Sydney, Những Ngày Hạ Xanh

phamnga

Đi trên đường John, cứ ngỡ Sài Gòn một dạo;
Ngồi Cà phê 86, cứ ngỡ tưởng Brodard.
*Nguyễn Ngọc Thành

1.
Tôi đến Sydney vào cuối tháng 11. Nghe vậy, một người bạn vui vẻ nhắn trên facebook “OK, ở đây đang cuối xuân đầu hạ. Còn vài cơn mưa nhưng nói chung là ấm áp, mát mẻ…”. Lần đầu tiên đặt chân đến nước Úc, rồi ở được vài ngày, tôi lại thấy cái ‘nói chung’ trong message của anh bạn có hơi khác trời thực đất thực một chút. Trước hết, thời tiết ở đất Úc – ghi nhận cụ thể là thành phố Sydney, nơi tôi sống gần 3 tháng – phải nói là lạ lùng. Giữa mùa hạ, giữa những chuỗi 3 – 4 ngày thật nóng đột ngột có một ngày lạnh, bất kể hôm đó không mưa hay có mưa. Hoặc sáng ra, mới sớm mai chỉ thấy nắng, nóng nhưng đến trựa lại đổi qua lạnh, lạnh luôn đến chiều tối. Có ngày, đã biết trước là 37-38 độ C nhưng sáng sớm, mở cửa bước ra đường thì phải có áo ấm, khăn choàng cổ vì lạnh đến 16 -17 độ C.
Do thời tiết kiểu Nắng Sydney, anh đi mà chợt… lạnh – xin lỗi dám nhái thơ Nguyên Sa – nên chỉ ở Úc đôi ba ngày thôi là tôi đã rành ngay việc theo dõi bản tin thời tiết trên tivi địa phương. Khi đã nắm được thông tin dự báo nắng mưa, nóng lạnh, tôi có thể dạn miệng, thoải mái cùng mọi người trong nhà bàn tính cho ngày mai, ngày kia, tuần tới… sẽ đi đâu, là đi chơi xa hay chỉ là đi shop gần nhà, sao cho thuận với “thiên thời”, cũng như chuẩn bị cho chu đáo mọi thứ, từ nón rộng vành, áo lạnh, giày vớ cho đến dù ô, áo mưa, khăn choàng cổ …
Căn nhà tôi ngụ nằm trên một ngọn đồi nhỏ, có vẻ như là điểm cao nhất khu vực Cabramatta West, thuộc Fairfield City, phân khu hành chánh phía Tây của thủ phủ Sydney. Điều thú vị là ngày mùa hạ ở Úc rất dài, khoảng 6 giờ đã sáng bửng và đến 8 giờ đêm mới tắt hẳn ánh mặt trời.
Ngày dài/đêm ngắn vào mùa hạ tại Úc phải nói là quá hớp nếu đem so “Tháng 5, chưa nằm đã sáng” – hiện tượng ngày dài/đêm ngắn vào mùa mưa ở Việt Nam như một câu tục ngữ mô tả. Nếu so sánh trong cùng một chặng tháng 10, tháng 11 trong năm, ở Việt Nam có “Tháng 10 chưa cười đã sáng”, tức hiện tượng ngày ngắn/đêm dài vào mùa khô của ta, thì tháng 11 tại Úc có lẽ là “Cười mỏi miệng chưa thấy tối”, ngược ngạo hoàn toàn!
Mùa hạ, ngày rất dài, dường như để tăng thêm thời gian mỗi ngày cho người ta hưởng thụ cuộc sống nhiều hơn. Ở trung tâm Cabramatta, sáng ra thông thường 9 giờ các tiệm ăn, điểm tâm, cà phê – nói chung là sinh hoạt đường phố – mới mở cửa. Người ta ăn sáng hoành tráng, bữa trưa ăn nhẹ hoặc bỏ luôn, cũng không ngủ trưa như người Việt trong nước. Chiều đến, người ta thường dùng bữa tối sớm. Đặc biệt vào những chiều tối ngày thứ sáu, tức mai nghỉ week end, nhiều gia đình đưa nhau đi ăn ngoài nên các nhà hàng, quán tiệm đông nghẹt khách và kiếm chỗ đậu xe rất gian nan.
Cứ sáng sáng, giấc 6 giờ là tôi cùng anh sui – nhà thơ Nguyễn Ngọc Thành, lặng lẽ mở cổng đi ra đường trong khi cả nhà còn ngủ. Không rõ về những khu vực khác của quận Fairfield ra sao, riêng ở vùng ngoại ô này thì khách đi hướng nào cũng gặp công viên. Công viên cái lớn cái nhỏ đủ cỡ, nối tiếp nhau liên tục. Khách ra khỏi một công viên ở phần đường bên này, vừa sang đường bên kia đã thấy lấp ló cái khung cổng dẫn vào một công viên khác. Cùng là công viên nhưng cái có tên, cái không tên, cái từ xa đã thấy chan hòa màu sắc xanh, đỏ rực rỡ vì được đặt thêm những xích đu, cầu tuột cho con nít chơi; ngược lại là vài cái khá hiu quạnh như bị bỏ bê, cây lá rậm rạp um tùm, chắc lâu lắm rồi chẳng ai cắt tỉa và đến một dãy bờ rào cho phân biệt cũng chẳng ai dựng cho. Rồi có loại công viên lớn bao la nhưng thực chất là một sân đá banh cùng nhiều bãi đánh bi sắt và chỉ có một lối đi bao quanh sân banh là dành cho người đi bộ. Hay ở công viên Cabra-Vale Memorial Park với đài tưởng niệm tử sĩ uy nghiêm, đường bệ – nằm ở góc đường xe lửa PDE với Bartley St., thì ở đây dù cũng có đầy đủ bồn bông, thảm cỏ, lối đi bộ, băng đá…, nhưng khu tưởng niệm mới là chủ đề, lý do chính để chính quyền Fairfield xây dựng công viên này từ năm 1919.
Tôi kể lể dài dòng về mảng công viên trong một khu phố không lớn lắm như trên có lẽ do cảm giác rất dễ chịu, êm ả mỗi lúc bước ra đường thả bộ. Phần vỉa hè của con đường nào cũng vậy, thường rộng rãi và luôn có lối đi đổ bê-tông cỡ 1 mét ngang dành cho người đi bộ, cũng như tràn ngập những vạt cỏ và hoa dại viền hai bên lối đi và ô đất trồng cây lấy bóng mát. Nhà dân Úc vùng ngoại ô hầu hết làm theo theo kiểu một trệt, một lầu và gỗ được sử dụng nhiều. Nhờ vậy, trước mắt khách đi đường, không gian sống thong dong dàn trải theo chiều ngang, mềm mại theo màu xanh cây lá và chất liệu gỗ, chứ không như khung cảnh đường phố bên mình thường hiếm hoi màu xanh cây lá, cứng nhắt và bó rọ với toàn vách tường, cột xi măng và hễ có cơ hội thì chỉ phát triển theo chiều cao, được nhiều tầng càng tốt do đã bị khóa cứng chiều ngang như kiểu nhà liên kế, phố nhà ống.
Nhắc đến nhà kiểu nhà ống chung vách, san sát nhau ở Sài Gòn mới nhớ là ở xứ Chuột Túi, nhà nào cũng có sân trước, sân bên khá rộng, nghĩa là từ trong nhà, bốn phía nhìn ra cửa đều thấy các mảng xanh của bầu trời, của cây lá vây quanh nhà. Do mặt bằng thong thả, hầu hết chủ nhà chỉ cất nhà một phần của lô đất, còn lại là sân cỏ có cây xanh, bóng mát hay để thực sự là những mảnh vườn nho nhỏ để gia chủ trồng hoa, trồng rau cải, cây ăn trái theo ý thích riêng. Vườn nhà mình tiếp giáp vườn hàng xóm, cây xanh tiếp nối cây xanh. Và như đã nói, từ nhà bước ra đường là công viên – lai rai công viên tiếp nối nhau, để thế giới xanh lại chan hòa ở khắp các hướng đi, tạo nên một cảnh quan thoáng đãng kéo dài đến chân trời xa xa… Cũng thật êm ả, khỏe đầu óc khi xe cộ ở đây, dù là phương tiện di chuyển của 99.9% cư dân, từ ông giám đốc cho tới bà nội trợ, nhưng vào sáng sớm thì khá thưa thớt. Phải nói thêm rằng đúng là “xứ văn minh” khi người lái xe ở Úc không có thói bóp còi inh ỏi vô lối như ở xứ mình. Đa số các xe, lại khác Sài Gòn là thường phóng nhanh tới 60-70 km/giờ nhưng tài xế luôn luôn giữ luật rất nghiêm túc, chặt chẽ, cũng như đường xá rất tốt nên tai nạn rất ít xảy ra.

2.
Tôi cho rằng, ở đất nước này, một khi đã được miễn trừ tiếng ồn tàn khốc của xe cộ rồi thì âm thanh rộn ràng nhất có thể nghe được ngoài đường phố chính là tiếng chim chóc. Chim chóc trên đường phố có nhiều giống loài, phổ biến là quạ, sáo, kéc, cu đất, bồ cầu rừng…, ít hơn là chim sâu, cò quắm, cò trắng, chích chòe, vịt nước, le le và vài chú mỏ dài hay lặn hụp ở các mương xả nước mưa. Chim tụ tập nhiều nhất là trong các công viên toàn cây xanh, thảm cỏ. Lạ là bất cứ ở đâu cũng không thấy bọn se sẻ, giống chim cư-dân-đô-thị quen mặt ở VN.
Chim líu lo, ríu rít hót, kêu với đủ loại chất giọng, âm vực khi bay, nhảy, kiếm ăn trên bãi cỏ, cành cây. Thường ồn ào, chộn rộn nhất là lủ quạ và kéc. Kéc thì đủ màu: kéc xanh, kéc trắng, kéc trắng/hồng, kéc ngũ sắc; quạ thì có quạ đen, quạ khoang. Nhiều con quạ, dù đang mãi miết mổ tìm mồi rất lâu trong cỏ hay đang đứng im trên dây điện cũng đột nhiên – không rõ vì chuyện gì – vừa bay đi vừa lớn tiếng kêu quang quác, khiến người đi đường giật cả mình.
Tôi đã thầm mến phục thái độ sống gần gũi với chim chóc của người dân Úc. Hay ít ra với một mớ luật lệ được họ đặt ra nhằm bảo vệ chim chóc nói riêng và thú hoang dã nói chung, người Úc chấp nhận cho chim chóc sống kề cận mình, dù ở nơi đồng quê hay thành phố cũng thế. Trừ trường hợp đặc biệt như có bệnh dại, bệnh truyền nhiễm phát tác trong thú hoang dã, còn bình thường không ai được phép tấn công, giết hại chim chóc. Do vậy, chừng như chim chóc rất an tâm, không sợ bị bắt, bị giết, bị làm thịt nên chúng cứ ung dung lẩn quẩn bên cạnh con người. Và khi gần gũi với chim, một giống loài hoang dã rất đông đảo trên trái đất, người dân ở Úc – nhất là thị dân – sống gần với thiên nhiên hơn. Ít ra là gần thiên nhiên hơn hẳn người Việt trong nước, đa số vốn có tập tục lạnh lùng là thấy chú chim lơ đãng nào đó xớ rớ đến gần thì lập tức tìm cách chụp, bẫy để cho nó …lên dĩa.
Tất nhiên, ở đây nói người dân ở Úc “sống gần thiên nhiên” hoàn toàn không có nghĩa dân xứ Chuột Túi còn man dã, còn ở trình độ phải săn bắt chim, thú hay hái lượm trái rừng để nuôi miệng. Trái lại, được xếp vào hàng quốc gia phát triển trên thế giới, nước Úc cứ văn minh tiến bộ, nhưng người Úc cứ chọn một lối sống gần gũi thiên nhiên, gần gũi chim, thú hoang dã. Thậm chí, có người ở đây còn đi shop lựa mua thức ăn sản xuất riêng cho các loại chim, đem về cho vào hộp treo ngoài vườn cho chim sà xuống tranh ăn và xem chim ăn là một thú vui nhẹ nhàng của họ.
Lúc nào người dân xứ này cũng dễ dàng và thường xuyên nhận ra sự hiện diện của chim chóc. Chưa thấy mặt thấy mỏ chúng là đã nghe tiếng chúng hót hay kêu, la tùy lúc. Và trước tiếng chim kêu, hót đâu đó, không thấy ai ở xứ này, cả dân Tây lẫn dân gốc Việt, tỏ vẻ ngạc nhiên tới mức xem đó là hiện tượng lạ, âm thanh lạ, đáng để chú ý, tìm hiểu. Ngược lại, chỉ đáng quan tâm là khi chợt có một bãi cứt chim trắng sệt dính trên mui xe, kiếng xe mà thôi.
Còn vì lý do gì mà ngay tại Sài Gòn, ở vùng ngoại ô hiện vẫn có một số người sống bằng nghề bẫy chim bằng lồng, lưới, keo dính thần sầu của Trung Quốc? Trước hết, họ bẫy chim để kiếm tiền khi bán chúng cho những đầu nậu buôn bán chim phóng sinh. Tiếc rằng, cái nghề tạm coi là cũng kiếm ra chút ít tiền này không hề được công nhiên ghi trong danh sách ngành, nghề xã hội – đương nhiên là những nghề lương thiện, cũng như không hề được khuyên khích bởi tàn sát chim chóc, làm tổn hại đời sống thiên nhiên. Kế đó, cần nói đến những bà con cứ cúc cung mua chim đem phóng sinh trước cổng chùa, rôi hồn nhiên nghĩ là mình đang làm phước, giúp chim được tự do. Ước gì bà con hiểu cho rằng mình càng “làm phước” kiểu trên là càng khuyến khích đám đầu nậu buôn bán chim cùng đám “thợ” săn, bẫy chim có cớ để bắt nhiều chim hơn nữa, tức làm nhiều chim chóc bị mất tự do hơn nữa.

3.
Chưa đặt chân vào đất Úc tôi đã cảm thấy thật hạnh phúc khi dư biết qua tới bển thế nào bạn bè, nhất là giới văn nghệ – báo chí, cũng đưa mình đến các quán cà phê Việt – không bỏ sót quán nào. Đó là cách bạn bè gặp nhau dễ nhất, gọn nhẹ nhất, trước khi bàn tới chuyện ăn nhậu hay đưa nhau đi chơi, viếng thăm các thắng cảnh, đền đài…
Ở Cabramatta/Sydney, phải nói là hiếm hoi mới có vài quán cà phê quý giá – theo nghĩa có không khí rất Việt, tức như thể được mặc nhận là chỗ riêng của người Úc gốc Việt cùng du khách Việt Nam nên nghe toàn tiếng Việt. Như Cafe Nhớ ở hẽm 68A đường John và một quán cùng tên, cùng chủ ở đường Bankstown, hay Quán Xưa và Cafe 86 cũng nằm trên đường John, hoặc Vy Vy Garden Cafe ở Canley Vale Road… Ở những quán này, không khí cà phê thuốc lá quen thuộc như ở Sài Gòn. Cũng những quý ông – đa số đã ngoài tuổi trung niên – thường ăn mặc bụi bậm, hầm hố, ngồi nhâm nhi cà phê, chuyện trò rôm rã cùng bạn bè hay lặng thinh, tư lự một mình theo tiếng nhạc Nhật Trường, Khánh Ly… Như thế, cung cách khách uống cà phê ở đây hao hao giống dân ghiền cà phê, ghiền ra quán cà phê ở Sài Gòn.
Chỉ tiếc là về thức uống, một mặt cà phê Úc ngon bởi chắc chắn không bị trộn bắp nhưng mặt khác vẫn thua cà phê Việt 1% bởi thường rất khó kiếm ra món cà phê pha phin, nhỏ giọt mà toàn cà phê pha máy, như: espresso (gồm 3 bậc black khác nhau), late (½ sửa ½ cà phê), cappuccino (cà phê pha sửa tươi và bột chocolate). Riêng cappuccino là thức uống phổ biến nhất, chiếm 90% cà phê được bán trong các quán cà phê tại Úc.
Và thật tiếc nữa, trong khi chính một người Úc, nhà văn/nhà báo/blogger/dân du lịch “bụi” chính hiệu Ben Groundwater, trên chuyên trang du lịch báo The Sydney Morning Herald đã bình chọn cà phê sữa đá Việt Nam vào hạng 2 trên 10 loại café ngon nhất thế giới, tại quán xá trên đất Úc lại rất khó kiếm ra món uống rất thông thường ấy, tức cà phê đúng kiểu quán xá VN gồm một cốc cà phê phin với sữa đặc-có- đường, nhất định không dùng sữa tươi, cùng một ly đá để sẵn bên cạnh.
Dù sao, cũng rất vui là sau này, tại một khu shop Việt ở Inala, thành phố Brisbane, tôi tình cờ thấy một tấm bảng ghi “Cà phê sữa đá đúng kiểu Việt Nam” nơi một cửa hàng bán đủ thứ đồ giải khát, chủ gốc Việt, bèn mua take away, uống cũng tạm được.
Trở lại với Sydney, biết tính tôi chỉ uống cà phê phin, nên mới ngày thứ nhì tôi đến đây, con gái tôi đã đi shop Việt mua cho một một cái phin inox rất đẹp. Nhưng gia đình con gái tôi và sát bên là anh sui, họ chỉ dùng cà phê hòa tan, tôi đành khẽ lên tiếng về cà phê rang xay. Chuyện nhỏ, đã ở tại Úc thì muốn hàng nội địa như Gloria Jeans, The Coffee Club hay hàng ngoại là Trung Nguyên đều có cả. Và, nói ra thì có vẻ lẩm cẩm, khi được đi thăm bà con, bạn bè ở Brisbane và Melbourne, tôi đều cắp nách theo cái phin và bịch cà phê Trung Nguyên 500 gr. đang uống dở. Làm vậy cho chắc ăn, cũng để các chủ nhà không phải lo liệu gì cho một thói tật riêng của mình.

