THƠ HÃY NÓI, TÔI NGHE

Tôn Nữ Thu Dung làm thơ (và viết văn) rất sớm, vào thập niên 70 khi còn là một nữ sinh trung học của miền Nha Trang cát trắng. Vừa xuất hiện, thơ văn của Tôn Nữ Thu Dung nhận được sự chú ý đặc biệt của những người phụ trách toà soạn các tạp chí Tuổi Hoa, Tuổi Ngọc. Thơ văn ấy có nét tươi mát của tuổi trẻ, đồng thời mang hơi hướng của một tâm hồn đã trưởng thành. Ấy thế mà thơ văn ấy không có vẻ “bà cụ non” một chút nào. Chúng như lời tự sự của một tâm hồn tươi trẻ mà chín chắn (mang thêm một chút/khá nhiều nét lãng mạn quyến rũ.) Cho đến nay, đã một nửa thế kỷ trôi qua, vẫn có những người lưu giữ nhưng trang thơ văn ấy như những báu vật của một thời văn chương mật ngọt ở miền Nam Việt Nam thuở trước.

Ra nước ngoài, Tôn Nữ Thu Dung là cây bút Tuổi Hoa, Tuổi Ngọc tiếp tục sáng tác và xuất bản nhiều nhất và đều đặn nhất. “Con Chim Nhặt Hạt Ngô Đồng, Còn Tôi Lơ Đãng Nhặt Hồn Cỏ Hoa” là tập thơ mới nhất, lạ nhất với cái tên dài kỷ lục đầy sáng tạo vừa hoàn thành ở hải ngoại, do Tương Tri xuất bản và phát hành.

Thơ Tôn Nữ Thu Dung quá đa dạng, có tính trong sáng, tươi mát, chín chắn và lãng mạn. Theo dòng thời gian, tính tươi mát bớt đi nhưng sâu sắc nội tâm thì tăng lên. Nét lãng mạn vẫn rất rõ, khác chăng là cách biểu lộ nét lãng mạn ấy.

Nếu phải định nghĩa về thơ (mà thật ra không nên và không cần định nghĩa) thì “thơ là ý tưởng và tình cảm lắng đọng trong hình ảnh và ngân vang trong nhạc điệu, được diễn tả bằng ngôn từ, làm rung động tâm hồn người đọc.” Nếu định nghĩa như thế thì thơ của Tôn Nữ Thu Dung quả thật là… thơ, trong đó có ý tưởng, tình cảm, nhạc điệu, ngôn từ khiến cho tâm hồn người đọc rung lên theo từng câu thơ, từng từ ngữ.

Tôi đọc “Con Chim Nhặt Hạt Ngô Đồng…” một cách chậm rãi (không chậm chạp) để cho ý thơ, lời thơ thấm vào tâm và thức; từ đó khám phá ra khá nhiều điều.

Tôn Nữ Thu Dung có lối lặp lại một nhóm từ vựng. Điều này khiến người đọc phải để tâm, ý vào lời thơ, vì mỗi một lần lặp lại nhóm từ vựng đó, nhà thơ dẫn dắt người đọc vào một ngõ ngách tâm hồn khác, một cảnh vực đời sống khác.

Điển hình, xin cùng tôi đọc vài đoạn trong “Có Một Điều Rất Lạ” với nhóm từ ngữ “Khung cửa nhỏ- mở ra-.”

Ở tấu khúc 1, “Khung cửa nhỏ- mở ra-” dẫn ta vào “ngày nắng hạ” trong đó có
Ngày thương yêu, thuở ấy,
nắng Sài Gòn.
Những hàng cây ven đường lay bóng lá.
Chỉ dám nhìn- guốc mộc- gót chân son.

Ở tấu khúc 2, “Khung cửa nhỏ- mở ra-” vào một “chiều rơi chậm” để rồi người trong thơ phải yêu cầu (đúng hơn là năn nỉ):
“Chiều đừng rơi
để nhớ mãi Sài Gòn.
Căn nhà gỗ,
con đường Hồng Thập Tự.
Một điều gì… rất lạ, rất bâng khuâng.”

Ở tấu khúc 3, “Khung cửa nhỏ- mở ra-” vào một “đêm nguyệt tận.” Buổi ấy khiến người trong thơ hồi tưởng đến
“Đêm hoang vu
xanh mướt dáng Sài Gòn.
Có vì sao- buồn- cô đơn- bật khóc.
Giọt lệ này
rơi,
ướt lạnh trăm năm…”

 
Ba lần “khung của nhỏ- mở ra-” dẫn người đọc đến những cảnh, những tình khác nhau, để rồi đọng lại trong hồn mình nỗi bâng khuâng, ngậm ngùi, tưởng tiếc về một dáng người nữ ngày nào đã xa, hình như xa lắm.
Thì cũng là thơ tám chữ đấy, nhưng cách tác giả ngắt câu, xuống hàng khiến người đọc không thể đọc nhanh được, mà phải chậm rãi bước những bước nhẹ nhàng và thận trọng theo dòng thơ. Đọc và thích!

 
Có vẻ như Tôn Nữ Thu Dung chuộng lối gieo vần gián cách (trong một khổ thơ, vần trắc gieo ở cuối câu 1  và cuối câu 3; vần bằng gieo ở cuối câu 2 và cuối câu 4.) Xin đọc:

 Nhánh sông Tôi,
tiền kiếp
Tìm lối về đại dương
Sóng bờ xa tiễn biệt
Cuối chân trời,
đêm buông…

Trái tim Tôi,
tiền kiếp
Lơ đãng nhiều tơ vương
Và khi lòng mỏi mệt
Biết giấu vài vết thương…

(Tôi)

 
Sao lại gián cách? Tôi đoán nhé: thứ nhất, lối gieo vần này làm cho người đọc thích thú. Hơi thơ đi, tưởng là đi… tuốt luốt, nhưng rồi hơi thơ dừng lại ở tiếng cuối, một sự trở lại với vần đã gieo bên trên khiến cho khổ thơ tràn đầy, trọn vẹn. Thứ hai: lối gieo vần gián cách khiến người đọc cảm nhận được cái ý, cái tình của sự ngăn cách. Ngăn cách giữa tôi và người, giữa chung và riêng, giữa những cảm giác/cảm xúc lẫn lộn và khác biệt, giữa hiện tại và quá khứ, giữa  và 

 
Tôn Nữ Thu Dung cũng viết một số bài theo lối gieo 3 vần bằng, có phần nào sự cổ kính của Đường thi, cộng thêm chút nghiêm cẩn, trang trọng:

 Tôi lạc lòng tạt qua lối xưa
Bâng khuâng khung cửa có ai chờ
Bàn tay nhỏ bé thơm hương quế
Khua động hoài tôi những giấc mơ

Tôi lạc lòng đi ngang phố rêu
Nghe cơn đau cũ nhói trong chiều
Và tiếng phong linh rời rã khóc
Có phải thu vừa rơi khúc yêu

Tôi lạc lòng, lạc dạ thế thôi
Đêm đêm vẫn nhớ góc em ngồi
Ngọn nến tàn canh run từng giọt
Thảng thốt vầng trăng lạnh cuối trời

Tôi lạc lòng xin em hiểu tôi
Hồn tôi như chiếc lá chơi vơi
Trăm ngàn sông suối- em là biển-
(Tôi lạc lòng xin em hiểu tôi).

