VẾT CẮT

nguyendinhbon

Những ngày đô thị buồn tênh
Tôi ra nhìn nước sông bềnh bồng mây
Hồn tôi
…trôi giữa mưa dày
Có lao xao sóng cùng lây lất về…
Những ngày thức giữa cơn mê
Tôi ra đứng ngó tứ bề mông lung
Hồn tôi
…vết cắt khốn cùng
Giữa cơn huyễn mộng một vùng hoang liêu…
Nơi đây giờ đã chợ chiều
Dù bao cờ dựng thắm nhiều máu rơi…

NGUYỄN ĐÌNH BỔN

LEV.

nguyendinhbon

Nhân cách là thứ mà con người cần cấp thiết bảo tồn

Lev mang hai dòng máu Việt- Nhật. Cha nó là con chó cỏ, mẹ nó là nàng tiểu thư Nhật rất dễ thương. Chủ của cả cha và mẹ nó đều là hàng xóm nhà anh. Cái hẻm rộng tiếp giáp với con đường lớn nơi anh ở có đủ thành phần. Những căn nhà được phân lô trước năm 1975 thường có một cái sân rộng. Thành phố dần thay đổi, những người nghèo bán nhà cho những người khá hơn, thường ở phía Bắc vào để “di cư” ra ngoại ô nhưng cũng có những người “bám trụ” ở lại. Anh sống trong căn nhà thừa kế từ cha mẹ. Quanh anh hàng xóm đủ mọi thành phần nhưng có một điểm chung: ai cũng thích nuôi chó. Tùy theo thu nhập, các gia đình giàu nuôi đủ giống chó từ Nhật, Trung Quốc, Mỹ… có giá trị vài triệu đến vài chục triệu một con, nhưng cũng có những gia đình sống lâu năm tại đây, còn giữ mối quan hệ với những vùng quê, nuôi những con chó Việt.

Sống điềm đạm, anh có mối quan hệ tốt với tất cả mọi người, cố gắng tránh xung đột với hàng xóm. Trước đây nhà anh cũng nuôi chó, một con chó của bạn bè cho, chẳng biết thuộc giống gì vì nó có bộ lông màu vàng, hơi xù nhưng khá cao lớn. Một buổi sáng, khi vừa mở cửa, con chó lách cổng chạy ra ngoài, nghe vù một cái, ẳng một tiếng cùng tiếng xe máy rồ ga, con chó biến mất trước mắt anh!

Vợ không nói gì, hai đứa con buồn hết mấy buổi, rồi cũng thôi, xung quanh hàng xóm, nạn trộm chó vẫn diễn ra hằng ngày.

Định không nuôi nữa thì một sáng Chủ nhật uống cà phê cóc trước hẻm, Nhân, một hàng xóm trẻ người Bắc, làm việc trong sân bay, mới về ở trong xóm mấy năm nói với anh: “Con chó nhà em nó “lỡ dại” với con chó nhà bên cạnh, đẻ ra một lứa không thuần, em tặng bác một con, bác nuôi cho vui nhé!”. Chó nhà Nhân là loại chó Nhật, trắng muốt, xinh xắn, vợ chồng Nhân cưng nựng như con, đi đâu cũng chở theo trên chiếc tay ga đời mới, không biết tại sao lại đi “tò te” với mấy con chó cỏ thường chạy nhong nhong ngoài đường, và hậu quả là một đàn con loang lổ, vàng vện đủ màu!

Ngay trưa hôm đó, Nhân mang qua cho anh một con chó nhỏ, bộ lông đốm trắng đen pha tạp nhưng dễ thương như mọi chó con trên đời, vừa thấy nó các con anh thích liền. Anh nhận, cám ơn Nhân.

Anh mê văn chương cổ điển Nga, nên khi các con hỏi đặt tên gì, anh nghĩ ngay đến Lev Tolstoi, và nói tên là “Lev”. Các con anh hỏi “lev” nghĩa là gì, anh nói nghĩa là sư tử. Nhìn con chó nhỏ xíu, rằn ri, hai đứa nhỏ cười khúc khích, nhưng đồng ý cái tên.

Lev lớn dần lên và trở thành con chó nghịch ngợm, đáng yêu. Nó cực kỳ khôn, khi nó gặm giày của vợ anh, chỉ một lần bị đánh vào mỏm là từ đó nó bỏ tật. Anh đi uống cà phê, nó tung tăng chạy theo, nằm dưới chân anh, kê đầu vào đôi dép, mắt lung linh nhìn anh, ai cũng khen nó đẹp. Một vài năm sau, nó đã là một thành viên bé nhỏ thân thiết trong gia đình. Hình như nó hiểu từng tính nết của mỗi người. Với anh nó thuần phục, với các con anh nó nhí nhảnh, với vợ anh nó nhỏng nhẻo. Đặc biệt khi quán cà phê cóc không còn bán nữa, sáng sớm anh pha cà phê uống tại nhà, trong phòng ăn, nó vẫn nằm dưới chân anh, nhưng khi nghe có tiếng động ngoài cổng sắt, nó phóng vụt ra, và khi nó quay vào, nhìn anh ngoe nguẩy cái đuôi, anh có thể hiểu ý nó là gì. Nếu là người đi ghi điện nước sớm, nó sẽ đến, khều nhẹ vào chân anh, nếu có con chuột cống nào đó núp dưới chỗ đồng hồ nước, nó sẽ sủa vài tiếng, và nếu người giao báo hằng ngày, vứt tờ báo qua cổng, nó sẽ “gâu gâu” rất dễ thương. Anh nghĩ có lẽ giữa Lev và anh, dần thiết lập một sự giao cảm không cần qua ngôn ngữ.

Nhưng số Lev đen đủi. Dù anh đã chích ngừa đúng theo khuyến cáo từ Phòng thú y quận, sống với gia đình chưa tròn ba năm thì nó bị bệnh. Đầu tiên nó liệt một chân sau, dáng đi khập khiểng, sau đó liệt luôn chân còn lại, và dù anh đã ẳm nó đi rất nhiều bác sĩ thú y, chích nhiều loại thuốc, nó đã thành một con chó tàn tật. Từ ngày bệnh, Lev buồn rầu hẳn. Nó chọn một góc sân, nằm im, đôi mắt ướt buồn bã ít khi nhìn ra xa. Mùa hè, khi vợ và các con về quê, anh thức khuya đọc sách thường nghe nó khóc. Đúng, không phải tiếng rên vì đau, mà là tiếng khóc. Nó ư ử nhưng anh có thể cảm được cái tiếng đó thoát ra, cùng với những giọt nước mắt Lev đang rơi…

Anh thương nó, cả gia đình đều buồn, nhưng cũng đành chịu. Hai ngày anh tắm nó một lần, mua những loại dầu tắm thơm cho nó, với ý nghĩ, lỡ một ngày nó chết, cũng sẽ ra đi nhẹ nhàng, sạch sẽ.

Lại một mùa hè đến. Vợ và các con anh như thường lệ, thu xếp về quê. Bọn trẻ nhà anh không học thêm như bạn bè, anh muốn các con có một tuổi thơ đúng nghĩa. Nhà ngoại chúng ở miền Tây, có một khu vườn rộng, về quê giống như du lịch dã ngoại không tốn tiền, lại được nâng niu chiều chuộng, tại sao phải bắt chúng cắm đầu vào những bức tường ngột ngạt nơi thành phố?

Còn lại mình anh và con Lev. Bọn trẻ vừa đi thì bệnh nó càng nặng. Nó chỉ đủ sức liếm vào tay anh vài cái như hàm ơn khi anh tắm cho nó. Đôi mắt đầy ghèn, thân hình chỉ con da bọc xương. Rồi gần như nó không còn lết người đi được nữa, căn bệnh liệt quái ác chắc đã lan đến xương sống. Nhưng về đêm, chắc đau đớn lắm, nó rên rỉ rất nhiều, gần như cả đêm, bất kỳ lúc nào thức dậy, anh cũng nghe nó khóc, anh nghĩ nó sắp chết, và không biết sẽ chôn nó nơi đâu. Sài Gòn không có nơi chôn vật nuôi, thường phải nhờ những người thu gom rác, họ nói sẽ đem ra Hóc Môn, Củ Chi chôn giùm, với điều kiện gia chủ gửi cho họ một số tiền không nhỏ…

Một buổi sáng, chú Tư sống trong căn nhà trọ cách nhà anh mấy căn, một người đàn ông độc thân thường nhậu nhẹt nhưng cũng hiền lành, vừa thấy anh bước ra đã nói: “Nhà chú có con chó bệnh gần chết đúng không? Tui nghe nó rên rỉ cả đêm!” “Dạ đúng, nó bệnh nặng lắm rồi, em nghĩ nó sắp chết!”. Chú Tư không cần anh cho phép, bước vào sân, nhìn con chó nằm bẹp dí, nước dãi xì ra đầy miệng, nói: “Nó sắp chết rồi, hình như ngưng thở rồi nè”. Anh nói: “Chưa mà anh Tư, mới nghe nó rên” “Kiểu này chắc không sống được buổi sáng nay, tui đang rảnh, chú có cần chôn nó không, tui đi chôn nó cho!” “Nhưng nó chưa chết hẳn mà? “Gần rồi, nếu chú muốn nhờ thì tui làm giùm cho, đưa tui một trăm cà phê, mai tui không rảnh đâu”

Anh nhìn con Lev, đầu nó gục xuống tấm thảm. Mắt nó nhắm, thân hình hơi co giật. Chắc nó sắp chết. Nếu hôm nay không nhờ người đàn ông này, sáng mai lại năn nỉ mấy người thu gom rác, tiền nhiều hơn mà có khi họ còn không chịu mang đi.

Anh ngồi xuống, đụng khẻ vào nó. Nó vẫn nhắm mắt, không nhúc nhích. Anh chặt lưỡi: “Ừ, thôi anh Tư mang nó đi giùm. Nhớ chừng nào nó chết mới chôn nha anh Tư!” “Yên tâm, yên tâm. Nhà em gái tui ở Hóc Môn, bữa nay ra đó chơi mới làm giùm chú. Để tui về lấy cái bao”.

