CƠN GIÓ MANG HỒN TUỔI THƠ( TT)

ledachoanghuu

Mươi ngày sau thì lúa chín. Bà con tiếp tục đi gặt lúa chở lúa bó về nhà ông Sáu Hoàng để đạp. Ngày đầu tiên có vài đứa nhỏ mót lúa. Đi mót có một buổi mà được cả giạ lúa hột, ai nấy trợn tròn mắt, vậy là nhà nào có con nít đều xua ra mà mót. Nó cũng xách thúng mà đi. Mót lúa xót thì ít nhưng đi gần để người gặt len lén huơ một lưỡi liềm bỏ vào thúng là nhiều. Chú Tư râu phát hiện nhưng một mình đâu có quản xuể, chạy đầu này thì đầu kia không ai coi. Lúa chất lên xe bò chất ngất, trên đường về gặp đường gập ghềnh rớt xuống lộp độp cũng mặt kệ, mấy anh chẳng thèm lượm, giả lơ để ai lượm được thì lượm. Dì Tư Thệ nói:
“Để bà con cứu đói chớ để chở đi hết cũng vậy”.
Hôm sau xuất hiện ông Hoạt là trưởng và hai người cùng làm ban kiểm soát của hợp tác xã lên coi cùng với chú Tư râu. Ông Hoạt người miền ngoài nói đi làm là đi nàm, ông lại lùn tịt nên bà con kêu ông Hoạt nùn và hay chọc ghẹo, kể cả con nít, hay chạy theo nhảy lưng tưng đọ chiều cao với ông. Thằng Hào ngổ ngáo lếu láo, lót nhót trước mặt ông Hoạt ngêu ngao rồi chạy biến như sóc chỉ thấy dáng ông Hoạt lúp xúp đuổi theo:
“Ông Hoạt nà ông Hoạt họa, ông Chét nà Chét na mo* ( nhân vật lùn Chét-la-mo trong phim Rút Lan và Rút Mi La)”.
Hoạt họa là phim hoạt hình thường chiếu trước khi vô chiếu phim chính thức của đội chiếu bóng lưu động, một vài tháng về chiếu một lần cho bà con coi. Anh Hải tặc thấy ông Hoạt liền hỏi:
“Ông thầy khỏe hả ông thầy?”.
Ông Hoạt xốc xốc cái sợi dây đai có đeo cây súng ngắn bên hông ra oai trả lời:
“Tôi khỏe chán mới ra đây kiểm soát các anh chứ”.
Có một câu mà ông Hoạt hay nói nên dì Tư Thệ cà khịa:
“Cán bộ Hoạt oai phong ghê, nàm cán bộ phải như thế chứ nỵ, mà cán bộ ơi tui no nắm…”
Ông Hoạt cắt ngang lời dì Tư:
“No cái gì mà no, bà con đừng có no, cứ để nhà nước no”.
Vậy là bà con hô theo một giọng:
“Bà con đừng có no, cứ để nhà nước no”.
Đám con nít cười hô hố trong sự ngạc nhiên của ông Hoạt.
Có thêm ông Hoạt kiểm soát, bà con ém lúa kín đáo hơn. Chỗ có lúa tốt gốc rạ cao, cắt lúa rồi để xuống đạp gốc rạ che đậy, con nít đi sau thấy chỗ nào nổi u lên moi mà lấy. Lúa chất để đạp ra hột cũng vậy, mấy nhã về đêm mệt mỏi hết kiểm soát, còn hột đầy vẫn lấy mỏ gãy xốc bỏ rạ, có anh có chú còn xốc qua loa sơ sài lúa hột rớt còn dính đầy trong rạ. Đám con nít lại được phen vò tay mà lấy lúa. Xong vụ mót nó hỏi thằng Hào:
“Ê, mày mót lúa được khá hông mậy?”.
Thằng Hào cười cười:
“Tao kiếm gần chục giạ, thằng Cọt mới nhiều”.
Thằng Cọt lên tiếng:
“Tao cũng cỡ mày chớ bi nhiêu, mày lanh thấy mồ tổ”.
Nó không lanh bằng mấy thằng này nhưng nhờ bứt thêm lúa sót, đó mới đúng là mót lúa nên cũng xem xem như tụi nó. Một giạ lúa cân bảy ký lô, xay ra được bốn ký gạo. Nhà nó mười giạ ăn độn thêm khoai bắp cũng được gần cả tháng. Đem lúa mót về má nó vẫn biết là đâu chỉ có mót không thôi, mót không với chừng đó thời gian làm gì được vậy với lại bà con cũng râm ran mà. Nhưng cả làng cả xóm, cả đội ai nấy gần như nhau nên tản lờ coi như là lúa mót.
Lúa phơi khô xong bà con nghĩ chắc cũng như bắp, được chia chút ít nhưng không, có thông báo vụ này chở về hết hợp tác xã, vụ kế tiếp bà con mới hưởng trọn. Bà con ngớ ra, Chú Ba Mạnh buồn thiu:
“Cũng tại bà Bảy hết đó”.
Dì Bảy Thệ sửng cồ:
“Tại tui cái gì cha nội?”.
“Tại chị ăn mắm ăn muối, khi không hổm nói để chở đi hết cũng vậy”.
“Tui hông nói cũng chở hà cha nội, có để lại cho hông?”.
Dì Bảy Thệ tánh tình như đàn ông, rổn rảng mà nói, có sao dì nói vậy chẳng sợ làm mích lòng ai, ngó vậy chớ bên trong dì là con người đầy tình cảm. Nghe cái giọng buồn thiu của chú Ba mạnh là dì biết liền, nói thì cứ nói nhưng tối hôm đó dì sai thằng con bưng qua nhà chú Ba thúng giê gạo, dì biết tỏng nhà chú Ba đang đói ran.

***

Bà con uể oải với vụ hai. Làm còn tà lơn hơn vụ đầu, bất mãn hiện rõ ra mặt, cày đường có đường không cho mau xong càng tốt, bỏ lõi đầy khắp ruộng. Xạ lúa chưa thấy lên đã thấy cỏ xanh rì. Dì Bảy Thệ lại rổn rảng:
“Ê, ông Ba Mạnh, nghe cái miệng ăn mắm ăn muối của tui nữa nè, tui nói thiệt vụ tới chưa chắc gì đâu nghe”.
Anh Hải tặc tiếp luôn:
“Chị Bảy nói chí lý, dễ có sai à”.
Chú Ba Mạnh gãi đầu nói nhỏ:
“Thôi chị ơi, chị la lớn mấy ổng nghe thì chết”.
Dì Bảy chề môi:
“Trời! sợ gì nữa chú, còn gì nữa mà sợ, hủi rồi mà còn sợ lở sao”.
Bo bo trổ bông. Cây bo bo hình dạnh rất giống cây bắp nhưng thay vì trổ cờ nó trổ bông rồi kết hột thành chùm ngay chỗ bông. Bo bo chín hột màu đen đen cứng ngắt. Thu hoạch về bà con được chia mỗi hộ cỡ bao năm mươi ký. Số còn lại cũng chở về hợp tác xã. Bà con thấy hột lạ, chưa ăn bao giờ, háo hức nấu ăn thử. Nấu hầm thiệt lâu như kiểu phải ninh nhừ mới ăn được. Hôm ra đồng, anh Hải tặc hỏi dì Bày Thệ:
“Chị Bảy ăn bo bo ngon hông?”.
Dì Bảy thè lưỡi:
“Tao nhai nó cà nhệnh cà nhệnh muốn trẹo quai hàm mày còn hỏi”.
Anh Hòa chen vô:
“Tưởng sao nó lạt thếch cha nội, chẳng tí mùi vị gì, dai như dẻ rách”.
Anh Hải cười khách khách:
“Thì hổm trước có người nói người ta trồng cho gia súc ăn hổng đúng à, thôi ráng nhai bà con ơi”.
Dì Bảy tiếp:
“Thì cực chẳng đã phải nhai phải nuốt như heo chớ giờ sao mậy”.
Ba nó và chú Ba Mạnh lắc đầu. Vài người thở dài. Chú Ba mạnh nói:
“Ờ mà chị Bảy, theo anh Hai nói nè, nấu chín rồi giã thành bột, làm bánh hấp ăn dễ nuốt nghen chị”.
Dì Bảy cười khì:
“Ờ, có lý hén, anh làm rồi hả anh Hai?”.
Ba nó gật đầu:
“Tụi nhỏ ở nhà làm thử, tui thấy cũng tàm tạm”.
Dì Bảy tiếp:
“Nghe lời anh hai, chịu khó làm cho dễ nuốt bà con”.
Bà con nghe vậy gục gật đầu: “Ừ hen”.

***

Lúa và cỏ cùng thi nhau mọc trên ruộng, cho dù có làm cỏ đàng hoàng vẫn thấy cỏ nhiều hơn, lá lúa vàng hơn cỏ. Một bữa ba nó không đi làm, chú Ba Mạnh chạy ào lại nhà:
“Anh Hai ơi anh hai, anh Hai có nhà hông vậy?”.
Ba nó chạy ra:
“Có chuyện gì mà gấp gáp vậy chú?”.
Chú Ba Mạnh vừa thở vừa nói:
“Anh ra coi thử chớ tui thấy lá lúa có đốm đen xì nhiều lắm, mới hồi sáng thấy còn ít tới chiều đã lan ra cả mảng, không biết sâu bọ gì”.
Ba nó nói lại:
“Sao chú hông báo với chú Tư”.
“Anh Tư đi học hành gì mấy bữa rồi”.
Ba nó và chú Ba Mạnh chạy ra đồng, coi đi coi lại một hồi ba nó lắc đầu:
“Vụ này tui cũng bó tay, chưa thấy bao giờ, hổng biết là gì, phải chờ chú Tư về thôi”.
Ba bữa sau chú Tư râu về, chú Ba Mạnh báo ngay tình hình ngoài ruộng lúa. Chú ra ruộng coi tới coi lui một hồi cũng lắc đầu:
“Tui cũng chẳng biết bị gì, để báo hợp tác xã, mấy đội bên nghe nói cũng bị như vầy”.
Anh Hải tặc lắc đầu khi chú Tư đi khỏi:
“Cha nội này biết gì mà coi mà nói”.
Anh Hòa quay qua anh Hải:
“Mày làm gì ác cảm với ông Tư dữ vậy?”.
Anh Hải thản nhiên:
“Ác cảm gì, tui nói thiệt cha này có chút trình độ nào, mà nói tui ghét cũng phải bởi cái mặt làm được chút quan làm phách, kè kè cạp táp vểnh mặt làm tàng với bà con, nếu đội mà có được những người có trình độ, tui phục theo liền, bà con chắc cũng vậy chớ gì, bây giờ ra nông nổi này rồi đó, sáng kiến sáng tạo của bà con có còn gì hông, xếp vô xó hết rồi”.
Ba nó quay qua anh Hải:
“Thôi thôi Hải ơi, chắc rồi chú Tư tính được mà”.
Gần tuần sau mới có người ở phòng nông nghiệp huyện xuống. Đi đoàn cán bộ bốn người, tới xem một hồi không bao lâu rồi về hợp tác xã. Ở hợp tác xã mần gà đãi cơm trưa, chú Tư cũng đi dự, hơn xế chiều khệnh khạng đi về, gặp chú ba nó hỏi:
“Lúa bị gì vậy chú Tư?”.
Chú Tư đang ngà ngà:
“Cũng không có gì lớn, bị rày nâu rày đỏ gì đó”.
“Chú biết lý do tại sao hông, từ nào tới giờ ở đây mình đâu có thấy?”.
Chú Tư lắc đầu người muốn xiêu quẹo:
“Tui có hỏi mà mấy ổng trả lời qua loa, nói cũng hông chắc từ đâu, từ giống từ phân hay thời tiết, hay ở đâu lan tới”.
Ba nó lo lắng:
“Có cách gì trị hết hông chú?”.
Chú Tư cười xuề:
“Anh yên tâm, mấy ổng nói bịnh này có thuốc trị, dễ ẹt, bữa nào mấy ổng xuống đem thuốc và tập huấn cho bà con”.
Gần tuần nữa đoàn người trên huyện mới trở lại. Lúc này rày đã lan rộng khắp. Mỗi miếng ruộng bị ăn hơn phân nửa, những chỗ cỏ nhiều thì lúa tàn úa hết, còn lại những chỗ lúa tốt mới đơ đỡ. Đoàn cán bộ đem theo một cái bình xịt và mấy chai thuốc, chỉ cho bà con pha bao nhiêu thuốc với đầy nước trong bình, bơm hơi như bơm bánh xe đạp rồi máng lên vai bóp van xả mà xịt lên lúa, tập huấn chừng mười phút là xong, rồi mấy ông cán bộ lại về xã để chứng nhận đã xuống làm việc và xã tiếp tục được đãi cơm trưa.
Trên đồng ruộng mấy anh thanh niên trai tráng thay phiên nhau xịt rày lúa, hai ba bữa sau rày không lan rộng ra nữa nhưng cũng đi tong gần hai phần ba rồi.

***

Một bữa hợp đội thường lệ để chú Tư râu thông báo tình hình chung, trên chú Tư nói rồi người hợp tác xã nói dưới bà con người dựa tường, người ngáp vặt, người chuyện trò. Chỉ cuối cùng dì Bày Thệ đứng dậy xin hỏi bà con mới chú ý:
“Cho tui xin hỏi câu này được hông mấy ông cán bộ?”.
Chú Tư trả lời:
“Chị Bảy hỏi gì cứ hỏi?”.
Dì Bảy hỏi:
“Cho tui hỏi là mùa lúa này tính sao?”.
Chú Tư hỏi lại:
“Chị hỏi tính sao là tính sao?”.
Dì Bảy tiếp:
“Thì hổm trước nói mùa này bà con hưởng trọn chia nhau có đúng vậy hông, hợp tác xã có giữ lời hứa này hông?”.
Chú Tư cười khà:
“À, tưởng chị nói tính sao là cách tính sao chớ, còn lời hứa này như đinh đóng cột, có giấy có tờ, mùa này của bà con hết, bà con chia nhau theo công điểm”.
Dì bảy ngồi xuống:
“Ờ, vậy tui biết rồi”.
Bà con lại râm ran: “Sâu rày ăn hết mẹ nó rồi còn bao nhiêu”. “Cắt cỏ chia nhau bà con ơi”. “Chia lúa lép về nấu trấu mà ăn”.
Ngày gặt lúa, đội quân mót lúa bị thất nghiệp, qua oánh bò vòng vòng đạp lúa phụ rồi chia phe bày trò chơi đêm sáng trăng, chơi bắn súng cõng chán tới chơi u mọi, u mọi chán tới chơi năm mười, trốn tìm trong những ụ rơm, bụi chuối.
Ngày chia lúa cũng đầy lời ra tiếng vào nào là: “Cái nhà đó làm biếng làm nhát cũng tính công điểm bằng như nhau, người công đầu làm thấy ông thấy cha cũng vậy”, rồi: “Cái thằng đó tới điểm danh xong huơ huơ chút là trốn biệt cũng tính đủ công đủ cán, à thằng này bà con cô bác mấy cha cán bộ”…

***
Mùa mưa đi qua.
Hớp tác xã cho người đốn tre đầy hai xe bò về dựng cái rạp lớn làm đại hội tổng kết một mùa qua. Tre xếp như sạp làm ghế ngồi cho bà con. Hơn ba trăm người đại diện cho hộ gia đình tề tựu về dự. Có đủ các cán bộ huyện, xã và hợp tác xã. Sau khi giới thiệu kính thưa, kính thưa hết tất cả các cán bộ rồi phát biểu khai mạc của ông chủ nhiệm hợp tác xã là tới phần báo cáo của từng đội trưởng. Sáu đội trưởng lần lượt báo cáo, trước khi báo cáo cũng kính thưa và kính thưa đủ. Sáu bản báo cáo na ná nhau, chung quy là thành tích tốt, vướt khó mà nên. Chú Tư râu hãnh diện báo cáo đã hoàn thành chỉ tiêu đóng góp lương thực cho nhà nước theo yêu cầu đề ra, đã góp được bao nhiêu tấn lúa và bà con chia nhau cũng khá, cũng tấn tấn, nêu nhiều sáng kiến đóng góp cho đội và hứa mùa tới sẽ cố gắng làm tốt hơn nữa. Sau đó ban kiểm soát là ông Hoạt phát biểu, ông chủ nhiệm hợp tác xã phát biểu rồi ông chủ tịch xã và cuối cùng ông cán bộ huyện khen ngợi thành tích của bà con, và khuyến khích bà con tiếp tục phát huy tinh thần tập thể này.
Dì Tư Thể lắc đầu:
“Mấy cha này sao mà xạo thấy gớm, bà con sắp sửa đói nhăn răng tới nơi”.
Anh Hải tặc ngao ngán:
“Sáng kiến dẹp mẹ nó hết chớ có xài gì đâu, mấy cái cuốc ba lỗ, cày rãnh hai lưỡi của bác Hai làm bỏ xó mà kêu có thêm sáng kiến”.
Hiền khô như anh Hải đất cũng lắc đầu:
“Sao mấy ổng nói được vậy hay ghê”.
Đại hội tổng kết mất đứt hai ngày.
Hợp tác xã phát cho mỗi đội một cặp heo mỗi con cỡ sáu bảy chục ký để làm liên hoan buổi tối đại hội xong. Đội nó tụ tập ở nhà ông Sáu Hoàng nấu nướng cùng ăn chung. Lòng heo nấu cháo, mỗi nhà góp vài lon gạo, người người lớn nhỏ tự đem tô chén tới tranh nhau xì xụp húp. Đổi bớt gạo lấy bánh tráng cuốn thịt heo luột, xương hầm chấm nước mắm mà gặm.
Lúc đi đại hội tổng kết về ngang nhà ông Sáu Hoàng chú Ba Mạnh hỏi ba nó:
“Anh có ghé liên hoan hông anh Hai?”.
Ba nó lắc đầu:
“Tui hổng ghé đâu chú Ba, lu bu ngại lắm”.
Anh Hải tặc chặc lưỡi:
“Mấy cái vụ ăn tập thể này thấy ớn, thiếu điều nói là dành giựt, bát nháo kinh khủng”.
Ba nó cười buồn:
“Thông cảm cho bà con, tại đói quá, mấy khi có cục thịt lại như của trời cho”.
Chú Ba Mạnh nói tiếp:
“Tui cũng về luôn”.
Ba nó chặn lại:
“Hay chú với thằng Hải lại nhà tui lai rai chút, coi như mình cũng liên hoan”.
Chú Ba Mạnh và anh Hải gật đầu theo chưn ba nó về nhà.
Mồi mỡ nhà nó cũng chẳng còn gì. Còn được mớ khô cá trích đem nướng, và may quá còn mớ sò vặn* (sò đá biển) phơi khô đem xào với lá quế. Trong lúc người lớn nhâm nhi nó hái trái bầu luộc để ăn với cơm.
Cụng ly rượu với ba nó, chú Ba hỏi:
“Hổm anh được chia bao nhiêu lúa”.
Ba nó thở hắc ra:
“Được ba chục giạ chú ơi”.
Anh Hải uống cái ực:
“Bác Hai hơn nhà con rồi, con được hai mươi lăm giạ”.
Chú Ba Mạnh rầu rầu:
“Tui cũng chừng đó chớ nhiêu, làm cả mùa được chừng đó ai ăn ai nhịn đây hông biết”.
Anh hải nhẩm nhẩm:
“Chừng đó nhà con ăn chưa được hai tháng chớ mấy, dự trữ bây giờ sắp cạn, sang năm chắc đói vài tháng rồi”.
Ba nó lắc đầu:
“Tui cũng chắc gì đủ tới giáp hột”.
Chú Ba thở mạnh:
“Nhà anh và thằng Hải còn đỡ, tui mới khổ, mượn nợ quá trời, giờ hông biết lấy đâu trả, còn ăn thì chắc được hết tháng giêng”.
Trời có gió mát mẻ, trăng lên tròn quay sáng vàng chóe, không khí bàn nhậu lại trầm lắng đến rợn người, chìm sâu trong tiếng thở dài thở ra. Có tiếng the thé từ cái ô bặc lưa hướng hợp tác xã vọng tới, chú Ba Mạnh càng không vui:
“Văn nghệ với văn gừng, đói tới nơi lo chưa nổi…”.
Chị nó đi coi văn nghệ ở hợp tác xã về, ba nó hỏi:
“Ủa, sao về sớm vậy con?”.
Chị trả lời:
“Dạ có coi được gì, người ta chen lấn rần rần, xô đẩy làm ghế tre đổ ào ào, có người còn tranh thủ cắt dây vác tre về nhà, loạn xạ lắm coi gì được ba ơi”.
Anh Hải ngạc nhiên:
“Mấy ông cán bộ, mấy ông du kích đâu?”.
“Dạ, có thấy mặt mũi ông nào đâu anh, nghe nói mấy ông nhậu xỉn xà càng, mấy ổng có mấy người cũng được hai con heo, mần chia cả chục ký về nhà, còn lại ở đó nhậu té ngửa hết có biết trời trăng mây gió gì”.
Ba nó, chú Ba Mạnh và anh Hải chỉ còn biết lắc đầu, cụng ly uống cho bỏ nghẹn. Ba nó trầm ngâm:
“Thiếu thốn đủ điều, đôi khi cũng chẳng trách được bà con, đoàn chiếu bóng* (Chiếu phim) đoàn ca kịch, cải lương mấy tháng mới về diễn một lần, bà con cũng đói mấy chuyện này luôn, mỗi lần có đoàn là như có hội, xô đẩy chen lấn kiếm chỗ coi cho rõ, con nít khoét rào chui cửa …”.

***

Thêm một cái Tết nữa lại đến.
Một cái Tết đến trong không khí trầm lắng đến buồn hiu hắc. Không có tiếng pháo đì đùng mà chỉ lẹt tẹt chẳng đủ để giựt mình. Bà con cô bác cố chặt mai rừng về chưng trong nhà ngoài ngõ, những cánh hoa vàng chóe, những nụ, những lá non mơn mởn khoe sắc vẫn không đủ che lấp những gương mặt đầy lo lắng, những đôi mắt nghi ngại, ngày mai ra sao?. Ngoài đường mọi năm rộn rã, năm nay vắng lặng dăm ba đứa nhỏ tụ tập chơi trò chơi, bầu cua cá cọp hay bài bạc ba ngày Tết bị cấm cửa.
Chú Ba Mạnh ghé nhà chúc Tết không nở nổi nụ cười, chú Ba thì thào:
“Điệu này khó quá anh Hai, tui có ý này hông biết có nên nói hông?”.
Ba nó đáp:
“Chú Ba kỳ nghe, tui với chú còn giữ kẻ hả, có gì chú nói tui nghe”.
Chú Ba chậm rãi, nhấm ngụm rượu:
“Tui định nói hay tui với anh ra giêng này lén vào rừng phát hoang làm rẫy làm ruộng riêng, chớ bám vô hợp tác xã hết chỉ có nước lấy cám mà ăn”.
Ba nó trầm ngâm suy tính:
“Ý chú cũng được, nhưng mà dễ bị bắt chớ chơi?”.
Chú Ba thấy ba nó có vẻ đồng tình, chú vui lên đôi chút:
“Mình đi xa xa chút anh Hai, ở trỏng họ hông có tới đâu”.
“Phải qua rẫy bắp nhiều mới được”.
Chú Ba gật đầu:
“Đúng rồi, phải xa nữa, hổm đi chặt mai tui lang lang coi thử rồi”.
“Vậy chú có tìm được chỗ nào chưa?”.
“Có, tui tìm được chỗ rồi, chỗ ngon lắm, có mấy lao tre nhìn là biết đất tốt, chỗ này phát làm rẫy, cạnh sát bên có dãy đất trũng giờ còn nước lấp sấp làm ruộng khỏi chê. Chỗ này gần Bàu Đôi, nước quanh năm, đây là chỗ nghỉ chân uống nước cho bò kéo xe đi rừng sâu đó anh”.
Ba nó gục gật:
“Vậy hả chú, nhưng đủ xa hông?”.
Chú Ba cười:
“Xa lắm, đây vô đó chừng sáu bảy cây số lận, gần cả chỗ đường ray xe lửa chạy qua, chưa ai đặt chân tới làm rẫy làm ruộng gì hết”.
Ba nó chặc lưỡi:
“Vậy cũng được, nhưng nói làm sao đây, người ta hỏi thì nói đi đâu?”.
Chú Ba nho nhỏ tiếp:
“Mình đi làm nói là đi củi, tui định để bà xã ở nhà tham gia làm suốt ở hợp tác xã, còn tui lâu lâu cũng về làm vài ba bữa thôi, anh có mấy đứa nhỏ”.
“Ý chú hay đó, mà cùng lắm mình nói mấy bả thông báo hổng biết hai cha này trốn biệt đi đâu chớ gì”.
Chú Ba cười kha kha:
“Dạ đúng đó, cùng lắm kêu mấy bả lên báo rồi chửi um sùm là chồng con gì tệ bạc, làm biếng làm nhác, bỏ nhà bỏ cửa, bỏ con cái nheo nhóc biệt tăm chốn nào, chỉ lo cho cái thân cái xác của mình”.
Ba nó cũng cười ha ha theo:
“Hay, hay, bữa giờ tui cũng tìm cách gì mà chưa có, chú tính vậy tui chịu, sau mùng năm mình đi luôn hén”.
Chú Ba gật đầu liên hồi:
“Tui sợ anh hông chịu chớ vậy là hay quá, thôi sẵn đây, Tết nhứt anh em mình đốt nén nhang cầu Trời Phật, tổ tiên”.
Ba nó và chú Ba cùng đốt nhang lầm rầm khấn vái.