(Lạc Lòng)

Tôn Nữ Thu Dung cũng viết Lục Bát; lời, ý, hình rất đẹp:

 Gọi người từ phía hoàng hôn
Nghe câu tử biệt
rợn buồn sinh ly,
Bến Vân Lâu chẳng hẹn kỳ
Trùng lai nội cỏ
thầm thì hạt sương.
Gọi người từ phía tà dương
Có chờ ta
cuối con đường trắng mây.
Một mai tàn cuộc
buông tay,
Nghiêng vai cho gió về lay dặm buồn.
Biết còn viễn phố giăng sương.
Biết còn tan hợp mây tuôn non đoài.
Lòng ta gác xế u hoài,
Cuối trời một bóng đổ dài hoang vu…

(…Nếu xưa đừng lạc lối về
Trao yêu lơ đãng,
quên thề trăm năm…)

(Gọi)

Trong Lục Bát “Gọi,” có những câu đẹp cổ kính như “Đoạn Trường Tân Thanh”:

 Bến Vân Lâu chẳng hẹn kỳ
Trùng lai nội cỏ
thầm thì hạt sương.

 hay

 
Biết còn viễn phố giăng sương.
Biết còn tan hợp mây tuôn non đoài.

 Có một tí Bùi Giáng ở trong đó, nhưng không phải là Bùi Giáng.

 Dường như Tôn Nữ Thu Dung thích ban đêm. Trong “Con Chim Ngậm Hạt Ngô Đồng…,” nhà thơ viết khá nhiều câu, bài về ĐÊM: “Khung cửa nhỏ- mở ra-/đêm nguyệt tận, Đêm hoang vu/ xanh mướt dáng Sài Gòn, Đêm Hồ Ly, Đêm Lưu Xứ, Đêm Nguyệt Quế, Đêm Chờ Quỳnh Hé Nụ, Đêm tàn… lạnh một chia phôi, Đêm thắp muộn một vì sao bé nhỏ…

 Xuân Tâm viết:

 “Tôi đổi hai mai lấy một chiều
Để tìm trong ấy ít lời yêu.
Ban ngày sáng quá, ban đêm tối,
Tôi sợ không mơ tưởng được nhiều.

 Xuân Tâm sợ “ban đêm tối” khiến nhà thơ “không mơ tưởng được nhiều.” Tuy nhiên, với Tôn Nữ Thu Dung, hình như “đêm càng tối,” cô lại càng “mơ tưởng… được rất nhiều!”

Tôi viết bài giới thiệu này không được trọn vẹn, nhất là mới chỉ phớt qua một chút hình thức, chưa đi vào nội dung các bài thơ. Tuy nhiên, tôi nghĩ, nói đến nội dung là nói về ý, tâm và cảm; mà ý, tâm và cảm là những gì người ta chỉ có thể cảm nhận bằng tâm hồn mẫn cảm của người đọc, không phải là những thứ để phân tích. Tôi tin người đọc “Con Chim Nhặt Hạt Ngô Đồng” đều là những độc giả có tâm hồn không những mẫn cảm và còn nhạy cảm.

 Vậy, xin phép tác giả và độc giả cho tôi ngừng ở đây.

 Riêng tôi, xin được thưa với nhà thơ Tôn Nữ Thu Dung: “Thơ ơi, cứ nói! Tôi đang lắng nghe.”

QUYÊN DI

(Một ngày đầu Thu 2022)

BỨC TƯỜNG ĐÁ

Tôi đang ngồi trong thư viện một trường đại học Công giáo thâm nghiêm. Khung cửa kính rộng cho tôi nhìn thấy toàn cảnh bên ngoài. Trời hôm nay nhiều mây xám, không biết chiều nay có mưa không, nhưng hình như bầu trời ngậm nước. Khung cửa kính thư viện trông ra một khu vườn hoang dã bên ngoài, có những cây cổ thụ cành lá rườm rà, nhiều loại hoa leo đủ màu sặc sỡ tôi chưa từng biết tên, và những ngọn cỏ đang rạp mình theo chiều gió thổi. Có những con chim lạ từ đâu bay tới, con nào cũng đẹp với hình dáng và màu sắc riêng; chúng vừa bay vừa hót ríu rít. Vài chú sóc không biết từ một gốc cây nào đó rủ nhau ra giữa vườn cỏ đùa giỡn, rồi thoắt chốc đã leo lên những cành cây cao chót vót.

Nhìn sang người bạn ngồi ở ô đối diện, tôi thấy bạn cắm cúi trên sang sách. Bạn tôi có lẽ đang tập trung tâm trí vào bài học, còn tôi thì lại thả cho hồn bay lượn ngoài trời.

Mắt tôi dừng lại ở bức tường, ngăn cách khuôn viên đại học với thế giới bên ngoài. Những viên đá được xếp chồng lên nhau, không biết đã từ bao giờ, làm thành một bức tường đài, cổ kính. Như bị cuốn hút, tôi rời chỗ, đứng lên tìm lối đi ra khu vườn với bức tường đá ấy. Những ngọn cỏ cúi chào, chim chóc bay xào xạc, những chú sóc vội vàng trốn chạy, còn những bông hoa dại vẫn tươi tắn mỉm cười. Khung cảnh vừa yên tĩnh, vừa thơ mộng một cách hoang sơ. Tôi đưa tay ngắt một bông hoa tím rồi bước dọc theo bức tường đá, đầu óc nghĩ ngợi mông lung.

Những bức tường…

Ngôi nhà nào, cơ sở nào, khu vực nào cũng có những bức tường ngăn cách nó với thế giới bên ngoài. Những bức tường tạo nên một ranh giới, bên trong và bên ngoài. Nếu tôi có một căn nhà, thì bên trong bức tường thuộc về tôi, chứa đựng những gì của tôi. Bên ngoài là những gì không phải của tôi, không thuộc về tôi. Bên trong là thân tình, bên ngoài là xa lạ. Nếu tôi ở trong một cơ sở như trường học chẳng hạn, thì bên trong bức tường là sinh hoạt của nhà trường, với những lớp học, thư viện, sân chơi, những giáo sư, sinh viên, nhân viên, sách vở và một hệ thống giáo dục của nhà trường; còn bên ngoài là sinh hoạt của thành phố, với xe cộ, hàng quán, đường xá, nhà cửa, cảnh sát, khách bộ hành…, những gì không thuộc về nhà trường mà tôi đang ở trong.

Bức tường bảo vệ cho những gì ở bên trong và khiến cho bên trong trở thành một cái gì có tên. Nếu nhà không có tường thì người và đồ vật trong nhà không được bảo vệ. Hơn nữa, khi ấy “cái nhà” không còn phải là nhà, không có tên là cái nhà nữa. Nếu một cơ sở không có tường thì cơ sở không còn là cơ sở, và không thể nào có những sinh hoạt đặc thù của nó nữa. Như thế, hỏi tường có cần không, thì tường cần lắm, rất cần. Bởi vậy, thật là hữu ích khi trường học có tường, tu viện có tường. Có tường là có an toàn, là người bên trong được bảo vệ. Người ở bên trong tường, nếu chấp nhận sự hiện hữu của tường, tức là chấp nhận những gì có bên trong tường, xảy ra bên trong tường.