4.
Có những buổi chiều, như chiều hôm qua, thời tiết không tốt. Bầu trời xám xịt và mưa lâm râm. Tôi vẫn ráng xỏ giày thể thao, nón vải cùng áo khoác nylon, nhất định bước ra đường thả bộ, bởi muốn phục hiện một cảm giác dễ chịu – không thể kiếm ra ở Sài Gòn – khi đi bộ thể dục ở những công viên vào những sáng trời se lạnh. Và cả cái thú suy tưởng giữa công viên vắng lặng nữa, kể cả vừa giữ nón vừa suy tưởng giữa những cơn gió thổi mạnh, rào rạt thổi tới thổi lui từng chập.
Cũng có một vài buổi chiều khác, thời tiết thật dễ chịu, mát mẻ và khô ráo, anh Thành hay rủ đối ẩm rượu chát ở chỗ sân lộ thiên. Toàn nhãn red wine Úc, khi thì Wolf Blass khi thì Cabernet Chauvingon, đều có vị vừa uống, không quá chát, không quá ngọt và màu đỏ thật đẹp. Chỉ có kiểu uống của hai bạn già là bụi đời, không đẹp mặt đẹp mày cho lắm vì bỏ ra sân đều giản đơn là những thùng nhựa cũ, loại đựng bình gaz, nay lật úp trên sàn xi măng để làm bàn, ghế cho bữa rượu tri kỷ. Mồi nhậu cũng đơn giản, có khi là bánh snack tôm, đậu phộng, con mực khô, có khi là dĩa salad xúc xích, trộn cả lá bồ công anh. Chủ nhà đã giải minh ngay cho tôi rõ, rằng đây không phải là thứ cây giống như cỏ, có hoa vàng, mọc hoang ngoài đường như tôi đả từng thấy hoài mà là một loại rau xanh, bảo đảm sạch vì được trồng chính quy trong các trang trại.
Chúng tôi nhâm nhi thật chậm rãi, nói đủ thứ chuyện trên đời. Đề tài nào cũng thú vị tuy hay bị ngắt ngang bởi nhảy từ chuyện này sang chuyện khác, hay bởi những lỗ hổng trong trí nhớ tuổi già. Anh Thành nhắc lại nhiều chuyện cũ, kỷ niệm xưa như thời còn đi lính lắm hiểm nguy và may rủi trước 30 tháng 4, thời thiếu đói, ăn độn trong nước, thời mới qua Úc, vất vã đi làm farm…
Có lúc, người bạn già có việc, trở vào nhà hơi lâu. Tôi ngồi một mình, chẳng phiền hà gì tình trạng cô độc bất chợt này, không có chuyện để nói hay nghe thì cứ tha hồ nghĩ ngợi – đúng hơn là trở lại với những chuỗi cảm nhận chưa hoàn tất về đất nước này.
Buổi chiều của những ngày hạ ở đây là thời khắc kết thúc một ngày bình-thường-như-mọi-ngày ở một đất nước có thành tích tốt nhất thế giới về đời sống cho người dân, đó là nếp sinh hoạt lành mạnh, tổ chức an sinh xã hội chu đáo, khoa học, hợp lý, bình đẳng. Hàng hóa, đồ tiêu dùng các cấp hạng đều dư dã, dễ tìm và điều tuyệt vời là do nền kinh tế phát triển, phúc lợi xã hội nhiều và dàn đều, nên hầu hết người dân đều có thu nhập, đều có khả năng mua sắm, tiêu xài. Môi trường sống không bị ô nhiễm ở nhiều mặt, không khí sạch, nước sạch, ít tiếng ồn… Cũng ở đất này, đỉnh cao của văn minh nhân loại được thể hiện qua sự thượng tôn con người và nhân vị. Luật lệ và qui đinh trật tự xã hội của nước Úc chuyên tâm phục vụ sao cho tốt nhất, hiệu quả nhất, cũng như tạo nhiều đặc quyền, đặc lợi hợp tình, hợp lý cho trẻ em, người già, phụ nữ, người tàn tật. Cả người đi xe đạp ngoài đường cũng có lối đi dành riêng để khỏi bị xe ô – tô chèn lấn vô tội vạ.
Trên thế giới nói chung, từ xa xưa vốn có kiểu trọng phụ nữ của đàn ông phương Tây mà dân mình vẫn gọi là “nịnh đầm kiểu Tây”. Tại đất nước này, tôi mới thấy quý ông nịnh đầm không chỉ là sơ sịa nhường bước cho quý bà kiểu “Lady first!” thôi đâu. Ngay bữa mới đặt chân xuống phi trường Sydney, khi cùng các hành khách khác đẩy xe hành lý băng qua một con đường nội bộ gần cổng ra, tôi đã chứng kiến một người công nhân Úc, da trắng, đã lớn tuổi, vừa tươi cười chạm nhẹ ngón tay vào vành chiếc mũ bảo hộ trên đầu để chào một bà khách, vừa mau mắn bước tới đẩy xe dùm bà này. Và ngoài đường, tình cờ đối mặt nhau trên vỉa hè đi bộ, chẳng quen chẳng biết mà vẫn thường có những người Úc da trắng nói “Good morning!” hay “Good day!” với tôi trước hay cùng một lượt.
Chiều nay, tôi ngồi một mình trong sân nhà, cũng giản dị trên một thùng nhựa cũ lật úp. Xung quanh chỗ tôi ngồi đều vắng lặng. Cả xa xa, sau những đỉnh cây của nhà hàng xóm, từ phía St. Johns Road cũng chỉ mơ hồ vọng về tiếng xe cộ chạy ngoài đường. Không gian vắng lặng, tịnh yên tạo cảm giác gần như mọi sự trong đời sống, ít ra là ở phương trời này, đều an lành, suông sẻ, đâu vào đó – vừa đủ an lành cho mỗi con người cảm nhận được niềm hạnh phúc, chừng mực thôi của đời thường.

PHẠM NGA
(Sài Gòn, tháng 8/2016)

Ký: Nhớ Bạn Làm Thơ Từ Đất Rẫy Quê Nghèo

phamnga

Ta buồn bã khiêng mùa thu xuống núi
Mưa phùn bay nhè nhẹ ở ngoài trời
Ta cóng lạnh nhìn em cười nụ nhỏ
Đẹp vô cùng nhưng ngắn ngủi, tan, vơi…

THƯỢNG THUẬT
(Khiêng Mùa Thu Xuống Núi – tạp chí Văn, 1972)

1.
Tôi và Châu kết bạn từ hơn 50 năm trước ở Sài Gòn. Hồi đó, tôi đang học đệ nhị C Pétrus Ký thì bạn trong lớp rủ vô một thi văn đoàn học trò – nhóm ‘Văn Nghệ Tim’. Tôi sớm kết thân với anh chàng nhóm phó đặc trách thơ – Ngô Văn Châu, người nghĩ ra tên nhóm. Trong giới thơ văn học trò lúc này rất phổ biến cái kiểu chọn bút hiệu khá cải lương, như trong nhóm tôi thì Châu xưng Hà Thy Châu, tôi xưng Dzũng Thy do khoái cái âm ‘Z’ trúc trắc, rồi Hà Mộng Thủy, Đỗ Lệ, Trần Thiện Ngã, Sa Miên…
Châu nghỉ học sớm, nhưng bù lại anh sớm có thơ và truyện ngắn đăng ở nhiều nhật báo, tạp chí văn hóa – nghệ thuật như Văn, Tự Thức, Thời Tập, Thời Nay, Tuổi Ngọc…, trong đó tôi nhớ nhất là bài thơ Ta Buồn Bã Khiêng Mùa Thu Xuống Núi và truyện Người Tình Ngực Lép mà anh đều ký là Thượng Thuật, đăng trên Văn, tạp chí văn học – nghệ thuật danh giá nhất miền Nam thời xưa. Châu còn cặm cụi làm một cuốn bìa đen cỡ thật lớn để cắt dán những bài thơ, văn của nhóm viên Văn Nghệ Tim được đăng trên các báo…
Đến tuổi lính thì Châu trở về quê, đăng vô cán bộ Xây dựng Nông thôn ở Trung tâm Chí Linh, Vũng Tàu. Chẳng bao lâu, anh làm biên tập viên trong tờ Nước Ta, cơ quan ngôn luận của lực lượng “áo đen”.
Châu vừa ham mê đá banh đủ để viết bài tường thuật bóng đá, vừa mê mãi làm thơ lục bát đủ để gởi cho nhiều tờ báo lớn, nhỏ cũng như để tán gái. Đúng ra, máu me văn nghệ lai láng cỡ nào cũng không đủ tạo cho Châu vẻ phong nhã, hào hoa trước mắt con gái, do nhà thơ vừa lùn, tướng thô, y như một anh thâu tiền chỗ ngoài chợ, vừa thường xuyên túng bấn, tính mời bạn gái ly nước mía cũng phải đắn đo… Vậy mà không riêng gì vài cô gái trẻ, nhiều bà già, ông già cũng dễ cảm mến Châu vì gã dân Nam bộ thuần gốc này rất cởi mở, vui vẻ, lúc nào cũng ăn nói bải buôi, ân cần với bất cứ ai, bộc lộ tánh chất phác đến buồn cười. “Để anh Châu nói em nghe nè…”, lúc nào cũng cái giọng ngọt lịm ấy mà lấy thêm tình cảm của các cô ái mộ nhà thơ, hay lối xưng ngộ nghĩnh là hô lên đầy đủ tên họ, như “Bữa nào Ngô Văn Châu với Phạm Văn Khả làm tiết canh, lòng heo nhe Phạm Văn Khả?”, do Châu đề xướng trong giới bạn bè “đồ đen” đã khiến nhiều anh rất khoái nói chuyện với Châu.
Còn tôi, từng phải nhiều lần đành cười trừ, bỏ qua về chuyện có chút nhuận bút nào từ bài tôi viết cho tờ Nước Ta thì coi như tiền… “chiến sĩ trận vong” – đúng hơn là “chận vong”. Hỏi thì Châu cười hề hề vì sau khi ký lãnh dùm tôi tại tòa soạn, cậu mình tỉnh bơ ăn “chận”, làm tiêu “vong” hết số nhuận bút, chỉ để trả những chầu café thuốc lá cho bạn bè bất kể có mặt tôi hay không. Do tôi rủ vô làm thân hữu, Châu gởi thơ tình đăng trên tập san Nghiên Cứu Triết Học của nhóm Triết ở đại học Văn Khoa Sài Gòn. Khi nhóm ra tờ tạp chí văn học – nghệ thuật ‘Tự Thức’, Châu vừa đươc đăng thử vài bài thơ, chuẩn bị gởi tiếp thì xảy tới biến cố 30-4-75.

2.
Nhà thơ Thượng Thuật, con người lạc quan, chất phác ấy khó mà còn cười nói vô tư sau ngày 30/4. Học tập cải tạo xong, anh rời Vũng Tàu rút về xã An Ngãi, thuộc huyện Long Đất, Bà Rịa, xin một ít đất của người bà con đề làm rẫy kiếm sống. Tôi thường chọc: “Ở chế độ mới, cấp cán bộ rất được trọng dụng, nể nang. Ở chế độ cũ mày cũng làm cán bộ chớ bộ, tiếc cái lại là cán bộ bình định nông thôn. Mà bọn ‘chiêu hồi’, ‘bình định’ như mày thì cũng ‘tội lớn với nhân dân’, khác gì ngụy quân tụi tao. Thôi về quê cắm câu là phải Châu ơi!”.
Muốn đến vạt rẫy khô cằn, nghèo mạt ấy thì từ phải quốc lộ đi Long Hải vượt qua khoảng 3 cây số đường mòn quanh co đi về phía chân núi Dinh Cố, khu rừng thưa rất vắng người, cây dại um tùm. Tôi nhớ cứ mỗi bận gò lưng đạp xe vô rẫy Châu, cứ thầm nghĩ giờ mà xui xẻo bị rắn cắn dọc đường thì chắc chết, vì hoàn cảnh rất rất ngặt nghèo là phải lết đi ít nhất nửa cây số đường mòn mới mong thấy được một căn chòi, căn nhà lá nào đó.
Thấm thoát mấy chục năm trôi qua, nơi nhà thơ náu thân vẫn là nhà tranh, vách đất, vẫn đèn dầu, nước giếng và cây trái còi cọc ngoài rẫy – nghĩa là gia đình Châu vẫn nghèo, nghèo suốt. Thỉnh thoảng, ngặt nghèo quá, có khi Châu phải lén cắt cỏ tranh “lộn” bên đất người bà con để bán kiếm tiền đong gạo. Cho nên mỗi lần từ Sài Gòn xuống Bà Rịa chơi, phải sơ ý lắm tôi mới quên mang theo thứ quà cáp thực tế – đồ ăn, nhưng thứ ít thực tế hơn là sách báo, tạp chí thì bạn tôi cũng rất mong mỏi. Đặc biệt khi có ý định làm món gì đó ăn, nhậu với Châu, thường là tôi lễ mễ mang theo luôn đủ thứ, từ bột ngọt cho đến hành ngò.
Vậy mà trong những năm 80 – 90, hễ gặp lúc phiền muộn, bất đắc chí là từ Sài Gòn, tôi mò xuống rẫy Châu ở ít bữa. Cứ gọi là đi hoang, đi bụi, hay đi thiền gì cũng đúng, tôi muốn tìm đến một khung cảnh hoang sơ, vắng lặng, không điện, không nước máy, không nhà xí…
Chúng tôi thường uống ngoài vườn. Lúc nào cũng là manh chiếu rách trải dưới tàng cây mít, mảng cầu điếc nào đó. Thứ rượu thuốc rẻ mạt mà bình toong nhà binh đựng được tới gần 5 xị, bọn tôi ‘cưa’ đôi với vài miếng cóc, ổi, khấm khá hơn thì có con khô đuối, khô hố hay một con rắn vô phước nào đó dám bò ngang lưỡi cuốc của Châu ngoài rẫy. Tôi thường tựa lưng vào gốc cây, uể oải đưa tầm mắt ra xa, vượt khỏi khu vườn còi cọc của Châu, nhìn về núi Dinh Cố. Bên dưới vài đám mây trắng lóa bởi nắng trời, sườn núi xanh rờn màu cây lá, lác đác vài chỗ chợt sẫm tối bởi bóng mây.
Chè chén kiểu “phong lưu hàn sĩ” mạt hạng như thế mả Châu cũng làm được thơ tình, thơ đời, tôi cũng viết được vài tản văn, tạp bút từ những cảm hứng ngông ngạo, hí lộng cuộc đời thời ấy. Rồi anh Hai Lúa đất An Ngãi làm gì có tiền để lên thành phố, tôi lại đem những bài lục bát của bạn về Sài Gòn và sau đó, thấy đăng trên mấy tờ báo tuổi trẻ, học trò, tờ Áo Trắng chẳng hạn.

3.
Hồi năm 1982, gia đình bên vợ tôi ngụ bên Vũng Tàu, do trong nhà có mấy anh em vượt biên ở Rạch Dừa nên bị chính quyến buộc phải “hồi hương, lập nghiệp” tức phải chuyển về Bà Rịa – quê ngoại của vợ tôi. Từ đó, tôi về Bà Rịa thường xuyên hơn, nhất là gặp lúc Châu tạm bỏ cái rẫy còi cọc ở An Ngãi để đi đẩy xe ba bánh chở rau, đậu ở chợ Bà Rịa kiếm sống, sau vài tháng ốm nhách, đen thui khi làm lò than bên Châu Pha.
Cũng lúc này, tôi làm nhân viên soát vé ở rạp xi nê Văn Cầm, Phú Nhuận. Biết tôi là sĩ quan chế độ cũ học tập cải tạo về, một cô thuyết minh phim ở rạp thố lộ mình là con vị chánh án tỉnh Phước Tuy cũ và ông cũng vừa ‘đi học’ bên ngụy quyền về. Khi đó, nghỉ chủ nhật là tôi dông liền về Bà Rịa, vô đất rẫy ở Long Đất, báo tin về vị chánh án cho bác Sáu Tí – ba Châu – vì ngẫu nhiên bác vốn là một cảnh sát viên áo trắng gác tại toà án Bà Rịa, tức tỉnh Phước Tuy cũ.
Cái tin tôi tình cờ làm việc cùng chỗ với con gái vị chánh án đã khiến bác Sáu hết sức vui. Lập tức bác bắt Châu chạy đi lấy thêm mấy xị nữa rồi truy cứu tiếp nơi tôi những thông tin quá nghèo nàn về vị xếp cũ. Có gì đâu, ông cảnh sát già đang sống lại cảm giác vinh quang của cái hồi được chuyển công tác, từ gác chợ về gác tòa án tỉnh. Sau bao nhiêu đổi thay, mất mát từ ngày 30-4, ông già thầm lặng đóng cửa với hiện tại, tiếp tục sống tự hào ngấm ngầm về một chút quá khứ ‘làm công chức’ một thời mà bà con ở quê thường gọi một cách kính trọng là ‘mần việc’. Thật may mắn, nếu cần một xác minh hùng hồn cho mãng quá trình ‘mần việc’ của bác Sáu thì vị cấp trên cao nhất vẫn còn đó. Bác Sáu bắt tôi vô một ly đầy rồi trợn mắt quả quyết: “Bây giờ mà gặp thì chắc chắn ông Đẫu nhớ tao liền hà!”.
“Để bữa nào lên Sàigòn một chuyến, con dẫn thằng Châu với Sáu tới nhà ông Đẫu thăm ổng…”. Người già ở miền Nam có cái tật rất dễ thương là khi gần gũi, ân cần, họ xưng trõng trơ với con cháu bằng thứ bậc tư, năm, sáu, bảy… gì đó, lướt nhẹ tưng qua vai vế chú, bác, cậu, dượng… vốn ấn định người trên kẻ dưới, để giữa người già và bọn trai trẻ thắm đẫm hơn nữa cái tình trìu mến, tin cậy. Vào lúc ấy thì nói nào ngay, cái thằng tôi khố-rách-áo-ôm chẳng có gì đáng cho bác Sáu bấu lấy mà cậy nhờ. Chỉ có chuyện rất nhỏ nhoi là tôi sẵn sàng ra đón bác ở bến xe miền Đông để đưa bác đến nhà người mà bác muốn gặp lại với tất cả lòng kính mến. Trở về Sàigòn, tôi lập tức kể chuyện về bác Sáu cùng niềm mong mỏi của bác với cô con gái vị chánh án. Rất thuận lợi vì liền sau đó, vị xếp cũ của bác Sáu đã nhắn qua con gái mình rằng ông rất vui khi được gặp lại một thuộc cấp còn nhớ tới ông.
Rồi cuộc sống khó khăn đã xô dạt, nhấn chìm đâu mất cuộc hẹn gặp giữa hai ông già. Vị chánh án qua đời đang khi trông ngóng hồ sơ H.O. nghe nói còn nằm đâu đó bên Thái Lan. Biết được tin buồn này vào lúc đã nghỉ việc tại rạp chiếu bóng, tôi lại phải bám chặt lấy Sàigòn để kiếm sống nên rất chậm trễ trong bổn phận đưa tin về Bà Rịa. Rồi bác Sáu đau ốm liên miên, lặng lẽ qua đời trong niềm tuyệt vọng không còn cơ hội lên Sàigòn, dù chỉ còn có thể đến viếng mộ phần cấp trên của mình như một cách vớt vát cho một ước nguyện nhỏ bé cuối đời bác. Đã có gì đó thúc thủ, cam chịu, rất số phận về cái chết của hai người già – hai món đồ chơi cũ mèm mà bàn tay vô tâm của Định Mạng đã lạnh lùng vứt vào xọt rác Hư Vô.

