Thoáng Hương Qua & Em Lễ Chùa Này

lephuhai

Có thể mạnh dạn nói rằng phổ nhạc cho thơ chắc chắn không ai qua được nhạc sĩ Phạm Duy. Và thực tế đã chứng mình điều đó. Có vẽ như ông phổ nhạc cho thơ khi bắt gặp ngẫu nhiên bài thơ nào đó hợp ý, hợp tình chớ không cố ý tìm nơi các nhà thơ. Có thể kể ra một số nhạc phẩm như “Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà” (bài thơ Màu Tím Hoa Sim của Hữu Loan), “Ngậm Ngùi” (thơ Huy Cận), “Hoa Rụng Ven Sông” (bài thơ Còn Chi Nữa của Lưu Trọng Lư), “Kỷ Vật Cho Em” (bài thơ Để Trả Lời Một Câu Hỏi của Linh Phương), “Còn Chút Gì Để Nhớ” (thơ Vũ Hữu Định) v.v… Tuy nhiên có hai nhà thơ được Phạm Duy phổ thơ nhiều hơn cả là Nguyễn Tất Nhiên và Phạm Thiên Thư.

Không thể nghĩ đơn giản rằng bất cứ bài thơ nào cũng đều có thể phổ thành ca khúc. Rất khó. Bởi tuy có cùng tính chất nhịp điệu nhưng thơ và nhạc có bố cục và nguyên tắc khác nhau. Có thể có thơ tự do nhưng không có nhạc tự do, bởi nếu có thì người ta sẽ gọi thể loại này là “hát thơ”. Do đó người nhạc sĩ thường hay “chỉnh” lời thơ (như thêm vào, cắt bớt, đảo câu v.v…) cho phù hợp với tiết tấu âm nhạc. Thỉnh thoảng có bài thơ được phổ nguyên vẹn (nhưng rất ít), ví dụ như bài thơ Ngậm Ngùi của Huy Cận.

Trở lại với thơ Phạm Thiên Thư, bài đầu tiên được Phạm Duy phổ nhạc là “Ngày Xưa Hoàng Thị”. Ca khúc vừa ra đời đã được nhiều người ưa thích ngay. Nhạc sĩ Phạm Duy kể lại: “Lúc bấy giờ tôi đang soạn những bài ca cho tuổi học trò như Con Đường Tình Ta Đi, Trả Lại Em Yêu… Đọc được bài thơ Ngày Xưa Hoàng Thị mà anh trao cho, tôi như bắt được viên ngọc quý và xin phổ nhạc ngay: Em tan trường về, đường mưa nho nhỏ, anh theo Ngọ về, gót giày lặng lẽ đường quê…
Cũng theo lời Phạm Duy, về ca khúc Em Lễ Chùa Này thì : “Khi Phạm Thiên Thư đưa thêm thơ cho tôi phổ nhạc thì tôi chọn bài Em Lễ Chùa Này vì cả hai chúng tôi đều muốn quay về xưng tụng những gì thuộc về văn minh Việt Nam, như ngôi chùa cổ ở miền Bắc là nơi lúc còn nhỏ tôi thấy đôi kẻ tình nhân thường hẹn nhau tới dâng hương cầu nguyện…” Đây chỉ là cảm nhận riêng của người nhạc sĩ chớ thật ra đọc trên nguyên tác bài thơ ta sẽ thấy cái “tình” kia ảo diệu hơn nhiều. Phạm Thiên Thư là một nhà thơ-tu sĩ, tình của ông là tình của người đứng xa ngắm nhìn và cảm nhận. Phạm Duy là một nhạc sĩ-người tình nên dĩ nhiên tình của ông là tình của người trong cuộc, cũng như nhan đề bài thơ chỉ là Thoáng Hương Qua chớ không cụ thể như Em Lễ Chùa Này như tên ca khúc.

Bài thơ Thoáng Hương Qua được viết theo thể loại thơ 6 chữ, khi chuyển thành ca khúc Phạm Duy viết lại theo thể loại thơ 7 chữ, tuy nhiên phần ý nghĩa nội dung vẫn không ra ngoài nguyên tác. Cả bài thơ và nhạc đều có 8 khổ, có thể tạm chia thành mấy khúc như sau:

– Khúc 1: khổ thơ đầu, thể hiện ở cung La trưởng, nhịp 3/4 chậm vừa:
Thơ:
Ðầu xuân em lễ chùa này
Có búp lan vàng khép nép
Vườn trong thoáng làn hương bay
Bãi sông lạc con bướm đẹp
Nhạc:
Đầu Mùa Xuân cùng em đi lễ
Lễ chùa này vườn nắng tung bay
Và ngàn lau vàng màu khép nép
Bãi sông bay một con bướm đẹp

– Khúc 2: khổ thơ 2, giai điệu như khúc 1:
Thơ:
Vào hạ em lễ chùa này
Trên đồi trái mơ ửng chín
Lò hương có làn trầm bay
Vờn trên bờ tóc bịn rịn
Nhạc:
Mùa Hạ qua cùng em đi lễ
Trái mơ ngon đồi gió mơn man
Từ lò hương làn trầm nghi ngút
Khói hương thơm bờ tóc em vờn

– Khúc 3: khổ thơ 3, chuyển sang cung Rê trưởng, nâng cao độ của nốt nhạc để tạo hiệu ứng âm thanh mới:
Thơ:
Giữa thu em lễ chùa này
Lầu chuông có con chim hót
Tiếng ca theo làn gió may
Lá vàng sương gieo nhẹ hạt
Nhạc:
Rồi Mùa Thu cùng em đi lễ
Có con chim đậu dưới gác chuông
Hòa lời ca vào làn sương sớm
Gió heo may rụng hết lá vàng

Khúc 4: khổ thơ 4, trở lại như khúc 1 và 2:
Thơ:
Sang đông em lễ chùa này
Ngoài sân có mưa bụi bay
Hắt hiu trong cành gió bấc
Vườn chùa rụng cánh lan gầy
Nhạc:
Vào mùa đông cùng em đi lễ
Lễ chùa này một thoáng mưa bay
Và ngoài sân vài cành khô gẫy
Gió lung lay một cánh lan gầy
Về mặt lý thuyết âm nhạc thì đến đây đã hoàn chỉnh bố cục của một ca khúc theo cấu trúc Đk1 – Đk2 – Pk – Đk3. Tuy nhiên ở bài thơ này, 4 khổ thơ đầu chỉ mới là điệp khúc để dẫn tới hiệu ứng ở hai khổ thơ tiếp theo (hiệu ứng này ở Việt Nam hay gọi là “cao trào”)