Tuy nhiên, tường chỉ giúp tôi khi tường bảo vệ tôi, mà không ngăn cản tôi. Nghĩa là tôi phải được tự do ra vào, tự do hoà nhập với thế giới bên ngoài khi tôi muốn. Chính vì vậy mà có tường thì thường có cửa, có cổng. Cánh cửa hay cánh cổng là dấu hiệu của sự thông thương. Cổng mở là dấu hiệu của tự do và mời gọi. Cổng đóng là dấu hiệu của hạn chế và chối từ. Người ở trong tường được tự do hay không, điều đó được xác định ở chỗ người đó có được mở cổng và đóng cổng theo ý của mình không.

Có một thứ tường thật cao mà không có cổng, hay nếu có thì cổng luôn luôn đóng. Đó là tường của nhà tù. Người ở trong tù mất quyền tự do, do đó, họ không được tự nhiên mở cổng mà ra. Khi đó, bức tường tạo nên sự ngăn cách hoàn toàn, khiến cho người tù không nhìn thấy được người và khung cảnh bên ngoài, không được quyền tiếp xúc với người và hoà nhập những sinh hoạt của xã hội bên ngoài. Tường mang ý nghĩa sự cấm cản, mất tự do

Xây tường và đóng cổng để chỉ lo cho mình, không biết đến người bên ngoài là hành động ích kỷ. Khi đó người ta biến nhà của mình thành một pháo đài an toàn. Tôi chỉ biết lo cho tôi, cho sự an toàn và no đủ của tôi mà không cần biết đến sự bất an và đói khổ của những người bên ngoài. Tường tạo nên sự an toàn, cổng cần phải đóng để giữ được an toàn cho người trong nhà. Nhưng người trong nhà cũng cần mở cổng để đón tiếp những người khác, khi những người này cần đến sự giúp đỡ. Bất cứ bị thúc đẩy bởi một lý do nào để người bên trong xây tường cao và đóng kín cổng, người ấy đã tự biến mình thành một thứ tù nhân.

“Trèo tường” hay “trèo cổng” ra ngoài là hành động biểu lộ một sự phản kháng, một sự chối từ những gì ở bên trong bức tường. Ở tuổi thiếu niên cuồng dại, Đinh Hùng “đã nhiều phen trèo cổng bỏ trường về, xếp đạo đức dưới bàn chân ngạo mạn.” Như thế có nghĩa là ở vào tuổi ấy Đinh Hùng vì cuồng dại đã phủ nhận đường lối giáo dục của nhà trường! Ở vào một thời đại khác và với một ý thức khác, hàng ngàn người dân Đông Đức đã trèo qua bức tường Bá Linh, ngăn cách Đông Đức và Tây Đức. Hành động ấy biểu lộ ý chí chối từ của người dân Đông Đức đối với chế độ chính trị của phần lãnh thổ này. Bức tường ấy bây giờ không còn nữa. Người dân Đức, trong đó chắc chắn có nhiều người đã từng trèo qua nó, đã phá đổ bức tường ấy. Bây giờ không còn ngăn cách nữa, người Đức tự do đi lại mà không hề bị cấm cản.

“Trèo tường” hay “trèo cổng” vào trong thì gọi là “đột nhập.” Có nhiều lý do của hành động đột nhập nhà hay cơ sở. Có thể đột nhập để trộm cướp, mà cũng có thể đột nhập để cứu thoát một người nào đó. Đột nhập để trộm cướp người ta trở thành kẻ trộm, kẻ cướp. Nhưng đột nhập để giải cứu người bị giam giữ hay bị nạn, một cách chính đáng, người ta trở thành anh hùng.

Như thế, “trèo cổng” hay “trèo tường” là một hành động táo bạo và nguy hiểm, tuy nhiên tốt hay xấu không do hành động “trèo,” mà do mục đích của hành động ấy.

Tôi và những người chung quanh tôi cũng đều có những bức tường vây bọc. Bức tường ấy tạo nên tôi, với bản chất, tính nết, tâm tình, hoàn cảnh riêng của tôi. Nếu không có bức tường ấy, tôi không còn phải là tôi. Khi tôi ra khỏi bức tường, tôi hoà nhập với mọi người, sinh hoạt với mọi người. Nhưng khi vào phía trong bức tường, tôi có thế giới của riêng tôi. Người khác cũng thế, ai cũng cần có một thế giới riêng của mình, một nơi thân mật nhất, chỉ có mình và những người mình cho phép mới vào được. Thỉnh thoảng tôi nghe có những người nói về người này, người khác, đôi khi nói về chính người chồng hay người vợ mình, với một câu: “Ông ấy (hay bà ấy,) tôi biết quá rồi!” Khi nghe một người nói rằng họ “biết quá” về một người nào đó, hơn nữa người đó lại là một phụ nữ, tôi thường cảm thấy hoài nghi. Tôi vẫn nghĩ mỗi người đều có một bức tường, nhất là người phụ nữ. Không ai có thể vượt qua bức tường ấy mà vào bên trong, trừ khi chính người bên trong sẵn lòng mở cửa cho họ vào.

Một khi bức tường là của tôi, do chính tôi dựng nên, thì việc giữ lại nó, hay phá đổ nó thuộc quyền tự do của tôi. Nói đến những bức tường ngăn cách người này với người khác, người ta thường có ấn tượng không tốt và đều có khuynh hướng muốn mọi người phá đổ những bức tường ấy. Tôi thì không đâu, tôi muốn giữ bức tường của tôi, nhưng tôi cũng muốn có ý chí và tự do để ra vào phía ngoài, phía trong bức tường ấy khi có sự cần thiết; cần thiết cho chính tôi cũng như cần thiết cho người khác. Như vậy tôi vừa giữ được cái gì thuộc riêng về nội tâm của tôi, vừa bước được ra ngoài, cùng chung sức với những người khác để kiến tạo một xã hội, một cộng đồng, trong đó có nhiều người chung sống.

Với những người thân, tôi vẫn giữ bức tường là bản chất của riêng tôi, nhưng tôi để họ tự do ra vào qua bức tường ấy. Với một vài người, tôi để cho họ tự do khám phá những gì có phía bên trong bức tường, và có thể tôi gợi ý để họ khám phá những gì mà tự họ không nhìn thấy được. Tôi cố gắng tránh khuynh hướng nhốt họ lại trong bức tường của tôi. Khi tôi đã mở cửa và cho họ tự do, họ có quyền vào, ở lại, mà cũng có quyền ra đi. Đi hay ở khi đó là quyền của họ. Họ ở lại, nếu căn nhà của tôi có gì khiến họ quyến luyến và ràng buộc. Họ ra đi, nếu thấy những gì bên trong bức tường không thích hợp với họ, nhất là khiến họ chán ngán. Do đó, nếu muốn người nào đó ở lại phía bên trong bức tường của tôi, thay vì tìm cách nhốt họ, tôi cố gắng làm cho trong tôi có điều gì khiến họ yêu thương và quyến luyến.

