cá không thờ sao gọi cá linh”.Trên đồng ruộng lũ tràn vào nước mênh mông,những bụi lúa ăn phù sa hớn hở tươi vui. Những cây điển cũng vui không kém,các cô mỉm cười môi nở những chùm hoa vàng nhuộm sắc nắng thu ghẹo trêu mấy chú bướm si tình lạc cánh. Dưới mặt nước tép trấu thi nhau vũ điệu đón mùa nước lũ và chào đón các vị khách cá linh tham quan quê mình.
Nhớ lại những năm tháng tuổi thơ còn ở Ô môn khi lũ về,tuy có lo lắng nước dâng cao,dòng chảy mạnh,nguy hiểm cho lũ trẻ chúng tôi khi cắp sách đến trường phải vượt qua bao chiếc cầu khỉ lắt lẻo,gập ghềnh. Nhưng bà con quê tôi hầu như đã quen,năm nào lũ không về,ngồi chống cằm,buồn trông đợi,lo lắng cho cái ăn của lúa và cây trái từ những hạt phù sa. Chưa nói đến việc thèm món cá linh non nấu canh chua bông điên điển và kho mía.Tuy cá linh chế biến nhiều món ăn ngon như: làm mắm,kho mắm,lăn bột chiên giòn,bầm nhuyển làm chả viên dùng nấu canh hay kho lạt,chiên… Ngoài chế biến những món ăn ngon ấy,cá linh còn được ủ làm nước mắm đồng rất ngọt,thơm ngon. Nhớ lời ngoại kể,hồi thời pháp thuộc,xăng dầu hiếm hoi,giá cao,người dân ngoài việc thắp sáng bằng đèn đốt việc nấu nhựa từ trái mù u còn nấu cá linh để lấy mỡ thắp đèn. Đó là thời của ngoại tôi,cá linh còn nhiều,chứ bây giờ đừng mơ được làm người nghèo mà thắp đèn bằng mỡ cá linh. Món ăn cá linh không đơn điệu với ẩm thực người dân quê mà nó trở thành món ngon của người dân thành phố. Cá đánh bắt không đủ cung cấp cho thị trường có đâu mà nấu lấy mỡ thắp đèn.Cái chính đáng lo khi lũ không về là những người dân chuyên sống bằng nghề “hạ bạc” đóng đáy,cào,chài lưới hay đặt dớn.
Thời điểm này nơi bến sông trước cửa nhà tôi,người, ghe,xuồng hội họp đông vui như lễ hội. Mà cũng có thể gọi cao sang là lễ hội lắm chứ,nhìn những gương mặt tươi vui rạng rỡ của họ,nơi ánh mắt sáng lên niềm tự tinh một mùa đánh bắt cá linh bội thu.Từng chiếc xuồng,ghe lần lượt rời bến,đa phần là những dân chài,một số ít ghe lớn có trang bị máy đuôi tôm hay còn gọi là Koler, trên ghe có lắp đặt bộ phận lưới kéo hay còn gọi là ghe cào.Họ kéo như vậy thì thu hoạch nhiều cá hơn. Chưa kể những giàn lưới đóng đáy theo những khúc sông.Tất nhiên những ngư chài nghèo buồn là cái chắc. Nhưng mưu sinh mà!Sông nước bao la,chim trời cá nước, trời biếu cho không chứ của riêng ai mà buồn mà giận.”Kình ngư vui thú kình ngư,tép tôm, tôm tép vui bề tép tôm”.Đứng trên bờ sông nhìn họ ra khơi lòng tôi cũng náo nức muốn được lên ghe ra sông như bọn thằng Út con mẹo được cha nó cho đi theo phụ giúp.Nhưng biết sao giờ, chỉ biết cầu mong cho dân xóm tôi chài được nhiều cá. Đón mua cho bằng được mẻ cá đầu tiên. Mẹ nói cá linh non,thịt mềm, thơm ngọt.Bởi mẹ không cho ra ruộng dùng chiếc rổ tre xúc hay cái gió lưới nhỏ mà lũ trẻ hay dùng. Cha thằng Út lấy tre chẻ đóng một cái chữ thập,phía trên có cây đòn buộc vào sợi dây,phía dưới 4 đầu thanh tre có 4 sợi dây buộc vào 4 gốc tấm lưới. Chỉ cần đặt gió xuống sâu khỏi mặt nước ruộng,khi thấy bầy cá linh bơi vào phạm vi lưới tức thì nhấc đòn lên,bầy cá bị dính nằm trong lưới vùng vẫy sáng lấp lánh. Cũng phải thôi mẹ lo sợ tôi ham mê phơi nắng dầm mưa bị bệnh không đi học được. Tôi vâng lời mẹ nhưng trong lòng rất ấm ức,rất dễ hiểu vì đó là thú vui chơi của bọn trẻ chúng tôi khi mùa lũ về,tha hồ bắt cá về chơi nhà chòi,tự nấu thưởng thức ngoài vườn.Bù đắp sự chờ đợi ấy bằng niềm vui chào đón những chiếc ghe,xuồng trở về bến. Khoảng xế trưa thì đoàn ghe,xuồng từ từ cặp bến,người lớn,trẻ con reo hò túm tụm nơi bến sông. Trong số đó có người là mối bạn hàng bán cá ngoài chợ, và người thân,vợ, con của chủ ghe,có người là hàng xóm đợi mua cá. Tôi cũng là một trong số người chờ mua,bác Sáu giở tấm be xuồng lên,cầm chiếc rổ dạo dạo dưới lớp nước rồi giơ lên trút vào chiếc rổ tre của tôi với những chú cá linh còn sống oằn mình lấp lánh ánh bạc
