NHỚ TỪ CÁNH PHƯỢNG CUỐI THU

nguyenvi

Bên chùm phượng muộn cuối thu
Dòng ký ức réo u u cuộn về
Thời gian trầm tích si mê
Bấy lâu quên chững câu thề dỡ dang
Phượng lôi áo trắng xếp hàng
Trình ta điểm mặt này ngoan này hiền
Húi cua bên suối tóc mềm
Một lũ bạn thuở êm đềm…ngày xưa…
Tháng ngày chóng mặt đẩy đưa
Bạn ta tóc nhuộm sương khuya ráng chiều
Vài tên chối bỏ mọi điều
Sao biết được đã phiêu diêu cõi nào
May còn đó tiếng gọi nhau
Í a í ới mày tao…tìm về…

NGUYÊN VI

NGỦ NGON NHÉ CƯNG

nguyenvi

“Ngủ ngon đi cưng!”
Lời ru thật dễ thương tôi quen nghe từ hồi còn bé tẹo
Mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, rồi năm mươi năm trôi
Lời ru cứ tưởng…đã xưa rồi Diễm
Vẫn kiên nhẫn đến ngoan cố bám theo tôi, theo anh dù gần hết cuộc người.
“Ngủ ngon đi cưng!”
Lời ru đã từng bắt tôi sợ đến phát khiếp
Không khác mấy những tiếng động lạ khi phải đi đêm qua khu mồ hoang
Lại cũng từa tựa lời nhắc tuồng sau tấm màn nhung sân khấu
Nơi đầy dẫy phấn sáp và diêm dúa đèn màu, chát chúa âm thanh.
“Ngủ ngon đi cưng!”
Các cụ tằng tổ mấy ngàn năm xưa khêu lửa đốt xương thú ngồi viết Dịch kinh
Rằng từ hỗn mang âm dương sinh thành và sánh vai nhau đi đến tận cõi vô cực
Sao cứ phải giật mình cả khi có cớ và vô cớ
Dù ba bốn ly cà phê đen trong ngày trì hai mí mắt cấm gần nhau.
“Ngủ ngon đi cưng!”
Lời ru không buồn sao nghe mênh mang mênh mang
Nửa giống tiếng ông, nửa giống tiếng cha, nửa giống tiếng anh, và nửa giống tiếng tôi
Thực đơn thịt cầy một món, bốn món, bảy món, rồi mười lăm món
Vẫn còn thiếu và phải thêm vào hàng tỉ món giả cầy đó thôi.
“Ngủ ngon đi cưng!”.

NGUYÊN VI

HUYỀN SỬ MỘT TÊN LÀNG (hay là SỰ TÍCH HOA MA NƯƠNG)