Tôi tuyệt đối tránh hành động “trèo tường” hay “trèo cổng” để đột nhập căn nhà nội tâm của người khác. Tôi gợi ý, có thể tôi xin để họ mở cửa cho tôi vào nếu tôi thực sự muốn. Ép uổng tình cảm, tư tưởng của người khác là điều không tốt và tôi không muốn làm. Ngay cả việc muốn hướng dẫn tâm hồn người khác, cũng phải tôn trọng quyền tự do và đời sống riêng của họ. Chúa Ki-tô bảo: “Ai không cứ cửa mà vào chuồng chiên, song trèo qua lối khác mà vào, thì ấy là kẻ trộm, kẻ cướp.” Gioan 10: 1).

Trời đã xế chiều, từng mảng tối đã chập choạng che phủ cảnh vật. Tôi vẫn cầm bông hoa tím đứng bên cạnh bức tường đá. Qua khung cửa kính thư viện, tôi thấy bạn tôi đang giơ tay vẫy gọi. Bạn, bạn có muốn mở cánh cửa trổ ra từ bức tường của bạn, để tôi được bước vào không?

*

Với một người, giờ đây tôi luôn luôn muốn mở toang cửa để chào đón. Tôi muốn giữa người ấy và tôi không còn một bức tường nào cả. Tôi muốn bản thể của tôi hoà nhập với bản thể của người ấy, tình yêu của tôi hoà nhập với tình yêu của người ấy, tất cả những gì của tôi đều thuộc về người ấy. Đối với người ấy, tôi không muốn giữ lấy bất cứ cái gì là của riêng nữa. Tôi muốn dâng hiến tất cả. Người ấy là Chúa Ki-tô.

Tôi suy nghĩ nhiều về bức tranh người họa sĩ kia vẽ Chúa Ki-tô. Ngài đứng trước một căn nhà tường xây kín mít, kiên nhẫn gõ cánh cửa đóng im ỉm, mà nắm đấm mở cửa lại nằm phía bên trong nhà chứ không ở bên ngoài. Có phải bức tranh ấy vẽ về chính căn nhà của tôi, căn nhà đã có một thời chối từ không muốn Chúa Ki-tô vào thăm viếng?

QUYÊN DI

Bái biệt nhà thơ TÔ THUỲ YÊN (1938-2019)

 

 

Thưa Anh Tô Thuỳ Yên,

Tôi chưa một lần được diện kiến Anh, mặc dù tôi là bạn của người em rể Anh, nhà văn Lâm Vị Thuỷ. Tuy nhiên, tôi rất quý trọng Anh, một nhà thơ lớn của đất nước.

Tin Anh về Nhà Thật hôm 21 tháng Năm 2019 khiến tôi ngậm ngùi tưởng tiếc. Anh như một vì sao băng, để lại trên bầu trời văn học Việt Nam một khoảng trống khó lấp đầy.

Xin bái biệt Anh bằng một vài vần thơ vụng dại của kẻ hậu sinh.

Quyên Di

ANH VỀ

Tin từ thành phố Đông Nam ấy
Anh đã lên đường bước viễn du
Lần này là chuyến đi xa thật
Bỏ hẳn gian trần chốn tạm cư.

Đã bước vào đời và thanh thản
Dạo trong cõi tạm tám mươi năm
Đã khóc đã cười cùng cuộc thế
Thì nay viên mãn tựa trăng rằm.

Một thuở cùng bạn bè Sáng Tạo
Mực thơm giấy thắm ý tinh khôi
Chắc hẳn từ ngày son trẻ ấy
Anh đã trầm ngâm trước cuộc đời.

Rong ruổi khắp mọi miền đất nước
Không hành một buổi phá Tam Giang
Anh đã ngậm ngùi cầm bút viết
Bài thơ thương cảm chuyện nhân gian.

Bài hành Trường Sa Anh sáng tác
Là lúc gần tan một cuộc cờ
“Ta hỏi han, hề, Hiu Quạnh Lớn,
Mà Hiu Quạnh Lớn vẫn làm ngơ.” (*)

“Ta Về,” Anh có hơi kinh ngạc
Không khỏi thoáng qua chút chau mày
Dấu hỏi to dần: sao có thể
“Giải oan cho cuộc biển dâu này?” (**)

Hôm nay Anh đã về Nhà Thật
Như đứa con đi hết nẻo đời
Như kẻ lãng du nay trở gót
Tìm về nhà mẹ ở luôn thôi.

Một chén rượu hồng xin đưa tiễn
Ngậm ngùi mà có chút mừng vui
Buồn vì một ngôi sao vừa tắt
Vui vì Anh đã trọn cuộc chơi.

Quyên Di

(*) Trường Sa Hành, Tô Thuỳ Yên
(**) Ta Về, Tô Thuỳ Yên

ÔNG BÙI HIỀN NÊN ĐẾN NƯỚC MẶN ĐỂ TẠ LỖI VỚI NHỮNG VỊ KHAI SINH CHỮ QUỐC NGỮ

Chuyện ông phó giáo sư tiến sĩ Bùi Hiền xướng xuất việc cải cách chữ Quốc Ngữ một cách dị hợm tưởng chừng như đã chìm vào quên lãng, không ngờ ít lâu nay lại tái bùng nổ làm cho mọi người càng thêm xôn xao. Chính vì sự tái bùng nổ này mà chúng tôi kinh ngạc khi được biết bộ Giáo Dục Việt Nam không “lấy đó làm chơi,” trái lại đã nghiêm chỉnh hỏi ý kiến viện Ngôn Ngữ Học về bản đề xuất cải cách chữ viết của ông Bùi Hiền. “Hỏi ý kiến” tức là có sự cân nhắc nên áp dụng hay không. Viện Ngôn Ngữ Học đã bác bỏ đề nghị cải cách chữ Quốc Ngữ của ông này. Nếu không bác bỏ thì viện Ngôn Ngữ Học cũng “chả ra làm sao cả.”

Chuyện cải cách chữ Quốc Ngữ một cách dị hợm của ông Bùi Hiền thiết tưởng đã rõ rành rành ra đấy, không cần bàn thảo, cũng không cần phê bình thêm nữa. Ở đây, nhân chuyện “chả ra làm sao cả” này, chúng tôi nghiêm chỉnh đòi ông Bùi Hiền phải đến thăm Nước Mặn để tạ lỗi với những vị đã khai sinh chữ Quốc Ngữ.

Nước Mặn là một địa điểm thuộc thị xã Quy Nhơn (tỉnh Bình Định.) Nước Mặn được linh mục Alexandre de Rodes vẽ trên bản đồ vương quốc Đàng Trong vào thế kỷ 17 với tên phiên âm là Nehorman (theo cách viết của linh mục Cristoforo Borri.) Vào thế kỷ này, Nước Mặn là một hải khẩu giao thương quốc tế, ngang hàng với Cửa Hàn (Đà Nẵng) và Hải Phố/Faifo (Hội An.)