Anh vuốt tay trên đầu con Lev. Nó vẫn nằm yên. Chắc nó chết hoặc sắp chết thật rồi. Anh cố tự an ủi lương tâm mình. Người đàn ông đã quay lại với chiếc xe máy cà tàng . Anh không dám nhìn khi ông ta đưa con Lev vào cái bao tải, móc túi đưa cho ông một trăm ngàn.

Rảnh rổi, cả buổi anh ngồi cà phê với bạn bè. Trưa ăn cơm luôn tại quán. Anh không muốn về căn nhà vắng, giờ ngay cả con Lev cũng đã không còn.

Bốn giờ chiều, đang định về nhà tắm rửa thì điện thọai reo. Trung, bạn thân từ thời học đại học gọi. Giọng Trung hồ hỡi: “Mày chạy ngay ra sân bay. Quán Cây Xoài nghen. Thằng Tuấn mới lên, tao với nó đang chờ”.

Về nhà thì cũng không có ai. Thôi ra quán làm vài chai với bạn bè cũng được. Với lại lâu rồi cũng không gặp bạn bè cũ. Tuấn nghe nói vừa đổ vỡ gia đình. Không thể từ chối độ nhậu này rồi!

Anh chạy ra quán Cây Xoài. Quán thịt chó bình dân nổi danh Sài Gòn mà thời sinh viên ít tiền bọn anh vẫn ghé. Tuấn và Trung đã chờ sẵn, có thêm một người bạn mới. Mồi nhậu, bia đã đầy bàn. Tay bắt mặt mừng xong, vừa ngồi xuống anh nghe mắc tiểu vì hình như trưa đến giờ quên đi. Anh nói: “Tao đi rửa mặt chút, sáng giờ chưa về nhà”. Trung cười vang: “Tao biết, vợ mày dẫn mấy đứa nhỏ về quê đúng không, sáng giờ em út chớ gì!”.

Anh bước ra sau. Toilet phải đi ngang qua bếp. Anh vào đi tiểu, cảm thấy nhẹ nhàng. Anh bước ra, dừng lại chỗ lavabo. Đang rửa mặt anh bỗng giật mình nghe tiếng rên rỉ quen thuộc nơi chuồng nhốt những con chó chờ giết mổ. Chưa quay lại anh đã bàng hoàng. Rồi anh cũng quay lại, bước từng bước đến cái chuồng nhốt bốn năm con chó. Trời ơi, anh như xây xẩm mặt mày. Trước mắt anh, trong cái chuồng chật hẹp và dơ bẩn bằng sắt, con Lev đang nằm đó. Nó đã nhận ra anh, nó đang giương đôi mắt đục lờ đờ nhìn anh, miệng nó đầy nhải nhớt nhưng vẫn còn đủ sức rên khe khẻ. Từ trong đôi mắt không còn sinh khí đó, một giọt nước mắt chó rơi ra…

Anh trân trối nhìn con chó của mình. Rồi anh bước vụt ra, suýt va vào người thanh niên phục vụ đang bước vào. Anh đi lướt qua bàn bạn bè, nói với lại “Tao có một cuộc gọi rất quan trọng. Xin lỗi bọn mày, tao phải về đây!”

Anh lao xe ra khỏi quán, anh không biết chạy đi đâu!

Nguyễn Đình Bổn

Ác mộng

nguyendinhbon

Thấy đi giữa dòng người cuồn cuộn
Và bao nhiêu máu chảy đầu rơi
Rồi thảng thốt giật mình tỉnh lại
Một giấc trưa ngủ giữa ngậm ngùi…

Ngày tôi sống bao điều oan trái
Bao tang thương ẩn ức căm hờn
Nên giấc mộng nhuốm màu man dại
Dù lòng tôi chỉ muốn yêu thương

Đã xa quá mộng lành ngày cũ
Một bàn tay ánh mắt bờ vai
Một con sông một triền cỏ dại
Một tiếng chim về hót hiên nhà…

Bỗng thấy thương mình thương dân Việt
Hận thù kia cứ mãi chất chồng
Ngay cả ngủ cũng toàn ác mộng
Trong mơ mà máu chảy như sông!

Nguyễn Đình Bổn

Người và quỷ

nguyendinhbon

Mới sinh ra, tôi là đứa bé khóc đêm rất dữ. Khóc ằng ặc từ đêm này qua đêm khác, đôi khi lại ré lên như thể bị một bàn tay vô hình nào đó cấu véo. Tròn hai tuổi tôi vẫn còn mang chứng bịnh ấy. Cho đến một hôm, ba tôi lặn lội đi tìm một người bà con xa, có chồng là pháp sư nổi tiếng và được ông ấy cho một lá bùa. Lạ thay, khi ba tôi đem đạo bùa ấy về đeo vào cổ tôi thì chứng khóc đêm ngỡ là bất trị kia bớt dần rồi dứt hẳn.

Sau đó vài năm, chiến tranh càng lúc càng diễn ra khốc liệt, gia đình tôi phải tản cư luôn để tìm một chốn an toàn. Trong cuộc hành trình chạy trốn đạn bom ấy, có lần ba tôi đưa cả gia đình ghé nhà người bà con kia. Lúc đó tôi vẫn còn nhỏ, chưa kịp hiểu và nhớ được gì nhưng sau này khi dần lớn lên, xa gia đình và xa hẳn nơi chôn nhau cắt rốn của mình tôi vẫn hoài nhớ quê hương qua những câu chuyện kể ngày xưa của ba mẹ tôi.

Mới sinh ra tôi là đứa bé khóc đêm rất dữ nhưng lớn lên tôi trở thành một kẻ mơ mộng vô phương cứu chữa…

*
Người con gái ấy một thời đẹp nhất vùng phố cổ và là con duy nhất của một ông chủ tiệm cao lầu. Mười sáu tuổi, nàng đã được nhiều gia đình danh giá, giàu có nhờ mối mai dạm hỏi. Thế nhưng, thật bất ngờ gia đình nàng nhận trầu cau của một… ông phù thủy đã ngoài tuổi bốn mươi và sau đám cưới nàng theo hẳn về quê chồng ở một vùng sơn cước. Quanh cái đám cưới hơi lạ đời ấy có biết bao nhiêu lời thêu dệt, đàm tiếu nhưng về quê hương chồng nàng vẫn tiếp tục là đầu đề cho bao câu chuyện ngồi lê đôi mách khác. Đàn bà đẹp thường là nạn nhân của chính mình là vậy. Ông ta dùng bùa để quyến rũ bà ấy, một đạo “bùa yêu”. Những người ưa tán chuyện bảo vậy và kể y như thật về chuyện thầy Tám (tên ông thầy phù thủy) đi xuống Hội An chữa bệnh điên, ghé ăn cao lầu và phải lòng cô con gái đẹp…

Không biết đúng sai thế nào nhưng dù gì, khi đã vang danh là pháp sư cao tay ấn nhất vùng, thấy Tám vẫn thuộc vào những người giàu có nhất vì tiền chữa bệnh điên thì đòi bao nhiêu mà chẳng được! Sống giữa cơ ngơi bề thế nhưng gần như biệt lập với xung quanh, nàng hoa khôi phố Hội nhanh chóng trở nên một thiếu phụ u sầu. Chồng nàng thường đi chữa bệnh xa, khi mười ngày, khi nửa tháng mới về, mà khi ông ở nhà thì cuộc sống của một pháp sư cũng rất khác biệt so với người thường. Sập tối là ông bắt đầu cúng, luyện đan, miệng lúc nào cũng lẩm bẩm đọc thần chú. Khi ngủ, ông ngủ một mình. Trên bộ ngựa bằng gỗ gụ – nơi mà với bàn thờ tổ là hai nơi không có người thứ hai được phép tới gần – luôn có ba cái gối săng (gối bằng gỗ) lớn. Ngủ, ông gối một cái còn hai cái đặt hai bên ngang với tầm tay. Cứ cách độ nửa giờ, một tiếng “đùng” thật lớn lại vang lên. Đó là khi ông nện gối săng xuống mặt phản ngựa để cảnh báo những tà ma quỷ quái nào đó đang lăm le lợi dụng giấc ngủ mà quấy nhiễu ông! Điều lạ là dù đôi tay hoạt động cách khoảng và liên tục như vậy, thầy Tám vẫn ngủ say, ngáy như sấm. Chỉ có những người lần đầu tiên đến ngủ nhờ – như gia đình tôi lúc tản cư- là hoảng hốt giật mình dù nằm tận nhà sau.

Ba năm đã qua, người thiếu phụ vẫn không sinh được cho ông đứa con nào mà ngày càng héo hắt như những bông hoa cắm trong chiếc bình thiếu nước. Rồi trong một chuyến đi chữa bệnh xa, ông dẫn một chàng trai lạ trở về và bảo ngắn gọn:

– Thằng nào siêng, tôi thuê nó về làm ruộng, làm công việc nhà!

Những lời xì xào lại chui rúc khắp nơi khi người thanh niên ấy về làm đầy tớ nhà thầy Tám. Anh ta cao lớn, da nâu bóng. Một thanh niên đẹp rắn chắc tiêu biểu cho những chàng trai vùng biển. Thế nhưng không ai tin đó là một thanh niên bình thường. Đó là một con quỷ! Không biết từ nguồn tin nào người dân bảo vậy. Đúng hơn là cái thể xác cường tráng, hấp dẫn kia chứa chấp một con quỷ thay cho linh hồn của người. Ông ta dùng thần thông để bắt nó về đây để làm đầy tớ không công nhưng rồi một ngày nào đó ông ta phải trả giá. Chỉ cần một chút sơ suất là nó sẽ vặn cổ. Hãy cứ trông cái cách nó làm hùng hục từ hừng sáng đến nửa đêm và cứ như vậy từ ngày này sang ngày khác không hề nghỉ ngơi cũng đủ biết. Chỉ có sức quỷ mới làm được như vậy! Và ánh mắt lúc nào cũng u uất, cũng căm thù một điều gì đó. Nhất định đó không phải là ánh mắt của một con người!