***

Mùng sáu ba nó và chú Ba Mạnh chuẩn bị đồ đạt, cuốc rựa, quần áo, gạo muối… quẩy đồ đi từ sáng sớm, trước cả tinh mơ.
Tới nơi, ngay chỗ chú Ba Mạnh tìm được, ba nó gật gù:
“Chà, chú tìm ra chỗ này ngon đó chú, đất đẹp, có nước nôi, xung quanh cây cối còn xanh um, mát mẻ lắm”.
Nghe ba nó khen chú ba vui ra mặt:
“Được hen anh Hai”.
Việc đầu tiên của ba nó và chú Ba Mạnh là đốn cây, cắt tranh làm cái chòi, thêm cái sạp bằng vạt tre để ngả lưng trưa tối rồi đào cái giếng nhỏ lấy nước cạnh chòi, giếng phía dưới đất trũng định khai hoang làm ruộng nên đào chỉ hơn một thước là có mạch nước ra trong vắt, mát lạnh. Xong mấy việc đầu tiên này là bắt đầu phát lao tre làm rẫy, phát bên trong lao chừa những bụi bên ngoài vừa làm hàng rào vừa để che mắt, có ai đi ngang cũng không thấy gì bên trong. Một tháng rưỡi ròng rã phát miệt mài được chừng sáu sào đất thì dừng lại, tre phát ngã nằm rạp xuống chờ khô mà đốt sạch còn đất và lấy tro làm phân cho ruộng.
Bên trong lao tre còn nhiều cây to, cưa từng khúc cỡ một thước rưỡi vác ra ngoài, để đốt than. Đốt than phải đào hầm. Hầm đào cỡ một thước chất cây củi xuống rồi đất đất lại, đấp đất kín mít thiệt kỹ chớ không cây cháy trụi ra tro, chừa vài cái lỗ thông hơi cho khói bay ra, đầu miệng hầm khi mồi lửa xong là lấp lại luôn, hầm than cháy hết tới đâu là đất sụp xuống dập tắt lửa còn than tới đó, vài ngày sau hầm nguội thì dở lò lấy than. Mỗi hầm than mất gần tuần lễ, ba nó và chú Ba Mạnh làm được ba hầm từ cây trong lao tre, con số như vậy là khá. Chú Ba Mạnh mừng lắm nhưng vẫn còn lo:
“Than mình hầm được nhiều bán mà suôn sẻ khỏi lo đói anh Hai”.
Ba nó vừa cho than vô bao vừa gật đầu:
“Cầu mong ông bà độ cho, bán được suông sẻ, không bị bắt bớ”.
Chú Ba lúc lắc đầu:
“Mong là vậy chớ cực khổ quá, không biết bao nhiêu mồ hôi nước mắt”.
Ba nó cười:
“Có cả máu nữa chớ, có lẽ làm rẫy đốt than là cực nhứt nên bà con có câu là than thở, thở than”.
Chú Ba vấn điếu thuốc:
“Lầm than nữa đó anh”.
Than đưa về canh chừng gánh về ban đêm, không đám đi ban ngày. Má nó và vợ chú Ba Mạnh mỗi lần chở hai bao sau chiếc xe đạp về thị xã bán cũng đi từ tờ mờ sáng, tránh trạm kiểm soát, đâu dám kêu xe lam lại chở, mất nguyên xe có nước đi ăn mày, má nó nói như vậy.
Làm củi, đốt than để đem bán bây giờ là trái phép, bị cấm ngặt nghèo. Đốt rẫy vậy luôn. Mà đâu chỉ rẫy và than củi bấy giờ đi buôn cũng cấm, chỉ được bán bằng cái thúng cái mẹt ở chợ, xách theo bên người trên bốn ký gần như bất kỳ thứ gì chỉ trừ như rau củ là bị gọi buôn lậu, bị tịch thu. Ngày trước chỉ có cái trạm kiểm soát Căn Cứ Bốn nổi tiếng gắt gao, dân buôn khều nhau đi chuyến nào lọt qua trạm này coi như chuyến đó thắng. Bây giờ mọc thêm rất nhiều trạm, cách vài chục cây số là có trạm. Trạm kiểm soát dân buôn lậu và kiểm soát luôn người đi đường, có đầy đủ giấy tờ, giấy thông hành hay không.
Dân buôn lậu lúc này chuyên buôn mực khô với cồi sò, cồi của con sò điệp phơi khô. Chuyển vô Sài Gòn bán một vốn bốn lời, có khi còn hơn. Mực thì chỉ dành ăn chơi, cồi sò có tính ngọt nghe nói để làm bột ngọt nên mắc mỏ, bột ngọt bấy giờ quý cũng như gạo. Đủ mánh khóe cho dân buôn che mắt trạm kiểm soát, từ nhét đủ chỗ trên xe, trong bánh xe, làm ngăn làm hộc, rồi bó đầy người, đi đứng khệ nệ như bức tượng gỗ cho tới xử dụng xe hồng thập tự, xe cấp cứu, và cả xe mai táng… để buôn.
Có những đêm đang ngon giấc chợt giựt mình nghe tiếng súng nổ liên hồi. Mở mắt ra coi thử chuyện gì mới biết xe ở trạm kiểm soát rượt theo xe buôn lậu, đạn bay chéo chéo cứ bay xe cứ nhấn hết ga mà chạy, mà vượt. Có khi thoát được có khi bị bắt. Rồi có lúc không phải là xe buôn lậu mà là của những gia đình dỡ nhà trốn xứ mà đi.
Trạm kiểm soát ở xã nó ban đầu còn để cái barie chắn ngang đường, sau xe cố vượt trạm tông gãy ngày một nên đổi thành những cái thùng phuy đổ đầy cát chắn ngang đường. Xe dừng lại kiểm soát xong, tắt xuống con đường đất nhỏ mà qua, con đường vừa nhỏ vừa xuống dốc sâu đố xe nào vượt được.
Có lần gặp đoàn xe tải lớn mang bảng số Campuchia, họ xuống xuất trình giấy tờ xong kêu dọn đường để xe đi chớ nhứt quyết không xuống đường đất nhỏ. Ông ngồi trong trạm hất hàm:
“Không đi thì nằm đó mà chơi”.
Vậy là đoàn người trên xe quay lại hùng hổ rút súng bắn xối xả, lấy lựu đạn hăm he rút chốt quăng vào trạm, mấy người ở trạm mặt cắt không còn giọt máu, dù có súng cũng không dám chống trả, giơ tay cầu hòa, ra hì hục lăn thùng phuy dọn đường. Về sau gặp đoàn xe ngang tàng như vậy không dám đả động lấy một câu.
Bán than bà con còn cắm cái cây ven đường lộ cột cục than làm ám hiệu. Xe thấy muốn mua dừng lại, người ngoài đường canh gác, trong nhà vác chạy ào ra. Xăng khan hiếm xe chở khách bắt đầu chuyển qua chạy bằng than nên hiển nhiên phải chở theo than, chỉ bị bắt khi chở nhiều quá, xe chạy bằng than gọi tắt là xe than, có cái thùng sắt hình trụ tròn dài thòn phía sau đốt lửa chạy bằng hơi nước. Xe chở theo than cho mình còn thêm vài bao chuyển vào Sài gòn bán kiếm lời.
Xăng khan hiếm đến nỗi có tiền cũng mua không đủ cho chiếc xe Mobylette, chiếc xe này lại chạy kèm nhớt mới khổ. Ba nó tháo hết máy cho nhẹ thành ra chiếc xe đạp, đạp tàn tàn thồ củi tới hồi bánh xe bị lủng bởi đường rừng, chẳng thể mua đâu ra ruột để thay vậy là đành treo dàn khói.
Một bữa nhà nó nhận được thơ từ Sài Gòn gởi ra tin dì bị bịnh phải mổ. Má nó phải tức tốc đi. Nó cũng được xin nghỉ học vài bữa vô coi nhà. Ba giờ sáng má con đón chuyến xe lam đầu tiên chuyên chở rau củ về thị xã, bốn giờ thì tới bến xe xếp hàng mua vé, hai chuyến xe sáu và bảy giờ sáng khởi hành mà người xếp hàng mua vé dài như rồng rắn và khi gần tới lượt thì được thông báo… hết vé, phải chờ chuyến ngày mai. Má con phải lang thang hết chỗ này tới chỗ khác khắp thị xã, lúc tới vườn bông mà chẳng thấy bao nhiêu bông hoa, những cành lá xơ xác trơ trọi trên những bãi cát khô ran, những cái xíc đu, cầu tuột gỉ sét chỏng gọng… lúc đi ngang rạp hát chưa kịp dừng lại coi xuất chiếu bộ phim gì phải bỏ chạy như ma đuổi hòng thoát khỏi những người chặn lại cầm tay nhét ngay tấm vé chợ đen không cầm hỏi nói gì, trước phòng vé dòng người chen lấn có những người mặt mày bặm trợn leo lên hàng rào đạp thẳng trên vai trên đầu người khác bất chấp những cái kéo những cái quất của người giữ trật tự để lọt vào bên trong… lúc ra bờ sông hóng gió cho qua ngày, bờ sông vắng vẻ yên tỉnh nhứt, vài chiếc thuyền neo đậu vài chiếc xình xịch vô ra… Đêm về lại bến xe mướn chiếc chiếu ngã lưng, nhờ chiếc chiếu người cho mướn xí cho một chỗ để mua được vé. Năm tiếng đồng hồ xếp hàng cuối cùng cũng được lên xe, hàng chất trên mui đầy nhóc, xếp trong thùng xe và dưới chỗ ngồi cũng kín mít. Có hai xe cút kít chở lại bốn giỏ cá thiệt to, chú đẩy xe cút kít kêu lớn:
“Cho hàng lên dùm đàn anh ơi”.
Chú lơ xe cằn nhằn:
“Hàng gì giờ mới đem lại, trên mui hết chỗ rồi”
“Thì cho dùm vô thùng”.
“Thùng cũng đấy nhóc, chờ tui sắp xếp lại đã”.
Vừa sắp xếp hàng chú lơ vừa hỏi:
“Ủa, mà hàng gì đó, đừng nói hàng lậu nhe, nhốt xe tui là chết à”.
Bà mập đi theo lên tiếng:
“Lậu gì mà lậu, hổng thấy giấy tờ người ta dán chình ình đó hả?”.
Chú lơ xe nhìn bà mập cười hè hè:
“Trời tưởng ai, bà quen quá trời, tui nghe nói bà là trùm đi hàng lậu, nhưng bà làm sao có được giấy đàng hoàng hay thiệt, tui phải nể”.
Bà mập giãy nãy:
“Thôi nhe mậy, đừng có ăn mắm muối nói bậy, tao buôn bán dùm cho hợp tác xã”.
Chú lơ nhe răng:
“Tui nói bậy bạ trúng tùm lum tùm la, bà mà đi cho hợp tác xã chắc trời sập, à, bà cho thêm tiền bốc vác đó, nặng thấy mồ tổ, một giỏ một tạ hả?’.
Bà mập gật đầu:
“Một tạ, vô tới trỏng tui bồi dưỡng tiền cà phê cà pháo”.
Mấy giỏ cá ướp muối có dán giấy đóng mộc của hợp tác xã đánh bắt thủy sản, bảo bối để lọt qua trạm của nhiều người đi buôn, không biết làm cách nào có được, có người nói vậy.
Từ lúc lên xe, má con nó ngồi chờ thêm một tiếng nữa xe chầm chậm lăn bánh. Xe lăn bánh cà rịch càng tang như vừa đi vừa tham quan. Bà mập mạp ngồi nhấp nha nhấp nhổm:
“Chạy nhanh chút bác tài ơi, chạy vầy vô tới trỏng chắc cá sình lên hết quá chớ đừng nói là ương”.
Một người nữa lắc đầu:
“Chạy gì như rùa bò hông biết”.
Vài người nhăn nhó:
“Chắc tới mai mới tới”.
Một bà bác lớn tuổi lên tiếng:
“Thôi đừng có nói xui xẻo, chạy tàn tàn chiều tối tới là được, tui đi hoài tui biết, chẳng xe nào chạy nhanh hơn đâu, xe nằm đường đầy nhóc, mai tới là chuyện thường tình, cứ từ từ mà tới là được chớ đừng có bị ngủ bờ ngủ bụi”.
Nghe vậy mọi người trên xe không ai nói nữa. Lâu lâu dọc đường có chiếc xe ngừng để sửa, đón những chiếc khác lại hỏi xin phụ tùng thay thế, hay quá giang đi mua, lăn bánh xe đi vá ruột đắp vỏ. Những chiếc xe bị hư mà bà bác nói là nằm đường. Xe đón một chú lơ nhảy lên, chú lơ xe nó hỏi:
“Ủa, thấy nằm đây hôm kia lận, chưa sửa được sao?”.
Chú lơ xe kia lắc đầu:
“Xui thiệt mới ra tới đây mà bị, bị nặng quá, sửa cái này lòi ra cái khác”.
“Xe chạy Quảng Nam Đà Nẵng hả”.
“Dạ, chạy Đà Nẵng, chuyến này lỗ sặc gạch, sang xe gần hết rồi, còn vài người bữa giờ chưa bắt được xe nào chở hết, lo luôn cái ăn cho khách khổ thiệt, bà con nghèo rớt mồng tơi”.
Có chú trên xe thở dài:
“Thời buổi khó khăn quá!”.
Nó nghe nói tới Quảng Nam – Đà Nẵng chợt nhớ tới khoảng thời gian nhà nó về ở, muốn ở ngay quê mình mà không xong, phải ra đi. Đang miên man nhớ lại dòng sông Thu Bồn tắm mát ngày nào chợt đột nhiên xe xình xịch ngừng lại, đâu có ai kêu xuống xe, cũng chẳng ai đón lên đi hay trạm kiểm soát gì đâu, bà con nhốn nháo. Bà mập mặt méo xẹo:
“Hổng lẽ pan* (hư) hả, điệu này chết”.
Chú lơ xe trấn an:
“Xe hổng có pan bà con ơi, bà con yên tâm”
Chú nhảy xuống lấy cây sắt thọt dưới đáy khươi than cho sỉ than rơi xuống, rồi nhảy phóc lên mui cho thêm than vào thùng, chú lơ xe kia cùng phụ một tay, lấy cái máy quạt than bấm chạy xè xè thổi lửa. Xe tiếp tục hành trình, bà con thở phào nhẹ nhõm. Xe lên cái dốc cao chạy cà khực cà khực muốn dừng, muốn tuột ngược trở lại. Chú lơ xe lại nhảy xuống cầm cục canh bằng gỗ lăm le canh vào bánh xe cản xe lại nếu lỡ nó tắt máy, chú kêu lớn:
“Dạ, mấy chú mấy anh thanh niên làm ơn nhảy xuống phụ một tay đẩy xe lên”.
Đàn ông trai tráng lục tục nhảy xuống, nó cũng nhanh chưn nhảy xuống phụ đẩy. Xe lên hết dốc cao bắt đầu tuôn tuôn chạy xuống, cái thắng cà két cà két nghe dễ sợ, người kịp nhảy lên xe, vài người chạy theo không kịp, lững thững vừa chạy theo vừa thở. Chú lơ xe thì băng băng chạy như chạy thi, cầm cục canh lao về phía trước phòng hờ lỡ xe phóng quá nhanh thì thảy cục canh vào cho nó cản bớt, thiệt là nguy hiểm. Xe xuống hết dốc cuối cùng cũng ngừng được chờ bà con lên hết. Bà con lắc đầu nhưng im lặng, không ai nói gì.
Xe hai lần dừng nữa để tiếp than, xả sỉ và châm nước. Lần cuối cùng máy quạt đang xè xè thì đứng bặt, chú lơ xe vỗ vỗ mấy cái máy cũng “làm thinh”, chú mở ra coi trong sự hồi hộp của bà con, chú lắc đầu:
“Đâu có bị gì đâu, sao kỳ vậy ta?”.
Chú lơ kia nói:
“Hết pin rồi chớ gì”.
“Chắc vậy, mà quên đem cha nó đồ xạc”.
Bà mập lo lắng:
“Giờ sao, hổng lẽ ngừng đây luôn hả, chết tui quá?”.
Chú lơ cười:
“Chưa chết đâu, cho tui mượn cái nón lá”.
Bà mập thấy lạ:
“Ủa, lấy nón lá làm gì, đội đi mua pin hà, sợ nắng dữ ông tướng?”.
Chú lơ cười khì khì:
“Nắng với nôi, bà thấy tui chưa đủ cháy hà” – Chú với lấy cái nón lá và tới chỗ thùng than quạt lấy quạt để, quạt vù vù một hồi sau than cũng đỏ rực, xe xình xịch nổ máy.
Vài người bán hàng rong nhảy lên xe chen lấn rao bán, nhiều nhứt là bán chôm chôm. Bà bán chôm chôm rao miệng dẻo quẹo, ngọt sớt:
“Chôm chôm tróc đây bà con, ngon khỏi chê rẻ khỏi nói luôn bà con, chôm chôm Long Khánh chính hiệu con nai vàng đây bà con”.
Bà bán chôm chôm thảy một chùm vô người một chị, chị này hỏi:
“Bao nhiêu một ký”.
“Mười đồng thôi cưng, bán rẻ cho cưng xinh gái”.
Chị gái nghe khen bẽn lẽn hỏi lại:
“Gì mắc dữ vậy?”.
“Mắc gì cưng, đúng giá nhà vườn đó, thôi cưng trả bao nhiêu thì trả, bán hết để còn về lo nhà cửa”.
“Năm đồng nghen”.
Bà bán trợn mắt:
“Trả gì rẻ quá vậy”
Bà mập khều khều chị gái và nháy nháy mắt, chị gái biết bị hớ nên nói:
“Thôi hông mua đâu”.
Vừa nghe xong bà bán chôm chôm quay ngoắt trừng trừng nhìn chị gái như muốn ăn tươi nuốt sống, rồi xổ ra một tràng:
“Mẹ, con đĩ chó, người đẹp mà cái miệng ăn cứt hả, hông mua sao trả giá, muốn hại mở hàng người ta hả cái đồ quỷ cái”.
Chị gái run run ngồi nín re. Bà bán hùng hổ tiếp:
“Mẹ, tao hỏi lần nữa nghe mậy, có mua hông, tao bớt cho còn bảy đồng, mở hàng nghe mậy, hông mua đừng trách sao tao ác”.
Chị gái buột lòng phải mua ký chôm chôm. Trên xe ai nấy lắc đầu nhưng đành nín lặng. Xe ngừng, mấy người bán hàng rong bước xuống. Bà mập mới lên tiếng:
“Mấy con này là con quỷ chớ hông phải người, kiểu gì nó bán cũng được, chôm chôm đúng giá bốn đồng, trả một đồng hai đồng nó cũng bán luôn, nó cân theo một hai đồng, chưa tới nửa ký, vài trăm gram, trả giá hông mua là khổ với nó, có cầm theo lưỡi lam rạch mặt người ta”.
Một người buột miệng:
“Ác dữ vậy hả”.
Bà mập gật đầu:
“Chuyện này tui hổng có nói dóc đâu, tui thề độc à”.
Một người hỏi:
“Biết vậy sao cho nó lên xe?”.
Chú lơ lắc đầu:
“Ai muốn cho mấy con quỷ đó lên, hổng cho nó lên nó tìm cách phá chỉ có chết”.
Bà bác lớn tuồi thở hắc:
“Sao bây giờ sanh ra nhiều chuyện gì đâu hông hà, lừa lọc xảo trá đầy đường, hổng biết đâu mà lần”.
Gần tới Sài Gòn, chú lơ xe thông báo:
“Gần tới rồi nghe bà con, tới đây coi như tới, xe coi như ngon lành”.
Bà mập xé một giỏ cá ra coi, bà cười tươi rói:
“Hên quá, cá còn tươi” – Bà xếp hai chục cá gói trong cái lá loan nói tiếp: “Ê, chú lơ, chú cầm cái này chú với ông tài xế chia đôi hen, tui cho, nói với bà con luôn nè, ai mua một chục tui bán nửa giá vốn lấy một đồng thôi coi như tui biếu một nửa, kỷ niệm chuyến đi buôn cùng tui, nói thiệt chuyến này tui lời chán”. – Bà cười hề hề. Bà con lục tục đưa tiền và lấy cá, giá cả ở Sài Gòn phải năm đồng một chục lận. Người cả xe vui vẻ ra mặt đâu ai nghĩ cái bà mập nhìn khó ưa lại tình cảm dữ vậy.

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

CƠN GIÓ MANG HỒN TUỔI THƠ (TT)

ledachoanghuu

Nửa tháng sau ngày đăng ký nghĩa vụ quân sự tiếp theo là có giấy gọi nhập ngũ, tòng quân. Sáng sớm ở xã đã bắt cái loa kẽm bà con thường kêu cái ô bặc lưa phát những bài nhạc hùng tráng, cờ xí giăng rợp trời. Có khoảng sáu chục thanh niên lên đường. Hết ông chủ tịch, ông xã đội trưởng rồi tới đại diện huyện đội phát biểu không ngừng, mỗi ông đứng đọc cả buổi trời, đại diện thanh niên mặt buồn thiu lên tuyên thệ theo giấy đã ghi sẵn, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì Tổ Quốc, vì non sông. Những thanh niên lên hai chiếc xe ca lớn chở đi trong tiếng nức nở của người nhà, bà con và cả người yêu đưa tiễn, họ chỉ cầu mong có ngày trở về.
Những thanh niên có giấy nhập ngũ mà không tới, bị gọi là trốn tránh nghĩa vụ quân sự, ngay đêm hôm đó và về sau bị xã đội và du kích truy lùng gắt gao, người thì bị bắt, người bỏ trốn thăm thẳm trong rừng sâu, có người bỏ đi biệt tung biệt tích. Lúc này mấy anh kiểm soát quân sự áo đeo băng đỏ oai phong lẫm liệt, thanh niên trai tráng ra đường không tờ giấy lận lưng mà gặp không núp kín thì cũng “cúp đuôi chạy có cờ”.
Một buổi sáng sớm chú Tám Thạnh ở xóm trong đi ngang nhà nó. Ba nó hỏi:
“Ủa, anh Tám đi đâu sớm vậy?”.
“Lên xã anh Hai ơi”.
“Ký giấy tờ gì hả anh?”.
Chú Tám lắc đầu”.
“Đâu có ký gì, xã mời tui bữa giờ hơn cả tuần rồi anh ơi”.
Ba nó hỏi tiếp:
“Ủa, mời gì làm gì lâu vậy?”.
Chú Tám thở dài:
“Thằng con tui đó anh, nó trốn nghĩa vụ biệt tăm ở đâu tui đâu có biết, xã bắt tui lên hỏi riết, ý tui dấu nó ở đâu kêu nó về mà đi, mà thiệt tình tui có biết nó ở đâu, hết hỏi thì sáng họ bắt chiều họ bắt ra nhổ cỏ, rầu quá anh Hai chẳng làm ăm gì được hết”.
Ba nó nói giỡn cho bớt căng thẳng:
“Chắc uống trà mấy bữa thì cho qua chớ gì anh”.
Chú Tám lắc đầu nữa:
“Anh Bảy Ngà chịu không xiết lôi thằng con về giao, còn tui không biết thằng con ở đâu đành chịu chớ mỏi mệt quá rồi, ở trển còn nói chừng nào chưa bắt được thì tui ngồi thay nhổ cỏ miệt mài” – Chú Tám lộ vẻ chán chường quay đi: “Thôi tui đi anh Hai”.
“Chú đi” – Ba nó nhìn theo bóng chú Tám xa dần thở cũng thở dài theo.
Chuyện này còn tiếp diễn năm sáu năm về sau. Người đi người trốn. Hiếm có người về, lâu lâu có người trở về thì thành thương phế binh, họa hoằn lắm mới có người còn nguyên vẹn hình hài. Có người đào ngũ đi biệt tăm, có người đào ngũ trở về bị bắt trở lại, nghe nói tội này nặng lắm và lại phải trở lại chiến trường. Ra chiến trường thì gần như bặt tin tức, chỉ biết qua những người cùng đi được về phép hay trở về. Sống chết có khi xác nhận là đúng có khi mơ hồ, nghe nói qua lại, nhưng hỏi xã thì không bao giờ có tin, sẽ nhận được câu trả lời đang ở chiến trường chiến đấu chống giặc, không một tờ giấy báo tử nào được đưa về gia đình, mặc dù những chàng trai ra đi vĩnh viễn là gần như chắc chắn. Những gia đình có người đào ngũ khổ sở chẳng kém có người trốn, nửa đêm nửa hôm bị bố ráp truy lùng liên miên, cha mẹ không thể đi đâu được, lên xuống xã, “uống trà” nhổ cỏ đều đều. Mà lúc này đi lại cũng rất khó khăn, muốn đi phải có giấy thông hành, có lý do chính đáng mới được, ký xét như ký lý lịch, đầu tiên là xác nhận của ông xóm trưởng rồi lên đội, xong đội lên hợp tác xã, hết hợp tác xã mới tới xã, có khi muốn ký cái giấy phải mất cả tháng trời, nay ông này vắng nhà, mai ông kia bận họp cả tuần.

