HOÀI NIỆM

sonnghi

 

Mỗi năm cứ đến ngày 30 tháng 4 lòng tôi không tránh khỏi nỗi ngậm ngùi và nuối tiếc. Sự nuối tiếc về một quá khứ xa xôi nơi mảnh đất tôi đã được sinh ra và lớn khôn. Mảnh quá khứ đó đã hun đúc cho tôi một trí khôn mẫn tiệp, bơm vào dòng máu tôi một nhân bản thuần Việt và đã tạo cho tôi một hình hài khá đầy đủ tài và đức để hãnh diện bước vào đời ở nơi xứ lạ. Lòng tôi ngậm ngùi vì phải sống xa quê hương, như một cây ăn trái bị bứng đi khỏi mảnh đất màu mỡ để trồng vào một mảnh đất khác, tuy cũng màu mỡ, nhưng hoa trái đầu mùa phần nào đã bị biến thái.
Nhìn lại đất nước Việt sau bốn thập niên thống nhất, sự ngậm ngùi càng thêm cay đắng cho một cơ hội đã bị bỏ lỡ để quê hương lớn khôn vững chãi, để những nước chung quanh nể phục tinh thần Việt, con người Việt. Đối với tôi, một người lớn khôn lên ở miền Nam, ngày 30 tháng tư là ngày mất nước. Những người cộng sản xem đó là ngày chiến thắng, và hãnh diện về một trang sử oai hùng vì đã đánh bại hai đế quốc xâm lược. Tuy cái nhìn có khác nhau nhưng lịch sử đã gom hết lại những người Việt với nhau trên mảnh đất hình chữ S với chiều dài từ Ải Nam quan đến mũi Cà mau. Sự thống nhất hai miền Nam Bắc là một sự kiện lịch sử không ai chối cãi được. Nhưng sự kiện này là một điều may mắn hay là một rủi ro, bất hạnh?
Không cần phải đến giờ này, sau từng ấy năm thống nhất, những người Việt mới thấy đây là một bất hạnh. Bất hạnh vì cả một nền văn hóa bị đảo lộn hoàn toàn, những giá trị đạo đức căn bản bị coi rẻ hơn bèo, ngay đến giá trị con người cũng bị hủy diệt thật tàn bạo. Ngay sau ngày 30 tháng 4, nền văn hóa xã hội chủ nghĩa trâng tráo đi thẳng vào Sàigòn bằng cách chà đạp lên nền văn hóa miền Nam, bằng cách ngồi xổm lên nền đạo đức căn bản của cha ông, bằng cách nói khoác thật thoải mái, bằng niềm tin ngây ngô “đồng hồ Trung quốc tốt hơn đồng hồ Thụy sĩ” và họ, những người cộng sản, bắt những người miền Nam phải tin và hành xử như thế. Cái nền văn hóa quái gở đó đã bỏ tù sỉ nhục biết bao binh lính miền Nam, làm thiệt đi khá nhiều nhân tài. Nhưng cái tai hại nhất là họ cố tình đẩy hết những người Việt ra biển, để cho chết, để có cớ đoạt của cải, với niềm tin rằng bọn “ma cô đĩ điếm” miền Nam nên chết hết để họ rảnh tay xây dựng một nền “văn minh xã hội chủ nghĩa”, một thế hệ mới với những con người mới. Phần nào họ đã thành công vì một nửa đã chết thê thảm trên biển chưa hề thấy lại mảnh đất liền. Nhiều thiếu nữ trên đường vượt biên bị bắt và bán vào các nhà thổ ở Thái, bắt đầu một cuộc chà đạp nhân phẩm của con cháu hai bà Trưng Triệu và kéo dài mãi cho đến ngày hôm nay, chỉ dưới một hình thức khác. Những người vượt biên bằng thuyền này đã từng là chất xám, góp phần không nhỏ vào nền văn minh khoa học của miền Nam khá nổi bật ở vùng Đông Nam Á. Họ ra đi vì không thể nào chịu đựng được cái niềm hãnh tiến của những tay lãnh tụ i-tờ. Một tay lãnh tụ chưa qua lớp năm trường làng chuyên nghề bẻ ghi hoặc hành nghề lái lợn thì đối với dân trí thức, nhất là trí thức của một nước bị bại trận thì lòng tự ti và sự căm thù của những tên lãnh tụ này phải nói là ngút trời xanh. Những kẻ trí thức miền Nam bị những tên lãnh tụ miền Bắc xem rẻ hơn cục phân bắt buộc phải ngậm ngùi trốn khỏi nước. Cũng có kẻ đã có kinh nghiệm với cộng sản nên cũng chạy trốn trong nỗi sợ hãi, cũng có người khinh tởm một mớ lý thuyết bạo lực bất nhân được lập đi lập lại ở môi miệng của những người cộng sản dốt đặc cán mai nên dứt khoát rũ bỏ mảnh quá khứ ở sau lưng. Những trí thức miền Nam đến định cư ở quê hương thứ hai đã tạo nên sự nghiệp vẻ vang. Họ dâng hiến cho đất nước tạm dung những thành quả của trí tuệ, đóng góp vào sự phồn thịnh phát triển không ngừng của quê hương thứ hai. Thế hệ con cháu lại càng vượt thế hệ cha ông. Những người trẻ này đã làm vẻ vang giống nòi ở xứ người. Người bản xứ không còn nhìn lớp người Việt bằng ánh mắt dè bỉu như những năm đầu tỵ nạn nữa, mà trái lại họ ngưỡng mộ tầng lớp trẻ đã cống hiến cho xứ sở này biết bao điều kỳ diệu.
Như thế lịch sử đã khẳng định một sự thật về tiềm năng của tầng lớp trí thức miền Nam. Họ đã giúp xây dựng một miền Nam khá trù phú trong chiến tranh và đã đóng góp hoa trái cho sự phát triển vượt bực của quốc gia nơi gia đình họ đang sinh sống. Nếu miền Nam thắng, chắc chắn số chất xám này sẽ không bị thất thoát ra hải ngoại. Cọng với tầng lớp trí thức miền Bắc, tuy ít oi nhưng không phải là không có. Cũng có người học rộng, hiểu biết nhiều. Sở dĩ tôi nói ít oi chỉ vì chính sách độc tài của những tên lãnh tụ vốn ít học. Họ không muốn đào tạo nhiều trí thức. Hơn nữa, mức độ tăng cường quân số trên các mặt trận khiến cho tầng lớp trẻ miền Bắc không được học hành nhiều. Tuy thế, nếu kết hợp được chất xám của hai miền Nam Bắc này lại thì chắc chắn Việt nam bây giờ phải khác, khác lắm chứ không èo uột như bây giờ. Khi trình độ tri thức trong nước gia tăng thì chúng ta có thể làm chủ lấy những tài nguyên thiên nhiên, vật lực và nhân lực chứ không thể để bọn ngoại nhân lũng đoạn nền kinh tế đất nước như hiện nay. Trong khi bọn lãnh tụ không có một chút kiến thức gì về việc điều hành đất nước, lại nắm trong tay hết quyền hành, cọng thêm máu ăn bẩn thu vén hết của công về riêng cho mình thì đất nước tan hoang là điều dễ hiểu.
Đó là nền kinh tế trên bình diện quốc gia, còn về tình người cũng chắc chắn phải khác. Nếu miền Nam thắng, bầy trẻ thơ đến trường sẽ không bao giờ phải học những hận thù giai cấp, những bài toán nhân chia trừ cọng bằng mạng người… một tên lính Mỹ bị giết hôm nay cọng với hai tên lính Ngụy chết hôm qua như thế quân ta giết được bao nhiêu đứa? Những bài toán như thế nhan nhản trong khắp sách toán ở bậc tiểu học. Thế giới thăng trầm qua nhiều chủ nghĩa, triết thuyết, học thuyết nhưng lịch sử nhân loại chưa bao giờ là nhân chứng cho một chủ nghĩa quái đản như chủ nghĩa cộng sản khi mớm cho các em từ thuở cắp sách đến trường lòng căm thù của người lớn. Một thế hệ lớn lên bằng máu chủ nghĩa luân lưu khắp cơ thể, bằng trái tim chai đá hận thù giai cấp, bằng khối óc đông cứng bạo lực, bằng những bàn tay chỉ biết cầm súng giết người không cùng chính kiến thì cho dù học tài hiểu rộng đến đâu vẫn không thể là một nhà lãnh đạo vẹn toàn được.
Họ, những người cộng sản, muốn tẩy sạch những người miền Nam để xây dựng một thế hệ tiêu biểu như thế. Một thế hệ lớn lên sẽ cai trị đất nước bằng máu và nước mắt. Nền văn học cộng sản còn dạy cho tầng lớp thanh niên một trí tuệ nô bộc, lệ thuộc vào các nước cộng sản đàn anh khi thương khóc một Stalin như Tố Hữu, tên văn nô nổi tiếng nhất trong thế kỷ hai mươi. Ngày Stalin chết, các nước cộng sản khác trên thế giới cũng bày tỏ lòng thương tiếc, nhưng có lẽ không một nước cộng sản nào lại thương tiếc Stalin như nước Việt nam khi Tố Hữu làm bài thơ thương tiếc ông ta gấp mười lần cha mẹ mà cho đến giờ này mỗi khi đọc những hàng chữ đó tôi không khỏi đỏ mặt vì ngượng. Bài thơ dạy dỗ tầng lớp thanh niên phải biết ơn đảng, biết ơn một ông Tây râu xồm chưa hề một lần diện kiến hơn cả ông bà cha mẹ, là những người có công sinh thành và nuôi dưỡng. Những bài thơ nô bộc, biểu hiện một tinh thần khiếp nhược, được xem là kinh điển in đầy dẫy trong các sách giáo khoa ở bậc trung học. Với thái độ khom lưng cúi gập người trước một ông Nga mũi lõ của Tố Hữu, cái dáng đứng của tên văn nô này không quá chiều cao của một con lừa. Sự nô bộc còn được tuyên truyền qua truyền khẩu, đồng hồ Thụy sĩ không tốt hơn đồng hồ Trung quốc… một nước cộng sản tàn lụi nhân tài vì chính sách ngu xuẩn của Mao, tên lãnh tụ dâm ô nhất trong các lãnh tụ nước cộng sản. Ngay cả chị Hằng cũng bị đem ra bêu rếu khi so sánh, trăng ở Mỹ không sáng bằng trăng ở Liên sô… một câu truyền khẩu để lộ sự ngu dốt về khoa học. Cứ thế mà tuyên truyền, cứ vậy mà truyền khẩu khắp hang cùng ngõ hẻm ở Việt nam. Sách vở và báo chí tuyên truyền rầm rộ về hai kế hoạch ngũ niên 1976-1981 và 1981-1986 trong suốt những năm đầu sau khi cưỡng chiếm miền Nam rằng toàn dân sẽ tiến lên từ ăn no mặc ấm đến ăn ngon mặc đẹp. Trong trường học, trên đường phố giăng đầy những khẩu hiệu chứa đầy sự hãnh tiến của đảng cộng sản như, “Chủ nghĩa Mác-Lênin bách chiến bách thắng”, “Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”, “Thay trời làm mưa…”, “Thắng giặc Mỹ ta xây dựng bằng mười ngày nay”… Đồng bào miền Bắc vốn ít học, lại vừa “đánh bại” giặc Mỹ thống nhất đất nước nên đặt hết niềm tin vào những khẩu hiệu ngô nghê của đảng cộng sản. Hỡi ôi, qua hai ngũ niên, thực tế đập vào mặt những tên cộng sản i-tờ cho thấy rằng phá hoại thì dễ nhưng xây dựng thì rất khó, khó đến nỗi ông thủ tướng có cặp môi thâm sì như một tên nghiện phải đi ngửa tay xin viện trợ các nước tư bản. Và sau khi ngửa tay nhận viện trợ của những tên tư bản là đồng thời ký vào những khế ước cho chúng vào mặc sức khai thác, bòn vét cho hết tài nguyên thiên nhiên của đất nước.
Nếu miền Nam thắng thống nhất đất nước, chắc chắn nền kinh tế của cả nước sẽ tiến nhanh, ít nhất là bỏ xa nền kinh tế vay mượn của nhà nước tư bản được ngụy trang bằng đầu xã hội như bây giờ. Có thể nền kinh tế sẽ nhảy vọt đến nỗi lực lượng lao động trong nước không đủ cung ứng cho thị trường và biết đâu công nhân ở các nước chung quanh phải đến xin việc ở nước Việt nam. Cho dù thế nào đi chăng nữa, một điều chắc chắn là những tên tư bản ngoại quốc sẽ không có quyền hoành hành như một ông vua con ở quê hương như hiện nay. Chắc chắn sẽ không có chuyện một con mẹ chủ xứ củ sâm dám cầm dép đập vào mặt công nhân Việt. Chắc chắn sẽ không có chuyện bọn Tàu cộng ngang ngược chiếm Hoàng sa, Trường sa. Chắc chắn bọn Tàu chệt sẽ không ngang nhiên mang cả sư đoàn người vào Tây nguyên khai thác bô-xít. Sẽ có nhiều sự kiện chắc chắn khác sẽ xảy ra làm rạng danh nước Việt ở vùng Đông nam á.
Nếu miền Nam thắng, chắc chắn tầng lớp con cháu sẽ học được hai chữ nhân bản, sẽ hiểu biết về tình người, sẽ biết sống sao cho xứng với thân phận làm người, sẽ biết đối xử nhân đạo với người, nhất là đồng bào trong nước. Tiếc thay, một nền văn hóa cộng sản áp đặt lên tâm trí của những thế hệ trong suốt 40 năm thời hậu chiến, để đến bây giờ xã hội tạo ra những tay công tử sống ăn bám vào cha mẹ, ăn chơi ngông nghênh không hề tiếc của. Nền văn hóa này tạo ra một thế hệ trong đó hầu hết thanh niên không hề biết dõng dạc tuyên ngôn sự vẹn toàn lãnh thổ như Lý Thường Kiệt, không hề đau lòng trước bất công như Việt Khang, bàn tay mềm nhũn không bóp nổi trái cam như Trần Quốc Toản. Ôi! Tiếc thay từ ngày thống nhất đất nước đến nay xã hội cộng sản đã sản sinh những thế hệ Việt lớn lên èo uột tình người vì trái tim chất chứa hận thù, và với khối óc đặc sệt những ích kỷ, ăn chơi sa đọa.
Thực tế là các công nhân vẫn bị tiếp tục đi kiếm sống ở các nước lân cận, con gái Việt vẫn bị đứng trần truồng để mấy tên Đài và Hàn chọn như một con vật, các công tử con nhà giàu vẫn vung tiền bao gái đến độ chóng mặt, những người bất đồng chính kiến vẫn bị cầm tù, tiếng nói đòi hỏi dân quyền và tiếng dân oan vẫn bị bóp nghẹt, các chức sắc tôn giáo vẫn bị trù dập không thương tiếc, phần lớn thanh thiếu niên chỉ biết làm thế nào để làm ra tiền, kể cả dùng những phương tiện hèn hạ hoặc bất lương…
Tất cả những thực trạng phũ phàng này đều có thể tránh khỏi nếu miền Nam thắng và áp dụng một chế độ dân chủ, công bằng, đầy nhân bản như trước năm 1975.

 