Những lời xì xầm ấy rồi cũng đến tai thấy Tám. Ông cười khà khà và nói với nhiều người, nửa như cố ý nửa như đùa:

– Đúng là đồn đại. Nhưng mà họ có lý! Dĩ nhiên chỉ có thầy Tám này mới có khả năng bắt và sai khiến quỉ mà thôi!

Và cũng không biết câu chuyện ấy đúng sai thế nào, nhưng về phần anh ta, con người – quỷ ấy chỉ biết làm việc và làm việc. Làm nhiều đến nỗi một tay đầy tớ siêng năng nhất của một bá hộ keo kiệt, tham công tiếc việc nhất chắc cũng phải vị nể. Cày ruộng, tát nước, xay lúa, giã gạo, bửa củi… không có việc gì mà anh từ nan, chỉ có một điều là rất khó mà nghe được từ cái miệng ấy một điều gì ngoài những tiếng “vâng dạ” ậm ự trong họng.

Thầy Tám vẫn đi “cứu nhân độ thế” để thu về những túi bạc lớn rồi từ đó sinh dần ra bao nhiêu là ruộng vườn, của chìm của nổi. Ông đi, mải miết như một nhà truyền đạo chân chính và hầu như ít chú ý đến người vợ trẻ đẹp mà ông “nhốt” giữa ngôi nhà to rộng của mình!

Đúng hơn, giờ đây người thiếu phụ ấy đã có thêm một người để sai bảo. Bao nhiêu năm đã trôi qua trong nỗi cay đắng mà nàng đem giấu rất sâu trong trái tim đã từng một thời sôi nổi. Rồi người thanh niên được cho là hiện thân của quỷ ấy về làm đầy tớ. Nhưng hắn chỉ là một cái bóng. Một cỗ máy hoặc một con bù nhìn được người chồng phù thủy của nàng phù phép để bắt phải hoạt động thì đúng hơn!

Nàng vẫn không biết gì về hắn, không biết cả tên. Khi ở nhà, muốn sai bảo điều gì thầy Tám chỉ gọi hắn là “mi” một cách khinh miệt. Đôi lúc nàng nhìn trộm hắn và tự hỏi: Tại sao hắn lại làm nhiều như vậy? Hắn không nói chuyện gì với bất cứ ai. Cả nàng, với chồng nàng và bà lão giúp việc. Thậm chí với cả con mèo, con chó hắn cũng lảng tránh. Buổi sáng, khi nàng thức dậy, hắn đã xong rất nhiều việc và chuẩn bị ra đồng. Đến nửa đêm, khi nàng chập chờn trong giấc ngủ khó khăn với những cơn ác mộng thì tiếng chày giã gạo của hắn vẫn còn đều đều, thậm thịch.

Có một lần, một lần duy nhất vào buổi chiều giáp Tết, tình cờ nàng bắt gặp hắn đứng bất động, mắt ngó mong về xuôi. Lúc ấy dù đứng phía sau nhưng nhìn cái cơ thể khỏe mạnh, rắn chắc hằng ngày giờ chùng lại trong một tư thế mong ngóng đến da diết nàng bỗng có một ao ước đến lạ kỳ là được nhìn vào mắt hắn. Ôi, ánh mắt ấy phải hoài nhớ, u uẩn lắm mới tạo được một cái dáng đứng thế kia? Nhưng khi nàng dợm nhớm chân, do quá nhạy cảm hắn đã quay lại, nhìn nàng hơi ngỡ ngàng rồi đi nhanh vào nhà sau.

Gần cả tháng sau, khi không có ai, nàng tìm đến hắn bên đống củi đang bửa dở và hỏi:

– Anh đang nhớ nhà lắm phải không?

Hắn làm như không nghe, vẫn giáng mạnh những nhát búa vào những thân củi gộc.
Nàng nhắc lại câu hỏi của mình một cách kiên nhẫn và hơi nặng giọng:

– Thưa bà, tôi không hiểu?
– Tôi hỏi có phải anh nhớ nhà, nhớ cha mẹ… vợ con không?
– Không, thưa bà!

Hắn trả lời cộc lốc và đứng dậy xếp những miếng gỗ vừa bửa đem vào bếp. Nhưng chính sự lẫn tránh của hắn đã thôi thúc nàng lao vào một cuộc phiêu lưu mà nàng chưa hiểu sẽ mang lại cho mình điều gì. Sự im lặng của hắn vừa như thách thức vừa như có gì thật đồng cảm!

– Tại sao anh tránh mặt tôi?

Câu hỏi ấy nàng đặt ra sau đó vài tháng trong lúc hắn đang cuốc vườn.

Hắn nhìn nàng khá lâu, tay nắm chặt cán cuốc. Nàng chịu đựng ánh mắt ấy và cảm thấy bạo dạn hơn bao giờ hết. Hắn nói một cách chậm rãi:

– Tôi là một con quỉ! Một con quỉ nô lệ thưa bà!
– Không! Anh nói dối! Tôi không tin. Đó chỉ là những lời đồn đại cố ý!
– Đó chính là sự thực!
– Nhưng dù anh là gì đi nữa tôi vẫn mến anh. Lão ta chỉ chiếm được thể xác này. Những gì còn lại là của anh!

Hắn bổ mạnh lưỡi cuốc xuống mảnh đất vườn khô cằn mùa hạn – Tôi không mơ đến điều đó. Một con quỷ tầm thường, không phải là quỷ vưong, quỷ quan mà là một con quỷ nô lệ thì không có quyền sở hữu bất cứ điều gì!

Hắn lại lặng lẽ bỏ đi và nàng bất lực nghe nỗi khát khao càng lúc càng cồn cào lên cùng với dòng nước mắt thương thân, thương hắn tuôn ra lã chã.

Sau lần nói chuyện ấy nàng không còn tìm cách tiếp xúc với hắn nữa. Tháng bảy đến. Đó là tháng duy nhất trong năm thầy Tám không đi chữa bệnh vì bận phải ở nhà cúng lớn. Thầy sẽ cúng ba đêm liền, bắt đầu từ ngày rằm, như một kiểu “khao quân”, mà “quân” ở đây chính là âm binh dưới tay thầy!

Buổi trưa trước khi vào cúng một ngày, thầy sửa soạn tắm gội thật sạch sẽ ở cái ao dành riêng cho mình. Nửa giờ sau thì biến cố xảy ra. Đang ở trong bếp cùng mấy người đàn bà hàng xóm vừa mượn sang làm giúp thì nàng nghe tiếng gọi vang:

– Bà chủ! Bà chủ!

Nàng kinh ngạc chạy ra. Hắn – người thanh niên – đầy tớ quỷ đang đứng ở sân trước, ướt từ đầu đến chân và mặt lạnh băng.

– Tôi đã giết chồng bà! Xác dưới ao. Bà vớt lên mà chôn!

– Tôi đã trả nợ xong, giờ tôi đi đây!

Hắn nói từng tiếng một, rành rẽ như đã suy tính trước. Nàng chết lặng, gần như không hiểu hắn nói gì. Khi hắn quay lưng, chạy vụt ra khỏi cổng, như có sức mạnh nào đó thôi thúc, nàng lao vụt theo, gào lên:

– Đừng bỏ tôi! Trời ơi! Đừng bỏ tôi!

Hàng xóm xúm lại. Họ vớt thầy Tám lên thì ông đã tắt thở. Khắp người trầy sướt, bầm dập chứng tỏ ông ta đã chống cự mãnh liệt trước khi chết.

Trên bờ ao còn nguyên vẹn bộ quần áo và những lá bùa hộ mệnh mà ông đã cởi ra trước khi tắm. Nhìn máu rỉ ra ở các lỗ khắp châu thân, người ta bàn tán:

– Sinh nghề tử nghiệp mà. Trước sau gì ông ta cũng bị con quỷ ấy giết!
– Cũng tại thầy Tám sơ suất. Hắn đã rình đúng ngay cơ hội khi ông ấy cởi hết bùa ra mới hành động!

Chẳng ai dám nghĩ đến chuyện truy lùng con quỷ ấy ngay cả chính quyền sở tại dù nó chưa chắc đã ra khỏi làng. Người ta chỉ còn có mỗi việc xúm đen xúm đỏ lại coi và bàn tán xôn xao khắp vùng suốt cả thời gian dài, ngay cả khi đã xong đám tang.

Căn nhà có quỷ ấy đóng cửa suốt từ đó. Bà giúp việc không dám ở nữa mà xin về, thậm chí người ta không còn dám đi trên những con đường gần đó. Mấy tháng sau, trong một dịp tình cờ, dân làng phát hiện ra căn nhà đã thành vô chủ. Không ai biết người thiếu phụ ấy đã đi đâu và từ lúc nào?

*
Hồi nhỏ tôi là đứa trẻ khóc đêm nhưng càng lớn tôi càng trở nên mơ mộng. Căn bệnh sau này thì vô phương cứu chữa nên chưa đến tuổi hai mươi tôi đã rời xa gia đình sống lang bạc khắp nơi. Thỉnh thoảng tôi có về nơi ba tôi đang sống và bắt gặp ông thường ngồi hoài nhớ về cố hương trong những buổi chiều vùng trung du miền Đông vàng óng nắng. Mỗi lần như vậy tôi lại nhớ và thắc mắc về câu chuyện người thiếu phụ xinh đẹp và bất hạnh ngày trước. Ba tôi thường bảo:

– Dù sao ta cũng phải về quê hương một chuyến. Ba mươi năm qua rồi!