nguyenvi

Hơn ba trăm năm trước. Làng tôi khi ấy chỉ khoảng hơn chục nóc nhà, toàn nhà mái tranh vách nứa. Đất làng rộng hẹp ra sao không ai buồn đo đếm. Mà đo đếm để làm gì khi tứ bề ngút ngàn đồi cát. Cây xương rồng mọc chen nhau, xếp hàng như người tham quan ngày hội chợ thời mở cửa. Cây ma dương thì mọc thành rừng, cây nào cây nấy gai chỉa tua tủa như kho giáo, lưới gươm. Tre trúc mọc hoang thành từng vạt dài, nhìn đâu cũng thấy màu xanh của lá luôn rì rào trong gió và đùa với cát bay.
Chẳng biết có phải đất lành chim đậu không. Cứ thỉnh thoảng lại có vài người lưng gồng vai gánh, dáng mệt lử như vừa vượt qua đâu hàng mấy trăm dặm đường, đuối chân dừng bước, rồi trụ lại, rồi dựng chòi vỡ đất tỉa bắp, trồng khoai. Cứ thỉnh thoảng lại có vài người quần áo rách tươm, dìu nhau đến từ phía biển, mệt mỏi dừng bước, rồi trụ lại, rồi dựng chòi trồng rau, đào củ, hái măng rừng sống qua ngày. Cứ thỉnh thoảng lại có vài người tướng mạo oai phong lẫm liệt, tóc râu tua tủa, kẻ đi bộ người lưng ngựa, bên hông còn giắt cả giáo gươm. Họ dừng bước, rồi trụ lại, rồi dựng chòi, chôn gươm giáo, vỡ đất làm ăn sinh sống. Cứ thỉnh thoảng lại có vài người dáng phương phi thanh tú, tay nải ngoài vài vật dụng thông thường, còn lại chỉ toàn sách với sách. Họ dừng bước rồi trụ lại, dựng chòi, nhận nơi đây làm quê hương thứ hai, sau cái nơi đã từng chôn nhau cắt rún.
Cứ thế. Người làng tôi đông dần, nhà cửa mọc lên nhiều hơn. Rẫy bắp, nương khoai lấn dần đám ma dương lẫn đám xương rồng, những đồi cát cũng lùi dần ra xa nhường chỗ cho hàng ranh, hàng rào đan ngang, xẻ dọc. Đình làng tôi cũng được dựng lên từ lúc ấy. Ngoài những dịp lễ lạt, vào những đêm trăng thanh gió mát, đám thanh niên có đủ nam thanh nữ tú rủ nhau hẹn hò, tụ tập nơi sân đình nhỏ to chuyện trò tình tự, hát đối trao duyên. Đám thanh niên trong làng càng thích tụ tập nơi sân đình còn vì lẽ, họ sẽ được nhìn ngắm và trò chuyện với nàng Nương – một thôn nữ vừa đẹp người, đẹp nết, lại hát hay, còn kể chuyện có duyên rất mực.
Ở tuổi mười sáu, mười bảy. Nàng Nương đã là cô thôn nữ nổi bật của làng. Tóc nàng đen dày óng mượt luôn xõa ngang lưng. Nàng dáng thanh tú mặt hoa, da phấn, mắt đen, mày liễu trông đẹp như tranh. Hình như trời bắt vạ nàng thì phải. Nàng đẹp vậy mà lại siêng năng chăm lo tươm tất trăm thứ việc trong nhà, nàng Nương còn sẵn lòng giúp đỡ bất cứ ai trong làng khi có việc cần nhờ. Chữ tài liền với chữ tai một vần, lời cụ Tố Như quả không sai. Đám gái làng ngày càng nạnh hẹ, tỏ ra ghen ghét, hắt hủi nàng Nương và hùa nhau dần xa lánh, cách ly nàng. Còn đám trai làng dù có chọc ghẹo, tán tỉnh nàng thế nào cũng chỉ nhận được những cái lắc đầu dễ mến. Thua cuộc, bọn họ lại cũng hùa nhau đơm đặt nói xấu nàng Nương không biết bao nhiêu điều, không ngượng miệng. Đâu đó trong đám trai làng có kẻ xấu miệng còn tung tin nàng Nương là ma, chuyên ru ngủ, bắt hồn đám trai làng.
Buồn cho thói đời đen bạc, nàng Nương ngày càng lẫn tránh mọi người, không còn buồn tiếp xúc với ai. Vài người có việc đi ngang qua nhà nàng, liếc trộm chỉ thấy nàng Nương sớm tối chăm chút mấy khóm hoa vạn thọ, vài bụi cúc vàng và một loài dây leo lạ chưa từng thấy có trong làng. Rồi một đêm, dù trong nhà nàng ngọn đèn dầu vẫn leo lắt bóng, cửa nẻo vẫn mở, nhưng không còn ai thấy bóng dáng nàng Nương đâu nữa. Người có chút lãng mạn thì bảo nàng Nương đã bỏ làng tìm ra chốn kinh kỳ phồn hoa đô hội để hòa nhịp vào thế giới của văn chương, nghệ thuật. Người có tí máu của con nhà võ thì bảo, nàng Nương đã vượt ngàn dặm trường đi tìm minh chủ để đầu quân góp phần giết giặc, giữ yên bờ cõi. Kẻ xấu miệng thì bảo vì quá cô đơn, nàng Nương đã nghĩ quẩn tìm đến cái chết nơi bến sông nào đó. Gì thì gì, cả làng không ai dám đoan chắc nàng Nương đã đi đâu về đâu. Bởi một tuần, rồi một tháng trôi qua mà nàng Nương vẫn bặt vô âm tín, không lưu lại tí vết tích gì để biết rằng nàng còn sống hay đã chết.
Không người chăm sóc, khóm vạn thọ và mấy bụi cúc chết lụi dần. Riêng mấy dây leo lạ lại nhanh chóng mọc leo um tùm đầy trên hàng giậu quanh nhà nàng Nương. Từ các nách lá, từng nụ hoa mỏng manh, tím ngắt trộn lẫn chút màu xanh da trời, dáng tựa trái tim đang vỡ, chen nhau, lắt lay ngay cả trong làn gió nhẹ thoảng qua. Hoa lá như người, đượm buồn man mác như tiếc nhớ, bâng khuâng. Một đồn mười. Mười rồi đồn khắp làng, rằng nàng Nương chắc chết thật rồi, hồn còn vương vấn với làng hóa thành loài hoa lạ. Chắc hẳn phải là một nhà thơ, cấp làng, buột miệng đặt tên cho loài dây leo lạ cái tên, dây hoa Ma Nương. Lại mười người biết, rồi cả làng biết tên của loài hoa mới: Ma Nương.
*
Mấy trăm năm qua rồi. Quả tình không ai biết làng Từ Tâm quê tôi khi ấy có tên là gì, bởi cho đến giờ vẫn không thấy có bút tích gì ghi lại. Nhưng quả là đã có một thời, làng tôi có tên là làng Ma Nương thật. Tôi không chắc, rằng có phải người làng vì quá tiếc thương nàng Nương nên đã quyết định lấy tên loài hoa lạ nơi nhà nàng để đặt tên cho làng, hay không. Ngay một số cụ được coi là tiên chỉ của làng như cụ Hai Khướt, cụ Bảy Thoạt cho đến lúc quy tiên, cũng không dám chắc có phải ông bà xưa đã lấy tên hoa Ma Nương đặt tên cho làng hay không nữa. Cả đến thầy Tư Đài – một thầy lễ, đệ tử chân truyền của thầy Hai Khướt nổi tiếng một thời, giờ đã ngấp nghé tuổi bảy mươi, được xem như bộ bách khoa đại tự điển của làng – cũng phải chịu, không rõ! Đến như nhà thơ Lê Sa, một văn nghệ sĩ hiếm hoi của làng, khi hỏi đến chuyện này cũng phải bó tay…cam chịu trói, chứ nhất định không chịu nói rằng đúng, rằng sai. Tôi. Kẻ hậu sinh của làng, càng tịt. Đành phải vậy thôi, biết sao?