SƠN NGHỊ

Advertisements

DỐI TRÁ

sonnghi

Gia đình tôi luôn cố gắng duy trì được bữa ăn tối chung với nhau. Nửa giờ tuy ngắn ngủi nhưng quý giá vì đó là thời gian duy nhất trong ngày mọi thành viên trong gia đình đều có mặt. Ăn được miếng cơm ngon, chung quanh bàn cơm có ông bà, vợ chồng, con cái quây quần, chuyện trò vui vẻ là điều thú vị nhất trong một ngày.
Một buổi cơm tối như thường lệ, đang khi vợ chồng con cái chuyện trò rôm rả thì chuông điện thoại reo. Vì ngồi gần giá điện thoại nên tiện tay tôi bấm nút phóng thanh trên phôn (speakerphone) để trả lời. Thường thì tôi chẳng bao giờ bốc phôn trong bữa ăn vì “trời đánh còn tránh bữa ăn” huống gì một cú điện thoại vẩn vơ, trừ trường hợp nhìn thấy tên của người thân hiện ra trên khung cửa điện thoại. Thế mà hôm đó không hiểu tại sao tôi lại nhấn nút phôn để nói chuyện với một người xa lạ, một nhân viên chào hàng. Để kết thúc câu chuyện nhanh chóng, tôi vội trả lời là tôi chỉ là người ở trọ khi anh ta nói muốn nói chuyện với chủ nhà. Anh chàng Mỹ lịch sự nói cám ơn và cúp máy. Vì bật nút phóng thanh nên cuộc đối thoại cả nhà đều nghe rõ. Ngồi xuống ghế, tôi bình thản tiếp tục bữa ăn và bất chợt một trong hai đứa con tôi, lúc đó mới 10 tuổi, cất tiếng phê bình: Bố nói dối.
Tôi chưng hửng. Ngừng ăn, tôi ngẩn người và chợt nhận ra con tôi nói đúng. Tôi đã nói dối. Thật không ngờ chỉ vì muốn chấm dứt một chuyện không đâu mà tôi đã làm gương xấu trước mặt con cái. Tôi vội giải thích cho nó hiểu là lời nói dối của tôi không làm hại ai cả mà chỉ muốn chấm dứt câu chuyện một cách lịch sự, thế thôi. Tôi còn giải thích thêm, nếu lời nói dối mang sự thiệt hại đến cho kẻ khác thì mới có tội. Thằng bé ngồi trầm ngâm một lúc suy nghĩ về lời giải thích của tôi, rồi sau cùng nó buông thõng: bố vẫn nói dối. Có lẽ trong đầu óc non nớt của nó chưa hiểu được thế nào là lợi, thế nào là hại nên nó vẫn không chấp nhận lời giải thích (yếu ớt) của tôi. Đối với những đứa bé, hoặc là trắng, hoặc là đen, không có màu xám. Chân lý chỉ có một, không thể nửa vời. Nói dối, hoặc nói thật chứ không có luật trừ rằng đôi khi được nói dối.
Ngoài việc đứa con dạy tôi một bài học thật bất ngờ, tôi nghiệm ra rằng nền giáo dục ở Mỹ đã hun đúc trong tâm trí đứa bé phải biết tôn trọng sự thật và phải bảo vệ sự thật bằng mọi giá. Lời kết luận (kiên quyết) của đứa con là một bằng chứng hiển nhiên. Trường học Mỹ không có môn Công dân Giáo dục nhưng bài học vỡ lòng (nhất là các trường đạo) từ thuở mẫu giáo là luôn luôn nói thật. Nhà trường khuyến khích và đề cao việc tôn trọng sự thật. Câu chuyện cậu bé Washington lỡ chặt gãy cây đào và thú nhận với ông bố có đứa trẻ nào mà không biết. Câu chuyện tiếp tục rằng sau đó cậu bé Washington phải nhận lấy một hình phạt vì tội chặt gãy cây cho dù đã thú tội (nói thật). Như thế, cho dù sự thật mang đến thiệt hại cho chính bản thân nhưng vẫn phải tôn trọng sự thật. Có thể đây chỉ là một huyền thoại nhưng một bài học luân lý như thế thật đáng truyền tụng. Không riêng gì ở Mỹ, những đứa bé lớn lên ở bất cứ nơi nào trên thế giới này, kể cả những nước nghèo đói thiếu ăn như ở Phi châu, đều được dạy dỗ về sự thành thật.
Trước 75, những bài học luân lý trong cuốn Quốc văn Giáo khoa thư được giảng dạy trong suốt những năm ở bậc Tiểu học. Tôi còn nhớ rõ chuyện cái cân kể về một người buôn bán gian dối, làm một quả cân rỗng ruột dùng để cân khi bán và một quả cân nặng hơn bình thường dùng để cân khi mua. Có lần người này bổ quả cân ra và thấy ở giữa có một cục máu. Đồng tiền kiếm được qua việc mua rẻ bán đắt một cách gian dối là tiền máu.
Nói đến gian dối là nói đến lừa đảo, bịp bợm. Luân lý Giáo khoa thư cũng khuyên không nên nói dối dù rằng chẳng hại đến ai. Chuyện cậu bé giả có cháy nhà lừa gọi những người hàng xóm chạy đến giúp rồi lăn ra cười. Họ bị lừa nhiều lần nên khi cháy nhà thật chẳng ai đến giúp và kết quả là cả căn nhà bị cháy rụi.
Những đứa trẻ ở miền Nam trước 75 đều được dạy dỗ về sự thành thật, lòng hiếu thảo, yêu người…v..v… Còn xã hội ngày nay ở Việt nam dạy cho con trẻ thuở cắp sách đến trường thế nào? Ban đầu, hào khí chiến thắng của những người cọng sản nhẫn tâm gạt bỏ mọi tinh hoa giáo dục của miền Nam. Những cuốn sách giáo khoa, sách văn học, khảo cứu nằm lăn lóc ở vệ đường bán sỉ nhìn thấy thật đau lòng. Tôi có người dì họ ở ngoài Bắc chưa bao giờ gặp mặt, chưa một lần nói chuyện. Cả hai dì cháu chỉ biết nhau qua thư từ. Đó là một phụ nữ hiểu biết, tốt nghiệp khoa Văn tại Hà nội. Cả tủ sách văn học của tôi bỏ đi thì uổng quá, mà giấu mãi không được với những tên công an khu vực i-tờ nên tôi chuyển hết ra Bắc cho dì. Dĩ nhiên phải chuyển lén vì là đồ quốc cấm. Người dì rất cảm kích về những tác phẩm văn học nghệ thuật này, nhất là những truyện dịch của Leon Tolstoi. Để trả lễ, dì biếu lại tôi cuốn Triết học Mác-Lênin dày cộm (sic). Những tên nằm ở Bắc bộ phủ vào khoảng thời gian đầu mất nước mang nặng đầu óc của một Mao trạch Đông và có hành động cuồng dại của một Tần thủy Hoàng. Cái hào khí chiến thắng của một đạo quân từng đánh bại hai đế quốc Pháp và Mỹ (sic) đã đẩy những kẻ với trình độ sơ cấp lên trên hẳn đồng bào miền Nam bại trận. Vì thế, những cuốn sách văn học nằm ngổn ngang từng đống ở vỉa hè là điều dễ hiểu. Những bài học luân lý căn bản trong cuốn Giáo khoa thư cũng mang chung một số phận. Những câu chuyện vỡ lòng về luân lý dạy cho cả một thế hệ bé thơ hoàn toàn bị loại bỏ khỏi chương trình giảng dạy ở bậc Tiểu học và thay vào đó bằng những bài học dạy về lòng căm thù giai cấp đọc nghe đến lố bịch. Có lẽ không một nước cọng sản nào hiện hữu trên trái đất này lại nhẫn tâm gieo vào đầu óc trẻ thơ những tư tưởng giết người như ở Việt nam.
Xét cho cùng, họ dẹp bỏ là phải vì những tư tưởng gói ghém trong cuốn Luân lý Giáo khoa thư hoàn toàn trái ngược với lý thuyết căn bản cọng sản. Đối với chủ thuyết cọng sản, sách lược là bạo lực, chiến lược là dối trá được che dấu khéo léo dưới danh từ tuyên truyền. Làm gì có thành thật đối với những kẻ ngồi trong Bắc bộ phủ. Bởi thế, dạy cho người dân thế nào là ngay thẳng thì chẳng khác nào họ tự bôi phân lên mặt họ. Chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh tương tàn có “chính nghĩa”, mà mãi cho đến bây giờ họ vẫn vinh dự (hão) về cuộc chiến chống Mỹ, bọn cọng sản đã nhồi nhét trong óc đồng bào miền Bắc – kể cả những trẻ thơ – về một miền Nam sa đọa, khổ sở trong nghèo đói, tha hóa trong trụy lạc, lạc hậu về kiến thức, và kiệt quệ về kinh tế. Mới đây, một cán bộ (thức tỉnh) miền Bắc kể lại trên mạng (viet.no) rằng trong thời gian cao trào chống Mỹ Ngụy, theo tài liệu học tập từ trung ương đưa xuống thì tại miền Nam số lượng đàn bà làm đĩ lên đến hàng trăm vạn. Bây giờ ngồi so sánh con số mà đảng đưa ra thì vào thập niên 70 – với số dân 17 triệu toàn miền Nam – phần lớn đàn bà con gái ở phía bên kia vĩ tuyến đều phải bán trôn nuôi miệng; như thế mới phù hợp con số đảng đưa ra. Ông ta chua chát kết luận, con số đảng tuyên truyền thời đó hiểu ra (khá trễ) là phóng đại nhưng lại đúng với sự thật vào đầu thế kỷ 21 tại Việt nam.
Đảng cố tình nhào nặn ra một hình ảnh bệnh hoạn về miền Nam và đẩy mạnh công tác tuyên truyền hiệu quả đến nỗi cả miền Bắc bỗng thấy việc giải thoát đồng bào miền Nam khỏi ách nô lệ của đế quốc là một nhiệm vụ phải làm; chỉ vì đó cũng là đồng bào máu đỏ da vàng cả. Tầng lớp thanh niên thiếu nữ hăng say lên đường đi B để làm cái công việc giải phóng “cao cả” đó. Thế là một chiến dịch dối trá vĩ đại được hình thành ngay trong thâm cung của Bộ Chính trị và được tuyên truyền học tập rộng rãi trên khắp cõi miền Bắc. Trong suốt 21 năm, từ 1954 đến 1975, toàn bộ nhân dân miền Bắc từ hạ tầng đến thượng tầng cơ sở (trừ những kẻ đẻ ra chiến dịch nói dối) đều tin tưởng tuyệt đối rằng đó là những sự kiện có thật. Dân chúng ở hậu phương còn được dạy bảo phải thắt lưng buộc bụng, hạt gạo bẻ làm ba; một để lại miền Bắc, một đem vào miền Nam, và một giúp đồng bào Lào và Cao miên. Thật tội cho đồng bào ở miền Bắc, họ cống hiến tất cả bầu nhiệt huyết, hy sinh đến tận cùng những tình cảm riêng tư, để phục vụ cho một chiến dịch giải phóng bắt đầu bằng một sự lừa bịp vĩ đại. Phải nói là vĩ đại, vì chính những mỹ từ này mà biết bao thanh niên thiếu nữ phải sinh Bắc tử Nam.
Cho đến ngày 30/4/1975, khi bước vào một miền Nam hoa lệ, thành phố sầm uất, dân quê chất phác sống khá sung túc, trẻ con lễ phép (nhờ những bài học vỡ lòng trong cuốn Luân lý Giáo khoa thư), thì những anh bộ đội mới vỡ lẽ ra là những điều họ được học tập trái ngược với thực tế. Những người cọng sản tuy (may mắn) chiếm được miền Nam nhưng đồng thời bộ mặt xảo trá của Bộ Chính trị lộ nguyên hình. Thường thì khi biết bị lừa, tâm lý chung của con người là cảm thấy tự ái bị tổn thương, uất hận và đâm ra oán ghét kẻ lừa bịp. Phải dùng chữ uất hận vì cả một thời thanh xuân đã bị chôn vùi dọc theo rừng Trường sơn; một phần thân thể bị bỏ lại chiến trường B; những ước mơ tầm thường của một đời người cũng bị hy sinh đến tận cùng.
Có hai biến cố để thử lửa thế hệ thanh niên Việt nam, kể cả giới trí thức. Thứ nhất là biến cố 30 tháng 4, 1975 khi họ khám phá ra một miền Nam hoàn toàn trái ngược với sự tuyên truyền của đảng. Biến cố này chỉ liên quan đến thanh niên miền Bắc. Thứ hai là ngày 9 tháng 12, 1991 khi thành trì Sô-viết chính thức tan rã, cáo chung một chủ nghĩa cọng sản không kèn không trống sau gần ¾ thế kỷ gieo rắc bao kinh hoàng cho nhân loại. Biến cố này liên quan đến thế hệ trẻ của cả nước. Cả hai biến cố này xác định rõ rệt ai là kẻ nói dối và ai là kẻ bị lừa.
Bị kẻ khác lừa mà không biết là bất trí. Khi biết bị lừa mà không có phản ứng (dù tiêu cực hay tích cực) là nhu nhược. Con người Việt nam không thể bất trí. Nhân dân Việt nam không bao giờ nhu nhược. Thế mà khi bộ mặt xảo trá của đảng cọng sản bị phơi bày vẫn không thấy một phản ứng – cho dù nhỏ nhoi – của bất cứ thành phần nhân dân miền Bắc nào, kể cả những kẻ mang danh là kẻ sĩ, gồm cả các giáo sư, bác sĩ, học giả..v..v.
Phân tích cho kỹ hiện tượng thụ động này, tôi nghĩ ra được vài điểm:
1. Lính bộ đội có trình độ học vấn thấp. Nói ra điều này tôi hoàn toàn không có ngụ ý chê bai mà chỉ nêu lên một sự thật. Những thanh niên thiếu nữ này nếu điều kiện cho phép chắc chắn tên tuổi của họ cũng được ghi danh trên bảng vàng như ai. Đúng ra, đảng không muốn thanh niên thiếu nữ miền Bắc học nhiều. Họ cố ý rút ngắn chương trình trung học trong những năm chiến tranh chỉ còn 10 năm (để mau ra chiến trường), trong khi học sinh miền Nam phải học đủ 12 năm và phải qua biết bao kỳ thi sát hạch để sàng lọc những người có khả năng học lên cao. Chỉ vì trình độ nhận thức thấp kém theo chính sách ngu dân của đảng nên tầng lớp thanh niên không cảm thấy uất hận khi bị lừa dối.
2. Tầng lớp cán bộ và bộ đội lóa mắt trước của cải miền Nam. Họ là những nông dân chân chất, nghe lời đảng đi “giải phóng” miền Nam khỏi ách đế quốc. Tài sản của họ ngoài căn nhà tranh vách đất, may ra được con trâu, dăm con gà. Hiếm khi họ ăn được bữa cơm không độn. Bước vào miền Nam thấy toàn cao ốc, nhà cửa khang trang, hàng tiêu dùng thừa mứa, họ bỗng đâm thèm khát hết mọi thứ; từ cây kim may cho đến chiếc bình tích giữ nước sôi. Phàm con người có ai không muốn hưởng thụ, sung sướng. Họ mong đem về Bắc một chiếc xe đạp, trên cổ tay đeo chiếc đồng hồ (made in Cholon cũng được), và trên vai lủng lẳng chiếc máy thu thanh. Ước mơ của những anh bộ đội ôi thật tầm thường nghĩ đến tội nghiệp. Đảng biết như thế nên cố tạo điều kiện cho những kẻ một thời nghe lời dụ dỗ của đảng bằng cách đổi tiền, đánh tư sản mại bản, và nhiều trò cướp giật công khai khác, với mục đích gián tiếp buộc đồng bào miền Nam phải đem hết đồ dùng trong nhà ra bán dần ở chợ trời, cân bằng phần nào cán cân kinh tế giữa hai miền Nam Bắc trong thời hậu chiến. Trong khi đồng bào miền Nam tiêu tán dần sản nghiệp thì nhân dân miền Bắc bỗng được sở hữu chủ một vài thứ tiêu dùng mà cả đời họ chưa bao giờ (dám) nghĩ đến. Trong thời chiến, nhân dân miền Bắc tối đi ngủ gắng mơ được thấy bác Hồ và mãi đến năm 75, họ âm thầm gạt bác qua một bên để phấn khởi thay vào đó là giấc mơ đạp, đổng, và đài. Với giấc mơ hơn hai mươi năm bỗng trở thành hiện thực chỉ trong vài tháng, nhân dân miền Bắc bỗng đâm ra dễ dãi và chợt quên đi họ đã bị lừa.
3. Thành phần kẻ sĩ đã bị thuần hóa từ lâu, nhất là sau vụ Giai phẩm Nhân văn năm 1956, vụ bắt “những kẻ chống đảng” năm 1967. Còn biết bao vụ thanh trừng khác xảy ra nhan nhản trong suốt thời chiến tranh. Những chuyện mưu sát công khai, những chuyện đầu độc nghe được qua rỉ tai, từng ấy chuyện đủ khủng bố tinh thần của tầng lớp kẻ sĩ đến sợ hãi ngậm miệng. Với phương pháp trấn áp cực kỳ tàn độc, đảng thành công trong việc bào mòn lòng bất khuất của tầng lớp trí thức, nhận chìm khí phách truyền thống của cha ông. Thật tội cho họ, biết bị lừa mà đành phải cắn răng chịu đựng.
Chính vì những lý do đó mà trong muôn vàn kẻ chứng kiến cuộc “giải phóng”, tất cả đều nhận ra một chiến dịch bịp vĩ đại ngay sau khi vào thăm và tiếp xúc với đồng bào miền Nam, nhưng lại không mấy ai thổn thức lương tri, hoặc thắc mắc lấy một lời về sự dối trá của đảng cọng sản. Trừ hai người (ít ra là họ thú nhận như thế). Đó là bà Dương Thu Hương và ông Nguyễn khắc Toàn.
Nhà văn Dương Thu Hương kể lại là khi chứng kiến được sự sung túc của miền Nam, bà ngồi bệt xuống lề đường Nguyễn Huệ và khóc tức tưởi. Trong một bài viết, bà cho biết: Bà chợt nhận ra chân tướng của đảng cọng sản. Bà biết bà đã bị lừa khi hiến thân cả cuộc đời để thực hiện cái gọi là “giải phóng miền Nam”. Năm 1968, lúc bà vừa 21 tuổi, tuổi thiếu nữ tràn trề nhựa sống, bà từ chối ân huệ của đảng gửi đi du học (giấc mơ của tuổi trẻ miền Bắc) để lên đường vào Nam tham gia chiến dịch Tổng công kích Tết Mậu Thân. Quyết định dứt khoát vào Nam đi “giải phóng” cũng vì hoàn toàn tin tưởng vào sự tuyên truyền (nói dối) của đảng. Bà quyết dùng tài năng của một văn công để an ủi tinh thần cho những anh bộ đội trên đường chinh chiến gian khổ. Ôi! Bà khóc là phải lắm. Những giọt nước mắt uất ức xứng đáng chảy dài trên má vì sau bao nhiêu năm chiến đấu khổ cực để tàn phá những gì là ước mơ của toàn thể nhân dân miền Bắc. Xét cho cùng, cách mạng là đổi mới, là tìm một đường hướng tốt hơn hiện tại. Hóa ra không phải thế, người cọng sản chủ trương lột bỏ hết tất cả những gì gọi là tinh túy của cha ông để áp đặt một chính thể ngoại lại, những “luân lý” cọng sản, trong đó sự lừa dối được cổ võ rộng rãi trong tầng lớp nhân dân.
Năm 2006, nhà báo Nguyễn khắc Toàn, trong bài viết nhân ngày 30-4, với tựa đề: “Nhìn Lại Ba Mươi Năm Trước”, ông xác nhận: Cuộc chiến tranh “Huynh đệ tương tàn – nồi da nấu thịt” ấy đã để lại trong tôi những chấn thương về cả tinh thần lẫn thể xác. Về phương diện tinh thần, tôi đã có cái nhìn rất khác so với nhiều đồng đội của mình là những người xuất phát đa phần từ nông dân, sinh trưởng từ nông thôn miền Bắc Việt Nam nghèo nàn, lạc hậu. Ông lập lại những gì ông được học tập kỹ lưỡng trong suốt cuộc chiến chống Mỹ: “Rằng đây là cuộc chiến tranh cách mạng nhằm giải phóng miền Nam khỏi đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ ngụy quyền tay sai!?” “Rằng đây là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân Miền Nam khỏi ách kìm kẹp của Mỹ Ngụy và đây là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thiêng liêng…”, như bộ máy tuyên truyền vĩ đại ở miền Bắc hô hào ngày đêm!!!? Và như một số ít oi kẻ sĩ còn biết sỉ, ông nhận ra rằng: Tôi đối chiếu, so sánh với cuộc sống ở Hà nội và cả miền Bắc XHCN thì những thứ “Tự do dân chủ ” và đời sống khá giả ấy (ở miền Nam; chú thích của người viết) quả là một sự xa xỉ và hoàn toàn xa lạ đối với người dân miền Bắc. Kết luận của ông nghe thật đau lòng: Bi kịch lớn của dân tộc ta, tổ quốc ta là ở chỗ cuộc chiến tranh “huynh đệ tương tàn” đã tốn biết bao núi xương, sông máu của nhân dân cả nước nhằm hủy diệt một chế độ đa đảng dân chủ, tự do, và một nền kinh tế thị trường đã từng tồn tại ở miền Nam VN trước năm 1975, mà giờ đây nhân dân chúng ta đang phải đấu tranh để được đi lại đúng con đường này. (in đậm theo ý người viết)
Đi lại đúng con đường này nghĩa là theo con đường tự do của chủ nghĩa tư bản. Trong khi đó, Mác khẳng định chế độ tư bản sẽ dãy chết và toàn thế giới sẽ được thay thế bằng chủ nghĩa cọng sản. Lênin thần thánh hóa mớ lý thuyết này, thêm vào “bạo lực cách mạng” để “vô sản các nước, đoàn kết lại!”, và Nga xuất cảng chủ thuyết của hai ông tây râu xồm ra các nước nhược tiểu. Bộ môn Triết học Mác-Lê được giảng dạy trong suốt những năm ở đại học, và những người cọng sản rất tự hào về những lý thuyết “tất thắng” trong cuốn sách dày cộm này. Bà dì họ mà tôi nói ở trên biếu tôi cuốn Triết học Mác-Lê; mở ra, ngay từ trang thứ nhất nổi rõ nét chữ của bà, tinh hoa duy nhất của nhân loại (sic). Với số tuổi mới trên 20, bà là một tiêu biểu cho thế hệ trẻ lớn lên ở miền Bắc, thuộc giới trí thức. Bà tin tưởng mãnh liệt vào mớ lý thuyết Mác-Lê, xem đó là tinh túy độc nhất của nền triết học Tây phương, cốt lõi của một cuộc cách mạng không thể tránh được trong lịch sử nhân loại. Tuổi trẻ Việt nam lớn lên cũng tin tưởng như thế, nghĩa là bên ngoài thành trì xã hội chủ nghĩa các nước tư bản đang ngắc ngoải, dân chúng ở các nước này đang sống ngất ngư, chỉ chờ chết. Họ cũng tin tưởng rằng chủ nghĩa tư bản đang tiến đến bờ vực thẳm và chế độ cọng sản sẽ là chiếc thòng lọng siết cổ bọn đế quốc tư bản. Sự thật như thế nào? Mấy tay lãnh đạo cọng sản miệng nói xoen xoét như thế nhưng trong thâm tâm họ vẫn biết họ đang nói dối. Một trong những tay tổ cọng sản là ông Gorbachev đã thú nhận như thế.
Trong buổi thuyết trình vào ngày 12/3/2002 tại đại học Columbia (Hoa kỳ) với tựa đề “Russia: Today and the Future” (Nga sô: Hiện tại và Tương Lai), ông Gorbachev đã nêu rõ vấn đề dối trá của đảng cọng sản nhân dịp kỷ niệm 10 năm sau ngày sụp đổ của chế độ cọng sản nhờ chính sách đổi mới “perestroika” của ông. Ông nói vào thời điểm ông lên cầm quyền, khi các vệ tinh của Nga đang bay trên quỹ đạo, những cán bộ lãnh đạo chỉ bàn về vấn đề kem đánh răng, bột giặt..v..v.. nói chung chỉ là vấn đề hưởng thụ. Ông thêm: “những cán bộ đảng chỉ điều hành quốc gia với sự gian dối (in đậm theo ý người viết). Chúng tôi, trong số đó có tôi, từng nói ‘Tư bản đang đi đến sự huỷ diệt, trong khi chúng ta đang phát triển tốt đẹp’, lẽ dĩ nhiên, đó chỉ là những lời tuyên truyền (nói dối, chú thích của người viết). Trên thực tế, quốc gia chúng tôi đang bị bỏ rơi đằng sau.”
Sự dối trá đã bám rễ trong tâm trí của những người cọng sản. Họ dùng bất cứ thủ đoạn nào để che dấu sự thật. Tất cả huyền thoại của một đảng cọng sản được trang bị bằng vũ khí bách chiến bách thắng (?) là chủ nghĩa Mác-Lê được bắt đầu bằng cuộc khởi hành xuống tàu đi Pháp của ông Hồ chí Minh. Trong khi ông đi tìm miếng cơm manh áo cho chính bản thân ông bằng cách gửi thư lên ông Bộ trưởng Thuộc địa Pháp xin được theo học ở trường thuộc địa để thành tài và có cơ hội phục vụ mẫu quốc thì đảng cọng sản lại nói ông xuống tàu để tìm đường cứu nước. Sau này, ông Hồ thấy nói dối như thế có lợi cho kế hoạch đánh bóng thân thế của ông nên ông không hề cải chính. Khi nắm trọn miền Bắc, ông Hồ lại dối trá bằng cách lấy bút hiệu Trần dân Tiên để tự viết tiểu sử mở đầu bằng câu: một người như Hồ Chủ tịch của chúng ta, với đức khiêm tốn nhường ấy và đương lúc bề bộn biết bao nhiêu công việc, làm sao có thể kể cho tôi nghe bình sinh của người được? Ôi! Từ cổ chí kim, chưa thấy ai có được tính “khiêm tốn” như ông Hồ.
Bắt đầu từ chuyện tự viết tiểu sử bất hủ của ông Hồ để tuyên truyền rầm rộ trong đám nhân dân miền Bắc đói khổ, đảng cọng sản ngày càng nhận thấy “giá trị” của sự dối trá. Nó đánh lừa được đám dân chúng ít học, và họ sẵn sàng xả thân để đi đúng theo con đường mà đảng cọng sản muốn. Câu chuyện ngày xưa, mẹ thầy Tăng Sâm đang ngồi đan áo chợt có người chạy đến báo tin con bà đã giết người và đang bị quan huyện lùng bắt. Bà vẫn ngồi bình thản đan áo vì bà tin chắc chắn rằng đứa con không bao giờ làm những việc tầy trời như thế. Nhưng khi có người đến báo tin lần thứ ba thì bà đứng bật dậy và chạy trốn ngay khỏi nhà vì bà tin rằng quan quân thế nào cũng đến bắt cả bà. Một việc không có được lập đi lập lại chỉ mới ba lần mà đã có người tin thì huống gì những lời tuyên truyền của cọng sản được nhai đi nhai lại hàng trăm nghìn lần. Những lời tuyên truyền xuyên qua tai và găm vào óc của đám dân khốn cùng, ngay từ khi lọt lòng, trong mọi sinh hoạt từ sáng đến khuya, từ trường học đến công sở, trong nhà đến ngoài ngõ. Nó nói ra rả, cùng một luận điệu, cùng một ngôn từ, cũng một khuôn mẫu đến nỗi người ta nghĩ ngay đến cuộn băng từ tính, được phát thanh triệu lần như một. Vì thế, đồng bào miền Bắc cả tin vào đảng cọng sản cũng là điều dễ hiểu.
Trong một xã hội xảo ngôn, người dân bị bưng bít mọi sự thật thì những đứa trẻ lớn lên cũng tin đó là sự thật. Dĩ nhiên nhà trường không bảo thẳng những trẻ thơ phải nói dối nhưng sớm gieo vào đầu óc chúng những tư tưởng hận thù giai cấp; trong khi Luân lý Giáo khoa thư dạy phải yêu thương đồng loại. Thêm vào đó, đảng lại dạy chúng sớm biết nghi ngờ hết mọi người, ngay cả ông bà cha mẹ, để dám tố cáo những tư tưởng chống đối, phản cách mạng; còn Luân lý Giáo khoa thư lại dạy phải biết tôn kính những người già cả. Đây là một căn bệnh cố hữu của người cọng sản. Họ nghi ngờ tất cả, lúc nào cũng thấy địch chung quanh, và họ cho đó là “cảnh giác cách mạng”. Làng xã lại lập ra tổ “tam tam”, nghĩa là cứ ba nhà làm thành một tổ nhưng thật sự là dò xét, canh chừng lẫn nhau. Vì thế, ngay tại gia đình, mọi người đều kín miệng trong bất cứ chuyện gì, không để nhà bên cạnh biết việc trong nhà mình. Dân chúng sống mãi trong một bầu khí nghi kỵ, không dám tin ai, chẳng dám mở miệng nói với ai một điều gì thật trong lòng. Đảng cố ý biến cả nước thành nhân vật Tào Tháo thời Chiến quốc. Đã một thời, ở các làng Công giáo các cụ gặp nhau thường hỏi thăm, dạo này có khỏe không? Câu trả lời thường là, nhờ ơn Chúa, gia đình tôi vẫn bình thường. Sau năm 1954, câu trả lời chung nhất là, nhờ ơn bác và đảng, gia đình tôi vẫn bình thường. Biết mình đang nói dối nhưng vẫn phải nói, để sống còn. Ngay ở trong một xóm đạo, nơi mà đời sống tinh thần tương đối khá hơn ngoài xã hội, thế mà người dân còn phải nói dối thì huống gì bên ngoài lũy tre xanh, người ta còn dối trá đến đâu mà kể.
Những đứa trẻ miền Bắc lớn lên trong một khung cảnh dối trá đầy dẫy nghi ngờ như thế và dần dần chúng thấy dối trá là chuyện bình thường. Lớn lên, ra ngoài xã hội, chúng cũng nhận ra những điều thầy cô đứng trên bục giảng gân cổ tự hào về một xã hội cọng sản cũng chẳng đúng sự thật. Tôi còn nhớ năm 1975, lũ sinh viên gần ra trường chúng tôi được dồn vào giảng đường ở đại học Luật để học chính trị. Một giáo sư dạy Triết Mác-Lê từ Hà nội vào huênh hoang đứng trên bục giảng quả quyết rằng Nga đặt chân lên mặt trăng đầu tiên. Ngày lịch sử đó của cả nhân loại kể ra vẫn còn mới, vì chỉ cách đó mới 6 năm. Ban đầu chỉ nghe tiếng xầm xì nổi lên đâu đó; chỉ mấy phút sau cả giảng đường nhao nhao phản đối. Ông giáo sư đứng ngẩn người không hiểu (hoặc giả vờ không hiểu?) chuyện gì. Các tổ trưởng (cứ mười người có một tổ trưởng) yêu cầu chúng tôi yên lặng và hứa sẽ trình lên trên. Sau 15’ nghỉ giải lao, chính ông ta lên tiếng đính chính sự việc và nhìn nhận rằng Mỹ đã đưa người lên mặt trăng đầu tiên. Từ chuyện này, tôi nghiệm ra một điều, đảng cọng sản của ông nói dối hoặc chính ông nói dối. Vì nếu đó là sự thật, hoặc ít nhất đó là điều ông được biết và tin qua sách vở của đảng từ năm 1969 thì bằng mọi cách ông phải bảo vệ sự thật đó. Ông tin đó là sự thật vì lẽ đơn giản là ông đặt hết niềm tin vào đảng. Tôi không nghĩ một niềm tin trong 6 năm lại có thể bị sụp đổ chỉ sau 15’ phù du. Khi đính chính sự kiện lịch sử đó, vô tình ông đã chưởi thẳng vào mặt đảng cọng sản, gián tiếp tố cáo sự dối trá của đảng, mà chính ông (tôi nghĩ) phải là một đảng viên. Còn nếu đảng không dạy nói như thế, thì chính ông trong một phút say sưa với chủ thuyết Mác-Lê, mê mẩn thành trì Xô-viết, đã bốc đồng cho mấy ông tổ cọng sản đặt chân lên mặt trăng. Như thế, chính ông là người nói dối. Một người được xem là đại diện cho giới trí thức miền Bắc, có học vị, giảng dạy ở bậc đại học mà nói dối dễ dàng đến vậy thì quả thật con người cọng sản không còn liêm sỉ. Chưa kể đến chuyện ông ta dám khinh thường trình độ nhận thức của đám sinh viên miền Nam. Điều này tổn thương tự ái bọn sinh viên chúng tôi nhiều nhất. Từ khinh bỉ đám trí thức cọng sản miền Bắc đến tức giận vì tự ái, chúng tôi chỉ biết lặng lẽ nhìn nhau thở dài.
Trừ những đứa trẻ lớn lên ở làng xóm giữ gìn một nếp sống tôn giáo nghiêm nhặt, hoặc sinh trưởng trong một gia đình nho học, và cha mẹ còn biết giữ lấy nho phong, tay quyết không nhúng chàm, còn lại phần lớn những đứa trẻ này bước vào đời đều què quặt về mặt luân lý. Chúng không được trang bị những giá trị luân lý căn bản của lòng Nhân, của tâm hồn Lễ Nghĩa, và của cách hành xử Trí Tín. Hành trang của chúng là trái tim chất chứa hận thù giai cấp, tâm hồn đầy dẫy nghi ngờ và trí óc với mớ kiến thức khá chừng mực. Ủy viên Trung ương đảng Trần bạch Đằng, năm 1977, phải nhìn nhận con nít miền Nam lễ phép hơn con nít ở miền Bắc. Nhưng đức Lễ này thảm thương thay đã chấm dứt ngay sau năm 1975 vì đảng cọng sản đã áp dụng chính sách ngu dân (con cái trong chế độ cũ không được học lên cao) và áp đặt nền giáo dục phi luân lý cho con em miền Nam. Thế là nguyên cả một thế hệ đầu tiên thời hậu chiến sống mất kỷ cương, lững thững đặt chân xuống cuộc đời với nhiều gương xấu của cha ông, trong đó sự dối trá nổi bật hơn hết.
May mắn thay cho lớp trẻ thời hậu chiến là tôn giáo vẫn còn chiếm giữ một vị trí quan trọng trong xã hội từ Nam chí Bắc. Nhà thờ, chùa chiền, thánh thất vẫn là nơi dạy dỗ và cổ võ một nền luân lý truyền thống của cha ông. Vai trò của các linh mục, sơ, thượng tọa và các thầy chưa bao giờ bức thiết bằng lúc này, khi đất nước ngả nghiêng trong hỗn loạn luân lý, khi tuổi trẻ đang mất dần định hướng. Tôn giáo có tác dụng như một cái phanh, kìm giữ một tuổi trẻ bơ vơ đang lao mình xuống vực thẳm của vật chất, thản nhiên buông thả mọi giá trị tinh thần. Sự giằng co giữa tôn giáo và xã hội xem ra khá quyết liệt và tôn giáo đôi lúc phải ngậm ngùi nhìn tuổi trẻ Việt nam đang lún ngày càng sâu vào vũng lầy của cuộc đời. Tôi có người bạn nhân chuyến về thăm địa phận Nha trang kể lại rằng, các tu sinh (những người đang tập sự trong đời sống tu trì để trở thành linh mục) vẫn thản nhiên nói dối không ngượng ngùng. Người bạn đơn cử một thí dụ (theo lời tâm sự của cha Bề trên), khi ngài hỏi một tu sinh đã quét nhà chưa, anh ta trả lời đã quét rồi, nhưng ngài biết là anh ta chưa làm; khi hỏi gặng thì anh ta nói là sẽ làm. Thật rõ ràng ngay lúc trả lời anh đã nói dối. Nên biết thêm, những tu sinh này đã được tuyển chọn trong muôn ngàn kẻ muốn dâng mình cho Chúa. Họ là những người đã được sàng lọc, thế mà bụi trần vẫn còn vướng trên áo, ngấm trong tim và lộ ra trong câu nói.
Ngày 27/4/2006, nhân chuyến đi Rôma về, Đức Hồng Y Phạm minh Mẫn đã chuyện vãn với giới Liên Tu sĩ của Tổng Giáo phận Sàigòn. Trong buổi chia sẻ với khoảng 60 đại diện của các Dòng Tu và Tu hội nam nữ, ngài kể lại chuyến đi Rôma, đồng thời đưa ra một vài đề nghị về tu sinh. ĐHY Mẫn nói, “Liên quan đến Chủng viện, bây giờ có đề nghị năm thứ nhất của chủng viện làm năm tu đức để rửa sạch bụi đời và trau dồi những khả năng cần thiết khác. Vì nhiều chủng sinh đã học đại học mà viết một câu tiếng Việt cũng không rồi. Bên cạnh thiện chí, còn có nhiều chuyện khác không lành mạnh đi vào tâm thức của những người trẻ nhập tu. Do đó, phải đào tạo cho các chủng sinh có ý hướng ngay lành, có kỹ năng đáp trả Ơn Gọi, có khả năng bỏ mình vác thập giá. Tôi cảm nghiệm điều này hết sức sâu xa: phải bỏ thói đời, phải bỏ thói ăn gian nói dối. Vì cả xã hội đã như vậy rồi.” (in đậm theo ý người viết), (LM. Nguyễn văn Khải, D.C.C.T., lược ghi)
Nhận xét của ĐHY Mẫn phản ảnh một sự thật phũ phàng ở xã hội Việt nam ngày nay. Sự dối trá đã bao trùm trong mọi sinh hoạt của người dân. Tuổi trẻ từ nhỏ đã không được thấm nhuần tinh thần Luân lý Giáo khoa thư, khi lớn lên bước vào công sở cũng gặp những cảnh dối trá lươn lẹo của lớp cha ông, thì dĩ nhiên chúng cũng phải sống dối trá lươn lẹo cho phù hợp. Ở ống thì dài, ở bầu thì tròn. Nói dối và ăn cắp là hai thói xấu phổ biến ở những công ty quốc doanh. Trong thời bao cấp, công nhân ra sức bòn mót của công. Trước hết vì công nhân quá nghèo, hai nữa là vì mồ cha chung không ai khóc. Lấy được cứ lấy, lỗ lã đã có nhà nước lo. Cấp dưới làm láo báo cáo hay vì để làm vừa lòng cấp trên. Còn cấp trên chỉ là những người trưởng thành trong khói lửa, không có lấy một chút kiến thức nào về điều hành, về quản lý nhưng lại muốn giữ bổng lộc của nhà nước. Ôi! Chưa bao giờ câu nói của Hoài Nam Tử từ mấy nghìn năm trước lại có ý nghĩa đến thế: “Trên đời có ba đại họa, đức ít mà ân sủng nhiều, tài ít mà địa vị cao, công nhỏ mà bổng lộc lớn.” Những người cọng sản mang danh là lãnh đạo ở nước Việt nam hiện nay, từ các cơ quan hành chánh đến những bộ phận của đảng, đều mắc phải những đại họa này.
Người cọng sản nào ở bất cứ nơi nào trên trái đất này đều xem sự gian dối là phương tiện để sống còn. Từ mọi lãnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, luôn luôn thấy sự dối trá. Họ nói dối dễ dàng, như người ta ăn một bát cơm ngon. Mãi rồi sự dối trá thấm nhuần vào máu, hễ ngồi xuống để bàn chuyện, lập tức trong tâm tư của họ phải nghĩ ngay đến việc phải che dấu sự thật, làm thế nào để nói dối thật hay, hầu qua mặt được người dân, hoặc con mắt quan sát quốc tế. Tôi có người bạn nói đùa rằng Thế Vận Hội không có môn thi nói dối, và nếu có chắc chắn bọn cọng sản sẽ chiếm hết cả ba huy chương, vàng, bạc, và đồng. Tôi bật cười nhưng nghĩ quả không ngoa.
Mới đây, báo Tuổi trẻ trong nước đưa tin về chuyện các quan cọng sản nói dối bên Tàu. Sự thật giới quan trường một số địa phương ở Trung Quốc đã tồn tại một “dây chuyền nói dối”: quan làng nói dối quan xã, quan xã nói dối quan huyện, cứ thế nói dối lên trên. Ý kiến cư dân mạng tham gia “Diễn đàn nhân dân Trung Quốc” trên hệ thống Nhân Dân Nhật Báo tập trung tóm tắt mấy điểm sau:
Thứ nhất, các quan chức có tội, có sai lầm nhưng vẫn muốn giữ ghế.
Thứ hai, một số quan chức cho rằng muốn thăng quan tiến chức nhanh để mưu lợi nhiều hơn thì dùng các “kế hoạch nói dối”.
Thứ ba, một số quan chức bản thân sa đọa hưởng lạc nhưng cố tạo ra hình tượng “trong sạch”.
Thứ tư, có những lãnh đạo cấp trên thích nghe cấp dưới nói dối, bởi những thành tích của cấp dưới làm tăng thành tích của cấp trên. Cấp trên thích, cấp dưới ăn theo. Ở một số nơi, phong khí quan trường bất chính, lãnh đạo thích nhiều công nên chỉ thích nghe thành tích, không thích nghe khuyết điểm, do đó cấp dưới tha hồ nói dối. Ở một địa phương mà trò nói dối “thịnh hành” thì người nói thật sẽ gặp rủi ro lớn.
Bây giờ đổi tên Tàu thành Việt nam thì câu chuyện trên của các quan cọng sản ở trong nước cũng y chang. Cũng từng ấy lý do mà nói dối. Ôi! Còn gì đau đớn hơn khi tuổi trẻ Việt nam lớn lên trong một xã hội đầy dẫy những dối trá và họ phải uốn mình theo dòng đời để mưu sinh, kiếm sống. Một đất nước Việt nam như thế thì làm sao xây dựng cho thật sự phú cường, hạnh phúc.
Chiến dịch trăm năm trồng người của Quản Trọng (không phải ý ông Hồ đâu nhé!) bức thiết hơn bao giờ. Cần phải tôn trọng những luân lý trong cuốn Giáo khoa thư. Cần phải cổ võ một nền luân lý căn bản cho con em ngay từ thuở cắp sách đến trường. Phải làm ngay từ bây giờ và cũng phải mất nhiều thế hệ mới lấy lại được thăng bằng luân lý cho xã hội Việt nam.
Trễ nhưng vẫn còn hơn không.