***

Một mùa mưa nữa lại đến.
Bà con được chia hai toán, toán đàn ông thanh niên trai tráng lo ruộng lúa, toán còn lại thì làm đất vườn, kêu là đất làm hoa màu, hợp tác xã giao giống về trồng, và cây trồng là… bo bo chớ không phải bắp, khoai lang…Chỉ có đất rẫy trong rừng là trồng bắp.
Dì Bảy Thệ thấy lạ hỏi:
“Ủa sao lại trồng cái thứ gì lạ hoắc vậy mấy ông, lần đầu tiên tui mới nghe nói?”.
Chú Tư râu phẩy tay:
“Đàn bà con gái biết gì mà nói, đã nói để nhà nước lo mà, nhà nước thấy cái gì hay mới làm chớ, bà con làm đi, cuốc lỗ tỉa như tỉa bắp nhưng dày hơn”.
“Ừ, làm thì làm, nhà nước kêu sao làm vậy”.
Trong toán người có tiếng xì xào: “Xí cây bo bo này người ta trồng cho gia súc ăn mấy ông bà ơi”. “Ờ, thì trồng chia nhau về nuôi heo, nuôi gà”. “Nhà nước nói hay cha Tư này nói hông biết nữa”.
Trồng tỉa cũng chẳng khác mấy bữa dãy cỏ. Hột giống, phân cứ vung vương vãi, thoải mái khi không có ai, muốn cho mau hết sớm đặng mà nghỉ. Lúa có giống mới, giống 3A cao sản ngắn ngày, chỉ ba tháng là thu hoạch, chú Tư râu cười khà khà:
“Giống như vậy mới là giống chớ, cho sản lượng cao lại làm được hai vụ, tha hồ có dư dả”.
Hai anh em nó thay phiên nhau buổi đứa này học thì đứa kia dắt bò ra ruộng và ngược lại để cày. Thằng Hào giao cặp bò cho anh Ba Lễ, Ba lễ ngậm điếu thuốc lá Hoa Mai, mặt vểnh vểnh, nhìn trời coi bằng cái nắp vung:
“Mẹ, mày chăn bò kiểu gì mà ốm nhom vậy mậy, làm sao bò cày nổi”.
Thằng Hào có tánh ngang tàng, tụi nó đặt là Hào lỳ mà, nó đâu chịu thua, hất hàm hỏi lại:
“Ông chỉ chỗ nào có cỏ cho tui coi, nắng cỏ chỉ còn lên hông nổi lấy cái gì cho bò ăn”.
Ba Lễ chẳng thèm nhìn thằng Hào:
“Mấy tụi bây làm biếng thấy mẹ”.
Thằng Hào ghét cay ghét đắng anh Ba Lễ, anh Ba Lễ có bà con gì đó với ông chủ tịch xã nên trong danh sách đăng ký nghĩa vụ không bao giờ có tên, vài người nữa cũng vậy, cháu ông này con ông kia, bà con cô bác biết hết mấy vụ này nhưng không nói được, họ tức cho cái chỗ không công bằng nên nhiều lúc không muốn cho con mình đi, xúi đi trốn, chấp nhận ngày ngày lên xã. Thằng Hào trả treo :
“Ông làm biếng thì có, ở đây giỏi nói dóc sao không ngon đi bộ đội như anh tui, nhát như nhái, sợ chết còn bày đặt”.
Ba Lễ hằn học ra mặt cầm cây roi sóng rắn* (*rễ cây sóng rắn) sấn sấn lại trước mặt thằng Hào:
“Mày nói cái gì, mày nói ai nhát?”.
Thằng Hào đốp chát:
“Ông hông nghe hà, chắc ông bị điếc” – Nói xong cũng là lúc móc xong bò vào ách cày, vừa móc nó vừa nói tiếp: “Lớn còn ỷ cầm roi, giỏi ăn hiếp con nít”.
Ba Lễ miệng lẩm bẩm:
“Có ngày biết tay tao”.
Ba Lễ hụi bò đi, bò đi ba chớp ba nháng, dòm lại ba Lễ hét lên:
“Ê thằng chó kia, tao cày quanh tá mày móc bò quanh ví là sao hả mậy?”.
Thằng Hào cười xấc:
“Ông có nói hông tui biết, ông tự mà móc lại đi, nhớ lần sau cày kiểu nào phải nói trước kiểu đó nghen, kêu tui chó có ngày tui xua mấy con bạn tui nó cắn đừng trách ”.
Nó cười ha ha bỏ đi, Ba Lễ mặt hầm hầm tức tối nhưng không làm gì được.
Cày quanh tá là đường cày úp phải, úp vô bên trong ruộng, cày bên trong cày dần ra ngoài, bò đi quanh phải. Quanh ví thì ngược lại úp ra ngoài bờ, bò đi quanh trái, cày từ ngoài vô trong. Hai kiểu phải móc bò khác nhau, con nào thuận bên nào cày theo kiểu bên đó thì con này làm chủ dây mũi như dây cương ngựa. Bò đi thì hụi hụi, đi đi, muốn đứng thì kêu dò dọ, muốn qua phải cũng kêu tá tá, ví ví qua trái.
Những cơn mưa đầu mùa cỏ hức mọc lên ào ào. Bò cày cả ngày nên nó tranh thủ cho bò ăn thêm đến tối mịt, nó sợ “ông trời con” Ba Lễ làm khó dễ, nó không lỳ như thằng Hào, với lại thằng Hào có anh đi bộ đội nên nó chẳng sợ gì. Trời chập choạng tối đang cho bò ăn dọc bờ ruộng nó thấy thím Ba Mạnh cầm cái thúng giê đi băng băng, gặp nó thím hỏi:
“Má có nhà hông con?”.
Nó gật đầu:
“Dạ có, má con trong nhà”.
Nó cỡi bò về luôn. Thím ba mạnh đi vô nhà ở cửa sau, gặp má nó nói nho nhỏ:
“Chị Hai làm ơn cho em nượn ít khoai lang khô được hông chị Hai?”.
Má nó gật đầu:
“Được chớ, ngồi uống ly nước cái đã”.
Má nó rót ly nước cho thím Ba Mạnh, vừa uống nước thím vừa nói:
“Khổ quá chị ơi, nhà hết sạch rồi, mấy năm còn làm cho chị chớ năm nay thì…”
Má nó múc đầy thúng giê khoai lang khô hỏi:
“Mà còn gạo hông?”.
Thím Ba lắc đầu:
“Dạ, cũng hết trơn, cảm ơn chị nhiều nghen” – Thím Ba dợm đứng dậy đi về, má nó ngăn lại:
“Thủng thẳng chút đi làm gì gấp gáp quá vậy, để tui lấy cho ít gạo”.
Thím Ba huơ huơ tay:
“Thôi, thôi chị, chị cho mượn khoai là quý lắm rồi”.
Má nó ấn thím ba ngồi xuống:
“Có gì đâu, xóm giềng tối lửa tắt đèn có nhau, lấy ít gạo về nấu cho sắp nhỏ”.
Má nó lấy cái thúng lớn múc nửa thúng khoai lang, lấy cái thúng dê đổ trở lại rồi xúc đầy thúng dê gạo chồng vô cái thúng lớn:
“Khoai tui còn nhiều, bữa nào rãnh lấy cái gánh qua gánh về một gánh”.
Thím Ba rưng rưng:
“Dạ, nhưng chi mà nhiều gạo quá vậy chị, hông có chị tui hông biết chạy đâu, biết cảm ơn chị sao đây”.
Má nó lắc đầu:
“Ơn nghĩa gì hổng biết, thím về trời tối cẩn thận”.
Khoai lang khô bấy lâu nay hầm buổi sáng ăn dậm hay ngào đường ăn chơi giờ trở thành nón chính của rất nhiều nhà, ba bữa đều có hiện diện của khoai lang, sáng hầm không, trưa chiều độn với cơm, hết sáu bảy phần khoai, ăn nồng lỗ mũi, ngán đến nỗi chỉ cầu mong sao có được chén cơm trắng, chỉ cơm trắng chan với nước mắm, nước mắm kho mặn chát chứ chẳng cần nước mắm ngon, nước mắm nhỉ hay gì khác, chẳng cần thịt cá cũng là đã quá đủ. Sau này có người còn không dám nhìn lát khoai lang, có người còn lấy hình tượng lát khoai để nói đó là khoảng thời gian “lăn bánh xe lịch sử”.

***

Bobo, lúa lớn lên cũng được bón phân dãy cỏ, vun gốc như thường lệ, ấy vậy mà hổng hiểu làm cách gì mà nhiều chỗ bo bo, lúa lên tới đâu là cỏ lên theo gần như tới đó, bón phân ra sao mà chỗ thì lên cao ngùn ngụt, chỗ vàng hoe thấp lè tè lên không nổi để cả cỏ vượt qua. Rồi lại thêm xuất hiện đâu đám cỏ ống, củ gần giống củ gừng ăn sâu và đâm rễ giống rễ tranh lan chằng chịt dưới đất, ngóc đầu lên là lớn nhanh ào ào, cỏ ống sống dai dễ sợ, củ đào phơi nắng chang chang cả mùa vậy mà chỉ cần một cơn mưa xuống là nó sống dậy, nức ngọn phóng tới như phi lao. Loại cỏ này lan đầy đất trồng bo bo nhà nó và mấy miếng ruộng với một số nhà nữa, không ai biết nó từ đâu ra.
Nghỉ hè nó cỡi cặp bò vào rẫy bắp giữ chung với chú Ba Mạnh, vừa có chỗ cỏ nhiều cho bò vừa phụ giữ rẫy. Ba nó chặt cây tre lớn hơn bắp vế làm thành cái bọ cạp, cây tre lớn chẻ làm đôi, một nửa ở dưới cố định, nửa ở trên một đầu chốt giữ phía dưới, đầu trên cột sợ dây dài vô trong chòi, kéo sợi dây đầu trên đi theo thả ra nó đập xuống miếng dưới, do cây tre bọng ruột nên tạo ra tiếng kêu rất lớn để đuổi chim chóc thú rừng. Phá nhứt là mấy con khỉ, kéo từng đàn vô quậy, bẻ cây bứt lá chơi, có con còn khè khè trêu chọc cả với người, còn những người đã từng làm rẫy nói lại tới mùa bắp chín không khéo giữ, hù dọa cả đêm bằng bò cạp, hay rào không kỹ dễ làm mồi cho cả bầy heo rừng, heo rừng mà càn qua chỉ một đêm coi chừng cả rẫy đi tong. Ba nó và chú Ba mạnh vài ba bữa là lại vào chặt thêm chà gai tre tấp vào hàng rào, bắp đã lớn trổ cờ rồi, đất rẫy mới làm có một hai mùa nên còn tốt, cỏ cũng ít nên bắp xanh rì.
Nó vòng* (*cột) cặp bò trước cửa rẫy để đi một vòng xung quanh coi có chuyện gì xảy ra không. Khi trở lại thì chỉ còn mỗi con Đạm, còn con Pháo đâu mất tiêu chỉ còn sợi đây cột mũi. Nó quýnh quáng chạy lung tung đi tìm một hồi chẳng thấy đâu, quay trở lại thì nghe xào xạc bên trong rẫy, chạy vào trong con Pháo đang đứng gặm cây bắp ngon ơ, nó vừa ăn vừa dẫm đạp hết một mảng lớn. Người nó run lên bần bật, mếu máo nhào vô chụp mũi bò vừa bẩm bẩm: “Chết chắc tao rồi, mày giết tao rồi”. Con Pháo ngang bướng chớ không như con Đạm hiền lành, thấy nó lúc lắc đầu với cặp sừng nhọn hoắc tung chạy ra ngoài rồi phóng như bay theo đường về nhà. Nó báng sống báng chết lao theo bất chấp cỏ le cao phủ cả người, nhiều loại gai góc tủa ra trên đường đi, không cần biết tránh né gì, mặc chúng cào xé. Nó cứ để con Đạm ở đó rồi tính sau, chớ con Pháo không thấy nó đuổi theo dọc đường về gặm sạch lúa thì đâu còn gì nói nữa. Con Pháo chạy mệt đủng đỉnh chạy chậm lại, nó vừa tới gần lại phóng như bay tiếp, cứ vậy chạy thẳng về nhà…
hai đứa con gái chằn lửa. Tới đây thì bó tay, nó không dám vào để xin bò, chỉ còn cách bấm bụng về nhà quỳ xuống mà kể lại câu chuyện. Ba má nó nghe xong cũng điếng hồn, chạy ngay vô xin lại bò. Hai đứa chằn lửa hả hê ra mặt:
“Bộ dễ ăn cướp lắm hả, bò nó đâu có ngu”.
Ba hai đứa ra la lớn:
“Hai đứa bây hỗn hào quá nghen, đi vô nhà, chỗ người lớn nói chuyện”.
Ba nó năn nỉ”
“Anh Sáu thông cảm thằng nhỏ nhà tui nó lơ đễnh, nó chăn bò hông tốt, anh Sáu tha cho lần này”
Chú Sáu Tình hỏ nhẹ:
“Không có gì đâu anh, con này nó hung lắm tui biết mà, nó sút mũi hoài chớ gì, thôi anh cho cháu dắt về đi”.
Trở lại rẫy con Đạm vẫn còn gặm cỏ, nó mừng húm, coi kỹ lại dây cộ hết, trong khi chờ đợi nó chặt và vót sẵn cây roi tre, chuẩn bị cho trận đòn mà tưởng tượng chắc chắn không hề nhẹ.
Trưa ba nó và chú Tư râu cùng ông Sáu Hoàng ôm cặp táp thêm chú du kích đeo súng nữa vô tới rẫy. Nó bần thần hết cả người. Chú Tư râu đi kiểm tra hết rồi quay lại chỗ bị bò ăn, chú nói lớn:
“Chỉ bị chỗ này mà cũng nhiều quá, phải chi ít ít tui bỏ qua, anh Sáu lập biên bản đi, đếm bao nhiêu gốc rồi tối hợp bà con lại xử lý, còn anh Hai phải coi rẫy cho kỹ chớ, dặn tụi nhỏ làm ăn đàng hoàng, làm ăn như vậy đâu có được”.
Lập biên bản xong ba người ra về. Tiễn ba người ra về ba nó ngồi ngay cổng rẫy chống cằm nhìn xa xăm không nói tiếng nào làm nó càng thêm sợ, phải chi la mắng nó tới tấp, kêu lấy roi oánh cho một trận còn dễ chịu hơn, đợi một hồi lâu chẳng thấy động tĩnh gì, nó làm liều đem cây roi lại kề bên, ba nó cầm cây roi nhịp nhịp, rồi kêu:
“Con ngồi xuống đi”.
Nó thấy lạ mon men lại ngồi xuống kề bên:
Ba nó vừa xoa xoa đầu tóc nó và nói nhè nhẹ:
“Con còn nhỏ chưa hiểu hết chuyện đời, kệ họ nói gì thì nói nghe, cái nào đúng thì mới nghe, con đâu có tội tình gì, nhưng từ nay về sau làm cái gì cũng phải cẩn thận nghe con”.
Nó ứa nước mắt, nãy giờ nó sợ ba nó không tin, nó lý nhí:
“Dạ”.
Hai cha con ngồi như vậy khá lâu, mặt trời qua xế chiều ba nó mới ra về. Nó ngồi một mình nhìn những đàn chim lục tục kéo nhau bay về tổ, chim chóc vừa bay vừa hót líu lo trên bầu trời chuyển dần màu vàng vàng, màu rất đẹp nhưng sao thấy man mác nỗi buồn.
Không chờ tiếng kẻng, vừa lua vội cho xong chén cơm ba nó đi tới nhà ông Sáu Hoàng chờ hợp liền. Nó len lén chạy theo sau. Chập sau chú Tư râu mới tới rồi oánh kẻng.
Bà con tập hợp đông đủ, chú Tư râu thông báo lý do có cuộc họp đột xuất ngày hôm nay, chuyện bò nhà nó giữ không kỹ càng ăn đễ sổng đi ăn bắp. Sau khi chú Tư râu nêu lý do xong nói tiếp:
“Bây giờ anh Hai tự kiểm điểm đi và cho hình thức kỷ luật luôn”.
Ba nó đứng dậy:
“Dạ thưa đại diện hợp tác xã, chú Tư anh Sáu và bà con, tui thiệt tình có lỗi lớn đã để xảy ra sự cố đáng tiếc này, đây cũng là bài học lớn cho tui… – nó thấy chú Tư ngồi gật gật đầu, ra điều vậy là tốt biết ăn năn hối cải – Ba nó tiếp: Tui tự ra hình thức kỷ luật như vầy, bò tui giữ lỡ ăn mất hai trăm gốc bắp, một là tới mùa tui sẽ đền lại đúng số trái, hai là trừ đi công điểm chăn bò”.
Chú Tư râu hỏi:
“Bà con ý kiến sao? tui thấy đền cho gọn”.
Chú Sáu Tình đứng lên:
“Vậy thiệt cho anh Hai lắm, bây giờ bà con còn có hai sào đất, mần được bao nhiêu, tui đề nghị trừ một tháng công điểm”.
Chú Ba Mạnh đưa tay lên:
“Tui đồng ý”
Chú Ba bừa cũng giơ tay:
“Tui theo anh Sáu Tình và chú Ba Mạnh”.
Bà con cũng râm ran theo: “Vậy đi, được đó”. “Đền bắp chắc đói nhăn răng quá!”.
Chú Tư râu phải chiều theo ý bà con nhưng chú tỏ ra không vui. Ba nó nói tiếp:
“Cảm ơn bà con, còn chuyện này nữa, tui nhận thấy mình hông làm tròn trọng trách đội và hợp tác xã giao nên xin giao lại cặp bò, trả về chủ cũ là đúng nhứt”.
Chú Tư gật gật đầu:
“Vậy cũng được, bà con thống nhứt chớ”.
Chú Sáu Tình nhìn ba nó, chú không ngờ ba nó lại làm như vậy. Bà con thì im lặng, không ai nói gì cũng không có ai phản đối. Chú Tư tiếp:
“Thôi vậy đi, kết thúc cuộc hợp”.
Nó là đứa vui nhứt, đã không bị trận đòn còn chỉ bị trừ điểm một tháng chăn bò thôi.
Sáng hôm sau dắt cặp bò qua nhà ông Sáu Hoàng, hai chị em chằn lửa đã có mặt nhưng tươi cười chớ không gầm gè thấy ghét, chú Sáu Tình quàng vai ba nó vỗ vỗ:
“Tui hông có trách gì anh Hai đâu nghen, tụi nhỏ nó chưa hiểu biết nên đôi khi nói bậy bạ, anh Hai có gì bỏ quá cho”.
Ba nó cười:
“Tui cực chẳng đã mới nhận, bây giờ được gởi lại cho chú tui mừng lắm rồi, ủa mà sắp nhỏ nó nói gì… ơi mà tụi con nít với nhau chấp nê gì anh”.
Đưa sợi dây mũi bò cho hai nhỏ chằn lửa, hai đứa cầm lẹ rồi phóng tót lên lưng bò như sợ bị giựt lại, sợ rời khỏi tay lần nữa, hai đứa thúc giò vô hông kình kịch cho nó đi nhanh, chợt nơi sống mũi nó cay cay, mới mấy tháng với cặp bò mà thấy bịn rịn, không muốn rời xa và chợt hiểu ra, hai con nhỏ chằn lửa bực tức là phải, bao nhiêu năm chăm sóc cặp bò từ nhỏ xíu cho tới bây giờ. Mái nhà, ruộng rẫy vườn tượt của bà con cũng vậy, gắn liền với công sức, với tấm lòng chất phát, chân thật của bà con nông dân vô cùng.

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

CƠN GIÓ MANG HỒN TUỔI THƠ (TT)

ledachoanghuu

Đầu tháng tám lịch Ta là đầu tháng chín lịch Tây trời vẫn còn mưa nhiều. Má nó đi chợ thị xã về mua rất nhiều đồ đạc, tập vở, cặp táp, giày dép, quần áo mới cho hai anh em nó, vừa về tới nhà là lục ra liền rồi kêu hai anh em mặc thử, cái áo trắng tinh và cái quần sọt xanh thiệt là đẹp và rất vừa vặn, hai anh em thích ghê nơi.
Sáng mùng năm tháng chín hai anh em được má chở trên chiếc Mobylette đi khai giảng đầu năm học. Vậy là bắt đầu được đi học lại. Nó tiếp lớp bốn còn anh nó lên lớp sáu, trường xa hơn má nó phải đưa đi đưa về.
Nó có bạn bè mới, nhà trường mới và học cũng có mới. Không giống hẳn như ngày còn học ở Sài Gòn, nó được học tập đọc, viết chính tả, tập làm văn, không còn học môn công dân giáo dục mà thay bằng môn đạo đức, học địa lý, lịch sử… Được cho học thuộc lòng Đất Nước ta giàu và đẹp với rừng vàng biển bạc, đất quê ta mênh mông, phì nhiêu, dân nước ta anh dũng, thông minh, cần cù chăm chỉ… Môn lịch sử nó được học về các trận đánh đuổi thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bè lũ Ngụy tay sai… Những trận đánh quân ta tiến công như vũ bão, mưu trí đánh tan tác hàng chục hàng trăm xe tăng máy bay, tiêu diệt hàng ngàn tên địch. Được học những gương anh hùng nhỏ tuổi gan dạ kiên cường trong chiến đấu…
Với nó được đi học trở lại là nó rất vui, không gì tả bằng! trường học cách nhà hai cây số, cứ lững thững bộ hành đi về cùng bạn bè lối xóm.
Đi học một buổi sáng, buổi chiều chủ yếu là đào trùng làm mồi cắm câu và câu cá, chỉ quanh quẩn những cái búng cái bàu gần nhà, nhứt là mấy sào ruộng nhà nó, lúc này ruộng lúa bắt đầu đồng đồng nên cá rất nhiều, nhiều nhứt là cá rô, có cá trê và cá lóc nhưng ít thôi. Những buổi chiều như vậy thiệt là khoái chí, anh em xách từng xâu cá về cho má, ăn chưa hết rộng đầy cả cái khạp nước. Ốc và cua thì nhiều vô kể, bắt loại này đỡ hại cho lúa lắm bởi nó phá ghê nơi, ốc dạt sát bờ ruộng cứ men theo mà lượm, cua bắt khó hơn và đôi lúc phải mò vô hang. Bắt cua trong hang có khi còn tìm được lỗ mọi, lỗ ngay bờ ăn sâu dưới đất thông ra ngoài khó thấy được, làm nước chảy hết trong ruộng mang theo cả phân bón nữa, còn khi nước đầy quá mà muốn xả bớt đi, cuốc cái lỗ ngang bờ cho nước chảy ra người ta kêu là lỗ trổ, xả xong nước theo ý là đấp lại như cũ. Khoảng hai ba ngày là anh em nó lại lượm và bắt được lưng lưng nửa thùng gánh nước ốc và cua. Cua ốc luộc lên thôi là ăn đã ngon chứ chưa nói tới những món xào nấu, thêm những bữa rảnh rỗi má nó giã cua nấu nồi bún riêu cua ốc ăn mê tơi.