NGUYÊN VI

BA KHÔNG

nguyenvi

Không nghe không thấy không cần hiểu
Phía trước đầy gai nhọn hầm sâu
Lầm lũi người đi không thể níu
Vô hồn như thể kẻ mộng du.

Tiếp sau vầng sáng là bóng tối
Chán chường đeo bám bước yêu thương
Thần mã cũng đến hồi vó mỏi
Lạnh lòng nghe tiếng vạc kêu sương.

Thêm vài giọt buồn vào ly đắng
Bõ bèn chi trong cuộc thua dài
Tình vơi có nghĩa tình sẽ cạn
Ố nhàu trang mộng cố dằng dai.

NGUYÊN VI

VỀ THĂM NHA TRANG

nguyenvi

Mỗi lần đến là một lần say sóng
Mặt trời còn lạng quạng huống chi tôi
Thành phố soi cũng phải rung rinh bóng
Hà cớ gì tôi mắc cỡ, Nha Trang ơi.

Biển muôn đời cám dỗ rủ rê tôi
Tôi lại rủ rê bạn bè về thăm biển
Chia cùng tôi nỗi hả hê bay liệng
Muốn ôm vào mình trọn vẹn Nha Trang.

Tôi lặng im, thơ thì cứ hát tràn
Không dấu nổi lòng tôi hòa cùng sóng
Những muốn tâm tình ngàn lời cháy bỏng
Với Hòn Chồng và những đảo xa kia.

Không dấu nổi lòng tôi trên bờ cát về khuya
Đếm sóng biển ôm hôn bờ rạo rực
Đếm những dấu chân xưa có thực và không thực
Dẫm ngổn ngang cát biển, cát lòng tôi.