– Khúc 5: hai khổ thơ 5 và 6, chuyển sang cung La thứ, nhịp chậm lại để tạo âm hưởng thiết tha, tiếc nuối:
Thơ:
Cuối đông đưa em tới đây
Trong lòng áo quan gỗ trắng
Tóc em tợ óng làn mây
Cội hoa tưởng ai trầm lặng

Em vừa nằm xuống đất này
Vườn trong có bông đào nở
Con bướm chập chờn hương bay
Quơ sợi râu vàng bỡ ngỡ
Nhạc:
Tàn mùa đông vào chùa bỡ ngỡ
Tiễn đưa em trong áo quan này
Từng cội hoa trầm lặng thương nhớ
Tóc em xưa tơ óng như mây

Vườn chùa đây vào nằm trong đất
Nép bên hoa ôi những hoa vàng
Vườn đào thơm chập chờn cánh bướm
Bướm khua râu ngơ ngác bay ngang

– Khúc 6: hai khổ thơ cuối, trở lại tiết tấu như ban đầu, để kết:
Thơ:
Nắm đất nào vừa lấp mộ
Có con chim hót đầu cành
Tiếng tan trên giòng suối xanh
Nước ơi sao buồn nức nở

Bây giờ tôi biết em đâu
Cuối vườn nụ mai nhiệm mầu
Vừa thoát làn hương trinh bạch
Em ơi ! Mây đã qua cầu…
Nhạc:
Mộ của em, mộ vừa mới lấp
Có con chim nào hót trên cây
Lời của chim chìm vào tiếng suối
Suối xanh lơ buồn khóc ai hoài

Rồi từ đây vườn chùa thanh vắng
Đến thăm em ngày tháng qua mau
Một nụ mai vừa nở trong nắng
Hỡi em ơi mây đã qua cầu…

Như ở trên đã có đề cập, cả hai bài thơ và nhạc đều hay, và nhờ có nhạc mà bài thơ đi vào lòng người sâu rộng hơn. Tuy nhiên, vẫn có thể nhận ra ca khúc Em Lễ Chùa Này mang tính đời thường nhiều hơn, còn bài thơ Thoáng Hương Qua cứ giống như một lửng lơ thanh thoát.
Phạm Duy đã nói về ảnh hưởng của thơ Phạm Thiên Thư đối với ông: “Tóm tắt lại, khi tôi gặp thi sĩ Phạm Thiên Thư (cựu tu sĩ, pháp danh Tuệ Không) vào năm 1971 là tôi như thoát xác, vượt ra khỏi những đắng cay, chán chường và bế tắc của Tâm ca, Tâm phẫn ca, Vỉa hè ca… Tôi muốn tạm bỏ việc xưng tụng cái nhất thời để tìm về cái muôn đời, nghĩa là tạm bỏ việc soạn nhạc nhân hòa để soạn nhạc nhiên hoà, tạm bỏ soạn nhạc tình cảm, xã hội để soạn nhạc tâm linh…

LÊ PHÚ HẢI

VỀ MIỀN TÂY

lephuhai

Sớm phương nam về miền tây ăn cá
Mùa nước ròng thao thức đợi phù sa
Người năm cũ thấy quen mà thấy lạ
Tiếng chim chiều thảng thốt gọi tình ta

Em như lá dịu mềm cơn gió nhẹ
Như cỏ vàng bến vắng đợi trời mưa
Bông điên điển cá linh ngày cuối hạ
Mấy lá thuyền khua nước buổi chiều xưa

Cùng ngồi lại ru đời nhau đi nhé
Bao nhiêu năm dĩ vãng cũng đi rồi
Đàn mấy giọt rơi bên thềm khe khẽ
Cố nhân ơi ngày ấy đã xa vời

Ta đâu có tìm quên nên cứ nhớ
Dù cho ngày tháng cũ lật sang trang
Từng sợi nắng xuyên qua rừng oà vỡ
Nước mắt màu ngọc bích giữa bông sen

Còn đâu đó những sáng chiều xuôi ngược
Nợ trăm năm chưa trả lại cho đời
Nên trĩu nặng trên lối về chân bước
Cỏ hồng thôi bịn rịn níu tay người

Câu thơ cũ đề trên tà áo mới
Có thêm từng khắc khoải mỗi mùa sang
Người trai tráng thuở nào như vẫn đợi
Tiếng mái chèo vọng lại một âm vang.