Năm 1615, linh mục người Ý tên là Francesco Buzomi đến Cửa Hàn. Năm 1617, ông bị chúa Nguyễn trục xuất, lại lâm bệnh nặng, nằm tại Quảng Nam. Ông được quan trấn phủ Quy Nhơn là Trần Đức Hoà đưa về Quy Nhơn chữa bệnh. Quan trấn phủ Trần Đức Hoà là em kết nghĩa (*) của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên nên nhiều người tin rằng việc ông đưa linh mục Buzomi về Quy Nhơn không ngoài ý của chúa Sãi, nhằm tách linh mục ra khỏi những vị quan quá khích muốn trục xuất, cầm tù hoặc xử tử ông. Năm sau (1618), chính quan trấn phủ Trần Đức Hoà đã cùng linh mục Buzomi đến Cửa Hàn đón thêm những tu sĩ Công giáo khác về Quy Nhơn, trong đó có linh mục Cristoforo Borri (người Ý) và Francisco de Pina (người Bồ Đào Nha.) Sau đó, quan Trần Đức Hoà cấp cho nhóm giáo sĩ này một ngôi nhà đẹp ở Nước Mặn làm cơ sở truyền giáo và chế tác chữ Quốc Ngữ.

Có chỗ ở an toàn và tâm trí thảnh thơi, bộ ba Buzomi, Borri và Pina đã chú tâm vào việc phiên âm tiếng Việt và chế tác chữ Quốc Ngữ, dựa theo các mẫu tự La-tinh. Về sau, linh mục Buzomi, là bề trên, đã tình nguyện lãnh hết trách nhiệm truyền giáo, để cho hai linh mục cộng sự của mình là Borri và Pina dồn tâm trí vào việc chế tác chữ Quốc Ngữ.

Cùng thời, hai địa điểm cũng được xem là những nơi xuất phát chữ Quốc Ngữ đầu tiên là Hội An và Dinh Chiêm (**), tuy nhiên nhiều tài liệu chứng minh rằng Nước Mặn vẫn là nơi đầu tiên phát sinh chữ Quốc Ngữ.

Linh mục Pina có năng khiếu đặc biệt về ngôn ngữ. Ông có thể giảng đạo một cách trôi chảy bằng tiếng Việt mà không cần người thông ngôn.

Năm 1624, có bốn linh mục đến Đàng Trong. Hai linh mục Gaspar Luis (người Bồ Đào Nha) và Girolamo Majorica (người Ý) vào Nước Mặn học tiếng Việt với linh mục Buzomi. Trong khi đó, hai linh mục Alexandre de Rohdes (người Pháp) và Antonio de Fontes (người Bồ Đào Nha) đến Dinh Chiêm học tiếng Việt với linh mục Pina (lúc ấy linh mục Pina đã được thuyên chuyển về Dinh Chiêm.)

Có những tài liệu cho thấy một số chữ Quốc ngữ thời kỳ phôi thai đã được ghi lại trong các bản tường trình của: João Rodrigues Giram (1620), João Roiz (1621), Gaspar Luis (1621), Christoforo Borri (1618-1622), Francisco de Pina (1623), Alexandre de Rohdes (1625), Gaspar Luis (1626), Francesco Buzomi (1626), Antonio de Fontes (1626).

Linh mục Alexandre de Rhodes là một thiên tài kiệt xuất về ngôn ngữ. Ông đã tổng hợp, hệ thống và chuẩn xác hoá các tài liệu chữ Quốc Ngữ để cho ra đời hai tác phẩm bằng chữ Quốc Ngữ đầu tiên có tầm vóc quốc tế là “Phép Giảng Tám Ngày” và “Tự Điển Việt-Bồ-La,” ấn hành tại Roma năm 1651. Ông tôn trọng thầy của mình là linh mục Pina (người Bồ Đào Nha) nên tự điển có phần tiếng Bồ Đào Nha mà không có phần tiếng Pháp, mặc dù ông là người Pháp.

Từ Nước Mặn ngược về thành phố Quy Nhơn, chúng ta sẽ gặp tiểu chủng viện Làng Sông. Đây là một trong những nơi có cơ sở ấn loát chữ Quốc Ngữ đầu tiên của người Việt. Tiếc rằng năm 1946, Việt Minh trưng thu cơ sở ấn loát này, lấy làm nơi in tài liệu, truyền đơn. Sau đó máy móc bị phân tán đi nhiều nơi. Ngày nay tiểu chủng viện Làng Sông chỉ còn căn phòng ngày xưa vốn là cơ sở ấn loát, với hình ảnh những máy in được chụp lại, treo trên tường. Nay tiểu chủng viện Làng Sông là tu viện của các nữ tu Công giáo.

Nhìn lại lịch sử chế tác chữ Quốc Ngữ, chúng ta thấy đó là một công trình lâu dài, qua nhiều thế hệ với những trí tuệ kiệt xuất. Sau đó là đến các thế hệ Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Trương Vĩnh Ký, Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, v.v… Đây mới là chuyện không thể “lấy làm chơi,” để rồi trong phút chốc, một ông “không phân biệt được các khái niệm ngữ âm – âm vị học, không phân biệt được âm và chữ; các con chữ mà ông đưa ra không liên quan gì tới đặc điểm ngữ âm của nó” (nhận xét của viện Ngôn Ngữ Học) là ông Bùi Hiền phá nát thứ chữ này bằng những đề nghị cải cách trái khoáy, phản khoa học, vi phạm một cách trầm trọng những nguyên lý cơ bản về ngôn ngữ học, tách chữ Quốc Ngữ ra khỏi khối ngôn ngữ quốc tế dùng mẫu tự La-tinh để ghi âm.

Tôi đề nghị ông Bùi Hiền nên đến Nước Mặn để tạ lỗi cùng những vị đã khai sinh chữ Quốc Ngữ, thứ văn tự quý báu của người Việt chúng ta.

QUYÊN DI

___________________
(*) Có người cho rằng quan Trần Đức Hoà là em rể của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên.
(**) Dinh Chiêm là thủ phủ của Dinh Quảng Nam. Ở đây “dinh” không có nghĩa là toà nhà, mà là một đơn vị hành chánh vào thế kỷ 17, gồm phủ Điện Bàn, phủ Thăng Hoa, phủ Tư Nghĩa và phủ Hoài Nhơn. Dinh trấn Quảng Nam nằm bên bờ bắc sông Thu Bồn.

BẢNG MẪU TỰ TIẾNG VIỆT VỐN ĐÃ HAY VÀ ĐỦ…

 

Bài viết ngắn này không nhằm “tranh luận” với PGS TS Bùi Hiền về đề nghị “cải tiến chữ Việt” của ông cho bằng, nhân cơ hội này, chúng ta ôn lại với nhau những điểm căn bản của chữ Quốc Ngữ, là thứ chữ dùng mẫu tự La-tinh để ký âm tiếng Việt.

Bài viết rất ngắn này cũng không phải là một công trình nghiên cứu để đem ra thảo luận với các nhà ngữ học và ngôn ngữ học về tiếng Việt.