Tôi hiểu nỗi nhớ trong lòng ông. Hiểu cả chữ “ta” như hàm ý bao gồm cả tôi trong ấy. Đó chính là tiếng gọi thôi thúc trong mỗi tâm hồn ly hương. Nhưng cũng thật bất ngờ, sau hơn ba tháng bặt tin nhà, tôi vừa mới nhận được thư ba tôi, ông viết:

“Ba đã về thăm quê. Ba có ghé chợ ăn cao lầu và gặp một chuyện rất thú vị. Con có còn nhớ là bùa con đeo thời thơ ấu? Đã ba mươi năm, ba thực không ngờ bà ấy vẫn còn sống và nhận ra ba. Nhưng đặc biệt người chồng bây giờ của bà ta… mà chuyện dài lắm. Nếu rảnh con thu xếp về với ba một thời gian…”

Tôi luôn có một túi xách nhỏ trong ấy bao giờ cũng có hai bộ đồ, một cái khăn và dụng cụ vệ sinh cá nhân. Ngay ngày mai tôi sẽ lên đường và rất có thể sau đó sẽ theo gương ba tôi về cố hương một chuyến.

NGUYỄN ĐÌNH BỔN

Mùi

nguyendinhbon

Ngồi xuống đó nhìn nhau thêm chút nữa
Quán bên sông mùa hạ đỏ trên đầu
Em tiều tụy da như màu lá rữa
Mới biết tình hành hạ đến thương đau…

Tay đeo nhẫn cầm bàn tay gầy guộc
Ngửi ngón tay hương khói thuốc năm nào
Sông đang chảy dưới chân mình thân thuộc
Thời gian nào là mộng mị chiêm bao…

Ngồi xuống đó nhìn nhau thêm chút nữa
Mùi khói thơm mùi hương tóc ngọt ngào
Lòng dậy sóng mà tay buông vội vã
Mùi gia đình sừng sững một thành cao…

NGUYỄN ĐÌNH BỔN

XA THẬT RỒI…

nguyendinhbon

xa thật rồi …
xa thật rồi …
em đã cắt mọi liên hệ
anh ngồi trước màn hình ngày cúp điện
như một ân huệ cuối : rút ống thở khỏi người chết não

anh vẫn nhớ những đêm mưa
những đêm mưa …vỉa hè sài gòn
ngồi bên nhau lòng bập bồng bong bóng
những ngày lang thang tỉnh lẻ
nói về giờ phút biệt ly

em đi xa thật rồi …
xa thật rồi…
mùa mưa kéo dài kéo dài kéo dài
chợt hiện về ký ức
ở một nơi xa ngày xưa
em nhắn:
nhớ
bàn tay anh trên vùng ẩm ướt em…

NGUYỄN ĐÌNH BỔN

TIẾNG ĐÀN ĐÊM

nguyendinhbon

Đã nhiều lần, còn đang thức hoặc chợt thức ngay trong giờ ấy, hắn đã cằn nhằn hỏi cô:
-Cô sao vậy? Như thể là cô đang lắng nghe một cái gì đó?
Cô không trả lời, vẫn đắm chìm trong một nỗi hoài niệm riêng tư xa thẳm của mình. Hắn lẩm nhẩm chửi thề rồi lại ngủ tiếp hoặc là hành hạ cô bằng mọi cách mà hắn có thể nghĩ ra. Cô cắn răng chịu đựng, không hề tỏ một thái độ đồng tình. Cả khi hắn dịu dàng hơn trong lúc ân ái với cô. Còn khi hắn lăn ra ngủ vì đã thỏa mãn, nhiều lần cô đã liếc nhìn mặt hắn mà kinh tởm. Thường là sau đó cái ý nghĩ ấy cứ luẩn quẩn trong đầu làm cô mất ngủ: “Trốn đi! Nhưng mà trốn để đi đâu? Trở về nhà? Không! Cha mẹ không tha thứ. Chòm xóm, láng giềng sẽ nói gì? Và hắn cũng dọa rằng… Vậy thì đi đâu? Không chừng lại rơi vào những ngôi nhà như vậy trong những con hẻm như vậy… Cô rùng mình không dám nghĩ tiếp. Cả xóm lao động hình như đã ngủ. Âm thanh ấy cũng chìm vào đêm rất lâu. Thỉnh thoảng có tiếng xe máy vang lên ngoài đại lộ. Cô xoay mình, úp mặt xuống gối và cảm thấy mình đang khóc…

Cô sinh ra ở một vùng quê rất xa cái thành phố ồn ả này. Mười bảy tuổi đã được khen là một cô gái đẹp người, đẹp nết. Mười bảy tuổi nhưng đã có nhiều gia đình có con trai ngấp nghé. Thế nhưng chỉ một lần yếu lòng vì cái vẻ hào nhoáng bên ngoài, chỉ một lần để tai nghe những lời đường mật, cô đã nhắm mắt theo hắn (không phải gã đàn ông bây giờ), bỏ tất cả cha mẹ, anh em, bà con, xứ sở… để cuối cùng thấy mình ở trong một… khách sạn. Khi cô ấy đã mơ hồ nghĩ đến một chuyện không lành sẽ xảy ra nhưng hoàn toàn không ngờ nó lại đến nghiệt ngãquá như vậy. Sau một tuần chung sống như một cặp vợ chồng đi hưởng tuần trăngmật, con người đẹp trai, hào nhoáng kia biết mất. Một mình trong khách sạn, không một đồng bạc và không một mảy may biết về thành phố này, cô gần như tuyệt vọng khi đã hai ngày trôi qua mà hắn vẫn biệt tăm. Nhưng rồi có một người đàn bà tìm đến. Bà ta tự xưng là chị bà con của hắn, và ngọt ngào mời cô về nhà mình. Cô đã mất gần như hết cả niềm tin, nhưng không còn cách nào khác hơn nên cô đành nhắm mắt buông xuôi. Và sau đó không lâu là những gì kinh khủng nhất mà một người con gái phải trải qua. Những người đàn ông đủ mọi lứa tuổi nhưng đều có cái chung là lắm tiền và thô lỗ nối nhau dày vò cô đến chán chê. Cho đến một đêm cô gặp gã bây giờ. Sau khi đã thỏa mãn, hắn nhìn cô rất lâu rồi bảo: – Cô đợi đấy! Nhớ đừng tiếp thêm thằng chó dái nào nữa!

Cô không nói gì với hắn nhưng hơi ngạc nhiên khi thấy cả ngày hôm sau mình khỏi phải tiếp ai. Ngày hôm sau nữa cũng vậy, rồi hắn đến. Mụ chủ nhăn nhó:
– Lỗ cho emquá. Chưa lấy lại được bao nhiêu. Em mất đứt năm chỉ.
Hắn trừng mặt nhìn mụ, mụ hốt hoảng giả lả:
– Đó là em nói vậy thôi. Chớ nếu anh đã muốn thì điều gì mà không được. Chỉ xin khi nào anh không cần nữa thì cho lại em út!
Hắn đưa cô về đây. Một căn nhà nhỏ như một cái hang chuột nằm sâu trong hẻm của xóm lao động. Công bằng mà nói thì so với cái ổ nhện kia, ở đây cô được khỏe thân hơn gấp trăm lần. Công việc chính của cô là chiều chuộng hắn, nhất là khi hắn say. Mà hắn thì ngày nào cũng say. Cô như một cỗ máy hoàn toàn phục vụ trong những lúc hắn đi về bất chợt. Muốn cô lên giường thì lên giường, muốn gội đầu bằng nước ấm cho tỉnh rượu thì gội đầu. Hắn lầm lì ít nói, cô cũng ít nói và đôi khi hắn chỉ cần ra hiệu hoặc bằng hành động. Đêm, khi hắn đã ngủ, người toát ra toàn men rượu, cô âm thầm nhớ nhà, nhớ cha mẹ, nhớ bạn bè vàtrong cô manh nha ý nghĩ bỏ trốn. Nhưng một nỗi lo sợ tràn ngập trong hồn cô.Chỉ cần thấy cử chỉ của mụ chủ chứa, của những tay đàn em đối với hắn, cô biết hắn có một uy quyền rất lớn. Hắn tuy không nói ra nhưng một vài lần đã ngầm cho cô hiểu rằng nếu cô có ý định phản bội hắn thì cô sẽ không thoát được sự trả thù kinh khủng nhất. Với bản chất yếu đuối của mình, cô đã không dám thực hiện ý định đó và vẫn sống với hắn như một con chó mà hắn đem về nuôi. Nhưng rồi một đêm khi dòng nước mắt đã cạn, nằm rũ trên giường mông lung với muôn ngàn ý nghĩ, cô bỗng nghe từ phía nhà đối diện những âm thanh kỳ diệu. Lúc đầu nó mơ hồ, thoảng qua như một làn gió nhẹ, rồi rõ dần lên réo rắt. Tiếng đàn! Cô hơi nhỏm người dậy để nghe cho rõ vì không hiểu tại sao nó lại cuốn hút cô đến như vậy. Những tiếng trầm kéo dài, chậm rãi như dòng sông trôi qua đồng bằng. Âm thanh ấy cao lên thành ra nỗi nhớ, tỉ tê như một lời tâm sự… Cô vùi đầu xuống gối rồi thổn thức gọi:
– Mẹ ơi! Mẹ có tha thứ cho con?