4.
Cuộc sống của Châu chỉ chợt đổi khác khi run rủi, uỷ ban xã An Ngãi cần thư ký đánh máy. Tuyển được một nhân viên gần như là người có chữ nghĩa nhất xã, mấy cán bộ giao luôn con dấu của ủy ban cho Châu giữ. Anh có thêm hai nghề mới, một là làm đơn mướn giá “bèo” cho bà con nông dân, hai là nghề … nhậu. Nhậu cả giấc trưa lẫn giấc chiều tối, nhậu lòng vòng ở gần ủy ban xã với tay cán bộ nấu rượu tại nhà hay nhậu với anh nông dân ở chỗ xa mút chỉ cà tha, cần làm đơn xin tách thửa nhưng chỉ trả bằng chầu nhậu. Nhậu đến té bờ té bụi nhưng nhà thơ /thư ký xã đã có hoàn cảnh, cơ hội để phất lên.
Những lá đơn liên quan đến đất đai, như: xin lại đất tập đoàn, xin quyền sử dụng đất, xin tách thửa, xin thừa kế.v.v…, luôn luôn đem lại lợi lộc cho cán bộ ký giấy và chút cháo cho thư ký xã làm giấy. Hơn thế, nhờ thân cận với cán bộ, vạt đất 200m2 do người bà con cho ngày nào mà Châu cùng cha mẹ già đã dần hồi khai khẩn, mở rộng thành hơn 2000m2, đã được sớm sủa cấp giấy đất, thuộc diện “tự khai khẩn, phát hoang từ đất rừng”, ông chủ đất Châu chỉ tốn mỗi một chầu nhậu thịnh soạn đãi cán bộ. Lô đất nằm ngay bên con đường nhựa mới mở theo qui hoạch, thay thế cho con đường mòn xưa cũ. Có điện, có đường nhựa, xã An Ngãi đươc treo bảng là khu du lịch – thắng cảnh tôn giáo với chùa Thiên Thai, chùa Ngũ Đế… và đặc biệt một ngôi chùa mới tinh, nguy nga đồ sộ, do một Việt kiều bỏ tiền ra xây cất, rất gần rẫy của Châu. Khách du lịch đi chơi biển Long Hải ít khi quên ghé khu vực này để tham quan, hành hương. Xóm làng đông vui hơn, nhưng vui nhất là giá đất lên vùn vụt.
Và… nhà thơ lấy vợ. Chuyện anh chọn vợ là người Thiên Chúa giáo đã bị bà mẹ và các cô em gái sùng tín đạo Phật phản đối kịch liệt. Rốt cuộc, vì Châu nắm toàn bộ kinh tế gia đình nên từ việc cưới hỏi tại nhà thờ cho đến việc chú rễ – đã 55 tuổi – học giáo lý để theo đạo đều suông sẻ, vui vẻ.
Vậy mà, trong vòng chỉ hơn một năm không gặp nhau, tôi đã sững sờ khi vợ Châu báo cho biết mới đưa chồng lên Sài Gòn, vô bịnh viện Chợ Rẫy cấp cứu. Xơ gan và loét bao tử – những bệnh không mới lạ, độc đáo gì đối với những bợm nhậu. Vợ Châu cho biết, cả năm rồi anh thường cảm thấy khó chịu, đau râm rang ở bao tử. Nhiều khi đi cầu ra phân đen như dầu hắc. Thôi rồi, y học gọi đó là xuất huyết nội, máu đã rỉ rả chảy từ vết loét tự hồi nào! Xuất huyết bên trong khiến người ớn lạnh và đổ mồ hôi thì Châu cho đó là trúng mưa, nóng lạnh. Khi vợ con dìu ra khỏi nhà cầu, thấy phân đen thì Châu nói đại rằng do chiều hôm qua nhậu tiết canh vịt hay ăn cháo huyết. Sau khi uống bậy mấy viên thuốc cảm, thuốc đau bụng hay mấy gói thuốc Nam cho dễ tiêu hóa, anh hể hả nói “ợ một cái là khỏe!” rồi nhậu tiếp! Đến lúc quá đau đớn, Châu mới chịu mò ra trạm y tế xã, rồi trung tâm y tế huyện. Bác sĩ ở đây nói đích danh bệnh loét bao tử, yêu cầu bệnh nhân phải bỏ rượu và kiêng mấy thức ăn cay-chua-cứng. Châu bắt đầu uống thuốc trị loét nhưng quá khó kiêng cữ. Ngày nào mà không ‘đụng’ với mấy xếp và dân nhờ làm đơn, nghĩa là tránh rượu thì gặp bia và mồi nhậu phải cay, chua thì nhậu mới bắt. Cuối cùng là sau một trận ói có máu lẫn vào những sợi bún, Châu nằm liệt…
Nhìn Châu ốm o, già háp, hôn mê thiêm thiếp, truyền nước biển rồi truyền máu, tôi hiểu bạn mình đã quị ngã thật sự lần sau cuối chứ không phải như những lần trước, chỉ là quá xỉn mà lủi xe xuống mương, nằm đo đất cùng cái triết lý “trời kêu ai nấy dạ!”. Học hết đệ nhị ban C, cộng thêm tánh ham đọc sách báo, tạp chí đủ loại, có thể cũng tạm đủ cho bạn tôi hiểu biết tối thiểu về các bệnh tật đe dọa dân nhậu. Nhưng phải chăng do nghèo khố lâu năm cùng tâm lý sống biết-ngày-nào-hay-ngày-nấy cố hữu đã khiến nhà thơ mất ý thức về việc chăm sóc bản thân?
Bác sĩ lắc đầu, ký giấy cho về, Châu được gia đình đưa về quê nhà Bà Rịa. Nhà thơ tắt nghỉ chính trên miếng đất rẫy của mình.

5.
Một điều rất đáng tôn quý, Châu bạn tôi – gã áo rách từng cắm cúi làm thơ tình trên rẫy trồng khoai mì ngắn ngày cứu đói, từng gò lưng đẩy xe ba bánh chở đồ hàng rẫy ngoài chợ, khi từ bỏ cõi tạm này cũng kịp để lại nhiều bài thơ ngọt ngào cảm xúc cho thế nhân cùng chút ít của cải, tức miếng đất rừng tự khai khẩn cho vợ con, cho mẹ cùng các em mình.
Mới đây, tình cờ nhận ra nhau trên Facebook, cậu em út của Châu đã gởi cho tôi vài tấm ảnh đen trắng, vàng ố của bọn tôi chụp chung thời còn sống nghèo, thiếu, rách – và ốm nhách – ở đất Bà Rịa, trong đó có cảnh đất rẫy An Ngãi. Châu được chôn chính trên trong mảnh đất cằn khô, quạnh hiu ấy, cạnh phần mộ bác Sáu Tí, gần gốc cây mít mà trong một thời cùng khổ, bọn chúng tôi đã từng lãng đãng chia xẽ những xị rượu bất đắc chí, ngông ngạo đàm luận thơ văn…

PHẠM NGA ghi

Câu đêm ở vịnh biển Botany

phamnga

au bottany park

1.
Đang mùa hè ở nước Úc, ngày dài đến 15 tiếng. Năm giờ chiều, chiếc tàu câu của Phương – nhà tổ chức, chủ xị bao biện mọi thứ cho chuyến câu đêm nay – được thà xuống nước xong xuôi ở cảng nước sâu Botany Port, mặt trời vẫn còn chói chang ở phía Tây, nắng rực ngỡ như xế trưa ở Sài Gòn.
Dù bờ biển phía bắc vịnh Botany có phi trường quốc tế Sydney luôn rộn rịp, phi cơ lên xuống liên tục, vịnh biển xanh này vẫn có vẻ gì đó vắng lặng, hoang liêu.
Tàu câu sơn hai màu đen/trắng, kiểu dáng thật đẹp, số đăng ký “AHW663N”, dài 6.5 m, máy Honda 225 phân khối. Phương nói đã mua 60,000 AUD, tức gần 1 tỷ VND. Và hôm nay đi biển 5 người là không nhẳm nhò gì cả vì tàu chứa thong thả 7 người, có khi người lớn cùng con nít lên đến 10 người cũng all right. Có điều là rất hiếm phụ nữ, bà xả Phương chẳng hạn, theo nổi thú vui đi tàu câu trên biển này vì không chịu nổi sóng gió. Lúc mới lên xe kéo tàu đi, Cường – bạn câu rất thân của chủ tàu – đã chia cho tôi và anh Thành ‘sui gia’ uống ngay 1/2 viên chóng ói.
Mở đầu buổi câu, Phương cho tàu chạy băng qua vịnh, đến một bãi rất cạn có nhiều rong để mò bắt sò lông. Chỗ nước sâu ở đây cũng chỉ đến thắt lưng. Bàn chân mình chạm gì đó cứng cứng vùi dưới cát đáy biển là ‘nó’ đó, Cường nói lớn. Vừa dứt lời, cậu ta đứng thẳng lên thì trên hai bàn tay đã có hai chú sò đen thui.Và do sò ăn rong biển nên nếu chịu khó hụp người xuống, ngồi mò vào các bộ rễ rong là bắt được, nói như Cường là cả family sò con, sò cha. Chừng nửa tiếng, vừa tiếu lâm về sò lông, lông sò, lông phía trên sò… vừa lơ đãng mò mẫm, bốn người chúng tôi đã làm đầy nhóc hai thùng nhựa xách theo, với khoảng 15-18kg sò mỗi thùng.
Trở lại tàu thì thấy Phương đã nhanh chóng ráp, cắm xong hết bốn cần câu dọc theo hai mạn tàu nhưng vẻ mặt hơi bí xị. Tàu đang mắc cạn vì hồi nãy vào quá gần bờ. Vậy là hai ông già được ngồi lại trên tàu, ba thanh niên nhảy ùm xuống nước… Một đỗi sau, tàu đã được được đẩy lùi và quay đầu, Phương nổ máy, tàu chạy tiếp ra cửa biển.

2.
Tàu câu chồm mũi tới như cắt sóng, lướt nhanh trên mặt biển. Chỉ cho tôi thấy mấy cái phao màu cam đang nhảy chập chờn trong làn sóng trắng xóa, cuồn cuộn phía sau đuôi tàu, Cường nói đang dùng mồi giả, dạng con mực nhỏ bằng ngón tay, làm bằng nhựa dẽo và ở chỗ biển sâu này hy vọng bắt được cá ngừ hay king fish, một loại tương tự cá bốp.
Phương cho tàu chậm lại rồi giao cho Cường lái. Anh cười hể hả nói, có sò làm mồi thì làm sương sương 1 -2 chai thôi, khi nào có cá, mình nhậu tiếp cá nướng. Rõ ràng anh chủ tàu trung niên vui tính này không chỉ giỏi giắn, nhanh nhẹn trong các việc điều khiển tàu hay soạn, ráp cần câu. Ở mặt bàn bếp gắn vào đuôi tàu, Phương khéo léo tách võ một mớ sò lông, mời mọi người ăn sống với vài giọt chanh hay mù tạt wasabi, tương tự như ăn hàu. Thịt sò sống không hề ngậm một chút rong hay cát nào, vị hơi mặn nhưng không mềm nhẽo như hàu mà ngon, dòn cực kỳ.
Thân tâm đều vui vẻ, mãn nguyện, tôi nhìn quanh sàn tàu và bên trong “nội thất” tàu AHW663N. Bên cạnh những thứ mà Phương gọi là hộc chứa hay thùng cất đồ nghề, như dụng cụ câu cá, gồm cần câu, dây cước, phao, lưỡi câu; hay dụng cụ sửa chữa nhỏ tại chỗ cho máy tàu, máy cần câu…gồm búa, tua-vít, mỏ-lết, máy khoan mini, cờ-lê đủ cỡ…, còn có những thùng, hộp nhựa chứa đồ chơi – chữ dùng của Phương – như: bếp than, túi than đá, chén bát ly giấy, soong, chão, dao, thớt… Riêng trong thùng trữ nước đá là rau sống, nem chua không-hàn-the và lổn ngổn những chai Victoria Bitter. Toàn thể thủy thủ đoàn – gồm cả hai ông già vô tích sự – đều thích VB, nhãn bia Úc chai lùn này. Đặc biệt, từ lúc sang Úc đến giờ đã hai tháng, tôi từng nhiều lần uống VB, nhưng bữa nay mới thấy vị bia này ngon lạ lùng khi nhậu với sò sống tái chanh.
Tàu chạy qua khỏi vịnh và chạy dọc bờ biển phía nam cảng hàng hóa Botany. Bên mạn phải tàu là khơi thẳm của đại dương Úc châu. Mặt trời xuống thấp hẳn, đường chân trời chói lòa những tia nắng cuối cùng của ngày. Tuyệt vời cảnh mặt trời lặn!
Sốt ruột vì tàu chạy lên xuống đã hai vòng mà cần VIP lưỡi lớn chỉ dính được một trự cá ngừ nhỏ, Phương quyết định cho tàu trở vào vịnh, bỏ neo ở một chỗ nước cạn cạn gần bờ. Máy định vị ở ca-bin cho thấy 2.8m sâu và lăn tăn có cá. Phương gật gù nói để anh thay lưỡi câu nhỏ hơn, gắn thêm cục chì là bắt cá cam, cá nục. Và đốt than đi, Cường ơi! Cứ nướng sò trước!

3.
Đã tám giờ đêm. Tôi tình nguyện quạt cái lò mini bằng một miếng bìa cứng cho than đá mau hồng. Cường bước ra mạn tàu, vừa đúng lúc để giật lên mở hàng một con cá cam khoảng 0.5 kg. Cứ thế, ba cần câu dính cá lai rai. Vẫn bọn cá cam và yellowtail fish tức cá nục gai hay cá nục đuôi vàng. Con nào rỉa mồi, giật lên thấy quá nhỏ thì thả xuống nước trở lại. Riêng về tailer fish, tức cá thợ-may, hàm răng bén như cá piranha, cắn đứt dây cước, mất mồi, mất lưỡi rồi vuột mất 2-3 bận nhưng rốt cuộc cũng dính hai trự cỡ 200 – 250gr. Vô tích sự như tôi cũng ra cầm cần câu. Rốt cuộc ngư ông dỏm cũng giật lên được một con cá cam nhỏ.
Vừa lật con cá cam dính mở hàng trên vĩ lò thì mớ sò lông cũng vừa chín tới. Lại khui một loạt năm chai VB hổ trợ cho việc tách võ sò và trét mỡ hành. Vô! Chủ tàu còn cười lớn, enjoy đi, mấy chú ơi!
Tuy nhiên, đêm nhanh chóng lạnh hơn và sóng lớn lắc tàu quá mạnh, nhậu cũng khó mà câu cũng khó. Phương lại quyết định nhổ neo, đưa tàu vào núp sâu trong vịnh cho ít sóng hơn. Tàu bỏ neo cạnh một bãi đá “ba chân”, tức các khối bê-tông ngăn sóng xâm thực bờ biển. Chủ tàu AHW663N vừa hơi ẩu vì từ lâu đã có qui định cấm tàu đậu gần bãi đá này. Nay tàu có thể bị buộc phải đi chỗ khác bởi chiếc tàu tuần của bảo vệ cảng đang chạy rề rề phía xa kia. May thay, chiếc tàu tuẩn chạy luôn về hướng khác!
Vì số cá giật lên, đem rộng trong cái hầm nhỏ chứa một ít nước biển, nằm dưới sàn tàu đã khá nhiều nên Phương dẹp bớt cần câu, chỉ chừa lại một cần thôi. Cuộc nhậu tiếp tục. Cá biển mới câu lên, đem nướng đã thơm lừng, giẻ ra chấm nước mắm ớt thì thịt loại cá nào cũng ngon, béo, thơm không tả nổi. Cuộc đời ơi, enjoy nhé!
Gió biển lồng lộng bốn bề. Anh Thành, hơi co ro trong chiếc áo lạnh mới mặc thêm, nhìn ra khơi xa, ngâm nga:
Chiều về trên biển Sydney,
Sò lông nướng với Vi Bi tuyệt vời.
Nhấp nhô sóng vỗ liên hồi,
Tha phương rồi cũng một đời phiêu linh
(*)

Cả tàu vỗ tay rần rần, hô lão thi sĩ phải đọc lại bài thơ lần nữa. Vô!

Mười một giờ đêm, gió rất lạnh, tàu nhổ neo, quay đầu về bến. Phương rất nghề trong việc lái tàu lên an vị trên trailer (cái xe mooc 4 bánh cõng chiếc tàu) gắn phía sau xe hơi và lái xe kéo tàu về nhà.
Tôi hiểu đối với Phương, anh chủ tàu chịu chơi, đêm câu này có thể xem là không thành công vì không trúng cá lớn, nhưng rõ ràng vui là chính, rõ ràng Phương đã hào sãng và đầy kinh nghiệm để tổ chức quá tốt cho mọi người, đặc biệt là hai ông chú mới quen, được enjoy một đêm vui chơi phóng dật, mãn nhãn, mãn ý với biển trời, sóng gió, cá tươi, bia ngon và cả thơ tức cảnh sinh tình đầy thú vị nữa.

PHAM NGA
Sydney, tháng 1/2016

(*) Nguyên văn bài thơ:
Chiều về trên biển Sydney,
Sò lông nướng với VB tuyệt vời
Nhấp nhô sóng vỗ liên hồi
Tha phương rồi cũng một đời phiêu linh
Cầm chai nốc cạn nghĩa tình
Trời cao,biển rộng chỉ mình với Ta
Mặt trời khuất núi mờ xa
Bấy nhiêu thôi cũng gọi là vấn vương……….