Lê Phú Hải

TẾT TẢN CƯ

lephuhai

Tuổi thơ tôi gắn liền với một xóm nhỏ ở thị xã Nha Trang ngày đó: xóm Máy nước. Có cái tên gọi này có lẽ vì giữa xóm có một hồ nước rộng, vừa dùng để cung cấp nước sinh hoạt cho dân vừa để cho xe cứu hỏa chạy vào bơm nước mỗi khi có hỏa hoạn xảy ra đâu đó. Cạnh xóm Máy nước là xóm Dừa và xóm Vườn ươn. Xóm Dừa có rất nhiều dừa, không biết trồng lúc nào nhưng hồi đó thân cây đã vươn lên cao ngút. Xóm Vườn ươn có nhiều ngôi mả cũ, ở đây toàn là cát, và là nơi người ta làm vườn, ươn các loại giống cây trồng, vậy nên gọi là xóm Vườn ươn?
Từ nhà tôi đi ra đầu đường là đến con đường nhựa, rẽ phải đi ngang qua đài phát thanh chút xíu là băng qua đường sắt đến ngay Mả Vòng. Từ đây có thể đi ngược lên Thành hoặc theo các con đường đi vào trung tâm thị xã. Hồi còn nhỏ tôi chả dám đi đâu ngoài việc lòng vòng quanh ba cái xóm nói trên và giới hạn là ngã ba Mả Vòng, thỉnh thoảng theo tụi bạn đi lang thang dọc đường rầy xe lửa, nghịch ngợm chán thì ngồi ngay trên đường rầy “ỉa giấc” rồi về.
Nhưng tôi nhớ nhất là quán tạp hóa bà Mẹng ở đầu đường, bởi vì ở đây có rất nhiều thứ mà tôi thèm muốn. Quán bà Mẹng bán đủ thứ đồ, từ bia con cọp cho đến kim chỉ mắm muối. Dĩ nhiên không thể thiếu được mấy hủ bánh kẹo to thù lù nằm ngay cửa ra vào. Mỗi lần má tôi sai đi mua thứ gì là tôi mừng húm, xăng xái te te đi ngay sau khi không quên kèo nài “Chút nữa tiền thối lại cho con năm cắc mua kẹo nhen má?”. Cũng có khi đồ mua chỉ vừa đủ tiền trên tay, tôi hơi buồn chút xíu nhưng cũng vẫn đi, thôi thì nhìn cho đở ghiền vậy!
Hồi đó tôi đã học qua mẫu giáo và lớp năm rồi nên không còn “mù chữ” nữa, đã biết đọc chữ và con số trên mấy đồng tiền. Tôi thích nhất là đồng năm cắc bằng nhôm, một mặt có in hình ông tổng thống và mặt kia có hình cây trúc. Bỏ vài đồng năm cắc trong túi quần bước đi nghe rủng rẻng thật vui tai. Tuy nhiên, có hai loại đồng năm cắc, một loại in “50 su” một loại in “50 xu”. Tôi nghĩ thầm trong bụng ông nào in tiền mà cũng sai chính tả vậy ta, “xu” mới là đúng chứ! Tụi bạn tôi thì thích đồng “50 su” hơn. Tụi nó nói đồng này nặng hơn nên chơi “bắn bạc cắc” dễ ăn hơn đồng “50 xu”. Tôi chơi trò gì cũng dở ẹc nên nghe nói thì hay vậy chứ trong lòng vẫn thích “50 xu”, vì không bị sai chính tả…

Năm tôi lên lớp nhất được vài tháng thì đến tết Mậu Thân. Lúc này tôi đang bước qua tuổi mười một. Tôi có thằng bạn học tên Dũng, ba nó làm việc tại đài phát thanh và gia đình nó ở luôn tại đó. Tụi tôi quen gọi nó là thằng Dũng đài phát thanh để phân biệt với thằng Dũng ròm. Mỗi sáng đi học, thằng Dũng đạp xe ngang nhà tôi bấm chuông reng reng, tôi từ trong nhà đạp xe ra, hai đứa băng qua chợ Chồm Hổm, đi tắt qua đề pô xe lửa đến đường Phước Hải, theo đường Huỳnh Thúc Kháng đến ven chợ Xóm Mới rồi rẻ vào đường Bạch Đằng. Trường Giuse nghĩa thục nằm ngay đó. Đây là nơi tôi đã học qua hết thời tiểu học. Cũng có khi chúng tôi đi bộ, hai đứa vừa đi vừa nhai kẹo. Có một lần thằng Dũng cho tôi một viên kẹo rất to, màu đỏ. Nó nói: “Mày ăn đi, ngon lắm”. Tôi vừa đi vừa xé bao giấy bạc bên ngoài, và cũng như bất cứ loại kẹo nào, tôi lủm ngay vào miệng. Tự nhiên những bọt nước đâu đó túa ra, tôi hoảng hốt rồi lúng túng nuốt ngay viên kẹo vào bụng. Từ trong bụng tôi có tiếng sôi ùng ục. Tôi sợ quá nói: “Tao nuốt cục kẹo rồi mày ơi, bây giờ nó đang sôi trong bụng tao nè”. Thằng Dũng nói: “Không sao đâu, đây là kẹo sủi bọt, thường thì người ta bỏ nó vô ly nước chờ tan ra rồi uống, tao thì thích ngậm, miệng hơi cay một chút nhưng ngon lắm”. Tôi vừa đi vừa lo lắng. Lát sau không còn nghe tiếng sôi trong bụng nữa. Tôi mừng, nghĩ là mình xém chết!