Ôi tiếng đàn đêm, không phải tiếng đàn kìm của cha cô gẩy những lúc cùng vui với bác Tư, chú Tám. Không phải cây phím lõm của những chàng trai hát cùng điệu vọng cổ giao duyên ngày ấy. Cô chưa từng có lần nào nghe một thứ đàn nào như vậy. Nhưng nó len lỏi vào lòng cô, gợi nhớ những tháng ngày xưa hơn cả những kỷ niệm mà cô ấp ủ. Và từng đêm cô lắng nghe, chờ đợi, hy vọng, vật vã…

Ban ngày cô chú ý quan sát căn nhà bên ấy. Nó nằm khuất sau một hàng rào hoa giấy và có lẽ là căn nhà rộng rãi nhất ở đây. Cô muốn hỏi thăm một điều gì đó nhưng không biết hỏi ai. Những người láng giềng nhìn cô nghi ngại. Thỉnh thoảng cô nhìn thấy có những cô gái trẻ dắt xe đạp ra, và qua cánh cổng gỗ. Và buổi sáng, nếu thức sớm cô thường thấy một người con trai ăn mặc lịch sự, đẩy một chiếc xe honda đã cũ màu đỏ, ra khỏi cổng mới đạp máy chạy đi. Anh ấy là người đã chơi đàn mỗi đêm! Cô đoán một cách chắc chắn như vậy dù không biết tại sao. Một buổi trưa, không có hắn ở nhà, cô gọi một bà bán hàng rong vào, ăn một chén chè đậu đỏ rồi tìm cách hỏi:
– Bác ơi, nhà bên ấy làm gì mà cháu thấy đóng cổng hoài vậy? Bà cụ nhìn cô, nghi ngại trước khi trả lời:
– Làm hoa giấy! Mà cháu hỏi làm chi vậy?
Bà nhận tiền cô trả rồi vội vàng quảy gánh đi. Cô hiểu thái độ của bà cụ và tủi thân ứa nước mắt. Cô không tìm cách tìm hiểu thêm về căn nhà bên ấy, nhưng hàng đêm cô vẫn thức đợi nghe tiếng đàn,và hàng đêm cảm nhận từ những âm thanh huyền diệu ấy một sự thôi thúc mơ hồ.

Đêm bây giờ đã bắt đầu có những cơn gió lạnh, và một buổi sáng vừa bước ra trước mảnh sân nhỏ cô vô cùng ngạc nhiên khi phát hiện cây mai lẻ loi đứng nép vào một góc giờ càng lẻ loi hơn vì không còn một chiếc lá trên cành. Gần cuối năm rồi. Không khí phảng phất hương của Tết bằng những làn khói pháo đốt sớm của bọn trẻ. Cả tiếng đàn như cũng thiết tha hơn, và cô cảm nhận bằng trực giác của mình nhưng cũng có thể là chỉ đoán bừarằng người chơi đàn cũng mang một nỗi nhớ nào đó mà anh bày tỏ bằng âm thanhđầy gợi cảm. Người con trai ấy vẫn đi làm vào buổi sáng, vẫn đẩy chiếc xe rakhỏi cổng rồi mới đạp máy, nhưng cô thường nhìn theo anhvới tâm trạng cảm ơn xen lẫn buồn buồn.Tết đã sát bên thềm, mới chiều qua hắn đã bảo là cô cần gì thì nói hắn sắm,nhưng cô lắc đầu. Đang ngồi ăn cơm hắn liệng cái chén xuống nền nhà rồi bỏ đi.Hôm nay là hăm ba tháng chạp. Nỗi nhớ cồn cào còn hơn cả sự đau khổ mà cô từng phải chịu đựng. Chín giờ đêm hắn vẫn không về. Cô đóng cửa. Cảm thấy nhẹ nhõm như những lần hắn vắng nhà. Mười giờ. Thường là giờ cô lắng nghe và bên kia tiếng đàn cũng như hiểu cô nên nỉ non tìm đến. Nhưng chỉ có tiếng pháo của những người cúng muộn. Có tiếng gió lùa ngoài hàng ba xào xạc. Chỉ còn tiếng xe máy nổ vang ngoài đại lộ. Không còn tiếng đàn đêm. Tại sao? Anh ta bịnh? Cây đàn đã hư rồi? Hay anh ta chưa đàn như thường lệ? Đã khuya. Cô thao thức, trằn trọc. Tự dưng cô cảm thấy giận dỗi người chơi đàn. Tại sao không đàn nữa? Tại sao anh không biết rằng cô đang chờ đợi, đang lắng nghe?

Cô thức gần như suốt đêm. Sáng ra cô dậy sớm và ngồi sẵn ở cửa trước ngóng chừng. Gần bảy giờ. Cánh cổng mở ra và anh ta vẫn đẩy chiếc xe màu đỏ ra ngoài. Máy nổ. Chiếc xe chạy từ từ rồi khuất dần sau ngõ hẹp. Mọi việc vẫn bình thường. Thế thì tại sao? Cây đàn hư! Cô khẳng định vậy rồi nghĩ thêm: Thế nào anh ta cũng sửa nó trong hôm nay, bởi một người chơi đàn hằng đêm thì không thể nào bỏ hẳn được?

Thế nhưng tối hôm ấy tiếng đàn mà cô chờ đợi vẫn không vang lên nữa. Hắn đã về lúc chiều do hai tên đàn em kè tới vì say bí tỉ. Cô úp mặt xuống gối khóc vì buồn. Buồn hơn cả nỗi đau, nỗi nhớ. Hơi rượu từ người hắn nồng nặc. Hắn ngáy một cách say sưa. Cô trỗi dậy, lần mò trong tủ lôi ra chai rượu của hắn, dốc vào miệng mình và nhăn mặt nuốt một ngụm lớn. Cổ họng bỏng rát. Đầu óc quay cuồng. Cô lăn vào một góc giường và quên tất cả.

Buổi sáng, vẫn người con trai ấy ra đi trên chiếc xe quen thuộc của anh ta, nhưng cánh cổng không khép lại. Cô nhìn thấy qua hàng rào những đứa trẻ đang chơi đùa với nhau và cô hiểu bọn chúng đã được nghỉ Tết. Cả ngày cô cứ nhìn qua căn nhà ấy và chiều đến cô mừng rỡ khi thấy một bé gái ra đứng dựa vào cánh cổng nhìn ra ngoài. Cô cũng ra trước nhà mình và tươi cười vẫy nó. Cô bé hơi nghi ngại nhìn cô, nhưng cuối cùng cũng bước qua. Vẫn đứng trước cổng cô tìm cách gợi chuyện:
– Sao chị không thấy em đi học nữa?
Cô bé nhoẻn cười rất dễ thương:
– Dạ em nghỉ Tết rồi. Qua năm mới học lại.
Thấy cô bé vui vẻ nói chuyện với mình, côhỏi câu quyết định:
– Bên em có ai đánh đàn mà hay quá? Tối nào chị cũng nghe!
– Chú Hải đó. Chú chơi đàn violon!
– Nhưng đàn hư hay sao mà hai đêm nay chị không nghe… chú Hải đàn nữa?
– Chú ấy về ăn Tết rồi! Giọng cô bé buồn buồn.
– Vậy cái người buổi sáng vẫn đi làm bằng chiếc xe honda đỏ, không phải đó là chú Hải sao? Quá bất ngờ nên cô hỏi mà không kìm lại được.
– Đâu có! Đó là anh Hai của em. Còn chú Hải là thương binh. Chú bị cụt hết hai chân nhưng chú cắt hoa đẹp lắm. Nhà chú ở dưới quê. Nghe chú nói, chú làm việc để nuôi mẹ!
Nói đến đó, cô bé bỗng ngước lên nhìn cô rồi bảo nhỏ:
-Thôi em về! Rồi chạy qua phía cổng nhà mình.

Cô tư lự quay vào. Chiều đã muộn. Bỗng cô chú ý thấy trên những cành trơ trụi của cây mai nhỏ giờ đã lấm tấm những nụ vàng. Cô hiểu mình sẽ làm gì ngay bây giờ, hoặc chậm lắm là ngày mai khi trong trí cô hiện lên nụ cười nhân hậu của người mẹ ngày xưa.

NGUYỄN ĐÌNH BỔN

CON QUỶ VÀ TÔI.

nguyendinhbon

Năm mười lăm tuổi lần đầu tiên tôi gặp nó. Lúc đó tôi đang là một học sinh xuất sắc, học năm cuối cùng của bậc trung học đệ nhất cấp. Nó chuyển đến trường tôi từ một thành phố lớn. Nó cao ngạo, chỉ nhìn bọn học sinh của một trường tỉnh lẻ bằng nửa con mắt. Nhưng nó lại thích tôi. Ba nó và ba tôi còn là đồng nghiệp và đã biết nhau từ trước. Nhà nó rất giàu. Hồi đó nó đã đeo đồng hồ “automatic” loại xịn và xài bút “pilot”. Một hôm nó hỏi tôi:
– Mày có sợ quỷ không?
– Không… biết!
Nó cười:
– Má tao nói tao là quỷ!
– Vì sao?
– Vì… đúng vậy!
Nó không học giỏi bằng tôi nhưng biết rất nhiều trò. Một hôm sau giờ học nó đưa tôi một cái gì đó được gói rất kỹ và bảo:
– Về coi đi, hay lắm!
– Cái gì vậy?
– Báo của Mỹ đó! Nhưng coi lén thôi nha. Mày mà coi ở đây, mấy cha giám thị thấy là bị đuổi học.

Tôi run lẩy bẩy khi mang cái “của quỷ” ấy về nhà nhưng càng run hơn khi đợi lúc không có ai lén mở nó ra. Trời đất ơi, đó là một tạp chí khỏa thân (sau này tôi mới biết) đăng toàn hình đàn bà con gái lõa lồ. Mặt tôi đỏ bừng, mắt tôi nẩy đom đóm, môi tôi khô nứt, tôi thở dồn dập. Tôi muốn vứt nó đi, bỏ nó vô bếp nhưng rồi tôi lại lén cất nó vào ngăn sâu nhất của tủ sách và cứ bị hút mắt vào đó mỗi khi có thể. Tôi bắt đầu biết thủ dâm từ ảnh những cô đào Mỹ bốc lửa này và do có khi làm nhiều lần trong ngày nên sức khỏe sa sút nhanh chóng. May cho tôi, một lần má tôi nhìn thấy tôi đang lén lút xem nhưng chưa kịp “hành động”. Bà làm cho một trận và đem đốt cuốn sách dơ bẩn (lời má tôi nói) đó đi. Thế nhưng những hình ảnh ấy vẫn cứ ám ảnh tôi dai dẳng và tôi bắt đầu học hành sa sút. Chúng tôi vẫn rất thân nhau. Nghe tôi kể chuyện bị má chửi, nó cười:
– Mày có nói cuốn báo đó của tao không?
– Không!
– Sao vậy?
– Nếu nói ra, má tao sẽ không cho tao chơi với mày nữa.