Gọi là căn bản, điều này có nghĩa là đụng chạm tới những điểm này, thay đổi hay xoá bỏ những điểm này thì chữ Quốc Ngữ không còn là chữ Quốc Ngữ nữa, mà là một thứ chữ gì khác rồi, nói rõ hơn là giết chết chữ Quốc Ngữ rồi. Cũng giống như một cái cây, người ta có thể hái hoa, hái quả, thậm chí cắt bớt cành, cái cây vẫn là cái cây; nhưng khi người ta đốn gốc, đào rễ thì cái cây không còn là cái cây nữa. Nó chết. Căn bản có nghĩa là rễ (căn), gốc (bản). Bởi vậy người ta mới nói kẻ mất gốc là “vong bản.”

Đây là những điểm căn bản của chữ Quốc Ngữ:

1. Chữ Quốc Ngữ là một hệ thống ký âm: âm phát ra như thế nào thì dùng những chữ cái (mẫu tự, ký tự) a, b, c, d, đ v.v… để ghi lại âm đó lên trên giấy. Cũng giống như người ta dùng những nốt nhạc do, re, mi, fa, sol, la, si để ghi lại trên giấy âm thanh của một khúc nhạc, một bản nhạc. Điểm này cho thấy chữ Quốc Ngữ và chữ Hoa (chữ Tàu) đặt trên hai nền tảng hoàn toàn khác nhau: chữ Hoa đặt trên nền tảng hình vẽ, hình tượng thế nào thì vẽ ra như thế, đơn giản nét đi rồi cho vào một ô vuông tưởng tượng mà thành ra chữ.

2. Chữ Quốc Ngữ là thứ chữ ghi tiếng nói của cả nước chứ không phải ghi tiếng nói của một miền, một vùng, một thành phố, cho dù thành phố đó là Hà Nội. Khi các nhà truyền giáo sáng tạo chữ Quốc Ngữ, các ông này đã đi khắp tất cả mọi nơi trên đất nước ta: Đàng Trong, Đàng Ngoài, miền Bắc, miền Trung, miền Nam, thu thập các cách phát âm, tổng hợp lại mà ra các âm (thể hiện bằng những chữ cái) và các thanh độ (thể hiện bằng các dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng.) Khi chỉ dựa vào cách phát âm của một miền, một vùng, một thành phố để làm thành bộ chữ thì thứ chữ ấy không thể được gọi là chữ Quốc Ngữ nữa. Ấy là chưa kể người của một vùng có thể thay đổi cách phát âm, lý do là có sự thay đổi người sinh sống ở vùng ấy. Người Hà Nội trước đây và người Hà Nội bây giờ trong cách phát âm có nhiều điểm không giống nhau.

3. Chữ Quốc Ngữ là thứ chữ có thể nói là duy nhất tại Á châu nằm trong khối chữ viết dùng hệ thống mẫu tự La-tinh. Những thứ chữ khác tại Á châu cũng dùng bảng mẫu tự La-tinh đều chỉ có tính cách thử nghiệm hoặc sử dụng trong phạm vi hạn hẹp, hầu như chỉ có tính cách phiên âm mà thôi. Đã gọi là nằm trong một hệ thống thì cách phát âm qua ký hiệu là các chữ cái phải giống nhau hoặc tương tự. Thí dụ: âm [thờ] được ký âm bằng hai chữ cái T và H: TH. Nhìn ký tự TH, người ta phát âm được là [thờ]. Nếu đổi đi, dùng ký tự W để ghi âm [thờ] thì tự mình tách ra khỏi hệ thống chung, gây rắc rối, khó hiểu chứ không phải là “hội nhập” thế giới. Người dạy tiếng Việt ở nước ngoài, khi dạy thường phải dùng phương pháp đối chiếu các ngôn ngữ: tiếng Việt với tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây-ban-nha. Học viên cảm thấy chữ Việt cũng có cách viết tương tự như ngôn ngữ của họ khiến họ cảm thấy dễ học, dễ viết. Đổi TH thành W để ghi âm [thờ] thì học viên chỉ có nước… chết!

4. Bảng mẫu tự tiếng Việt vốn có (từ thời Alexandre de Rhodes) (1) dựa vào nguyên tắc “đơn giản tối đa” để dễ học, dễ nhớ. Thí dụ: đã có ký tự P và ký tự H, ghép lại thành PH để ký âm [phờ] thì không cần F phải có mặt trong bảng mẫu tự nữa. Vì thế mà trong bảng mẫu tự tiếng Việt không có những chữ cái F, J, W, Z.

5. Tuy đơn giản, bảng mẫu tự này lại rất tinh tế. Cùng là âm [cờ] mà bình thường được ghi bằng ký tự C, lại được ghi bằng ký tự K khi âm [cờ] này đứng trước những âm I, E, Ê vì đây là 3 âm đầu lưỡi, và được ghi bằng ký tự Q(u) khi đứng trước một số âm/vần bắt đầu bằng U (và O.) (2) Bỏ mất điểm tinh tế này đi, chữ Quốc Ngữ mất đi phần nào nét đặc biệt của nó. Vả lại, nếu đồng hoá, chỉ dùng K cho tất cả các âm [cờ] thì sẽ ra tình trạng hai chữ CỦA và QUẢ được viết giống nhau: KỦA.

6. Chữ Quốc Ngữ có đặc điểm là âm nào phát ra được cũng ghi (viết) được và chỉ có một cách viết đúng mà thôi. Thí dụ: phát âm là [chuyện] với phụ âm [chờ] đứng đầu thì phải viết là CHUYỆN; mà phát âm là [truyện] với phụ âm [trờ] đứng đầu thì phải viết là TRUYỆN. Người Hà Nội có thể phát âm hai âm [chuyện] và [truyện] giống nhau, đều là [chuyện] mà thôi, nhưng tại rất nhiều vùng trên toàn đất nước, đồng bào mình phát âm rất rõ hai âm [chuyện] và [truyện]. Không nên làm nghèo cách phát âm phong phú của người mình.

Tóm lại,

Bảng mẫu tự tiếng Việt, nếu là bảng tiêu chuẩn, có 23 chữ cái:
A B C D Đ E G H I K L M N O P Q R S T U V X Y

Bảng mẫu tự tiếng Việt, nếu là bảng đầy đủ, có 29 chữ cái:
A Ă Â B C D Đ E Ê G H I K L M N O Ô Ơ P Q R S T U Ư V X Y

Chúng tôi thấy đây là hai bảng mẫu tự rất đơn giản và đầy đủ, không cần phải cải cách, thêm bớt gì cả.

Còn việc phiên âm những tiếng nước ngoài, trong đó có các ký tự F, J, W, Z lại là một vấn đề khác, chúng tôi không bàn tới ở đây.

Sự “cải tiến” như PGS TS Bùi Hiền đề nghị đã làm méo mó chữ Quốc Ngữ, nếu không muốn nói là ám sát nó, rất nguy hại. Nó khiến người ta hoang mang, tốn thì giờ, tốn công sức. Và nếu vô phúc nó được đem ra áp dụng thì tiết kiệm đâu không thấy, chỉ thấy nó tiêu phí rất nhiều năng lực, thì giờ và tiền bạc.