xxx
Quay lại tết Mậu Thân. Đêm ba mươi trời tối thui. Chúng tôi lay hoay mấy bộ quần áo mới từ lúc chiều, cứ vào ra băn khoăn thao thức chờ đợi giao thừa. Mười giờ tối, ba và hai anh em tôi đi lễ nhà thờ, má tôi và mấy đứa nhỏ ở nhà chuẩn bị cho bữa ăn khuya. Bình thường tôi vẫn hay đi lễ nhà thờ Núi theo đường tắt qua đề pô xe lửa leo lên các bậc cấp phía sau. Hôm nay là giao thừa, là năm mới nên mấy cha con đi theo đường chính, ra Mả Vòng rồi đi dọc theo đường Gia Long, ngang qua nhà ga xe lửa, thả bộ bên dưới hàng me già đến chính diện bậc cấp dẫn lên phía cửa trước nhà thờ. Và cũng bởi vì hôm nay là “tết” nên tôi chả thấy buồn ngủ chút nào, cứ ngong ngóng cho mau đến giao thừa để đốt pháo…
Thánh lễ rồi cũng xong, chúng tôi tản bộ ra về, đó đây đã nghe có tiếng pháo đùng đùng rẹt rẹt, lòng tôi lại nao nức và chân cứ muốn bước cho mau hơn để về nhà. Gần đến Mã Vòng, ngang qua cây xăng Shell chúng tôi nhìn thấy hàng đoàn thanh niên đang chạy xe Honda 67 rú ga ầm ĩ, sau mỗi xe có cột sợi dây kéo theo mấy cái thùng thiếc đựng dầu hiệu con sò cạ trên mặt đường kêu xổn xoảng. Ba tôi nhăn mặt nói:
– Cái tụi thanh niên này, quậy phá kiểu khùng điên không chịu được.
Rồi ông nhắc anh em tôi:
– Coi nép sát vô lề đi con, rủi tụi nó tung thì có nước chết!.
Chúng tôi nhảy lên lề đường, khéo nép đi qua Mả Vòng về hướng nhà. Mấy chiếc Honda xổn xoảng đi về phía xa xa…
Vừa về đến nhà, không đợi ai sai bảo, anh tôi nhanh nhảu lấy ngay phong pháo to ra sân treo lên cột. “Bây giờ con đốt nhen”, vừa nói anh tôi vừa mở hộp quẹt diêm. “Ờ, đốt đi”, ba tôi còn chưa nói xong đã nghe một tràng pháo nổ thật to và giòn giả. Tôi vừa che mặt vừa lúi cúi lượm lại mấy viên pháo xì văng ra ngoài, có cả pháo chưa nổ. Bọn trẻ trong xóm xúm xít lại đứng coi, đứa nào mặt cũng hớn hở, tươi rói.
Đã qua giờ giao thừa, tiếng nổ chung quanh vẫn đì đùng không dứt và có vẻ càng lúc càng mạnh thêm. Ba tôi bước ra sân nhìn lên bầu trời đen đầy dẫy những tia đạn lửa màu đỏ xé ngang xé dọc. Ông nói: “Chà, năm nay sao mà mấy ông lính bắn đạn dữ vậy ta?” rồi hối hả kêu tụi tôi vô nhà vì sợ đạn lạc. Tiếng pháo và tiếng súng nổ cứ râm ran mãi cho đến bốn giờ sáng vẫn chưa thấy ngớt. Cả nhà tôi không ai ngủ được. Thỉnh thoảng nghe có tiếng súng lớn. Ba má tôi tỏ ra lo lắng vì linh cảm có điều gì đó không bình thường. Vừa tờ mờ sáng chúng tôi nhìn ra đã thấy từng đoàn người lũ lượt đi ngang qua xóm. Có người la lên:
– VC tấn công đài phát thanh rồi bà con ơi!.
Ba tôi hoảng hốt đi ra đi vào. Ông nói với má tôi:
– Đúng rồi, hèn gì hồi khuya mấy cha con đi lễ về thấy tụi thanh niên kéo mấy cái thùng thiếc. Cứ tưởng tụi nào nghịch phá chớ đâu dè là “mấy ổng” kéo đạn vô để chuẩn bị đánh đài phát thanh.
Má tôi thở dài nhìn chung quanh rồi hỏi to:
– Thằng Khiêm đâu rồi?.
Bà quay qua phía tôi hỏi:
– Có thấy anh con đâu không?
– Con không biết, chắc ảnh chạy đi coi người ta đánh nhau chỗ đài phát thanh rồi
– Trời ơi! – má tôi than thở.
Ngoài đường vẫn lác đác đoàn người khăn gói đi qua. Ba tôi mặc bộ đồ civil dắt chiếc xe Gobel ra sân. Ông nói với má tôi:
– Tôi phải tìm cách chạy về đơn vị rồi tính.
Ông lại dắt chiếc xe vào trong nhà: – — Tình hình này chạy xe gắn máy chắc không an toàn, để tôi đi bộ ra phố rồi theo xe nhà binh về trường cho chắc ăn.
Trường mà ba tôi nói ở đây là Trường hạ sĩ quan Đồng Đế, nơi ông làm việc từ những ngày đầu thành lập. Má tôi nói:
– Ờ, ông tìm cách đi trước đi. Mấy mẹ con tôi chờ chút nữa rồi liệu cũng chạy theo người ta.
Có tiếng kêu ngoài đường:
– Ới anh hai chị hai ơi!
Má tôi nhìn ra đường:
– À, chú hai Sáng nè.
Tôi bon bon chạy ra. Chú hai Sáng đang đẩy chiếc xích lô, phía trên là con Sáng, thằng Hoa và thằng Sen cùng đống mùng mền chiếu gối lổn ngổn. Thím hai đi bộ theo sau. Chú nói với ba má tôi:
– Tui đi tản cư đây. Có muốn đi thì chuẩn bị đồ đạc sẵn nhen. Chút nữa tui quay lại chở đồ dùm cho.
Má tôi mừng rỡ:
– Ồ đi, đi chớ! Chút nữa chú nhớ quay lại đón dùm tụi nhỏ nhà tui với nhen!. Ba tôi nói nhỏ với má:
– Để tôi đi theo ông Sáng, luôn thể biết chỗ tản cư ở đâu, chừng yên ổn tôi về tìm. Má tôi hối:
– Ờ, ông đi lẹ đi!.
Chiếc xích lô của chú hai Sáng và ba tôi tiếp tục đi theo dòng người về hướng chợ Chồm Hổm.
Khoảng ba mươi phút sau anh tôi từ trên dốc quán bà Mẹng hướng đài phát thanh chạy về, mặt mày tái mét. Má tôi mắng:
– Người ta đánh nhau mà chạy đi coi chi vậy? Lở đạn bắn trúng làm sao?
– Đâu có sao, người ta đi coi đông lắm. Tụi con chỉ đứng xa dòm thôi.
– Rồi có thấy gì không?
– Có chớ, lính trong đài phát thanh bắn ra, mấy “ông VC” ngoài bờ ruộng bắn vô, hai bên bắn nhau chéo chéo.
– Xạo mày, đạn bắn thì có thấy gì đâu mà chéo chéo.
– Có mà, mới nảy đạn bay trúng một người đi coi ngã xuống cái đụi, tụi con sợ quá lật đật chạy về nè.
Tôi nhìn anh tôi với vẻ khâm phục:
– Anh có thấy thằng Dũng đài phát thanh không?
– Không, chỗ đó bắn nhau quá trời, thằng bạn mày chắc tiêu đời rồi.
Tôi cảm thấy hơi lo, không biết thằng Dũng và ba má nó có chạy trốn chỗ nào đó được không. Lát sau tôi lại nghĩ đến quán bà Mẹng. Tôi hỏi:
– Anh thấy quán bà Mẹng có bị sao không?
Anh tôi lắc đầu:
– Không sao, quán bả đóng cửa kín mít.
Tự nhiên trong đầu tôi hiện ra hình ảnh quán bà Mẹng với mấy hủ bánh kẹo bị đạn bắn bể tan tành, những cục kẹo xanh đỏ văng ra tứ tung ngoài đường và tôi đang đứng đó tự hỏi: “Chà, không biết mình lượm mấy cái bánh cục kẹo này thì có mang tội không ta?”
Chừng tiếng đồng hồ sau chú hai Sáng đạp xe xích lô trở về. Đẩy xe vào trong sân chú nói gấp gáp: “Lẹ, lẹ đi, chất đồ đạc và mấy đứa nhỏ lên xe, chị hai và hai thằng lớn đi theo sau tui, nhớ đừng để trụt lại phía sau nhen”. Chú hai leo lên yên xe. Anh tôi nhanh nhẹn vọt lên phía trước đầu xe dẫn đường. Má tôi một tay vịn chiếc yên xe, một tay nắm tay tôi, vừa đi bà vừa hỏi:
– Mình tản cư đâu vậy chú hai?
– Trường Âu Cơ.
– Có đông người ở đó không?
– Đông lắm, trong phòng hết chỗ rồi, nhưng tui có dành được cái hành lang, mình ở đó cũng rộng rãi lắm.
Chiếc xích lô chậm rãi đi qua chợ Chồm Hổm vào đề pô xe lửa đi ra đường Phước Hải. Trường Âu Cơ nằm ở cuối con đường này, nếu tính ra cũng không xa xóm tôi ở nhiều lắm. Nhưng dù sao cũng là tránh xa chỗ đang xảy ra đánh nhau.
Trường tiểu học Âu Cơ đầy những người là người. Ai đến sớm thì ở trong phòng học, ghép bàn ghế lại với nhau làm chỗ nằm, đến sau như gia đình chú hai Sáng và nhà tôi thì ở ngoài hành lang, trải chiếu xuống sàn xi măng nằm ngủ, người đến sau nữa hết chỗ phải “cắm trại” ngoài sân trường, lều bạt giăng lên xanh đỏ tím vàng nhìn cũng vui mắt, giống y chang những lần nhà trường tổ chức cắm trại cuối năm. Rải rác đó đây là các bếp lò: bếp củi, bếp than, bếp dầu… những cụm khói trắng khói lam bay lên trong mùi thơm bánh tét dưa hành. Đối với bọn trẻ con như tôi thì tuy có chút sợ hãi nhưng cũng thấy háo hức niềm vui như được dự một cuộc… picnic đại qui mô. Má tôi và thím hai Sáng loay hoay nhóm lửa, bà luôn miệng dặn tôi: “Con nhớ coi chừng em nhen, coi dùm luôn mấy đứa nhà chú hai nữa đó. Không được đi đâu xa kẻo bị lạc không biết đường mà về chỗ của mình. Còn thằng Khiêm nữa, lại chạy đi đâu rồi?
Anh tôi biến đi đâu đó một chút rồi lại quay về. Nghe má tôi la anh nói:
– Má đừng lo cho con, cả cái Nha Trang này có chỗ nào mà con không biết đâu, làm sao đi lạc được.
– Ai nói chuyện đi lạc, là nói chuyện bom đạn đầy đường đó chớ.
Anh tôi cười hì hì:
– Ngoài đường lính và cảnh sát đứng gác tùm lum, không sao đâu má ơi…
Chúng tôi được cho ăn uống rồi tha thẩn đi chơi lòng vòng trong khuôn viên trường học suốt cả ngày cho đến tối. Lúc này lính và cảnh sát xuất hiện khá đông bên ngoài phố. Họ chặn xét giấy tờ của bất cứ người nào đi ngang qua đường. Buổi tối chúng tôi chen chúc nằm sắp lớp bên cạnh nhau như cá hộp. Nhìn chỗ nào cũng thấy bóng người lớn túm tụm bên nhau trò chuyện, họ hỏi han về tình hình và diễn biến của cuộc tấn công, tôi chỉ nghe loáng thoáng đâu như VC chết rất nhiều, quân đội đang chống trả mạnh lắm. Sáng mồng ba tôi thức dậy sớm nghe anh tôi đang nói với má:
– Chút nữa con theo mấy đứa chạy về nhà mình lấy thêm đồ ăn và gạo nhen má?
Má tôi gằn giọng nói:
– Má cấm con nghe chưa! Không đi theo đứa nào hết. Đồ ăn nhà mình vẫn còn đây.
– Trời, có sao đâu má, chiều hôm qua mấy thằng bạn con về nhà tỉnh queo hà. Quân mình “ăn” lại rồi.
– Không được, má nói cấm là cấm.
Gần trưa, có mấy chiếc xe nhà binh chạy vô sân trường phân phát lương thực. Dĩ nhiên lúc này trong khuôn viên trường học cũng đã có “ban quản lý lâm thời” để điều hành công việc. Ba tôi từ đâu đó xuất hiện với bao gạo nhỏ trên tay: “Chà, tìm nảy giờ mới gặp nè. Cả nhà yên ổn chớ?”. “Cũng yên” Má tôi trả lời. Nhìn bộ đồ lính chật bó ba tôi đang mặc má tôi cười nói: “Chớ mặc đồ của ai mà chật ém vậy?”. Ba tôi cũng cười: “Thì đó, đồ đạc bỏ ở nhà hết trơn. Qua đó phải mượn đồ của mấy đứa khóa sinh mặc tạm nè”. Mấy đứa em tôi xúm lại níu lấy ba tôi. Tụi nó rờ rẩm trên bộ đồ lính không có bảng tên hay lon lá gì, chỉ có mỗi cái phù hiệu bên vai in hình thanh gươm và mấy tia mặt trời mọc đỏ chói…