Nguyễn Ngọc Thành

Tản Mạn Tháng Tư

phamnga

1.
Hồi cuối tháng 3, anh Bảy đã nói là mấy năm trước, công ty anh cho lãnh thêm tiền lễ 30-4 khoảng trên dưới 300 ngàn, thật không nhiều nhặn gì so với lương căn bản 1 triệu mốt của anh. Đã vậy, năm nay tiền lễ ấy chắc chắn còn bèo hơn nữa vì công ty đã chuyển thành công ty cổ phần, phải “liệu cơm gắp mắm” kỹ hơn thời còn bao cấp, tức thẳng tay xiết lại tất cả các khoản lương, thưởng. Nhưng vì sang năm anh Bảy nghỉ hưu nên đối với anh, tiền lễ sắp lãnh dù có bèo bọt vẫn là món bổng lộc cuối cùng của đời công nhân, sẽ ý nghĩa lắm. Do vậy, anh tính xài thiệt là có lý, có tình – đó là bao anh em, bạn bè một chầu nhậu “chất lượng”.
Anh Bảy nói xong thì cười khục khặc. Anh vốn có thói quen hay cười, cười vài tiếng ngắn khi mở đầu một chuyện kể, cười hề hề kết thúc một nhận xét, cười ấm ứ ngưng ngang một ý kiến… Trước cái tánh cười dễ dàng như thế của anh Bảy thì ngoài trường hợp anh kể chuyện tiếu lâm, nhiều lúc tôi đã ngớ ngẩn, không hiểu nổi là anh cười về chuyện gì, vì lý do gì. Khi cười trước khi nói ra một ý kiến hay kể một câu chuyện, là anh muốn gây chú ý đối với người nghe hay tự phê phán trước về điều mình sắp nói? Khi cười kết thúc một thông báo, như vừa rồi là báo cho tôi biết sẽ đãi nhậu bằng tiền lễ, phải chăng anh cười chua chát đánh giá ý nghĩa của món tiền gọi là tiền lễ, hay anh cười như tự chế giễu cái sự “chịu chơi” đem tiền lễ nhậu hết, hoặc anh cười để trấn an tôi, cho tôi khỏi ngại chuyện anh đã nghèo mà còn tốn hao, bao biện anh em như thế?
Dù sao thì anh Bảy cũng đã vỗ vai tôi, cười nữa và nhắc trước: “Nhớ nghe, bữa 30 qua tui xỉn một bữa cho dui, khỏi si nghĩ gì cho mệt chú ơi! “.
Ông bạn vong niên, dễ mến, chất phác, cả đời chỉ sống bằng nghề lao động chân tay, lúc nào cũng ăn nói kiểu ruột để ngoài da này coi vậy mà vừa nói đúng chóc tim đen của tôi.
Nguyên là sau tháng 4 -75, trôi nổi, lưu lạc cả chục năm trời, rốt cuộc tôi về náu thân trong một xóm lao động gần ga Gò Vấp. Hàng xóm toàn dân nghèo, bà con kiếm sống bằng nghề làm làm mướn, bán hàng rong hay có làm cho Nhà nước cũng chỉ là công nhân quèn, bậc lương thấp. Ở khít vách tôi là anh Bảy, lớn hơn tôi vài tuổi, thợ cơ khí điện lạnh ở một công ty may bên Nhà Bè.
Ở chầu nhậu cóc, ổi sơ giao bên nhà anh Bảy, anh hỏi tôi làm nghề gì, tôi đáp vắn tắt là mình làm báo, đã nghỉ lâu rồi và chỉ còn viết lách vớ vẩn. Tôi nhớ anh Bảy đã cười, nhận xét ngay: “Chà, anh em diết báo chắc phải si nghĩ dữ lắm he? Thôi dô cái đi!”. Vô xong tua đầu, anh ân cần cầm một miếng ổi, chấm muối ớt đưa cho tôi, lại cười và hỏi câu nữa: “À quên, mình nghèo nên chỉ nhậu rượu đế hà, anh em chơi đế, rượu thuốc được hôn, mà uống khá hôn?”. Tới phiên tôi cười, đáp: “Dạ em uống rượu đế, rượu thuốc cũng quen rồi, gặp gì uống nấy anh Bảy!”. Vậy là ở ngay vòng đầu phỏng vấn lý lịch, anh Bảy đã phóng khoáng chíp bụng “kết” tôi mà chỉ cần thông qua hai điểm không có gì sáng giá, một là làm nghề viết, hai là biết nhậu.
Nay sắp đến là một dịp lễ lớn, nghỉ dài ngày, thì quả là một cái dịp quá đẹp để dân “biết nhậu” cùng uống. Đúng hơn, đâu đó chỉ mới đầu tháng 4, có thể nói toàn thể dân nhậu đều đã cùng nhau vạch, vẽ xong xuôi kế hoạch về địa điểm, thời gian, phần hùn hạp… cho độ nhậu vào ngày cuối tháng. Nếu có ai cắc cớ hỏi nhậu vì lý do gì, cho điều gì, thì tất nhiên sẽ dễ dàng nghe những câu trả lời tương tự nhau từ dân nhậu, đại loại là nhậu chơi, nhậu cho vui, nhậu để xã hơi… Nhưng có điều là dịp nhậu tới đây lại trúng vào thời điểm nhắc nhớ một biến cố lịch sử lớn lao, kết thúc một thời kỳ chiến tranh, chết chóc, đồng thời gây bao cuộc đổi đời – người thì lên, kẻ thì xuống – cho vô số thân phận. Người được thăng tiến, bỗng lộc, danh vọng đến tay, cả họ giàu lên…, nhờ biến cố này thì hả hê nhậu vui, nhậu mừng, “nhậu ăn lễ” chẳng hạn. Ngược lại, người bị thua thiệt, mất mát người thân, nhà cửa, nghèo mạt đi từ biến cố này thì nhậu buồn, cầm ly rượu mà ngậm ngùi, nuối tiếc dĩ vãng, tưởng nhớ người thân và bạn bè đã mất trong cuộc chiến…
Tất nhiên, thực tế thì tại các chầu nhậu kéo dài và hào hứng, cảm xúc kiểu vui, kiểu buồn nào rồi cũng lần hồi qua đi theo những lần xây tua hay dô trăm phần trăm liên tục. Người uống rượu chỉ còn vô tư uống cùng người khác, theo người khác, chẳng còn suy nghĩ gì nữa, hay tâm trạng gì nữa – cái từ ngồ ngộ mới xuất hiện sau này, trong cách nói, cách viết làm lơ chuẩn mực văn phạm, là cho các danh từ nhảy vô thay chỗ các tính từ/hình dung từ, như “bữa nhậu chất lượng”, “công nhân tài năng”, “nhà báo trí tuệ”, “lời lẽ tâm trạng quá!”…
Theo anh Bảy thì dân làm báo, viết lách như tôi, thế nào cũng phải suy nghĩ, thường xuyên suy nghĩ, nhậu xả xì-trét cho khỏe cái đầu cũng suy nghĩ. Riêng về cái từ suy nghĩ thì như nhiều người Nam bộ khác, anh Bảy lười cái vụ phải chu miệng, giựt hàm dưới vô, xì hơi ra để phát âm cho đúng chữ suy, cứ nói nhẹ tưng, nghe bắt cười là si. Tuy nhiên, tôi biết là anh Bảy, dù có chểnh mãng cái vụ phát âm, nhưng đúng là tình thương mến thương như giới nhậu bình dân thường tâm đắc, anh lại chú ý, ái ngại dùm cho bạn bè. Thấy tôi đã trót bị cái tật si nghĩ, động não như thể đó một khuyết tật đầy khổ ải thì anh Bảy – con người chơn chất, nghĩ suy đơn giản – dường như cũng có ý nể tôi chút ít nhưng tội nghiệp tôi thì chắc nhiều hơn.
Tôi đã trả lời ngay cho anh Bảy rằng, đến bữa 30 dù tôi vẫn trì độn, không lúc nào gỡ nỗi mình ra khỏi cái thói quen si nghĩ đi nữa thì bữa đó tôi cũng vẫn qua uống, vẫn vui thiệt tình với anh, không say không về.
Thì mọi năm, cũng vào mùa này, tôi chẳng đi kiếm rượu, kiểu như vô tâm có mặt ở một độ nhậu nào đó bất kỳ, để uống với bạn bè, dù ít dù nhiều, dù say dù tỉnh?

2.
Đã rõ là rất đông dân nhậu chộn rộn chú ý và tận dụng ngày cuối tháng 4 để gầy độ. Lại có một số ít người khác, bằng cách lặng lẽ thôi, chỉ chú ý vào ngày đầu tháng 4 – ngày giỗ Trịnh Công Sơn. Nhạc sĩ họ Trịnh vĩnh viễn rời bỏ cõi tạm – kiểu anh gọi tên cuộc đời – vào ngày 1 tháng 4 năm 2001. Cần nói thêm rằng họ Trịnh đã chết thật sự vào ngày này, chứ không phải chuyện bịa trong ngày “Cá tháng tư” của người phương Tây. Và rồi sau đó, không chờ đến đúng ngày giỗ anh hằng năm, ở Sài Gòn luôn có nhiều quán café nhạc sống và tụ điểm ca nhạc đồng loạt tổ chức những đêm nhạc chủ đề tưởng nhớ anh. Nổi bật nhất là cái hội quán nằm xa tít ở rìa đảo Thanh Đa, trong khu vực một làng du lịch sinh thái có kiểu phục chế lại khung cảnh đồng quê với nhiều cây xanh, bóng mát. Tại hội sở của những fans mến mộ TCS này có cái bảng ghi một câu nghe trúc trắc: “Nơi cất giữ những kỷ niệm về công chúng đối với nhạc sĩ TCS”. Dù sao cũng nên bỏ qua chuyện-nhỏ này vì nơi đây tổ chức khá tốt về loại ca nhạc “tưởng nhớ”, một dạng sinh hoạt văn nghệ rất thời thượng và ăn khách.
Lần tưởng niệm năm nào hội quán TCS cũng chơi rất gây ấn tượng. Có lần, ban tổ chức đã dặn khán giả mang theo nến, rồi may mắn gặp lúc trời ít gió, dưới khán giả chợt rực lên những ánh nến, lung linh, chập chờn, vô tình tạo nên một không gian thật huyền hoặc. Trên sân khấu thì xen lẫn vừa những câu chuyện nhắc nhớ kỷ niệm hay cảm nghĩ về người quá cố, vừa những ca khúc TCS cũ và mới (lấy mốc là tháng 4/75) bằng những giọng hát, ca sĩ cũng đủ mặt mới, cũ – trong đó có cả chất giọng rất đáng khuyến khích của một vài người Mỹ, người Âu hát tiếng Việt. Tôi nhớ là vào đêm đó, ông trời trên cao hình như cũng trầm tư theo dõi, không nỡ tuôn mưa…
Tiếc là vào một năm khác, gần đến kỳ người ta tổ chức nhạc tưởng nhớ TCS thì trời đất lại biến động vô chừng, động đất, sóng thần, bão lốc…, khiến tôi chạnh nhớ tới lời hát tuyệt đẹp “Tình yêu như cơn bão bay qua địa cầu…”. Trịnh Công Sơn viết nhạc tài hoa như thế, mà thú thật, tôi rất cảm phục anh. Tôi đã tâm đắc riêng cho mình phần sáng tác nhạc tình của anh, đặc biệt tôi yêu chuộng những tình khúc có trước tháng 4/75, ngay từ cái thời sinh viên – hồi đó bọn tôi còn bày đặt tự gọi là tuổi đá buồn, sống thở trong chiến tranh, chia lìa, mất mát… Một lần, trên một đài bá âm, nhạc sĩ Phạm Duy nêu nhận xét “TCS viết nhạc tình thì nhất rồi! “. Thiển nghĩ, không chắc rằng những ca từ ít nhiều mang tính triết lý, nhất là triết Phật, đạo Thiền của TCS có được quãng đại quần chúng hiểu/hiểu hết được không, nhưng đó là những ca từ có tính văn học cao, có chất trí thức mà tác giả đã đắn đo, chọn lọc, có lúc như xuất thần, như được khải thị mà viết nên ca từ thật hòa hợp với những giai điệu đẹp đẽ, bay bỗng. Đó cũng là cái phần dung mạo nhạc TCS tự phân biệt mình với một loại nhạc thời-nào-cũng-có, từng được đề cập trong chương trình văn học-nghệ thuật phát trên đài bá âm đã nêu, có chủ đề về lịch sử âm nhạc Việt Nam cận đại và hiện đại.Tôi nhớ là khi được nhà đài phỏng vấn, hỏi nghĩ gì về loại nhạc dễ dãi, được mệnh danh là nhạc sến ấy, nhạc sĩ họ Trịnh đã nhẹ nhàng bảo chỉ nên gọi đó là nhạc đại chúng, bởi được nhiều người ưa thích.
Có một lần, tôi lục lạo ở nhà sách P.N., vùng Phú Nhuận, vì chợt muốn tìm nhạc TCS in theo kiểu tập nhạc nho nhỏ, nhẹ mỏng như thời trước 75. Tôi thất vọng não nề. Ngày nay, các loại đĩa ghi âm, ghi âm+hình cùng với loại sách in nhạc khổ lớn, bìa cứng đã ngạo nghễ đẩy dạt loại tập giấy in nhạc, in ca khúc vào bóng tối quên lãng. Trên kệ hiệu sách chỉ thấy duy nhất có cuốn “Tuyển tập những bài hát không năm tháng”, nặng trịch vì khổ quá lớn và dày cộm, tái bản lần thứ tư, chứa 127 ca khúc của TCS. Còn đĩa CD, VCD nhạc họ Trịnh thì vô tư, nào là Ru Ta Ngậm Ngùi, Một Cõi Đi Về, Tình Khúc TCS – Giọng Hát Elvis Phương.v.v… Bìa, bao bì của sách nhạc, đĩa nhạc nào cũng được in rực rỡ, diêm dúa với kỹ thuật in ấn hiện đại thế kỷ 21.
Vậy mà những con nguời cũ kỹ như tôi thì lại quá lạc hậu với cái ý thích đi tìm mua những tập nhạc mỏng manh kiểu thế kỷ 20. Chẳng qua là khác với các loại sách nhạc, đĩa nhạc cao giá ngày nay, phải nâng niu, bảo quản kỹ lưỡng, loại tập nhạc đơn sơ, rẻ tiền như giấy học trò ấy cho phép tôi có được vài khoảnh giấy trắng mà phóng túng ghi nguệch ngoạc vài chữ tặng bạn bè hay ghi bừa bãi những cảm nghĩ lãng đãng cho chính mình, hay mạnh dạn gạch dưới, khoanh tròn các lời hát mà mình thích nhất. Chính với loại tập nhạc rất đáng yêu, mê nhưng không cần kính cẩn bảo quản ấy, tôi có thể thư thả lấy ghi-ta ra đàn, hát theo những dòng nhạc và ca từ tâm đắc, bằng cái giọng cây nhà lá vườn của mình, coi vậy mà đâu thua gì… giọng họ Trịnh!
Dù sao thì đối với tôi, nỗi buồn không tìm được tập nhạc TCS kiểu xưa cũ, trước 75, cũng không ray rức bằng một nỗi buồn khác, cũng liên quan đến nhạc TCS.
Sáng ngày 29 tháng 3 năm mà tôi còn nhớ chính xác là 2005, tôi đành bỏ thói quen thú vị là ngồi nhâm nhi ly café đầu ngày, để tức tốc, hối hả chạy qua Thanh Đa. Mẫu tin trên một tờ báo ghi rõ: “Vào lúc 8 giờ sáng 29/3, Hội quán TCS sẽ phát hành miễn phí 500 vé mời tham dự chương trình ca nhạc Từ khi trăng là nguyệt…, kỷ niệm 4 năm ngày mất của nhạc sĩ TCS”. Do bị kẹt xe, tôi đến cổng làng du lịch lúc 8 giờ 10 và thấy hơi đông người, đã có khá nhiều xe gởi trong bãi. Anh giữ xe ngăn tôi lại: “Vô hội quán hả? Hết vé mời rồi đó nghen!” Năm trăm vé được phát hết trong vòng chưa tới 10 phút? Trong lúc tôi còn ngỡ ngàng thì trong đám những người-người-ái-mộ-TCS-nhưng-đến-trễ-mười-phút còn đang đứng lố nhố, chưa chịu ra về, đã bật ra mấy câu: “Vậy mua… vé mời ở đâu vậy?” hay “Nói là 500 vé nhưng họ thủ lại hết rồi, chỉ phát ra đại khái mấy vé cho có thôi!”, hay “Hiểu ba cái vụ này quá mà! Vậy kiếm cho hai cặp vé đi, hét giá vừa vừa thôi nghe! “. Từ lâu rồi, người ta đã quá quen thuộc với cái nạn hết vé hay hết những loại giấy tờ được ban phát hạn chế, xét theo tiêu chuẩn, tương tự thứ vé mời xem ca nhạc này, như: vé xe lửa, vé bóng đá, bộ đơn xin cho con vô lớp 1, bộ đơn xin học bỗng du học.v.v… Có bỏ công ăn việc làm, khổ công đi thiệt sớm mà xếp hàng, chen lấn gì đi nữa thì cũng khó có lắm! Chỉ dễ dàng khi bỏ tiền ra mua giá cao từ “cò” hay do quen biết mà thôi.

3.
Tôi nhớ vào đầu tháng 4 năm ấy, tôi đã rất không vui khi không thực hiện được ý định đi dự đêm nhạc tưởng nhớ Trịnh Công Sơn. Thật lòng mà nói, đi nghe nhạc vừa là một thú vui tao nhã, nặng mang ý nghĩa tinh thần, đơn sơ mà nhẹ nhàng, lại vừa hợp với điều kiện kinh tế của tôi nếu như kiếm được vé mời (ở đâu vé xem ca nhạc cũng đều rất mắc). Tiếc làm sao! Và ngày cuối tháng 4 năm ấy, tôi đã tự an ủi – ru đời đi nhé, nói theo TCS – bằng cách không gì khác hơn là hẹn với vài người bạn cũ gầy độ nhậu. Nghĩa là tôi lại ngồi ở một góc đời vừa đông vui vừa hiu quạnh, là nơi tôi có thể lặng lẽ uống rượu cùng bạn bè khít bên hang ổ si nghĩ của mình.