Để tránh sự nguy hại này, chúng tôi đề nghị chúng ta không tiếp tay phổ biến nó, cho dù chỉ là phổ biến để làm trò cười với nhau. Càng làm cho nhau cười, thứ chữ “cải tiến” này càng lan rộng. Các em trẻ tuổi vốn thích nghịch ngợm đã “chế tác” ra đủ các loại chữ viết “bí hiểm” để “chít chát” với nhau, nay gặp được thứ đồ chơi này sẽ đem ra dùng… cho biết. Dùng hoài hoá thiệt. Rốt cuộc, người ta không còn biết đâu là đúng đâu là sai nữa. Bây giờ đã thấy xuất hiện một bộ “Cuyển dổi Tiếq Việt” rồi đó. (3)

QUYÊN DI

(1) Alexandre de Rhodes không phải là ông tổ của chữ Quốc Ngữ. Khi đến đất Việt để truyền đạo, ông phải học tiếng Việt qua các sách (chép tay) của các giáo sĩ Bồ-đào-nha đã đến miền đất này trước ông. Nhưng Alexandre de Rhodes đã có công lớn nhất trong việc hình thành và phát triển chữ Quốc Ngữ. Ông là tác giả hai tác phẩm chữ Quốc Ngữ đầu tiên, ấn hành tại Rome năm 1651: “Tự Điển Việt-Bồ-La” và “Phép Giảng Tám Ngày.”

(2) Sự thật QUÝ là QU + UÝ, khi viết chúng ta giản lược một chữ U, thành ra QUÝ; QUẢ là QU + OẢ, khi viết chúng ta giản lược chữ O, thành ra QUẢ. Hiện tượng này cũng tương tự như GIÊNG là GI + IÊNG, khi viết chúng ta giản lược một chữ I thành ra GIÊNG. Có thể một số vị không đồng ý với cách giải thích này.

(3) Chúng tôi không mất thì giờ ghi lại tất cả những thay đổi, thêm bớt vào bảng mẫu tự tiếng Việt của PGS TS Bùi Hiền mà ông gọi là “cải tiến”. Tiếp tay phổ biến chúng làm gì! Chúng tôi cũng không tiếp tục thảo luận về vấn đề “cải tiến chữ Việt” trên trang Facebook này. Không ích gì! Ngoại giả, không ai cấm vấn đề “cải tiến chữ Việt” được trình bày và thảo luận trong các cuộc hội thảo ngôn ngữ.

No automatic alt text available.

No automatic alt text available.