xxx
Nấn ná “tản cư” thêm hai ba ngày nữa rồi lần lượt mọi người quay trở lại nhà. Tôi trở về với xóm Máy nước. Mọi thứ vẫn như cũ, nhìn bên ngoài như chưa hề có chuyện gì xảy ra. Nhà tôi bị một trái đạn nổ ngay phía trên toa lét, khoét một lổ tròn to như cái rổ trên trần bê tông, vụn xi măng rụng lả tả bên dưới. Nhà con Bẹp sát cạnh nhà tôi bị trái đạn ngay phòng khách, cả cái bàn thờ ông bà bị bể tan tành. May nhà nó cũng đi tản cư kịp lúc nên không ai bị gì. Nhân lúc không ai để ý tôi vọt lẹ ra đường chạy đến đài phát thanh. Ngang quán bà Mẹng nhìn vào thấy cửa còn đóng im ỉm. Trước cửa đài phát thanh giờ có thêm mấy hàng rào kẻm gai, bên trong có đông lính gác đi qua đi lại. Tôi lượn qua lượn lại mấy vòng thì thấy thằng Dũng từ bên trong khu nhà ở ló đầu nhìn ra. Xa quá, nói cũng chẳng nghe được. Tôi giơ tay vẫy vẫy. Thằng Dũng cũng giơ tay vẫy vẫy. Tôi vọt lẹ về nhà…