***

Gần cuối tháng mười Ta là thu hoạch đậu và khoai mùa sau, trúng mùa cũng không kém mùa bắp khoai vừa qua. Đậu xanh đậu đen hái trái phơi khô rồi đập hay dùng chân đạp để tróc vỏ mà lấy hột bên trong, đậu phộng thì nhổ lên lặt và phơi khô. Anh em nó phụ lặt đậu phộng, nhưng phụ lặt đủ để đem đậu tươi luộc ăn chơi, ăn tới nồng lỗ mũi.
Trời đã ngớt mưa, chỉ còn lưa thưa vài cơn mưa nhỏ. Sắp sửa kết thúc mùa mưa. Lúa tới lúc hột no sữa thì trổ lỗ trổ xả hết nước. Ngay mấy lỗ trổ ba nó đặt mấy tấm lưới, nước đổ dồn về đây, cá đi theo bắt được khá nhiều, nhưng nhiều phải kể là tép, tét nhiều đến nỗi búng nhảy lấp lánh dưới ánh nắng thấy từng mảng, từng vệt nhìn rõ ràng, bắt được đầy rổ bọng, rổ bọng to như cái thúng lớn, nan đan thưa hơn và bằng cật tre chớ không như thúng mủng, tép xào ăn liền ngọt sớt, còn dư làm cả khạp mắm tép nữa.
Xong đậu khoai là lúc lúa chín, những bông lúa nặng trĩu vàng rực tỏa hương thơm lừng, những buổi chiều nắng vàng tỏa xuống lúa càng óng ánh, có những chỗ lúa trĩu nặng thân cây đỡ không nổi nên ngã rạp xuống hết. Ba nó và mấy chú đầm cái sân cạnh ruộng, trên miếng đất trồng đậu vừa xong để gặt lúa phơi cho gần. Lúa nhiều gặt tới mấy bữa, lúa cắt khúc ngắn bó thành từng bó chất trên sân mướn cặp bò để đạp chớ không cắt dài mà đập bồ lâu công hơn. Lúa gặt chưa gom kịp bỏ đầy đồng mấy bữa chẳng xê dịch nhúc nhích chút nào, mà nói chi lúa ngoài đồng, cây trái ngoài vườn, nhà nhiều lúc cửa mở toang hoát cả ngày đêm chẳng có ai coi cũng hề gì, có người đi ngang còn khép cửa lại dùm.
Đêm rằng sáng trăng, tranh thủ buổi tối gió mát cho bò đạp lúa. Hai anh em nó và mấy đứa bạn chòm xóm, bạn học thay phiên nhau cầm roi đi sau cặp bò quất vào mông cho nó đi vòng tròn đạp lên những bó lúa chất cũng thành vòng tròn cho hột lúa rã ra rồi quây quần bên nồi chè bự tổ chảng của má nó nấu. Ba nó và mấy chú trong lúc chờ cho lúa rả hết, cũng khá lâu, chừng hai tiếng đồng hồ một nhã (một lần) lấy cái gãy xốc lúa ra lúa rạ ra rạ thì ngồi lai với xị đế, mồi mỡ cũng hương đồng gió nội, trái bí trái bầu hấp cá, trái mướp xào lòng gà vịt…Chú Tư râu nói mà như hỏi:
“Xong lúa vậy là coi như hết việc anh Hai hén”.
Ba nó chưa kịp trả lời thì chú Ba Mạnh, người phốp pháp, nhìn to khỏe như con trâu, đúng y cái tên Mạnh, tụi con nít mới nhìn là sợ phát run, chú cứ như ông Trương Phi chỉ thiếu bộ râu, ấy vậy chú lại ít nói và hiền khô như cục đất, thật thà như gốc rạ, chú hỏi nho nhỏ:
“Ủa, vậy khoai mì anh Hai đào một mình hả, hổng kêu tụi tui nữa hà?”.
Chú Tư râu tiếp lời:
“Thì còn có khoai mì, ảnh rỉ rả đào mươi bữa nửa tháng là xong, cần gì nhiều công”.
Chú Ba Mạnh không nói gì chỉ thấy thoáng buồn hiện lên trên nét mặt. Ba nó nâng ly rượu xây chừng:
“Nè, uống cạn cái nè”.
Ực cạn ly rượu ba nó chậm rãi:
“Mấy chú cứ lo, tui lại đang sợ hông đủ sức mà làm”.
Chú Ba Mạnh mặt giãn ra, chú hớn hở như trẻ con:
“Có việc hả anh, anh nói nghe chơi”.
Ba nó tiếp:
“Vụ khoai mì anh em tiếp tục phụ tui, xong nhờ thêm mấy chú nữa chớ dễ có nghỉ, nhờ mấy chú cùng tui vô rừng kiếm mớ cây, mớ tranh, tre thì sẵn đây” – Ba nó đưa tay chỉ mấy bụi tre cuối đất, nói tiếp: “tui tính làm thêm hai cái chái bên nhà chớ chật chội quá rồi đâu đủ chỗ để đồ”.
Chú Ba Mạnh cười hề hề, tiếng cười của chú nghe cũng hiền khô. Chú Tư râu cười lớn:
“Đúng rồi, anh Hai phải làm thêm chớ, lúa má, bắp trái để ở đâu, hổng chừng còn phải làm thên căn nhà lớn ăn ở tiếp khách, căn nhà này để làm bếp và kho chứa đồ”.
Ba nó cũng cười:
“Tui cũng dự định vậy nhưng chưa nổi đâu chú, nếu rảnh rỗi thì cứ kiếm dần dần, bộ cột, bộ kèo, đòn tay, cặp trính… tới đủ thì làm luôn, mấy chú cũng tính từ từ như vậy là vừa”.
Chú Ba Mạnh gật gù, đưa ly mời ba nó:
“Anh Hai nói có lý, kiểu gì cũng phải có cái nhà đàng hoàng”.
Đạp xong hai nhã lúa thì ba nó kêu nghỉ ngơi, còn bao nhiêu mai mốt làm tiếp. Nồi chè của tụi nó cũng sắp cạn, tụi nó xúm một lượt nữa là cạn queo luôn rồi rã đám hẹn mai đi học gặp lại.

***

Gặt hết lúa ba nó mướn chú Ba bừa cày ải đất để mùa tới. Kêu là chú Ba bừa mà chú cày luôn, chú có hai cặp bò chiến lắm, và thêm cỗ xe nữa, ai cần chở gì nhiều đều kêu tên chú. Cày đất xong lúc ngồi nhâm nhi với ba nó chú hỏi:
“Anh Hai nè, đất anh tốt, mùa này mưa nhiều còn giữ ẩm lâu sao anh hông làm luôn vụ đậu phộng trái mùa?, coi vậy chớ ngon ăn lắm chớ hông có giỡn đâu nghen”.
Ba nó gật đầu:
“Cảm ơn chú, tui biết nhưng sức lực có hạn chớ tham quá hổng được, hổng chừng thâm luôn, tại còn nhiều việc khác”.
Chú Ba bừa chặc lưỡi:
“Tiếc quá anh, tui thấy đất đẹp vậy mà”.
Ba nó chợt nảy ra sáng ý, chỉ chú ba Mạnh:
“A, mà nè hay chú Tư và chú Ba làm đi, khoai mì để tui từ từ đào, làm xong rồi phụ tui làm chái nhà”.
Chú Tư râu chần chừ:
“Nhưng tụi tui đâu đủ vốn liếng…”
Ba nó ngắt lời:
“Có gì đâu nè, đất đó cày rồi giờ bừa là xong, làm được bao nhiêu thì làm, còn phân giống tui cho mượn, chừng nào khá trả lại tui”.
Chú Ba Mạnh sáng mắt lên:
“Thiệt vậy hả anh?”.
Ba nó vỗ vai chú ba Mạnh:
“Thì vậy đi chớ thiệt với giả gì nữa, mai chú Ba bừa cho tui luôn nghen”.
Chú Ba bừa gật đầu:
“Anh tính vậy còn gì bằng, sẵn tui nói luôn, tiền công bừa coi như khỏi tính, cho hai chú, vụ bừa là có Ba bừa này”.
Chú Tư râu trợn mắt:
“Vậy sao đặng, cái nào ra đó, anh cứ tính bữa nào có tiền tụi tui trả”.
Chú Ba đưa ly:
“Uống đi, nói gì đâu hông, anh Hai có tính toán gì hông, tui bừa giúp hai chú một ngày có đáng bao nhiêu, thu hoạch có dư làm bữa nhậu là huề cả làng” – Chú Ba bừa cười khà khà, ba nó cũng gật gật cười khà khà theo.
Chú Tư râu và chú Ba Mạnh trồng được mỗi người hai sào ruộng đậu phộng, đậu phộng lên xanh tốt tuy không bằng đúng mùa như nhà nó trồng. Trong lúc đó ba nó đào khoai mì. Khoai mì để củ tươi được lâu, hai ba tháng nên nhà nó giữ lại một đống để dưới gầm phản, sáng sáng luột ăn dần, khoai mì chấm muối đậu ngọt ngọt dẻo dẻo và bùi bùi. Má nó kêu người bán cũng nhiều còn một phần thì lột vỏ xắt lát phơi khô để xay thành bột, bột khoai mì làm nhiều thứ, làm bánh khoai mì, bánh quai vạt, nấu chè…
Ba bốn ngày sáng sớm ba nó và chú Ba Mạnh cùng chú Tư râu vác rựa, vác cưa, quẩy cơm nước nước đi tới chiều tối mới về. Rồi ngày nữa chiếc xe bò lọc cọc của chú Ba bừa xuất hiện, trên xe chất đầy những bó tranh, bên dưới là những cây dài có cây to hơn bắp vế, cây to bằng bắp tay người lớn. Lấy cây to làm cột, cây nhỏ làm kèo và đòn tay, chặt tre phía sau nhà chẻ hom để đánh tranh thành từng tấm lợp và lạt để cột, vài ngày sau là thành hai cái chái rộng rãi hai bên nhà. Anh nó nằm ngửa nhìn chái nhà hỏi nó:
“Ê, mày biết cây này kêu cây gì hông?”.
Nó cười ha hả, trả lời đúng phóc, nó lẽo đẽo theo nghe ba nó và mấy chú trò chuyện biết liền mà, trả lời:
“Tưởng chuyện gì dễ ẹt, em biết rồi đó là cây bằng lăng, trúng phóc đúng hôn?”.
Anh nó ký đầu nó cái cóc:
“Hay quá ha, cây bằng lăng vỏ trắng, cây này là căm xe nghe chưa”.
Ba nó đặt bác Chín ở xóm trong làm cái cối xay lúa đem về để bên trong cái chái, kề bên quây mấy tấm mê bồ thành hình trụ tròn đổ lúa vô kêu là cái bồ lúa. Bác Chín chuyên làm cối xay lúa nên mọi người kêu là bác Chín cối xay. Bác làm ai cũng nói là nhứt, làm một cái cối mất cả tháng, cối xay lúa cách xay và kiểu cũng tựa như cối xay bột gạo bằng đá nhưng to và cao hơn nhiều, có cái cần dài dứng cầm xay. Cối đan bằng nan tre, bên trong đổ đất sét cứng, tạo các răng lượt bằng những miếng gỗ mỏng, bên ngoài trét cứt trâu để bít kẻ hở và cho bền. Ba nó cũng đặt làm cái cối giã gạo đạp chân, đặt ở chỗ chú thợ mộc để trong cái chái này luôn. Lúa xay xong lấy cái nia sẩy hay cái thúng nhỏ mà giê, cũng kêu là thúng giê, nhờ gió cho bay hết trấu, còn gạo lứt đem giã rồi giừng sàng gạo trắng ra gạo trắng, lúa sót chưa tróc vỏ ra lúa, cám ra cám. Cám để dành cho heo gà vịt.
Làm xong hai cái chái ba nó với hai chú tiếp tục đi lấy củi nhưng chỉ lấy về đủ chụm chớ không có thời gian làm đem bán nữa, cũng nhờ chú Ba Bừa chở xe bò về, mấy xe chất đầy sau nhà. Tới giữa tháng chạp, ba nó chặt kèm về mấy cây mai to, gốc bự hơn cái bắp vế, gồ gề sần sùi nhìn độc đáo. Ba nó đốt lửa thui gốc trồng vô chậu, lá thì lặt hết, cột cành uốn cong qua lại.
Chuẩn bị Tết năm nay má nó chuẩn bị cũng từ rất sớm, làm bánh mứt và đóng cốm, cốm và bánh in là nhiều nhứt. Cốm đóng từ nổ rang lúa nếp bung ra, ngào với đường đóng thành hộc, nổ má nó đổi lúa mà lấy, bánh in cũng làm từ nếp nhưng xay ra thành bột trộn với bột đậu xanh rồi cũng ngào đường đóng khuôn. Ba nó nói sang năm để hẳn một sào ruộng trồng nếp than, nếp than thơm lựng ngon nhứt trong các loại nếp, có cái để Tết và có nếp nấu xôi, và cả nấu rượu nếp than nữa. Hai mươi tám Tết mấy chú kéo nhau qua phụ mần một con heo đã gần cả tạ, để ở nhà gần một nửa con, cái đầu cúng tạ trời đất còn hơn nửa con chia xóm giềng, có ba phần đặt biệt là chú Chín, chú Tư râu và chú Ba Mạnh. Xóm giềng của ít lòng nhiều, ai có gì thì đem chia nhau một ít mà xài, nấu nồi chè dù nhỏ xíu cũng bưng một chén qua ăn lấy thảo.
Đến Tết, mai ra búp xanh non đầy cây, nở bông vàng rực rỡ, chậu to được đặt trước nhà thiệt là đã mắt, bên trong là chậu vừa vừa treo lủng lẳng những tấm thiệp xuân. Tết năm nay vui hơn năm trước nhiều, nhà cửa đông đúc, người lớn đi chúc mừng xóm làng rôm rả, thanh niên và con nít đổ cả ra đường cái từ xóm trong tới xóm ngoài, có tiền rủng rỉnh xúng xính quần áo mới chơi bầu cua cá cọp, ba hột xúc sắc xốc xốc dở dở. Pháo nổ đì đùng liên hồi, bắt đầu từ ngày đưa ông Táo lận rồi lai rai mỗi nhà cúng Tất niên sớm trễ, tới Giao thừa thì pháo nổ rần rần, sáng mùng một cũng nổ nhiều rồi từ từ ít dần cho tới cỡ mùng mười. Ở thôn quê pháo nổ vang xa cả vài cây số vẫn nghe, cứ nghe tiếng pháo là chộn rộn thấy không khí Tết đến rất háo hức, nhứt là đám con nít tụi nó, nhiều thằng nghịch tặc bày nhiều trò, làm pháo tên lửa, thăng thiên bay chéo chéo, đốt pháo hù nhiều cô gái, và nhứt là cắm viên pháo lên bãi cứt trâu còn nhão đốt rồi lấy cái lon sữa bò đậy lại, pháo bị ép nổ bung cứt trâu bay tứ tán, dính bê bết áo quần những cô nàng xinh đẹp đi chơi Tết thiệt là chỉ muốn khóc…

***

Hai năm sau, năm 1977 và 1978 trôi qua gần gống như năm 1976. Nó lên lớp sáu và đi học xa hơn, cách nhà bốn cây số, được ba mua cho nó chiếc xe đạp mini đạp đi về. Chỉ vài sự việc xảy ra ở làng xóm trong hai năm này.
Đó là một lần vừa đi học về, nó thấy mấy chú công an, xã đội và du kích tay áo quấn băng đỏ, bồng súng chạy ầm ầm bao vây nhà thím Bảy Hảo bán quán, chú thím Bảy chỉ biết đứng run cầm cập, mặt mày tái lét, không nói nên lời nào. Mấy chú này cũng chẳng nói gì nhiều, một số người nhào vô lục lọi khắp nhà, dở tung hết đồ đạt lên, cả mấy cái giường ngủ, một người chừng là đứng đầu nhóm nghiêm mặt hỏi:
“Bà là cháu ông Sèn ù phải không?”.
Thím Bảy lắp bắp:
“Dạ…dạ, dạ chồng tui mới… mới là cháu ổng, mà bà con xa lắc xa lơ…”.
Người đàn ông hỏi tiếp:
“Xa gần gì cũng là bà con, ông bà có giữ gì của ổng gởi không?”.
Thím Bày lí nhí:
“Dạ, đâu có giữ gì, mà mấy chú tìm cái gì?”.
Người đàn ông trừng mắt:
“Chú cháu gì ở đây, chỗ làm việc bà phải nói là cán bộ nghe không”.
Thím Bảy gật đầu lia lịa:
“Dạ, dạ, dạ thưa cán bộ”.
Người xưng là cán bộ nói tiếp:
“Tui hỏi một lần nữa thôi nghe, bà phải thành thật khai báo, bà dấu diếm mà tụi tui lục soát được là bà chết đó”.
Thím Bảy rưng rưng:
“Dạ, thưa cán bộ tui đâu có dấu cái gì, tui nói gian… ra đường xe cán…”.
Người cán bộ ngắt lời thím Bảy:
“Thôi, thôi, thề thốt gì, tào lao quá đi, thời buổi này là thời buổi gì còn thề thốt, thời mới bây giờ là chỉ tin vào chính quyền thôi nghe không?.
Thím Bảy dạ răm rắp, người cán bộ ra lịnh cho cấp dưới:
“Đồng chí Mừng lấy máy đi rà hết cho tôi, rà trong và vòng vòng xung quanh nhà luôn, không được bỏ xót chỗ nào”.
Người có tên Mừng đứng nghiêm trước mặt người cán bộ:
“Báo cáo đồng chí, rõ” – và đi lấy cái máy rà, rà như người cán bộ nói, rà xong hết quay lại chỗ người cán bộ: “Thưa đồng chí, đã rà kỹ rồi nhưng không thấy gì hết”.
Người cán bộ lộ rõ vẻ bực mình chửi đổng:
“Mẹ kiếp cái thằng Ba Tàu Sèn ù này không biết nó tẩu tán tài sản ở đâu, tìm thấy mẹ vẫn không ra” – Một hồi sau ra lịnh tiếp: “Thôi rút”
Một người trong toán hỏi:
“Còn mấy cái bao này tính sao đồng chí?”.
“Thì tịch thu đem về xã chớ sao, vượt quá quy định buôn bán lẻ”.
Toán người vác hai cái bao lên mấy chiếc Honda 67 nổ máy chạy đi. Má nó chạy qua nhà thím Bảy, lính quýnh hỏi:
“Họ có lấy gì hông vậy?”.
Thím Bày còn hồi hộp, nói nho nhỏ:
“Chỉ lấy hai bao mấy đồ linh tinh thôi chị, may quá tui gởi bên vườn nhà chị chớ hông là tiêu hết rồi, với lại họ chủ yếu tìm vàng vòng của ông Sèn ù, chú chồng tui, ông này đi đâu rồi, tài sản ổng chẳng biết ra sao, họ nghi ngờ gởi ở chỗ tui”.
Má nó à lên:
“Thì ra là vậy, nghe đồn là đang chiến dịch oánh tư sản”.
Thím Bảy gật đầu:
“Đúng rồi đó, nghe đâu dưới thị xã nhiều hãng nước mắm, nhiều xưởng đông lạnh, khách sạn, rạp hát hay nhà làm ăn lớn đều bị tịch thu hết rồi, bây giờ nhà nước quản lý”.
Thím Bảy lấy đồ dấu ở sau vườn nhà nó về, cất kỹ sau nhà, không treo nhiều đồ trước nữa, mà cũng mấy thứ linh tinh, xà bông, bột ngọt, đường và mắm muối mà người ta nói bây giờ không cho tích trữ. Còn ông Sèn ù là người nổi tiếng giàu có ở thị xã, ông có nhà vườn cách nhà nó khoảng cây số nhưng biết vậy chớ chưa bao giờ thấy ông ở đó từ ngày nhà nó về đây. Trước bữa lại lục soát nhà thím Bảy, toán người này cũng đã lục soát nhà ông Sèn ù rồi sau đó niêm phong nhà luôn.
Một tuần sau cái ngày lục soát, toán người cũ quay trở lại trên chiếc xe lam, họ dẫn giải chú Bảy đi đâu không rõ, không ai biết kể cả vợ con chú, biệt tăm biệt tích khoảng chừng sáu tháng sau thì chú Bảy lủi thủi một mình trở về, nhưng kể từ đó về sau cũng không ai biết điều gì xảy ra bởi chuyện này nửa lời chú cũng không hé môi, ai hỏi chú liền lảng qua chuyện khác.
Trong hai năm này lâu lâu nó lại thấy những chiếc xe Molotova nối đuôi nhau thành đoàn dài hơn cả cây số chạy từ hướng Sài Gòn ra hướng bắc, tới khoảng xóm nhà nó thường dừng lại, xin nước dân làng nấu nướng nghỉ ngơi qua đêm, hỏi xe chở gì mấy chú này cũng không rõ chỉ biết chở chiến lợi phẩm từ miền Nam. Mấy chú thường hay hỏi mua khoai lang khô của bà con đóng bao chở về, có bao nhiêu muốn bán cũng mua hết, mấy chú nói ngoài đó khan hiếm hàng hóa mua về bán kiếm thêm chút tiền lời. Những chiếc xe Molotova nổ máy bằng cách đút cái cần bằng sắt trước đầu xe mà quay bần bật, chạy xình xịch chầm chậm.
Rồi thêm những lời đồn ra đồn vào, đồn nghe ớn lạnh cả người lớn chớ không chỉ trẻ nít như tụi nó, như ai để móng tay dài hay sơn móng tay là sẽ bị chính quyền rút móng, ăn mặt như dân híppy áo dài phủ đít quần ống loe sẽ bị lấy kéo sởn ngắn, xẻ toạt ra, tóc tai cũng vậy phải để gọn gàng, ở sau ót hớt cao lên ba phân, phía trước chắc chắn là cắt ngắn rồi, cấm có phủ có che. Và nhứt là lời đồn làm bà con hoang mang là sẽ có chính sách đổi mới làm ăn.
Giữa năm 1978 thì có hai chiếc xe cam nhông tới bên nhà chú Chín chở hết đàn bò đi, chú Chín về thị xã mấy ngày sau trở lên, chú qua nhà nó ngồi uống rượu vừa chập tối, ba nó hỏi:
“Vậy là mấy đứa nó quyết định bán hết bò” – Ba nó ý nói mấy người con ông chú của nó. Chú Chín gật đầu:
“Dạ, bán hết rồi anh”.
“Còn nhà cửa đất cát thì sao chú?”.
Chú Chín thở dài:
“Thì để đó chớ sao anh, bây giờ đâu có bán được, ai mà mua, người ta đang chờ chính sách mới”.
Ba nó chau mày:
“Chẳng biết chính sách mới thề nào, chỉ nghe đồn đoán không, mệt thiệt”.
Chú Chín lắc đầu:
“Tới đâu hay tới đó chớ biết sau được anh ơi”.
Ba nó hỏi tiếp:
“Chú nhứt định phải đi?”.
Chú Chín giọng buồn buồn:
“Dạ, chớ đâu khác được, bò bán hết rồi, tui đâu coi sóc gì nữa, tui cũng đâu có nhà cửa đất cát gì ở đây, đi vô chỗ đứa em nó cho đất”.
“Chú nói ở Miền Tây?”.
Chú Chín gật gù:
“Phải đó anh, đi Vùng bốn chiến thuật* (Miền Tây), đứa em nói trong đó còn thoải mái, chưa nghe động tĩnh gì, với lại đất đai ở trỏng cũng tốt lắm, trồng lúa trồng vườn còn dễ hơn ở đây”.
Ba nó tán đồng:
“Đúng rồi, hồi tui còn đi quân dịch* (*đi lính) có vài lần về dưới này thấy vườn cây trái xum xuê lắm, ruộng lúa bạt ngàn, sông nước thì ôi thôi chằng chịt, cá tôm nhiều vô kể, thảy cái lưới xuống là ăn muốn mệt xỉu”.
Chú Chín mắt sáng lên:
“Dạ, anh nói chí phải, cá mắm ở dưới ê hề, nhứt là mùa nước nổi đó anh”.
Ba nó giọng trở buồn buồn:
“Thời thế biết đâu mà lần hen, mà thôi ở đâu sống tốt là được, chú đi lâu lâu nhớ ghé về chơi”.
Chú Chín nghèn nghẹn:
“Dạ, phải về chớ, nơi này tui gắng cũng đâu ít, biết bao kỷ niệm, biết bao tình thâm bà con lối xóm”.
Chú Chín và ba nó ngồi tới khuya vẫn chưa về, có lẽ bịn rịn chia tay và cũng từ đó, chú Chín nói sẽ ghé về lại nhưng chưa một lần chú trở lại.
Nhưng có lẽ chuyện mà đọng mãi khó phai về sau trong ký ức nó là câu chuyện buồn thê lương ở xóm trong. Xảy ra chuyện ai nấy muốn rụng rời, hai đứa trạc tuổi nó có chơi chung nhiều lần lượm được mấy trái rất đẹp, thân màu bạc sáng có đầu tròn vàng ươm, vậy là đập thử chơi mà không biết đây là trái lựu đạn rơi vãi, đạn phát nổ và cả hai tử vong, thân xác không toàn thây, đứa mất tay, đứa chưn cẳng chẳng còn nguyên vẹn. Tiếng gào thét xé lòng của mẹ hai đứa bạn: “Hòa bình rồi sao lại thế này, Trời hỡi Trời ơi!”.
Tuổi thơ không nhớ dai, tuổi thơ mau quên với nhiều trò vui nơi cánh đồng, dưới bầu trời xanh, nếu bỏ qua vài chuyện như vậy thì hai năm trôi qua bình yên, những năm tuổi thơ của nó thật dịu dàng hồn nhiên với cỏ cây, hoa lá, với rơm rạ với đất cày…