Là chòm xóm với nhau nên bác chỉ tính nhẩm,phỏng chừng nói giá tiền chứ không cân như bán cho bạn hàng ngoài chợ vào mua.
Hí hửng cầm chiếc rổ cá chạy riết lên nhà giao cho mẹ. Trong khi mẹ ngồi cắt vây,đuôi rồi dùng hai ngón tay móc nơi yết hầu cá,moi lấy phần ruột,mật bỏ. Sau đó rữa sạch để cá trong rổ cho ráo nước.Tôi nhanh nhẹn lấy cái rổ tre thảy lên chiếc xuồng con,dùng cây sào tre chống xuồng ra ruộng,dọc hai bên mé,thấy nơi nào có cây điên điển thì chống xuồng vào cặp gần phía dưới gốc. Đứng dưới xuồng với tay lên kéo nhánh cây xuống,từ từ lặt hái những đóa hoa vàng. Khi rổ đã đầy thì chống xuồng trở vào. Không biết thời ông bà ngoại tôi thì sao mà người ta thường nói ” Muốn ăn bông súng cá linh. Thì về Đồng Tháp ăn cho đã thèm”. Chứ thời của tuổi thơ tôi thì Ô môn cũng có cá linh và bông súng để mà thưởng thức,đâu có cần chi qua Đồng Tháp cho xa.Ra sau vườn nhảy ùm xuống ao,quơ một mớ cọng bông súng,cù nèo,rau nhút và chặt một cây mía. Rồi không quên leo thót lên cây dừa xiêm thân thấp vặn cuốn hái một hay hai trái dừa. Ì ạch đem các món chiến lợi phẩm ấy vào nhà. Mẹ kêu chặt mía róc bỏ lớp vỏ cứng,chặt mía khoảng từ 5 đến 7 cm.Chẻ lóng mía theo chiều dọc thành 4 hoặc 6 thanh. Xong vạt mặt trái dừa trút nước vào cái tô lớn. Cá đã ráo nước,cho vào nồi nhôm nhỏ,đập vài tép tỏi,ớt hiểm cho vào ướp cùng chút nước màu,đường, nước mắm,chút dầu ăn hay mỡ nước. Xếp mía lót dưới đáy nồi,cho cá lên phần trên của mía. Đặt nồi lên lò lửa liu riu,khi nước mắm sôi bọt tràn phủ mình cá,cho nửa tô nước dừa vào. Khi nước dừa sắp cạn cho nửa tô nước dừa còn lại vào tiếp tục kho lửa nhỏ. Vì thời gian cần cho cá thắm hương thơm và vị ngọt của mía nên phải kho từ hai đến năm tiếng thì nhấc nồi xuống cho vào chút mỡ nước. Cho nên món này dành cho bữa cơm chiều. Trong thời gian kho mẹ có thời gian lặt rửa rau các thứ và bông điên điển. Món cá kho mía có thể chấm với rau cù nèo,bông súng,rau nhút hay lục bình hoặc bắp chuối bào hay cây chuối xiêm con bào mỏng trộn với rau sà lách xắt nhỏ,rau thơm các loại.
Buổi chiều thật vui ấm áp,gia đình tôi hội tụ quanh chiếc bàn gỗ tròn đặt ở căn phòng nhà sau. Gió từ sau hè thổi vào đem theo mùi hương thơm của lục bình,rơm,rạ. Trên bàn thì hương thơm từ dĩa cá kho,tô canh chua bốc lên bên cùng những lời tâng bốc của chúng tôi nịnh mẹ khen ngon. Mà quả thật ngon thiệt,khi gắp đũa rau chấm vào nước cá kho vị thơm giòn của rau hòa vị ngọt mằn mặn của nước mắm nấu chung với nước dừa,nước mía cùng vị ngọt béo của thịt cá linh. Vị nhân nhẫn của bông điên điển hòa cùng vị chua chua ngòn ngọt của nước canh trộn lẫn tiếng rột rột của mấy đứa em tôi húp canh và tiếng hít hà cay từ vị ớt.
Giờ ra thành phố sống đã lâu,tuổi đời lớn.Tôi ít được ăn lại hai món ngon này. Mỗi khi nghe lũ về thì từ vùng ký ức tôi nhắc nhở,chợt nghe thèm bữa cơm thời thơ ấu ở quê ngoại Ô môn với món cá linh kho mía và canh chua bông điên điển ngon tuyệt trần.