Cũng trong năm đó nó rủ tôi thử hút thuốc nhưng tôi từ chối dù rằng tôi cảm thấy mùi thuốc Capstan mà nó hút rất thơm. Một ngày chủ nhật chúng tôi lang thang ra bãi biển chơi. Nó bảo:
– “Mày muốn coi người ta … nhau không?” . Tôi im lặng. Miệng tôi lại khô khốc, nhớ tới cuốn báo đã bị đốt. Nó bảo:
– Buổi tối, ở trong những hàng dương kia có nhiều cặp … nhau. Nếu mày muốn coi, tối nay tao dẫn mày đi!

Tôi ậm ừ, tất nhiên là tôi rất muốn coi nhưng tôi vẫn cứ sờ sợ. Ngay lúc đó tôi cảm thấy một cơn đau nhói buốt đột ngột xuất hiện trong dạ dày. Cơn đau tăng nhanh làm tôi cảm thấy như thể mình sắp đứt ruột. Mặt tôi tái xanh. Tôi ôm bụng khụyu xuống cát. Nó nhìn thấy và hốt hoảng:
– Mày sao vậy?
– Tao đau quá. Đau trong bụng!

Tôi cố gắng phều phào rồi gần như gục xuống, lịm đi. Bỗng tai tôi nghe tiếng bật diêm rồi một mùi thơm thoáng qua, nó nhanh chóng mất hút trong gió biển rồi lại nồng lên. Tôi cố gắng mở mắt ra. Nó, thằng bạn tôi đang rít lấy rít để một điếu thuốc. Trời ơi, đến nước này mà nó thản nhiên hút thuốc được sao? Tôi cay đắng nghĩ vậy nhưng một bàn tay mạnh mẽ đã nâng đầu tôi lên. Một cái gì đó chạm vào môi tôi.
– Hút đi! Nó nói như ra lệnh.
– H…ú…t???
– Ừ, hút đi! Hít mạnh lên!

Như bị … quỷ ám, tôi răm rắp nghe lời nó. Tôi bập những hơi thuốc lá đầu đời. Tôi suýt bị sặc nhưng cố gắng hít mạnh. Và tôi nghe có một luồng ấm nóng, thống khoái lan từ cổ họng, từ phổi vào dần đến dạ dày, và cơn đau bỗng nhanh chóng tan biến như nó chưa từng xuất hiện. Tôi ngồi dậy trên cát, cố gắng hít điếu thuốc, nhưng nó bỗng giật lấy một cách phũ phàng và dùng chân dí mạnh xuống cát, chôn điếu thuốc.
– Đủ rồi. Hút nữa mày sẽ… chết!
– Sao vậy? Mày hút hoài có chết đâu?
– Đây không phải… thuốc thường. Vì vậy nó mới làm mày hết đau bụng!

Chúng tôi ra về. Tôi ngầy ngật cả buổi chiều hôm đó dù tôi nhớ mình chỉ hút không hơn nửa điếu thuốc của nó. Tối hôm đó tôi lại lên cơn đau và khi ba tôi đưa tôi đến nhà một vị bác sỹ thì ông bảo tôi bị loét dạ dày. Ông chích cho tôi một liều vào rốn và cho một số thuốc. Cơn đau giảm đi nhưng không nhanh như khi tôi được nó cho hút điếu Capstan cháy dở. Lúc đó tôi hoang mang vô cùng và ba ngày sau tôi đã lén mua hai điếu và vào nhà vệ sinh để hút. Tôi ho sặc sụa khi cố gắng hít mạnh khói thuốc vào phổi mà vẫn không tìm thấy cái cảm giác ấm áp, thống khoái lan tỏa hôm nào. Tôi vứt điếu thuốc hút dở và cả điếu còn lại vào bồn cầu.

***

Năm hai mươi tuổi tôi lại gặp con quỷ. Lúc đó tôi đã nghỉ học được gần hai năm. Hồi đó gần như tất cả mọi người đều đói. Tôi cao 1m72 nhưng chỉ nặng có 45kg. Trong đầu tôi thường trực bị hành hạ bởi hai ý nghĩ: Được ăn no và đàn bà! Tôi đã biết hút thuốc từ hai năm nay khi rời trường trung học. Nhưng thời đó may mắn lắm mới có một vài điếu thuốc “đen” đế hút. Tôi nhớ cái hương vị Capstan da diết và đôi lúc nhớ thằng bạn xưa.

Giờ thì tôi đã hiểu lần đó nó đã bỏ cái gì vào điếu thuốc để cứu tôi khỏi cơn đau. Nhưng sau cái chuyện ấy, chúng tôi chưa kịp rình những cặp sau hàng dương thì một biến cố long trời lở đất xảy ra. Một buổi sáng mùa hè loạn lạc, hoang mang, ba tôi ôm cái radio nghe đài BBC. Bỗng dưng ông vất mạnh cái máy vào tường, ôm lấy đầu. Hôm sau ba nó xuất hiện tại nhà tôi với quân phục sĩ quan hải quân và bảo ba tôi:
– Tôi có tàu, anh thu xếp nhanh chóng cùng gia đình tôi đi ngay!
Nhưng ba tôi lắc đầu:
– Tôi không đi!
Ông nói ngắn gọn như vậy. Vẻ mặt buồn bã nhưng khô cứng. Tôi nghe mẹ tôi và em gái tôi khóc trong phòng. Ba nó lầm bầm gì đó rồi bỏ đi. Tôi không bao giờ nhìn thấy nó lần nữa. Sau này tôi nghe nói con tàu chở nó và gia đình đã đi vào miền vô định.

Gia đình tôi sau đó rời miền biển, trôi dạt dần đến những cửa sông. Miền đồng bằng trù phú nhưng gia đình tôi không có ruộng, lại không có ai biết làm nông nên thu nhập chỉ trông chờ vào đôi gánh bán rau của mẹ và cô em gái. Tôi đã bỏ học, tôi không biết làm gì để kiếm tiền nên lâu lâu tôi xuống bến tàu để có ai nhờ bốc vác hàng hóa thì kiếm một ít tiền lẻ. Và nơi đó tôi đã gặp nó. Nó ngồi ở một cái quầy hàng nhỏ đối diện bến tàu. Quầy hàng của nó bán bánh cam, bánh lá dừa và một cái tủ thuốc lá nhỏ nhưng chỉ bán từ sáu giờ chiều đến tận sáng hôm sau. Nó lớn hơn tôi vài tuổi gì đó và khuôn mặt trông rất già dặn. Da nó không trắng lắm nhưng gò má có lúm đồng tiền và một đôi mắt to. Tìm hiểu một chút tôi biết nó mang trong người hai dòng máu Việt-Miên. Khi có một ít tiền tôi thường ghé mua vài điếu thuốc và lần nào nó cũng cười cười với tôi. Nụ cười không mang một ý nghĩa nào nhưng tôi cứ thấy bồi hồi. Mỗi lần trả tiền tôi thường làm bộ đụng chạm bàn tay nó. Có lần nó chộp tay tôi, cười: “Muốn nắm thì nắm đại đi, làm bộ hoài!”. Tôi đỏ mặt và không dám nói thêm câu gì…

Một buổi tối tôi được kêu đi vác lúa ở Phòng Lương thực. Đang vác lúa từ ghe lên tôi bỗng thấy nó dùng nón lá che mặt, đi tắt vào cửa sau. Lòng tôi như lửa đốt. Tôi bỏ việc nửa chừng chạy về bến tàu vì không tin là nó. Nhưng đúng là nó rồi vì quầy hàng đã đóng cửa. Thì ra nó cũng làm chuyện này với đám cán bộ lương thực, những kẻ no đủ và giàu có nhất khi ấy. Đêm sau có bao nhiêu tiền tôi mua rượu đế và nhậu hết với đám bạn bốc vác. Đêm hôm sau nữa, khoảng mười giờ, không dằn được lòng tôi lại ra bến tàu. Nó có ở đó nhưng đang dọn hàng. Tôi làm bộ đến mua thuốc dù lúc ấy túi tôi chằng có đồng nào. Nó nói:
– Em sắp dẹp rồi. Khóa tủ rồi!
– Sao hôm nay không bán?
– Em phải về coi nhà. Nhà không có ai!

Tôi im, lặng. Nhưng bất ngờ nó nói:
– Anh bưng tủ thuốc về nhà giùm em được không?

Thị trấn vắng ngắt. Tôi ôm tủ thuốc lá nhỏ đi theo nó về nhà. Đó là căn nhà nhỏ trong một hẻm vắng. Dọc đường tôi đã biết ba má nó cùng đứa em đã đi về ngoại tận Trà Vinh để ăn đám giỗ. Nó đẩy cái cửa không khóa, nói:
– Anh đem vô đi, để em thắp đèn.
Hồi đó ở những thị trấn nhỏ không có điện. Một ngọn đèn tù mù được thắp lên. Tôi vừa sung sướng, vừa mơ hồ lo sợ. Nó nhìn tôi, mắt ánh lên như mắt mèo:
– Anh hút thuốc không?
– Ừ…
– Anh khép cửa lại đi! Em lấy cho anh một điếu Samit* nha!

Khi nó mở tủ thuốc lá, tôi lấy hết can đảm bước lại thật gần sau lưng và ôm lấy nó. “Trời ơi, đồ quỷ”, tôi nghe nó cười rúc rích. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi ăn nằm với một người phụ nữ bằng da bằng thịt nên tôi rất tò mò. Nhưng tôi thất vọng vì bẹn và nách của nó đen thui, không trắng phau như những cô gái Mỹ đầu đời của tôi năm mười lăm tuổi. Sau này những thằng bạn nhiều kinh nghiệm nói với tôi rằng những cô gái lai Miên- Việt đều đen ở những nơi như vậy?!