***

Năm tiếp theo thì hoàn toàn khác. Và bắt đầu từ đó thì hoàn toàn khác.
Vừa ăn Tết xong bà con thấy lục tục mấy người trên xã chở xuống cái thanh tà vẹt đường ray xe lửa bằng chiếc xe lam. Treo ngay nhà ông Sáu Hoàng cách nhà nó khoảng nửa cây số, nhà ông Sáu Hoàng là nhà tường quét vôi lợp tôn xi măng, nhà rộng lớn, ông ở đây đã lâu đời, cạnh nhà ông có con đường xe bò đi vô xóm trong và vô rừng. Treo xong họ lấy thanh cây sắt gõ thử nghe kêu keng keng vang rất xa, người đánh người chạy tuốt luốt gần cả cây số thử có nghe không, chạy lòng vòng đánh rùm beng cả buổi trở lại nhóm người gật đầu, tốt, nghe rõ hết xóm, cái kẻng này là hết ý. Vậy là họ làm cái kẻng.
Buổi chiều chạng vạng có tiếng loa loa lập đi lập lại vang lên:
“Alô alô, bà con xóm mười tới xóm mười bốn ghe đây, đúng bảy giờ ba mươi ngày mùng mười mời chủ hộ tập trung về nhà ông Sáu Hoàng để họp, nghe chỉ thị chủ trương của nhà nước, phải đi họp đầy đủ, ai không đi sẽ mất quyền lợi về sau, alô alô…”.
Nó nghe tiếng rất quen, chạy ra coi thì đó là tiếng của chú Tư râu, nó chạy vào nói với ba nó:
“Chú Tư râu đi alô ba ơi”.
Ba nó trầm ngâm:
“Ba biết rồi, mà hông được hổn, chỉ kêu chú Tư thôi nghe chưa”.
Nó lý nhí:
“Dạ”.
Sáng ngày mùng mười, bà con bốn xóm tụ tập đông đủ ở nhà ông Sáu Hoàng. Trước nhà, trên cái sân xi măng đã được dựng thêm cái rạp, phía bên trong gần cửa nhà sắp bộ bàn ghế ở giữa rạp trải khăn bàn trắng, bốn người ngồi ở đó im lặng nghiêm trang cầm tập giấy lật tới lui coi đi coi lại, xéo xéo cái bàn này là bàn với hai người ngồi với tập giấy và cầm sẵn viết, mấy chú du kích người bồng súng người súng vắt vai nghiêm nghị, mặt sắc như tiền, có người còn nghênh nghênh đi vòng vòng xung quanh. Bà con được kêu ngồi hết xuống sân. Mùng mười nhằm ngày chủ nhật nên đám con nít tụi nó cũng lu bu chạy tới lấp ló coi họp hành ra làm sao.
Đúng tám giờ, một người ngồi giữa chỗ bàn trải khăn đứng dậy trịnh trong:
“Kính thưa đồng chí bí thư” – Người này nhìn qua người kế bên rồi quay qua phía bên ngược lại: “Thưa đồng chí xã đội trưởng, đồng chí trưởng công an xã, thưa bà con, bà con biết rồi tui là chủ tịch xã, hôm nay tui điều hành cuộc họp này để phổ biến chỉ thị chủ trương của nhà nước ta, mời bà con bắt đầu dự họp”.
Ở dưới có tiếng xì xào to nhỏ, bàn hai người cầm viết bắt đầu viết. Ông chủ tịch xã cầm xấp giấy đánh máy lên bắt đầu đọc: “Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. Tỉnh… ngày… tháng… năm…Căn cứ…. căn cứ…. Quyết Định…”
Ông chủ tịch xã đọc hết trang giấy xong, dừng lại một chút. Bên dưới bà con ngơ ngác. Người hỏi râm ran qua lại, hợp tác xã là sao, hợp tác xã là như thế nào?, người lắc đầu, người không hiểu. Ông chủ tịch nói tiếp:
“Thưa bà con, như vậy là quyết định thành lập hợp tác xã nông nghiệp, xã ta chia làm bốn hợp tác xã, mỗi hợp tác xã có sáu đội, bốn xóm bà con ở đây hợp lại là đội sáu, gồm năm mươi hai hộ gia đình, thuộc hợp tác xã hai”.
Một người đứng dậy hỏi:
“Thưa ông chủ tịch, hợp lại rồi làm ăn ra sao?”.
Ông chủ tịch chậm rãi:
“Bà con yên tâm, tui sẽ trình bày ngay đây, vào hợp tác xã là bắt buộc và có lợi cho bà con, đất đai, ruộng vườn và tư liệu sản xuất như trâu bò quy về một mối, đội với hợp tác xã quản lý, cùng làm ăn chung, bà con chỉ bỏ sức lao động ra thôi, còn mọi thứ khác như giống, phân… bà con không phải lo, tất cả đã có nhà nước lo, làm tính công điểm, công lao động người lớn là mười điểm một công, công lao động phụ trẻ em dưới mười tám tuổi là năm điểm, đến hết mùa điểm được quy ra lúa, ra bắp, ra khoai thu được, làm bao nhiêu điểm hưởng bấy nhiêu…”.
Có một người lớn tuổi đứng dậy cắt ngang với giọng tức tối:
“Làm như vậy khác gì cướp đất, cướp bò của bà con bỏ vô hợp tác xã”.
Ông chủ tịch giải đáp giọng có gằng hơn:
“Không phải vậy, nhà nước ta là nhà nước công bằng, bà con vào hợp tác xã là không còn bất công, không còn cảnh người giàu kẻ nghèo, làm thuê làm mướn, bóc lột sức lao của người không có đất có vườn”.
Một người nữa đứng dậy định nói, ông chủ tịch ra hiệu ngồi xuống rồi nói luôn:
“Thôi cuộc hợp hôm nay để thông báo cho bà con được rõ, chuẩn bị tinh thần đến đây là kết thúc, chúng tôi sẽ thông báo ngày họp tiếp theo để triển khai chi tiết, chào bà con”.
Ông chủ tịch xếp tập giấy bỏ vào cặp táp cùng ba người ngồi cùng bàn và hai người ngồi viết với mấy chú du kích đi ra, người lấy xe Honda, người lấy xe đạp chạy đi để lại bao ánh mắt ngỡ ngàng của bà con bốn xóm. Tan hàng ra về vẫn còn lao xao, như vậy là ăn cướp, như vậy là ép buột chớ công bằng cái gì, công sức người ta bao nhiêu năm coi như mất trắng, một số người thì gật gù đồng tình, tui thấy hay đó chớ, làm chung đông vui, cùng hưởng cùng làm giàu…”.
Về tới nhà ba nó ngồi phịch xuống, người thẩn thờ, má nó rót lý nước:
“Ông uống nước đi, làm gì như người mất hồn vậy?”.
Ba nó thở dài thường thượt trả lời:
“Mất thiệt rồi chớ gì nữa”.
Má nó lo lắng:
“Có chuyện gì dữ vậy?”.
“Mất hết rồi, đất cát mất hết rồi…”.
“Là sao, chuyện gì ông nói rõ coi”.
“Là phải giao đất hết cho vô hợp tác xã, cùng làm ăn chung ăn chạ”.
Má nó như không tin:
“Phải giao hết hả?”.
Ba nó gật đầu:
“Phải giao hết”.
Má nó cũng ngồi phịch xuống thẩn thờ, hồi sau má nó lầm rầm:
“Thôi kệ chớ biết sao bây giờ, người ta sao mình vậy”.
Một tuần sau chú Tư râu lại đi thông báo bằng cái loa tay cuốn bằng tấm tôn, thông báo ngày mai đi họp tiếp.
Lần họp nầy ông chủ tịch xã nói triển khai chi tiết. Mỗi hộ gia đình được giữ lại sáu trăm mét vuông đất thổ cư, đó là đất làm nhà ở, hai sào đất thổ canh để canh tác, có nghĩa là để trồng rau củ, cây trái, ai muốn trồng gì thì tùy. Bầu đội trưởng và đội phó, nói là bầu chớ thực ra chỉ định sẵn rồi hỏi bà con có đồng ý không, ai không đồng ý vì lý do gì, lấy số đông kêu đa số thắng thiểu số. Và chú Tư râu được bầu làm đội trưởng, ông Sáu Hoàng chữ nghĩa rành rọt làm đội phó ghi sổ sách. Thành lập một tổ đo đạc, đi đo đạc đất thổ canh thổ cư cắm mốc, đo đất cát, ruộng vườn của ai còn lại xung vào hợp tác xã bao nhiêu ghi hết vào sổ.
Có người phản đối nói tại sao không để những người giỏi, những người có trình độ làm đội trưởng, người nói chú Tư râu có học hành bao nhiêu trong khi còn có người học hành đàng hoàng hơn nhiều, có mấy người đề cử mà ba nó là người đứng đầu danh sánh.
Ông chủ tịch xã gạt ngang:
“Thưa bà con, chính quyền biết rồi, nhưng làm trong bộ máy lãnh đạo phải có lý lịch trong sạch, không dính dáng gì tới chế độ Mỹ – Ngụy, chú Tư râu hiện thời ít học nhưng sẽ được cho đi phổ cập, cho đi học thêm”.
Tới đây thì bà con hết còn ý kiến gì nữa.
Tổ đo đạc ngay ngày hôm sau là bắt đầu đo luôn. Lấy cây sào bằng cây le dài bốn thước mà phóng tới. Cây le giống cây tầm vông, le không có gai như tre ở đây, cây tre đá gai góc nhọn hoắc và đâm tua tủa.
Sau khi đo đạc đất cát xong là thu gom hết bò, cày bừa và xe bò về nhà ông Sáu Hoàng. Được năm cặp bò đực, năm cái cày, bừa, xe bò hai chiếc. Đội làm bốc thăm để hộ nào bốc trúng thì nuôi cặp bò, hộ nuôi bò mỗi ngày được ghi một công điểm. Và quy định giờ giấc, tiếng kẻng. Sáng sớm năm giờ đánh một tràng dài báo hiệu để thức dậy vệ sinh, thể dục, lo cơm nước sáng, bảy gờ đánh ba tiếng là tất cả lao động tập trung ở nhà ông Sáu Hoàng, sau đó được phân công đi làm ở đâu theo đội trưởng chỉ đạo, mười một giờ rưỡi đánh một tiếng nghỉ trưa, ai về nhà nấy, một giờ đánh tiếp ba tiếng tập trung lại chỗ làm buổi sáng, năm giờ có một tiếng kẻng kết thúc buổi chiều. Đánh kẻng ba hồi là tối đó bảy giờ tập trung lại họp.
Ba nó bốc trúng giữ một cặp bò. Cả nhà vừa mừng vừa lo. Mừng là có thêm được công điểm, có phân bò làm đất thổ canh, lo là hai anh em nó chưa bao giờ chăn bò, không biết ra sao, với lại được giữ cặp bò phải cử người giữ rẫy trong rừng, trong rừng cách làng khoảng gần ba cây số có mấy rẫy người ta phát lao tre, rồi đốt sạch cho đất rất tốt, mỗi rẫy rộng chừng hai mẫu, rẫy này đội nó cũng không biết của ai, chỉ biết hợp tác xã giao. Anh nó trấn an ba má nó:
“Không sao đâu, ba má khỏi lo, tụi con giữ được”.
Nó cũng nghĩ như vậy.

***

Đầu tháng ba là nghe tiếng kẻng. Trước đó mấy ngày là đã có tin phổ biến bắt đầu. Đúng như quy định vậy, bảy giờ có mặt tại nhà ông Sáu Hoàng, mỗi hộ ít nhứt một người, có hộ hai ba người, đoàn người hơn cả trăm lục tục vác cuốc kéo nhau đi dãy cỏ hết chỗ này tới chỗ khác. Ban đầu thấy cũng đông vui vài ba bữa sau bắt đầu xìu xìu ểnh ểnh, chia nhóm này bè nọ, người mới đầu làm hăng say sau thấy người tà tà cũng tà tà theo, vừa làm vừa tán chuyện, tới đâu hay tới đó, nhìn nhau mà làm .
Chú Tư râu thì loay hoay chạy đầu này chỉ làm cái này làm cái nọ, rồi cũng chạy tới chạy lui, thúc giục chỗ này làm nhanh lên, quát tháo chỗ kia làm chậm chạp. Đang làm anh Hải mà mọi người cho thêm biệt danh Hải tặc, bỏ cuốc móc bịch thuốc rê ra vấn hút, chú Tư râu nổi nóng:
“Cái anh kia, mọi người ai nấy làm còn anh bỏ cuốc nghỉ là sao?”.
Anh Hải im lặng vấn xong điếu thuốc, lấy lưỡi liếm cho giấy dính lại, thuốc rê còn gọi đùa là bóc lăng xe le lưỡi liếm, châm lửa nhả một làng khói anh Hải hất hàm:
“Thèm thuốc hít một hơi hổng được sao? Bắt nhịn lấy tinh thần đâu mà làm”.
Chú Tám Phèn gật đầu:
“Đúng đó, nghỉ chút hút điếu thuốc bà con ơi”.
Chú Tư Râu hầm hầm mặt:
“Hút nhanh đi rồi làm cho xong”.
Mấy người đàn ông tụm lại hút thuốc, mấy bà mấy chị cũng nghỉ theo. Chú Tư không nói được nên bỏ đi. Anh Hải chửi:
“Mẹ, cha nội dốt như bò, học ba chữ không xong bây giờ làm phách”.
Chú Tám Phèn nói theo:
“Mấy cha xã, mấy cha du kích cũng vậy chớ khỉ gì”.
Chú Tám phèn vỗ vai anh Hải:
“Chú mày ngon, lỳ đòn hen”.
Anh Hải cười trả lời:
“Hạng người này phải nói vậy”.
Vài người chửi thêm vài câu nữa.
Anh Hải có biệt danh Hải tặc để phân biệt với anh Hải đất, anh này hiền khô như cục đất, còn anh Hải có người nói giỡn giống cướp biển nên kêu là vậy nhưng chủ yếu là vì Hải là biển.
Tối tối bây giờ không còn chú Chín, chú Tư râu thì bận bịu, chỉ có chú Ba Mạnh ghé lai rai với ba nó. Một bữa ngồi nhâm nhi, chú Ba Mạnh lắc đầu:
“Tụi thấy điệu này căng quá anh Hai”.
Ba nó hỏi lại:
“Vụ gì chú”.
“Dạ, thì chuyện đi làm hợp tác xã nè, tui nghĩ khó thành quá”.
“Ý chú là kiểu cha chung không a khóc, làm cho có hả”.
Chú Ba gật đầu:
“Đúng đó anh, tui thấy kiểu làm cho xong, không biết đi về đâu, làm ẩu làm tả, nhiều người bất mãn quá”.
Ba nó thở ra:
“Tui cũng thấy rồi mà hổng dám nói, nhưng mà thôi chú ơi, tai vách mạch rừng, lỡ có gì thì chết, bỏ đi nói chuyện khác chơi”.
Chú chín gật đầu đưa ly uống cạn, ba nó và chú tiếp tục chuyện trò nhưng không còn đá động gì tới chuyện hợp tác xã nữa.

***

Một buổi tối vừa cơm nước xong chợt nghe ba hồi kẻng. Ba nó bước ra đi họp sau khi thắc mắc: “Không biết họp chuyện gì mà gấp gáp giờ mới oánh kẻng, không oánh từ sớm”.
Họp không lâu chừng tiếng sau ba nó trở vể. Má nó nãy giờ ngồi đợi:
“Họp hành nói chuyện gì vậy ông?”.
Ba nó uống ngụm trà trả lời:
“Có chuyện nữa rồi nhưng nhà mình không dính, chuyện là nhà nào có con cái đủ mười tám tuổi bắt buột phải đăng ký nghĩa vụ quân sự, chủ yếu là con trai, con gái thì tình nguyện, mà chỉ những nhà có lý lịch không dính gì tới chế độ cũ”.
Má nó hỏi tiếp:
“Đăng ký nghĩa vụ là đi lính đó phải hông?”.
Ba nó ừ:
“Nhưng đăng ký xong còn khám coi có đủ tiêu chuẩn không nữa đã, nhưng bà con đang lo lắng, nói thì vậy chớ bây giờ là đi tuốt luột hết, có chính sách tổng động viên, chiến trường ở Campuchia đang ác liệc lắm, đi là chết chín phần mười, có còn được trở về cũng bị thương tật”.
Má nó thở ra:
“Lại chiến tranh, sao khổ hoài vậy”.
Xã thông báo sau cuộc họp ba bữa tức sáng chủ nhựt tất cả nam thanh niên đi đăng ký nghĩa vụ. Sáng chủ nhựt ở xã bắt đầu rộn ràng, bác sĩ và huyện đội xuống kết hợp với xã đội và du kích chuẩn bị bàn ghế, giấy má… Rồi chờ mãi chờ hoài từ sáng tới trưa, qua luôn buổi chiều chỉ lèo tèo có vài ba thanh niên tới đăng ký. Ông ở huyện đội tức giận:
“Các đồng chí có phổ biến xuống cho nhân dân chưa?”.
Chú xã đội trưởng tên Cường phân bua:
“Dạ thưa đồng chí đã thực hiện đúng như công văn chỉ thị, đã họp phổ biến toàn dân”.
“Thế tại sao vắng như chùa bà đanh thế này, các động chí phải biết vận động quần chúng nhân dân, các đồng chí phải nắm danh sách hộ gia đình nào có con em đúng tuổi để vận động ráo riết, thôi tôi cho các đồng chí tuần sau, phải đạt chỉ tiêu chớ không là không được, xã mình ít nhất là phải một trăm”.
Xã đội trưởng Cường gật đầu:
“Đồng chí cứ yên tâm, lần này chúng tôi sẽ vận động”.
Buổi chiều nó cỡi lưng bò dắt theo con bò phía sau ra đồng gần rừng nhập bọn với những đứa chăn bò khác. Gần cả tháng nó tập cỡi bò bây giờ đã rành rẽ, nó phóng cái tót là lên lưng liền. Nó cỡi bò đi ngang nhà chủ bò cũ, hai đứa con gái là chị em ở trong nhà thấy nó phóng ra, đứa chị hất đầu:
“Ê, ai cho đi ngang nhà tao thằng ăn cướp?”.
Nó cũng hất đầu hỏi lại:
“Ăn cướp gì mậy, có đường thì tao đi, ai cấm?”.
Con nhỏ em đứng kênh kiệu:
“Ăn cướp bò chớ ăn cướp gì nữa, giả ngu hả mày”.
Nó ức quá nhảy xuống:
“Bò hợp tác xã giao nhà tao chớ ăn cướp hồi nào, tao thèm chăn bò lắm hả?”.
Con chị đứng thủ thế:
“Mày nhảy xuống định uýnh lộn phải hông, ngon nhào vô thằng ăn cướp”.
Con em cũng thủ thế theo:
“Nhào vô mày”.
Nó định nói chấp hai chị em mày luôn, tao bẻ một phát là gãy giò hết đi, nghĩ lại ai lại đi uýnh lộn với con gái, quê thấy mồ, nhảy lên lưng bò thúc đi nhanh, nó nói với lại:
“Tao thèm đụng tới thứ con gái tụi bây”.
Hai chị em la làng theo:
“Cha con ông Hai Sài Gòn ăn cướp”.
Nó thúc bò chạy lúp xúp, nghe câu này sực nhớ lại câu của ba, tuy nó chưa hiểu gì mấy: “Mấy đứa nhỏ bị cướp mất tuổi thơ rồi”.
Ra tới đồng nó còn bực bội, định nhập bọn đám chăn bò rủ chia phe chơi trò đấp lô cốt oánh trận giả cho bớt, đám chăn bò đang ngồi trong gốc cây cày cao to có bóng mát lớn, cây cày cứng kinh khủng nên chẳng ai cưa chặt nổi nên nó còn chình ình đứng đó. Đi lại thì đám chăn bò đứa nào đứa nấy ngồi lù lù một đống buồn thỉu buồn thiu chớ không như mọi bữa, không chạy nhảy vui chơi thì ngồi kể chuyện tiếu lâm cười ngả nghiêng, nó hỏi:
“Có chuyện gì vậy tụi bây?”.
Chẳng thằng nào buồn trả lời.
Nó nói tiếp:
“Tao đang bực thấy mồ tổ đây, gặp tụi bây làm gì mặt thằng nào thằng nấy như cha chết hổng bằng vậy”.
Như bị chạm nọc, thằng Hào sừng cồ:
“Thì có khác gì cha chết”.
Nó giựt mình:
“Chuyện gì ghê vậy tụi bây?”.
Thằng Cu anh lên tiếng:
“Thì mai anh thằng Hào, anh thằng Cọt phải đi bộ đội, tụi nó buồn chớ sao”.
“Thiệt vậy hả mậy Hào, Cọt?”.
Thằng Hào và thằng Cọt gật đầu, thằng Hào nói như mếu máo:
“Cả tuần nay mấy ông xã đội ngày nào cũng xuống, nói miết làm ba tao chịu hông nổi, ổng ký giấy ngày mai anh tao phải đi rồi”.
Thằng Cọt nói theo:
“Mấy ổng nói không tự động lên thì cũng bị bắt hà”.
“Nhưng tao nghe nói chưa chắc đi, mới khám thôi mà”.
Hai đứa nó lắc đầu:
“Có tên là đi hết, không dễ trật đâu, mà đi là chết chắc”.
Nó cố trấn an hai thằng này:
“Chưa chắc vậy đâu tụi bây ơi, mấy ổng đi vài năm rồi về chớ gì”.
Nghe nó nói mấy thằng đỡ bớt buồn chớ nguyên một buổi chiều tụi nó xoay quanh mấy chuyện này thiệt là thê lương. Bữa nay tụi nó lùa bò về sớm, nó cỡi bò đi đường khác, không theo đường cũ ngang nhà hai đứa con gái chằn lửa nữa.

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

LẠ 1

ledachoanghuu

Sóng xô
lạ lẫm dã tràng
Lạ lùng xe cát, oán than không lời
Men say
lạ lẫm lệ rơi
Lạ lùng rơi lệ tìm nơi say mèm
Cô đơn
lạ lẫm bóng đêm
Lạ lùng đơn lẻ kéo rèm che trăng
Mật môi
lạ lẫm giận hờn
Lạ lùng hờn dỗi cong vờn môi xa
Phiêu liêu
Đời lạ lẫm ta
Lạ lùng, ta CÕNG BÔN BA GIỮA ĐỜI!