NGUYÊN VI

THẰNG PHÁO

nguyenvi

Hắn có mặt nơi cánh gà sân khấu đâu từ chập chiều tối. Nhấp nha nhấp nhõm, hết đứng lại ngồi. Cái cà vạt màu nóng hoa hòe hoa sói không chịu nằm yên trên cổ, thi thoảng lại được hai bàn tay lóng ngóng vuốt sửa, nới lỏng rồi siết chặt. Chiếc khăn mùi-xoa được một phen có việc làm thường xuyên trở nên ướt át và nhăn nhúm một cách bất thường. Hắn đang đợi tới giờ khai hội…nổ.
Xưa nay bàn dân thiên hạ chỉ quen nghe làm báo nói láo ăn tiền, chớ chưa nghe ai nói đứng pháo hốt tiền bao giờ. Thế nên người hiếu kỳ kéo tới dự khán càng lúc càng thêm nhộn nhịp, đông vui.
Trong một thoáng lọt vào lỗ đen vũ trụ, nơi mà các khoa học gia bảo rằng thời gian và không gian không tồn tại, hắn đồng bóng nhẫm đếm số lợi nhuận siêu khủng tính bằng đô la Mỹ rồi quy ra thành vàng ký hắn sắp thu được từ nước bọt và mấy tiếng gỏ của cái búa gỗ be bé xinh xinh. Mặt hắn lúc đó vênh váo, khác với mọi lần. Hình như hắn đang xem thường cả cái thân cong vệ nữ và khuôn mặt trời phú cùng giọng nói cực duyên của mấy em em-xi đang tranh thủ ra sức chuốt lời trên sân khấu.
Hắn bừng tỉnh. Một cảm giác sướng rên chạy rần rật loạn nhịp từ đầu đến chân khi hắn nghe đến lượt tên hắn được xướng lên đầy trang trọng. Hệt như mấy cha sỹ tử đâu từ hồi đầu thế kỷ mười chín vừa giật giải trạng nguyên, hoặc chí ít cũng là thám hoa, bảng nhãn. Cùng với đó là âm thanh ngọt ngào của những con số biết hát kèm những tiếng búa cốc cốc khô đét khi in-trô, lúc kô-đa giành giật nhau từng điểm như trong một trận thi đấu bóng rổ đỉnh cao.
Bất giác hắn cười thầm. Thế gian lúc ấy trở nên chật hẹp và bé xíu, ép-xi-lon trong mắt hắn. Có thể còn nhỏ thua cả hàng lông mi của chính hắn vốn xác xơ vì phải thường xuyên chuyển đổi trạng thái khóc – cười đột ngột. Cái khúc gỗ trơ trẻn cong vênh bỗng dưng được gắn tên long. Nhánh gỗ lũa te tua vì bị nước bào mòn từ tháng này qua năm nọ, hắn vớt được bên hốc một con suối cạn, được đặt tên là phụng. Cùng với đó, đương nhiên là có cụ quy, chàng lân để đủ một bộ tứ linh, bộ tứ có phép hô biến từ xen-lu-lô trở thành vàng mà không cần phải trải qua công đoạn rùng mình và bốc khói nghi ngút như trong truyện cổ tích bằng tranh cũ ngắt cũ ngơ.
Hắn cười cho cái thói đời có những tay trưởng giả học làm sang, ngu muội chịu thò tay móc hầu bao lôi ra hơn hai triệu đô la Mỹ để đổi lấy mấy nhánh gỗ vô hồn đang nằm chình ình chiếm gần hết cả gian phòng. Hai triệu đô! Cái món tiền mà để có được nó, một nông dân An Nam đang sống những năm đầu của thế kỷ hai mươi mốt, giả dụ nếu có khoản thu nhập ổn định hai triệu đồng mỗi tháng thì phải nai lưng ra làm sơ sơ mất chỉ cỡ hai ngàn năm mà cấm phải chi phí một đồng xu cắc bạc nào cho cái việc không thể không chi phí, tức phải ăn và phải uống.
Hắn cười mừng cho cái thương hiệu doanh nghiệp đại diện cho cả dòng họ nhà hắn vốn lâu nay chẳng ai biết, không tiếng tăm gì hốt nhiên được một tổ chức từ thiện đứng ra tự nguyện cạo rỉ hết sức bất ngờ, trở nên bóng nhoáng như được phép màu.
Nhưng hể có vỏ quýt dày ắt phải có móng tay nhọn lẩn quẩn gần đó. Sự đời thường là vậy.
Quyết không chịu kém thua Kiều-tứ-linh, Vân-hầu-bao cũng được trải qua những cảm giác thần tiên được đứng bên cạnh các cô nàng em-xi không chê vào đâu được. Than ôi, những cái mi-crô thuộc loại hiện đại, cực đắt tiền đột nhiên biến thành món đồ dùng để cạo rỉ cho những thương hiệu dỏm. Hai triệu đô = bốn nhánh gỗ khô! Cái phương trình nếu ai cho là đúng thì chỉ có mà điên. Thế là sau cái đêm thổ tả ấy, tụi hắn rủ nhau lặn mất tăm. Khốn khổ cho mấy tay nhà báo phải chịu lạnh, mặc áo phao, xỏ chân nhái bơi tìm khắp nẻo. Tiếng gọi ơi ới vang rân cả cái thành phố đông đúc chất chứa gần chục triệu con người. “Kiều ơi, em ở đâu?”, “Kiều ơi, các em đang ở đâu?”.

NGUYÊN VI

THỜI GIAN

 

nguyenvi

Thời gian sôi động và lặng lẽ
Đều phải được soi qua lăng kính con người
Những sinh linh trần trụi nhỏ bé
Với đủ thứ tật bệnh đất hỡi trời ơi.

Thời gian cứ trôi đều chẳng chút phiền muộn
Không già không trẻ không xấu cũng không đẹp hơn
Chỉ có loài người mới mắc bệnh hoang tưởng
Lui cui vá lỗ đen và lấp biển dời non.

Ta thương ta thường tin điều chưa có
Thời gian cười hồn hậu mãi trôi xuôi
Tội nghiệp cái thằng không dám xuất hành giờ chính ngọ
Ngồi hát ru nhau người ở đừng về.