HUỲNH DUY LỘC

ĐẤT KHÁCH MƯA CHIỀU

 

Chiều nghiêng
đất khách mưa bay
Hạt rưng rức vỡ…
lòng hoài cố hương
Lệ mưa
ướt đẫm con đường
Cây tay rời lá
vàng vương lối về

Bước chồng…
thêm bước…nhiêu khê
Mưa ?
Hay mắt khóc
ướt thề hẹn
đau
Mộng du
thơ rót điệu sầu
Mưa chiều đất khách
nát nhàu nhớ thương

Huỳnh Duy Lộc

LẠC BƯỚC MÙA XUÂN

(Tặng vợ yêu lẻ bóng quê nhà )

Tết quê người
lạc mất cánh mai vàng
Hai bên cửa
thiếu chậu hoa vạn thọ
Không bàn thờ
bày cúng mâm ngũ quả
Rưng lạnh lòng
thèm ấm khói nhang thơm

Không bánh tét
mặn mà vị dưa món
Thiếu dưa hành
củ kiệu trộn tôm khô
Nghe thèm lắm
canh khổ qua ngọt đắng
Tết hàng năm
em luôn cúng ông bà

Xuân Mal-ta
trong rét ngoài mưa
Bên cốc rượu vang
đợi bước giao thừa
Thiếu hạt dưa rang
” thèo lèo cứt chuột
Không mứt hạt sen
lẫn ngọt mứt dừa

Nhớ tay em
ủi bộ quần áo mới
Lòng nôn nao
xa vẳng tiếng chuông chùa
Qua giao thừa
vai kề vai đi lễ
Viếng chùa Ông
cùng hái lộc đầu năm

Chắc giờ này
em tựa cửa ngóng trông
Bóng tình xa…
trái tim buồn bật khóc
Nỗi nhớ thương
bào phai màu sợi tóc
Mà anh về
chưa kịp bước xuân sang !..

Không tan kỉ niệm

 

Ở phương nào có giữ nỗi đau xưa
Mà mây bay ở trưa hè chợt khóc
Người chợt đến ngày xưa như nắng ấm
Chợt vội đi tơi tả những cơn mơ

Ở Sài Gòn người có nhớ Cần Thơ
Nắng lổ đổ nghiêng vai vàng sông Hậu
Người có nhớ những chiều xưa tan học
Nơi bến sông ai đó đợi con đò

Áo người trắng mây trời bay hờn dỗi
Giữ trong tôi chút bẽn lẽn ngại ngần
Môi chưa nói sao chân người vội bước
Mái chèo khua xao gợn sóng trong lòng