Lê Đắc Hoàng Hựu

CƠN GIÓ MANG HỒN TUỔI THƠ 3 (TT)

 

ledachoanghuu

Trời sụp tối thì ba nó về theo sau là chiếc xe cam nhông giống như chiếc hồi trước đi về. Cả nhà nhanh chóng chuyển đồ lên xe trong tiếng thì thào nói với nhau. Đến nửa đêm là xong, ba nó nói với bác tài xế:
“Anh cho đi liền dùm nghen, đi ra xa xa chỗ này rồi nghỉ bao lâu cũng được”.
Má nó nhìn căn nhà xót xa:
“Công sức, tiền của biết bao nhiêu đổ ra mà ở mới được mấy bữa”.
Ba kéo má lên xe:
“Thôi đừng tiếc rẻ làm gì, mà để đó chừng ông nội sắp nhỏ về ở hương khói mồ mả Tổ Tiên”.
Tiếng xe cam nhông xịch xịch nổ máy, xe lăn bánh. Vậy là năm tháng sau khi trở về, nhà nó lại ra đi rời xa dòng sông Thu Bồn trong cảm xúc buồn vui lẫn lộn.
Chiếc xe cam nhông giống y chiếc gia đình nó đi ra, chầm chậm đều đều chạy, một lần nữa nằm trong cái gác lúc nào cũng thấy màu hoàng hôn và đêm tối, cũng chẳng xác định được thời gian chỉ cảm giác xe đi rất xa. Có lẽ hai ba ngày đêm gì đó, nó mặc kệ, ngủ thức dậy ăn cơm rồi lại ngủ. Một buổi chiều xe ngừng lại, tiếng ba nó cất lên:
“Ghé đây chơi chút, đây là đồn điền ngày trước của chú Năm, ông nội tụi nó có ké làm ruộng vườn ở đây”.
Chú Năm là chú ruột của ba nó, vậy là ông chú của nó. Ông chú và người con mất hai năm trước khi lái máy cày cày đất trên cánh đồng lúa vừa xong, băng tắt lên đường lộ để về, vừa ra mép đường thì cán phải trái mìn và nổ tung, không ai biết mìn gì và của ai đặt hay bỏ đây. Đồn điền từ đó giao cho người làm quản lý, mấy người con ở thị xã không ai ở đồn điền nữa, lâu lâu mới lên thăm thú một vòng. Ba nó chỉ ngôi nhà xây khang trang bên vệ đường:
“Đây, nhà chú Năm đây” – Nói xong ba nó kéo cả nhà đi vô.
Có người trạc tuổi ba nó chạy ra:
“Anh Hai hả, vô đây vô đây”.
Ba nó hỏi lại:
“Chú Chín khỏe không? dạo này làm ăn ra sao?”.
Chú Chín rót trà:
“Dạ khỏe anh, làm thì cũng bình thường nhưng sắp tới nghe nói căng đây chưa biết sao?” – Chú nhìn qua má nó: ” Chị đây…”.
Ba nó cười:
“À, quên, bà xã tui với mấy đứa con”.
Chú Chín nói tiếp:
“Chị Hai qua đây ngồi trò chuyện luôn”.
Má nó đang ngồi với mấy chị em nó trên tấm phản bên góc nhà đi qua bên bàn tiếp khách ở giữa ngồi với ba nó và chú Chín:
“Chú chín bà con ra sao?”.
Chú Chín cười cười:
“Dạ, hông có bà con gì chị, tui làm cho chú Năm từ nhỏ, giờ mấy đứa con chú kêu trông coi dùm, chẳng đứa nào chịu lên đây, tụi nó ăn học đỗ đạt theo nghề chữ nghĩa chớ đâu có theo nghề nông này nữa, ủa mà anh chị về đây ở hay đi đâu ngang qua?”.
Ba nó thuật lại câu chuyện về quê, rồi trả lời:
“Giờ trở lại Sài Gòn thôi chú Chín à, mà hổng biết trong đó ra sao nữa?”.
Chú Chín trợn mắt:
“Anh hông có nghe tin tức gì hả?”.
Ba nó đáp:
“Về lo làm ăn đầu tắt mặt tối đâu có để ý gì nhiều, mà tin gì vậy chú?”.
Chú Chín nói nho nhỏ:
“Ý chà, đang có tin đồn râm ran có chính sách mới”.
“Chính sánh như thế nào chú?”.
“Là đánh tư sản, tiểu tư sản và cải tạo công thương nghiệp gì đó, cho về quê làm kinh tế mới, làm ruộng”.
Ba nó hỏi lại:
“Nhưng tui đâu có làm thương gia?”.
Chú Chín nói tiếp:
“Nghe nói ai dính dáng gì với chế độ cũ bị kêu là Ngụy là bị đi hết, đưa về những nơi vùng thiêng nước độc khai hoang làm kinh tế, hồi nãy tui có nói nghe nói sắp tới căng đây đó, tui bàn với mấy đứa nay mai bán từ từ hết đàn bò gần trăm con nè, đất cát ruộng vườn hông biết có bán bớt được hông”.
Má nó thở dài:
“Vậy là mình cũng bị rồi, giờ tính sao đây?”.
Ba nó suy nghĩ một hồi rồi hỏi chú Chín:
“Hồi trước ông già tui có miếng đất, miếng ruộng gì ở đây phải hông chú?.
Chú Chín gật đầu:
“Phải, có mẫu đất với lại chừng năm sào ruộng phía bên kia đường, xéo xéo đây chừng hai trăm thước. À, bác Hai khỏe hông anh?”.
“Ông già cũng khỏe, mà mẫu đất đó giờ có ai làm gì hông chú, có bị ai lấy chưa vậy?” – Ba nó sợ như hồi ở quê.
Chú Chín cười:
“Đất cát giờ ai lên đây mà lấy, cho còn hổng có người ở”.
Ba nó gục gật:
“Hay mình ở lại đây đi bà ơi, chớ vô Sài Gòn lại bị đi nữa mà chưa biết đi đâu lại khổ, họ đưa tới thăm thẳm rừng sâu có chết chắc”.
Má nó thấy có lý:
“Chắc vậy là hay nhứt”.
Chú Chín nói vô:
“Anh chị tính vậy tui thấy được, bên đó còn có sẵn cái nhà gỗ nhỏ nhưng gói ghém chắc không đến nỗi”.
Vậy là đậu lại trên mảnh đất của ông nội, cả nhà dỡ đồ đạc xuống hết thì đêm đã buông xuống tối mịt, ba nó phải đốt đống lửa để thắp sáng màn đêm.

***

Một mẫu đất của ông nội nó thiệt quá rộng lớn so với miếng đất ở quê. Năm sào ruộng cũng gấp mấy lần ruộng ở ngoải. Ở đây một sào tính tới một ngàn mét vuông chớ không như ngoài đó chỉ có năm trăm mét. Xung quanh nhà ông nội trồng mỗi loại vài cây như mít, xoài, mận, ổi… nhiều nhứt là mảnh vườn chuối, sau nhà có cái giếng to có nước đầy. Phía cuối mảnh đất còn những hàng tre cao to xanh um. Đứng ngay nhà nhìn thấy như sát bên mặt là cái núi Đất cũng cây cối um tùm, nhìn xa xa là những dãy đồi dãy núi trải dài chập chùng, giống nơi nó sanh ra là không có con sông chảy qua, nhưng chú Chín nói gần gần có những cái bàu đọng nước quanh năm, có con suối có nước vào mùa mưa còn mùa nắng thì khô cạn. Ở đây sáu tháng mưa sáu tháng nắng, mùa mưa thường bắt đầu vào đầu tháng tư và dứt vào cuối tháng chín.
Ba nó mời chú Chín qua nhà nhâm nhi ly rượu, mồi là mấy con cá khô má nó mua dọc đường đi, ngồi trên tấm phản dưới gốc mít trước nhà dưới ánh đèn hột vịt, cây đèn thắp bằng dầu lửa, tấm phản nhỏ này cũng của ông nội để lại, ba nó hỏi:
“Tui hông có rượu gì, chỉ còn dấu chai rượu Tây chưa dám đem ra, hổng biết uống thứ này ở đây có sao hông, có ai dòm ngó gì hông?”.
Chú Chín cười hà hà, tiếng cười của chú vang xa giữa trời thanh vắng:
“Ở đây còn ít người lắm, nhà cửa còn thưa rỉnh anh thấy hông với lại cũng chưa có gì xảy ra kiểu như anh nói ở quê, hông sao đâu”.
“Vậy tui với chú uống hen”.
Ba nó vào trong lấy chai rượu rót ra ly cụng lốp cốp với chú Chín:
“Chú có quen ai trên xã hông?”.
Chú chín trả lời:
“Quen sơ sơ, mà hông có gì, anh cứ lên trình diện đưa giấy học tập là xong chớ chi”.
“À, tui định làm cái đơn xin về đây làm kinh tế mới, làm ruộng làm rẫy chú thấy được hông?”.
“Vậy hay đó, anh đi trước một bước cho dễ dàng”.
Ba nó cụng ly tiếp rồi uống khà một tiếng:
“Tui mới về đây lạ nước lạ cái có gì chú chỉ bảo cách làm ăn”.
Chú chín cũng khà tiếp theo:
“Có gì khó đâu anh, giờ vô mùa nắng hông làm ruộng rẫy gì thì đi làm củi. Rừng sát bên nách, đủ mình chụm cả năm còn dư đem bán kiếm tiền chợ. Ờ, giờ gần Tết bắt đầu trồng ít bông quanh nhà đưa xuống thị xã bán kiếm chút đỉnh thêm cũng được. Làm cái dàn cắm dây bầu giây bí, trồng ít rau củ, dễ ợt hà mai tui mang giống cho. Đất vườn dãy cỏ rồi chờ mùa mưa xuống trồng bắp trồng khoai, ruộng cày ải rồi cứ vậy bừa mà gieo lúa, mần cỏ bỏ phân là có ăn chớ khó gì đâu”.
Ba nó nhẩm tính mớ lúa và bắp làm được ở quê đem theo chắc cũng xít soát đủ mùa tới, vậy là không đến nỗi nào, ba nó cười:
“Chú nói tui mới sáng ra chớ đâu có rành, cảm ơn chú nhiều, tui theo vậy mà làm”.
Ba nó với chú Chín chuyện trò cách mần ăn rôm rả thêm một chập nữa rồi rã sòng.
Sáng hôm sau ba nó mang giấy tờ và cái đơn lên xã, chút sau là về. Má nó thấy nhanh quá hỏi:
“Ủa ông quên gì hà?”.
Ba nó tươi cười:
“Hổng có, họ chứng xong rồi, họ nói cứ ở làm ăn, không làm khó dễ gì, xã cách nhà chừng hai cây số, phía dưới đó dân ở khá đông có cái chợ với trường học, sẵn tui hỏi luôn nhưng họ nói bây giờ trễ quá rồi nên để sang năm cho mấy đứa đi học lại”.
Má nó mừng quýnh:
“Vậy cũng đỡ, để tui xuống chợ coi cá mắm gì hông mua chút đỉnh”.

***

Từ hạt giống của chú Chín cho rất nhiều loại, từ rau cải, cà chua cà pháo và bông vạn thọ bông cúc… ba má nó xới đất trồng mỗi loại mấy luống sau nhà gần giếng nước, chú chín còn cho mấy gánh phân bò trộn chung vào đất nữa, mấy chị thay phiên nhau sáng chiều trên vai cặp thùng gánh nước có cái ống, cuối ống giống như vòi sen nghiêng thùng phun tỏa nước ra mà tưới, hạt giống nức, nảy mầm lên ngay xanh tốt cho tới bầu bí, mướp, khổ qua… làm cái giàn cho nó leo, làm dàn cũng dễ xèo, tre sau nhà đầy nhóc, chỉ có đi xa xa chút vô trong rừng chặt mấy cây lớn làm bốn cây cột bốn góc. Ba nó sắm thêm một loạt dụng cụ ngoài cuốc xẻng là bồ cào, cuốc chỉa và cưa, rựa, búa chẻ củi…
Những ngày rảnh rỗi ba nó đi vô rừng lấy củi. Một bữa hai anh em tụi nó xin đi theo và được cho đi. Rừng không xa, qua nửa cây số hết làng tới cánh đồng mùa nắng còn trơ gốc rạ với những đàn bò thả rong gặm dưới đó, hết đồng chừng nửa cây số nữa tới một con suối hai bên bờ có tre mọc dày đặc dọc theo, suối không có nước nhưng đất còn ẩm ướt, vài hòn đá và những mảng sỏi nằm lộ ra, qua con suối với không khí mát mẻ này là tới rừng. Rừng thưa chớ không dày, nhiều nhứt là những cây dầu thân thẳng băng cỡ bắp vế người lớn lá to gần bằng cái quạt đan bằng lát nhưng dài hơn, ba nó chỉ cái lá:
“Tụi con biết lá đó hông?”.
Tụi nó đâu có biết nên lắc đầu:
“Dạ, hông biết”.
Ba nó trả lời:
“Thiệt ra thì các con thấy rồi nhưng hông có để ý, đó là lá dầu lông còn gọi là lá loan, người ta hái về để bán gói đồ ở chợ”.
Hai anh em nó à ra:
“Mấy bữa thấy gói cá gói rau má mua ở chợ về”.
Rừng còn nhiều loại cây khác nhưng nhỏ như căm xe căm liên, dầu sao lá nhỏ xíu chớ không lớn như dầu lông. Dưới đất rừng cỏ khô cháy đen còn trơ gốc, lửa lém ra làm đất cũng đen nhẻm và còn vương vãi tro tàn, nắng lên mùi nghe hanh hanh hăng hắc xộc vô mũi, vài con chim bay nhảy trên cành cây hót chuýt chuýt như bù lại cái mùi khó chịu này. Những tàn cây không còn lá cháy xém nằm chõng chơ bên cạnh gốc cây, thân cây lớn người ta đã cưa lấy gỗ và chủ yếu là hai loại căm xe và căm liên. Ba nó gôm những nhánh cây này to cỡ cùm tay chặt thành từng đoạn cỡ năm tất chất thành đống, anh em nó cũng phụ gom cành cây lại một chỗ. Lâu lâu gặp những khúc cây rất cứng đủ hình thù cong cong quẹo quẹo uống lượn tùm lum là những lõi cây to đã mục nát hết phần giác bên ngoài, gõ vào nghe bon bon, ba nó rất thích nói chụm tốt lắm và cũng cưa từng đoạn cây bẳng củi chặt, lưỡi cưa đi qua lại nghe rọt rọt đã lỗ tai. Anh nó nhìn thấy dưới tán cây um tùm có những hột màu trắng bóc giống và to cỡ con hến, lượm lại hỏi ba nó:
“Ba ơi, hột này là hột gì”.
Ba nó lấy coi rồi đáp:
“À, hột này là hột chum chúm, vỏ cứng lắm phải lấy đồ đập ra mới có ruột bên trong, ăn ngon và béo”.
Hai anh em lượm mấy cục đá, cục để kê cục để đập, sau khi nghe lời ba nó dặn phải đập cẩn thận hông là vô tay, đập bể ra ăn thử thì thiệt là béo, béo như hột đậu phộng. Nó kêu anh nó:
“Mình lượm một mớ đem về nhà”.
Hai anh em cùng đi lượm được một bọc. Ba nó chặt, cưa được khá nhiều củi, đem loại cũi lõi về trước, chất đầy gióng gánh về còn dư để tiếp cho những ngày sau. Về tới nhà nó lấy hột chum chúm ra khoe, cả nhà cùng xúm đập lụp bụp ai cũng khen ngon.
Chiều chiều chạng vạng là chú Chín hay ghé qua nhà lúc nhâm nhi với ba nó xị đế lúc uống trà, có bữa đang khề khà chú nói:
“Anh thấy hông, bên tui có ít người lại nhiều chuyện lu bu thảy đại hột giống xuống còn có cái ăn huống hồ bên anh chăm sóc kỹ càng, phân nước đầy đủ, mấy đứa nhỏ lại siêng năng nhổ cỏ nên rau củ lên xanh tốt, sợ gì hông có”.
Ba nó gục gật:
“Thì cũng nhờ chú hết chớ đâu ra”.
Chú Chín cười hà hà:
“Bậy nà anh ơi, tui nói sơ sơ còn chủ yếu là anh, à mà mai tui nghỉ buổi chiều, tui anh xuống bưng tát mớ cá về lai rai”.
Ba nó đưa ly cụng:
“Tui theo chú”.
Chiều hôm sau ba vác cuốc quẩy cái thùng gánh nước cho hai anh em nó chạy lon ton theo sau. Chú Chín cũng quẩy cặp thùng cầm thêm mớ dây thừng giống như dây cột mũi bò, nó không biết chú cầm dây theo để làm gì. Bưng đi về hướng sau nhà chú Chín, đối diện nhà nó phía bên kia đường lộ, ngược hướng với hướng đi rừng lấy củi, cũng không xa lắm, chừng gần hai cây số. Bưng là một dải cỏ mọc trên đất sình lầy ngang chừng vài trăm mét rồi tới một vồng cát trên có rừng cây còn chiều dài dải cỏ và rừng cây thì hút tầm mắt nhìn không có kết thúc. Chú Chín chỉ về phía rừng cây:
“Phía sát rừng có con sông nhỏ nhưng nước nhiều chảy quanh năm, chảy về thị xã nhập với mấy con sông lớn. Sông tuy nhỏ nhưng chịu thua, dễ gì chặn nước mà tát, tui dẫn anh và mấy cháu xuống đây coi cho biết thôi, giờ mình đi ngược về một chút có con suối chảy xuống sông bưng cạn nước còn những vũng nước đọng, mình tát ở đó”.
Chú Chín dắt đi ngược nhưng xéo xéo chớ không trùng con đường đi ra, một chập là tới con suối cũng có tre mọc hai bên bờ, đi men men bờ suối một hồi chú Chín đứng lại:
“Chỗ này rồi”.
Phía dưới suối là một vũng nước sâu cỡ ngang bụng chú. Con suối này nước còn chảy rỉ rả nhưng xâm sấp dưới bàn chân. Chú Chín và ba nó đắp hai cái bờ cao hai đầu vũng nước, phía trên nước chảy xuống nên đấp cao hơn nhiều để ngăn nước chảy xuống tiếp. Đắp xong chú lấy dây thừng cột vô cái thùng chừa bốn sợi dây dài, ba nó cầm hai sợi, chú hai sợi hai người hai bên bờ suối cái thùng ở giữa, thả xuống rồi giựt nước lên đổ qua bên này bờ. Tới lúc này thì nó hiểu ra chú Chín cầm theo dây là để làm gì. Tát nước còn cỡ một gang tay là đã thấy cá quẫy tung nước, lúc chú Chín và ba nó nghỉ xả hơi, hai anh em nhảy xuống lấy cái thùng không dây tát phụ, tát kiểu có dây đâu có được.
Nhưng nước đã tát cạn mà hai anh em lại không thấy cá đâu, làm tiu nghỉu bởi chờ đợi mấy tiếng đồng hồ. Hút hết điếu thuốc chú Chín và ba nó đi lòng vòng xục xục cho nổi sình lên, cá bắt đầu nỗi lên quẫy tứ tung, sình văng tứ phía, thêm một lần sáng mắt ra, cá quá chừng là cá, hai anh em nhảy xuống lượm mấy con nhỏ bỏ thùng, ba và chú Chín bắt những con lớn cỡ bắp tay, rất nhiều loại, cá trắng cá rô, cá lóc cá trê, cá chạch trơn nhớn khó bắt phải hớt từ từ, có thêm cả tôm tép và cua, nó mò gặp một con định tóm thì bị chích một phát đau điếng, nó la làng hông biết con gì:
“Ý dà, con gì chích đau quá”.
Anh nó giải thích:
“Cá trê đó mày, hổng biết bắt bày đặt xớ rớ”.
Bắt cá xong gần đầy hai thùng gánh nước, xả bờ xuống như cũ rồi quẩy về. Về tới nhà đã chập choạng tối. Ba nó nói:
“Chú Chín xách thùng này nè, thùng này nhiều con bự hơn”.
Chú Chín lựa lựa một hồi, mà không phải lựa con to, lựa đủ loại bỏ vô một thùng rồi đáp:
“Tui xách về chừng này đủ rồi”.
Ba nó giãy nãy:
“Đâu có được, chú lấy phần nhiều đi”.
Chú Chín xách thùng vừa lựa quẹo vô nhà:
“Anh cứ xách về đi, bên tui có ai, có mình tui với hai bà sồn sồn, với lại đồ tiếp tế dưới đó lên còn nhiều lắm”.
Ba cha con nó đành nghe theo xách hết cả về. Về đổ ra có mấy con cá lóc to bằng bắp chân, má nó chỉ mấy con cá giãy đành đạch:
“Cũng giống cá ở ngoải quá hen, được đó mai nấu mì Quảng cá lóc” – trong giọng nói còn chút lưu luyến xứ sở quê nhà.

***

Trời chuyển se se lạnh, sáng sớm có những màn sương mù mỏng bay lơ lững như những làng khói lam chiều. Mấy luống vạn thọ và bông cúc cao chừng ba bốn tất lá to tươi rói bắt đầu ra búp, vậy là sắp Tết, gần ba tháng trôi qua lẹ làng kể từ lúc bánh chiếc xe cam nhông ngừng quay để cả nhà bước xuống chỉ là thăm vùng đất này.
Một buổi sáng có chiếc xe lam đậu trước nhà, ba người một đàn ông và hai đàn bà bước vào. Ba má nó ngạc nhiên và e ngại chẳng biết có chuyện gì, người đàn ông cười cười:
“Thấy anh chị có bông đẹp quá, bán hông tụi tui mua hết”.
Nó nghe rõ tiếng thở phào của ba má:
“Dạ, bán anh, anh coi mua sao?”.
“Tui mua hết rồi tự nhổ cho vô giỏ và chở luôn”.
Sau một hồi trả giá, ba má nó đồng ý bán, trong tích tắc ba người bứng sạch mấy luống bông. Mấy chị và hai anh em nó vừa mừng nhưng cũng vừa tiêng tiếc cho những luống hoa đẹp bây giờ chỉ còn trơ lại đất. Thấy má thì mừng rơn:
“Chà, hổng ngờ được giá quá, vậy là ăn Tết đỡ khổ rồi, hổm rày tui lo quá”.
Nó thấy ba nó quẹt quẹt sống mũi có lẽ bị cay cay.
Và đúng như lời đã nói, má nó sắm sửa Tết khá nhiều. Mỗi người đều có bộ đồ mới, bánh mứt trái cây cúng kiếng, chưng bàn thờ đầy đủ, thịt thà cũng đầy ắp xoong, còn kho một nồi măng khô thịt mỡ to tổ chảng để cuốn bánh tráng. Ba mươi Tết cúng rước ông bà mần hai con gà bự luôn. Đêm ba mươi hai anh em cùng thức bên bếp lửa bập bùng trong màn đêm tối thẩm nấu nồi bánh tét với ba nó chờ giao thừa, đêm yên ắng lắm, lâu lâu mới vang lên tiếng pháo lụp bụp, đì đùng, tới giao thừa thì nhiều tiếng pháo nổ vang, nhà nó cũng đốt phong pháo trung.
Ba ngày Tết ba nó đi đây đó, nhà những người gần gần mới quen, qua bên chú Chín rồi chở má nó về thị xã một ngày thăm thú bà con vào ở đây. Hai anh em thì chạy ra vô từ nhà cho tới lộ, mấy chị lẩn quẩn trong nhà hết ăn lại ngủ, cắn nẻ hột dưa tí tách.
Cái Tết đầu tiên ở vùng đúng là thôn quê đúng nghĩa cũng qua.
Ra giêng má và mấy chị dãy cỏ vườn, cỏ khô lấy bồ cào gom lại từng đống đốt đi cho sạch đất. Đôi khi cùng ba nó vô rừng gánh củi về, niềng lại thành từng bó chất đống rồi kêu xe lam chở về thị xã bán. Mỗi lần đi như vậy má nó mua về rất nhiều đồ biển, mực sò tươi, cá nục cá mòi, cá ngừ cá thiều hai loại này giống giống nhau con nào co nấy to bự và kèm theo một hai bao phân hột như đường cát, kêu phân urê.
Ba tháng mùa nắng nữa tiếp theo trôi qua. Cuối tháng ba bầu trời chiều chiều có nhiều mây đen. Buổi chiều một ngày đầu tháng tư, mây kéo che phủ đen kịt, trời chuyển lành lạnh thì có rắt rắt hột, chập sau thì cơn mưa ào ào đổ xuống. Mưa lớn và lâu hơn cả tiếng đồng hồ. Sau bao ngày nắng nóng cơn mưa trút xuống đất mềm ra, cảnh vật xung quanh như rũ đi cái áo khô héo bừng bừng sống dậy, trời dịu mát vô cùng. Buổi tối chú Chín chạy qua nhà uống trà với ba nó:
Ba nó hỏi:
“Bữa nay hông nhâm nhi chút rượu hả?”.
Chú Chín lắc đầu:
“Thôi anh, vô mùa mưa rồi đó, để sức mai bắt đầu mần việc”.
Ba nó hỏi lại:
“Vậy là chín thức vào mùa mưa?”.
Chú Chín gật đầu:
“Đúng rồi đó anh, cơn mưa như vậy là mùa mưa chính thức rồi đó, mai anh xuống lỗ bắp giống là được”.
Ba nó nói tiếp:
“Tỉa bắp trước tiên hen xong rồi khoai lang khoai mì, còn lúa tính sau hả chú”.
Chú Chín trả lời:
“Khoai mì trồng sau cùng đó anh, lo bắp tới khoai lang rồi lúa trước hết”.
Ba nó gục gật:
“Nghe theo lời chú”.
Chú Chín uống hết ly trà rồi về trước khi nói câu nữa:
“Cây mưa đầu mùa lớn như vầy, mưa gần chục thùng phuy nước báo hiệu một mùa mưa tốt lắm đó anh”.
Ba nó nói với theo:
“Cầu trời cho mưa thuận gió hòa, bà con làm ăn”.
Nó không biết thùng phuy nước là thùng gì nên hỏi:
“Thùng phuy là thùng gì hả ba?”.
Ba nó nghe chú Chín nói nên đang vui, vừa cười cười vừa trả lời:
“À, thùng phuy làm bằng sắt mỏng để đựng xăng dầu, cái thùng bự có hai cái ngấn lồi lên đó con, bà con mình dùng trữ nước để xài, một phuy đúng mười đôi nước. Ở đây nói chuyện với nhau về cơn mưa lớn nhỏ người ta tính bằng phuy nước hứng được từ mái nhà lớn lợp tôn, mưa năm phuy là vừa, trên nữa là lớn đó”.
Nó gật đầu hiểu rồi, nó nhớ nước mưa trong veo, tắm mát lạnh, có khi nó còn len lén hớp một miếng thấy ngọt lịm nữa. Đêm đó trời cũng lành lạnh cho nó một giấc ngủ đã đời.