NGUYÊN VI

THẰNG NGỌNG

nguyenvi

“Đang mần cái ngữ gì mà cứ lui cui từ nãy giờ vậy, anh bạn?”. “Ử?”. “Tui hỏi cậu đang làm gì, cậu lại đáp ử là sao?”. “À, ui àm ơ!”. Mẹ ơi, té ra hắn mần thơ.
Cũng may là hắn chỉ mần thơ, chứ nếu hắn hứng chí lên lại khoái ngâm thơ thì dù có đại hội toàn thể các bầu sô toàn quốc cũng chịu, không biết mỗi sô diễn phải trả cát-sê cho hắn bao nhiêu là vừa đủ. Trong đám bạn từ cù lần than tới cù lần lửa, tôi được tiếng là tay mê thơ số một. Bởi thế hễ biết ai làm được thơ là tôi cứ phục sát đất, phục lăn. Nhưng với cái giọng nói thường ngày của hắn, mà lỡ hắn đưa luôn vào thơ thì chắc chết, nên tôi dù đang phục cũng có hơi nghi. Và dù chả có động lực gì thúc hối, vào những lúc thư giãn tôi cũng cất công lùng đọc bằng được những sáng tác của hắn. Cốt để báo cáo cho tính ưa tò mò của chính mình, của một tên thường nhìn lén các diễn viên cải lương đang hóa trang hoặc nhẫm ôn vai diễn phía sau cánh gà hơn là thích ngắm họ trực diện khoe sắc phô hương trước ánh đèn sân khấu.
Hắn chưa từng mần thơ. Hay cũng có thể được dăm ba bài gì đó nhưng thảy đều chưa sạch nước cản nên không ai biết hoặc chẳng ai buồn nhớ. Thơ truyền thống Việt khó mần quá chăng? Nào là tứ tuyệt, ngũ ngôn, thất ngôn, lục bát, song thất lục bát, vân vân và vân vân. Mệt! Cho tới một ngày, hắn đọc đâu đó được mấy cái văn bản gọi là “thơ” đăng trên vài tờ báo in và báo mạng. Hắn mừng húm. A, cứu cánh đây rồi. Con đường thơ của hắn là đây, và không thể là con đường nào khác.
Mặc dù vậy, hay dở chi tính sau, mần được thơ thì tốt quá đi chớ. Nhưng trời đất quỷ thần ơi, hắn bập vô mần cái thứ thơ mà ai đó đã gọi là thơ ngọng, thơ nấc cụt. Này là ặc ặc ồn ồn. Kia là một câu chữ đang chạy ngon ơ bỗng sụp hố một cách cũng ngon ơ, tự nguyện. Cảm nhận về thứ thơ này, một thi sỹ vườn đã ứng tác mấy câu lòng ruột: Chữ thơ như ghẻ lở/ Chè hẻ rồi chò hỏ/ Ngâm chỉ tổ hôi mồm/ Đọc e đau mắt đỏ. (!)
Đời thuở nào chưa? Không chỉ dừng lại ở thứ thơ nấc cụt, hay mắc nghẹn cũng rứa, hắn còn hứng chí trai tơ trững mỡ mần cả thơ sex nữa. Bớ trời. Có câu hắn viết, đọc lên cứ rõ mồn một tiếng sột soạt trút bỏ xiêm y của một ả giang hồ. Lại có những khổ thơ tả cánh núi đồi, thung lũng, khe suối hẳn hoi mà tuyệt nhiên chắng thấy bóng dáng cây cối, chim thú đâu cả, chỉ có mấy vạt cỏ chỉ lún phún mọc rất trêu ngươi các nhà địa chất học. Chắc là hắn đang tả cảnh núi đồi từ một hành tinh nào xa lắc lơ ngoài hệ Thái Dương, ngoài dãi Ngân Hà.
Tôi ngó vậy mà cũng lãng đãng ra phết, có bài thơ hắn viết tôi đọc đến mấy lần cũng có thấy bóng dáng con lợn con heo nào đâu. Thế mà thằng bạn tôi mới trình độ làm sao, vừa lướt mắt qua một dạo hắn đã nhận ra được tiếng lũ heo kêu en éc chắc đang bị trói chờ đưa vào lò mổ. Lúc lúc lại phát hiện tiếng ằng ặc của bọn heo ăn tham đang đoạn sặc cám khô. Tài thật. Đúng là một cây làm chẳng nên non, nhiều cây lâm tặc ngó dòm xăm soi.
Là bạn bè văn nghệ, thi thoảng cũng gặp nhau, thường tại các cuộc nhậu bình dân. Hắn, đôi lúc có nhắc tới thứ thơ nấc cụt + sex + đời thường ấy và bảo đó là thơ theo trào lưu tân hình thức, là hậu hiện đại.
Hắn lý sự, rằng thơ Việt xuất hiện đã từ rất lẩu rất lâu rồi nhưng thế giới có mấy ai biết. Rằng thơ Việt truyền thống khó dịch sang tiếng nước ngoài, thế nên dịch bài thơ nào thì gần như bài thơ chết toi. Khổ thế. Và như vậy, để dễ dịch thơ ta sang tiếng Anh, tiếng Mỹ, tiếng Bồ, tiếng Thái để giao lưu với độc giả khắp năm châu thì nhà thơ phải viết câu thơ như nói, thấy dài dài đọc hơi mỏi mồm thì cứ xuống dòng cái rụp là xong.
Trời đất ơi, thế thì cái câu của nhà thơ Ê-li-ốt, được tặng giải Nô-ben văn chương năm 1948, có còn đáng cho lớp hậu bối lật ra để tham khảo hay không nhỉ?. “Trong số những trách nhiệm mà nhà thơ tự đặt cho mình trước nhân dân, trước tiên phải nói trách nhiệm trước ngôn ngữ: thứ nhất – bảo vệ ngôn ngữ này, và thứ hai, hoàn thiện nó, làm giàu thêm cho nó…”.
Dẫu tôi không tán thành với lý luận của hắn, nhưng tôi vẫn tôn trọng những sự thể nghiệm tìm tòi cái gọi là mới của hắn và những ai cùng quan điểm đó, về thơ. Có thể rồi văn học sử nước nhà sẽ quay lưng. Cũng có thể sẽ dành cho loại thơ này một góc thật trang trọng và xứng đáng. Biết đâu được!.
Riêng tôi, ngậm buồn. Ca dao và hát ru giờ đã dần thu mình chui tọt vào thư viện và các viện nghiên cứu hết rồi. Sẽ tới lúc thơ rồi chắc chỉ còn nằm trên giá sách. Ai mà có can đảm nằm ngồi cùng chiếc tràng kỷ, hay trên cánh võng ngâm ngợi bên ấm trà để thưởng lãm cái thứ thơ mà đại diện là thằng bạn tôi đang ra sức cổ súy không còn biết tiếc gì.