PHẠM NGA
(Tháng 4/2015)

ĐÁM CƯỚI BÁNH MÌ.

phamnga

1.
Sau Tết, Hòa mời riêng các bạn bè thân – toàn ở lứa U70 như anh – dự một buổi tiệc đơn sơ tại nhà, nói là ngày kỷ niệm năm chung sống thứ 45 của vợ chồng anh. Vừa khai tiệc, một ông bạn nhiều chuyện đã ý kiến ngay:
“Các bạn ơi, dân Tây kỷ niệm ngày cưới ở năm thứ 45 thì họ gọi là đám cưới Ngọc sa-phia, còn kỷ niệm năm thứ 50 thì đám cưới Vàng, năm thứ 60 đám cưới Kim cương…. Vậy bữa nay tụi mình đang dự đám cưới Sa-phia của anh Hòa chị Lụa đấy!”
Mọi người cười ồ lên, vỗ tay tán thưởng, kêu nâng ly “dô” 100% chúc mừng chủ nhà. Có người chưa chi đã nhắc Hòa phải nhớ mời đông đủ bạn bè như bữa nay cho những lần kỷ niệm ngày cưới còn quý giá, ý nghĩa hơn nữa trong tương lai. Hòa đứng lên, cười rạng rỡ:
“Cám ơn. Cám ơn các bạn. Trong tương lai chắc chắn là mình sẽ mời hết các bạn đến dự kỷ niệm mấy ngày trọng đại ấy của vợ chồng mình. Nhưng, có điều này, là về tên gọi cho kỷ niệm ngày cưới, tụi mình không dám nhận kiểu gọi bóng bẫy, liên hệ với toàn những bảo vật quý giá nhất trần đời, như đám cưới Sa-phia, Bạc, Vàng, Hột xoàn… đâu. Dù là lần kỷ niệm ngày cưới lần thứ mấy của mình đi nữa, chỉ xin gọi đơn sơ ngày ấy là… đám cưới Bánh Mì thôi.”
“Đám cưới Bánh Mì? Lý do?”,“Sao lại là bánh mì? Không kể ra nguồn cơn là không được đâu nhe ông!”, “Tình yêu lãng mạn từ… bánh mì ư?”…, cả bàn nhao nhao. Hòa tủm tỉm cười, nhìn sang vợ và dịu dàng hỏi:
“Cho phép anh kể lại chuyện tụi mình hồi mới quen nhau nhé em? Thiệt ngắn, gọn thôi em à.”
Lụa đỏ mặt, cười lúng túng, trả lời thật khẽ:
“Thôi mà anh. Có gì hay đâu mà kể? Hồi đó em … kỳ cục quá trời, bữa nay mà nghe được thì mấy anh chị đây sẽ cười em chết, cười luôn anh đó, anh ơi!”
Chứng kiến cảnh Hòa và Lụa âu yếm nhìn nhau, một chị bạn lớn tiếng nhận xét:
“Trời ạ, đã có cháu nội, cháu ngoại đầy đàng mà coi ông bà vẫn tình tứ quá đi!”
2.
Năm 1971, Hòa tốt nghiệp cử nhân triết, nhận sự vụ lịnh của Nha trung học đi trình diện nhiệm sở là một trường đệ nhị cấp ở thị xã Vũng Tàu. Ăn mặc nghiêm chỉnh, cà-vạt thì tạm cất trong áo, anh ra bến xe đi. Ngồi cạnh anh trên xe là một cô gái trẻ. Cô ăn mặc cũng giản dị, khuôn mặt không tuyệt đẹp nhưng thùy mị, dễ thương dù không trang điểm. Anh thầm nghĩ, nếu đặt vào truyện Thúy Kiều của văn hào Nguyễn Du thì đây không phải kiểu sắc sảo đáng ngại như típ Thúy Kiều, mà là típ Thúy Vân, phúc hậu, dễ mến, thật hợp với những chàng nhát gái như mình.
Trong lòng đang vui nên anh gợi chuyện: “Cô cũng về Vũng Tàu?”. Cô gái liếc nhìn anh – làm bộ thôi, nãy giờ cũng liếc nhiều rồi – cười, nhỏ nhẹ “dạ” một tiếng. Ồ giọng con gái Nam, nghe thiệt chất phác, dịu hiền. Hỏi tên thì cô cho biết tên Lụa, nhà ở gần chợ Bà Chiểu và đang đi thăm một người bà con…
Khi nghe anh cho biết lý do anh xuống Vũng Tàu thì cô gái tỏ ra rất ngưỡng mộ vị giáo sư trẻ. Cô nói rằng cô đã nghỉ học hồi lớp đệ nhị năm ngoái, để đi làm vì nhà nghèo. “Nếu năm nay em còn đi học, không biết chừng em cũng sẽ là học trò của anh. Hèn chi hồi nãy em rất tò mò, không hiểu anh dấu cái con khô mực trong áo để làm gì…”. Chà, tiếng xưng em nghe mới ngọt làm sao!
Xe chạy đến Long Thành thì có một trạm kiểm soát liên hợp. Một anh cảnh sát áo trắng đến bên cửa sổ xe, hỏi giấy tùy thân của anh. Anh xuất trình thẻ sinh viên và giấy hoản dịch. Tình cờ kẹp giữa hai thứ giấy này lại là cái thẻ ký giả, do anh đang là biên tập viên của một tập san nghiên cứu của một viện đại học nên được Bộ Thông tin cấp cho. Nếu chỉ là loại thẻ có ba vạch đỏ in thành đường xiên ở giữa, cấp phát vô số cho mấy cậu nhân dân tự vệ thì chắc anh cảnh sát trả lại rồi. Đằng này, trước loại thẻ “thứ dữ”, ba vạch được in ở góc trái trên, đặc biệt hiếm hoi nên anh cảnh sát xem xét rất kỹ, từ con dấu, chữ ký, cho đến tấm ảnh dán so với mặt người thật… Hồi lâu thì anh cảnh sát nghiêm chào anh kiểu nhà binh, lịch sự trả lại giấy tờ. Anh gật đầu, nói “cám ơn” rồi thong thả cất vào bóp.
Nảy giờ, cô gái tròn mắt theo dõi màn trình diễn ngoài ý muốn của anh. Xe chạy rồi thì Lụa hỏi liền… Anh giải thích vắn tắt nhưng trong lòng thì rất hãnh diện vì cô nàng còn lộ vẻ ngưỡng mộ, kính trọng anh nhiều hơn nữa.
Bờ vai hai người đã chạm vào nhau hồi nào không biết. Anh muốn cho hai bờ vai dính vào nhau luôn nhưng người ta đã ý tứ – tạm thời- tách nhẹ ra. Nhưng ai cấm được một vài sợi tóc con gái cứ bay bay, vờn nhẹ vào gò má anh? Anh thố lộ mình cũng là sinh viên nghèo, đã phải vất vả bươn chãi, vừa học vừa làm mấy năm qua mới đạt được ước nguyện ra trường đi dạy. Cô nàng lại càng cảm động hơn nữa, bờ vai hai người lại chạm vào nhau lâu hơn nữa.
Riêng đôi mắt người con gái thì cứ long lanh, đằm thắm khi nhìn anh. Thôi rồi! Smoke get in your eye…, như bài tình ca bất hủ của nhóm The Platters một thời. Khói tình vươn lên mắt em rồi! Có điều gì đó ngay trong phút giây sơ ngộ đã rất tinh khôi, rất chân thực khi người con gái không hề làm bộ làm cao mà che dấu niềm quí mến của mình dành cho đối tượng.
Và cũng rất hồn nhiên, dễ dàng khi cô nàng bộc lộ cảm xúc, tình cảm rất thực của mình. Khi nghe anh nói phải vào đầu giờ làm việc buổi chiều mới có thể đến trường trung học kia, Lụa có vẻ suy nghĩ. Chuyện gì vậy kìa? Cuối cùng thì cô nàng lục trong túi xách lấy ra một… ổ bánh mì không, có vẻ ngại ngùng một chút nhưng rồi quả quyết nói với anh:
– Vậy là anh phải chờ qua buổi trưa, đói bụng chết! Thôi, anh đừng đi ăn uống gì đó tốn tiền, anh ăn đỡ ổ này đi… Rồi đi trình diện gì đó, rồi về Sàigòn cho sớm, không thì ở nhà mong…
Trời ạ, ổ bánh mì tầm thường và rẻ mạt, thậm chí chẳng có chút thịt thà gì nhét vào nhưng quí giá làm sao vì đã chứa đầy ắp tấm lòng của người con gái mới quen. Món quà bánh được trao tặng với tất cả chân tình, hồn nhiên, không chút màu mè khách sáo. Thậm chí hơi… kỳ kỳ vì cô không cần biết ổ bánh mì có xứng hợp với một tân giáo sư cử nhân, thắt cà-vạt trịnh trọng để đi nhận dạy lớp Tú tài mà cảnh sát còn phải nghiêm chào? Nhưng niềm kiêu hãnh về danh giá giáo sư đã không khiến anh cười thầm, chế nhạo cô gái ngớ ngẩn. Trái lại, trong lòng anh chất ngất thương cảm:
– Anh… rất cám ơn Lụa. Em sợ anh đói bụng, cho anh bánh mì, biểu anh ăn mà giống như lo cho một người thân, một ông anh trong nhà vậy. Anh hiểu mà. Em tốt quá. Nhưng như vầy, vì anh không có mang theo túi…
Cô nàng lúng túng, vội vàng ngắt lời anh:
-Ờ há, làm sao anh cầm? Để em kiếm cho anh cái bao xốp hay tờ báo…
Tới đây thì anh không thể nín cười:
– Thôi, thôi mà, mắc công em. Anh cũng không thấy đói. Sinh viên nghèo tụi anh ăn ít lắm. Lụa giữ lại ổ bánh đi, anh không nhận đâu…
Cô nàng xịu mặt, có vẻ buồn:
-Anh không ăn bánh mì hả? Có bao nhiêu đâu anh? Em chỉ sợ anh đói bụng và tốn tiền… Anh nói anh là sinh viên nghèo mà, phải tiết kiệm…
Anh cảm thấy thương cô nàng quá sức, bèn vỗ về:
-Coi kìa! Anh nói chưa hết mà. Không nhận bánh mì nhưng anh muốn nhận… địa chỉ nhà em, được hôn?
Lập tức cô nàng cười tươi tắn, vui vẻ trở lại, y như một cô nhỏ mới bị người lớn làm cho thất vọng về một xin xỏ gì đó nhưng rốt cuộc cũng được toại nguyện. Hai người tiếp tục thủ thỉ chuyện trò, anh ‘xạo sự’ đủ điều, Lụa cứ cười khúc khích, quên mất rằng hai bờ vai hình như đã được phép tha hồ dính vào nhau…
Vì Lụa phải xuống xe trước khi vào thị xã nên hai người tạm chia tay. Cô nàng đứng lên, rón rén nghiêng người bước qua mặt anh. Anh thảng thốt khi tấm thân mềm mại, rất nữ tính, vừa nhẹ nhàng lướt qua. Vừa mới rất gần gũi mà đã phải xa xôi! Khác nào một giấc mơ diễm tuyệt giữa ban ngày. Tạm chia tay có nghĩa là Lụa đã mang theo niềm hân hoan và hy vọng tươi đẹp đang lớn dần trong anh…
3.
Gặp lại ở Sàigòn, tức mới chỉ gặp nhau lần thứ hai, anh tỏ tình luôn!
Vẫn cái tính hồn nhiên, chất phác như lần đầu gặp nhau, người con gái để yên bàn tay cho anh nắm, thẹn thùng cúi mặt, chạy trốn cái nhìn say đắm của anh nhưng chúm chím cười mà hỏi nhỏ lại anh: “Anh thương em… thiệt hôn?”. Lại kiểu nói ngọt lịm, cực kỳ dễ thương của con gái Nam. Vì bị bất ngờ bởi kiểu hỏi rất thật thà này nên anh muốn bật cười nhưng ngăn lại kịp. Nếu trong phim Hồng Công thì chàng trai đã tát yêu cô gái, bảo rằng: “Khờ quá, thiệt chớ sao hổng thiệt!”.
Vì hai bên đều nghèo nên trong mấy năm yêu thương nhau, anh và Lụa phải cố gắng dành dụm, chắt chiu tính chuyện tương lai. Một đám cưới đơn sơ để anh giáo đưa nàng khờ về “dinh”, tức một căn phòng nhỏ cũng hết sức đơn sơ trong nhà cha mẹ anh.
Tại gia đình nhà chồng, vốn thuộc giới trí thức – trong nhà có tới ba nhà giáo – cô dâu tuy ít học một chút nhưng cư xử rất được. Kính trên nhường dưới, không mồm mép trả treo, bếp núc vén khéo, không nề hà việc chân tay nặng nhọc, dơ bẩn… Hòa càng yêu vợ hơn một khi nàng hết sức quí trọng công việc trí óc cùng mớ sách vở tủn mủn của anh. Bản chất phúc hậu nơi Lụa còn thể hiện ở tánh thương yêu chó mèo, chim chóc và chăm chút một ít hoa cảnh ở cái sân nhỏ xíu trước nhà. Chỉ có cái khoản phúc hậu… mệt mề, Lụa muốn sinh nhiều con thì anh không dám tán thành mà chìu vợ.
4.
Rồi có con có cái, rồi biến cố 30 tháng 4. Trong những năm tháng khó khăn thiếu thốn mọi mặt ấy, Lụa vẫn là người bạn đời tuyệt vời của Hòa. Ban ngày tần tảo buôn gánh bán bưng, đêm về cặm cụi ngồi may hàng may gia công đến khuya lơ khuya lắc, chị nổ lực kiếm thêm thu nhập cho gia đình, giúp chồng có thể tiếp tục cái nghề dạy học thanh bạch – tính từ rất tao nhã mà người đời thường lịch sự dùng để gọi là an ủi cái nghèo của các thầy giáo, cô giáo.
Chính nhờ vào sức xốc vác của người phụ nữ trong nhà, gia đình Hòa thời ấy khổ thì có khổ nhưng họ vẫn có được cuộc sống vui vẻ, hạnh phúc cùng ba đứa con ngoan ngoãn, chăm học. Nhiều lúc Hòa nghĩ, đích thực là nếu rung rủi vợ anh là một cô gái khác – một nữ sinh viên yêu kiều, đài các chẳng hạn, thì không chắc cô ta đã có được đức tính hy sinh, quên mình và ý chí năng nổ, mạnh mẽ như Lụa để giúp anh cùng gia đình vượt qua nỗi bao nhiêu gian nan, khó khăn một thời.
Rồi hai trong ba đứa con tốt nghiệp đại học, đi làm phụ giúp cha mẹ. Hơn thế, vợ chồng Hòa đã ngồi sui, cưới vợ cho con trai đầu lòng và họ đã có một trự cháu nội kháu khỉnh, con gái út lấy chồng cũng vừa sinh một bé gái cho ông bà ngoại tha hồ nựng.
Mái tóc đã điểm sương, Lụa không còn sức xốc vác, gánh gồng như suốt những năm tháng ăn độn nữa, nhưng cô nàng Thúy Vân mộc mạc của Hòa, nàng khờ hơi hơi ngớ ngẩn mà anh gặp gỡ trên chuyến xe hạnh ngộ ngày nào, vẫn là một phụ nữ hiền lành, phúc hậu, đôi khi vẫn cứ hồn nhiên lo chuyện bao đồng, ân cần giúp đỡ người khác, dù có khi là người lạ huắt lạ huơ.
Và đã hơn 45 năm qua, không bao giờ Hòa quên ổ bánh mì không, trắng ruột, đã ngộ nghĩnh dẫn dắt anh đến một tình yêu bình dị mà chân thực, tựu thành cuộc hôn nhân hạnh phúc dài lâu. Do đó, Hòa luôn nghĩ, với ai khác thì ý nghĩa cao vời của những lần kỷ niệm ngày cưới phải được thể hiện hoa mỹ, hoành tráng cỡ như “đám cưới Vàng”, “đám cưới Ngọc”…, còn riêng đối với vợ chồng anh, chỉ mộc mạc là “đám cưới Bánh Mì” cũng đủ viên mãn nghĩa tình.