***

Nó thức giấc trời đã sáng bạch, ngó qua nó lại nhà không có ai, chạy ra sau vườn ba nó đang cuốc lỗ còn má và chị cùng anh bỏ phân bò, phân bò chú Chín chia lại xài, rồi tỉa hột trồng bắp như hồi còn ở quê Quảng Nam. Nó cũng chạy theo phụ bỏ hột bắp giống, mỗi lỗ ba hột cho ra ba góc, người đi sau lắp đất là xong. Đang tỉa bắp nghe tiếng rét rét của con dế trống gáy một tràng dài từ phía ruộng đất cày ải, nhìn qua đó thì có mấy đứa trạc trạc tuổi nó đang dò dẫm theo tiếng gáy lật đất dưới đó, nó len lén phóng đi nhập bọn cùng và bắt được con dế than to bằng ngón út trên lưng có vân tròn tròn rất đẹp, mấy đứa kia đứa bắt được một hai con, dế than dế lửa rồi xúm lại bứt tóc quay dế mòng mòng cho hăng lên mà đá tới tấp, con dế của nó có lúc thắng lúc thua, mấy đứa kia cũng vậy, có con dế ban đầu hùng hổ phùng cánh gáy vang trời, xáp lại mới đọ càng là quay đầu chạy mất tiêu, có con nhỏ xíu kêu dế ốc tiêu mà lỳ đòn bị con lớn đẩy lui miết nhưng không buông mà nghiến càng, nghiến riết làm con kia cuối cùng phải bung, mấy đứa nói bị ê càng rồi, vậy mới biết đâu phải nhỏ thua và hùng hổ hù dọa là thắng hết đâu. Buổi trưa nghỉ hai anh em đi bắt dế đá tiếp. Vừa bắt nó vừa hỏi anh nó:
“Anh ơi, ủa dế ở đâu ra vậy, sao mới hôm qua chưa mưa có thấy gì đâu?”.
Anh nó lắc đầu:
“Tao cũng hổng biết nữa, chắc dế là loài lớn nhanh như thổi, qua một đêm có nước là lớn lên”.
Nó gục gật:
“Chắc vậy quá, chớ ở đâu”.
Đá dế vui thiệt là vui, thắng thua đứa nào cũng hớn hở bình phẩm con này bình phẩm con kia.
Năm ngày chẵn mới xong tỉa bắp tính ra được năm sào. Trong năm ngày có vài cơn mưa nhỏ. Năm ngày sau nữa cũng có xen kẽ mưa rỉ rả. Cả nhà trồng khoai, ba má nó vun vồng, mấy chị xẻ rãnh trên giữa vồng bỏ phân và trồng từng khúc dây khoai lang đã bức trụi lá xuống chừa một đoạn ngóc đầu để nức lên, dây giống khoai lang phải chạy xuống chợ mua. Năm ngày nhưng chỉ được một sào đất, vun vồng khoai lâu hơn nhiều cuốc lỗ tỉa bắp.
Một cơn mưa lớn nữa đổ xuống, đất ruộng nổi nước ngập mắt cá chân. Ba nó ngừng trồng khoai, đi mướn người về bừa ruộng cho bằng phẳng, bừa đất nổi sình hai ngày là xong, trong khi đó ba nó lấy lúa giống ngâm nước rồi vớt ra ủ cho lúa nức mộng, mất ba ngày, rồi đem ra vừa đi quanh ruộng vừa bốc từng nắm lúa bung tay rải đều khắp mặt đất, kêu là sạ lúa. Gieo lúa thì đất khô và bừa lại lần nữa cho đất lấp lúa. Và làm mấy cái bệu giả người bằng rơm trên đội cái nón lá hư rách để đuổi chim ăn lúa, hai anh em bắt chước làm thêm mấy cái cho mặc thêm áo quần rách bay phần phật trong gió cắm dọc dọc dưới ruộng.
Sạ lúa xong quay lại tiếp tục trồng khoai lang và trồng khoai mì. Hai sào khoai lang nữa còn lại hai sào khoai mì. Khoai mì cũng vun vồng nhưng không xẻ rãnh, cuốc lỗ khoảng cách bốn năm tất trên giữa vồng bỏ phân và trồng hom mì xuống, hom mì là thân cây khoai mì chặt từng khúc cỡ gang tay, trồng lấp đất hơn nửa hom còn nửa hom lồi lên trên, nhánh nức từ hom bên trên thành thân lá, hom dưới đất ra rễ sau một số rễ lớn thành củ, hom mì khô đét tưởng như đã chết vì để mấy tháng nắng vậy mà trồng xuống vẫn sống ngon lành. Trồng khoai lang khoai mì đợt sau phải kêu thêm nhân công nên nhanh hơn. Đến lúc này bắp đã lên được gần gang tay, khoai nức nức lá non. Hết trồng khoai thì tiếp tục dãy cỏ bắp. Vừa dứt tay làm cỏ bắp dây khoai lang cũng vươn bò bằng gang tay phải xới vồng cho tơi đất để dây bò tươi tốt. Làm cỏ bắp, xới vồng khoai xong nó tưởng là được nghỉ nhưng đâu có, lúa lên cao và cỏ cũng theo lên vậy là làm cỏ lúa, dặm lúa, nhổ những chỗ lúa dày dặm lại chỗ thưa.
Một bữa chú Chín ghé chơi, hổm rày chú ít ghé như hồi mùa nắng, cạn chung rượu với ba nó, chú cười khà:
“Đi ngang thấy bắp lúa khoai gì của anh cũng xanh tốt, mừng cho anh lắm”.
Ba nó gật đầu:
“Cảm ơn chú, nhờ chú chỉ bảo với nhờ trời thương, hy vọng có cái ăn”.
Chú Chín tiếp:
“Trời này tui bảo đảm là trúng, dư dả, à mà anh nghe gì chưa?”.
Ba nó hỏi lại”
“Bữa giờ đâu có ngơi tay, lo đất cát đâu có để ý vụ gì, tin gì vậy chú”.
Chú Chín chậm rãi:
“Cũng hông có gì ghê gớm, lâu rồi hồi tháng hai lận mà giờ tui mới biết, giờ nhiều tỉnh gộp chung lại với nhau, như Thuận Hải là từ Ninh Thuận, Bình Thuận và Bình Tuy làm một”.
Ba nó nói có vẻ ngạc nhiên:
“Gộp chung nhiều hén, rộng dữ ha”.
Chú Chín Gật đầu:
“Rộng dữ à, có tỉnh trải dài hơn hai trăm cây số gần ba trăm cây dọc theo quốc lộ, chưa tính chiều ngang”.
Ba nó đưa ly cụng tiếp:
“Mà thôi kệ, mấy ông lớn tính gì làm gì là việc của mầy ổng, mình lo ruộng rẫy”.
Chú Chín đồng tình:
“Anh nói đúng, nghe chơi vậy thôi chớ, mình lo mần ăn là chính”.
Đêm sáng trăng vằng vặt, vang vang tiếng gõ đì đùng của những người tranh thủ làm nhà ở gần kề, cách độ chừng một tuần hay nữa tháng là có gia đình chuyển về, xung quanh mọc thêm rất nhiều nhà, ở cạnh mặt đường như nhà nó và cả bên trong, kêu là xóm trong. Cạnh bên khoảng năm chục mét là nhà dì dượng Ba Ninh, có đứa con trạc tuổi nó, bên này cũng khoảng năm chục mét là nhà chú thím Bảy Hảo làm xong nhà có treo lủng lẵng đồ tạp hóa để bán, mua gì ít ít xài liền như mỡ heo chiên cá, tiêu ớt, bột ngọt, bịch xà bông nhỏ giặt đồ… thì má nó sai nó qua nhà thím Bảy mà mua. Chú Bảy người mập mạp, da trắng kêu có gốc người Tàu ở thị xã mới lên. Thím Bảy Hảo có hai đứa con gái cùng trạc lứa, bữa nào mua đồ vắng chú thím nó ghẹo hai đứa này theo cách nói tốt tốt của người Tàu, đưa ngón tay cái lên, “hảo, hảo” làm hai đứa tức anh ách nhưng không làm gì được.
Bắp được hơn tháng lên cao sáu bảy tất là đến lúc cho phân u rê vô gốc và vun gốc để chống úng nước và cũng chống đỡ ngã khi bắp lớn. Độ gần hai tháng bắp trổ cờ trên ngọn rồi vụt lớn nhanh thấy rõ, cao ngang người lớn sau đó chỗ bẹ lá sát thân và ở khoảnh giữa cây ra bông chàng màu trắng trắng pha xanh xanh non mướt như những sợi tơ. Thường mỗi cây cho ra hai bông chàng nhưng cũng có cây ra một hay ba, bông chàng là phần trên đầu của trái bắp khi bắp trái lớn dần bông chàng cũng dần khô chuyển màu nâu thành râu bắp, râu bắp nấu nước uống rất mát. Bắp trái tượng hột ăn được cỡ chừng hai tháng rưỡi, già dần dần cho tới khi khô là ba tháng chẵn. Khoai lang thời gian cũng ngang ngang vậy, hai tháng rưỡi là củ ăn được, lớn hết cỡ là ba tháng. Còn khoai mì thì dài ngày hơn nhiều, gấp đôi lận, sáu tháng luôn nhưng muốn để lâu nữa cũng được. Lúa ba nó chọn giống dài ngày Nàng Yếu và Nàng Sậu cũng sáu tháng đúng mới cho lúa chín bởi ai cũng nói hai giống này thơm ngon hết ý. Lúa thì rải phân bò trước tiên rồi tới hai lần phân u rê, lần cuối là lúc lúa sắp trổ đòng đòng.
Bắp trái chín ăn được, kêu là bắp tươi thì ba má nó chặt cỡ một nửa, hai sào rưỡi, chặt đổ một đống to tổ chảng trước sân rồi kêu người vô bán, phần còn để lại cho khô lấy hột ăn dần. Bắp tươi sáng sáng luộc một nồi to ăn thay cơm, bắp hột dẻo và ăn liền nên rất ngon và ngọt sớt. Có những bữa trời mưa dầm dề không ra đồng ra vườn làm gì được thì đội mưa bẻ mớ bắp vô nướng lửa than lăn nước mắm mỡ hành thơm phức, nóng hổi và béo béo vừa gặm nhai sột soạt vừa ngắm mưa ấm lòng và sướng rơn. Bắp khô lẩy lấy hột rang trong cái trả bằng đất với cát nổ bung lốp bốp rồi lấy cái rổ lỗ nhỏ sàng cho cát rớt hết, cũng rưới nước mắm mỡ hành nằm ngửa người múc nhai rọt roạt cũng đã đời những ngày mưa. Bắp hột còn hầm ăn thay cơm cũng ngon chán, hầm mắc công hơn, nước đầu hầm bắp với một chút vôi sống, mấy tiếng đồng hồ bắp nở toe toét thì cho ra rổ chà cho tróc mày, tróc lớp vỏ ngoài, còn hột bên trong trắng bóc, nấu tiếp vài tiếng nữa bắp ra nhựa dẻo và mềm là ăn được, bắp hầm ăn với muối mè muối đậu thì khỏi chê và còn ăn cả với cá kho. Cá tôm, đồ biển thì có quanh năm nhưng trúng mùa thường cũng vào mùa thu hoạch vụ đầu của nhà nông, cá nục cá mòi, cá trích cá ve… ê hề dưới thị xã chở xe xe lên bán nườm nượp, những chiếc xe lam chạy giòn tan không nghỉ, cá rẻ như cho thì mua tạ tạ mà muối mắm. Cây bắp không có bỏ, cây bắp tươi bò rất thích ăn, nhiều quá thì đào cái hố rộng dồn xuống cùng cỏ lá cho mục tơi hết làm phân xanh bón lại đất trồng, cây bắp khô chất đống đốt lấy tro trộn chung phân xanh phân bò làm phân rất tốt.
Bình thường chẳng thấy đâu, tới mùa bắp chín thì bỗng xuất hiện từng đàn chim két ào ào kéo về, chim két màu xanh lá cây lấp lánh mỏ vàng, đàn hợp đông không đếm nổi tạo thành một mảng xanh điểm vàng rất đẹp mắt nhưng chỉ cần sà xuống một chút là y như rằng cả một đám bắp còn xơ xác cùi bắp liền, trái bị đàn chim mổ te tua, mổ thiệt là lẹ làng. Anh em nó trở thành… “hiệp sĩ” đuổi chim, la hét khản cổ nhiều ngày liền, lúc không thấy bóng dáng đàn chim thì tìm cào cào châu chấu bắt để nướng nhâm nha cũng ngon lành.
Dây khoai lang độ hai tháng là bò dài sải tay, tẻ nhiều nhánh kín mít hết vồng, phải cắt tỉa bớt chớ không khoai nó hức cứ bò nuôi dây mà chẳng thèm ra củ. Cắt từng đoạn chừng một thước bó thành bó vừa cầm, chiều chiều má nó lấy xe Mobylette chở cỡ hai chục bó xuống chợ bán vậy là có tiền chợ, dây khoai người ta mua về cho heo ăn. Nhà nó lúc này cũng nuôi một cặp trong cái chuồng hình chữ nhựt gát cây cỡ bắp chân chồng qua gối lại để có thịt ăn Tết, thêm hai bầy gà, cho gà ăn bắp hột và nó tự bươn chải bươi móc kiếm côn trùng ăn thêm. Khoai lang có cũ ăn được thì đào nấu ăn dặm buổi sáng, bán củ tươi, nhiều quá thì làm cái bàn xắt, xắt thành lát mỏng như đồng tiền phơi khô để dành hầm ăn sáng, khoai lang khô hầm với đường tán.
Cuối tháng sáu tính theo lịch Ta, bắp và khoai thu hoạch xong hết, ngoài tiền bán ra bắp khô được năm tạ hột, khoai lang khô được hai thùng phuy. Ba má nó làm một bữa tiệc kha khá, mời bà con lối xóm và mấy người xóm trong mần công phụ, dĩ nhiên có mặt chú Chín. Má nó mua được cái đùi nai to và hai con thỏ rừng mỗi con cỡ tới bốn ký lô thêm mấy cặp chim cu đất mập ú của mấy người thợ săn. Thú rừng còn nhiều vô kể, bước tới bìa rừng là đã có gà thỏ sóc nhím… khỉ thì đi thành đàn leo trèo chạy nhảy trên những cây cao to như cây thị, cây da… mùa nắng đi lấy củi dọc đường có khi thấy dấu chân còn in của con trút (tê tê) lần theo một hồi là bắt được, bắt trút dễ như chơi, chỉ cần cành cây cứng chắt chọt vào giữa mình là nó cuộn tròn quanh cây cứng ngắt vậy là xách về, trút thịt ăn là loại nhứt, muốn săn heo nai, bò đỏ* (*đỏ – mang, mễnh) thì đi xa hơn một chút, có người còn đi săn cả cọp beo trong rừng già cách làng chừng chục cây số.
Mấy cặp chim nhổ lông rồi ướp muối ớt nướng thơm lừng, thỏ rô ti còn đùi nai má nó nấu cà ri. Bà con lối xóm đến đông đủ. Đàn bà con gái tới rất sớm phụ nấu nướng. Những người đàn ông tề tựu trên bộ phản, nâng ly rượu nếp ba nó nói:
“Nhờ Trời, vụ vừa rồi cũng thu được kha khá, tui trước nhứt cảm ơn chú Chín rất nhiều, sau cũng cảm ơn bà con cô bác đã giúp đỡ, bữa nay mời anh em bà con làm bữa thoải mái, không say không về”.
Ai nấy hà hà cười, cụng ly côm cốp, chúc mừng ba nó rôm rả. Người nói trúng mùa quá, dư ăn dư để là cái chắc, người nói Trời không phụ lòng người siêng mần ăn… Chú Chín đại diện cảm ơn lại ba má nó đã mời bà con. Nhâm nhi một hồi thì chú Tư râu rót đầy ly đưa lên rồi nói với ba nó:
“Tui mời anh ly này, cảm ơn anh nhiều, gia đình tui lùm đùm lề đề vợ con mới lên không còn đồng bạc dính túi, may nhờ có anh chị giúp làm công lại được anh chị cho mượn trước tiền nên không đói chớ không biết ra sao, mong anh chị kêu tụi tui nữa nghen”.
Chú Ba bừa cũng nói:
“Anh cũng đừng quên thằng em này hén”.
Mấy chú nữa cũng nói giống giống vậy.
Ba nó phẩy tay:
“Có gì nhiều nhặn đâu chú Tư, mấy chú, lối xóm bà con giúp nhau là thường tình, còn chuyện công cán, mấy chú phải giúp tui tiếp chớ, hổng giúp ai giúp tui đây” – Ba nó cười hề hề rồi tiếp: Qua bữa nay là tiếp tục, đất trồng bắp thì giờ trồng khoai, còn trồng đậu xanh đậu đen, còn đất trồng khoai thì trồng đậu phộng như ý chú Chín làm quân sư”.
Chú Chín cười hà hà:
“Biết chút gì nói chút đó chớ quân sư gì anh”.
Nghe ba nó nói mấy chú mắt sáng lên, mừng rỡ, hết lo sợ thất nghiệp. Ba nó nói tiếp:
“Phía xóm trong tui thấy đất cát cỏ lau còn ê hề, rảnh rỗi mấy chú nên khai hoang, mùa tới có cái mà mần”.
Chú Tư râu gật đầu:
“Tui cũng tính vậy, có gì nhờ anh chị hỗ trợ thêm cái ăn” – Chú cười.
Mấy chú kia gật gù theo, ba nó cũng gật đầu:
“Thì mấy chú giúp tui, tui giúp lại chớ có chi”.
Cạnh bên thì má nó và các dì các chị cũng xào xạc vừa cầm đũa vừa trò chuyện trên chiếc chiếu trải giữa nhà, con nít tụi nó sáu bảy đứa cũng có một mâm riêng ăn căng đầy bụng, còn xôi gà và chè đậu xanh đánh không đụng tới nổi.

***

Ngay ngày hôm sau, sau bữa tiệc, cả nhà và mấy chú làm công mướn tiếp tục vụ tiếp. Đất trồng bắp thì tém nhưn thành hàng dài rồi vun vồng trồng khoai lang, trồng ba sào. Phần hai sào còn lại dãy cỏ bang đất vun gốc bắp cho bằng phẳng rồi cuốc lỗ bỏ phân tỉa đậu xanh và đậu đen. Đất trồng khoai lang thì bang cho bằng phẳng rồi cuốc lỗ bỏ phân tỉa đậu phộng. Lưỡi cuốc lỗ tỉa đậu nhỏ chỉ bằng nửa lỗ tỉa bắp, đậu xanh đậu đen cách khoảng chừng hai ba tất, đậu phộng thì kề bên nhau.
Tỉa đậu phộng cuốc lỗ sát bên nhau mà một lưỡi cuốc nhỏ thì quá nhẹ, ba nó sáng kiến đặt chú thợ rèn làm cái cuốc có ba lưỡi, cuốc một lần được ba lỗ nhanh gấp ba lần cuốc một lưỡi. Chú Tư râu cầm cái cuốc vừa tay rất ưng ý:
“Anh Hai sáng kiến ghê, cầm cái cuốc nhẹ hều một lưỡi khó làm quá, cuốc này đầm mới đã lại nhanh nữa, chắc mai mốt anh có nhiều sáng kiến nữa đây”.
Ba nó cười:
“Tui nghĩ rồi, mần ăn khấm khá tui có thêm vốn liếng sẽ sáng kiến thêm máy móc cho bà con ta đỡ cực, khai hoang đất cát làm nhiều thêm”.
Chú Tư gật gù:
“Anh nói chí phải”.
Nhờ có mấy chú làm công nên lúc này má nó và các chị chỉ làm những việc nhẹ, bỏ phân, tỉa hột, trồng dây khoai lang… Đậu cũng cỡ như bắp, một tháng sau lên độ gang tay là dãy cỏ, vun gốc. Đậu xanh và đậu đen cao hơn đậu phộng, cây đậu đen là cao nhứt, trung bình cao bốn năm tất, rồi tới khoảng tháng rưỡi là trổ bông bắt đầu kết trái, hai tháng rưỡi ba tháng là trái chín cho hột, cũng là đậu nhưng đậu phộng ra bông vàng dưới gốc và cho củ dưới đất.
Mấy sào đậu nhà nó trồng cũng lên xanh um, đẹp hết biết.

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

CƠN GIÓ MANG HỒN TUỔI THƠ (TT)

 

ledachoanghuu

Anh ta bay là đà, nói với chính mình, “ta về với tuổi thơ thì ta gọi ta bằng nó và tự gật đầu, “vậy đi”.
Trước lúc cơn gió mang linh hồn chết bay ra khỏi căn phòng có nói sẽ ngao du Sài Gòn, nghe tên này rất quen, bay dạo một vòng thấy vùng đất cũng rất quen thuộc vậy là nó biết đang ở trên vùng đất Sài Gòn. Vừa bay lang thang vừa tìm kiếm có gì quen nữa không, rồi từ xa xa một cơn gió nhỏ bay tới và ngoắc ngoắc, nó bay lại với đôi mắt tròn xoe, cơn gió nhỏ cười hì hì:
“Chào bạn, bạn nhớ tui hông?”.
Nó lắc đầu:
“Mình không nhớ”.
Cơn gió nói tiếp:
“Không sao, để mình nhắc lại, mình là cơn gió mang hồn tuổi thơ của bạn, mình đi chung hết quãng đời tuổi thơ của bạn đó”.
Nó hỏi lại cho chắc:
“Vậy bạn biết và nhớ hết quãng đời này của mình?”.
Cơn gió mang hồn tuổi thơ gật đầu:
“Phải, bây giờ bạn không nhớ, nhưng bạn muốn nhớ lại hông?”.
Nó đáp ngay:
“Rất muốn, rất nóng lòng nữa là đằng khác”.
Cơn gió mang hồn tuổi thơ nắm tay nó:
“Được, vậy để mình nhắc để bạn nhớ lại nghen”.
Nó gật đầu:
“Cảm ơn bạn!”.
Cơn gió tiếp tục:
“Ở đây ngày trước gọi chung là thành phố Sài Gòn, còn được gọi là vùng đất lành chim đậu”.
Nó reo lên:
“Ấy dà, hèn gì mình nghe tiếng Sài Gòn rất quen, Sài Gòn đẹp lắm phải hông?”.
Cơn gió gục gật:
“Phải, rất đẹp, bạn sanh ra ở ngoại ô của thành phố, ở Hóc Môn thuộc vùng Gia Định, để mình đưa bạn về đó ngay bây giờ”.
Cơn gió kéo nó đi, bay về nơi chôn nhau cắt rún của nó. Và quả tình vùng quê yêu dấu rất đẹp và hiền hòa, nó bay tới đây bỗng dưng trong đầu nó hiện ra mồn một tuổi thơ của nó. Nó reo lên:
“Ý dà, mình nhớ ra rồi – Nó chỉ về hướng có mấy dãy nhà: đằng kia là nhà mình kìa”.
Cơn gió mang hồn tuổi thơ ngừng lại:
“Bạn nhớ rồi hả, chắc từ từ rồi sẽ nhớ hết, thôi bây giờ mình có công chuyện phải đi, chừng nào cần thì cứ gọi cho mình, chúc may mắn”.
Nó ôm chầm cơn gió mang hốn tuổi thơ:
“Cảm ơn bạn nhiều lắm!”.