NGUYÊN VI

THẰNG MINK

nguyenvi

Dù có hơi cổ lỗ, thô kệch, nhà quê. Nhưng Mink vẫn luôn thể hiện mình, rằng mấy mươi năm vẫn chạy tốt. Đừng có mà tưởng hắn là tay thường. Hắn tay cán vá đó! Tên cúng cơm của hắn là Sáng. Tên khai sinh, cả tên thường gọi cũng chỉ có một. Sáng. Thế nhưng chẳng hiểu nguyên cớ từ đâu, một thằng cha kăng chú kiết nào đó đã khùng khùng, buột miệng đặt cho hắn cái tên mới, Mink. Tên của một loại xe máy rất chịu đời của Liên Xô cũ.
Mà hình như cũng ứng thật. Bao nhiêu năm qua, hắn lui cui, lụi cụi. Cho dù bầm dập cỡ nào hắn vẫn cố nghiến răng, mím lợi, cố rướn. Rồi đến một lúc, hắn cũng rướn đến được cái chỗ mà hắn muốn rướn tới. Hoan hô. Y chang một chiếc Mink đích thực. Dù tưởng chừng hết thời, nó vẫn oằn lưng nhận thồ khách bò qua bao nhiêu đoạn đường rừng núi, kiếm tiền.
Ít ai biết, chắc cũng chẳng ai cần biết, hồi bé hắn học hành tối sáng ra sao. Nhưng với một số người thường xuyên tiếp xúc với hắn, ai ai cũng cứ nghĩ là hắn được như cái tên Sáng do cha mẹ hắn mong thế, đặt cho. Ai lại chẳng muốn đổi đời, dù chỉ một lần. Anh cũng thế phải không? Tôi thì tôi tin chắc thế, ít nhất là cũng trong suy nghĩ. Hắn cũng không phải là ngoại lệ. Bởi người ta dù có lùng xục gì gì vẫn chẳng tìm ra điểm nào đặc biệt, nổi trội nơi hắn, so với cái đám người thường ngày xung quanh hắn. Một điều khiến hắn càng nung nấu mong muốn đổi đời, đó là hắn vốn xuất thân từ một nơi dân dã, quê mùa. Mà những người sống nơi ấy thì từ bao đời nay vẫn chỉ là những người quê mùa, dân dã.
Rồi có một ngày. Theo chân đám sỹ tử, đến kỳ hắn cũng vác lều chõng lên kinh ứng thí. Vẫn thuộc loại trung bình trong đám sỹ tử trung bình. Dù gì thì hắn cũng đã thoát được chốn xưa cảnh cũ, được hít thở, đi đứng, và lui cui, lụi cụi nơi đất kinh kỳ. Đời vẫn chẳng sáng sủa thêm gì như cái tên của hắn. Chán thật. Thôi thì nhất thầy, nhì thợ. Không nhất thì nhì. Hắn chấp nhận làm thợ. Chắc hẳn hắn sẽ làm thợ hết kiếp nếu không thức thời tìm cách theo gót, ve vãn, trì bám các thầy. Hắn trở thành đứa học trò khôn nhất. Ngoan nhất. Tầm cỡ nhất. Xuất sắc nhất.
Nhất là cái chắc. Bởi lẽ các thầy nói gì hắn cũng dạ, bảo gì hắn cũng vâng tất. Mà nếu chỉ có vậy thôi , thì cũng đáng gọi là trung bình, nói ra làm gì cho hao mực, mệt miệng. Đằng này, các thầy bảo gà có râu, heo có sừng hắn đều nghe tuốt tuồn tuột. Và mọi điều tào lao, dóc tổ ấy, khốn nỗi, hắn đều cho là chân lý, rồi học thuộc nằm lòng, rồi truyền đạt cho người khác. Không thiếu một dấu phẩy. Giống hệt tiếng kêu từ những chiếc mõ truyền thông tin của cụ kỵ nhà ta thời còn ăn lông ở lổ. Thành thử, các thầy thi thoảng cũng chơi xỏ lấy hắn làm mồi nhậu. Làm lâu rồi thành quen. Chịu lâu rồi cũng thành quen. Không ai, kể cả hắn còn nhớ từ khi nào nữa, hắn trở thành món nhậu thường trực của các thầy. Mọi lúc mọi nơi, bất kể, một khi bàn rượu thiếu mồi.
Vậy đó. Các thầy dù không ai bảo ai, nhưng tất cả đều biết lời nói dóc đơn giản chỉ là lời nói dóc. Đứa học trò ngoan được các thầy chiếu cố, nâng đỡ từ tổ viên được bầu làm tổ phó, rồi làm tổ trưởng là điều bình thường. Được lên chức tổ trưởng, hắn mừng rơn, thậm chí còn khóc rưng rức, mừng mừng tủi tủi ngay trong một phiên họp ban cán sự lớp. Khiến ai nấy đều mũi lòng hết sức. Các thầy nghe hết, thấy hết, biết hết nhưng vẫn làm như kiểu bộ ba con khỉ ngồi. Ba cái con khỉ được các nghệ nhân nghịch ngợm đục đẽo bằng những thứ gỗ đắt tiền thuộc nhóm một, nhóm hai.
Hắn quên tuột mình là ai, mình muốn gì, và mình từ đâu đến. Rồi hắn ngồi mơ. Mơ đến cái ngày hắn được bầu làm lớp phó, rồi lớp trưởng. Trong khi đó, các thầy của hắn thì lại nhớ. Còn nhớ rất rõ là đằng khác, rằng hắn là ai, hắn muốn gì, và hắn từ đâu đến.