Sau tết Mậu Thân hai tháng nhà tôi dọn đi, trả căn nhà thuê ở xóm Máy nước lại cho chủ. Tôi đi cũng khá gấp gáp, không kịp chào hai đứa bạn hàng xóm đồng trang lứa là con Bẹp và thằng Tuyến “bù pha”. Thằng Dũng thì tôi vẫn còn gặp ở trường học. Ba tôi mua hẳn một căn nhà tôn ở lưng chừng núi Sạn đối diện đường ra Hòn Chồng. Từ đường lộ phải đi lên con dốc thoai thoải, băng qua một nghĩa trang mới tới khu nhà ở. Có một vài ngôi nhà đầy mồ mả chung quanh. Ba tôi nói: “Kệ, về ở đây gần đơn vị cho chắc ăn, lỡ có chuyện gì chạy vô “đồn” cũng lẹ”. Khổ cái căn nhà này vừa mái tôn vừa vách cũng bằng tôn nên khá nóng. Má tôi phải mua giấy các tông về đóng phía bên trong cho giảm nhiệt. Những tấm bìa này hình như nguyên trước đây là thùng giấy đựng đồ hộp của Mỹ, trên có in chữ C màu đen to tướng. Mấy má con tôi cứ quen gọi là “thùng C”…
Vậy mà gia đình tôi cũng đã gắn bó với nơi đây suốt bảy năm trời, cho đến khi chính thể Cộng hòa của miền Nam không còn nữa.

Lê Phú Hải

XA RỒI

lephuhai

Xa rồi cát bụi mấy mươi năm
Chí lớn về đâu chí lớn thầm?
Rũ áo phong trần cơn mộng dữ
Lạnh về vai nhỏ rét căm căm
Lớp lớp thư sinh hề tráng sĩ
Mà tráng sĩ hề sống bao lăm
Còn mấy chàng Siêu ngày tóc bạc?
Lận đận tha hương những vết bầm.

Xa rồi khói bếp những chiều xưa
Một góc vườn hoang mấy gốc dừa
Ly biệt ly biệt sầu ly biệt
Mẹ ngồi lau sậy dáng đong đưa
Thương đứa con ngày xưa bé bỏng
Mòn đời trận mạc đã về chưa?
Cha già ngoảnh mặt che thương nhớ
Tiếng đàn hiu hắt mấy cơn mưa.

Xa rồi năm tháng cũ chơi vơi
Lửa khói binh đao dậy ngút trời
Ai cứ nhiều nhương mà thắng trận
Ta đành ngã ngựa mảnh hồn rơi
Em có theo ta về cõi nhớ
Những ngày mộng ảo biệt trùng khơi
Thương tiếc về đâu miền quá vãng?
Chim vàng nức nở gọi tình ơi!

Xa rồi ta có nhớ gì không?
Nghìn dặm quê hương mấy tấc lòng
Lá xác xơ bay buồn riêng nỗi
Khúc hát ngày về ai ngóng trông?
Chinh phụ ta xưa giờ tóc bạc
Phù dung cũng chết bởi hoài mong
Còn chút lòng ta là đồng vọng
Ai có còn không có còn không?

Lê Phú Hải

THÁNG GIÊNG

lephuhai

Tháng giêng chân trần ra phố
Phố ơi buồn tự bao giờ
Dáng ai ngày xưa nho nhỏ
Bây giờ xô dạt về đâu?

Gió thổi giọt mưa rơi mau
Nghe như giọt buồn nước mắt
Quê hương không còn chia cắt
Sao hồn cứ mãi ngóng trông

Gác vắng chiều nay còn không
Tiếng đàn rơi trong lặng lẽ
Người ơi ru đời đi nhé
Bao giờ cho hết thương đau

Ta hứa sẽ về tìm nhau
Leo lên đồi cao đàn hát
Đừng buồn chi sênh phách lạc
Miễn là mắt biếc còn đây

Lưu lạc đã mờ chân mây
Sá gì đường xa vạn dặm
Phương nam thương người lắm lắm
Cầm bằng không biết thì thôi

Có chiếc lá khô mồ côi
Của ai ngày xưa còn đó
Ta để dành đây nè nhỏ
Nhớ về phương bắc xa xôi

Lê Phú Hải

VÁC NỖI BUỒN QUA PHỐ

lephuhai

Ta vác nỗi buồn đi qua phố
Cũng nặng như hồi ta cõng em
Trời đất nghiêng nghiêng chiều thổ mộ
Ngày ấy bên rừng ta gởi đem

Ta gởi đem cho người bé bỏng
Bếp chiều hiu hắt tuổi mười ba
Có dáng mẹ em ngày hắt bóng
Thân cò lặn lội cánh đồng xa

“Trời đất mang mang ai tri kỷ?”
Bây giờ xa lắc nhớ gì không?
Nhớ mái tranh nghèo tình độ lượng?
Ngày nào tuổi nhỏ đã mênh mông?

Nên buổi chiều nay ta lại nhớ
Em giờ đã lớn lắm còn đâu
Tiếng vạc kêu sương đêm tan vỡ
Nợ này sao trả được tình đau…

Lê Phú Hải

LƯU VONG

lephuhai

Ta lưu vong phố xá mịt mùng
Ngoảnh mặt lại quê nhà xa lắc
Ngày ra đi nách mang tay xách
Dĩ vàng nhàu một thuở tinh khôi

Ta lưu vong từ thuở nằm nôi
Mẹ quang gánh đường xa chân mõi
Rồi lớn lên mắt chiều sương khói
Người Việt nào chẳng mất quê hương

Ngoái đầu về nghìn dặm còn thương
Chiều xa ngái châu Ô châu Rí
Cây quế nhỏ bên đời mộng mị
Cũng đành lòng cáo biệt mà đi

Trả lại đôi cánh nhỏ thiên di
Mùa qua lại mùa qua rồi lại
Tháng mười một Chiêu Quân ái ngại
Ừ sang Hồ biệt Hán thế thôi…

Lê Phú Hải

NHỚ PHƯƠNG NAM

lephuhai

Ta ngồi nhớ phương nam
Tháng mười con nước nổi
Người đàn bà tóc rối
Ru hời tháng năm xưa

Ngồi bên võng đong đưa
Tiếng trẻ khuya khát sữa
À ơi còn đâu nữa
Dĩ vãng vết rong rêu

Đã có những ngày yêu
Có những đêm thương nhớ
Rồi có khi rạn vỡ
Ly chén buồn chông chênh

Hát điệu lý mình ên
Bao kẻ buồn riêng phận
Ta biết mình lận đận
Thương nhớ chỉ lặng thinh

Ờ thôi cứ lặng thinh
Nói ra càng khắc khoải
Tiếng ọ chiều xa ngái
Con trâu đồng xanh thơ

Gởi lại một giấc mơ
Có ngày xưa con gái
Có ngày xưa bé dại
Phố nhỏ bước chân thưa

Gởi lại những cơn mưa
Chợt đi rồi chợt đến
Gởi một lời thương mến
Bây giờ và mai kia.