 

SƠN NGHỊ

HỘI NGỘ 30 NĂM Ở BRISBAN

sonnghi

Ý kiến độc đáo của ông chủ tàu ĐN1601CA mời tất cả mọi người vượt trên chiếc tàu với vợ chồng ông cách đây 30 năm tụ họp tại Birsbane, nơi gia đình ông sinh sống từ ngày qua Úc, vào ngày 9 tháng 10, 2010.
Mấy tháng trước ngày hội ngộ chủ tàu, ông Nguyễn kim Đỉnh, gửi đi một bức thư ngỏ. Lá thư nói rõ mục đích của ngày hội ngộ lịch sử. Ông nhắc đến những nguy hiểm mọi người đã trải qua, từ lúc nửa đêm chuyển người qua bãi chà là để trốn vào chỗ vắng chờ taxi ra tàu lớn. Sau ba mươi năm mọi người đã an cư lạc nghiệp ở khắp nơi trên thế giới, nhiều nhất ở Úc. Đây là dịp gặp gỡ để cùng nhau cảm tạ Thiên Chúa vì ai cũng biết rằng chỉ có phép lạ mới đưa hết 163 thuyền nhân đến bờ tự do an toàn. Nhưng tôi tâm đắc nhất một câu nói của ông trong bức thư: nếu không vượt thoát thành công thì mặc dù 163 người sinh khác ngày nhưng chắc chắn chúng ta đã có chung một ngày giỗ. Câu nói chân tình đọc lên tôi chợt nghe một luồng hơi lạnh chạy suốt sống lưng khi nhớ lại cơn bão kinh hoàng vào đêm thứ 2 trong chuyến vượt biển. Cơn bão với những con sóng cao ngất trời suýt nhận chìm từng ấy người vào lòng biển khơi. Thêm vào đó bọn hải tặc kéo chiếc tàu ĐN1601 chạy vòng vòng trong vịnh Thái lan suốt nửa ngày đường làm mất phương hướng. Đứng bơ vơ giữa biển rộng mênh mông, chúng tôi không biết phải quay mũi về hướng nào. Thật may khi buổi tối bầu trời khá quang đãng để nhận diện một vài vì sao qua sự hiểu biết của ông tài công. Sớm ban mai đã thấy mặt trời, thấy hướng Đông, đoán phương hướng để tiến về phía đất Mã-lai. Câu nói trong bức thư thật đúng, chúng tôi may mắn đã không có chung một ngày giỗ.
Tôi bay từ California đến Hobart thăm Cậu Mợ tôi vài ngày rồi cả gia đình bay sang Brisbane ngày thứ 6, mùng 8 tháng 10. Mấy cô em gái của mợ tôi cũng bay từ Texas đến. Đây là những người chung với tôi một chút quá khứ 30 năm trước. Ba cô gái giờ đây đã trở thành bà nội, bà ngoại. Mặc dù tuổi đời đã chồng chất nhưng họ vẫn giữ được nét thanh tú thuở xưa. Tôi nhận ra họ ngay là nhờ những nét thân quen còn đọng lại trên khuôn mặt, ở giọng nói, từ dáng đi đến tiếng cười dòn tan, liến thoắng. Tay bắt mặt mừng, chúng tôi có dịp ôn lại một vài mẩu quá khứ và chạnh lòng nhớ lại những vui buồn trong chuyến hải hành và những ngày trên đảo. Ôi! Thời gian thấm thoát đã 30 năm.
Phi cơ hạ cánh xuống Brisbane lúc 9:15h sáng. Chúng tôi dự định có cả một buổi sáng rong chơi cho biết thành phố rồi chiều mới ghé vào nhà ông chủ tàu. Rất may, một gia đình quen hiện ở Brisbane, anh chị Luật/Mai thật tốt bụng sẵn sàng nghỉ việc để tiện việc đưa đón chúng tôi. Loay hoay với chiếc xe van thuê mãi đến quá trưa mới ra khỏi phi trường. Lẩn quẩn trong thành phố vì không quen đường sá và cách sử dụng chiếc máy GPS nên lại mất đến hơn tiếng đồng hồ mới về nhà anh chị Luật. Căn nhà rộng rãi, vườn sau có bụi mía, cây lựu, và một vài cây ăn trái khác như một khu vườn tiêu biểu Việt nam. Nghỉ ngơi một chút, tất cả kéo nhau ra khu Việt nam ăn trưa.
Lần đầu đến Úc, tôi khá lạ lẫm khi bước vào khu thương mại của người Việt. Chợ búa bày trái cây, rau trái ngay trước cửa, rất tiện cho người mua. Hàng quán khá sầm uất, khách vào ra ăn uống tấp nập. Ngay ở giữa khu thương mại là một mảnh đất trống rộng rãi với dù che, bàn ghế. Khách có thể ngồi nghỉ chân hoặc mua càphê, nước uống và tụm năm tụm ba ngồi tán gẫu, chuyện trò. Trời mưa không nặng hạt nhưng rỉ rả từ sáng mang theo chút lạnh của mùa đông vẫn còn lưu luyến chưa chịu nhường hẳn lại cho tiết xuân. Ăn trưa xong, chúng tôi kéo hết từng ấy người vào thăm ông chủ tàu.
Đường từ motel đến trang trại của ông Đỉnh chừng 17 cây số thì đã có 9 cây số đường rừng. Tuy là rừng nhưng con đường trải nhựa bằng phẳng gồm hai phân lộ, xe chạy bon bon. Rừng thưa nhưng cây cối đủ rậm che tầm mắt. Thấp thoáng sau hàng cây nhà cửa nằm cô đơn xa cách mặt đường. Trời vẫn mưa rỉ rả từ sáng đến giờ, thỉnh thoảng lại xối cả thác nước xuống nhân gian. Thời tiết Brisbane đáng lẽ phải nắng ráo, hứa hẹn một cuối tuần hội ngộ tuyệt vời thế mà ông trời vẫn rơi rớt nước mắt như thương tiếc ai. Xe chạy ngoằn nghoèo một lúc rồi dừng lại trước một căn nhà hai tầng, nằm thênh thang trên mảnh đất đỏ ngoét rộng rãi. Rừng cây đen rậm bao bọc chung quanh khiến căn nhà nhìn nổi bật trên bầu trời xám. Ngõ dốc đứng dẫn từ ngoài cổng dẫn vào nhà lầy lội, trơn trượt, choẹt bùn đỏ quạnh làm dính bước chân. Khách phải bước chậm, cẩn thận từng bước đi. Con ngõ dài chừng 20 mét nhưng phải vất vả chừng mươi phút mới lên được thềm nhà. Bà Hồng, vợ ông Đỉnh, đon đả chạy vội ra đón tiếp chúng tôi. Tay bắt mặt mừng, mọi người vồn vã chào hỏi nhau, kể chuyện đường dài. Bức tường trước mặt tôi in hình bản đồ hình chữ S, phía dưới vẽ hình một con tàu và bài thơ thất ngôn.

Ba mươi xuân sắc thoáng qua rồi
Năm ngày cơ cực đã dần trôi
Hội ngộ mừng nhau nhiều thành quả
Tụ họp về đây một mái nhà

Bài thơ thật tuyệt. Tôi được biết đây chính là thủ bút của tác giả. Ông thân chinh đến nhà này và phóng tay viết bài thơ lên vách. Nét chữ bay bướm in hằn lên bước tường trắng nổi bật màu mực đen. Tôi bước lên cầu thang nhỏ dẫn ra phía nhà sau. Nói là nhà nhưng thật sự chỉ là cái mái đủ che mưa nắng. Trừ một mặt có bức tường sau của căn nhà còn ba phía kia để trống hoác. Những tấm bạt nhà binh to rộng che từ mái kéo dài ra hai bên để tránh mưa hắt vào nền nhà. Chái nhà đâm dài ra mảnh vườn có cây cối nằm ngổn ngang, có lẽ chúng vừa bị đốn ngã lấy đất cho buổi hội ngộ. Những khúc cây sần sùi nằm cồng kềnh lăn lóc trên sân sẵn sàng làm mồi cho đống lửa lớn đang cháy ngùn ngụt. Sức nóng tỏa ra làm ấm cả một không gian rộng khuyến khích mọi người kéo đến chuyện trò gần đống lửa. Nhà sau không có vách nên gió lạnh thổi lồng lộng từ phía rừng cây mang theo cái lạnh se sắt. Ở một góc chái, đã có hơn chục người đang mải mê tập hát cho thánh lễ ngày mai. Anh Tỵ ôm cây đàn thùng kiên nhẫn với từng nốt nhạc, từng bài hát. Bài Mẹ Thuyền Nhân nghe an ủi và ấm lòng khi biết có Mẹ đang dẫn những thuyền nhân đến bến bờ tự do. Tập hát một lúc, ông Đỉnh yêu cầu mọi người tạm ngưng để dùng cơm chiều. Cơm nước dọn ra trên chiếc bàn dài. Mọi người ngồi xuống cầm đũa. Hình như niềm vui tràn ngập trong lòng mọi người nên mọi người chỉ gắp thức ăn cho có lệ, còn lại ngồi ôn lại chuyến vượt biển.

Một số thuyền nhân của tàu ĐN1601

Đoàn chúng tôi ngồi rải rác trên chiếc bàn dài chuyện trò rôm rả. Chuyện nổ ra như bắp rang. Tiếng cười sảng khoái vang lên rộn ràng trong màn đêm phủ kín căn nhà giữa cánh rừng. Chuyện kể lại với những chi tiết không ngờ, buồn có, vui có, giận hờn có, nước mắt có. Tôi không nhớ hết những chi tiết oái oăm nhưng người kể một hai đoan quyết chính tôi là tác giả những câu nói. Thôi, cười xòa và nhận lỗi vậy. Mọi người muốn ôn lại chuyến hải hành đầy gian truân vì có ông cậu tôi là tài công bất đắc dĩ khi tài công chính thức của chuyến tàu bị… say sóng ngất xỉu. Lúc trên tàu không ai biết hết mọi diễn tiến ngoại trừ ông chủ tàu và một vài người thân cận. Người coi sóc máy móc ở dưới hầm tàu nên không thể biết những con sóng cao nghễu nghện đến thế nào. Người đứng ở cuối tàu không thể biết tiếng gió rít thổi xéo qua tai nghe rùng rợn ra sao. Người mệt xỉu vì say sóng cũng không thể nào biết con thuyền bị nhồi lên nhồi xuống trong cơn giông bão xem ra mong manh, nhỏ nhoi hơn bao giờ. Câu chuyện gom góp lại từ ký ức của nhiều nhân chứng nên bây giờ mọi người hình dung được những khó khăn, những gian truân trên chuyến tàu cách đây 30 năm.
Gió lạnh len lỏi giữa bàn ghế ngồi khiến mọi người ngồi gần nhau hơn để câu chuyện thêm ấm lòng. Ông chủ tàu đã mời được một ban nhạc gồm 4 nhạc công và hai cô ca sĩ. Ban nhạc bận rộn với nhạc cụ, máy móc và dây nhợ dàn rộng trên chiếc bục gỗ. Nốt nhạc đầu tiên búng lên với tiếng trống rộn ràng. Họ cũng biết đây là cuộc họp mặt sau 30 năm nên toàn ban nhạc hết lòng với những bản tình ca về lính, đánh dấu một thuở chinh chiến với bao mối tình tha thiết. Bài Tuyết Trắng mở đầu với tiếng súng nhân tạo vang lên từ chiếc organ và tiếng hát ngọt ngào điêu luyện của một nam ca sĩ. Điệu bolero chải chuốt như những mối tình lớn lên trong chiến tranh tuy vội vàng nhưng nhiều say đắm.
Mọi người thả hồn theo tiếng nhạc. Có người ngồi trầm ngâm, lặng lẽ hút thuốc ở một góc vắng. Có kẻ sôi nổi với những bài hát giúp vui. Tiếng trống rộn ràng của một bản nhạc kích động. Giọng cô ca sĩ cao vút ở nốt nhạc của một bài hát thời thượng trong nước. Tôi nhìn mông ra khu rừng âm u ở phía sau. Một màu đen kịt sơn phết lên rừng cây, lên cả bầu trời nên không thấy ranh giới giữa trời và đất. Tất cả chỉ một màu đen u ám. Ba mươi năm trước, tôi đứng ở mũi thuyền khi cơn giông bão hòng nhận chìm con tàu, cũng một màu đen rùng rợn phủ kín trời và biển. Ngọn đèn bão treo ở đầu con thỏ tỏa ánh sáng héo hắt nhưng đủ sáng để tôi thấy những con sóng cao ngất ngưỡng. Phận người bèo bọt có đáng gì trước cơn thịnh nộ của biển cả, của giông bão. Ôi! Mong manh quá, nhỏ bé quá. Tôi khẽ rùng mình; không biết vì hơi lạnh của núi rừng hoặc vì nhớ lại một lần thân phận yếu ớt mỏng dòn khi lênh đênh trên biển?
Ngày hôm sau, ngày 9 tháng 10 là ngày cao điểm của lần hội ngộ. Mọi người đổ về nhà ông chủ tàu. Có người từ Sydney, Melbourn, Tasmania, và các tiểu bang ở phía bên kia nước Úc. Ở Hoa kỳ chỉ có mấy cô em của bà mợ tôi đến từ Texas, và một mình tôi từ Cali. Có nguyên một gia đình đến từ Tân-Tây-Lan. Sáng Chủ nhật hôm đó trời đổ mưa nặng hạt, con đường từ cổng vốn đã lầy lội bùn lại càng trở nên nhão nhoẹt hơn vì dấu chân người dẫm lên không ngừng. Có người bước không khéo đã ngã xóng xoải lên con đường đất. Bùn đất dính bê bết vào bộ đồ vest. Thế là mất toi bộ đồ, đành phải quay về khách sạn để thay bộ đồ khác. Có kẻ thấy cảnh “tung vó đo đất” đã vội khôn ngoan vào xe thay hết bộ đồ vía, chỉ mặc bộ đồ cánh để bước qua “đại lộ kinh hoàng”, bàn tay giữ chặt bao ni-lông đựng bộ đồ vía. Vượt qua đoạn đường đất khá vất vả bước lên thềm nhà rồi mới thay bộ đồ vía.
Số người đổ về nhà ông chủ tàu tăng dần. Xe hơi đậu chật trước cổng. Chủ nhà phải xin phép chủ nhà bên cạnh cho khách đậu nhờ. Vợ chồng ông chủ tàu tiếp khách ngay tại thềm nhà. Tay bắt mặt mừng, ông chào hỏi mọi người. Có những khuôn mặt lạ lẫm, hỏi ra mới biết mấy thằng bé vượt biên theo diện mồ côi, nghĩa là không có họ hàng thân thích ở ngoại quốc. Thế mà bây giờ đã vợ con hai ba đứa. Vợ chồng gom góp đi dự ngày hội ngộ, không màng công ăn việc làm đang lúc khó khăn. Có những mái tóc lấm tấm bạc, lúc ra đi trên đảo đang còn là thanh niên khỏe mạnh, nhớ lại đêm vào Côn sơn xin nước sau một ngày lênh đênh trên biển và ông chủ tàu khám phá không đủ nước cho từng ấy người, họ đã can đảm buộc dây vào người nhảy xuống tàu trong đêm tối bơi vào bờ. Lần theo sợi dây, cả chục thanh niên mới nhảy theo bơi vào một hòn đảo ở Côn sơn. Người giữ đảo thật tốt, anh không những cho cả chục can nước mà còn biếu thật nhiều trái cây. Ông chủ tàu sẵn sàng dành cho anh một chỗ trên tàu nhưng anh quyết định ở lại chỉ vì vợ con còn kẹt lại trong đất liền.
Những thuyền nhân đứng ở thềm nhà ông Đỉnh hôm đó ôm chầm lấy nhau, hỏi han về gia đình, công ăn việc làm. Họ sôi nổi ôn lại dĩ vãng những ngày trên đảo, nhất là 5 ngày 6 đêm lênh đênh trên biển cả với cơn bão và những cơn sóng thần cao nghễu nghện đến chóng mặt; với hải tặc, và với những hiểm nguy chưa từng đối diện một lần trong đời. Những hình ảnh kinh hoàng vẫn còn tươi rói trong ký ức. Họ kể cho nhau nghe rõ từng chi tiết cơ hồ họ mới vượt biển tháng trước. Mà người nghe cũng là một trong những nhân chứng của chuyến hải hành chứ chẳng ai khác. Thế mà họ chăm chú nghe kể và góp lời như đang nghe một chuyến vượt biển của một người xa lạ. Có người chép miệng thở dài nói đến buổi sáng tàu bị gãy bánh lái. Cả tàu cứ xem như đã chết vì làm sao hướng mũi tàu vào đất liền. Thế mà ông chủ tàu bàn bạc với mọi người rồi quyết định lấy nắp hầm tàu thay thế bánh lái. Trong chuyến đi làm gì có đồ nghề để sửa chữa một trục trặc chết người như thế. Không đinh, không ốc, chỉ buộc chặt vào cần lái bằng hai sợi dây kẽm khá to. Thế mà cái nắp hầm bằng gỗ đã quằn quại dưới sức nước đưa 163 người lênh đênh thêm 2 ngày nữa và đến bờ biển Mã an toàn. Cuối cùng tất cả đều đồng ý một điểm, chỉ có phép lạ mới có thể giải thích được chuyến vượt biển kỳ lạ của con tàu ĐN1601CA. Phép lạ nhãn tiền mọi người đã gật đầu ngay sau khi đặt chân lên đất liền, và 30 năm sau, họ lại xác tín niềm tin vào Thiên Chúa thêm một lần nữa.
Ông chủ tàu đọc một bài chào mừng ngắn. Ông nhấn mạnh đây là dịp hội ngộ nhưng mục đích chính vẫn là cảm tạ Thiên Chúa. Thánh lễ tạ ơn do cha Trần Bạch Hổ chủ tế. Ngài thổ lộ thật không ngờ sau 30 năm lại mà con tàu qui tụ được từng ấy người. Đây phải kể là một kỳ công. Ngài cũng chưa bao giờ dâng một thánh lễ đặc biệt đến thế. Thánh lễ của những thuyền nhân. Ca đoàn hình như hát hay hơn bao giờ, bõ công luyện tập cả một ngày thứ Sáu. Giọng của ca viên tha thiết hơn, trầm bổng hơn dâng lên Thiên Chúa đã cứu vớt 163 người hơn 30 năm trước. Tiếng hát lơ lửng giữa vùng đất đỏ, quyện với hơi thở của rừng cây để lại trong lòng những thuyền nhân mối thân tình ấm áp của bầu trời Brisbane. Dâng của lễ lên Thiên Chúa gồm chiếc thuyền gỗ cùng với bánh và rượu, nói lên tấm lòng biết ơn của những thuyền nhân tàu ĐN1601. Chúc bình an, mọi người nồng nhiệt bắt tay nhau nhớ lại những ngày gian truân lênh đênh trên biển. Thánh lễ kết thúc với bài hát “Mẹ Thuyền Nhân” trong niềm hân hoan của mọi người.
Bàn ghế rộn ràng kê dài dọc theo căn nhà trống vách. Năm dãy bàn dài, cỡ 40 người mỗi dãy; tính ra thực khách và bà con thân thuộc của ông Đỉnh đổ về hơn hai trăm người. Bếp núc nhộn nhịp, lửa đỏ rực dưới đáy nồi, hầu như không bao giờ tắt. Đầu bếp bận rộn rửa, cắt, thái từ sáng sớm đã đành và hầu như suốt bữa ăn cũng chẳng ngừng tay. Thức ăn dọn la liệt trên bàn, mọi người thưởng thức các món trên thực đơn. Ông bà Đỉnh vui vẻ đến từng bàn cụng ly, hỏi han, chụp hình lưu niệm. Có người bảo, chụp đi kẻo không biết khi nào còn gặp lại. Tôi ngẩn người nghĩ đến câu nói mà không nén được tiếng thở dài. Những thuyền nhân ba mươi năm trước bây giờ tóc đã hoa râm, da mồi. Có người đề nghị lần hội ngộ 35 năm. Lòng hiếu khách của ông bà chủ tàu vẫn nồng nàn nhưng với tuổi đời chồng chất, không ai dám chắc sẽ gặp lại hết từng ấy người trong lần tới.
Có một chi tiết thú vị khi có người đố tổng số người của tàu ĐN1601 đặt chân lên đảo Biđông là bao nhiêu? Câu trả lời ai cũng biết là 163 thuyền nhân. Con số này chưa đúng hẳn. Đúng ra là 163 ½ người vì vừa lên đảo được hơn tháng có một phụ nữ sinh hạ một bé gái. Một phụ nữ mang thai gần đến ngày sanh dám vượt biển kể là một kỳ công. Thời gian đó, chủ tàu thường mê tín dị đoan nên dứt khoát không bao giờ chấp nhận khách mang thai lên tàu. Sở dĩ phụ nữ này vẫn lên tàu như mọi người là vì ông chủ tàu là người có đạo, không tin chuyện mê tín. Một điểm lý thú nữa là bé gái sinh ở đảo năm đó nay đã lập gia đình, một người mẹ với đứa con mấy tháng tuổi. Mẹ bồng con bay từ Tân Tây Lan đến tham dự ngày hội ngộ. Lịch sử của con tàu ĐN1601 gắn liền với số tuổi đời của người đàn bà này. Ba mươi tuổi đời kể từ ngày sinh ở đảo Biđông bằng với ba mươi năm hội ngộ.