Năm đó tôi “trúng tuyển” và lên đường qua xứ Chùa Tháp. Ngày đưa quân mẹ và em gái tôi khóc mướt. Ba tôi không nói gì. Nó cho tôi một cái khăn rằn, một gói Samit, mắt đen láy, nói nhỏ: “Anh sẽ gặp em bên đó!”.

Chiến trường rất khốc liệt. Tôi chỉ có một mong ước là tìm mọi cách để được về nhà và cầu mong mình đừng dính đạn của quân Pôn Pốt. Tiểu đội trưởng của tôi là một anh chàng rất gan lỳ. Một lần hắn hỏI:
– Mày biết mùi đàn bà chưa?
Tôi nói dối:
– Chưa!
Hắn bảo:
– Con gái Miên chỉ mặc xà rông, hôm nào tao vớI mày rình tụI nó tắm, kéo ngược xà rông lên đầu là xong! Hắn cười hi hi, dâm đãng.

Một buổi chiều tiểu đội trưởng bảo tôi đi theo anh ta vào một ngôi làng bỏ hoang để tìm những con gia súc còn sót lại. Chúng tôi vào một vườn mít có trồng xen kẻ những hàng thốt nốt. Tôi đưa khẩu AK đã lên đạn sẵn tính bắn vào cuống một trái mít to thì nghe tiếng súng nổ. Giọng tiểu đội trưởng la thất thanh: “Tao bị thương rồi, bắn cản đường tụi nó!”, nhưng lúc đó tôi đã quá hốt hoảng. Tôi phóng mình bỏ chạy. Tôi chỉ muốn còn sống. Từng tràng AK nổ giòn tan. Bỗng trước mặt tôi có bóng một cô gái phất phơ. Tôi gần như nhắm mắt nhằm mũi chạy theo cái bóng đó và thoát khỏi tử thần một cách lạ lùng…

***
Đã rất nhiều năm trôi qua. Tôi đã bỏ lại sau lưng thành phố biển và cả những cửa sông nhưng vẫn có cảm giác con quỷ vẫn còn đeo bám theo mình. Một hôm nó đến ngồi vào lòng tôi và bảo:

– Ông có muốn là tỉ phú không?
– Ai mà không muốn!
– Em giúp ông nè. Mua hết xấp vé số này, chiều ông thành tỉ phú!

Tôi cốc đầu nó: – Đồ quỷ!
Nó cười, nụ cười đẹp mê hồn vì nó phản chiếu một sức sống đang thì tuổi trẻ, điều mà tôi đã đánh mất từ rất lâu.
“Em không phải là quỷ đâu! Anh biết mà!”

Nó nói vậy vì có lần khi được nó cho hôn vào cái núm vú hồng hồng xinh xinh, tôi đã thì thầm: “Thiên thần của anh! Thiên thần của anh!”.

Nhưng tôi biết nó chính là con quỷ theo đuổi suốt cuộc đời tôi. Trong lòng tôi có một tiếng nói thầm. Và tiếng nói ấy luôn nhắc nhở tôi về những con quỷ (hay chỉ một con quỷ?) luôn xuất hiện trong đời mình dưới những bộ dạng khác nhau? Thế nhưng tôi làm thế nào để thoát khỏi nó nếu không gặp những cơ duyên bất ngờ?

Chiều nay tôi đến tìm nó để nói rằng tôi đã sức cùng lực kiệt. Rằng tôi đã sống gần nửa thế kỷ trong nỗi ám ảnh về một cuộc đời bất định. Thế nhưng tôi biết mình không đủ sức cuỡng lại cái hấp lực ma quỷ đang đeo đẳng mình.

Con quỷ cái không có nhà. Tôi biết nó ở đâu. Nó đang chơi trò hội hè trong một cái tổ quỷ từ những đồng tiền chắt chiu của tôi. Tôi ngồi trong nhà trọ và tôi khóc. Tôi nhớ năm mười lăm tuổi của mình. Tôi nhớ cái hương vị lạ lùng từ điếu thuốc Capstan của nó. Rồi tôi nhớ đến cái nách, cái bẹn đen thui nhưng đầy ma lực quyến rũ và bóng nó chập chờn trong buổi hoàng hôn chập choạng những hàng thốt nốt xiêu vẹo, ngã nghiêng. Nhớ tiếng súng AK rộ lên rồi đột ngột tắt trong một không khí quánh đặc của sự phản bộI h èn nhát.

Nó đẩy cửa bước vào. Nó đã nhìn thấy tôi khóc. Mặc kệ. Những giọt nước mắt vẫn rơi ào ạt trên gò má tôi. Tôi biết mình khóc thật. Tôi không diễn.
Nó nói, giọng lạnh băng: – Ông nín đi!
– Vì sao em không cho tôi khóc? Em đã làm khổ tôi quá nhiều!
Giọng nó càng lạnh:
– Điạ ngục không có nước mắt!

NGUYỄN ĐÌNH BỔN

CHỦ NHẬT NGOẠI THÀNH

nguyendinhbon

khi đêm gió bắt đầu dài
lắng nghe tâm trạng hoài thai lối mòn
thu mùa lá gửi qua đông
phương nam ngập nắng lúa đồng xanh cây
em đi phố thị mưa ngày
những sầu tình lỡ giả cầy trang thơ
một trưa chủ nhật tình cờ
gặp nông dân đứng bên bờ tử sinh…

NGUYỄN ĐÌNH BỔN

ĐỪNG RÓT TRÀ CHO EM NỮA…

nguyendinhbon

-Đừng rót trà cho em nữa! Cô gái trẻ khẽ khàng nhắc.
Người đàn ông như tỉnh lại từ cơn trôi nổi phù du, ông mỉm cười: “Xin lỗi! Anh lại quên.”

Họ cùng nhìn ra ngoài trùng khơi nơi có từng đợt sóng phũ phàng đang lao vào đập ầm ầm trên những thân thuyền bé nhỏ nằm cặp sát những hàng dừa. Người đàn ông:
-Em tắm biển không?
-Tắm biển vào thời tiết này hả anh? Với lại anh biết em đang…
-Ừ, có sao đâu. Biết đâu ngày mai, ngày kia chúng ta không còn biển để mà tắm.
– – ….
-Lúc đó chúng ta chỉ còn biển để nhớ, như những ngày điên rồ này của em.
– ???

Như trong vô thức, bàn tay ông lại cầm bình trà đã nguội rót vào tách của mình và ly của cô gái.
-Em không uống nữa đâu. Đêm qua em mất ngủ vì uống trà với anh!
-Anh xin lỗi! Nhưng mà đi với anh, em phải tập uống trà!
… Và cả những cơn mộng mơ hư huyễn…

Ngoài xa, trên mặt biển màu thép lạnh, mây giông đang kéo tới. Những đám mây thấp ngang trên đầu sóng. Những con thuyền bập bềnh, đôi lúc như chìm mất giữa những đợt sóng hung hản.
-Ở đây là Mũi Né đúng không anh?
-Ừ! Em đến đây lần đầu?
-Dạ, cũng là lần đầu tiên em thấy biển.

Người đàn ông mỉm cười một mình. Nụ cười nhỏ bé đến nỗi khó nắm bắt. Nhưng cô gái vẫn cảm nhận được nó. Cô nắm bàn tay ông. Bàn tay ẩm và lạnh:
-Anh cười em?
-Ừ, anh nghĩ lần đầu tiên mà nhìn thấy biển như thế này hẳn em sẽ chán ngán lắm!

Mưa ập đến ào ạt. Một thanh niên phục vụ từ bên trong chạy ra. Anh ta vội hạ những tấm màn sáo bằng tre xuống để mưa không tạt vào nơi hai người đang ngồi.Người đàn ông nói:
-Không sao đâu em. Không ướt đâu!

Trong tâm thức người đàn ông bỗng hiện hình những ngày cuối tháng ba xưa. Con đường xuống bến cảng ngập xác người. Đạn pháo kích từ trên mấy cụm núi đá vôi ào ạt rơi xuống trung tâm thành phố và những con đường dẫn ra biển. Mặc kệ đạn và pháo, mặc kệ súng, từng đoàn, từng đoàn người bồng bế nhau, la hét, kêu gào chạy về hướng biển. Cầu cảng được nối dài để đoàn người tan tát chạy loạn xô đẩy nhau xuống một chiếc xà lan lớn. Trời nắng như hắt lửa từ trên cao nhưng đoàn người quá đông đến nổi chiếc xà lan mau chóng đông nghẹt. Những loạt đạn pháo càng lúc càng dày. Thịt và máu vung vải khắp nơi trên cầu cảng…
-Đừng rót trà cho em nữa!

Người đàn ông giật mình, ông lại cười khi nhìn thấy nước trà tràn ra khỏi ly nước của cô gái.
-Đó là một ngày rất lạ lùng!
-Anh nói sao?

Mắt cô gái mở lớn. Cô ái ngại nhìn ông và lại tìm nắm bàn tay ẩm lạnh. Một bàn tay mềm mại. Cô nhớ bàn tay thô ráp của cha mình. Cô chưa bao giờ nắm tay cha nhưng cô vẫn biết nó sần sùi cứng cáp với những ngón ngắn và thô. Bàn tay ấy đã từng tát vào má cô, làm hằn lên năm ngón tay trong suốt nhiều ngày. Nhưng nó không làm cô đau đớn như khi nhìn ông khóc trong cơn say chiều hôm đó. Ông rền rỉ: “Con ơi là con ơi, ai đã đưa đẩy con đến con đường này? Trời ơi,là ai? Là ai? Tui phải giết nó. Là ai? Là ai?”