Lê Phú Hải

Tình Rụng Ngày Về

lephuhai

Những ngày đầu nơi vùng kinh tế mới.
Một đêm đang ngủ bỗng nghe tiếng kẻng vang rền. Chúng tôi thức dậy ra xem thì thấy du kích đang áp giải một người đàn bà và hai đứa bé. Đứa bé gái mẹ ẳm trên tay, thằng anh chạy theo níu áo mẹ. Chị Bảy thôn trưởng nói với chúng tôi:
– Cô H trốn đi vừa bị tui bắt lại chỗ suối Mè nè. Bà con coi đi!”.
Tiếng chị H khóc ri rỉ:
– Tôi chỉ dẫn thằng Cường về nhà nội nó để đi học thôi mà.
– Chị đừng có mà biện bạch, đi đâu mà đêm hôm khuya khuắt như vậy? Chị tưởng tui không biết chị có ý định “bỏ vùng” hay sao?”.
Có tiếng nói:
– Thôi chị Bảy ơi, thông cảm cho cổ đi, dù sao cũng là thân phận đàn bà yếu đuối thôi mà. Chị Bảy cứ để tụi tui giúp đỡ cho.
– Vậy bây giờ tui giao cô H lại cho đội quản lý đó nghen. Làm sao thì làm, “bỏ vùng” là có chuyện với tui đó”.
Chị Bảy và mấy cậu du kích bỏ đi, tôi chạy lại ẳm thằng Cường lên. Chà, thằng này tôi vừa ghi tên chuẩn bị đi học lớp 1 đây mà…

Bốn năm sau ba thằng Cường trở về. Ông đại úy trở về lầm lủi và muộn phiền. Thật ra trước đó đã có mấy đại úy trở về. Đầu tiên là đại úy Bằng, một đại úy già trạc tuổi ba tôi (nói già là theo lúc đó chứ tính ra mấy vị đó trẻ hơn tôi bây giờ nhiều à). Ba tôi được mời đến dự bữa cơm đoàn tụ gia đình vì cả hai ông trước đây đều làm việc ở cùng đợn vị trường hạ sĩ quan Đồng Đế Nha Trang, có quen biết nhau chút ít. Sau đó lác đác và lần lượt các đại úy trở về. Có người đứng tuổi, có người còn trẻ, có người chúng tôi gặp mặt, có người chỉ nghe tên…
Người đàn ông đi với thằng Cường gặp tôi tại trường học:
– Tôi là ba thằng Cường. Nhờ thầy giúp cho việc rút hồ hơ học bạ….
Tôi biết ngay đây là chồng cô H, là ba ruột của thằng Cường và con Ánh. Tôi cảm thấy hơi lúng túng:
– Anh đã gặp chị H chưa?
– Gặp rồi chứ. Chúng tôi thỏa thuận thằng Cường đi với tôi, con Ánh ở lại với má nó, còn lại sau này tính tiếp.
Tôi nhìn thằng Hùng đang đứng bên cạnh ba nó băn khoăn và buồn bả:
– Vậy là em sẽ đi với ba hả?
– Dạ – thằng Cường gật đầu, mái tóc vàng hoe trên khuôn mặt bé thơ đen sạm.

Số là sau đợt “bỏ vùng” không thành công năm nọ, ba mẹ con chị H phải ở lại vùng kinh tế mới trong sự cưu mang của bà con đồng cảnh. Sát bên nhà chị là nhà anh T, trong quân lực VNCH là thiếu úy pháo binh. Anh còn độc thân, tính tình cô độc và lặng lẽ. Những người trong đội hay nói đùa: “Ông T ở sát bên nhà cô H, có gì giúp đở người ta với nghen”. Anh ta chỉ ầm ừ không nói năng gì. Vậy mà hơn một năm sau đó, hai người tự nhiên về ở với nhau, năm sau nữa sinh được một bé gái…
Bây giờ ba thằng Cường trở về, mọi việc trở nên lỡ làng và khó xử. Ông ta giải thích với tôi:
– Tôi không trách móc gì đâu. Những năm đó nếu không nhờ anh T thì mẹ con thằng Cường cũng khó sống. Xét ra thì tôi cũng phải mang ơn ảnh. Bây giờ cô ấy đã yên phận thì phải đành lòng thôi. Ban đầu tính đưa cả con Ánh đi luôn nhưng vậy thì tội quá, nên chỉ để thằng Cường đi với tôi thôi.
Tôi nói:
– Anh tính chuyển cháu về học trường nào? Biết để ghi vào giấy giới thiệu chuyển trường?
Anh ngập ngừng:
– Chà! Cũng chưa biết xin học tiếp ở đâu. Có nhà bà con ở Sài Gòn, tá túc chờ “hát ô” chưa biết nhanh chậm ra sao…
– Thôi được rồi, chuyện hồ sơ của cháu cũng không khó gì đâu, cứ để trống chỗ tên trường, anh sẽ điền vào sau cũng được. À, mà bây giờ cũng trễ quá, hồ sơ nằm ở văn phòng chính, chắc là sáng mai mới rút ra được. Vậy tối nay anh ở đâu?
– Không sao, tôi đang ở tạm nhà người quen, mai sẽ quay lại được.
Ba thằng Hùng dắt tay nó đi ra phía cổng trường. Nắng chiều phản chiếu hai cái bóng một thấp một cao liêu xiêu, buồn bã…