Hè năm ấy người bỏ đi biền biệt
Bảy năm dài lặng lẽ bước theo sông
Tôi vẫn đợi bến xưa chiều tan học
Lặng chờ nghe nhịp guốc thuở bâng khuâng

Chiều thoảng bay bao nhiêu tà áo trắng
Tôi dõi tìm qua mấy bận đò ngang
Áo người xưa chợt về vương sóng mắt
Sợi mây buồn chấp chới trắng trên sông

 

Huỳnh Duy Lộc

 

Nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm từ trần

Nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm, tác giả “Gọi Người Yêu Dấu,” vừa qua đời tại San Jose, miền Bắc California, vào sáng thứ hai 24 tháng 7 năm 2017, hưởng thọ 87 tuổi.
Nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm sinh ngày 30 tháng 6 năm 1930 tại Nam Định. Ông gia nhập quân đội năm 1951, theo học khóa 1 Trường Sĩ quan Trừ bị Nam Định, cấp bậc cuối cùng là Trung tá, Huấn luyện viên Tiếp vận, Trường Chỉ huy & Tham mưu Đà Lạt- Long Bình, quân đội VNCH.
Sau năm 1975, nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm bị tập trung cải tạo suốt 13 năm. Cuối năm 1990, ông cùng gia đình sang Hoa Kỳ theo diện cựu tù nhân chính trị. Sau khi định cư ở Hoa Kỳ, trong những năm gần đây, nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm đã thực hiện các CD “Tôn Vinh Ca” và 2 CD: “Mùa xuân Thung lũng Hoa vàng” và “Dòng sông đứng lại” (cộng tác với nhạc sĩ Phạm Anh Dũng).
Năm 2002, nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm được thành phố Santa Clara, California, tuyên dương và trao giải thưởng đặc biệt dành cho những nghệ sĩ cao niên đã phục vụ nghệ thuật trên 50 năm, đã tạo thành tích ở Việt Nam và tiếp tục sau khi định cư ở Hoa Kỳ.
Nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm qua đời vì bệnh ung thư máu sau một thời gian dài chữa trị.

Image may contain: 1 person, playing a musical instrument

Vũ Đức Nghiêm và “Gọi người yêu dấu”
Nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm sinh 1930 tạI làng Hoàng Nha, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định trong một gia đình tin kính Chúa. Ông đã say mê âm nhạc từ nhỏ và bắt đầu sáng tác ca khúc vào năm 17 tuổi. Ông kể về bước đầu đến với âm nhạc: “Tôi đến với âm nhạc từ lúc còn rất nhỏ. Năm 10 tuổi, mẹ tôi đã mua cây đàn violon nhỏ xíu cho tôi. Tôi đã hát ở các ca đoàn của Hội thánh Tin Lành Hà Nội. Sau đó, tôi tự học và sáng tác những bản nhạc đầu tay…”. Năm 1951, ông nhập ngũ, học Khóa 1 Trường Sĩ quan trừ bị Nam Định, ở trong quân ngũ suốt mấy chục năm, làm huấn luyện viên ở Trường Chỉ huy và Tham mưu tại Đà Lạt (Những kỷ niệm với thành phố Đà Lạt đã được ghi lại qua những câu hát của nhạc phẩm “Mùa thu thành phố sương mù”: http://cothommagazine.com/…/MuaThuThanhPhoSuongMu-NguyenThu…)