Trinh, bé gái vượt biên trong bụng mẹ nay đã tay bồng tay bế

Một buổi tối đầy ắp tiếng nhạc. Mọi người đua nhau hát. Thức ăn dọn vào rồi lại dọn ra mời khách còn quyến luyến đêm hội ngộ. Khách vơi dần khi trời về khuya nhưng tiếng hát vẫn cất lên. Bài “Xin đời một nụ cười” vang lên rộn rã với điệp khúc: TỰ DO ơi TỰ DO! Tôi trả bằng nước mắt, TỰ DO ơi TỰ DO! Anh trao bằng máu xương, TỰ DO ơi TỰ DO! Em đổi bằng thân xác, Vì hai chữ TỰ DO! Ta mang đời lưu vong.
Vì hai chữ Tự Do, 163 người đã bỏ nước ra đi. Cũng vì hai chữ Tự Do mà hơn nửa triệu thuyền nhân bỏ xác trên biển Đông.
Cảm tạ Thiên Chúa đã đưa con tàu đến chốn bình an. Cám ơn ông bà Đỉnh, chủ nhân con tàu ĐN1601. Sau cùng, cám ơn khung trời Úc đã đón nhận hơn nửa số thuyền nhân hội ngộ sau 30 năm.
Hẹn gặp lại nhân dịp 35 năm.

SƠN NGHI

THƯ GỞI CHO ÔNG ĐOÀN VĂN TOẠI

sonnghi

(qua bài Thổn Thức cho VN)

(Cần nói thêm, con trai của ông Đoàn văn Toại (ĐVT) lấy ca sĩ Trần Thu Hà, là cháu ruột của nhạc sĩ Trần Tiến. Một gia đình Bắc kỳ rặc cộng sản thông gia với gia đình Nam kỳ rặc ngây thơ về chính trị.)

Ngay từ những dòng chữ đầu, ông Toại đã phải thú nhận là hiện tượng 1 triệu người Bắc di cư vào Nam năm 1954 vẫn không lay chuyển được niềm tin của ông vào chủ nghĩa cộng sản. Cũng như những người miền Nam chân chất, họ không ngờ là những điều được nghe là bằng chứng sống, bằng chứng của máu và nước mắt. Họ vẫn cho là cường điệu, bi thảm hóa sự việc một cách lố bịch. Gia đình tôi cũng di cư. Ông cụ tôi bảo nói ra không ai hiểu cho. Nhưng chỉ có một điểm nho nhỏ mà dân chúng miền Nam không để ý. Đó là: nếu dân di cư nói dối, tại sao cả triệu người đều nói dối giống nhau. Làm sao mà tất cả mọi người đủ mọi thành phần, trí thức, thất học, nông dân, thợ thuyền, buôn thúng bán bưng, lại có thể kể lại rành mạch từng chi tiết giống nhau đến thế. Chỉ một điểm nhỏ thế thôi mà phải đợi đến những năm sau 75, dân miền Nam mới hiểu thấu đáo được hai chữ cộng sản.

Bây giờ nói đến bài viết của ông. Với tầm hiểu biết thô thiển, tôi nhận thấy một vài điều nực cười trong bài viết “Thổn Thức cho VN” của ông Toại.

1. Sau bao nhiêu năm, ông nhận thấy ông chọn lầm lý tưởng. Ông vượt biển, ở Mỹ, ung dung ngồi viết bài để tưởng nhớ quê hương. Vậy mà đặt bút xuống, ông vẫn gọi chế độ Thiệu là bù nhìn.

Trước hết phải định nghĩa hai chữ “bù nhìn” (puppet). Bù nhìn để chỉ một chính quyền (hay một người) cậy nhờ vào một chính quyền khác (hoặc người khác) mạnh hơn để sống còn, và phải luôn thi hành theo ý của họ. Theo định nghĩa đó, có thể ông Thiệu bù nhìn trên một vài phưong diện. Lấy ví dụ, Hiệp định (HĐ) Balê ký kết năm 1973. Ông Thiệu không hề muốn ký vào HĐ này, vì những điều kiện trong HĐ hoàn toàn bất lợi cho VNCH. Mỹ đã liên minh với Tàu để dựng lên HĐ Balê, hầu chống lại Liên sô và “ban” cho Tàu cái quyền “làm vua” ở Đông nam á. Ông Thiệu biết ký vào là tự mình giết mình. Nhưng ông không làm gì được. Ông Thiệu phải ký. Ông phải nghe lời Mỹ ký vào bản án tử hình chỉ vì mớ súng đạn dư thừa Mỹ đem bố thí cho miền Nam hằng năm. Mỹ ép, nếu không ký là không viện trợ. Và hậu quả thì ông biết rồi, chỉ cần 2 năm sau, Mỹ lật lọng hoàn toàn cắt viện trợ không thương tiếc, cho dù chỉ một viên đạn.

Hiểu bù nhìn theo nghĩa đó thì chính quyền Thiệu đôi lúc bị ép một cách oan uổng như thế. Bây giờ mời ông quay trở lại năm 1954 ở miền Bắc nhé. Bà Nguyễn thị Năm, một người giàu có từng giúp Việt minh rất nhiều. Nhiều cán bộ ăn dầm ở dề nhà bà, trong đó có ông Hồ. Bà có anh con trai là sĩ quan trong Quân đội Nhân dân, anh hùng trận Điện biên vừa thắng thực dân Pháp vẻ vang. Thế mà ông Hồ vẫn ký giấy lôi bà ra pháp trường để đấu tố. Tại sao ông Hồ lại độc ác và tàn nhẫn đến thế? Thưa cũng vì số súng đạn viện trợ của Tàu. Không đấu tố bà Năm thì Tàu không viện trợ nữa. Vì mớ súng đạn đó mà ông Hồ giết bà Năm, và hàng trăm nghìn cái chết oan khiên khác xảy ra trong suốt thời kỳ đấu tố mà thiết tưởng tôi không cần kể thêm nữa.

Tôi hỏi ông, thế thì chính quyền nào bù nhìn hơn? Và hơn 1 triệu người Bắc bỏ hết mồ mả cha ông di cư vào miền Nam năm 1954 mang theo những câu chuyện tàn ác thương tâm như thế “làm quà” cho dân chúng miền Nam. Thế mà ông và dân của ông bảo là bọn Bắc kỳ dối trá. Thật là nực cười, Bắc kỳ di cư thì ông không tin, còn Bắc kỳ việt cọng thì ông tin còn hơn tín đồ Thiên Chúa giáo tin vào Kinh thánh nữa.

2. Ông mở đầu bài viết với câu, “tôi chỉ cảm thấy buồn rầu cho sự ngây thơ của mình khi tin rằng cộng sản là những người cách mạng và xứng đáng được ủng hộ” (hết trích). Với tất cả hệ quả do ông và những kẻ đồng thời với ông để lại cho nước VN như bây giờ mà ông chỉ buồn rầu thôi sao.

Ông đứng lên tranh đấu để đạp đổ một chính quyền (dưới mắt ông) không hoàn thiện. Ông tin rằng nước VN sẽ rạng rỡ hơn khi quyền hành nằm trong tay những người cộng sản. Thế mà khi tiền đồ của đất nước xoay chuyển sang một hướng khác không theo ý ông mong ước, ông lại vượt biên. Đúng ra, ông phải ở lại để “hưởng” những “thành quả” của ông chứ. Ông có gan chống đối bất công, thì ông cũng phải có can đảm để nhìn thẳng và hệ lụy do ông tạo ra chứ.

Hai chữ “cách mạng” quý lắm. Đi làm cách mạng với hoài bão xây dựng một đất nước hùng cường hơn, vững mạnh hơn. Tiếc thay, một số khoa bảng miền Nam như LS Nguyễn hữu Thọ, KTS Huỳnh tấn Phát, BS Dương Quỳnh Hoa, ông Trương như Tảng, ông Nguyễn công Hoan, và cả ông học nhiều hiểu rộng, bằng cấp đầy mình… thế mà vẫn không hiểu được 2 chữ “cộng sản”, trong khi những bằng chứng bày ra đầy trước mắt. Các ông giống như con đà điểu vùi đầu vào cát không muốn tìm hiểu sự thật, để rồi lúc cuối đời phải than lên, “tôi buồn rầu…” Thú thật, số vốn hiểu biết về chính trị của ông và những nhà khoa bảng miền Nam không bằng kinh nghiệm chính trị của một thanh niên miền Bắc. Đó là sự thật, ông ạ! Hy vọng ở tuổi này ông cũng nhận ra chân lý ngàn đời không thay đổi đó.

Ông và những “đồng chí” của ông quyết liệt phá bỏ một miền Nam tương đối vững mạnh, và hân hoan trao quyền cho những người cộng sản. Họ giống ông ở điểm cũng bất mãn với chế độ (như bà Dương Quỳnh Hoa) khi vận mệnh nước nhà rẽ sang một hướng khác với hướng mà ông (ngây thơ) đề nghị với nhà nước cộng sản. Nhưng họ khác ông ở điểm là họ vẫn ở lại trên quê hương để sống, để chứng kiến cảnh đổi đời. Một vài người trong nhóm của ông giờ này vẫn còn can đảm đứng lên (như thuở nào) để chống đối bất công đang xảy ra nhan nhản trên quê hương. Họ vẫn theo đuổi lý tưởng “cách mạng” của họ một cách trung thành. Trong một chừng mực nào đó, tôi vẫn còn phục những người này.

Còn ông, khi sự việc không xảy ra theo ước mơ của ông thì ông nhanh chân đào thoát bằng thuyền. Ông có nhận ra điểm nực cười đó không? Ông thẳng tay tàn phá một chế độ cưu mang ông, gia đình ông rồi đến hồi chung cuộc ông lại chạy trốn là thế nào? Trước 75, ông không bị động viên, ông rảnh rang ở hậu cứ, để rồi xúi giục sinh viên xuống đường chống đối chính quyền. Ông còn khoe đã đi thuyết trình ở các đại học Mỹ danh tiếng để tìm hậu thuẫn hầu phá đổ chính quyền VNCH cho bằng được. Sau 75, sự bất mãn khiến ông bỏ ngang con đường “cách mạng” của ông. Đường nào ông cũng sống được. Có bao giờ ông nghĩ ông đúng là kẻ cơ hội chủ nghĩa không? Sự nghiệp “cách mạng” của ông đã làm Mẹ VN sống dở chết dở. Đến lúc Mẹ nằm xuống, ông không dám về chịu tang, tạ tội với người Mẹ nhưng từ phương xa, ở Mỹ, có thì giờ rảnh rỗi, ngồi ở phòng khách, bên ly cà phê, ông ung dung ngồi viết “Thổn Thức cho VN” bày tỏ lòng thương tiếc người Mẹ đã khuất. Trong một chừng mực nào đó, tôi chê ông hèn.

Chọn lầm lý tưởng cho đời mình chỉ gây tại hại cho một cuộc đời. Chọn lầm lý tưởng để phục vụ cho một đảng phái chỉ gây tai hại cho một thế hệ. Nhưng chọn lầm lý tưởng – như ông – để phục vụ cho một chủ thuyết gây tai họa cho cả một dân tộc. Mãi mãi, ông và những nhà khoa bảng miền Nam chỉ là những hòn gạch lót đường cho những tay làm chính trị lão luyện hơn. Thân phận chính trị sa-lông của ông chỉ như chậu kiểng chưng ở phòng khách với vẻ cái mác phản chiến hào nhoáng bên ngoài. Tiếc thay, đến thời chung cuộc, chậu kiểng đã hoa tàn nhụy rữa nên chỉ đáng ném vào sọt rác. Xin lỗi, tôi nói ra hơi thừa, vì năm 1976, họ đã ném tất cả các ông vào sọt rác rồi.

Tôi khuyên ông đừng “thổn thức cho VN” nữa, nhưng hãy tự thổn thức lương tâm của chính ông. Ông viết bài tố khổ một chế độ cho ai hiểu đây? Nếu cho chúng tôi thì ông làm công việc hơi thừa vì chúng tôi đã hiểu hai chữ “cộng sản” từ lâu rồi. Từ năm nào nhỉ? À, cái năm chúng tôi di cư vào Nam đấy, năm mà các ông bảo chúng tôi là nói dối đấy.

Tôi khuyên ông đừng bao giờ viết “Thổn Thức cho VN” nữa. Và cũng đừng buồn rầu suông nhưng hãy tự đấm ngực ăn ăn tội tày trời ông và đám trí thức miền Nam đã phạm đối với tiền nhân, và với dân tộc.

Chào ông.

Thổn thức cho Việt Nam
Đoàn Văn Toại

Bây giờ nhìn lại cuộc chiến Việt Nam, tôi chỉ cảm thấy buồn rầu cho sự ngây thơ của mình khi tin rằng cộng sản là những người cách mạng và xứng đáng được ủng hộ. Trên thực tế, họ đã phản bội nhân dân Việt Nam và làm thất vọng các phong trào tiến bộ trên toàn thế giới.

Khi cộng sản chiếm miền Bắc Việt Nam năm 1954, hàng triệu người đã lũ lượt di cư vào Nam. Tôi đã tận tai nghe nhiều câu chuyện về sự đau khổ tột cùng của họ. Nhưng cũng như nhiều người miền Nam lúc ấy, tôi đã không tin vào những câu chuyện đó. Cả về sau này, tôi cũng đã không tin về những câu chuyện được kể trong tác phẩm Quần Đảo Ngục Tù (The Gulag Archipelago) của văn hào Solzhenitsyn. Tôi không tin vì cho rằng đó là những luận điệu tuyên truyền chống Cộng. Nhưng vào năm 1979, tôi đã cho xuất bản cuốn sách Việt Nam Ngục Tù của chính tôi. Liệu những người đã từng nếm trải những kinh hoàng dưới chế độ cộng sản có bao giờ thử thuyết phục những người không có cái kinh nghiệm này?

Kể từ năm 1945, năm tôi ra đời tại huyện Cái Vồn thuộc tỉnh Vĩnh Long, một tỉnh lỵ cách Sài Gòn 160 km về hướng Nam, cho đến khi ngày tôi rời Việt Nam vào tháng 5/1978, tôi chưa từng một ngày vui hưởng hoà bình. Căn nhà gia đình tôi đã bị đốt 3 lần trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong suốt cuộc đời niên thiếu, tôi đã phải theo cha mẹ di tản từ làng này sang làng khác để tránh tên bay đạn lạc. Cũng giống như những người Việt Nam yêu nước khác, cha mẹ tôi cũng tham gia kháng chiến chống Pháp. Khi tôi lớn lên, tôi lại tận mắt chứng kiến các nông dân đã bị các quan chức địa phương của chính quyền Sài Gòn áp bức ra sao, và họ đã phải chịu những cuộc oanh tạc tàn khốc của quân Pháp như thế nào. Tôi đã học trong lịch sử sự chiến đấu kiên cường của dân tộc chống lại ách đô hộ ngàn năm của giặc Tàu rồi đến các cuộc kháng chiến gian khổ chống ách thống trị trăm năm của giặc Tây. Với hành trang đó, tôi và các bạn đồng lứa đã lớn lên cũng với nỗi căm thù sự can thiệp của ngoại bang.

Vietnam, A portrait of its people at war

Khi các sinh viên Sài Gòn bầu tôi vào chức Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Sinh viên Sài Gòn vào năm 1969 và 1970, tôi đã tham gia vào các hoạt động đòi hoà bình khác nhau, đã lãnh đạo sinh viên biểu tình chống chế độ Thiệu và sự dính líu của người Mỹ. Tôi đã ấn hành nguyệt san Tự Quyết, và đã làm một cuộc du hành đến California để thuyết trình về các hoạt động phản chiến ở Đại học Berkeley và Stanford vào tháng 1/1971. Vì các hoạt động đó, tôi đã bị bắt và tống giam nhiều lần dưới chế độ Thiệu.

Vào thời điểm ấy, tôi tin rằng tôi đang thi hành sứ mệnh hoà bình và độc lập cho đất nước tôi. Tôi cũng tin tưởng vào đề cương của MTDTGPMN, một tổ chức đang lãnh đạo cuộc kháng chiến cách mạng ở miền Nam Việt Nam. Tôi căm ghét các nhà lãnh đạo Sài Gòn, các người như Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Trung tướng Đặng Văn Quang ‒ những cựu chiến binh trong quân đội viễn chinh Pháp. Đó là những người được Pháp tuyển mộ vào năm 1940 để giúp chúng tiêu diệt các phần tử kháng chiến Việt Nam. Theo thời gian, họ đã vươn lên thành những nhà lãnh đạo, nhưng sự lãnh đạo của họ không thu được lòng dân. Và chính vì không có được ủng hộ của người dân, nên họ phải dựa vào các thế lực nước ngoài.

Với tư cách một lãnh tụ sinh viên, tôi cho rằng tôi phải hoàn thành khát vọng của người dân Việt Nam về dân chủ, tự do và hoà bình.

Một cách ngây thơ, tôi nghĩ rằng chế độ Hà Nội ít nhất cũng là người Việt Nam, trong khi người Mỹ chỉ là những kẻ xâm lược giống như người Pháp trước đó. Như nhiều người trong phong trào đối lập tại miền Nam lúc ấy, tôi tin rằng dù sao các đồng bào cộng sản miền Bắc cũng sẽ dễ có sự tương nhượng và dễ nói chuyện hơn là người Mỹ. Hơn thế nữa, tôi lại thấy choáng ngợp trước các thành tích hy sinh và tận tâm của các lãnh tụ cộng sản. Chẳng hạn, Tôn Đức Thắng, Phó Chủ tịch Bắc Việt, đã bị nhốt đến 17 năm trong nhà tù của Pháp. Tôi cũng bị hớp hồn trước bản đề cương chính trị được MTDTGPMN áp dụng, bao gồm chính sách hoà giải dân tộc, không hề có sự trả thù, và chính sách ngoại giao phi liên kết. Cuối cùng, tôi đã chịu ảnh hưởng của các phong trào tiến bộ khắp thế giới và các nhà đại trí thức phương Tây lúc ấy. Tôi đã có cảm tưởng rằng các lãnh đạo phong trào phản chiến ở Mỹ cuối thập niên 60 đầu 70 đã chia sẻ cùng niềm tin với tôi.

Niềm tin ấy càng được củng cố hơn sau khi Hiệp định Paris ký kết vào năm 1973 và sự sụp đổ của Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa năm sau đó. Khi cuộc giải phóng đã hoàn tất, tôi chính là người đã khuyên bảo bạn bè và thân nhân không nên di tản. “Tại sao các người lại bỏ đi?” tôi hỏi, “Tại sao các người lại sợ cộng sản?” Tôi chấp nhân một viễn cảnh khó khăn trong thời gian tái thiết quê hương nên đã quyết định ở lại và tiếp tục làm việc với tư cách một quản trị viên một chi nhánh của Ngân hàng Saì Gòn, nơi tôi đã làm việc hơn 4 năm, và là nơi tôi viết các báo cáo mật về tình hình kinh tế Nam Việt Nam cho MTDTGPMN (Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi đã không bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa động viên vì là con một trong gia đình. Tôi cũng không gia nhập Việt Cộng vì MTDTGPMN nghĩ rằng tôi sẽ phục vụ tốt hơn trong vai trò báo cáo tài chính từ ngân hàng).

Sau khi Sài Gòn thất thủ được nhiều ngày, MTDTGPMN thành lập chính quyền Cách mạng Lâm thời, mời tôi gia nhập một uỷ ban tài chính, một nhóm bao gồm các trí thức có nhiệm vụ cố vấn cho chính quyền về các vấn đề kinh tế. Tôi hăng hái tham gia, chấp nhận mức cắt giảm lương đến 90%. Nhiệm vụ đầu tiên của tôi là giúp thảo ra một kế hoạch nhằm tịch thu tất cả các tài sản tư nhân ở miền Nam Việt Nam. Tôi cảm thấy sốc, và đề nghị chỉ nên thi hành điều đó với tài sản những người từng cộng tác với chính quyền cũ và với những người đã làm giàu nhờ chiến tranh, và sẽ phân phối lại theo một cách thức nào đó cho các người nghèo và nạn nhân chiến tranh không phân biệt thuộc phe nào. Đề nghị của tôi bị bác bỏ, dĩ nhiên.

Tôi đã quá ngây thơ khi nghĩ rằng các quan chức địa phương đã sai lầm, rằng họ đã hiểu lầm ý định tốt của các lãnh đạo đảng cộng sản. Tôi đã tranh đấu với họ nhiều lần, vì hoàn toàn đặt niềm tin vào các tuyên bố của Hà Nội trước đây rằng “tình hình ở Nam Việt Nam rất đặc biệt và rất khác với tình hình miền Bắc Việt Nam”. Chỉ vài tháng trước khi Sài Gòn thất thủ, Lê Duẩn, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản, đã tuyên bố “miền Nam cần có chính sách riêng của nó”. Sau cùng, tôi không thể tuân theo lệnh sắp đặt các cuộc tịch thu tài sản tư hữu, một kế hoạch vẫn đang được xúc tiến. Một kế hoạch như vậy không hề đáp ứng nguyện vọng của người dân Nam Việt Nam, và nó đi ngược với lương tâm của tôi. Tôi quyết định từ chức. Nhưng không ai được phép từ chức trong chế độ cộng sản.

Một ngụ ý bất tuân lệnh sẽ không được người cộng sản tha thứ. Khi tôi đưa đơn từ chức, người lãnh đạo uỷ ban tài chính đã cảnh cáo rằng hành động của tôi “sẽ bị xem là sự tuyên truyền nhằm kích động quần chúng, và rằng chúng ta không bao giờ cho phép điều đó xảy ra”. Nhiều ngày sau đó, trong khi tôi đang tham dự một buổi hoà nhạc tại Nhà Hát Lớn (trước đây là trụ sở Quốc hội Việt Nam Cộng hòa, nơi mà tôi đã lãnh đạo các sinh viên chiếm giữ nhiều lần trước đây dưới chế độ Thiệu), tôi bị bắt. Không có sự truy tố cũng như không có lý do nào được đưa ra. Sau khi Sài Gòn thất thủ, rất nhiều nhà trí thức tiến bộ cũng như nhiều nhà lãnh đạo các phong trào phản chiến trước đây đều tin rằng chính quyền mới sẽ đem lại dân chủ và tự do thay cho sự thống trị của ngoại bang. Họ tin rằng chính quyền mới sẽ đeo đuổi các quyền lợi tốt nhất cho nhân dân. Sẽ giữ đúng lời hứa của chính họ về chính sách hoà giải dân tộc, không có sự trả thù. Phủi sạch những hứa hẹn, nhà cầmn quyền cộng sản đã bắt giam hàng trăm ngàn người ‒ không chỉ những người đã cộng tác với chế độ Thiệu mà cả những người khác, bao gồm các vị lãnh đạo tôn giáo và các cựu thành viên MTDTGPMN.