NGUYÊN VI

THẰNG SAY

nguyenvi

Tợp vài hớp, da mặt của hắn từ vàng nâu đã chuyển sang màu đỏ lòm. Thêm vài hớp, tím đen. Thêm vài hớp nữa, ói. Nằm lăn kềnh ra, bất kể đâu, và ngáy bất kể trời trăng mây nước. Thế là hắn đã say rồi đó.
Hắn say dễ òm, dễ như anh nông dân đến giờ ngủ phải ngủ vậy. Khá nhiều người biết hắn, tất thảy đều bảo, đô hắn không quá hai chai bia năm mươi. Còn rượu đế (tên gọi tắt của rượu tào lao thiên đế các thứ) thì còn tệ hơn nhiều, chưa bao giờ hắn vượt quá đơn vị xị. Có tên bạn đương cơn ngà ngà, đã mạnh dạn vung tay tuyên bố dứt khoát, rằng đã tận mắt chứng kiến hắn vừa ngửi cái nắp ken đã say, ngã lăn quay. Không biết có đúng như vậy không. Quái lạ ở cái chỗ, hắn lại tự hào với cái đô uống kém cỏi hằng có của mình. Hắn thường lý sự, rằng uống ít không phải là cái tội. Uống ít, say. Vẫn lời hơn là phải uống nhiều mới say, phí!
Đời thuở giờ, có ai càng rèn luyện lại càng thụt lùi, tụt hậu không. Vậy mà hắn lại nằm trong cái tốp kỳ quặc đó, mà là điển hình tiên tiến của nhóm nữa mới đáng tội. Qua ba mươi năm phấn đấu rèn luyện, đến giờ thì đô uống của hắn là như vậy đó. Anh Chí, con đẻ của nhà văn Nam Cao, nếu còn sống, nghe chuyện chắc cũng phải ngữa mặt lên trời mà thốt lên một lần nữa cái câu bất hủ đã yên vị trong văn học sử: “Thế này thì có phải là uổng rượu không!”.
Nói tóm lại là thế này, đô uống của hắn tỷ lệ nghịch với số lần tham gia các cuộc nhậu, cùng thời gian được thử thách và tự rèn luyện. Mà phải đâu lâu lâu hắn mới được uống. Hao hao với câu kết của các cụ, ghét của nào trời trao của đó, trời xui đất khiến thế nào lại bắt hắn vì công việc, vì nghề, cả vì mối quan hệ song phương đa cực, hắn phải uống thường xuyên, có khi còn bị uống liên tục nữa là đằng khác.
Từ lâu lắm rồi, các cụ tổ đã bật đèn xanh cho phép lũ cháu con được uống, vô tửu bất thành lễ. Hắn là một trong đám cháu con thuộc hàng tép riêu, không dám không tuân lời các cụ. Thế nên chưa bao giờ hắn thù ghét chi bia, rượu.
Cho dù học vấn của hắn qua bao nhiêu năm cũng chỉ cỡ trung bình yếu, hắn cũng đã từng đọc và hiểu không ít trang sách tờ báo có đăng mục khuyến cáo về tác dụng xấu của bia, rượu đến sức khỏe con người. Lẽ ra phải sợ, đằng này cho đến giờ hắn vẫn thích nhậu đó thôi. Nhậu để được dịp ngồi bù khú trên trời dưới đất với đám bạn bè thân thuộc, hiểu nhau. Nhậu để tuổi hến của hắn được dịp mở miệng trong giây lát, tranh cãi um sùm với đám bạn, để rồi khi tan men không dám cãi nữa vì hắn hiểu rất rõ cái lý sự cùn của hắn. Nhậu còn để mượn men xé giùm vài mối liên kết hóa học phức hợp trong mấy miếng thịt rán mà cái bao tử đang độ về già của hắn không còn kham nổi.
Chỉ có ngu mới không uống. Ai nói hắn sai, hắn chịu. Thi thoảng say tí cũng hay hay. Đất say đất cũng lăn quay / Trời say mặt cũng đỏ gay, ai cười. Cụ Hiếu – người con ưu tú của quê hương sông Đà núi Tản – còn nói vậy, huống là.