PHẠM NGA

Chợt Có Cà Phê Thư Giãn Ở Gần Bệnh Viện

phamnga

1.
Cuối năm bề bộn công việc nhưng do phải tái khám chứng huyết áp lên xuống thất thường, tôi lại lê thân vô Hòa Hảo.
Chợ Rẫy, Bình Dân, Hòa Hảo…, không hiểu sao mấy bệnh viện lớn hàng đầu ấy, nằm ở Sài Gòn mà danh tiếng chữa giỏi thì vang dậy khắp cả nước, thu hút hằng hà sa số bệnh nhân từ tứ phương đổ về, lại khiêm tốn mang những cái tên nghe rất nôm na, dân dã như thế. Khi ngưỡng mộ nhắc đến các bệnh viện ấy, bà con mình cũng chỉ gọi rất giản dị, gọn lõn, như “…qua Chợ Rẫy”, “… vô Hòa Hảo”, hiếm khi trịnh trọng “… chuyển qua bệnh viện Chợ Rẫy”, hay “… đến chữa ở Trung tâm chẩn đoán y khoa –MEDIC” như tên cũ của Phòng khám đa khoa Hòa Hảo.
Tự hồi nào, con đường Hòa Hảo vừa hẹp vừa ngắn, nhà cửa lụp xụp, vô danh tiểu tốt kia được Hòa Hảo ai-cũng-biết cho ké tiếng tăm. Từ tờ mờ sáng đến giữa khuya, khúc đường ở gần cổng bệnh viện lúc nào cũng nườm nượp, chen chúc người, xe qua lại, kéo theo các dịch vụ bán đồ ăn uống, bán thuốc men và đồ dùng cho người nằm viện, xe ôm, giữ xe, chỗ trọ, chưa kể đám cò chộn rộn ở ngay cổng, chuyên chạy cho bệnh nhân mấy vụ vô khám “ngoài luồng”, khỏi phải lấy số thứ tự, hay chèn tên vô lịch mổ sớm, hoặc đến thẳng phòng mạch riêng của bác sĩ….
Cùng cảnh ngộ với hàng ngàn bệnh nhân hay người nhà của họ, đang mỏi mòn vì chờ đến lượt khám, đã vất vả bởi lên xuống mấy tầng lầu đóng tiền xét nghiệm, ngóng chực lấy kết quả siêu âm…, tôi chỉ mong tạm thoát ra khỏi cái ‘rừng’ người ngột ngạt, chen chúc đứng, ngồi ở khắp các khu khám để kiếm vài giây phút xả hơi, thư giãn bên ngoài. Đã gần trưa mà con số nhấp nháy trên bảng điện tử treo trước khoa siêu âm tim cứ như vẫn đứng ì, vã lại còn quá xa số thứ tự của tôi. Sốt ruột và chán nãn, tôi quyết định rời khỏi hàng ghế chờ, tạm thời đi kiếm một tách cà phê…
2.
Vừa bước ra khỏi cổng bệnh viện, tôi ‘dính’ ngay đám cò, xe ôm, bán nước uống chận đường, giơ tay mời chào như chụp giựt. Thoát được đám này, đi xa cổng hơn một chút, đến lượt đám hàng, quán bán cơm, đồ giải khát. Đã từng lê lết qua các bệnh viện, ai cũng có kinh nghiệm y như nhau, rằng những hàng, quán kinh doanh ngành ăn uống tạp nhạp ở khu vực xung quanh các nhà thương bao giờ cũng sẵn sàng “chặt chém” khách mà đồ ăn, thức uống – nhất là cà phê, món tôi đang đi tìm – bao giờ cũng vừa dở vừa mất vệ sinh.
Nắng trưa gay gắt, tôi thất thểu bước dưới lòng đường, tự trách mình giờ này mà bày đặt cố chấp, cứ nhất định đi tìm ở khu vực hỗn tạp này một cái quán đúng nghĩa là quán cà phê thì quả là vô vọng thôi. Tôi rầu rĩ, tự nhủ hay mình tắp đại vô chỗ xe treo bảng “Cà Phê – Nước Mía Siêu Sạch” kia, kêu đại cái cà phê đá, chắc chắn sẽ mắc nhưng cứ lạt như… nước rửa ly, nhưng sẽ qua cơn khát thôi?
Đối với cà phê, sở thích thuộc cảm quan đã lì lợm lâu năm rồi của tôi là uống nóng. Xin miễn uống đá vì đối với riêng tôi, nước đá làm loảng hương thơm của cà phê, dù có pha với loại đệ nhất hạng đi nữa cũng phí. Cà phê để tủ lạnh cũng kém thơm. Đây cũng là chọn lựa thuộc lý trí: thường thường đá ở đâu cũng chỉ được làm từ nước sống, nước phông-tên kém vệ sinh.
Vậy là tôi sắp miễn cưỡng uống cà phê đá vì dư biết các hàng, quán giải khát gần bệnh viện chỉ có mỗi cái loại nước nâu nâu lạt lẽo, bay mùi cà phê ấy, được họ pha sẵn, ‘tồn kho’ thiu ngắt từ đời nào không rõ.
May mắn thay, cách cổng bệnh viện khoảng ba, bốn trăm thước, từ xa tôi đã chợt nhận ra mặt tiền của một cái quán nọ được trang trí theo kiểu coffee take-away đang thịnh hành ở Sài Gòn.
3.
Quán mang tênVyCoffee, khá chật chội, bề ngang chỉ khoảng 2.5 – 3m nhưng thoáng mát, không tham lam kê chèn nhét bàn, ghế. Nhãn dán vào mấy hũ lớn đựng cà phê hạt đặt trên quầy ghi rõ “Cà phê Buôn Mê Thuột”, loại đặc biệt, loại 1, loại 2… Bên cạnh là cái máy xay đang chạy rồ rồ, bốc mùi cà phê thơm ngát. Bảng giá treo trên tường ghi quanh quẩn mấy con số 10 ngàn,12 ngàn một ly, tức cũng ngang ngang các món take-away ở những nơi khác.
Tất nhiên tôi gọi cà phê nóng. Ngồi chờ phin cà phê nhỏ giọt – đang theo nhịp điệu thật hạp ý tôi, nghĩa là từng giọt, từng giọt thong thả chứ không phải tuôn rồn rột như mưa rào – tôi nhẩn nha quan sát tiếp các thứ trong quán.
Thật thú vị, từ ngoài bước vào cái quán trang trí giản dị này, khách có thể thấy ngay hai tủ sách nhỏ được kê ốp vào vách. Một tủ bày đủ loại sách tranh truyện thiếu nhi, từ Đôrêmôn, Conan, Alice Ở Xứ Sở Diệu Kỳ cho đến Thần Đồng Đất Việt, Kính Vạn Hoa, Mèo Khóc Chuột Cười… Còn tủ kia dành cho các loại sách văn hóa – văn học cổ kim cùng những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng thế giới. Tôi đứng dậy, bước đến gần thì nhận ra mẫu bìa những cuốn sách sáng giá, như: Văn học Việt Nam, Văn học Trung Quốc hiện đại, Văn học Nga, 100 Phong tục VN, Danh nhân thế giới, Trăm năm cô đơn, Liêu trai chí dị, Hoa hồng giấy.v.v…
Tôi mang cuốn Trăm năm cô đơn của Marquez trở lại bàn, vừa lơ đãng lật xem vài trang, vừa nhâm nhi tách cà phê nóng hổi. Nhạc mở thật nhỏ, văng vẳng một bản hòa tấu mướt dịu của Clayderman. Nơi cái bàn kê lộ thiên trên vỉa hè phía trước, một ông khách già lặng lẽ đọc tờ tạp chí lấy từ cái giá đựng báo chí đặt sát cửa quán. Đối diện bàn tôi ngồi là hai anh mặc áo công nhân, chăm bẳm nhìn vào bàn cờ tướng, mặc kệ cho mấy ly cà phê đá để bừa trên ghế đẩu kề bên đã cạn sạch… Không khí thư giãn bao trùm lấy cái quán thú vị này.
4.
Chủ nhân quán V. là một bác đã lớn tuổi, mộc mạc, nói giọng Bắc. Vừa nghe tôi chào hỏi, gợi chuyện, bác ngưng công việc dán chữ mừng Năm Mới 2015 trên vách tường phía sau quầy, ân cần mang một bộ uống trà đến ngồi cạnh tôi. Lại như ý tôi muốn, bởi cà phê nóng thì đi đôi với trà nóng chứ không phải trà lạnh.
Bác chủ quán vui vẻ trả lời tôi rằng mình là nhà giáo về hưu, đã góa vợ mấy năm, còn cô bé pha chế, bưng dọn kia là con gái thứ của bác. Nhà giáo có khác, tôi thú vị nghĩ thầm. Dù mở quán theo trào lưu phương Tây tân thời thượng là dạng coffee take-away, nhưng ông chủ quán gốc nhà giáo cố cựu này vẫn có chủ ý riêng là phục vụ khách theo phong cách nho nhã nhằm tạo sự thư giãn cho khách.
Theo nếp văn hóa cổ điển của một người trí thức về già, bác bày ra các tủ sách báo, bàn cờ tướng, tranh phong cảnh làng quê…, đến nhạc mở trong quán cũng chọn là nhạc cổ điển, nhạc thính phòng, hòa tấu êm dịu chứ không phải Rock, Funk, Pop music ồn ào, rậm rật.
Chợt nhớ là không thấy quán treo thông báo “có wifi” để câu khách như hầu hết các quán cà phê hiện nay, tôi hỏi thì bác chủ quán bảo: “Có chứ, nhưng tôi không muốn công khai rình rang, khách nào muốn sử dụng wifi, lên tiếng thì tôi sẽ cho password”. Bác bộc lộ: “Nói thực lòng, một khi mình đã có ý bày ra các tủ sách cho khách đọc thư giãn bên ly cà phê thì rất mong là được nhiều người hưởng ứng khi vào quán. Đằng này, hồi còn ghi thông báo có wifi lên vách, nay thì bỏ rồi, tôi thất vọng quá khi số người vào quán là mở điện thoại, laptop chat chít, trò chuyện nhặng xị qua Wiber, Skype lúc nào cũng nhiều hơn người lấy sách đọc”.
Cà phê ngon và rẻ, khung cảnh thư thái, chủ quán lịch thiệp…, tôi chấm điểm 10 cho quán V. khi trở lại bệnh viện. Tôi đặc biệt chia xẻ cái chuyện có thể bị gọi là “cố chấp” nơi bác chủ quán/cựu nhà giáo, người thiết tha muốn khách đến quán được thư giãn với những đầu sách văn học – nghệ thuật hơn là với hệ wifi miễn phí. Dù gì thì đó cũng là một kiểu “cố chấp” chấp nhận được, nếu không nói là đáng trọng, dễ mến.
Ít ra là đối với các vị khách tuổi đã xế chiều như tôi, hẳn điểm son đáng khen, đáng chú ý nhất của cái quán cà phê thư giãn này không phải là quán có wifi miễn phí mà là những cuốn sách thật chọn lọc, khách có thể tha hồ mượn xem bên tách cà phê ưng ý của mình.

PHẠM NGA
(Tháng cuối năm 2014)

Sau Nguyễn Bính Ngày Xưa, Dân Nghèo Thời Nay Cũng Viết Bài ‘Hành Phương Nam’

phamnga

Cách đây 71 năm, vào tháng 9/1943, Nguyễn Bính cùng Tô Hoài, Vũ Trọng Can rủ nhau làm chuyến “hành phương Nam”. Chính ra, cách nói “hành phương Nam” liên quan mật thiết đến một bài thơ tựa là ‘Bài hành phương Nam’, được Nguyễn Bính sáng tác cũng trong năm 1943. Đó là một bài thơ đầy phóng dật, chan chứa cảm thán từ cả hai chuyến nhà thơ vào Nam rong ruổi giang hồ…, do trước đó, vào khoảng năm 1939, Nguyễn Bính đã từng vào Sài Gòn, lê gót ở Chợ Quán, Đa Kao rồi về Biên Hòa, Mỹ Tho, Vĩnh Long.
Tương tự như thể loại ký sự, bút ký bên tản văn, ‘hành’ bên thi ca mang tính cách một hình thức phô diễn những suy nghĩ, cảm xúc của nhà thơ về một hoàn cảnh sống, một hành trình, cả là môt đào thoát về mặt tâm tưởng. Nếu xa xưa, thi ca Trung Quốc có bài ‘Tỳ bà hành’ nổi tiếng của Bạch Cư Dị thì Việt Nam cũng có các bài ‘Tống biệt hành’, ‘Can trường hành’, ‘Vọng nhân hành’ tuyệt hay của Thâm Tâm, và tất nhiên cả bài ‘Bài hành phương Nam’ với cái tựa thật nôm na, giàu ấn tượng của Nguyễn Bính.