Việt Nam ngày nay trở thành một quốc gia không có luật pháp nào khác hơn là sự điều hành độc đoán của những kẻ đang nắm quyền lực. Không hề có cái gọi là dân quyền. Bất cứ ai cũng đều có thể bị bắt mà không cần truy tố cũng như không cần xét xử. Và khi đã ở trong tù, các tù nhân đều được giáo dục rằng chính các thái độ, hành vi và sự “cải tạo tốt” là yếu tổ chủ chốt đễ xét xem liệu họ có thể được trả tự do hay không- không cần biết họ đã phạm tội gì. Vì vậy, các tù nhân thường là phải tuân lệnh tuyệt đối các quản giáo để hy vọng được thả sớm. Trong thực tế, họ không bao giờ biết được khi nào họ sẽ được thả – hay có thể bản án của họ sẽ được kéo dài thêm. Ở đất nước Việt Nam ngày nay có bao nhiêu tù chính trị? Không ai có thể biết được con số chính xác. Bộ Ngoại giao Mỹ cho rằng có khoảng từ 150.000 đến 200.000 chính trị phạm, người Việt tỵ nạn thì ước đoán con số đó là 1 triệu.

Hoàng Hữu Quýnh, một trí thức tốt nghiệp Đại học Mạc Tư Khoa, hiệu trưởng một trường kỹ thuật tại Tp. HCM (trước đây là Sài Gòn), vừa mới bỏ trốn trong một chuyến đi tham quan các nước Châu Âu do nhà nước bảo trợ. Ông đã nói với báo chí Pháp, “Hiện nay ở Việt Nam có ít nhất 700.000 tù nhân”. Một nhân chứng khác, Nguyễn Công Hoan, một cựu thành viên trong Quốc hội thống nhất được bầu vào năm 1976, đã vượt biển thành công vào năm 1978, đã tuyên bố chính bản thân ông được biết về “300 trường hợp xử tử” chỉ nội trong tỉnh Phú Yên của ông.

Vào năm 1977, các quan chức Hà Nội khăng khăng rằng chỉ có 50.000 người bị bắt giữ vì có những hành vi gây nguy hại cho an ninh quốc gia. Nhưng trong khi đó, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tuyên bố trên tờ Paris Match số ra ngày 22/9/1978, “Trong vòng 3 năm qua, tôi đã trả tự do cho hơn 1 triệu tù nhân từ các trại cải tạo.” Người ta có thể tự hỏi làm thế nào có thể thả 1 triệu tù nhân trong khi chỉ bắt giữ có 50.000!

Tôi bị tống vào một xà lim 1m x 2m, tay trái bị xiềng vào chân phải và tay phải xiềng vào chân trái. Thứ ăn của tôi là cơm trộn với cát. Khi tôi khiếu nại về cát trong cơm, các quản giáo đã giải thích rằng cát được cho vào cơm để nhắc nhở các tù nhân về các tội ác mà họ đã phạm. Tôi đã khám phá ra khi đổ nước vào tô cơm có thể tách cát ra khỏi cơm và lắng nó xuống đáy. Nhưng phần nước chỉ có 1lít cho một ngày dùng cho uống và tắm rửa, do vậy tôi phải dùng nó hết sức tiết kiệm.

Sau 2 tháng biệt giam, tôi được chuyển ra phòng giam lớn, một phòng giam 5m x 9m, tuỳ theo thời điểm được nhồi nhét từ 40 đến 100 tù nhân. Nơi đây chúng tôi phải thay phiên để được nằm xuống ngủ, và phần lớn các tù nhân trẻ và còn mạnh khoẻ phải chịu ngủ ngồi. Trong cái nóng hầm hập, chúng tôi cũng phải thay phiên để được hứng vài cơn gió mát của khí trời từ một lỗ thông gió chút xíu và cũng là cửa sổ duy nhất của phòng giam. Mỗi ngày tôi đều chứng kiến các bạn tù chết dưới chân tôi.

Vào tháng 3, 1976, khi một nhóm phóng viên phương Tây đến viếng thăm nhà tù của tôi, các quản giáo đà lùa các tù nhân đi và thay vào đó là các bộ đội miền Bắc. Trước cửa nhà tù, không còn thấy các hàng rào kẻm gai, không có tháp canh, chỉ có vài công an và một tấm bảng lớn chăng ngang cửa chính đề câu khẩu hiệu nổi tiếng của Hồ Chí Minh, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Chỉ có những người đang bị giam và các quản giáo là biết cái gì thực sự ẩn giấu đằng sau những dấu hiệu đó. Và mọi tù nhân đều biết rằng nếu họ bị tình nghi đào thoát thì người bạn đồng tù và người thân của họ tại nhà sẽ bị trừng phạt thay vì chính họ.

Chúng ta sẽ không bao giờ biết được con số thực sự của những tù nhân bỏ mạng, nhưng chúng ta đã biết cái chết của nhiều tù nhân nổi tiếng, những người trong quá khứ chưa bao giờ cộng tác với Chính quyền Thiệu hay với người Mỹ: chẳng hạn, Thích Thiện Minh, nhà chiến lược cho các phong trào tranh đấu hoà bình của Phật tử tại Sài Gòn, một nhà đấu tranh phản chiến đã từng bị kết án 10 năm dưới chế độ Thiệu, sau cùng bị buộc phải thả ông vì sự phản đối mạnh mẽ của nhân dân Việt Nam và các nhà hoạt động phản chiến khắp thế giới. Đại Đức Thiện Minh đã chết trong tù 6 tháng sau khi ông bị bắt vào năm 1979. Một cái chết âm thầm khác là của Luật sư Trần Văn Tuyên, một lãnh tụ khối đối lập tại Quốc hội dưới thời Tổng thống Thiệu. Nhà hoạt động nổi tiếng này đã chết dưới bàn tay cộng sản vào năm 1976, mặc dù vào cuối tháng 4/1977, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tuyên bố với các phóng viên Pháp rằng ông vẫn còn sống mạnh khoẻ trong trại cải tạo. Một trong những tổn thất to lớn nhất là cái chết của triết gia nổi tiếng Việt Nam Hồ Hữu Tường. Tường, bạn đồng môn với Jean Paul Sartre thập niên 30 tại Paris, có lẽ là nhà trí thức hàng đầu tại Nam Việt Nam. Ông chết tại nhà tù Hàm Tân vào ngày 26/06/1980. Đây là những người bị bắt, cùng với rất nhiều những người khác trong nhóm những người Nam Việt Nam ưu tú và được trọng nể nhất, với mục đích ngăn ngừa bất cứ một sự chống đối nào với chế độ cộng sản.

Một số người Mỹ ủng hộ Hà Nội đã làm lơ hoặc biện minh cho những cái chết này, như họ đã từng làm với vô số các thảm kịch đã xảy ra từ khi Việt Nam Cộng hòa sụp đổ năm 1975. Rất có thể họ sẽ vẫn tiếp tục giữ im lặng nhằm lãng tránh một sự thật về Việt Nam nếu tiết lộ sẽ mang lại một nỗi vỡ mộng sâu xa đối với họ. Cay đắng thay nếu tự do và dân chủ vẫn là mục tiêu xứng đáng để chiến đấu tại Philippines, tại Chile, tại Nam Hàn hay tại Nam Phi, thì nó lại không xứng để bảo vệ tại các nước cộng sản như Việt Nam.

Mọi người đều nhớ đến vô số các cuộc biểu tình chống đối Mỹ can thiệp vào Việt Nam và chống lại các tội ác chiến tranh của chế độ Thiệu. Nhưng một số trong các người đã từng một thời nhiệt thành với các nguyên tắc dân chủ và nhân quyền thì nay lại tỏ ra hết sức lãnh đạm khi cũng chính các nguyên tắc ấy đang bị chà đạp tại nước Việt Nam cộng sản. Chẳng hạn, một nhà hoạt động phản chiến, William Kunstler, vào tháng 5, 1979 đã từ chối ký vào một bức thư ngỏ gởi nhà nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, trong đó có chữ ký của nhiều nhà hoạt động phản chiến khác, kể cả Joan Baez, phản đối sự vi phạm nhân quyền của chế độ Hà Nội. Kunstler nói “Tôi không tin vào sự chỉ trích công khai một chính quyền xã hội chủ nghĩa, dù đó là sự vi phạm nhân quyền”, và “toàn bộ chiến dịch này của Baez có thể là một âm mưu của CIA”. Câu nói này đã làm tôi nhớ lại lập luận mà chế độ Thiệu thường đưa ra làm lý do đàn áp các người đối lập, “Tất cả các hoạt động phản chiến và đối lập đều do cộng sản giựt dây”.

Còn có rất nhiều những huyền thoại về chế độ hiện hành tại Việt Nam mà người dân rất nên được soi sáng. Nhiều người cho rằng Hồ Chí Minh đầu tiên là một người quốc gia và rằng đảng cộng sản Việt Nam trước đây cũng như hiện nay đều độc lập với Liên Sô. Tôi cũng là người tin như vậy trước khi cộng sản chiếm miền Nam.Nhưng rồi chân dung các nhà lãnh đạo Soviet nay được treo đầy các chung cư, trường học và các công sở trên khắp nước “Việt Nam độc lập”. Ngược lại, người ta chưa từng thấy chân dung bất cứ một nhà lãnh đạo Mỹ nào được treo ngay cả trong chế độ được gọi là bù nhìn của Tổng thống Thiệu. Mức độ lệ thuộc của chính quyền hiện hành vào các ông chủ Soviet được thể hiện rõ ràng nhất do thi sĩ nổi tiếng của cộng sản Việt Nam, Tố Hữu, thành viên Bộ Chính Trị và là Trưởng Ban Văn hoá Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng ta có cơ hội được nghe người thi sĩ cao cấp này than khóc nhân cái chết của Stalin:

‘Xít-ta-lin! Xít-ta-lin,
Yêu biết mấy, nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng, con gọi Xít-ta-lin
Ông Xít-ta-lin ôi. Ông Xít-ta-lin ôi,
Hỡi ôi ông mất, đất trời có không?
Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương ông thương mười’.
(Đời đời nhớ ông – Tố Hữu).

Thật là khó mà tưởng tượng những vần thơ như vậy lại được viết tại Việt Nam, một đất nước mang nặng truyền thống gia đình và bổn phận với con cái. Và bài thơ ấy vẫn đang chiếm một vị trí trang trọng trong ấn bản về thơ ca Việt Nam hiện đại được xuất bản tại Hà Nội.

Hơn thế nữa, Lê Duẩn , Tổng Bí thư đảng cộng sản Việt Nam, trong một bài diễn văn chính trị đọc trước Hội nghị khoáng đại của Quốc hội thống nhất năm 1976, “Cuộc cách mạng Việt Nam là để thực thi bổn phận và các cam kết quốc tế”, và vì vậy, trong lời lẽ của bản luận cương của đảng năm 1971 đã viết, “dưới sự lãnh đạo của Liên bang Soviet”. Sự vinh quang của một xã hội Soviet là mục tiêu chính yếu trong sách lược của đảng cộng sản Việt Nam.

Sau khi Sài Gòn thất thủ, nhà nước đã ngay tức khắc đóng cửa toàn bộ các nhà sách và rạp hát. Tất cả các sách vở được xuất bản trong chế độ cũ đều bị tịch thu hay đốt bỏ. Các tác phẩm văn hoá thuần tuý cũng không ngoại lệ, kể cả các bản dịch tác phẩm của Jean Paul Sartre, Albert Camus và Dale Carnegie. Ngay cả tác phẩm Cuốn Theo Chiều Gió của Margaret Mitchell cũng nằm trong danh sách văn chương đồi truỵ. Nhà nước thay thế những tác phẩm ấy bằng những tác phẩm văn chương nhằm nhồi sọ trẻ em và người lớn với ý tưởng chủ đạo, “Liên bang Soviet là thiên đường của xã hội chủ nghĩa”.

Một lập luận khác của các nhà biện luận phương Tây có liên quan đến vấn đề tự do tôn giáo tại Việt Nam. Một điều khoản của bản hiến pháp mới, được đưa ra vào năm nay, có nêu rằng “nhà nước tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do không tín ngưỡng”. Về điều khoản này, Lê Duẩn đã nhiều lần tuyên bố, “Chế độ của chúng ta triệu lần dân chủ hơn bất cứ chế độ nào trên thế giới”.

Ngược lại, trên thực tế, đã trình bày rõ sự thật qua một sự kiện mang tính báng bổ một ngôi chùa Phật giáo, trong vụ đó một người đàn bà khoả thân theo lệnh nhà nước đã tiến vào ngôi chùa trong giờ hành lễ. Khi Hoà thượng Thích Mẫn Giác, một nhà lãnh đạo Phật giáo nổi tiếng, lên tiếng phản đối, nhà nước đã nhân vụ này lên án Phật giáo là kẻ thù của dân chủ, chính xác là vi phạm quyền tự do không tín ngưỡng. Hoà Thượng Thích Mẫn Giác, người đóng vai trò là cầu nối giữa Phật giáo và nhà nước cộng sản, đã phải vượt thoát Việt Nam bằng thuyền vào năm 1977 và nay đang định cư tại Los Angeles. Tất cả những ai từng ủng hộ MTDTGPMN trong cuộc chiến đấu chống chế độ Sài Gòn đều có thể cảm nhận sự bị phản bội và nỗi tuyệt vọng của họ. Khi Harrison Salisbury của tờ New York Times viếng thăm Hà Nội vào tháng 12, 1966, các nhà lãnh đạo Hà Nội đã nói với ông, “Sách lược tranh đấu của miền Nam được chỉ đạo từ miền Nam chứ không phải từ miền Bắc”. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói với Salisbury, “Không có ai ở miền Bắc có ý tưởng ngu ngốc, tội ác” rằng miền Bắc muốn thôn tính miền Nam.

Vậy mà trong diễn văn đọc nhân lễ mừng chiến thắng vào ngày 19/05/1975, Lê Duẩn đã nói, “Đảng của chúng ta là một và là người lãnh đạo duy nhất đã tổ chức, kiểm soát và điều hành toàn bộ cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam ngay từ ngày đầu của cuộc cách mạng”.

Trong bản báo cáo chính trị đọc trước Quốc hội hợp nhất tại Hà Nội vào ngày 26/05/1976, Lê Duẩn nói, “Nhiệm vụ cách mạng chiến lược của đất nước ta trong thời kỳ mới là thống nhất tổ quốc và đưa toàn bộ đất nước tiến nhanh, tiến mạnh và tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, lên chủ nghĩa cộng sản”.

Vào năm 1976, Chính phủ Cách mạng Lâm thời do MTTGPMN thành lập đã bị xoá sổ, và toàn thể 2 miền Nam Bắc Việt Nam đều nằm dưới sự cai trị của những người cộng sản. Ngày nay,trong số 17 thành viên Bộ Chính trị và 134 Uỷ viên Trung ương thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam, không hề có người nào thuộc MTDTGPMN trước kia. Ngay cả Nguyễn Hữu Thọ, cựu Chủ tịch MT, chỉ nắm chức vụ Chủ tịch nhà nước, một chức vụ mang tính nghi lễ với nhiệm vụ đón tiếp khách nước ngoài và tham dự các buổi lễ lạc. Nhưng ngay cả vị trí đó rồi sẽ bị xoá bỏ khi bàn hiến pháp mới ra đời.

Trương Như Tảng
Nguồn: A Vietcong Memoir

Hãy nghe lời của ông Trương Như Tảng, một những người sáng lập MT, cựu Bộ trưởng Tư pháp của Chính phủ Cách mạng Lâm thời, vừa mới đây cũng là một thuyền nhân vượt biển. Ông Tảng trốn thoát khỏi Việt Nam vào tháng 12, 1979 và hiện nay sống tại Paris. Ông đã nói với các phóng viên về kinh nghiệm của ông trong cuộc họp báo gần đây vào tháng 5, 1980. 12 năm trước, ông nói, khi ông bị bỏ tù dưới chế độ Thiệu vì các hoạt động thân cộng của mình, cha của ông đã đến thăm ông. Ông cụ đã hỏi ông, “Tại sao con lại dứt bỏ tất cả ‒ một công việc tốt, một gia đình sung túc ‒ để gia nhập cộng sản? Con không biết rằng cộng sản rồi sẽ phản bội con và sẽ thủ tiêu con, và khi con thật sự hiểu ra thì đã quá muộn?” Tảng, một nhà trí thức, đã trả lời cha “Tốt hơn là cha nên im lặng và chấp nhận sự hy sinh một trong các đứa con của cha cho nền dân chủ và độc lập của đất nước”.

Sau cuộc Tổng Công kích Tết Mậu thân 1968, Tảng được trao đổi với 3 Đại tá tù binh chiến tranh Mỹ, và sau đó ông biến mất vào rừng với MT. Ông đã viếng thăm nhiều nước cộng sản và các nước thế giới thứ 3 để kêu gọi sự ủng hộ dành cho MT trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Ông đã nói trong cuộc họp báo. “Tôi đã biết MT là một tổ chức do cộng sản chi phối và tôi đã quá ngây thơ khi cho rằng Hồ Chí Minh và Đảng của ông ta sẽ dặt quyền lợi quốc gia lên trên ý thức hệ và đặt quyền lợi nhân dân Việt Nam lên trên quyền lợi của đảng. Nhưng nhân dân Việt Nam và tôi đã sai lầm”.

Trương Như Tảng đã kể về kinh nghiệm của ông về phương sách các tầng lớp lãnh đạo cộng sản cai trị,“Người cộng sản là chuyên gia về nghệ thuật chiêu dụ và có thể làm bất cứ cách nào để dụ bạn về phe họ một khi họ chưa nắm được chính quyền. Nhưng một khi đã nắm được quyền lực lập tức họ trở thành sắt máu và tàn nhẫn”. Ông tóm tắt tình hình tại Việt Nam hiện nay, “Gia đình ly tán, xã hội phân ly, ngay cả đảng cũng chia rẽ”.

Bây giờ nhìn lại cuộc chiến Việt Nam, tôi chỉ cảm thấy buồn rầu cho sự ngây thơ của mình khi tin rằng cộng sản là những người cách mạng và xứng đáng được ủng hộ. Trên thực tế, họ đã phản bội nhân dân Việt Nam và làm thất vọng các phong trào tiến bộ trên toàn thế giới.

Tôi nhận lãnh trách nhiệm về những thảm kịch xảy ra cho đồng bào của tôi. Và nay tôi chỉ còn cách đóng vai nhân chứng cho sự thật này hầu các người đã từng ủng hộ Việt Cộng trước kia có thể cùng chia sẻ trách nhiệm với tôi.

Khi tôi còn trong tù, Mai Chí Thọ, một Uỷ viên Trung ương đảng, đã nói chuyện trước một nhóm tù nhân chính trị chọn lọc. Ông ta đã nói với chúng tôi, “Hồ Chí Minh có thể là một quỷ dữ, Nixon có thể là một vĩ nhân. Người Mỹ có thể có chính nghĩa, chúng ta có thể không có chính nghĩa. Nhưng chúng ta đã chiến thắng và người Mỹ đã bị đánh bại bởi vì chúng ta đã thuyết phục được người dân rằng Hồ Chí Minh là một vĩ nhân, Nixon là một tên sát nhân và người Mỹ là những kẻ xâm lược”. Ông ta đã kết luận, “Yếu tổ chủ chốt là làm thế nào kiểm soát người dân và ý tưởng của họ. Chỉ có chủ nghĩa Mác Lê mới có thể làm được như vậy. Không ai trong các anh đã từng biết đến một sự kháng cự nào đối với chế độ cộng sản, bởi vậy không nên nghĩ đến điều đó nữa. Hãy quên chuyện đó đi? Giữa các anh ‒ những nhà trí thức ưu tú ‒ và tôi, tôi đã nói với các anh sự thật”.

Và quả là ông ta đã nói sự thật. Từ năm 1978, khi cộng sản Việt Nam chiếm đóng Lào, xâm lấn Kampuchea và tấn công Thailand, trong khi đó Liên Sô xâm lăng Afghanistan. Trong mỗi một sự kiện đó, người cộng sản vẫn tự phác hoạ chân dung của họ một cách ly kỳ, là những người giải phóng, người cứu rỗi, người bảo vệ chống lại các lực lượng xâm lăng nước ngoài. Và trong mỗi sự kiện, dư luận thế giới vẫn tương đối êm dịu.

Nhưng ở Việt Nam, người dân vẫn thường nhắc nhau, “Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn những gì cộng sản làm”. Một trong những người Nam Việt Nam theo cộng sản, ông Nguyễn Văn Tăng, bị tù 15 năm dưới thời Pháp, 8 năm dưới thời Diệm, 6 năm dưới thời Thiệu, và hiện nay vẫn còn đang nằm tù, đã nói với tôi, “Muốn hiểu người cộng sản, trước nhất phải sống với cộng sản”. Vào một buổi chiểu mưa rơi tại nhà tù Lê Văn Duyệt, Sài Gòn, ông đã nói với tôi, ‘Ước mơ của tôi bây giờ không phải là được thả ra, không phải là được gặp lại gia đình. Tôi chỉ mơ được trở lại nhà tù của Pháp 30 năm trước”. Đó là giấc mơ của một người đàn ông 60 tuổi đã gởi trọn tuổi thanh xuân vào việc ra vào nhà tù để chiến đấu cho tự do và độc lập của đất nước. Giờ này, có lẽ ông đã chết trong tù hay có thể đã bị nhà nước của nhân dân hành quyết.

Ước mơ của nhân dân Việt Nam là một cuộc cách mạng thực sự, họ không muốn chủ nghĩa cộng sản. Mức độ đo lường sự chán ghét cộng sản là việc hàng ngàn người đã từ bỏ sự ràng buộc lịch sử của họ với đất mẹ. Dưới thời thực dân Pháp, trải qua bao năm dài chiến tranh, ngay cả trong thảm cảnh nạn đói năm 1945 có đến 2 triệu người chết đói, người Việt Nam vẫn không đành đoạn rời bỏ quê hương, mảnh đất có mồ mả ông cha. Các cuộc đổ xô ra đi tỵ nạn là bằng chứng trực tiếp của sự kinh hoàng với chế độ hiện nay. Hãy nghe lời một người tỵ nạn khác, Nguyễn Công Hoan, cựu thành viên MT và là thành viên Quốc hội thống nhất được bầu năm 1976, “Chế độ hiện nay là chế độ phi nhân và áp bức nhất mà nước Việt Nam từng được biết đến”. Ông Hoan trốn thoát bằng thuyền vào năm 1977, sau khi từ bỏ chức vụ của ông trong Quốc hội cộng sản. “Quốc hội”, ông tuyên bố, “là một bù nhìn, các thành viên ở đó chỉ biết nói dạ, không bao giờ biết nói không”.

Giữa các thuyền nhân sống sót, bao gồm cả những người bị hải tặc hảm hiếp và những người chịu nhiều cực nhục trong các trại tỵ nạn, không hề có người nào hối tiếc đã tìm cách trốn khỏi chế độ hiện nay. Tôi tuyệt đối tin rằng sự thật về Việt Nam sẽ dần dần hiện rõ. Nó có sẵn cho những ai muốn tìm hiểu về nó. Như Solzhenitsyn đã từng nói, “Sự thật cũng nặng nề như là thế giới vậy”. Và Việt Nam là một bài học về sự thật.