Nhưng thề có thằng Cuội trên cung trăng và ngài Thổ công dưới mặt đất. Đến lạ lùng, hắn tuyệt nhiên không dung thứ, thù đắng ghét cay cái say kiểu bặm trợn cùm khóa phần người / tháo cũi xổ lồng phần con, trong chỉnh thể một-con-người.
Quá nửa phần đời ngồi nhâm nhi với gần đủ mọi hạng người, hắn có thể kể lơ mơ tới một ngàn lẻ một chuyện nhậu và liên quan đến nhậu. Hoặc có thể kể vanh vách, như in, một trăm lẻ một chuyện nhậu đại loại như thế. Nghịch vui, có. Kỳ cục, có. Thanh, có. Tục, có. Vừa thanh vừa tục, có. Và cả những chuyện tởm lợm, mới nhớ lại thôi đã phát buồn nôn. Thật may cho hắn, cũng nhờ cái đô rượu kém cỏi đó mà hắn đỡ phải tham gia tới cùng vô số những cuộc nhậu có phát sinh vấn đề. Nhân đây hắn cũng thật lòng xin lỗi các bạn nhậu, hắn, có lúc cũng đã mượn cái chứng chỉ “đô yếu” để diễn trò xây-xẩm-khi-chưa-xỉn, hoặc ngáy-trước-khi-ngáp để lách qua biền những cái cụng ly đầy nhạy cảm.
Say đến hết biết gì, không còn kiểm soát nổi ý nghĩ và hành động của mình, từ đó làm bao điều trái với luân thường đạo lý. Đã là điều chưa ai từng chấp nhận. Bất chợt hắn lại nghĩ tới những kẻ giả say, mượn rượu để buông thả cho phần con tha hồ tự tung tự tác. Không dưng hắn nhớ lại chuyện xảy ra cách đây khoảng chục năm…
Trong một chuyến dã ngoại cùng mấy thằng bạn về với một làng biển mang cái tên rất thái bình và an vui. Người quê nơi đây cũng hiền hòa, hiếu khách như cái tên làng đã có từ đời nảo đời nao. Sau cuộc tiệc rượu gồm toàn mồi hải đặc sản do gia chủ mời, một thằng bạn của hắn đã say đến độ cố tình mặc nguyên bộ đồ của A-đam, nằm chòng queo trên bộ ván gỗ giữa nhà chủ dưới ánh đèn nê-ông 40W trùm phủ cả căn phòng. Chiếc mền con công khổ nhỏ cũng bị thằng bạn say của hắn cố ý khều đạp lên quá rún. Cái mô hình của thứ vũ khí trấn thủ kinh thành Phú Xuân giữa thế kỷ mười chín lồ lộ ngang nhiên, làm xẩm tối cả một góc phòng. Nhà một gian. Tội nghiệp mấy cô con gái nhà chủ đang tuổi cặp kê. Cho dù không tham gia cuộc nhậu, mặt các cô cũng đỏ lòm lòm một cách tự nhiên, in cái bản mặt hắn khi uống đủ hai chai năm mươi, hay tu đúng nguyên một xị “ru-ga”.
Bất giác hắn nghi ngờ luôn cả thi sĩ vĩ đại bắc phương Lý Bạch, thi sĩ tài hoa trời nam Vũ Hoàng Chương – rằng các vị ấy đã sáng tạo nên những vần thơ say bất tử trong cơn say lúy túy, trời đất cuồng quay. Dù không tin hết những câu chuyện từng được đưa vào quốc văn giáo khoa thư do các nhà văn khái quát, cường điệu lên ít nhiều để làm bài học răn người, hắn cũng tin chắc rằng chưa có ai trên đời sống tốt hơn trong cơn say, chí ít là tốt với chính bản thân mình.
Thế nên mặc dù chưa bao giờ thù ghét chi bia rượu, hắn vẫn tự cho phép hắn thù đắng ghét cay cái say bặm trợn kiểu cùm khóa phần người / tháo cũi xổ lồng phần con, trong chỉnh thể một-con-người./.

NGUYÊN VI