Cũng trong khoảng thời gian này tôi gặp đại úy Hoàng, không rõ là sĩ quan đơn vị nào trước đây, chỉ biết ông ta làm việc tại Qui Nhơn. Ông Hoàng là ba của thằng Khanh, học sinh lớp 5. Tôi không dạy lớp thằng này nhưng ở cùng trong xóm nên biết nhà nó. Thật ra tôi chỉ biết bà nội nó trong những lần đi thăm gia đình phụ huynh học sinh với mấy đồng nghiệp. Hỏi han thì biết ba nó còn đi cải tạo, má nó buôn bán gì đó ở Qui Nhơn, thỉnh thoảng mới về chu cấp tiền nong, quần áo và những thứ linh tinh khác. Tôi có một đôi lần thoáng gặp má nó, đó là một người đàn bà có vẻ ngoài sang trọng, quí phái…
Một buổi chiều, thằng Khanh chạy qua nhà nói ba nó mời tôi tối tới nhà ba nó có chuyện nhờ giúp. Cơm nước xong tôi qua nhà nó. Trước mặt tôi là người đàn ông tầm thước, hơi xanh xao. Bên góc giường là hai người đàn bà: bà nội và má thằng Khanh. Rót nước trà ra ly ông Hoàng chậm rãi nói:
– Tôi vừa được thả về. Chiều nay thấy thằng Khanh ngồi trên lưng con bò tôi nhìn không ra. Cơ cực quá.
Tôi cười:
– Ở kinh tế mứoi thì ai cũng cực mà.
– Tôi hiểu. Nhưng không thể không đau lòng… Con tôi đây sao? Trời ơi!. – – Thôi con à, phải biết chấp nhận hoàn cảnh chớ – Tiếng bà nội thằng Khanh.

Hóa ra tình cờ tôi được nghe chuyện nhà của ông Hoàng. Sau biến cố bảy lăm anh hạ sĩ lái xe cho đại úy Hoàng ngày xưa sắm được chiếc xe hàng đi buôn chuyến. Tình cờ gặp lại rồi giúp đỡ cho vợ của “ông thầy” năm xưa, lâu ngày thành ra nhân nghĩa. Hai người tuy không có con cái với nhau nhưng ai cũng biết.
Ông Hoàng nói, nhưng không biết nói với ai:
– Tôi đã gặp nó và cảm ơn đàng hoàng. Cảm ơn vì đã giúp đỡ vợ con tôi trong cơn khốn khó. Tôi cũng đã khuyên cô ấy nên đi với tôi, quên hết mọi sự để làm lại cuộc đời, nhưng cô ấy không chịu. Tôi đã hết lòng rồi, bây giờ không còn gì ân hận nữa. Tôi sẽ dẫn thằng Khanh đi.
– Sao anh cứ cay đắng làm gì. Chuyện lỡ rồi em chẳng còn lòng dạ nào đâu anh – Người đàn bà bên góc giường lên tiếng.
Rót thêm nước vào ly ông Hoàng nói với tôi:
– Sáng mai vợ chồng tôi đi xuống xã để làm thủ tục ly hôn, nhân tiện muốn ghé bên trường học rút cái hồ sơ thằng Khanh, nhờ ông thầy giúp cho thủ tục. Tôi chuẩn bị làm hồ sơ đi “hát ô” mà má thằng Khanh từ chối rồi nên tôi phải lấy giấy xác nhận để kiếm người khác đi với tôi. Đi một mình cũng vô duyên quá!.
Ông Hoàng hơi mĩm cười, một nụ cười chua xót.
Theo hẹn, sáng hôm sau tôi và ba má thằng Khanh đi xuống xã để lo chuyện giấy tờ. Đường đi phải băng qua một con suối nhỏ. Mùa nắng nên đoạn sâu nhất nước chỉ cao lên tới háng. Tôi cởi quần dài, vén quần đùi nhón chân lội qua. Quay lại nghe tiếng của ông Hoàng: “Để anh cõng em qua, đừng ngại, chỉ là lần cuối thôi mà”. Ông ta quấn cái quần dài quanh cổ, khòm lưng cõng vợ qua suối. Tôi giả lơ để người đàn bà không mắc cở…
Lúc ngồi bên ngoài chờ ông Hoàng làm thủ tục bên trong, tôi hỏi: “Sao chị không đi với anh ấy?”. Một nụ cười buồn rớt trên mặt chị: “Cậu còn trẻ nên chưa biết đó thôi. Tôi hiểu mấy ảnh mà. Đau đớn lắm! Sống bên cạnh nỗi đau của mấy ảnh mình không chịu được đâu, thôi thì phó mặc cho số phận”.

Đã mấy mươi năm qua rồi kể từ ngày ấy. Tôi đã không còn trẻ nữa và các anh chị ấy chắc cũng già rồi. Tôi không rụng về cội, cứ lưu lạc quẩn quanh. Đôi khi nhớ về không biết hai ông đại úy ngày xưa giờ đã ra sao? Cuộc sống lưu vong chắc là buồn lắm? Và tội nghiệp hơn cả là thằng Cường và thằng Khanh. Tụi nó bây giờ đã làm được gì? Có còn nhớ một khoảng đời kinh tế mới hắt hiu mồ côi bé nhỏ? Có còn nhớ mẹ hay không?

Lê Phú Hải

Điệu Buồn Tráng Sĩ

lephuhai

Nhã nhạc ngân lên từ mắt lệ
Thôi rồi cánh phượng đã về xa
Hiu hắt lòng ai chiều bóng xế
Lạc loài câu hát giọng ngân nga

Cúi xuống nghe rên từng uẩn khúc
Thương hồn tráng sĩ điệu buồn vương
Gió thổi bên kia bờ nhẫn nhục
Mất rồi một chính sử bi thương

Trời đất mênh mang mà vẫn hẹp
Hết lời tử tế gởi cho nhau
Tay vỗ trán vuông lòng khép nép
Mai ngồi ngó lại mấy niềm đau

“Thế sự thăng trầm quân mạc vấn”*
“Thị phi thành bại chuyển đầu không”*
Đành đi cho hết đời lận đận
Trót làm con đỏ chẳng hoài mong

Mây bay đầu núi, mây đầu núi
Biển còn sôi sục những cuồng phong
Người xa xa lắc người lầm lủi
Kiếm gãy lâu rồi ai nhớ không

Lê Phú Hải