SƠN NGHỊ

TIM & ÓC

sonnghi

Trong tình yêu, khi đam mê làm cho con người trở nên mê muội người ta thường viện một câu nói bất hủ của Blaise Pascal: “Con tim có những lý lẽ riêng của nó mà lý trí không thể nào hiểu biết được.”, (Le coeur a des raisons que la raison ne peut pas savoir). Trí óc bao gồm nhiều trung khu thần kinh, như trung khu nói, trung khu hiểu tiếng nói, trung khu suy luận, trung khu nhớ, và trung khu cảm xúc. Chính những trung khu này đã điều khiển toàn bộ chức năng của mọi bộ phận trong cơ thể trong đó – dĩ nhiên – có trái tim. Nhưng chính trái tim đã có lúc từ chối sự điều khiển của bộ óc, tự biện minh cho tình yêu để yêu và được yêu.
Óc nói đến lý, tim nói đến tình. Khi yêu là nói đến chức năng của trái tim. Nhưng theo cơ thể học, chức năng của trái tim chỉ là bơm máu vào các mạch chạy khắp cơ thể để duy trì sự sống, kể cả óc cũng cần tim bơm máu đến để nuôi các tế bào thần kinh. Tim chỉ là một khối thịt nặng khoảng 400 gram với một nhiệm vụ thật cần thiết nhưng rất đơn giản chứ không phức tạp như lúc sa vào chốn yêu. Mỗi lần đập là mỗi lần bơm máu đi. Và tim đập liên tiếp như thế khoảng 2.5 tỷ lần trong quãng đời trung bình 66 năm. Nhịp đập cũng nói lên trạng thái của con tim. Nếu tình cờ ánh mắt gặp nhau mà hai trái tim đập rộn rã trong lồng ngực là lúc thôi thúc tìm đến nhau trong vòng tay. Khi hai trái tim đập cùng nhịp là lúc không thể sống xa nhau. Nếu đập lỗi nhịp thì xin đành hẹn lại kiếp sau. Và thật bất ngờ, tim ngưng đập là lúc nói đến chia ly vĩnh viễn.
Một lúc nào đó, những con sóng (lãng) tình cảm vượt bờ (mạn) lý trí là lúc trái tim làm chủ những nghĩ suy, gạt bỏ tất cả mọi lời khuyên bảo hữu lý của óc. Thế gian ca ngợi những mối tình lãng mạn như thế. Khi yêu chỉ biết yêu và bất chấp mọi hậu quả để được yêu. Sử xanh đã ghi lại những mối tình với con tim phủ mờ lý trí, gây mối cảm hoài cho hậu thế qua bao nhiêu thế hệ. Shakespear đã thi vị hóa mối tình của Romeo và Juliette giữa hai gia đình thù nghịch. Họ đã yêu bất chấp những truyền thống xã hội thời bấy giờ để rồi mang cả mối tình xuống tuyền đài. Lịch sử nước Nam cũng để lại hậu thế một chuyện tình đau thương của Trọng Thủy và Mỵ Châu thời An-Dương-Vương. Triệu Đà thuộc nước Nam Hải có ý thôn tính nước Âu Lạc của An-Dương-Vương bèn sai con trai là Trọng Thủy sang kết nghĩa với Mỵ Châu là con gái của An-Dương-Vương. Thần Kim Quy có ban cho An-Dương-Vương một cái nỏ thần dùng để triệt yêu quái khi dựng Loa Thành và giữ nước vì một khi bắn ra là giết chết vạn quân địch. Nhờ cái nỏ thần này mà An-Dương-Vương giữ vững nước Âu Lạc. Tình yêu vợ chồng say đắm nên Mỵ Châu mới nói cho Trọng Thủy biết bí mật của nỏ thần. Chính Trọng Thủy đã đánh tráo bằng cái nỏ thần giả. Vì thế Triệu Đà chiếm trọn nước Âu Lạc dễ dàng. Hai cha con An-Dương-Vương và Mỵ Châu trên đường chạy trốn, nhà vua cầu thần Kim Quy giúp. Thần hiện ra và nói giặc đang ngồi ở sau lưng. An-Dương-Vương hiểu ra vì đứa con gái mà mất nước nên vung gươm chém chết con gái. Trọng Thủy theo dấu lông ngỗng tìm được xác vợ. Chàng buồn rầu và cũng nhảy xuống giếng tự tử. Chuyện tình lãng mạn kết thúc bằng cái chết của hai vợ chồng giữa hai nước thù địch.
Nhưng chuyện tình giữa Trương Chi và Mỵ Nương lại có sự phán đoán của trí óc. Nàng công chúa tương tư anh lái đò có tiếng sáo lãng đãng vang trên quãng sông vắng làm mê mệt lòng người. Con tim thôi thúc nàng phải yêu nhưng đến khi gặp nhau óc đã phủ nhận mối tình chỉ vì chàng quá xấu trai. Hóa ra nàng chỉ tương tư tiếng sáo chứ không hề yêu người thổi sáo. Dù không nên vợ chồng nhưng rõ ràng trí óc đã giúp nàng công chúa chấp nhận thực tại. Chẳng thà phụ nhau ngay từ đầu còn hơn dấn sâu vào một cuộc hôn nhân không hạnh phúc.
Óc chính là cái phanh để hãm chất lãng mạn trong tình yêu. Nhưng nếu người ta chấp nhận buông thả trái tim để yêu không cần đến lý trí thì thế gian cũng thông cảm, không ai khắt khe lên án một người sẵn sàng chết cho tình yêu. Nhưng nếu con tim cứ hành động theo những lý lẽ riêng của nó mà bất cần đến lời khuyên bảo của trí óc thì sẽ dẫn đến hậu quả thế nào?
Trong lãnh vực gia đình, cha mẹ thương yêu con cái là một lẽ tự nhiên. Nhưng nếu thương yêu chiều chuộng chúng một cách vô lý thì chưa hẳn là một lối giáo dục tốt. Con cái cần phải được răn đe, để chúng nhận biết tốt xấu, sự lành, và sự dữ. Chiều chuộng chúng để muốn gì được nấy chắc chắn không giúp ích gì cho đứa trẻ sau này khi bước vào trường đời. Một đứa trẻ được nuông chiều quá mức ở trong gia đình dễ sinh ra tuyệt vọng khi gặp phải thất bại trong cuộc sống.
Trong lãnh vực luật pháp cũng thế, tim và trí óc phải đi đôi với nhau. Chi dù “pháp bất vị thân” nhưng một quan tòa cứ áp dụng cứng nhắc luật lệ thì bản án sẽ đưa đến bất công. Tình và lý cần phải cân nhắc để đi đến một phán quyết. Tục ngữ Việt có câu, “Có ở trong chăn mới biết chăn có rận”. Tục ngữ Mỹ cũng nói, “Before criticizing a man, walk a mile in his shoes”. Người quan tòa công chính là người phải hiểu rõ hoàn cảnh của từng tội nhân. Luật là phạm vi của trí óc nhưng nếu đặt mình vào tình huống của tội phạm là lúc nói đến lý lẽ của con tim. Phán quyết dựa vào tim và óc sẽ thấy một bàn tay sắt nhưng không thiếu khoan dung.
Lãnh vực chính trị cũng thấy tim và óc song hành. Aristide Briand (1862 – 1932), một chính khách từng giữ chức Thủ tướng Pháp trong nhiều nhiệm kỳ đã khẳng định: “Một người ở tuổi hai mươi không theo chủ nghĩa xã hội thì đúng là không có trái tim, nhưng nếu đến tuổi bốn mươi mà vẫn còn mê chủ nghĩa xã hội thì đúng là không có óc.” (L’homme qui n’est pas un socialiste à vingt n’a aucun coeur, mais s’il est toujours un socialiste à quarante il n’a aucune tête.) Một chủ nghĩa mà Marx vẽ vời ở thế kỷ 19, khi tư bản mới phôi thai, được Lênin phát triển một cách có hệ thống vào đầu thế kỷ 20 đã được chứng minh là một chủ nghĩa điên rồ, tàn bạo, và vô luân. Ông Briand nói phải mất 20 năm mới nhận ra sự hão huyền của chủ nghĩa nhưng thật ra chỉ cần sống vài năm ở xã hội què quặt luân lý Việt nam là hiểu rõ cái bản chất bất nhân của một chủ nghĩa đã gây biết bao tang tóc cho nhân loại. Cần gì phải đợi đến tuổi 40, yêu chủ nghĩa ở tuổi 20 nhưng đến 25 tuổi mà vẫn mở miệng bệnh vực cho cái chủ nghĩa vô luân ấy thì quả thật đầu óc đó không có một chút chất xám nào. Họa chăng những cái đầu này chỉ chứa một thứ chất vàng sền sệt mà con người thải ra mỗi ngày. Viễn ảnh của một chủ nghĩa về một thế giới đại đồng, trong đó con người “làm theo khả năng” và “hưởng theo nhu cầu” được lịch sử minh chứng một cách hùng hồn là viễn vông, là không tưởng. Giấc mơ đại đồng này đã làm say mê hàng triệu con tim đầy nhiệt huyết của các thanh niên thiếu nữ. Vì mục đích “cao cả” này, ho đã quên đi tính chất bạo lực cách mạng, nền tảng “luân lý” của chủ nghĩa cộng sản, là phải tàn sát cho hết những người không cùng chí hướng, những kẻ đối lập. Kết quả là nhân loại phải hứng chịu cái tai ương nghiệt ngã này trong suốt thế kỷ 20 với cái giá của hơn 100 triệu người chết vì bị trấn áp, bị thủ tiêu và bị tù đày trong các trại cải tạo. Những người cộng sản bây giờ chẳng còn có con tim để yêu một chủ nghĩa “lý tưởng” như ông Briand đã nghĩ. Họ hoàn toàn lệ thuộc vào vật chất, yêu những tờ giấy đôla xanh hơn là yêu giấc mộng ban đầu như đấu tranh giành thắng lợi cho giai cấp vô sản, mơ tưởng một thế giới không còn sự bóc lột, xây dựng một xã hội công bằng. Trái lại, chủ nghĩa chỉ dựng lên để đấu tranh quyền lợi tuyệt đối cho giai cấp tư bản đỏ, để thực hiện một thế giới đầy dẫy bóc lột tàn khốc và dữ dội hơn bao giờ, và để dựng lên một xã hội với những thảm cảnh luân lý suy đồi đến tận cùng và nhan nhản bất công với nhiều nước mắt.
Ban đầu, có thể Marx ôm giấc mộng đại đồng với ý tốt muốn biến cõi đời ô trọc này thành cõi thiên đàng, đến Lênin thêm chút mắm muối “bạo lực cách mạng” và kêu gọi “vô sản các nước, đoàn kết lại!” thì cái chủ nghĩa xã hội huyễn hoặc của Marx bước sang một khúc ngoặt gây đau thương cho con người nhất trong lịch sử nhân loại. Sự tàn ác của chủ nghĩa phát-xít so ra chẳng thấm gì với sự tàn bạo và độc ác cách mạng của chủ nghĩa cộng sản. Họ – những người sống chết với lý tưởng cộng sản – say mê đấu tranh với khẩu hiệu tất cả vì quyền lợi của giai cấp bị bóc lột nhưng thực tế hoàn toàn khác hẳn. Họ chỉ mượn sức mạnh của giai cấp bị bóc lột để tranh đấu cho quyền lợi cá nhân của từng người cộng sản nắm giữ quyền lực cao nhất nằm trong cái-gọi-là bộ chính trị. Bên trong thâm cung của các quan cộng sản, sự tranh dành quyền lực gay gắt và khốc liệt không thua gì cuộc đấu tranh bằng bạo lực ở bên ngoài với các nước tư bản. Mãi đến cuối thế kỷ 20 thì chủ nghĩa cộng sản đã bị biến thái hẳn. Nó biến thái đến mức người ta hoàn toàn không nhận ra cái cốt lõi chủ nghĩa nằm ở chỗ nào trong suốt tiến trình tiến lên thế giới đại đồng nữa. Người ta không hiểu nó là một triết lý? một chủ nghĩa? hay một học thuyết? Nó như một nồi tạp-pí-lù – trộn một thứ một ít vào rồi gọi là chủ nghĩa cộng sản ở thế kỷ 21 – để lâu ngày ươn sình và bốc mùi làm ai cũng buồn nôn mửa. Nó như một cái xác bị chết cháy không còn nhận diện được hình dạng của nạn nhân. Làm sao một người được Thượng đế ban cho một trí óc bình thường lại có thể nói rằng tôi vẫn còn yêu cái chủ nghĩa phi nhân bản như thế? Đừng tìm hiểu chủ nghĩa cộng sản qua sách vở! Đừng đọc mớ chủ thuyết đó bằng trái tim nhưng bằng cả trí óc! Khẩu hiệu với những mỹ từ dễ làm mê muội con người. Tính chất “lãng mạn” của chủ thuyết cộng sản dễ làm con tim rung động. Hãy luôn nhìn nó bằng trí óc minh mẫn của một người bình thường.
Trong cuộc sống lưu vong cũng cần suy nghĩ về thái độ chính trị chính đáng của một người tỵ nạn. Vào đầu thập niên 80, dân chúng Việt nam ùn ùn kéo nhau ra biển. Họ tìm đủ mọi cách để đào thoát khỏi cái xã hội rách nát nhân bản và bần cùng vật chất đó. Người ta phỏng đoán khoảng hơn 1 triệu người bỏ nước ra đi nhưng đến bến bờ tự do chỉ được non nửa. Những người đi sau không phải không biết những hiểm nguy của cái giá vượt biển, cứ hai người đi ra biển thì chỉ một người thành công. Thất bại là đồng nghĩa với cái chết vì bão tố, hải tặc, đói khát… thế mà họ vẫn lầm lũi cắm đầu đi sống đi chết ra biển. Băng qua lãnh thổ Miên đến đất Thái cũng đối đầu với những hiểm nguy chết người. Nào là bọn Miên đỏ khát máu, bọn Việt cộng điên cuồng thù hận, thú dữ trong rừng già, bọn thổ phỉ buôn người, đám buôn lậu có máu lạnh giết người không chùn tay. Có người đi ra biển không thành lại quay về đi bộ. Có người vượt biển thất bại đến khánh kiệt tài sản. Cả miền Nam lên cơn sốt bỏ nước. Tính đến đầu thập niên 90, non nửa triệu người đạt được ước nguyện.
Con số nửa triệu người may mắn sống sót, một lần nữa, lại may mắn được định cư ở các nước tư bản, có cơ hội ngắm nhìn bầu trời dân chủ, hít thở không khí tự do, và nhất là có cơ hội vươn lên từ hai bàn tay trắng. Sau hơn 30 năm, con số người Việt tỵ nạn sinh sôi nẩy nở đã lên đến vài triệu, ở rải rác khắp năm châu, thành công ở khá nhiều mặt trong xã hội, tạo của cải vật chất cho chính gia đình mình và đất nước nơi hai ba thế hệ Việt sinh sống thành từng cộng đồng với sinh hoạt khá khởi sắc.
Khi trong tay có chút tiền thì những người Việt hải ngoại chợt nghĩ đến chuyện “vinh qui về làng”. Vào đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, khi nhà nước cộng sản bắt đầu mở cửa, một số người Việt lưu vong trở về với mớ tiền trong tay. Thuở ấy trong nước ai ai cũng nghèo, kể cả bọn cán bộ. Thế là có màn vung tiền tiêu cho thỏa thích với trăm đô đổi ra tiền triệu, một giấc mơ của khá nhiều người nghèo khổ. Bên Mỹ không biết những người đó làm gì nhưng khi về nước họ tìm thấy được sự nể trọng (đồng tiền), tự ái họ được vuốt ve đến độ tận cùng. Từ đó, họ cố gắng làm lụng ký cóp cho được kha khá tiền và mỗi năm trở về nước ngồi bảnh chọe tiêu tiền trên sự đau khổ của rất nhiều kẻ khác. Cho đến năm nay, năm 2008, tuy sự nể trọng (cũng đồng tiền) đã bớt đi nhiều nhưng vật giá vẫn quá rẻ so với khi du lịch ở các nước khác nên số người về nước ngày mỗi đông hơn. Số người đổ xô về nước chưa hề giảm bao giờ.
Hơn 30 năm trước, chúng ta đánh đổi lấy mạng sống để ra đi cho bằng được thì không vì một lý do gì để có thể trở lại mảnh đất khốn khổ đó một cách quá dễ dàng. Mảnh đất dứt khoát bỏ lại sau lưng bằng chính mạng sống của mình, của vợ chồng con cái mình thì làm sao có thể trở về nhìn lại cái đám người đã chưởi rủa những kẻ ra đi – chính chúng ta – là bọn trộm cắp, đĩ điếm. Nếu dùng óc để suy nghĩ, nếu còn sĩ diện, cần phải tỏ thái độ khinh bỉ bọn nhà nước cộng sản đã hàm hồ kết tội chúng ta là thành phần cặn bã của xã hội bỏ nước ra đi. Xét cho cùng, cần trân trọng những người trở về để thăm cha mẹ già yếu, lo ma chay cho người thân, giúp đỡ những kẻ khốn cùng. Có những kẻ trở về với trái tim độ lượng, xót thương người, cố làm một cái gì nho nhỏ để xoa dịu nỗi đau khổ của đại đa số đồng bào. Về với trái tim nhân từ như thế thật đáng khuyến khích, thật đáng kính phục. Không bao giờ về với đầu óc của kẻ lợi dụng thời cơ, vui đùa hưởng thụ vật chất rẻ mạt, cười cợt trên thân xác bèo bọt của những cô gái quê mà quên đi cảnh chiếc thuyền nan lênh đênh trên biển khơi mấy mươi năm về trước.
Nghĩ là nghĩ thế nhưng thực tế tin tức cho thấy mỗi năm cả triệu người rầm rộ về thăm quê hương; chỉ riêng trong dịp Tết cả trăm nghìn “khúc ruột ngàn dặm” rộn ràng trở về quê ăn Tết. Thèm ăn Tết trên quê hương đến vậy sao? Cho dù Tết đã mất hẳn cái hương vị ngọt ngào của bầu sữa mẹ? Vương trong không khí của một buổi sáng đầu năm nghe có tiếng ai oán của đám dân oan, nghe có tiếng than khóc mỏi mòn của những người vợ thương nhớ chồng còn bị đày đọa trong các trại tù vì họ lên tiếng đòi hỏi một nền dân chủ của một nước Việt nam, nghe có tiếng kêu gào bi thiết của những nhà lãnh đạo tôn giáo đã lên tiếng bênh vực cho công lý. Một bầu khí Việt nam bị ô nhiễm độc tài, bị vẩn đục áp bức đến thế liệu chúng ta có thể thản nhiên trở về quê ăn Tết hay sao?
Bài thơ, “Ta Chẳng Về Chi” (không rõ tác giả là ai) diễn tả những suy nghĩ chín chắn của một người có trái tim tràn đầy yêu thương.

Bạn hỏi ta sao chẳng trở về
Về chơi nối lại mối tình quê
Theo bạn bên nhà giờ vui lắm
Tha hồ du hí, sướng hả hê!

Ta nghe bạn tả, dạ nao nao
Bao năm biệt xứ nhớ làm sao
Vẫn hằng mơ ước về quê cũ
Cho thỏa chờ mong tự thuở nào

Nhưng rồi nghĩ lại ta chẳng về
Xá gì một phút chốc đam mê!
Để rồi phải thấy bao ngang trái
Bao nỗi tang thương luống não nề

Bạn trách bao người đã hồi hương
Cứ ngồi tiếc nuối với vấn vương!
Ta đã ra đi trong hận tủi
Về chi gợi dĩ vãng đau thương

Bạn rủ ta về thăm phố phường
Thăm mái nhà xưa, những người thương
Nhà xưa bị chiếm còn đâu nữa
Người thương thời tản mác bốn phương

Bạn bảo quê hương giờ thanh bình
Danh lam, thắng cảnh thật đẹp xinh
Lòng ta còn đâu mà du ngoạn
Khi thấy bên đường cảnh điêu linh

Bạn giục tội gì không về chơi
Đất nước giờ đây đổi thay rồi
Ta thấy vẫn ngục tù, bắt bớ
Đàn áp không ai được hé môi

Bạn nói về đi ăn đã đời!
Sao ta có thể nuốt cho trôi
Khi thấy chung quanh bao đứa bé
Chẳng có miếng ăn, đứng chực chờ

Bạn kể ta nghe rất mê hồn!
Các em mơn mởn, hãy còn son
Ta thấy xót thương thân nhi nữ
Mới từng ấy tuổi phải bán trôn

Bạn khuyên lo sướng cho thân mình
Dại gì để ý chuyện linh tinh!
Ta chẳng thể nào câm nín được
Trước sự trái tai, cảnh bất bình

Bạn có thể vui thú nhởn nhơ?
Mặc ai rên xiết, cứ làm ngơ
Ta không nỡ sống trên đau khổ
Ôm mối hoài hương ở xứ người.

Lại còn vấn đề gửi tiền về giúp thân nhân. Gửi tiền giúp là do trái tim thúc đẩy nhưng giúp thế nào để có hiệu quả thì là công việc của lý trí. Từ năm 2000 đến nay, số tiền gửi về hàng năm cứ tăng mãi. Năm ngoái số tiền là 4 tỉ đôla, năm 2008 có lẽ cũng bằng hoặc hơn chứ không kém. Đây chỉ là con số gửi qua hệ thống ngân hàng Mỹ có chứng từ hẳn hòi, còn những nghìn dấu kỹ trong ruột tượng của các cụ già đem về cho con cháu thì không ai kiểm chứng được. Cứ tính đổ đồng mỗi người mang về nước chi tiêu khoảng $5000 đôla, với từng ấy người về hàng năm thì số tiền đổ khơi khơi vào nước phải thêm vài tỷ bạc nữa. Như thế số tiền rót về nước (cho không) giá chót phải 6, 7 tỷ bạc mỗi năm.
Số tiền gửi về dưới nhiều hình thức khác nhau như gửi giúp các nạn nhân thiên tai, gửi về giúp thân nhân có vốn làm ăn, hoặc giúp chỉ để nuôi sống từng ấy miệng ăn, mỗi ngày… Tính ra hàng tỉ đôla là công khó của biết bao nhiêu người Việt ở hải ngoại, sẵn sàng hy sinh một chuyến du lịch hàng năm của gia đình, hoặc chấp nhận giảm bớt những chi tiêu để có đủ tiền gửi giúp thân nhân. Từng ấy tỷ bạc thân nhân tung vào thị trường để mua sắm, để ăn chơi, để khoe khoang kiêu hãnh, nhưng cũng giúp nhiều gia đình chỉ vừa đủ sống và sinh hoạt hàng ngày trong một xã hội mà sự lạm phát leo thang theo nhịp độ hàng tháng. Đúng ra tiền tệ trong lưu thông bỗng nhảy vọt lên con số tỷ mà không cần trữ kim bảo chứng như thế cũng tạo ra công ăn việc làm nhất thời cho đám dân nghèo khổ. Những công việc làm hoàn toàn mang tính chất tiêu dùng, chứ chưa hề dùng tiền tạo ra những cơ sở sản xuất mang lại lợi nhuận về lâu về dài trong tương lai.
Có nhiều lý lẽ biện minh cho việc gửi tiền. Lý lẽ được rất nhiều người ủng hộ là thân nhân cần được giúp đỡ trong một xã hội quá bần cùng. Họ quan niệm rất đơn thuần rằng nếu ngưng gửi tiền, chẳng biết bọn chóp bu cộng sản có chết không nhưng thân nhân của họ chắc chắn sẽ chết trước hết. Suy nghĩ này quả thật không sai thực tế bao nhiêu. Nhưng nếu thị trường tiêu dùng thiếu hẳn 4 tỷ trong 1 năm, chắc chắn công ăn việc làm sẽ giảm thiểu đi rất nhiều, những thân nhân sẽ sống dở chết dở nhưng sẽ tạo một áp lực lớn lao trên chính quyền cộng sản. Người dân đói quá đành phải làm liều. Xã hội sẽ hỗn loạn. Công an có bắt giữ được cả trăm hoặc cả nghìn nhưng nếu cả triệu người liều mình thì chính quyền cộng sản chẳng thể nào đàn áp nổi. Nhà tù nào chứa cho nổi khi vài chục triệu người sẵn sàng chết để kiếm cái ăn cho gia đình. Chính bao tử sẽ thôi thúc con người đến trở thành thú vật. Đây chẳng phải là bài học mà bọn việt cộng đã áp dụng triệt để trong mấy mươi năm cai trị nhân dân miền Bắc và cả trong các trại tù sao? Từng ấy nhân dân quá đói khổ nổi loạn thì cái chỗ ngồi của bọn Bắc bộ phủ cũng phải lung lay.
Biết rõ như thế nhưng không một ai dám làm, hoặc không nỡ nhẫn tâm đẩy những người thân đến một hoàn cảnh cùng cực, nơi mà ranh giới của lý trí và thú tính chỉ mong manh như sợi tơ. Nếu đổi ngược lại hoàn cảnh, nghĩa là nếu những kẻ cộng sản ở hải ngoại gửi 4 tỉ mỗi năm về nước để cứu đói và họ biết rõ rằng nếu không có 4 tỉ này thì xã hội sẽ hỗn loạn, chế độ sẽ sụp đổ thì chắc chắn họ đã thực hành từ lâu rồi. Đây là sự khác biệt lớn lao giữa người quốc gia và người cộng sản. Sự dị biệt đó là trái tim. Những trái tim còn máu đỏ luân lưu trong thân xác của sinh vật có tên gọi là người. Chính con tim đã thổn thức khi thấy đồng bào trong nước lâm vào cảnh thiên tai. Chính con tim đã tha thiết khi thấy những đứa trẻ mồ côi, khuyết tật lăn lóc trên hè phố kiếm ăn. Và cũng chính con tim đã thôi thúc những người Việt hải ngoại gửi tiền về giúp những người thân nghèo khổ. Mặc dù họ biết rằng chính số tiền này đã phần nào giúp chế độ đứng vững đến ngày hôm nay.
Đã đến lúc lý trí cần phải xen vào hành động của con tim. Gửi vừa phải và gửi đúng lúc là cách hay nhất để giảm thiểu những số tiền thặng dư không cần thiết. Nên gửi để tạo công ăn việc làm hơn là gửi để giúp miếng ăn từng bữa. Giúp cần câu hơn là biếu con cá. Mỗi khi có thiên tai, làm thế nào để số tiền cứu đói phải đến thẳng tay các nạn nhân, không thể qua tay bọn cán bộ ở xã, ấp, huyện, hoặc phường. Phải hạn chế tối đa tiền của lọt vào tay những kẻ không tim này. Biết cách gửi, và biết gửi qua người nào. Các bậc tu hành, những sơ, những ni cô, các linh mục, thượng tọa (tuyệt đối không phải là bọn quốc doanh) là những người xứng đáng chọn mặt gửi vàng. Trở về thăm quê hương đọa đày khi thật sự cần thiết. Nên hạn chế tối đa những chuyến du hí vung tiền mua vui trên những thân xác bọt bèo. Nên tự chế để cái xã hội quá bấp bênh về đạo lý bớt bị bấp bênh. Nếu không làm cho nó tốt hơn thì cũng đừng nhẫn tâm làm cho nó tồi tệ thêm.
Xem ra, trái tim và trí óc cần song hành. Hành động xuất phát do trái tim thôi thúc, và hành động dẫn đến một kết quả tốt đẹp lại luôn cần có lý trí hướng dẫn.