Sau năm 1975, vì mang cấp bậc trung tá, ông đi học tập cải tạo suốt 13 năm ở các trại Long Giao, trại Suối Máu (Tân Hiệp), trại Yên Bái ở Hoàng Liên Sơn, trại Văn Bàn ở Lào Cai, trại Xuân Phước, mãi đến cuối năm 1990 mới sang Mỹ định cư theo diện H.O.
Dòng nhạc Vũ Đức Nghiêm có thể được chia làm 4 thể loại tương ứng với 4 giai đoạn khác nhau trong cuộc đời ông:
1. Quân hành ca: Các ca khúc viết lúc còn trẻ khi còn ở trong quân đội.
2. Tình ca: Các ca khúc viết ở tuổi trưởng thành.
3. Ngục tù ca: Các ca khúc viết trong 13 năm học tập cải tạo trong trại tù
4.Tôn vinh ca: Các ca khúc viết từ khi được trả tự do cho đến nay.
Trong thời gian ở trong trại tù, ông sáng tác ca khúc “Đóa hồng cho người yêu dấu” để tặng cho người vợ đã không quản khó nhọc đi thăm nuôi ông và hết lòng chăm sóc con cái và ca khúc “Muôn trùng xa em” ghi lại hình ảnh người vợ từ giã ông trong trại tù để về nhà. Vào thời gian này, ông cũng sáng tác nhiều bản thánh ca như: “Tôi ước mơ là viên than hồng”, “Vững bước đi trên khổ đau” hay “Khi tôi quỳ bên chân Chúa” với những câu hát như:
“Khi tôi quỳ bên chân Chúa,
Hồn bay thánh thoát về chốn cao vời.
Dâng lên Ngài lòng tan vỡ,
Nghẹn ngào cay đắng lầm lỡ trong đời…”

Thế nhưng ca khúc nổi tiếng nhất của Vũ Đức Nghiêm là bản tình ca “Gọi người yêu dấu” viết ở Đà Lạt vào tháng 11 năm 1969, lúc vừa chia tay người yêu như lời kể của ông: “Tôi viết ‘Gọi người yêu dấu’ vào năm 1969 trong một cuộc phiêu lưu tình cảm”. Điều hết sức tình cờ là nữ ca sĩ Thanh Lan lên Đà Lạt chơi, đã gặp Vũ Đức Nghiêm và hỏi ông có viết ca khúc nào mới không. Ông đã đưa cho Thanh Lan ca khúc “Gọi người yêu dấu” và tháng giêng năm 1970, cô đã trình bày lần đầu tiên bản tình ca này trên Đài Truyền hình Việt Nam. Khán giả rất yêu thích ca khúc trữ tình chậm buồn theo điệu Boston này:

“Gọi người yêu dấu bao lần.
Nhẹ nhàng như gió thì thầm.
Làn mây trôi gợi nhớ chơi vơi thương người xa xôi.
Gọi người yêu dấu trong hồn.
Ngập ngừng tha thiết bồn chồn.
Kỷ niệm xưa mơ thoáng trong sương cho lòng nhớ thương.
Người yêu dấu ơi, sao lòng se sắt đầy vơi?
Người yêu dấu ơi, thu về tim vẫn đơn côi.
Người yêu dấu ơi, khi ngàn sao đêm lấp lánh.
Tâm hồn bâng khuâng, nhớ ngày vui đã qua nhanh.
Thương đôi mắt sao trời lung linh.
Thương yêu ngón tay ngà xinh xinh.
Thương yêu dáng vai gầy thanh thanh.
Thương yêu vòng tay ghi xiết ân tình
Thương yêu dáng em buồn bơ vơ.
Thương yêu nét môi cười ngây thơ.
Thương yêu tóc buông lơi dịu dàng…
Thương em mong manh như một cành lan.
Gọi người yêu dấu xa vời.
Mà lòng lưu luyến bồi hồi.
Ngày biệt ly đành nhớ nhau thôi khi chiều nhẹ rơi…
Gọi người yêu dấu muôn đời.
Nghẹn ngào không nói thành lời.
Tình yêu xưa ngày tháng phai phôi biết bao giờ nguôi…”

Ca khúc “Gọi người yêu dấu” với giọng ca Thanh Lan:
https://youtu.be/RmqeE7Z0heg
Ca khúc “Gọi người yêu dấu” với giọng ca Ngọc Lan: https://youtu.be/lRrZLPe8L9w
Ca khúc “Gọi người yêu dấu” với giọng ca Thanh Hà: https://nhac.vn/goi-nguoi-yeu-dau-thanh-ha-solm34L
Ca khúc “Gọi người yêu dấu” với giọng ca Vũ Khanh: https://youtu.be/P-lEKUIAf0U