1.
Hai ta lưu lạc phương Nam này,
Đã mấy mùa qua én nhạn bay.
Đó là hai câu mở bài Bài Hành Phương Nam của Nguyễn Bính. Ông làm bài thơ này năm 1943, đề rõ là làm tại Đakao (một khu phố nhỏ, xưa còn gọi là Đất Hộ, nay là phường Đa Kao thuộc Quận 1, TP HCM) tặng bạn mình là Văn Viễn khi nhà thơ chợt nhìn lại chuyện hai người tìm vào phương Nam. Để rồi:
Ngươi giam chí khí vòng cơm áo,
Ta trói thân vào lụy nước mây.
Vậy là vào thời ấy, chuyện họ vào đất Sài Gòn đã không hề là một chuyến du lịch nhàn hạ, phong lưu. Nào là ‘vòng cơm áo’ thiếu thốn đã kềm hãm chí khí làm việc lớn, nào là cứ sống hoang tưởng theo cảm xúc, theo ý thơ trong cảnh giới nước mây phiêu lãng thì phải chịu cái thực tế cơ cực trói buộc mãi. Nghĩa là một khi đã lưu lạc vào phương Nam thì nhóm văn nghệ sĩ Nguyễn Bính đã gặp phải những khó khăn không tránh khỏi. Tình cảnh này lại càng không phải là thắng lợi, thành công gì nếu như mục đích vào phương Nam của họ là đi làm ăn xa.
Nhưng giọng thơ hào sảng “Người ơi, buồn lắm mà không khóc / Mà vẫn cười qua chén rượu đầy!” cho thấy chính cái máu “chí nam nhi tại bốn phương”, thích phiêu bạt giang hồ đã là động cơ chính yếu thúc đẩy đôi bạn làm cuộc Nam tiến riêng tư của mình.
Sau này và cho đến ngày nay, lại có một số đông người từ phương Bắc, đất Trung, cũng quả quyết không kém nhóm Nguyễn Bính ít ỏi thời tiền chiến, cũng tìm về phương Nam. Chỉ có điều họ không dính líu gì đến thi ca, vì ngay từ lúc bỏ xứ ra đi, họ chỉ xác định duy nhất một điều: vào Nam kiếm sống. Chuyện con người phải tha phương cầu thực vốn đã có từ lâu đời trên khắp trái đất và tiếp diễn mãi qua các thời kỳ lịch sử.
2.
Thời thập niên 60, cũng là tiến vào phương Nam, như một làn sóng thầm lặng, liên lĩ, một số dân nghèo miền Trung đành phải rời bỏ mảnh quê hương “đất cày lên sỏi đá” làm không đủ ăn của họ, cộng thêm lý do chiến tranh loạn lạc, mà tìm vào đất Sài Gòn mưu sinh. Như nhóm dân Quảng Nam, Quảng Ngãi, đàn ông thường đạp xích lô và phụ nữ thì đi ở mướn (trước kia gọi là người ở, con sen; báo chí gọi đùa là mari-sến, liên-tử; nay lại gọi là ôshin). Chịu cực chịu khổ, ky cóp được ít tiền là họ gởi về quê giúp gia đình. Thời đó, đất “dễ làm ăn” này cũng không dễ hớp hồn người dân Quảng nặng tình hoài hương, nên thường ít có người trong nhóm họ có ý định ở lại lập nghiệp hẳn ở xứ người.
Đến thời sau ngày 30/4/75, tại VN đã có tới hai đợt di dân vĩ đại, ngược chiều nhau. Chiến tranh kết liễu, đến thế chỗ cho cả triệu người dân miền Nam di tản ra nước ngoài (đợt di dân thứ nhất) đã có một số người ở phía Bắc – hay ở gần hơn là từ những chiến khu, rừng rậm tây nguyên – gồm bộ đội, cán bộ, viên chức, công nhân cùng vào Nam với lý do nghiêm túc là công tác, tức kiểm kê, quản lý, phục hồi sản xuất… mọi thứ đất đai, nhà cửa, tài sản, cơ sở vật chất – kỹ thuật bị tiếp quản. Rồi một cách đương nhiên nhưng thầm lặng, những người thuộc gia đình, thân nhân xa gần của những người chính thức đi công tác này, tìm mọi cách đi ‘tư tác’ vào Nam luôn, với mục tiêu rất rõ ràng: kiếm sống ở Sài Gòn – vùng đất dù sao cũng còn mới mẻ, hứa hẹn giàu có, phát đạt.
Vậy là nối tiếp Bài hành phương Nam thời tiền chiến, cả hai nhóm công tác và ‘tư tác’ nói trên đã làm nên bài hành phương Nam thời hậu chiến (đợt di dân thứ hai) chẳng chút thi vị nhưng cũng rất hoành tráng. Dĩ nhiên cái đô thành hoa lệ ấy, vào những ngày mới giải phóng, ngoài những căn nhà vắng chủ thì cũng còn nhiều thứ “còn xài được lắm!”.
Những nhà lý luận thường sính dùng từ “qui luật” khi lý giải mọi vấn đề. Vậy thì ở đây, hiện tượng “hoàn toàn nằm ngoài qui hoạch Nhà nước” là người dân dắt díu nhau cùng rời bỏ một nơi chốn khó kiếm sống để đi đến một nơi khác dễ sống hơn, thì nhất định là có tính qui luật, đáng được tìm hiểu bằng tinh thần thông cảm. Hơn thế, người từ Bắc tìm vào Nam ‘tư tác’ ngay sau ngày 30-4 thì không phải ai cũng nghèo, cần đi “cải thiện” miếng ăn, mà trái lại, cũng có một số người, không biết bằng cách nào vẫn làm giàu được tại miền Bắc, đã đáp tàu đáp xe vào Sài Gòn với cứu cánh duy nhất là tìm cơ hội làm giàu thêm nữa.
Cũng liên quan đến miếng ăn và đất sống, dân Sài Gòn, tức người địa phương, thời ấy mới vỡ lẽ, hiểu ra cái ý nghĩa cùng công dụng cực kỳ lớn lao, lợi hại của cái hộ khẩu. Thì ra, bản ngã cùng nhân cách mỗi ‘hữu thể con nguời’ theo cái nghĩa cao siêu, vi diệu của triết học, siêu hình học được bên hành chính thô bạo giản lược thành chỉ còn là ‘khẩu’, tức cái miệng, chẳn qua là để cho dễ quản lý. Hộ khẩu chính là niềm mơ ước của dân Bắc với câu thời danh “(Không có) hộ khẩu là hậu khổ!”. Còn dân Nam, trước kia có để ý gì đến cái sổ gia đình của chế độ cũ, nay mới biết thế nào là ‘hậu khổ’ khi cần xin phép làm ăn, buôn bán, chữa bịnh, học hành, khai sinh, khai tử.v.v.., nhất là khi mới học tập cải tạo về.
3.
Rồi đến thời hai thập niên 70 – 80, đã được nhìn nhận là một thời kiệt quệ, bế tắc sau một thời gian bị cấm vận, sản xuất thì thấp kém nhưng lãng phí, mất mát thì nhiều vì quản lý thì kém cỏi, chỉ có tham nhũng là ngày càng khởi sắc. Đất Sài Gòn vẫn cứ là một bầu sữa “chùa” có sẵn đấy nhưng cũng phải hao cạn dần theo ngày tháng bởi đám con cái đông lên gấp bội. Sài Gòn mà còn hao gầy trơ xương vì thời bao cấp thì các vùng đô thị lớn khác, như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ… thì chịu gì thấu!
Thế là… lại tiến vào Nam, vào Sài Gòn. Có đủ mặt dân tứ xứ, từ miền Bắc, miền Trung đến miền Tây, miền cao nguyên. Cuối những năm 70 lại có một biến động xã hội rất trái ngang, bức bối. Đó là với chính sách giản dân, giảm mật độ dân cư ngày càng tăng ở đô thị, một số dân Sài Gòn cố cựu dù có hộ khẩu hay không cũng bị buộc rời khỏi nơi cư trú bấy lâu để đến các vùng kinh tế mới được vội vàng dựng lên ở những tỉnh xa. Trong khi đó, không ai ngăn được làn sóng dân nghèo miền Bắc, miền Trung… cứ thầm lén liên tục nhập vào thành phố một cách bất hợp pháp. Cũng không ai thống kê được các trường hợp được nhập hộ khẩu vào thành phố (đang phải giản dân) nhờ “nhứt thế, nhì thân” tức là thế lực và quan hệ thân thuộc. Lại là một kiểu di dân ngược chiều đầy cay đắng cho kẻ phải ra đi, không khác hồi mới giải phóng, chỉ khác là có qui mô nhỏ hơn thôi. Nhưng cũng may là chương trình kinh tế mới nhanh chóng phá sản, lưu dân gốc Sài Gòn lại tìm cách quay về – một cách chính đáng – cái nền nhà xưa ở xóm cũ của mình trong thành phố.
Đặc biệt là từ thời “đổi mới”, bắt đầu “mở cửa” về kinh tế (năm 1986), cho phép thông thoáng hơn trong làm ăn, buôn bán, đưa đến sự ra đời nhiều hơn những cơ sở sản xuất – xây dựng – dịch vụ tư nhân, hợp tác công – tư… tức công ăn việc làm nhiều hơn, người ta càng đổ dồn về các vùng đô thị phía Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng. Cần nói thêm là thành phố Sài Gòn ngày nay mở rộng, nở ra về phía biển (huyện Cần Giờ) và về phía biên giới Campuchia (huyện Củ Chi), nhưng hai vùng xa xôi mới được kết nạp cho hưởng ké danh giá ấy chẳng hề thu hút được dân từ phương xa đến. Chỉ có ở Sài Gòn là dễ làm ăn nhất. Do đó, dân tứ xứ cứ tập trung vô khu nội ô, miễn cưỡng lắm thì ra vùng ven, vùng ngoại ô đang phát triển với các quận mới thành lập như: quận Thủ Đức, quận 2, 7, 9 và 12.
4.
Đến thập niên 90, quan hệ kinh tế “mở cửa” càng nới rộng ra khỏi khu vực Đông Nam Á, khiến cho ở những quận ven, huyện ngoại thành nói trên nhanh chóng mọc lên thêm những nhà máy, xí nghiệp do ngoại quốc đầu tư. Danh từ “dân nhập cư có tay nghề” được chính thức sử dụng phổ biến trên báo chí và công văn hành chính để gọi tên con số hằng trăm ngàn người, đa số ở tuổi thanh niên, từ các tỉnh dồn về Sài Gòn, nhằm đáp ứng nhu cầu nhân công của các nhà máy, công ty nước ngoài mà nhiều nhất là công nhân ngành may công nghiệp.
Còn người nhập cư không có tay nghề, chỉ có thể làm công việc chân tay lặt vặt, tạm gọi là lao động phổ thông, đồng thời không có tiền, không có vốn liếng thì sao? Cho đến ngày nay đã là đầu thế kỷ 21, bộ mặt của những con người nghèo khó ấy hầu như rất ít thay đổi theo thời gian, thời cuộc. Ở thời thế nào thì họ cũng là người nghèo, không tài sản, đất đai, đi tha phương cầu thực hầu như chỉ với hai bàn tay trắng.
Năm 80, gặp một nhóm dân từ Bắc vào Nam và tìm lên vùng Long Khánh làm đất thuê, dân địa phương phải lắc đầu khi nhìn thấy lưỡi cuốc tai tượng của họ quá lớn, gần gấp đôi lưỡi cuốc thường dùng trong vùng. Lưỡi cuốc lớn làm đất nhanh, nhiều hơn nhưng đồng thời tốn sức hơn. Đám người cùng khổ đã chấp nhận kiểu lao nhọc, cực khổ như thế vì không hề mơ màng như các nhà nghệ sĩ phiêu bạt giang hồ, họ dư biết là ở những vùng đất xa lạ, dù là đất hiếu khách đi nữa thì họ cũng phải bươn chải mới sống được vì luôn luôn có nhiều khó khăn chờ đón kẻ nhập cư. Hãy thử đi theo những bước chân kiếm sống rất đáng khâm phục của họ…
Có người Sài Gòn nhận xét rằng hiện nay, dân nhập cư đã lần hồi thay thế dân địa phương trong những nghề cần rất ít tiền vốn , đứng đầu là nghề bán hàng rong. Từ 3 – 4 giờ sáng, những người bán rau cải, tôm cá… bằng xe đạp rong ruổi trong hang cùng ngõ hẻm đã có mặt tại các chợ hàng bông – tức rau xanh, củ quả – bán sỉ ở các chợ Gò Vấp, Bà Chiểu. Hỏi thăm quê quán thì các chị bảo mình dân Hải Dương, Thái Bình. Vài anh đi bán rau cải bằng xe ba gác thì nói mình dân Hà Nam – thì ra là đồng hương với nhà thơ Nguyễn Bính. Một nhóm rất đông, toàn là thanh niên vùng Thanh Hoá thì rủ nhau vào nghề thợ hồ.
Lại gặp các chị chuyên đi mua ve chai cũng là dân Thanh Hóa. Nhìn từ sau lưng trông các chị rất giống nhau: từ chiếc nón lá, găng tay đen, khẩu trang cho đến cái gọng bằng gỗ gắn ở yên xe đạp để chở đồ ve chai. Một nhóm thanh niên khác làm nghề tẩm quất (đấm bóp) thì cùng quê Thái Bình. Họ cũng giống nhau lạ lùng, cứ như được đúc ra từ một cái khuôn chung, từ kiểu để tóc ngắn, kiểu áo bỏ vô thùng, cho đến kiểu ràng cặp-táp đồ nghề ở yên sau xe đạp đều y chang nhau.
Còn nữa. Trên đường phố, những tiếng rao bán những món hàng rong như bánh chưng, bánh giò, dừa tươi, rau cải, trái cây.v.v.. nghe toàn là giọng Bắc, không rõ thuộc tỉnh nào. Vậy dân Nam bộ bán hàng rong đâu rồi? Cũng còn, nhưng không “chuyên ngành hoá” và ‘đồng hương hoá” như dân nhập cư. Đó là bà già bán xôi, chị bán vé số, anh bán cây kiễng rẻ tiền, mấy anh thu gom rác.v.v.. Nghề chạy xe ôm thì chỉ có một ít dân miền Trung tham gia, phần lớn vẫn là dân Nam bộ mà không thấy dân nhập cư gốc Bắc. Lý do dễ hiểu là muốn chạy xe ôm thì phải có tiền sắm xe và rành đường xá, là hai điều chưa thể dễ dàng có nơi dân nghèo mới nhập cư.
Bước xuống từ xe đò, xe lửa, đặt bước chân bở ngở lên vỉa hè của thành phố lớn, dân nhập cư lập tức phải đối đầu ngay với rất nhiều khó khăn trước mắt tại quê người, như công việc làm ăn, chỗ ở, nơi học hành của con cái nếu như còn ráng ‘nách’ chúng theo, hay còn phải lo dành dụm gởi tiền về quê giúp gia đình. Họ phải đầu tắt mặt tối, cắm cúi làm ăn (làm nhiều mà ăn thì rất ít, ở cũng chật chội hết mức) 2 – 3 năm hay kéo dài nhiều năm hơn không chừng.
5.
Cuối cùng là chuyện một số dân nhập cư chọn “nghề” lang thang, xin ăn. Theo một thống kê vào năm 2004, trong một đợt thu gom dân ăn xin ở Sài Gòn, trong tổng số 3857 lượt người ăn xin bị giữ, có 2054 lượt người trong tuổi lao động. Ngành công an cho biết trong tổng số 446 người dân gốc các tỉnh đang sống lang thang ở Sài Gòn thì có đến 40 người (11.6%) đi xin ăn. Ở lứa tuổi thanh thiếu nhi, tình hình còn tệ hơn: trong số 8000 trẻ em lang thang, xin ăn trong thành phố có đến 82% là trẻ em gốc dân các tỉnh.
Một anh thợ hớt tóc, dân “Bắc kỳ 54” kể là, tại gần khu nhà thờ Xóm Mới Gò Vấp, có một gia đình dân nhập cư, nói giọng Bắc, đến thuê nhà ở lâu dài để làm nghề… xin ăn. Từ sáng sớm, già, trẻ, lớn, bé gì của gia đình ‘cái bang’ này cũng đều túa ra đường, chia nhau đến các địa bàn bên các quận nội thành để hành nghề một cách rất bài bản. Vài năm gần đây, báo chí đưa tin ở Sài Gòn có tình trạng một số cụ già và trẻ em dân nhập cư đi xin ăn hoặc bán kẹo cao su, tăm-pông ráy tai… là do những tay đầu nậu dấu mặt đứng ra tổ chức và chăn dắt.
Nghe những chuyện này, một cụ già người Bắc thẳng thắn cho biết rằng vào thời trước năm 54, ở làng quê của cụ (xin miễn nói chính xác là ở đâu), dân trong làng từ xa xưa đã có một cái lệ quái lạ là cứ hằng năm, vào thời gian nông nhàn, mùa vụ đã xong xuôi là cả làng kéo nhau đi ăn xin ở những vùng khác. Lý do không phải chỉ là việc kiếm sống quá khó khăn ở vùng quê này, mà còn vì một lý do thâm sâu, “tâm linh” khó tưởng tượng nổi: vị thần làng (Thành hoàng) ở đó vốn có một thời phải đi xin ăn để sống trước khi thành đạt danh phận và được triều đình phong sắc làm thần. Vậy dân làng đi ăn xin là làm một việc linh thiêng, bắt chước theo một phần “lý lịch” của thần làng. Không biết gia đình ‘cái bang’ nói ở trên có phải là hậu duệ của thần không nhỉ?
Cùng là chuyện bỏ xứ ra đi, cùng là thân phận lưu lạc giang hồ, nhà thơ Nguyễn Bính thời tiền chiến đã cảm khái sáng tác nên Bài hành phương Nam vang vọng mãi trong sự ngưỡng mộ của chúng ta, còn một số dân nghèo nhập cư, chịu thương chịu khó thời nay thì lại vô tình làm nên những bài Bài hành phương Nam thê thiết của riêng họ, trong đó – chua xót thay! – có khi thành biến khúc Hành… khất phương Nam.