SƠN NGHỊ

CHỦ NGHĨA BÀNH TRƯỚNG BẮC KINH

sonnghi

Lời nói đầu: Muốn hiểu rõ bản chất của CHỦ NGHĨA BÀNH TRƯỚNG BẮC KINH, chúng ta cần thấu triệt bộ mặt thật của cái chế độ phi nhân tại Trung Quốc (TQ) hiện nay. Chia sẻ sau đây khá dài, nhưng xin quý vị bỏ chút thì giờ đọc để hiểu rõ hơn tình hình sôi bỏng hiện nay tại biển Đông.

Thế vận hội tại Luân đôn lần thứ XXX đã kết thúc. Trung quốc (TQ) đoạt được 88 huy chương, gồm 38 Vàng, 27 Bạc, và 23 Đồng. Trong suốt 4 năm khổ luyện, các lực sĩ của 204 quốc gia thi thố tài năng tại Thế Vận hội Luân-đôn. Cao điểm của cuộc tranh tài đã đi đến hồi kết cuộc, qua đó sự thành công của các lực sĩ đoạt giải sẽ là niềm hãnh diện của riêng mình và sau nữa cho chính quốc gia họ.

Bất cứ vinh quang nào cũng đều có giá riêng của nó. Huy chương vàng là vinh quang cao quý nhất tại Thế Vận Hội (TVH), nhưng cái giá phải trả của các lực sĩ Tàu có xứng đáng không? Hơn nữa, mục đích khi tranh tài nói lên tinh thần thượng võ nhằm tạo sự hài hòa thông cảm giữa các nước với nhau. Dùng thể thao để thăng tiến ngoại giao, cũng như phát triển sự giao hảo giữa các quốc gia. Vì vậy, thắng không thua, bại không nản. Đó mới là tinh thần cao quý nhất trong các cuộc tranh tài tại TVH.

Các lực sĩ trước khi chuẩn bị tranh tài đều theo một thời khóa biểu khắc nghiệt, một sự luyện tập ráo riết, nhưng bên cạnh họ vẫn theo đuổi một đời sống riêng cho mình, cho gia đình. Các lực sĩ Tàu khi được tuyển chọn, họ thuộc về “tài sản” quốc gia, không còn biết đến gia đình, chẳng có một cuộc sống bình thường như bao nhiêu người khác. Những gia đình có con cái được nhà nước tuyển chọn, chắc chắn họ không có quyền từ chối, mà phải chấp nhận hiến con. Chỉ có một điều an ủi là miếng cơm manh áo khỏi phải lo, đã có nhà nước lo. Nhưng xem như mất con. Nếu những cha mẹ này có sự lựa chọn, chưa chắc họ chấp nhận giao con cho nhà nước. Ngoài ra, đa số đời sống nông dân đều khổ nên thoát được được nào mừng đứa nấy. Vì thế hàng năm có đến chục ngàn em bé được tuyển chọn để bước vào một chương trình luyện tập gian khổ, quá gian khổ, mất hết tuổi thơ.

Wu Minxia (1a, 1b, & 1c), một lực sĩ trẻ thuộc bộ môn phóng xuống nước, sau khi đoạt huy chương vàng mới được tin cả hai ông bà nội vừa qua đời, đồng thời mẹ của cô đang chống chỏi với căn bệnh ung thư. Trong suốt thời gian luyện tập và tranh tài, cô không hề biết những tin tức đau buồn này. Theo ký giả Jordan Rabinowitz, cha mẹ quyết định dấu tin buồn để cô an tâm luyện tập và tranh tài. Cha mẹ cô dấu hay nhà nước bắt buộc cha mẹ phải dấu? Chắc chắn phải có sự can thiệp của chính quyền cộng sản. Như trên đã trình bày, cha mẹ hoàn toàn không có một quyền hành gì vì đứa con đã thuộc về “tài sản” của nhà nước. Người cha, ông Wu Yuming nhìn nhận, đứa con gái Minxia không hoàn toàn thuộc về gia đình, và cả hai vợ chồng không hề dám nghĩ đến chuyện hưởng mái ấm gia đình với đứa con, (nguyên văn: He also confessed that his daughter doesn’t really belong entirely to him and his wife, and that they don’t even dare think about things like “enjoying family happiness”). May mắn cho Minxia vì cô đoạt huy chương vàng, còn những lực sĩ khác đoạt huy chương bạc và đồng thì cơ quan thông tấn của nhà nước không hề đếm xỉa hay chúc mừng một lời nào. (China’s state news agency isn’t even congratulating silver or bronze medal winners, only those who earn gold). Phải là vàng kia. Phải là đứng đầu trên thiên hạ kia mới được. Sự háo thắng của tộc Hán bệnh hoạn đến độ không thể hiểu nổi.

Tính nhân bản ở đâu? Một đứa trẻ bị cắt đứt sự liên hệ với gia đình, không còn những vui chơi ở tuổi thơ với bạn bè để đi vào một thời gian luyện tập khắc nghiệt. Wu Minxia được dùng như một công cụ để phô trương sự “vĩ đại” của đảng cộng sản Tàu. Khi con người bị dùng như một món đồ vật, nhân phẩm đã bị chà đạp một cách dã man. Wu Minxia không phải là một trường hợp cá biệt nhưng nó xảy ra nhan nhản một cách có hệ thống trên toàn bộ nước Tàu.

Câu hỏi đặt ra là tại sao nhà nước Tàu lại phải phô trương khí thế tại thao trường quốc tế một cách tuyệt đối như thế, mà không hề màng đến giá trị con người. Thưa họ dùng con người để đánh bóng chế độ nhằm thỏa mãn tham vọng của CHỦ NGHĨA DÂN TỘC CỰC ĐOAN.

Muốn hiểu rõ cái chủ nghĩa này được hình thành như thế nào, chúng ta cần lần lượt giở lại trang sử của Tàu. Trước hết hãy bàn về thời điểm sau khi Đặng Tiểu Bình (ĐTB) công du từ Mỹ về. Ông chủ tịch ngỡ ngàng khi thấy cả một nước Mỹ hùng mạnh, tiêu biểu cho chế độ tư bản mà theo niềm tin cộng sản xã hội này đang dãy chết. Về nước, ĐTB cương quyết loại bỏ cách xây dựng XHCN kế thừa của Mao mà biến đổi thành một chế độ nửa nạc nửa mỡ, lập lờ đánh lận con đen giữa tư bản và cộng sản và được nhà nước Tàu gọi là Định Hướng XHCN, qua câu nói kinh điển: không cần biết mèo đen hay mèo trắng, miễn là bắt được chuột. Từ đó, đảng viên tha hồ làm giàu miễn là làm thế nào để áp đặt được cái đảng cộng sản lên đầu dân chúng. Khi bật đèn xanh cho các đảng viên làm giàu, vô tình họ đã phỉ nhổ vào mặt 2 ông Mác-Lênin, khi chủ trương của chế độ cộng sản là vô sản (không có tài sản riêng). Hiện nay chỉ còn nước Bắc Hàn và Cuba là theo đúng khuôn mẫu của chế độ cộng sản mà thôi.

Nhờ thức thời thay đổi và trộn lẫn lý thuyết thành một nồi tả-pí-lù chủ nghĩa, TQ đã nhanh chóng trở thành một cường quốc tại vùng Đông-nam-á. Từ đầu thế kỷ 21 đến nay, tổng sản lượng quốc gia của TQ (GNP, Gross National Product) tăng đến độ chóng mặt, từ 2.95 nghìn tỉ (trillion) đến 11.3 nghìn tỉ; tăng 283% trong vòng 11 năm (từ 2000 đến 2011) (2). Thường thì GNP trung bình tăng 3% là điều hết sức mong đợi của một quốc gia tiên tiến. Riêng TQ chỉ trong vòng 11 năm, GNP của TQ tăng gần gấp 3 lần. Khi quốc gia giàu đột biến theo biểu đồ của parabola, tính dân tộc độc tôn nổi dậy. Như một anh nhà quê đột nhiên giàu xổi, máu Hán tộc trong người lại có dịp vùng lên dữ dội hơn bao giờ.

Giống Hán chỉ là một trong 5 sắc tộc tạo nên TQ, gồm có Hán, Mãn, Tạng, Mông, và Hồi, trong đó tộc Hán đông hơn cả. Lịch sử nước Tàu bị các rợ Hung nô hoặc các sắc dân chung quanh chiếm đóng toàn thể bờ cõi. Một thời Thành Cát Tư Hãn làm mưa làm gió chiếm lĩnh Trung nguyên (1279 AD), tộc Hán bị xem là thứ yếu. Quân Mông cai trị cả nước Tàu và lãnh thổ trải dài mãi đến tận Ba-tư (Iraq). Vó ngựa quân Mông cổ đi đến đâu, cỏ không thể mọc đến đấy. Thế mà quân Nguyên bị vua Trần Thánh Tông và Đức Trần Hưng Đạo đánh bại 3 lần, năm 1258, 1285, và 1288. Gần đây nhất, Tàu bị sắc dân Mãn Châu cai trị trong suốt gần 3 thế kỷ và chỉ chấm dứt sau cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) do Tôn dật Tiên khởi xướng. Thời gian này, người Hán bị bắt buộc phải cạo đầu và thắt đuôi sam như người Mãn. Quân nhà Thanh bành trướng đến tận Mông cổ, Tây tạng, Tân cương, và một phần nước Nga nhưng đám quân này, một lần nữa vẫn bị thua không còn manh giáp tại Hà hồi, Ngọc hồi bởi đạo quân đầy quyết tâm của vua Quang Trung Nguyễn Huệ, khởi quân từ đất Phú Phong (Bình định). Như thế, trong suốt mấy nghìn năm TQ khi thì bị chia năm xẻ bảy, khi thì bị các nước chư hầu cai trị, và tộc Hán chỉ mới được khôi phục gần đây, sau cuộc cách mạng tháng Mười do Mao cầm đầu (1949), mở ra một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử TQ, khi đảng cộng sản nắm quyền lực tuyệt đối.

Dân Tàu luôn hãnh diện về hai người: đó là Tần Thủy Hoàng và Mao trạch Đông. Hai người này áp dụng một lối cai trị sắt máu, giết không biết bao nhiêu là dân chúng. Khi vua Tần (221 BC) lên nắm quyền ra lệnh giết hết các nho sĩ, học trò, và đốt sách. Suốt thời gian Mao nắm quyền (1949-1976), người ta ước đoán có khoảng 65 triệu người dân bị giết, nhất là qua hai cuộc cách mạng Đại Nhảy vọt (1958) khiến khoảng 20 triệu người bị chết đói, và cuộc cách mạng Văn hóa đẫm máu nổ ra năm 1966 nhằm củng cố quyền lực của Mao (xem The Blackbook of Communism) (3a & 3b). Ngoài giết người như ngoé để duy trì địa vị độc tôn của đảng cộng sản, Mao còn hoang dâm vô độ. Theo cuốn sách “The Private Life of Chairman Mao” của bác sĩ Lý chí Thỏa (Li Zhisui) (4) thì Mao hằng đêm lên giường với 2, 3 cô gái trẻ. Có thơ rằng:

Bác Mao cân nặng tạ hai
Thịt ùn lên mặt, mặt hai ba cằm
Người dân Trung Quốc thì thầm
Nó là Đổng Trác nhưng dâm hơn nhiều
Nguyễn chí Thiện

Một ông vua và một ông chủ tịch giết người lạnh lùng và hoang dâm đến vậy nhưng dân Tàu vẫn luôn sùng bái. Tại sao vậy? thưa vì nhờ hai ông này mà nước Tàu thống nhất một cõi sơn hà, đưa tộc Hán lên hàng đầu trên các sắc dân.

Lá cờ của Tàu có hình 5 ngôi sao. Ngôi sao to nhất tượng trưng cho tộc Hán, còn lại là các sắc tộc Mãn, Mông, Tạng, và Hồi. Từ khi cộng sản nắm chính quyền, tộc Hán mới trở thành công dân hạng nhất. Và cho đến gần đây khi nền kinh tế tăng triển không ngừng nâng Tàu lên thành một trong những cường quốc thì niềm hãnh diện của tộc Hán lại bừng bừng khí thế hơn bao giờ.

Lòng kiêu hãnh về dân tộc thái quá này bắt đầu từ cái tên gọi. Trung hoa, chữ “trung” có nghĩa là ở giữa, và mặc nhiên xem các nước láng giềng là chư hầu, như VN, Lào, Miên, Miến, Thái, Mã, Nam dương… Lịch sử VN cũng nói rõ hằng năm triều đình ta đều phải đi cống Tàu, gồm vàng, bạc, ngà voi, và những thứ hiếm quý khác. Ngay cả lúc thắng giặc Tàu, VN cũng phải đi cống để giảng hòa. Duy chỉ có một lần, VN vẫn phải đi cống sau khi thắng trận nhưng không phải với thân phận của nước chư hầu nhưng với lòng kiêu hãnh của một nước VN tự chủ. Đó là thời vua Quang Trung Nguyễn Huệ. Không những được vua Càn Long nhượng bộ bằng cách gả công chúa cho mà Nguyễn Huệ còn ngang nhiên đòi hai bang Quảng Đông và Quảng Tây nữa. Triều đình Tàu lúc đó gần như đã chấp nhận thì vua Quang Trung ngã bệnh và mất. Nếu Nguyễn Huệ sống thêm vài năm nữa thì bờ cõi nước VN bây giờ chẳng phải là Ải Nam quan mà trải dài xa lắc xa lơ bên kia biên giới Tàu.

Một đồng nghiệp của tôi người Tàu có lần nói rằng môn lịch sử dạy ở các trường học Đài loan đều cổ võ một tư tưởng nước Trung hoa là một nước lớn, nằm ở giữa và các nước chung quanh chỉ là thứ yếu. Ở một nước dân chủ như Đài loan mà học sinh Tàu còn bị nhồi nhét tư tưởng về chủng tộc độc tôn đến vậy thì huống gì ở lục địa Tàu, một nước cộng sản. Lòng tự hào về dòng giống Hán lại càng tăng cao khi nước Tàu trở thành cường quốc. (Bởi vậy tôi đề nghị đừng gọi là Trung hoa hay Trung quốc nữa, mà cứ gọi thẳng thừng là Tàu. Không gì chúng ta phải công nhận chúng là trung tâm của châu Á.)

Nhà nước Tàu dùng các phương tiện truyền thông để cấy vào đầu dân chúng Tàu rằng VN ngang ngược, tiểu nhân, ăn cháo đá bát (xung đột năm 1979), lấn biển và chiếm đất của Trung quốc. Vì thế tinh thần Hán tộc hung hăng của người dân Tàu dâng cao ngùn ngụt và luôn kêu gào xua quân dạy cho VN thêm một bài học nữa, phải đánh dập đầu mấy thằng An-nam chứ họ đâu ngờ rằng thực tế hoàn toàn ngược lại, đảng CSVN sẵn sàng dâng hiến bờ cõi cho Tàu, chuyển dần VN thành một quận thuộc Trung hoa, và cam tâm làm thái thú, miễn là họ vẫn ngồi tại Bắc bộ phủ.

Thật sự, lòng yêu tổ quốc, yêu giống nòi chẳng có gì là xấu nếu không nói là cần dạy dỗ cho con cháu từ lúc còn nhỏ, cần cổ võ trong xã hội một tinh thần tự trọng, biết tự ái dân tộc. Nhưng khi dạy dỗ về lòng yêu nước cho người dân không có nghĩa là dạy luôn cho chúng phải khinh thường các nước láng giềng. Hãy xem nước Nhật, tinh thần dân tộc họ cao lắm. Họ biết tự trọng, biết xấu hổ khi làm một điều gì hại đến thanh danh quốc gia. Tinh thần võ sĩ đạo một thời sẵn sàng mổ bụng (harakiri) chết chứ không chịu nhục. Đã có lúc dân Nhật quá đề cao chủ nghĩa dân tộc, và hậu quả là đưa đến Thế chiến II, để biết bao sinh mạng phải tiêu vong. Nhưng từ sau Thế chiến II đến nay, họ xây dựng một nước Nhật phú cường trên quan điểm bình đẳng về ngoại giao, tôn trọng công pháp quốc tế. Thời bây giờ không còn cái thời các đế quốc đem quân đi đô hộ, ngang nhiên chiếm đóng các nước và bòn rút tài nguyên đem về mẫu quốc như vào thời thế kỷ 18, 19 nữa.

Chủ nghĩa dân tộc cực đoan đã được tuyên truyền rộng rãi trong mọi tầng lớp của người dân Tàu, kích thích lòng yêu tộc Hán một cách mù quáng bất chấp luật lệ quốc tế hiện hành (5). Nhà nước cộng sản Tàu đã cố tình bóp méo sự thật để gây ra một tình trạng bất ổn hiện nay ở biển Đông. Và từ chủ nghĩa này đẻ ra một thứ quái thai khác, đó là chủ nghĩa bành trướng Bắc kinh.

Trước hết, cần điểm lại các loại chủ nghĩa để đưa đến chủ nghĩa bành trướng hiện nay.

1. Chủ nghĩa địa phương (Chauvinism): Khái niệm Chauvinism (vc dịch là chủ nghĩa địa phương, đúng ra là chủ nghĩa độc tôn) bắt nguồn từ thời Napoleon. Anh lính Tây Nicholas Chauvin yêu nước đến độ xem dân tộc Pháp là dân tộc vô song, thập toàn, tuyệt đối trên hết mọi dân tộc khác. Đây là một lối kỳ thị chủng tộc, xem các dân tộc khác là thứ yếu và chỉ có dân tộc mình mới hay nhất, giỏi nhất.

2. Chủ nghĩa Phát-xít (Fascism): (6a & 6b) chủ nghĩa này xem một chủng tộc là thượng đẳng. Vì chỉ có một chủng tộc đáng sống nên tất cả những dòng giống khác cần phải hy sinh (loại bỏ, giết chết). Hitler chủ trương chủng tộc Aryan (Đức) là dòng giống thuần chủng, tuyệt luân. Những chủng tộc khác có quá nhiều khiếm khuyết như tật nguyền, ốm yếu về thể lực, trí óc kém minh mẫn đều cần phải loại trừ. Đã có thời gian Hitler tuyển chọn những người đàn bà Đức thuần chủng nhằm phát triển giống Aryan. Họ được bồi bổ, mang thai và chỉ nằm đẻ. Mộng của Hitler là làm lại một thế giới chỉ có một giống dân Aryan duy nhất. Vì vậy hắn tận diệt tất cả mọi sắc dân khác, tiêu biểu nhất là dân Do thái vì giống dân thiểu số (minority) không thuộc Aryan này đông nhất tại nước Đức vào lúc Hitler nắm quyền. Chủ nghĩa này trọng nhân mạng của người dân nước họ nhưng lại tàn ác không nương tay với dân các nước khác.

3. Chủ nghĩa Cộng sản (Communism): (7a & 7b) về chính sách và chiến lược thì phát-xít và cộng sản là hai anh em ruột. Hai chủ nghĩa này chủ trương dùng bạo lực để trấn áp, bắt bớ, tù đày, tra tấn, và giết chết để giữ vững uy quyền tối thượng của đảng. Tuy dùng một chính sách bạo lực nhưng Phát-xít lại thù ghét cộng sản và ngược lại, cứ như hai anh em cùng cha khác mẹ tranh giành của cải. Năm 1991, khi thành trì cách mạng ở Nga sụp đổ kéo theo biết bao là thần tượng được tôn sùng một thời gian dài kể cả Lênin, Stalin, Erich Honecker (Đông Đức), Nicolae Ceausescu (Romania). Chỉ riêng Castro (Cuba), Kim Il-sung (Hàn), Mao (Tàu), Hồ chí Minh (VN) là vẫn còn được tôn sùng mặc dù đại đa số quần chúng không thiết tha gì với chủ nghĩa này nữa. Những trang hồ sơ mật được vén lên dần dần từ thư khố của Nga và các nước từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, và bộ mặt của những lãnh tụ này lộ nguyên hình là những con người đầy đủ thất tình và lục dục như mọi con người bình thường khác. Sự giống nhau của hai chủ nghĩa này là sự sắt máu, giết người không gớm tay đến độ ghê tởm. Sự khác biệt giữa hai chủ nghĩa này là phát-xít chủ trương tiêu diệt những chủng tộc khác ngoài chủng tộc Aryan, còn cộng sản chủ trương giết bằng hết dân của chính mình, và cổ võ những nước khác giết dân của họ bằng câu nói, “Vô sản các nước, đoàn kết lại!”. Cánh đồng chết (the Killing Fields) ở Kampuchea là chứng nhân của một sự sa đọa về lương tâm con người khi thế giới gần như ngoảnh mặt trước sinh mạng của gần 1.5 triệu người Khmer chết tức tưởi và đau đớn bởi Polpot, một người Khmer cộng sản, chỉ trong vòng 3 năm (1975-1978).

Trong khi Phát-xít chủ trương tiêu diệt những chủng tộc phi-Aryan thì cộng sản lại chủ trương tiêu diệt giai cấp. Họ có thể hy sinh (giết) một vài thế hệ để xã hội bắt đầu toàn những người cộng sản. Bởi vậy giai cấp tư hữu không bao giờ có đất sống trong chế độ cộng sản nhưng phải bị tiêu diệt đến tận cùng. Sự thật thế nào? Với khẩu hiệu mới “Định hướng XHCN” của Tàu (VN rập khuôn mô hình Tàu), cộng sản vẫn chủ trương loại bỏ một giai cấp nhưng lại thành lập một giai cấp mới với bản chất giống in hệt giai cấp cũ, nghĩa là ăn trên ngồi trốc, hưởng thụ và sa đọa. Ở nhiều mặt, giai cấp này còn sa đọa và tàn bạo gấp nghìn lần giai cấp mà họ đã tiêu diệt. Như thế, cấu trúc trong xã hội tuy thay đổi nhưng hình thái kinh tế giống nhau, và hậu quả là gây ra mức độ bất công ngày càng tăng cao.

4. Chủ nghĩa Bành trướng (Expansionism): chủ nghĩa bành trướng đã bắt đầu từ thế kỷ thứ 19, khi các đế quốc Pháp, Anh, Tây ban nha, Bồ đào nha…v..v. tìm cách phát triển thị trường. Vào thế kỷ trước đó chủ nghĩa tư bản mới chập chững lớn lên. Sản phẩm vật chất được tạo ra để đáp ứng sự tiêu dùng của người dân ngày càng tăng. Chính sự sản xuất ồ ạt không có hệ thống khoa học tạo ra những của cải thặng dư nên những đế quốc phải tìm thị trường để tiêu thụ. Và cũng chính sự sản xuất không kế hoạch này tạo nên cơn khát về nguyên liệu và nhiên liệu. Nguồn tài nguyên thiên nhiên ở trong nước có giới hạn nên bắt buộc các đế quốc phải đi tìm ở các nước nhược tiểu khác. Từ đó đưa đến sự đô hộ của mẫu quốc ở tại các nước nhỏ bé này. Chủ nghĩa thực dân dựng lên ở nước VN là để bảo đảm cho nguồn tài nguyên dồi dào chảy liên tục về đế quốc Pháp. Khi nền kinh tế lớn mạnh không ngừng thì sự bành trướng thế lực đến các nước nhược tiểu xung quanh ngày càng trở nên cần thiết, và đôi lúc phải dùng đến vũ lực. Hay nói khác đi, chiến tranh cần xảy ra để giải quyết nạn đói nguyên liệu.

Tính đổ đồng mỗi người ăn một bát cơm, nhà nước Tàu phải lo đến hơn 1.3 tỉ bát cơm mỗi ngày. Lo từng ấy miệng ăn không dễ dàng gì. Đồng ruộng cả nước dần dần bị đô thị hóa một cách vô trật tự, không quy hoạch hợp lý, gây đến tình trạng lãng phí người và của không thể lường được. Lấy làng Thế vận hội 2008 làm ví dụ. Cả một công trình nhà nước ra sức xây nguy nga đồ sộ để phô trương sức mạnh của tộc Hán, tổn phí lên đến 44 tỉ USD (8), và bây giờ các công trình này đều bỏ hoang không sử dụng, mất hết nguồn lợi kinh tế (9a & 9b). Thế giới bên ngoài cảm phục khi nhìn vào nền kinh tế Tàu phát triển bằng 2 con số phần trăm (double-digit) hàng năm. Nhưng chính sự tăng trưởng (xổi) vượt bực này đã dẫn đến sự khan hiếm nguồn tài nguyên khiến Tàu phải gia tăng ảnh hưởng đến các vùng chung quanh, đặc biệt tại VN và Lào (10a & 10b). Quặng bôxít được nhà nước cộng sản VN cho khai thác bất chấp sự chống đối của các nhân sĩ và trí thức trong nước là một ví dụ điển hình. Và còn biết bao nhiêu công trình khác, các đảng viên cộng sản chóp bu VN được đút lót để mặc Tàu ra sức bòn rút mạch sống của rừng và biển cho đến kiệt quệ. Một khi đã bị cạn kiệt, thiên nhiên không thể nào khôi phục được, chưa kể hậu quả của chất thải sẽ gây tai hại trầm trọng cho môi trường. Từ đó bệnh tật sẽ lan tràn. Dân chúng trở thành một gánh nặng y tế cho nhà nước. Chưa kể đến lúc tổ quốc lâm nguy, trong nước chỉ còn người bệnh và tàn tật, thì lấy đâu ra sức mạnh để bảo vệ tổ quốc sơn hà.