Huỳnh Duy Lộc

BÁNH KHỌT QUÊ TÔI

huynhduyloc

13450742_236020040115921_5380006452416420294_n

Ở đồng bằng Nam bộ quê tôi hầu như ai cũng biết đến món bánh khọt. Bởi nó là thứ bánh dân dã, dễ làm và rẻ tiền nhưng rất ngon. Khuôn bánh được làm bằng đất nung, giá rẻ dễ mua dành dùng trong gia đình, đôi khi chòm xóm mượn nhau dùng. Bánh được làm bằng bột gạo, bột nghệ, nước cốt dừa và đậu xanh. Chỉ đơn giản có thế nhưng nó mang rất nhiều ý nghĩa về y học, chứng tỏ rằng ông bà ta xưa kia rất am hiểu trong lĩnh vực ăn uống và trị bệnh. Gạo có chất bột đường và đạm, dinh dưỡng cao, đậu xanh nhiều đạm, vị mát, giải độc, dưỡng tì vị, kèm theo nghệ có vị cay, tính ẩm, tiêu thực.
Ở đầu đường nhà tôi có một hàng bánh khọt của bà Tư, chiều chiều tôi hay ra đó. Khách hàng, người lớn, con nít nôn nao ngồi trên những chiếc ghế nhỏ, thấp lè tè. Trên chiếc bàn con được bày biện một rổ rau sống gồm nhiều thứ, như: Cải xà lách, cải bẹ xanh, rau húng cây, húng lủi, rau thơm… một ống đũa, hai keo thủy tinh( một đựng nước mắm tỏi ớt, một đựng những cọng củ cải trắng và đỏ ngâm trong giấm). Bà Tư loay hoay bên chiếc lò than, lửa lúc nào cũng cháy đỏ liu riu. Trên miệng lò là chiếc khuôn bánh bằng đất nung đã ngả màu. Khách hàng kẻ đã ăn vài ba cái, người thì chưa, không hẹn cùng đưa mắt dõi theo đôi bàn tay bà Tư thoăn thoắt. Tay trái bà giở nắp khuôn, tay kia cầm thanh tre mỏng cạy những chiếc bánh cho vào dĩa nóng hổi nghi ngút khói. Rồi bà lại nhanh nhẩu múc bột cho vào khuôn. Những âm thanh xèo xèo vang lên khi bánh gần chín kêu khọt khọt như tiếng kèng lá thúc giục bụng đói cồn cào của khách hàng. Bà Tư giở nắp khuôn cho những vá nước cốt dừa vào. Chỉ tích tắc thôi chất nước dừa ấy đọng lại trên mặt bánh một lớp kem màu trắng sữa. Hương nước cốt dừa, đậu xanh, nghệ bay ập vào mũi. Chúng tôi nhanh nhẩu lặt rau, cặp với bánh chấm nước mắm cho vào miệng. Chỉ cần chép chút thôi phần kem trên mặt bánh mềm tan trộn lẫn trong rau thành một thứ hương vị hòa hợp khó diễn tả. Chất béo, ngọt và cay nồng của nghệ và rau pha với vị mằn mặn lẫn vị cay của nước mắm hòn Phú Quốc, khách hàng cúi đầu ăn thỏa thích, miệng hít hà, còn bà Tư thì tay không ngừng nghỉ, thoăn thoắt cho bột vào khuôn. Âm thanh xèo xèo, khọt khọt, hít hà cùng với mùi khói mỡ cháy quyện vào nhau rất vui tai và hấp dẫn.
Tôi đã xa quê lâu lắm, giờ trở về, con đường nhỏ ngày xưa được mở rộng tráng nhựa phẳng lì. Hai dãy nhà giờ biến thành những hàng quán bán đủ thứ thức ăn. Nhưng hàng bánh khọt vẫn còn đó. Tôi ghé vào và ngồi xuống chiếc ghế nhựa. Chiếc bàn gỗ và những chiếc ghế con ngày xưa không còn, ngay cả chiếc rổ rau cũng được làm bằng nhựa. Nhưng với chiếc lò than và chiếc khuôn bánh bằng đất nung kia giờ đã đen bóng hơn như một thứ đồ cổ bằng đồng đen thật quý báu. Cô gái đưa cho tôi một dĩa nhỏ, tôi vội vã gắp cho vào miệng, hả hê ngậm nhấm vị béo ngọt lẫn cay bùi, mộc mạc, phong phú của quê hương mà tôi không bao giờ quên được trong những năm tháng xa quê…

HUỲNH DUY LỘC