PHẠM NGA

VỚI BIỂN, MỘT CHUYỆN TÌNH KHÔNG MAY…

phamnga

1.
Từ cái may mắn đầu đời thật tuyệt diệu là được sinh ra ở vùng đất biển Nha Trang, tôi đã hồn nhiên thích biển, một mực khoái biển ngay từ tuổi ấu thơ. Rồi sau này, vào năm ra trường đi dạy học, may mắn nữa là tôi lại được bổ nhiệm về Vũng Tàu, cũng miền biển!
Lúc đó đang mùa nghỉ hè, mà vào niên khóa sắp khai giảng, Bộ giáo dục sẽ bắt đầu cho dạy môn sinh hoạt học đường ở bậc trung học. Khóa tập huấn đầu tiên về môn nhiệm ý mới mẻ này được tổ chức ở Vũng Tàu, kéo dài sáu tuần, quy tụ khoảng 30 nam, nữ giáo viên thuộc các trường công ở Sài Gòn và các tỉnh lân cận, tất nhiên có cả các trường của đất “chủ nhà”. Ông hiệu trưởng trường tôi, sau khi tiếp nhận tờ sự vụ lịnh trình diện của tôi, đã hỏi han sơ sịa vài câu về gia đình, thân thế của “kẻ mới đến”, rồi đúng kiểu có-mặt-đặt-tên, ông mau mắn giao luôn công tác đầu tiên cho hắn: đi dự khóa tập huấn môn học mới.
Trại tập huấn của chúng tôi là toàn bộ khu vận động trường Lam Sơn, cách bãi Trước chỉ chừng nửa cây số. Trong lễ khai giảng, tôi nhận ra là đa số thầy, cô giáo dự trại đều còn trẻ, số đông là trên dưới 30. Có lẽ tuổi tác trại viên nên như thế mới thích hợp với tính chất năng động, cần đến thể lực của những môn học chính của khóa tập huấn, là các môn thể dục thể thao, trò chơi vận động tập thể, múa hát cộng đồng, kỹ năng sinh hoạt ngoài trời: cắm trại, lửa trại, thám du, mưu sinh nơi hoang dã… Đặc biệt tự nhiên mà có hai trại viên quá trẻ, phải nói là hai cô bé mới đúng, lại đứng riêng ra, phía sau hàng các cô giáo. Dò hỏi mới biết đó là hai cô cháu gái của thầy Cương, trại phó nội vụ. Vừa đậu tú tài xong, hai cô nữ sinh chuẩn bị ‘lên sinh viên’ này được chú Cương dắt theo, cho làm trại viên ‘bán chính thức’. Hai cô ả cũng thường sinh hoạt chung với đoàn nhưng đi chơi là chính, chẳng phải học hành, ghi chép gì cả.
Thế rồi, rõ ràng những buổi học ngoài trời, trong sân Lam Sơn hay ở các bãi biển, rừng dương…, tức được phơi mình trong nắng, gió, cát, nước biển… mới lý thú hơn nhiều so với những buổi nghe lý thuyết trong phòng học hay hội trường. Từ những thầy, cô đã có tuổi, vốn chậm chạp, e dè với màu nước da nhợt nhạt của mình, cho đến mấy anh thầy trẻ măng, háo hức kiểu ‘mới ra trường’ như tôi, tất cả đều dần dần thay đổi thấy rõ. Khi những ngại ngùng ban đầu – ngại nắng, sợ gió, ớn bụi… – giảm hẳn đi hay không còn nữa, mọi người vui vẻ, ồn ào chạy nhảy trên cát, ngụp lặn dưới nước, nằm dài ra thảm cỏ. Vài lúc tác phong nghiêm trang, đạo mạo cố hữu của nhà giáo đã tạm đi chơi đâu mất, nhiều thầy, cô tự do thả lỏng mình vào những trò đùa nghịch tếu táo, có khi rơi cả mặt kính, cũng như chọc phá nhau lì lợm y như bọn nhóc học trò của mình.
Vui nhộn nhất lúc nào cũng là đám thầy giáo trẻ tức bọn chúng tôi. Y như trong lớp học nào cũng có một “xóm nhà lá” quy tụ bọn học trò hay nghịch phá, lớp tập huấn này cũng có “xóm nhà lá” được dẫn dắt bởi tên quậy nhất là Côn, dạy ở trường trung học Long Khánh. Anh thầy toán này có nước da đen như “anh Bảy Chà” trên ống kem đánh răng Hynos thời đó và chuyên chọc cười thiên hạ qua biệt tài kể chuyện tiếu lâm. Rồi Tâm – chẳng bao lâu đã có ngay biệt danh Tâm lùn, để phân biệt với một thầy lớn tuổi cùng tên – dạy ở Dĩ An, mới hôm qua còn nghiêm trang, mực thước, mặc sơ-mi luôn cài kín cổ thì hôm nay đã hót như khướu, chuyên rủ cả bọn ra quán cà phê cóc để… tán dóc đủ thứ chuyện. Hay Thảo, dạy môn hóa ở một trường vùng quê Long An của anh. Phải nói là thầy Thảo đẹp trai, kiểu “trai miệt vườn” để răng vàng sáng giới và thu hút mọi người với ngón đờn ghi-ta thiệt điệu nghệ tài tử, cả tân nhạc lẫn cổ nhạc. Thảo có kể cho anh em nghe chuyện một ông phụ huynh chủ xe đò, mê mẩn ngón đờn vọng cổ của anh thầy nên mua cho thầy một chiếc nhẩn 5 phân vàng, đồng thời may cho một bộ sơ-mi, quần Tây thiệt gồ ghề để đến dự đám giỗ nhà ông chủ xe và tất nhiên, thầy sẽ biểu diễn đàn, ca tại đây.
2.
Sáng nay, ở khu bãi Trước, cả đoàn được huấn luyện viên của Hội Lực Sĩ Con Kiến Càng ở Sài Gòn xuống dạy các kiểu bơi, sau đó là sinh hoạt tự do. Ba anh thầy trẻ “xóm nhà lá” đang làm bộ lòng vòng bơi tới bơi lui, thiệt ra là để bám sát một chiếc phao đang bềnh bồng trôi mà hai cô trại viên “bán chính thức” đang bám vào.
Còn tôi, làm sao mà không khỏi chú ý đến hai cô bé xinh xắn kia, nhưng tôi chỉ bơi ở xa xa và lặng lẽ nhìn lại thôi. Vẫn còn trong tôi những mặc cảm từ cuộc sống nghèo khó, cô độc vừa qua. Tôi đã phải xa gia đình cha mẹ, phải ở trọ trên một căn gác chật hẹp, bẩn thỉu, vừa học vừa kiếm việc làm thêm với chiếc xe đạp cà-tàng, vậy mà cho đến ngày tốt nghiệp cứ thường xuyên thiếu cơm ăn, áo mặc, sách vở… Khó khăn như thế nên cho đến nay, dù tương lai gần sẽ dễ thở hơn do lương bổng ổn định từ nghề đi dạy, bạn gái và hàng hiệu vẫn là hai thứ xa lạ và xa xỉ đối với tôi.
Cứ thầm tự so sánh mình – một cách bi quan về mọi phương diện trong/ngoài – với các anh thầy trẻ kia, nên lâu lắm tôi mới đánh bạo mở miệng hỏi Côn về hai cô bé. Thì ra đó là Hồng, để tóc à la garconne, cởi mở, dễ bắt chuyện. Còn lại là Nghi Dung, tóc hơi dài, luôn trầm lặng, ít nói.
Cuối cùng thì tôi cũng lấy hết can đãm mà nhập cuộc. Nhân lúc Nghi Dung buông phao bơi đi, tôi bơi theo thật nhanh. Hụp xuống lặn một quãng, trồi lên là tôi đã ở bên cạnh cô bé. Tôi mở lời:
“Em bơi giỏi há? Nhưng cẩn thận, đừng ra xa một mình. Em là Dung phải không, tôi là Hòa, mình làm quen nha?”
Cô bé cười, gật đầu, có vẻ ngỡ ngàng:
“Dạ… đúng, em là Dung, Nghi Dung. Mà làm sao em bơi bằng thầy được? Vừa rồi thầy ở đâu mà thoáng một cái bơi ra đây liền lẹ vậy? Lúc nảy em không thấy có thầy ở gần phao tụi em…”
Mở đầu có vẻ thuận lợi. Tôi phấn khích nên tìm ra được ngay ý tưởng tạm xem là hay hay để nói tiếp:
“Tên Nghi Dung là một cái tên thật đẹp. À vừa rồi em không thấy tôi là vì tôi không thích đám đông cho lắm, dù ở đây ai cũng vui vẻ, dễ mến.”
“Dạ em cũng vậy, không thích chỗ ồn ào nên em bơi ra đây. Mấy thầy kia cứ theo hỏi đủ thứ chuyện!”
Dù dung nhan đang hơi lôi thôi vì tóc ướt sủng, dính bết vào đẩu và trán nhưng Nghi Dung vẫn rất duyên dáng, thụy mị. Cô bé nói, cười vừa hồn nhiên, tươi tắn vừa dí dỏm, thông minh. Mãi lén nhìn ngắm người ta nên tôi bí đề tài, đành hỏi han một chút về chuyện học hành rồi rủ cô bé bơi trở lại chỗ… đông người – chiếc phao có mấy anh thầy trẻ vây quanh.
Đêm hôm đó, tôi quá hân hoan để bỏ giấc ngủ mà nằm mơ mộng. Cái tuổi 18 của Nghi Dung không quá cách biệt với tuổi tôi 21. Thuận lợi nữa là ngoài kiểu xưng hô “thầy”,“em” theo hoàn cảnh hiện thời, tôi và cô bé không có quan hệ thầy trò.
Mặt khác, tôi sẽ cẩn thận và tự kềm chế, không đeo bám công khai, lộ liễu, nhưng luôn luôn ở tư thế sẵn sàng, nghĩa là có cơ hội là áp dụng ngay những lời dạy quý báu của một đàn anh về nghệ thuật, bí quyết lấy cảm tình con gái. Có một bí quyết tuyệt vời là : “Như trong một ngày trôi qua, con gái đã nghe không biết bao nhiêu là lời tán tỉnh, trong đó có những câu rất hay ho của những tay giỏi ăn nói hơn mình. Do đó, mình phải ráng có vài câu – ít nhất là một câu nhưng phải thật hay – gây được ấn tượng thật tốt đẹp trong lòng con gái. Có như vậy thì vào cuối ngày, khi con gái ngồi một mình nhớ lại để chấm điểm, vô số những lời tán tỉnh của mấy tên khác sẽ bị quên sạch vì đã có câu tán của mình, do gây ấn tượng nhất nên duy nhất còn đọng lại trong tâm tưởng của con gái, tức là mình sẽ được nhớ tới chứ hổng phải tên nào khác.”
Tôi thao thức, lo lắng vì không mơ hồ gì nữa, ngay giây phút đầu tiên tôi đã thương Nghi Dung.
Ngồi thừ ra suy nghĩ một mình, tôi cầu Trời khấn Phật cho từ ngày mai, ngày nào những lời chân tình của tôi cũng được Nghi Dung “chấm điểm” cao nhất, do tạo được ấn tượng tốt đẹp nhất đối với cô bé, để tôi được ghi vào bộ nhớ của người ta, chứ tôi không biết cách sạo sự ngọt ngào, bay bướm như mấy anh thầy trẻ kia – toàn những địch thủ dẻo miệng đáng gờm.
Trại tập huấn tổ chức đêm lửa trại đầu tiên. Đúng là một cơ hội bằng vàng cho tôi, vì vào dịp này, trại viên phải luân phiên ra trả bài bằng thực tế về các kỹ năng quản lửa, quản trò, quản ca… thì tôi đã nổi bật, nhờ hồi xưa đã có thời gian làm huynh trưởng hướng đạo sinh. Đặc biệt là tuy thời gian chuẩn bị chơi lửa trại khá ít nhưng tôi vẫn kịp đưa vào chương trình văn nghệ đêm ấy vở kịch vui, tựa là “Gia đình bác Tám”, do tôi đã dựng nhái theo một chương trình rất nổi tiếng về nông thôn trên đài phát thanh đô thành và cũng từng trình diễn rất thành công trong một hội Tết sinh viên. Nay tôi vừa làm đạo diễn tập miệng cho Côn, Thảo “xóm nhà lá” và một cô giáo trẻ chịu nhận vai một thôn nữ trong kịch, vừa vào vai chính là bác Tám.
Nghi Dung đã nức nở khen:
“Hay thiệt, thầy Hòa coi bộ hiền hiền, ít nói vậy mà tếu quá đi. Thầy giả giọng ồm ồm của bác Tám nghe y hệt giọng một ông già vui tính, dễ mến. Mà thầy Hòa ơi, quê thầy ở đâu mà nói giọng…”
Tôi đáp nhanh, không khỏi tự mãn về gốc gác của mình:
“Tôi chỉ giả giọng ông già miệt vườn Nam bộ cho vui thôi, chứ quê tôi là Nha Trang, xứ biển em à. Nên tôi rất yêu biển. Còn quê em?”
“Dạ ở Sài Gòn. Em cũng thích biển nhưng chỉ những lúc biển thật vắng như chỉ có mình mình thôi.”
Vậy là hai đứa vừa thố lộ những sở thích, tâm ý sâu kín của riêng mình cho nhau nghe. Cũng lúc này, trái tim tôi vừa biết yêu đã đảo nhịp liên hồi, hết hát ca, bay bổng rồi lại bồi hồi, thổn thức. Tôi vừa mới gặp Nghi Dung đó lại thấy nhớ cô bé rồi. Bao giờ vẻ mặt, giọng nói, cử chỉ của cô bé cũng đầy dịu ngọt, thiết tha lưu lại trong trí tưởng của tôi. Mà sao những han hỏi, ánh mắt, nụ cười của người mình yêu dành cho mình bao giờ cũng ít ỏi đến thế? Trong thương yêu bao giờ cũng có những nỗi khổ tâm kỳ lạ với sự mâu thuẫn không-chịu-nổi là cứ lo lắng và hờn trách nhưng lại càng nhớ thương nồng nàn hơn.
Dù sao, như đã nói, tôi luôn cố gắng tự kềm chế, tự chế diễu những khi biết chỉ là mình tự kiếm cớ gì đó để đi tìm gặp Nghi Dung thêm lần nữa trong ngày. Chắc chắn là đang có những đôi mắt nghiêm nghị theo dõi mối quan hệ đã trở nên quá thân mật, gần gũi giữa tôi và cô bé.
Riêng về ba thầy giáo trẻ thì không rõ vì lý do gì, Tâm đã bỏ cuộc. Còn lại là Thảo và Côn thì chỉ tập trung theo nhỏ Hồng. May mắn cho cả bọn chúng tôi là anh Cương – vừa là đồng nghiệp vừa là phụ huynh! – vẫn phóng khoáng, khi gặp gỡ, chè chén riêng tư vẫn vui vẻ xưng hô “tao”, “tụi bây” với chúng tôi như bình thường. Nhất định là anh Cương đã dễ dàng nhận ra cái trò chộn rộn lộ liễu của bọn tôi đối với hai cô cháu gái, nhưng anh chưa hay không lên tiếng ngăn cấm bọn tôi, có lẽ là do bậc đàn anh từng trải đời này đã rộng lượng thông cảm “tuổi trẻ mà!”?
3.
Thời gian qua thật nhanh, thấm thoát mà khóa tập huấn sắp bế giảng. Chúng tôi vẫn thường đến cả năm bãi tắm của Vũng Tàu, đi thăm cả Long Hải và Cần Giờ. Biển có mặt ở khắp nơi – vị chứng nhân đôn hậu như mẹ hiền. Sóng biển cứ rạt rào đêm ngày như ru tình tôi lớn dậy. Gió biển cứ thổi tóc Nghi Dung bay bay, có lúc vờn nhẹ vào tôi, ve vuốt tình tôi.
Rồi tôi khổ sở, thương nhớ quay quắt khi Nghi Dung chợt biến mất hết một ngày một đêm. Cô bé về Sài Gòn gấp vì chuyện gì? Lúc cô bé trở lại Vũng Tàu thì nhằm vào buổi sáng chúng tôi làm bài thu hoạch cuối khóa. Tôi đang ngồi ở cuối phòng, sắp kết thúc bài thu hoạch thì chợt có một mảnh giấy vo viên rơi trên mặt bàn. Nghi Dung và nhỏ Hồng đang đứng ở hành lang, vừa ném giấy qua cửa sổ mà miệng cười, tay ngoắt. Tôi mừng rơn, vội vã ra khỏi phòng. Nghi Dung nói ngắn gọn là hai cô bé sẽ đi trước và chờ tôi ở bãi Dâu…
Bãi biển vào lúc rất vắng người, tôi rất sung sướng về cái hẹn riêng tư này – nhỏ Hồng vừa ý tứ rời đi, nói là kiếm dừa uống – nhưng cũng làm bộ trách cô bé:
“Hẹn tôi ra đây mần chi vậy? Trưa quá rồi, mà một rưỡi chiều cả trại phải tập dợt gấp rút ở sân cờ cho lễ mãn khóa vì sẽ có quan lớn trên Bộ xuống dự…”
Nghi Dung bạo dạn xỉ ngón tay vào ngực tôi:
“Thì chỉ vì em muốn gặp riêng thầy thôi mà. Biển đang thật vắng, đúng ý của em, mình tha hồ nói chuyện thoải mái, phải hôn thầy? Lễ mãn khóa thì nhằm nhò gì đâu thầy?”
Tôi trợn mắt:
“Nhằm nhò gì đâu hả? Nhà trường cử tôi đi học thì phải học cho đàng hoàng, nghiêm chỉnh chứ, không thì hiệu trưởng chữi, phạt chết. Đúng là em nói giọng… học trò, không biết trời cao đầt dày gì cả!”
Nói thì có vẻ dõng dạc, hùng dũng như vậy nhưng thật ra tôi đang rất yếu đuối, ngớ ngẩn nhìn người mình yêu sau một ngày-đêm xa cách. Và tôi lập tức muốn ngã quị khi Nghi Dung dịu dàng nhìn tôi, nói nhỏ:
“Thì em đã nói là em muốn gặp riêng thầy thôi mà. Về Sài Gòn, em cảm thấy… nhớ nhớ thấy.”
Niềm vui ngút ngàn đẩy nhịp tim tôi nhảy đến mức cuồng loạn. Tôi liều lĩnh nắm bàn tay cô bé:
“Thì em đừng gọi tôi là thầy nữa. Gọi anh là anh đi Dung nhé? Anh cũng nhớ em nhiều lắm, dù chỉ một ngày qua. Anh đã nhớ em từ lâu lắm rồi, em có biết không?”
Nghi Dung không rút tay lại, chỉ nhìn tôi bằng ánh mắt thật ngoan hiền rồi hơi cúi mặt, chúm miệng nói nhỏ với cái giọng vừa ngộ nghĩnh vừa dễ thương của con gái Nam bộ:
“Thiệt hôn?”
“Thiệt mà. Anh đang có hơi lo về buổi tập lễ mãn khóa, nhưng kệ! Từ lâu anh đã mơ ước được ở cạnh em thật riêng tư như lúc này. À em về Sài Gòn gấp như vậy, có gì vui không Dung?”
“Dạ vì ba em sắp xuất ngoại, đi làm ăn bên Hồng Kông nên em phải về gặp ba để bàn với ba về ngành em theo trên đại học.”
“Em chọn ngành nào vậy?”
“Cũng Văn khoa như anh, nhưng cũng chưa chắc chắn lắm anh à!”
Bị lôi cuốn vào chuyện của Nghi Dung, tôi chỉ vừa thay đổi được cách xưng hô thôi, trong khi tôi còn có ý muốn cháy bỏng nữa trước vẻ yêu kiều lạ thường của người mình yêu. Cái óc tính toán đáng xấu hỗ của tôi đang bảo người ta đang vui, đang dễ dãi kìa, nói đại đi! Thôi thì… Tôi xiết nhẹ bàn tay Nghi Dung:
“Dung ơi, anh muốn nói…”
Chợt cô bé không còn ánh mặt tươi vui nữa:
“Anh Hòa, xin anh đừng nói. Em biết anh muốn nói gì với em rồi, nhưng xin anh… Không biết sao, em sợ…”
Tôi hoảng hốt, tự cực lực lên án mình cái tội dại dột tính “nói đại” vừa rồi. Tôi nài nỉ:
“Em sợ điều gì mới được? Dù mình gặp nhau chưa lâu nhưng anh không hề lầm lẫn về tình cảm trong lòng mình đâu em. Dung ơi, em không tin anh sao?”
Đôi mắt Nghi Dung đã ngấn lệ, giọng cô bé ray rứt như van nài ngược lại:
“Dạ em tin anh chứ, nhưng xin anh đừng nói ra. Lần trước em đã từ chối anh, không cho biết địa chỉ nhà em cũng là vì em sợ… Sợ ngay từ lúc em bắt đầu cảm thấy mến anh, Hòa ơi! Em sợ chuyện tình cảm của tụi mình không có tương lai đâu anh.”
Nói xong, Nghi Dung nhẹ nhàng rút tay ra khỏi bàn tay đờ đẫn của tôi. Cô bé đứng dậy, bước đi vài bước trên bãi cát rồi dừng lại, khoanh tay, nhìn mông lung ra biển.
Trong những chuyện tình có duyên may, khi người con gái chạy đi chỗ khác là chỉ vì thẹn thùng, không muốn chàng trai nhìn thấy ánh mắt thuận nhận của mình. Còn trong chuyện tình của tôi lúc này, người yêu bước đi là đã mang theo mọi mơ ước, hạnh phúc, cả tuổi thanh xuân của tôi. Tôi đang chìm vào cực cùng của khổ đau, hụt với.
Ngày cuối cùng ở trại, trong lễ mãn khóa, Nghi Dung tránh mặt tôi nên tôi tìm cách dò hỏi nơi nhỏ Hồng. Thì ra, từ lâu rồi, gia đình Nghi Dung xào xáo vì ông bố có vợ nhỏ và bà mẹ hăm sẽ ly dị, còn cô bé thì tắt mất nụ cười hồn nhiên, hóa thành một cô gái trầm lặng, u sầu. Trong chuyến đi chơi vùng biển vừa qua, cô bé tỏ ra nguôi ngoai, vui tươi trở lại chút đỉnh. Nhưng khổ nổi, ngày Nghi Dung về Sài Gòn gấp là ngày bà mẹ chính thức ra tòa nộp đơn xin ly dị, không ai ngăn cản được. Tan nát cõi lòng, lại gặp lúc tôi ngờ nghệch định tỏ tình nên cô bé tội nghiệp đành ngăn tôi lại bằng một lý do đơn giản nhưng mơ hồ, rằng “chuyện tình cảm của tụi mình không có tương lai”, mà không chia xẻ với tôi về tấn thảm kịch gia đình cô bé phải riêng mang.
Từ dạo đó, tôi yêu biển với cõi lòng đầy u uất. Sóng biển ngàn năm cứ vỗ mãi vào những gộp đá trơ lì. Gió biển đêm ngày cứ thổi mãi trên bãi cát nín câm. Với biển, tâm hồn tôi mãi cưu mang những kỷ niệm thật buồn về một chuyện tình không may…

PHẠM NGA

(Tháng sinh nhật 5/2014)

CHUYỆN KÍN ĐÁO Ở SAU CHÙA

phamnga

Phạm Nga

1.
Trước ngày 30-4, không ai có thể tranh cải về chuyện bà Tư cắt giác là Phât tử nhiệt tình nhất, công quả nhiều nhất cho ngôi chùa tại địa phương. Sớm hôm bà Tư tận tụy tham gia mọi hoạt động của nhà chùa, từ cúng kiếng, hành lễ, tiếp phẩm cho nhà trai, đến việc chăm sóc hoa kiểng, sửa chữa điện, nước…
Đúng ra thì xa xưa hơn nữa, dân cái xóm phố bên này và xóm lưới bên kia con đường quốc lộ đều mang ơn bà Tư cắt giác nhiều lắm. Bà gốc người Bắc, tuổi đã ngũ tuần, khá đẫy đà, nước da ngâm ngâm, bước đi nhanh nhẹn. Bà góa chồng, không con cái, làm nghề cạo gió, giác hơi nhưng còn biết và giỏi nhiều nghề khác. Gặp khi tối lửa tắt đèn, có nguời bị trúng gió, ngất xỉu hay rối rắm, lúng túng hơn là đau đẻ thì đã có ngay bà Tư. Bà mụ vườn này cũng rất mát tay khi chỉ vẽ, chữa trị những bịnh lặt vặt như hóc xương, trật khớp, đau bụng… Bà cũng sẵn sàng cho mượn những món tiền nhỏ khi bà con ngặt nghèo hay khuyên bảo, hòa giải những lục đục trong gia đình người này, người khác Tiếp tục đọc

XEM PHIM CŨ, TẢN MẠN VỀ CHÀNG “HÂM” Forest Gump!

phamnga

Screen Shot 2014-03-18 at 3.05.38 PM

.

1.

Tiếng Việt của người mình phong phú lắm, đặc biệt về các từ ngữ dân gian trong cuộc sống đời thường. Điển hình như: khùng, điên, điên dở, gàn, gàn dở, dở hơi, hâm, hâm hấp, có vấn đề, ba trợn, không giống ai, không giống con giáp nào, uống lộn thuốc, té giếng, chạm dây, tốc, tốc-kê, man, mát, man man, mát mát, man mát… Chỉ là để nêu nhận xét, đặt tên cho ai đó có lời nói/hành vi không bình thường, ứng xử lạ lùng trước cuộc sống mà người mình có cả một kho tính từ, hình dung từ quá sức dồi dào, vui, ngộ đến như thế! Tùy theo tình trạng “không bình thường” của người/hành vi được nhắc đến như thế nào/vào cỡ nào, đồng thời tùy theo cách nói là nghiêm túc hay thân tình, thậm chí là thương hại, chê cười hay chế diễu, người mình có thể dễ dàng, thoải mái nói bật ngay cái từ nào đó trong cả kho tính từ, hình dung từ nói trên. Thích là nói cho rôm rả câu chuyện, có ai thèm để ý là cái từ mình vừa chọn có gốc ở địa phương nào, gốc chữ Tây hay chữ Tàu, giới nào hay nói … Tiếp tục đọc