Trong lịch sử nhân loại, các chủ nghĩa được đề ra với mục đích tìm một giải pháp đem đến sự ấm no và hạnh phúc cho người dân. Có chủ nghĩa thành công, có chủ nghĩa thất bại, có chủ nghĩa bị nhân loại lên án và ghê tởm. Hiện nay, chủ nghĩa bành trướng Bắc kinh là một loại chủ nghĩa dị hợm nhất, một quái thai trong thiên niên kỷ thứ ba. Loại chủ nghĩa này là tổng hợp tất cả những chủ nghĩa đã lỗi thời, bệ rạc, rã rời, nhão nhoét như một con điếm về già ngồi bên lề đường phấn son lòe loẹt cố núi kéo mời khách. Nhân loại đã từng khinh bỉ chủ nghĩa địa phương ngô nghê, phỉ nhổ chủ nghĩa phát-xít tàn ác, ghê tởm chủ nghĩa cộng sản vô luân, lên án chủ nghĩa bành trướng bất nhân thì hiện nay con người ở thế kỷ 21 là nhân chứng cho chủ nghĩa bành trướng Bắc kinh, một loại chủ nghĩa tổng hợp tất cả tính chất hèn hạ của địa phương, phát-xít, cộng sản, và dân tộc cực đoan gộp lại.

Hãy điểm rõ mặt bọn bành trướng Bắc kinh!
Hãy bảo vệ sơn hà xã tắc!
Hãy giữ vững tổ quốc khi lâm nguy!
Hãy đứng lên biểu lộ hào khí Việt nam! Hỡi các bạn thanh niên trong và ngoài nước.

Tham khảo:
(1a) Poor Wu Minxia, http://www.sportsgrid.com/media/in-china-your-family-doesnt-tell-you-grandma-and-grandpa-died-because-it-might-stop-you-from-winning-gold/
(1b)Are Tough Training Regimes Right for Kids?, http://shine.yahoo.com/dailyshot/daily-shot-parenting-friday-193500724.html
(1c) China’s World Domination, http://www.dailymail.co.uk/sport/olympics/article-2181807/London-2012-Olympics-Chinese-long-march-world-domination.html
(2) GNP = Gross National Income, Tổng Sản Lượng của Tàu, http://www.google.com/publicdata/explore?ds=d5bncppjof8f9_&met_y=ny_gnp_mktp_pp_cd&idim=country:CHN&dl=en&hl=en&q=gnp+of+china#!ctype=l&strail=false&bcs=d&nselm=h&met_y=ny_gnp_mktp_pp_cd&scale_y=lin&ind_y=false&rdim=region&idim=country:CHN&ifdim=region&hl=en_US&dl=en&ind=false
(3a) The Blackbook of Communism, http://en.wikipedia.org/wiki/The_Black_Book_of_Communism
(3b) Communist Crimes, http://www.communistcrimes.org/en/Database
(4) The Private Life of Chairman Mao, http://en.wikipedia.org/wiki/The_Private_Life_of_Chairman_Mao
(5) Biên Tập viên Tân Hoa xã phản đối…, http://zhoufang.blshe.com/blog.php
(6a) Fascism, http://econlib.org/library/Enc/Fascism.html
(6b) Fourteen Defining Characteristics Of Fascism, http://rense.com/general37/char.htm
(7a) The Principle of Communism, http://www.marxists.org/archive/marx/works/1847/11/prin-com.htm
(7b) How Communism Works?, http://history.howstuffworks.com/cold-war/communism.htm
(8) Cost of Olympics 2008, http://english.pravda.ru/sports/games/06-08-2008/106003-beijing_olympics-0/
(9a) Abandoned Olympic Cathedrals, http://www.businessweek.com/videos/2012-07-27/then-and-now-the-ghost-of-beijings-olympic-glory
(9b) Beijing Olympics After Four Years Hosting, http://www.theblaze.com/stories/decrepit-four-years-after-hosting-the-beijing-olympics-this-is-what-chinas-40b-investment-looks-like/
(10a) Chinese expansionism, http://atimes.com/atimes/Southeast_Asia/LL23Ae01.html
(10b) Muddy Waters, http://www.nytimes.com/2012/04/25/opinion/the-philippines-china-and-the-us-meet-at-sea.html

SƠN NGHỊ

NHỮNG TẤM HÌNH BIẾT NÓI – NHỮNG TẤM HÌNH CÂM

sonnghi

World Press Photo (WPP) có trụ sở chính đặt tại Armterdam (Hoà-lan) là một tổ chức vô vụ lợi. Hàng năm, WPP đều tuyển chọn một tấm hình biểu hiện sắc thái đặc biệt của năm đó. Hàng chục nghìn tấm hình được gửi đến trung tâm của WPP từ khắp nơi trên thế giới của nhà báo, nhiếp ảnh gia, phóng viên, cơ quan báo chí, tạp chí…v..v. Cuộc thi hàng năm diễn ra bắt đầu từ tháng 10 và kéo dài mãi đến giữa tháng Giêng năm sau là thời gian nhận hình ảnh. Cuộc tuyển chọn bắt đầu từ đầu tháng 2 và công bố kết quả sau đó một tuần. Ban giám khảo gồm có 13 chủ bút hình ảnh, nhà nhiếp ảnh và đại diện các cơ quan truyền thông báo chí từ khắp nơi trên thế giới với kiến thức dị biệt. Với ban giám khảo có một kinh nghiệm sâu rộng, nhận thức đa dạng, và sự tương phản về quan điểm như thế nên cuộc tuyển chọn thật sôi nổi, hào hứng và nhiều cam go.

Hình được tuyển chọn qua 10 thể loại gồm các giải nhất, nhì và ba, cọng thêm 3 giải cốt truyện cho từng thể loại. Cuối cùng, trong hơn 60 tấm hình trúng giải, ban giám khảo chọn ra một tấm hình duy nhất với danh hiệu: Hình Toàn Năm của Tổ chức Hình Ảnh Báo Chí Thế Giới (the World Press Photo of the Year). Tấm hình này không những nói lên nét đặc thù của một biến cố quan trọng trong năm, đồng thời biểu hiện nét đẹp hào hùng của ngành nhiếp ảnh báo chí, và phô trương cung cách nổi bật của quan điểm và sáng tạo.

Năm nay những tấm hình trúng giải được chọn lựa từ 83.044 tấm hình của 4.448 nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp từ 122 nước trên thế giới. Danh sách trúng giải gồm 63 nhiếp ảnh gia của 25 nước, gồm có: Argentina, Australia, Bangladesh, Canada, Chile, Colombia, Czech Republic, Denmark, France, Greece, Hungary, India, Ireland, Israel, Italy, Lebanon, the Netherlands, Norway, People’s Republic of China, Poland, Russia, South Africa, Spain, United Kingdom and the USA. Và, như thường lệ, năm nay giải thưởng lớn lao nhất lọt vào tay nhiếp ảnh gia Finbarr O’Reilly (Canada) thuộc thông tấn xã Reuters. Tấm hình biểu hiện biến cố quan trọng nhất trong năm chụp rõ bàn tay nhăn nhúm của đứa bé 1 tuổi đặt lên đôi môi của người mẹ tại trạm xá cấp cứu thức ăn ở Niger, Phi-châu.

RTR1NT3W1-1196x800

Ông James Colton, trưởng ban giám khảo, nhận định về tấm hình: “Tấm hình này bám chặt trong tâm trí tôi kể từ ngày đầu tiên tôi nhìn thấy hai tuần trước đây. Nó in đậm nét trong óc tôi, ngay cả sau khi nhìn hàng chục nghìn những tấm hình khác trong cuộc tuyển chọn. Tấm hình này chứa đựng tất cả những gì mà tôi mong muốn – vẻ đẹp, sự kinh hoàng và nỗi tuyệt vọng. Hình chỉ chụp lại khuôn mặt và bàn tay nhăn nheo của đứa bé nhưng lại nói lên hết phong cách và nỗi cảm xúc.”

Hậu quả của nạn châu chấu và nạn hạn hán tệ hại nhất trong năm vừa qua đã để lại hàng triệu người thiếu ăn tại châu Phi. Nhìn đôi mắt vô hồn của người mẹ chúng ta có thể mường tượng được những gì người mẹ phải chịu đựng. Bàn tay đứa bé nhăn nheo vì thiếu dinh dưỡng từ ngày ra đời, quờ quạng bám lấy môi người mẹ. Chắc chắn bé đang trong cơn đói lả, chỉ đủ sức khua tay chạm đến môi mẹ xin ăn. Mặc dù không thấy hình đứa bé nhưng chúng ta cảm thấy được cơn đói khốc liệt đứa bé đang chịu đựng và khuôn mặt biểu hiện sự bất lực của người mẹ trước cơn đói đang hành hạ con mình.

Theo cuộc khảo sát của bộ Lương Nông Liên Hiệp Quốc (FAO: Food & Agriculture Organization) thì mỗi ngày có đến 24.000 người chết đói hoặc chết vì những nguyên nhân gây ra nạn đói. Ba phần tư con số này là trẻ em dưới 5 tuổi. Em bé trong tấm hình này mới 1 tuổi nên cơ nguy bé chết đói rất có thể xảy ra.

Tấm hình có giá trị hơn ngàn lời cần phải nói. Thế giới đang sống trong một tình huống mâu thuẫn chưa từng thấy. Ở các nước phương Tây, thực phẩm ê hề trên bàn ăn nhưng cũng dư thừa trong thùng rác. Thế mà cũng là con người ở một nơi khác, chỉ cách nhau một đại dương lại không có một chút gì lót dạ trong ngày. Những dư thừa đổ vào thùng rác mỗi ngày ở đất nước này lại là giấc mơ vượt quá tầm tay của nhiều người khác, như người mẹ đang bồng con trong tấm hình này. Nhớ lại những năm đầu tiên mất nước, cả trăm nghìn người phải bỏ thành phố lên chốn rừng thiêng nước độc theo chính sách “kinh tế mới” của nhà nước cộng sản. Biết bao người đã chết vì thiếu ăn, hoặc đói quá đành phải ăn trái cây dại hoặc nấm độc. Cái đói hành hạ triền miên bao tử con người, biến con người trở thành con thú nếu lương tri không thắng được cơn đói triền miên. Đến đây, bài học tiết kiệm cần phải học, cần phải dạy cho con cháu. Nấu vừa phải để ăn trong gia đình. Đừng ăn phí phạm, đổ thức ăn thừa vì đó là ơn mưa móc từ Trời. Được mùa chớ phụ ngô khoai. Thế hệ sinh ra ở hải ngoại chưa từng bị cơn đói hành hạ nên chúng khó hình dung được thế nào là bao tử lép xẹp, thế nào là hoa mắt, bủn rủn cả tay chân, kéo dài triền miên. Nhưng chúng có thể cảm nhận được nhu cầu căn bản của con người đã và đang bị tước đoạt – hàng ngày – nếu nhìn vào tấm hình người mẹ bồng con chờ thức ăn tiếp tế tại một trạm xá ở Phi châu. Từ cảm nhận sẽ sinh ra ý thức và từ ý thức sẽ đưa đến hành động tiết kiệm mỗi ngày. Tiết kiệm thức ăn, tiết kiệm áo mặc, tiết kiệm tiêu dùng trong mọi sinh hoạt để giúp đỡ những nạn nhân như thế.

Đây thật sự là tấm hình biết nói. Không cần giải thích dài dòng, chỉ cần nhìn tấm hình người ta có thể hình dung được cơn đói khủng khiếp đang giết chết con người ở châu Phi, trong đó có hàng triệu bé thơ. Đó là một sự thật khủng khiếp đang xảy ra mỗi ngày ở Niger, ở Bắc-Hàn, Mông-cổ, Cam-bốt, Afghanistan, Bangladesh, Tajikistan, Pakistan, Iran, Armenia, Georgia, Angola, Burundi, Sierra Leone, Guinea, Somalia, Sudan, Ethiopia, Eritrea, Haiti, Nicaragua, Bolivia và Honduras. Tấm hình sẽ đánh thức lương tâm nhân loại và thôi thúc các cường quốc cần phải làm một cái gì đó để cứu giúp đồng loại.

Finbarr O’Reilly xứng đáng nhận lãnh giải thưởng “World Press Photo of the Year 2005” với tấm hình người mẹ bồng con đói lả trên tay. Nhưng cũng có những tấm hình không biết nói, hoặc không nói hết được sự thật.

Cũng tổ chức này, năm 1968 đã trao giải ‘World Press Photo of the Year’ cho Eddie Adams, nhiếp ảnh gia Hoa-kỳ – của hãng thông tấn AP, người đã chụp hình tướng Nguyễn ngọc Loan xử tử tên VC nằm vùng Nguyễn văn Lắm, tự Bảy Lốp.

eddie-adams-icon

Chuyện xảy ra vào đúng ngày mùng Một Tết Mậu Thân, 1968. Hai bên đã đồng ý ngưng bắn để cho dân chúng và binh lính hưởng Xuân. Nhưng với bản chất dối trá cố hữu, bọn VC đã tung quân đánh úp vào các tỉnh miền Nam, kể cả thủ đô Sàigòn, vào lúc bất ngờ nhất. Ngày Xuân là ngày linh thiêng nhất trong phong tục tập quán của người Việt, bất kể theo chế độ nào. Lợi dụng ngày nghỉ của một truyền thống quan trọng nhất trong năm để xua quân đánh úp là một trọng tội đối với dân tộc và tổ tiên. Ngày Xuân không thể nói đến đổ máu, chết chóc. Đó phải là một ngày không có tiếng súng, an vui, đầm ấm với gia đình. Chưa nói đến việc hưu chiến mà đôi bên đã chấp nhận. Sự lật lọng, lừa dối của chính quyền cộng sản đã làm toàn thể dân quân miền Nam, ban đầu sợ hãi vì bất ngờ, trở nên căm giận. Sự phản kháng mạnh mẽ và chiến đấu dũng cảm của quân đội miền Nam đã bẻ gãy âm mưu đánh úp của bọn VC nhưng để lại biết bao tang tóc cho hai bên, kể cả những cán binh tập kết. Cố đô Huế là nơi chịu nhiều thảm cảnh nhất, trong đó có hàng ngàn người bị chôn sống một cách dã man nhất trong lịch sử dân tộc Việt. Cái chết của những người Do-thái khi bước vào lò hơi ngạt Đức quốc xã có lẽ cũng đau đớn và khủng khiếp đến thế là cùng. Cả thế giới lên án chế độ Phát-xít, người Do-thái tưởng niệm biến cố này mỗi năm và gọi đó là Holocaust, thế mà chẳng mấy ai nhắc nhở đến mùa Xuân tang tóc ở Huế cả. Liệu chúng ta nên có một ngày để tưởng niệm Holocaust cho biến cố Mậu Thân không? Hiện nay đã có những trang nhà nói về sự kiện lịch sử này trên mạng nhưng thật sự chưa đủ, cần phải nói to, nói mạnh mẽ hơn nữa để nhân loại biết đến tội ác dã man này của những người cộng sản. Phải giải thích tường tận và cặn kẽ cho con cháu biết rõ ngày Tết đẫm máu dân lành xảy ra hơn 40 năm trước.

Mùa Xuân năm Kỷ Dậu (1789) vua Quang Trung tung hoành đại phá quân Thanh giữa tiếng reo hò của quân lính thì những ngày đầu năm Mậu Thân khắp miền Nam đầy tiếng khóc than, tấm khăn sô lau vội những giọt nước mắt rơi lã chã vì con, vì chồng bị giết chết. Đó là một mùa Xuân kinh hoàng nhất trong cuộc chiến Việt nam. Đó là mùa Xuân mà người Nam lòng tràn ngập căm phẫn. Lòng căm phẫn phần nào cũng giải thích được lý do tại sao tên đặc công VC cần phải bị xử tử. Tấm hình ghi lại hành động của tướng Loan chỉ là việc cần phải làm trong lúc dầu sôi lửa bỏng khi bị tấn công bất ngờ, đang hoang mang bối rối chưa chủ động được tình hình.

Nếu biết thêm hành động dã man của tên Bảy Lốp, cầm đầu toán đặc công VC, sát hại vợ con của nhiều gia đình cảnh sát, tổng cọng 34 nạn nhân bị trói và bị giết, ngay trước khi hắn bị bắt thì lại càng hiểu rõ việc xử tử tại chỗ của tướng Loan. Định mệnh trớ trêu khiến Eddie có mặt ngay tại đường phố Sàigòn vào ngày mùng Một Tết, 1/2/1968. Trước đó, sự nghiệp nhiếp ảnh của Eddie đã được tô đậm với những tấm hình ông chụp qua 13 cuộc chiến tranh trên khắp thế giới. Eddie đang chuẩn bị chụp thì không ngờ tướng Loan rút ngay bên hông khẩu súng lục và chĩa thẳng vào thái dương của tên VC rồi bóp cò. Có nhiều cái không ngờ xảy ra ngay khi thu tấm hình lịch sử vào phim nhựa. Eddie không ngờ nhờ tấm hình này mà danh tiếng ông nổi như cồn với hai giải thưởng lớn Pulitzer Prize và World Press Photo của ngành báo chí. Nhưng ông cũng không ngờ ông đã giết chết sự nghiệp đời làm tướng của ông Loan nói riêng và bôi nhọ chính nghĩa chiến đấu tự vệ của dân quân miền Nam nói chung. Bọn phản chiến đã dùng tấm hình này để rêu rao khắp thế giới về sự dã man của cuộc chiến, đặc biệt của chính quyền miền Nam, cụ thể là hành động của một tướng cầm đầu ngành cảnh sát. Từ đó, dẫn đến ngày sụp đổ 30/4 chỉ vì quân dân miền Nam không còn sự hậu thuẫn của thế giới, đặc biệt tại chính trường Hoa-kỳ.

Cái dở của Eddie là ông không giải thích rõ căn nguyên của tấm hình. Chỉ nhìn vào tấm hình mà (cố) quên đi nguyên nhân của hành động, cũng không cần biết đến chuỗi diễn tiến trước khi tấm hình được chụp là một lỗi lầm không thể tha thứ được. Nguyên nhân nào đưa đến hậu quả phải xử tử tên VC không hề được bàn đến. Cả một chuỗi hành động của bọn VC bắt đầu kể từ đêm giao thừa khi bí mật chuyển súng đạn vào đô thành Sàigòn cho đến giây phút tên Bảy Lốp bị bắn cũng không được nghe nhắc đến. Tính ra từ đêm hôm trước đến trưa ngày mùng Một Tết có đến hơn 12 tiếng đồng hồ, vị chi là 43.200 giây, thế mà Eddie chỉ ghi lại hành động trên tấm hình chỉ trong một giây đồng hồ phù du, quá ngắn ngủi. Cái khoảnh khắc 1 giây đồng hồ đó không đủ nói lên tầm mức ghê tởm của lừa bịp, khinh bỉ của lương tâm, và rùng rợn của dã man do tên Bảy Lốp và bọn VC gây ra cho dân miền Nam. Thế mà thế giới vẫn cố tình làm ngơ đi diễn tiến trong 43.199 giây phút kia. Có thể hào quang của danh vọng qua 2 giải thưởng lớn đã làm lu mờ lương tri của Eddie?

Sau cái chết của tướng Loan khoảng 2 tuần, ngày 27/7/1998, Eddie bày tỏ sự ân hận trên báo Time:

Ông tướng giết tên VC, tôi lại giết ông tướng với chiếc máy ảnh. Những tấm ảnh chụp vẫn là thứ vũ khí đầy uy lực nhất. Người ta tin vào những gì thấy trên tấm ảnh, nhưng những tấm hình này nhiều khi đã lừa bịp, ngay cả không cần phải ngụy tạo. Chỉ vì chúng chỉ nói được một nửa sự thật. Tấm hình này không nói được một nửa sự thật kia như thế này: “người ta sẽ hành động ra sao nếu ở vào vị trí của ông tướng, ngay trên đường phố Sài gòn vào một buổi trưa nắng gắt, khi bắt được một tên VC ác ôn mà chỉ mới trước đó vài tiếng đồng hồ hắn đã giết chết một, hai, hay ba người lính Mỹ?”

Trước đó, Eddie đã đến tận nhà riêng của tướng Loan tại Virginia để xin lỗi cá nhân ông tướng và cả gia đình về những gì thiệt hại và mất mát không thể đền bù được do tấm ảnh gây ra. Ngay trước linh cữu của tướng Loan, Eddie đã ca ngợi ông là một anh hùng, đã hành xử đúng những gì cần phải làm trong ngày mùng Một Tết năm Mậu Thân.

Có lần ông đã nói, “Tôi thà được người ta biết đến qua những tấm hình chụp 48 thuyền nhân vượt biển sang Thái trên chiếc thuyền dài 10 mét, đã bị hải quân Thái kéo ngược trở lại biển khơi, hơn là tấm hình chụp tướng Loan xử tử tên VC.” Những tấm hình này và những bản báo cáo của ông về thuyền nhân vào cuối thập niên 70 đã thuyết phục Tổng thống Carter ban quy chế tỵ nạn cho gần 200.000 người Việt. Eddie còn thêm, “Đó là một việc làm tốt và nhất là không làm hại một ai cả.”

Eddie chết vào ngày 19/9/2004 vì chứng bệnh Lou Gehrig, một chứng bệnh liên quan đến trung khu thần kinh điều khiển các bắp thịt. Tướng Loan chết vào ngày 14/7/1998 vì bệnh ung thư. Cả hai đã bước qua bên kia thế giới để lại những nút thắt của sự nghiệp chỉ vì một tấm ảnh. May mắn thay, nút thắt này đã được giải mở trước khi họ vĩnh viễn ra đi.

Con cháu chúng ta cũng cần phải biết nút thắt này và cũng cần phải biết nó đã được giải mở vì một nửa sự thật kia đã được phơi bày. Đừng nhìn vào một tấm hình mà không suy nghĩ tình huống, nguyên nhân và động lực qua hành động của người in hình trên tấm ảnh. Đừng bóp méo và cũng đừng ngụy tạo nhưng hãy nhìn thẳng vào sự thật.

Tấm hình của Finbarr O’Reilly chụp hình người mẹ bồng con đang chờ thức ăn cấp cứu tại Niger là một tấm hình biết nói. Tấm hình của Eddie Adams chụp hình tướng Loan xử tử tên đặc công VC trên đường phố Sàigòn là một tấm hình câm.

SƠN NGHỊ

Malala Yousafsai – Viên Đạn Và Lòng Dũng Cảm

SƠN NGHỊ

tumblr_mfabf6qV8u1qcy1c2o1_500

Chuyến xe van chở các nữ sinh từ trường về Thung lũng Swat, một trong những vùng đất bảo thủ nhất ở Pakistan, như thường lệ sau những giờ học. Thình lình, xuất hiện ba tên thanh niên chận xe lại. Chúng lên xe, sùng sục hỏi tìm cho được Malala. Vừa nhận dạng xong, chúng nã đạn vào người em ngay không một lời khuyến cáo. Một viên đạn ghim vào cổ, nhưng viên đạn chí tử nhất xuyên từ  trán bên trái đi ngang tai và cắm xuống vai. Đường đi của viên đạn chứng tỏ em đang ngồi và tên sát nhân đứng bắn chênh chếch từ trên xuống. Hầu như chúng dí sát mũi súng vào trán Malala và bóp cò. Cô nữ sinh Malala lúc bị bắn chỉ mới hơn 15 tuổi.

Hôm đó là ngày thứ Ba, mùng 9 tháng 10 năm 2012.

Malala là ai mà ba tên thanh niên cố giết cho bằng được trong lúc em chỉ ở độ tuổi 15? Tên của em là Malala Yousafzai, con gái trong một gia đình có 3 chị em. Tội “đáng chết” của em là tranh đấu cho quyền được học hành của các em gái ở Pakistan. Vài ngày sau, nhóm cực đoan Taliban ở Pakistan tự nhận ra tay “trừng phạt” cô bé Malala vì ngoan cố cổ võ sự học hành của các em gái. Hành động dã man này của nhóm cực đoan Taliban dẫn đến một thắc mắc là kinh Koran có cấm các em gái đến trường học hay không.

Câu trả lời là không. Dĩ nhiên, không có cưỡng bách giáo dục như ở các nước khác. Các em gái, tùy mỗi trường hợp, có thể đến trường hoặc ở nhà, nhưng không nhất thiết phải đến trường hấp thụ một trình độ học vấn tối thiểu nào đó. Nhóm cực đoan Taliban quan niệm khác. Chúng cấm các em gái đến trường học hành. Theo quan niệm của chúng, giới phụ nữ phải ở nhà lo công việc nội trợ, sinh con đẻ cái, và dĩ nhiên (không có học vấn) không được tham gia một công việc gì ngoài xã hội. Tóm lại, thế giới của phụ nữ là ở trong 4 bức tường, lo phục vụ chồng con cho một kiếp đời Tiếp tục đọc