Phải chi ông biết cái người đưa con gái mình vào con đường mà ông cho là xấu xa ấy chính là em gái của mình, không biết ông sẽ xử sự ra sao?
“Đó là một ngày rất lạ lùng!” Không, cái ngày hôm ấy tràn ngập sợ hãi và cay đắng. Cái ngày hôm ấy cô chỉ muốn chết đi cho nhẹ bớt nỗi buồn lo. Người đàn ông đó, người đàn ông đầu tiên trong cuộc đời cô cũng trạc tuổi người đàn ông đang ngồi bên cô. Nhưng giữa họ là một sự tương phản cùng cực. Thế nhưng với “bà chủ” , ông ta là một “người đáng kính”. Trong căn phòng khách sạn không mấy sạch sẽ, hắn đã lao vào cô như một kẻ chết đói nhìn thấy mâm cơm… Trong sự sợ hãi, toàn bộ thân mình, các cơ, hai đùi của cô đã khép lại, căng cứng bởi những đề kháng vô thức. Hắn hầm hừ, làm đủ mọi cách để chiếm đoạt và gần như xé rách thân thể chưa kịp nầy nở của một cô gái nghèo khó vừa mới lớn. Đêm, hắn bỏ về. Một mình cô trong căn phòng khách sạn chật hẹp, âm u…
-Em uống thêm một ly nước cam nữa nha? Người đàn ông dịu dàng nâng mặt cô lên.Ông thảng thốt khi thấy những giọt nước mắt trên mi cô gái:
-Sao em khóc? Đi chơi với anh buồn quá đúng không?
Cô khẽ khàng lắc đầu. Ông quàng nhẹ tay qua đôi vai bé nhỏ của cô, mắt mông lung nhìn ra ngoài trời mưa, nói thật nhỏ:
-Ngày anh còn nhỏ, biển vui lắm…Rồi có một ngày…
-Sao hả anh?
-À, có một ngày nó thấm máu… Máu… những người thân yêu nhất của anh!
-Em xin lỗi!

Người đàn ông cười buồn, Ông châm một điếu thuốc và ra dấu cho người phục vụ đang đứng thật xa trong một quầy nhỏ bên trong, người phục vụ lại gần:
– Cho chú thêm một bình trà, một ly nước cam!

Biển đã đen thẩm, không nhìn thấy gì ngoài bóng đêm đen. Tiếng mưa rơi rào rạt trong tiếng sóng…

Đèn trong quầy giải khát vàng vọt. Đang mùa mưa và là ngày đầu tuần nên khách sạn vắng ngắt. Hình như chỉ có hai người…
– Năm đó anh mười lăm tuổi.. Người đàn ông thì thầm.
– Dạ! Cô gái trẻ nắm chặt bàn tay rịn mồ hôi của ông. Bỗng cô rùng mình. Ừ, năm đó, không phái cái “năm đó” xa xôi của người đàn ông đau khổ ngồi bên cô, mà mới vài năm đây thôi, đứa em trai cô cũng tròn mười lăm tuổi. Chính cái ngày nó vô lớp mười, cũng là ngày cô cắn răng chấp nhận lời đề nghị bán thân mình, chỉ vì cô biết nêu không làm như vậy thì em trai mình không có quần áo, sách vở, tiền trường… và tệ hại hơn, mẹ cô sẽ chết vì thiếu thuốc.
-Chị anh đã che đạn cho anh! Mắt người đàn ông dại đi, có cảm giác ông đang khóc dù không thấy lệ rơi .

Cô gái bật khóc, đầu dựa vào vai ông. Bỗng dưng cô thấy mình thương ông lạ lùng. Thấy ông không khác gì đứa em trai ốm yếu của cô. Cô nhớ đêm đầu tiên gặp ông, khi ấy cô đã rời khỏi “động quỷ” của “má Châu” một thời gian, đêm cô xin đi làm ở một quán bar nhỏ bán thức ăn Nhật còn ngày thì học uốn tóc, trang điểm… Quán cô làm phục vụ nằm trên một con đường nhỏ. Ông đến, rất lịch sự bảo với cô mình muốn một chén sakê đứng gốc Nhật Bản. Sakê là một loại rượu ngũ cốc nhẹ. Ở cái quán của cô nó có màu vàng nhạt, thơm thơm như rượu gạo Việt. Ông ngồi uống một mình, đờ đẫn… Vài hôm sau ông lại đến. Bà chủ quán của cô, là em gái của chủ tiệm cô học trang điểm không phải là người khó tính với nhân viên nên khi ông bắt chuyện cô có thể thoải mái chuyện trò nếu quán vắng khách. Dần dần ông có cảm tình với cô. Nhiều khi ông tế nhị để lại tiền “boa” sau khi ra về. Cô cũng thích ông dù ông nhiều hơn cô ba mươi tuổi và họ nói chuyện rất ít. Cô không hiểu vì sao mình lại có cảm tình với con người đó. Phải chăng đó là một mối đồng cảm sâu xa? Qua cách sinh hoạt của ông, cô đoán ông đang sống độc thân và ở đâu đó không xa lắm nơi cô đang làm đêm vì vài lần cô biết ông đi bộ đến. Nhiều tháng trôi qua từ khi cô may mắn rời bỏ nơi cô dấn thân vào dù rằng vẫn bị ám ảnh đến sợ hãi. Một vài ông khách Nhật, khách Đại Hàn nhờ người hướng dẫn hỏi thẳng cô có muốn đến khách sạn với họ sau giờ làm việc với giá khá cao nhưng cô từ chối. Mẹ cô đã mất. Chuyện phải có tiền không còn là chuyện bắt buộc nghiệt ngã. Và cô tự hứa với mình dù giá bao nhiêu cũng không chấp nhận bán thân thêm lần nữa.

Một đêm người đàn ông ấy đã ngập ngừng đề nghị:
-Em … có thể đi chơi với anh?
-Đi chơi? Không, em không làm… Cô nói, giọng buồn bã.
-Không, anh không nói ý đó, anh muốn rủ em đi chơi ở biển…
-Biển? Mắt cô tròn xoe. Cô sinh ra ở đồng bằng và chưa bao giờ nhìn thấy biển.Chừng nào đi hả anh?
– Em đồng ý?
-Dạ… không!
Người đàn ông im lặng. Ông yêu cầu một ấm trà. Khi trở ra, cô rụt rè:
– Chừng nào anh đi?
– Ngày mai!
– Em sẽ xin nghỉ, đi với anh, nhưng…
– Nhưng sao?
– Em đang… em đang… Và sẽ khộng có chuyện đó.
Người đàn ông bật cười, ông nắm tay cô:
-Cô bé ngốc… Em xin phép đi nha. Sáng mai anh đến đón.
Ông thuê một chiếc taxi đến chỗ cô hẹn là đầu hẻm phòng cô trọ. Trên xe cô nói thật với ông là mình đang “kẹt”. Ông cười như rất hạnh phúc, nắm chặt tay cô và thì thầm: “Em điên! Em điên”

Biển đã đón họ với những ngày áp thấp mịt mù. Chủ khách sạn hình như có quen biết với ông. Khi ông trao chìa khóa phòng cho cô, cô ngạc nhiên:
– Em …. Suýt nữa cô đã hỏi: – Em ngủ một mình sao? Nhưng cô đã kìm lại được. Hai ngày nữa cô mới “hết” và chuyện ở một mình làm cô cảm thấy vừa thoải mái, vừa buồn buồn vì khi đồng ý đi chơi với ông, cô đã dự liệu và chấp nhận mọi điều có thể xảy ra.

Gần hai ngày đã trôi qua. Trời vẫn mưa và họ chưa một lần thật sự hòa vào biển dù ông đã kêu taxi ghé vào một tiệm quần áo thể thao để cô chọn một bộ áo tắm. Cả ngày người đàn ông chỉ ngồi nhìn ra biển và uống trà. Đêm đầu tiên họ cũng ngồi như đêm nay và khi đưa cô đến trước cửa phòng ông nói thật nhỏ: “Em ngủ ngon nha! Anh chỉ sợ sóng biển làm em khó ngủ” . Và đúng là tiếng sóng cùng với những cảm xúc lạ lùng đã làm cô chập chờn suốt đêm. Phòng ông sát cạnh với phòng cô. Cô nằm lắng nghe tiếng sóng, đôi khi cô mơ hồ nghe tiếng gõ nhẹ vào cửa phòng mình và vội vã bật dậy, nhưng không hề có ai…

Hôm nay biển vẫn động…
Trời tối mù mịt. Người thanh niên trẻ hạ hết những màn sáo xuống. Cặp vợ chồng già người nước ngoài mới thuê cùng khách sạn đã đứng lên từ hơn nửa giờ trước. Bàn tay người đàn ông bứt rứt trong tay cô. Chợt ông rút tay ra, thì thầm:
-Tại sao số phận chúng ta lại như thế này? Tại ai?
-Đừng rót trà cho em nữa anh!
-Ừ, em có muốn xuống biển không?
-Trời mưa mà anh, với lại tối hù à, em sợ…
Ông nắm tay cô, họ đứng lên. Cô thoáng thấy ánh mắt người thanh niên phục vụ trạc tuổi cô nhìn mình vừa tò mò vừa ái ngại.
Ông dừng lại thật lâu trên hành lang, thì thầm:
-Ngủ ngon nha. Mai anh sẽ không rót trà cho em nữa!
-Dạ, không sao mà anh…

Tiếng sóng vẫn ầm ào khi cô đã nằm trong chiếc mền dày vì phòng khá lạnh. Mơ hồ cô lại nghe tiếng gõ cửa nhè nhẹ. Cô nhẹ nhàng rời khỏi giường, đi chân trần về phía cửa. Xoay nắm cửa. Và cô suýt kêu lên vì kinh ngạc. Không có ai nhưng trời đã trong sáng tự lúc nào. Ánh trăng trải rộng khắp khu vườn nhỏ dẫn về phía biển. Cô bước về phía phòng ông. Đèn bên trong vẫn sáng. Cô nhè nhẹ gõ vào cánh cửa…
10.2009
NGUYỄN ĐÌNH BỔN