QUYÊN DI

quyendi

Hôm nay, ngồi đọc sách dưới một vòm cây râm mát trong vườn, tự nhiên tôi muốn viết về lá.
Hình như lá hiện diện ở bất cứ nơi nào có sự sống. Ngày xưa ông Noe tránh nạn đại hồng thủy trên tàu; sau khi tàu đã trôi lênh đênh nhiều đêm ngày, ông muốn kiểm chứng xem mặt đất đã khô cạn và có sự sống chưa, liền thả chim bồ câu ra nhiều lần, cho đến khi bồ câu bay về, mỏ ngậm cành lá ô-liu, ông biết rằng mình đã có thể sinh sống trên mặt đất.
Lữ hành đi trong sa mạc, khi nào thấy có cây cối và cành lá xanh tươi, họ biết rằng nơi ấy có nước, có sự sống. Màu xanh của lá chính là niềm ước mơ, khát vọng của người đi trong sa mạc. Khát vọng ấy quá lớn lao, đến độ nhiều khi đã trở thành ảo ảnh, khiến họ nhìn đâu đâu trên dải cát vàng mênh mông cũng thấy cây, thấy lá.
Nói đến cây và lá trong sa mạc, tôi nhớ đến những cây xương rồng, những bụi gai mọc lên và sống rất lâu năm trên những vùng đất cằn cỗi và nóng bỏng. Cây cần nước, vậy mà tại những nơi ấy, nước rất hiếm hoi. Để cây có thể sống, lá cây thu lại nhỏ li ti hoặc biến thái thành gai, hầu cho diện tích thoát hơi nước hẹp tới mức tối đa, giúp cho cây giữ được nước trong thân. Nghĩ đến cây và lá, tôi lại nghĩ đến người. Trước lợi ích chung của cộng đồng, tập thể có mấy ai trong chúng ta dám thu nhỏ mình lại, dám lui đi, dám tự tan biến?
Thông thường nhất, khi còn ở trên cây, lá làm nên một khoảng râm mát, che cho con người khỏi cái nắng cháy da. Chuyện có vẻ bình thường, nhưng nếu suy nghĩ về hình ảnh ấy, tôi thấy rõ ràng rằng dù tôi có yếu đuối về thể lực, có hạn hẹp về kiến thức, có nghèo nàn về tài chánh, thì chính cuộc sống của tôi cũng đã góp phần giúp ích nhân loại, nếu tôi có thiện chí và dám hy sinh. Muốn che nắng cho con người, chính lá phải đưa thân ra chịu nắng thiêu đốt. Muốn bảo bọc ai, hy sinh cho ai, tôi cũng phải giống như lá, tình nguyện chịu hủy hoại, chịu thiêu đốt. Bằng không, lòng mong ước hay lời nói của tôi không đem đến một kết quả cụ thể nào.
Ngay cả khi đã rụng xuống, đã chết, lá vẫn còn giúp ích cho con người. Người ta gom những lá khô ấy lại, đốt lên, làm thành ngọn lửa sưởi ấm trong những ngày mùa Đông giá buốt. Con người, có mấy ai chịu thiêu đốt để trở thành ánh lửa sưởi ấm cho nhau?
Có những cô thiếu nữ mơ mộng, không đốt lá vàng, nhưng ép những chiếc lá ấy trong sách. Ngắm những chiếc lá khô ép mỏng, người ta có thể bùi ngùi nghĩ lại cả một chuỗi dài kỷ niệm. Lá, khi ấy, trở thành một người bạn thầm lặng, nhắc nhở cho ta những thăng trầm của cuộc sống, những biến đổi của thời gian.
Một vườn um tùm hoa lá là hình ảnh tươi đẹp nhất của cuộc sống chung và bình đẳng. Từ những chiếc lá to như lá chuối, lá cau, lá dừa, lá đu đủ; những chiếc lá hạng trung như lá đa, lá đề, lá bàng… cho đến những chiếc lá nhỏ xíu xiu như lá me, lá trinh nữ… tất cả đều vui tươi dưới ánh mặt trời và đều vươn lên đầy sức sống. Từ những thứ lá tuốt trên cao như lá thông, lá tre, cho đến những thứ lá là đà sát đất như bụi rau, bờ cỏ… tất cả đều tự do phát triển và nảy nở. Không thứ lá nào phủ nhận thứ lá nào, không thứ lá nào xem thường thứ lá nào. Người ta dù có cách biệt nhau về thể chất, tài năng, tiền của… nhưng có lẽ sự cách biệt ấy không quá đáng như tàu lá dừa và cái lá me. Vậy mà người ta vẫn cứ lên mặt với nhau, khinh thường và phủ nhận nhau. Bao giờ người ta biết sống chung và sống bình đẳng như lá, người ta sẽ tạo ra một xã hội xanh mát, vui tươi như một vườn đủ mọi loại lá hoa.
Lá là biểu tượng của niềm hy vọng và hòa bình. Màu xanh của lá có thể nói là màu vui tươi nhất, đầy sức sống nhất, màu gợi cho ta về một tương lai đấy hứa hẹn. Cành lá uốn cong trong dấu hiệu của Liên Hiệp Quốc nói lên khát vọng hòa bình của con người. Nếu tôi sống làm sao, mà khi nhìn vào tôi, người khác thấy một sự bình yên, một niềm an lạc; thấy yêu đời, vui tươi và hy vọng… khi ấy tôi trở nên giống lá, trở nên biểu tượng của hy vọng và hòa bình.
Lá cũng là hình ảnh trọn vẹn nhất của kiếp người. Người ta lọt lòng mẹ với thân phận hài nhi, dần dần lớn lên, phát triển, trưởng thành; trải qua nhiều biến thiên dời đổi của cuộc đời, rồi già, rồi bệnh và chết. Chiếc lá cũng thế: bắt đầu nhú ra từ cành cây, xanh non, nhỏ xíu, rồi phát triển, lớn lên dần, đậm màu dần. Trải qua mưa nắng và tiết mùa, lá đã nhiều lần thay đổi hình dạng và sắc độ. Kịp đến khi mùa Thu tới, lá úa vàng, lắt lay theo ngọn gió… để rồi giữa Thu hoặc sang Đông, lá lặng lẽ rời cành. Cũng có khi vì một lý do bất thường nào đó, lá vàng còn ở trên cây mà lá xanh đã mau rơi rụng. Chính vì thế mà khi ngả mũ chào một đám tang đi qua, ”thiên hạ bên đường nhìn xe tang tự hỏi: lá mùa Xuân hay lá úa mùa Thu?” Có lẽ đời lá diễn tả trọn vẹn đời người, nên không biết bao văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ đã lấy lá làm đề tài diễn tả tình người. Riêng tôi, nhìn lá, tôi cảm nhận được thân phận mỏng manh của kiếp người và của chính mình. ”Đời sống con người chóng qua như cỏ như hoa mọc giữa cánh đồng; một cơn gió thoảng cũng đủ làm nó biến đi, và nơi nó mọc không còn vết tích.” Cảm nhận và ý thức như vậy, tôi quý trọng đời sống của tôi, và cố gắng sống thế nào để những ngày hiện hữu trên mặt đất trở nên hữu ích cho tôi và cho người khác.
Dành cho anh chị em Công giáo:
Chúa nhật này là Chúa nhật Lễ Lá. Cành lá trong ngày Chúa nhật Lễ Lá mang nhiều ý nghĩa. Nó nói lên vinh quang của Thiên Chúa mà cũng nói lên tính hay thay đổi và bội bạc của con người.
Lá mang nhiều ý nghĩa. Lá gửi đi nhiều thông điệp. Nhưng trong lúc này, câu khiến tôi suy nghĩ nhiều nhất là: “Lá rụng về cội.” Lá do chính sức sống từ gốc cây chuyển lên thân cây, cành cây mà tạo nên, lá phát xuất từ gốc cây. Một ngày kia, lá già lá rụng, cũng lại rơi xuống gốc cây nơi từ đó lá phát sinh. Câu này có ý nói dù sao đi nữa, thì cuối cùng người ta cũng trở về với nguồn gốc của mình. Người ta nghĩ đó là một định luật và là một lẽ đương nhiên.
Nhưng tôi nghĩ, chưa chắc “lá rụng về cội” đã là một lẽ đương nhiên. Nhìn vào hình ảnh thực tế, bao nhiêu chiếc lá rụng nằm dưới gốc cây, bao nhiêu chiếc lá bay tản lạc đi nơi khác? E rằng số lá rụng ”cuốn theo chiều gió” nhiều hơn những ”lá rụng về cội” rất nhiều. Như thế, “lá rụng về cội” không hẳn là một lẽ đương nhiên.
May mắn, tôi ý thức được tôi do Thiên Chúa tạo dựng, Thiên Chúa là cội nguồn của tôi. Nhưng ý thức được như vậy là một chuyện, sống làm sao để khi xuôi tay nhắm mắt, tôi về được ”cội nguồn” Thiên Chúa lại là một chuyện khác. Muốn trở lại cội nguồn, tôi phải giữ cho thân tâm an định, để không bị ”cuốn theo chiều gió”. Mà cuộc đời này, biết bao nhiêu là những cơn bão loạn. Luôn luôn phải nghĩ về cội nguồn, luôn luôn phải có mối dây liên lạc thân tình với Thiên Chúa, tôi mới có thể giống như ”lá rụng về cội” được. Để được như “lá rụng về cội”, tôi phải có được sự khao khát của một Augustinô: “Hồn con khắc khoải trông đợi Chúa, và chỉ nghỉ an khi gặp được Ngài.”

Trích một số đoạn trong bài viết “Lá”, in trong tuyển tập suy tư “Nhìn Xuống Cuộc Đời” (Quyên Di – Nhà xuất bản Thời Điểm – 1995)

QUYÊN DI

Tối Nhìn Đồng Hồ, Uống Cà Phê Với Học Trò

12122449_10207500141559424_7979557059721741411_n

Đồng hồ con nhanh, đồng hồ thầy chậm
Thời gian còn dài, con thích đi nhanh
Thời gian ngắn dần nên thầy đi chậm
Chậm, nhanh cũng là những chuyến vòng quanh.

Đồng hồ hai kim, chỉ giờ chỉ phút
Con là kim phút quay rất nhiều vòng
Thầy là kim giờ từ từ từng chút
Không còn nhiều vòng cho cuộc long đong.

Đồng hồ của con là đồng hồ mới
Mặt đồng hồ đẹp, sáng bóng như gương
Đồng hồ của thầy hình như hơi tối
Mặt kính mờ mờ như phủ hơi sương.

Đồng hồ của con, thầy nhìn rất thích
Xinh xắn mỹ miều trông rất có duyên
Đồng hồ của thầy kêu đều tích tích
Con muốn nghe hoài điệp khúc bình yên.

Con uống với thầy cà phê buổi tối
Thầy uống với con chén đắng cuộc đời
Hình như ngoài kia đêm về rất vội
Một ánh sao khuya mọc ở cuối trời.

Cà phê của con vừa thơm vừa ngọt
Cà phê của thầy vị đắng không tan
Dù là ngọt thơm hay là đắng đót
Cũng là hương đời, vị của trần gian.

Tách cà phê con vẽ hình rất đẹp
Có lá có hoa và lắm trái tim
Tách cà phê thầy những vòng tròn khép
Như chúng đang chơi một cuộc trốn tìm.

Đứng lên ra về, để quên trên ghế
Vũng tối nhạt nhoà, vết tích thời gian
Cả thầy và con đem gì về thế?
…Đem ánh sao khuya một tối êm đềm.

Quyên Di

12088435_10207438618501386_623427938873182173_n
12088368_10207438619221404_6751875370569637427_n