***

Chạy về tới nhà, gặp má mình đang ngồi với chiếc máy may, nó khoanh tay:
“Thưa má! con mới về”.
Má nó nhìn lên:
“Tổ cha bây, xin đi chơi chút mà giờ mới về”.
Nó cười hề hề:
“Dạ, con xin lỗi con quên nói, mấy anh ở xóm trên kêu lên làm lồng đèn mai đi chơi Tết Trung Thu, tụi con ráng làm cho gần xong, buổi chiều mai má cho con đi làm tiếp rồi tối đi chơi luôn nghen má”.
Má nó gật đầu:
“Ờ, vậy thì được, thôi giờ xuống tắm rửa đi, chờ chút ba con về rồi dọn cơm cùng ăn”.
Nó dạ và chạy xuống sau nhà tắm rửa. Nhà chỉ là căn nhà trệt nhưng khá rộng rãi nằm trong một dãy mà bên ngoài nhà nào cũng giống nhau. Có lần nó hỏi:
“Sao người ta làm nhà giống nhau vậy ba?”.
Ba nó trả lời:
“À, làm một kiểu cho nhanh với lại làm như vậy để nhận biết đây là khu riêng, dành cho những gia đình như mình là làm trong trại gia binh”.
Nó hỏi tiếp:
“Ba làm gì trong đó vậy?”.
Ba nó cười:
“Ba làm bàn giấy”
Nó đoán thử:
“Giống như cô giáo của con?”.
Ba nó gật đầu:
“Ừ, giông giống vậy”.
Ba nó làm bàn giấy trong trại gia binh có tên là Quan Trung, người ta gọi tắt của Trung tâm huấn luyện Quốc Gia Quan Trung. Còn má ở nhà đi chợ, nấu cơm nước, lúc rảnh rang thì sửa đồ cho những người lính ở trong đó, nó biết thêm sơ sơ vậy.
Học bài xong lên giường nằm nhưng chưa ngủ được, nó nghĩ thêm cái gì để làm cho cái lồng đèn đẹp hơn, mấy anh chị lớn chỉ làm cái khung sườn dán giấy và kêu tự trang trí sao ai đẹp sẽ có thêm quà. Nó nằm cạnh bên cửa sổ miên man suy nghĩ một hồi thì những cơn gió thổi tới, gió nhè nhẹ ru nó chìm vào giấc ngủ.
Đêm Trung Thu, trăng rằm lên sáng rực, tròn quay. Đám tụi nhỏ nó đã làm xong hết các lồng đèn, ui cha đứa nào làm cũng đẹp hết. Mấy anh chị quẹt lửa thắp dùm những ngọn đèn cầy bên trong làm lồng đèn sáng lung linh, rồi mấy anh chị dẫn đầu thành đoàn, tụi nó tung tăng đi theo sau cùng hát bài Rước Đèn Tháng Tám:
Tết Trung Thu rước đèn đi chơi,
em rước đèn đi khắp phố phường.
Lòng vui sướng với đèm cầm tay,
em múa ca trong ánh trăng rằm.
Tùng dinh dinh cắc tùng dinh dinh.
Tùng dinh dinh cắc tùng dinh đinh,
em rước đèn này đến cung trăng.
Tùng dinh dinh cắc tùng dinh đinh,
em rước đèn này đến chị Hằng...”
Đoàn kéo đi khắp mấy xóm. Sau đó tụ tập lại bãi đất trống, ngồi xúm xít dưới gốc cây xoài chớ hổng có cây đa, tiếp tục cùng hát bài Thằng Cuội:
Bóng trăng trắng ngà,
có cây đa to, co thằng Cuội già, ôm một mối mơ.
Lặng yên ta nói Cuội nghe.
Ở Cung trăng mãi làm chi?
Bóng trăng trắng ngà,
có cây đa to…”
Hát xong mấy anh chị phát bánh Trung Thu ăn thiệt là ngon còn được nghe kể chuyện sự tích Chú Cuội rất hay nữa. Đêm Trung Thu quá là vui!…
Nó đã nhập học được hơn nửa tháng.
Năm nay nó đang học lớp ba. Bước vô lớp học, câu đầu tiên nó thấy phía trên tấm bảng là: “Tiên học lễ hậu học văn”, hai bên vách là hai câu: “Kính trên nhường dưới – Kính thầy, quý bạn” và “Học thầy không tầy học bạn”. Được cô giáo dạy: Đối với Cha Mẹ, anh chị phải “Đi thưa về trình”. Khi gặp người lớn, học sinh đều phải lễ phép chào kính. Mỗi lần đi ngang trước mặt người lớn phải cúi đầu, khi Cha Mẹ tiếp khách không được ngồi nghe, không được hỏi leo hay nói leo chuyện với khách của Cha Mẹ mình. Mỗi khi đi ra đường, thấy các cụ già yếu, người tàn tật phải dìu dắt băng qua đường, hay tránh những chỗ khó đi, gặp người bị nạn phải lập tức giúp đỡ, thấy có cuộc chào cờ phải lập tức dừng chân ngả nón, mũ đứng trong tư thế trang nghiêm, kính cẩn cho đến khi chào cờ xong, gặp đám tang cũng vậy, ngã nón cúi đầu chờ đám đi qua. Không bao giờ được phép đứng trước cửa nhà người khác nhìn vào, như vậy là bất lịch sự. Không được nói những lời lẽ thô tục, không được vô lễ với bất cứ ai. Khi lượm được của rơi, phải đem trình thầy cô, để thầy cô tìm cách trả lại cho người bị đánh rơi…
Hàng ngày cô luôn luôn nhắc nhở học sinh: “Có học phải có hành”. Những em nào thực hành đúng như những điều đã học, sẽ được cô cho điểm tốt, hoặc ngược lại, sẽ bị ghi điểm xấu và ba học sinh đứng đầu lớp, mỗi người sẽ nhận được một Bảng Danh Dự cuối tháng. Mỗi lần nhận được Bảng Danh Dự là má nó thưởng quà cho nhiều lắm.
Nó học thuộc lòng nhiều bài ca dao như:
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”
Gia Huấn Ca của Ức Trai Nguyễn Trãi:
“Thấy người hoạn nạn thì thương,
Thấy người tàn tật lại càng trông nom,
Thấy người già yếu ốm mò,
Thuốc thang cứu giúp, cháo cơm đỡ đần.
Trời nào phụ kẻ có nhân,
Người mà có đức, muôn phần vinh hoa.
Rồi thuộc luôn cả bài Quê Tôi anh nó học trước ở lớp bốn để lại nữa, anh nó học trên hai lớp:
Quê tôi có một con sông,
Có nương khoai thắm, có đồng lúa xanh.
Bốn mùa gió mát, trăng thanh,
Bốn mùa lúa tốt, dân lành vui tươi.
Đó đây vang tiếng nói cười,
Câu hò, giọng hát của người nông dân,
Ngày đêm chẳng quản tấm thân,
Nắng mưa dầu dãi bao lần nào than.
Mồ hôi đem tưới mùa màng,
Chân tay xới mảnh đất vàng thân yêu.
Quê tôi trong ánh nắng chiều,
Vi vu thoáng tiếng sáo diều nhặt khoan.
Đi học còn được học làm toán, khoa học thường thức, sửa địa, hội họa rồi có khi ra ngoài tập thể dục, nhưng nó thích nhứt là môn Quốc văn. Giờ tập làm luận văn cô cho đề bài tả cảnh tả người, con vật này nọ nó rất mê.
Đi học rất khoái, chỉ ớn ông thầy giám thị, ổng nghiêm nghị không bao giờ thấy nở nụ cười, ổng chắp tay sau đít đi lòng vòng, những lúc xếp hàng chào cờ hay vô lớp đứa nào lộn xộn ổng ton cho một ba ton dễ hổng xưng đít thì thôi á.
Đi học một buổi còn một buổi thả sức rong chơi chạy nhảy với đám bạn cùng xóm, có khi kéo cả bầy qua xóm khác cùng chơi nhiều trò, tạt lon, cướp cờ, bắn bi, đá banh… Phía sau dãy nhà không xa là những cánh đồng lúa và những vườn trồng rau, trồng ớt, trồng bông rất đẹp nữa. Tụi nó cũng hay ra đây men theo bờ ruộng bắt chuồn chuồn, bắt dế, bắt bướm về chơi.
Một bữa nhận được Bản Danh Dự, ra về nó mừng quýnh chạy một mạch tới nhà luôn. Về tới nhà, thấy má đang ở dưới bếp, nó chạy ào xuống lấy ra khoe:
“Má ơi! con được Bản Danh Dự nè!”.
Má nó đang làm lỡ tay cũng buông, hun nó cái chóc rồi khen:
“Con giỏi lắm! ráng giỏi hoài vậy nghen, má thương và thưởng”.
Nó dạ một tiếng to, vui hết cỡ.
Chiều gần tối ba đi làm về, má lại lấy Bảng Danh Dự ra khoe với ba nó:
“Nè, thằng con ông nó lãnh được nè!”.
Ba bồng thốc nó lên quay một vòng, sướng đã đời, hạ xuống, ba nó nói giông giống má:
“Ừ, con giỏi lắm, mai chủ nhựt ba cho đi chơi”.
Nghe được đi chơi nó mừng líu ríu:
“Dạ, đi chơi ở đâu vậy ba?”.
Ba nó trả lời:
“À, mai ba chở hai anh em xuống Sài Gòn coi đá banh”.
Chiều chủ nhựt được ba lấy chiếc xe Mobylette chở hai anh em đi coi đá banh. Dưới Sài Gòn nhà cao lắm, người đông đúc, nhiều xe hơi chạy qua lại tấp nập luôn. Ba nó dẫn hai anh em vô trong sân, Trời! cái sân rộng mênh mông vậy mà chật cứng người coi, người ta la rần trời đất khi hai đội ra sân, mấy chú đá banh hay quá chừng, hai anh em coi không chớp mắt. Nghĩ giữa hiệp được mua cho hai anh em hai cây cà rem mát lạnh, mút ngọt sớt. Ra về ba cha còn bàn tán về trận đá banh suốt dọc đường không dứt.
Về đến nhà là đèn đã lên ngọn sáng trưng. Được má thưởng nữa chớ, một bữa tối ngon lành. Má đi chợ Bà Điểm mua vịt cỏ về trộn gỏi, nấu cháo, vịt cỏ ở đây là số một. Anh chị em tụi nó được uống nước xá xị còn ba má thì cụng ly với lave con cọp* (*bia con cọp) vừa ăn vừa trò chuyện rôm rả.
Rồi một bữa ba má nó nói hôm nay nghỉ học. Má với mấy chị chộn rộn xếp quần áo và những bị cơm sấy, mì gói cùng một bịch cơm rang vào ba lô, trời vừa sáng cả nhà kéo nhau ra đường trừ ba, má nó nói đi tản cư tránh đạn còn ba phải vào trong trại. Ra đường cũng quá chừng người gồng gánh, vác ba lô cùng đi về một hướng cách nhà mấy cây số tụ tập ở một ngôi nhà lớn lắm, ai nấy vẻ mặt lo lắng, rầu rĩ mặc cho lũ con nít chạy nhảy vui đùa. Chơi mệt vào lục đồ ăn, lấy ra được một thanh sôcôla, nó nhớ lại một bữa mấy đứa đang đi học về thì có một chiếc xe ríp (jeep) chạy qua rồi ngừng lại, trên xe có một ông da trắng bóc, cao to nhảy xuống, ổng hỏi giọng lơ lớ:
“Các cháu đi học về hả?”.
Tụi nó đồng thanh thưa:
“Dạ thưa, tụi con đi học về”.
Ổng cười tươi và lấy một bịch sôcôla chia cho mỗi đứa mấy thỏi và dặn:
“Các cháu ngoan lắm, học cho giỏi nghen”.
Tụi nó dạ và cảm ơn xong, ổng xoa đầu và lên xe thì nghe chú lái xe nói:
“Dạ, đại úy coi bộ khoái trẻ con”.
Ổng cười đáp lại:
“Phải, mình rất mê trẻ con, trẻ con rất dễ thương, hồn nhiên và ngây thơ, mình ước gì không lớn lên mà mãi mãi là trẻ con”.
Xe chạy đi rồi tụi nó còn thắc mắc hoài, cái ông này lạ, sao lại không muốn lớn lên trong khi con nít muốn lớn nhanh ào ào lên bằng mấy ổng.
Tới chiều có thông báo không có chuyện gì xảy ra. Bà con lục tục trở về, ai về nhà nấy. Về nhà thì ba đã ở nhà, vẫn y xì như lúc đi hổng có gì khác. Ba má nó thầm thì, “hổng có oánh nhau như thông báo”. Nó cũng chẳng hiểu gì, ai oánh với ai chẳng biết.
Ngày tháng tuổi thơ êm đềm, có lẽ vậy mà tụi con nít thấy trôi qua rất chậm, tụi nó đâu muốn vậy, muốn mau tới Tết, mau tới nghỉ hè để được rong chơi cả ngày, được đi đây đi đó.
Rồi một ngày gần tới nghỉ hè, đang trong lớp học, thì nghe một tiếng nổ uỳnh thiệt lớn, cô trò chạy ào ra coi, cách xa có cột khói đen nghịt bốc lên cao. Sau đó có thông báo cho nghỉ về nhà. Trên đường về tụi nó thấy nhiều người hớn hở ra mặt, có người còn hét lớn, “hòa bình rồi”, “thống nhứt rồi bà con ơi”, “hết chiến tranh khói lửa rồi”. Về tới nhà, ba nó cũng có mặt, thường ngày ba nó ở trong trại giờ này, nó hỏi:
“Ba hổng có đi làm hả?”.
Ba nó gật đầu:
“Ừ, từ giờ ba không đi làm lính nữa, ba không vô trong đó nữa, đất nước mình hòa bình rồi con à”.
Đã nghe loáng thoáng, nó hiểu thêm, à chiến tranh là đi lính xung trận bắn giết nhau, chết chóc và đau thương.
Buổi chiều ngày hôm đó và mấy ngày sau nữa, ngoài đường người nườm nượp rầm rập kéo ngang qua nhà đi thẳng tới trại gia binh. Người đi bộ, người đi xe Honda, người kéo xe kéo, xe kút kít* và cả xe lam**, (*Xe đẩy hai bánh thường dùng trong chợ, **Lambro 550 dùng chở khách, chở hàng gần lúc bấy giờ) khi trở ra người đi bộ thì vác, ôm, các loại xe thì chất lỉnh kỉnh đủ thứ, bao bì, bàn ghế, máy móc, tôn lợp nhà rồi những cuộn dây thép gai… Ở nhà thì lạ, ba má nó lấy đồ của mấy chú lính đổ hết xuống cái giếng ở sau nhà, cái giếng sâu chừng ba bốn thước vậy mà gần đầy luôn, rồi mà sao nhà nó không ai vào lấy đồ như người ta, nó hỏi:
“Người ta lấy cái gì vậy ba?”.
Ba nó trả lời:
“À, trong trại có cái kho, người ta phá kho lấy đồ đó, mấy cái bao là gạo, đường, còn mấy đồ kia con nhìn là biết rồi chớ gì?”.
Nó nói dạ biết rồi hỏi tiếp:
“Sao nhà mình hổng ai vô lấy?”.
Ba nó giải thích:
“Những người đó người ta kêu là hôi của, gần giống đi ăn trộm, như vậy là không tốt, nên mình không được làm, đói cho sạch con à”.
Nó hiểu rồi, cô nó cũng dạy như vậy mà.
Nhà trường đóng cửa, phải nghỉ học, nó nhớ lớp nhớ cô giáo và nhớ cả ông thầy giám thị.
Độ chừng hơn tháng sau, sáng sớm một chiếc xe cam nhông* (*xe tải chở hàng hóa) đậu xịch trước cửa, bác tài xế và chú lơ xe* (*phụ xe) nhảy xuống chạy vào nhà hỏi:
“Đâu anh, đồ đạc nào đâu anh?”.
Ba nó chỉ đồ đạc đã đóng gói, vô rương, chất đầy trong nhà:
“Đó, chừng đó đó, có mấy cái rương đựng chén dĩa kiểu, anh để cẩn thận dùm”.
Bác tài xế dạ:
“Chà đồ nhiều quá chớ, chất phải mất hết cả buổi, vậy sáng mai mình lên đường hen”.
Ba nó gật đầu:
“Theo anh tính vậy”.
Ba má với mấy chị phụ chuyển đồ lên xe. Nó chẳng biết ất giáp gì, mon men hỏi chị:
“Nhà mình làm gì vậy chị?”.
Chị trả lời:
“Chuẩn bị về quê”.
Nó hỏi tiếp:
“Quê ở đâu lận?”.
“Ở Quảng Nam”.
“Ủa, sao phải về đó làm chi?”
Chị nó ký đầu nó cái cốc:
“Con nít biết gì hỏi nhiều, đi chơi đi”.
Nó tấm tức chạy một mạch ra đồng. Hỏi mấy chị thì ai cũng nói con nít biết gì mà hỏi, mai mốt lớn sẽ biết. Nhưng nó vẫn thắc mắc sao phải đổ đồ xuống giếng, uổng quá chừng, rồi bây giờ phải bỏ nơi này mà đi, nơi nó sanh ra đẹp đẽ là vậy mà. Nó kêu cơn gió tuổi thơ lại, nó hỏi:
“Cơn gió tuổi thơ ơi, sao lại có chuyện kỳ cục vậy?”.
Cơn gió tuổi thơ lắc đầu:
“Mình cũng như bạn thôi, hổng hiểu chuyện người lớn, chỉ biết chuyện của tụi mình”
Nó buồn hiu, cơn gió cũng buồn theo thổi hiu hiu, ngồi đờ dẫn nhìn vườn ớt trái ra chín đỏ, rụng đầy mà chẳng ai buồn hái, lát sau đành chia tay cơn gió tuổi thơ, một mình lủi thủi trở về.
Sáng sớm hôm sau, ba má kêu dậy sớm, súc miệng rửa mặt xong xuôi thì bác tài xế tới, bác tài liềng thoắn:
“Rồi lên đường thôi”.
Ba đỡ nó và anh nó lên cái cầu thang bên hông đầu xe, phía bên trên có cái cửa nhỏ chui vô trong thùng phía sau, như cái sàn gát trong thùng mà ngồi, má và mấy chị leo theo sau, ba ngồi phía trước với bác tài. Xe lăn bánh, không còn thấy gì nữa nơi này.

***

Chiếc xe chầm chậm và đều đều chạy. Xe khá êm, chỉ lâu lâu mới thấy người nghiêng qua nghiêng lại hay tuột lên tuột xuống, có lẽ là qua những khúc cua hay lên xuống dốc, ngồi bên trong đoán chừng vậy chớ đâu thấy gì. Nó có cảm giác như đang ở bên trong căn gác xếp tối tăm, chỉ có vài tia sáng chiếu qua những khe hở thùng xe. Khi ánh sáng không còn nữa, xung quanh tối thui mịt mờ mới nghĩ là đêm đã buông xuống. Phân biệt được ngày hay đêm khi xe dừng để ăn cơm nước mà thôi. Lúc nó thức lúc nó ngủ trong bức tranh tối tranh mờ mờ như vậy. Thời gian trôi qua thiệt chậm chạp, không biết mấy ngày mấy đêm đã qua, như cả tháng trời.
Rồi cũng tới lúc xe ngừng hẳn. Má nó thò đầu ra cái cửa sổ nói với vô:
“Tới rồi đó các con, mình về tới quê rồi, xuống các con ơi!”.
Ba và chú lơ xe đã xuống trước, dang tay đón đỡ từng đứa một xuống khỏi căn gác bịt bùng. Một làng quê yên bình hiện ra trước mắt, cũng giông giống nơi nó sanh ra, chỉ có nhà cửa là ít hơn, cách xa xa mới có một mái nhà. Đồ đạc được chuyển xuống bên vệ đường. Trong lúc chuyển đồ có vài người từ trong nhà gần bên chạy ra, mấy người vui mừng tranh nhau hỏi tới tấp:
“A, cô dượng Tư mới về hả?”.
Ba má nó vừa cười vừa gật đầu:
“Ừ, vừa về tới”.
“Ủa, cô dượng về răng* (sao) không nói, không tin* (nhắn tin) chi cho ai biết hết rứa* (vậy)?”.
Má nó chưng hửng:
“Cô có đánh điện tín về rồi mà, không ai nhận được hết sao?”.
Mấy người trải lời:
“Dạ, có nhận chi mô* (đâu), có ai biết chi mô”.
Một bà lớn tuổi, mái tóc đã bạc màu chạy tới:
“Con Tư đó hả, hai vợ chồng bây mới về đó hả?”.
Ba má nó lại dạ:
“Dạ thưa cô tụi con vừa về tới, cô khỏe luôn chớ cô?”.
“Cô khỏe”.
Ba má nó nói tiếp:
“Dạ, chính quyền mới trong đó nói chừ giải phóng, hết chiến tranh rồi, ai có quê thì về quê mà mần ăn”.
Người lớn tuổi mà ba má nó xưng là cô hỏi tiếp:
“Chớ bây về tính ở mô, răng chẳng tin cho bà con chi hết vậy?”.
Ba má nó càng chưng hửng, hỏi lại:
“Ủa, vậy là răng, thì đất cát nhà mình xưa thì mình ở chớ có chi lạ rứa cô?”.
Bà cô nói giọng buồn buồn:
“Bây đi lâu quá, bây chẳng biết chi hết, đất cát còn chi nữa”.
Má nó trợn tròn mắt:
“Cô nói vậy là răng?”.
Bà cô ngồi phịch xuống đất, đôi mắt rưng rưng:
“Bây ơi, khổ quá chẳng biết chi, cha mẹ bây mất, rồi anh em bây mỗi đứa mỗi nơi đi lánh nạn, đi làm ăn nơi khác, người ta nói cha mẹ bây là địa chủ ngày trước, từ đó đất cát ruộng vườn một số người chiếm một số chính quyền tịch thu xung công hết rồi”.
Nghe nói xong má nó cũng ngồi phịch xuống ôm mặt rưng rưng, ba, mấy chị thì đứng như trời trồng. Lát sau ba nó lên tiếng giọng nghèn nghẹn:
“Thiệt vậy hả cô, chắc để con chạy lên chính quyền hỏi cho kỹ, chừng đâu họ chỉ giữ dùm rồi giờ trả lại cho mình”.
Bà cô ngồi ôm má nó:
“Ừ, bây lên hỏi thử răng chớ cô thấy không dễ đâu”.
Mặt trời lên chừng nửa buổi sáng mà nó thấy như nắng gay gắt, nắng chiếu thẳng mặt, nắng muốn thiêu đốt mấy má con nó ra thành tro tàn, thiêu đứa con của quê hương lưu lạc trở về, như đứa con mang đầy tội lỗi, mặc cho má nó tấm tức, than trời than đất và hỏi vì sao, không một câu trả lời từ bất cứ ai, ông Trời chắc ở xa thăm thẳm…
Ba nó trở lại, trên nét mặt hằn nét vừa buồn vừa hậm hực. Má nó nhào tới hỏi:
“Sao rồi ông?”.
Ông lắc đầu:
“Không xong rồi, họ nói đã làm sổ sách chia hết từ xưa nên đâu thể có cách nào”.
Má nó hỏi dồn:
“Vậy giờ tính sao, làm cách nào đây, làm cách chi đây?”.
Ba nó nói tiếp:
“Thôi, cứ bình tĩnh đã. Bây chừ xin cô Bảy tạm thời cho mẹ con nó tá túc nghỉ chân đỡ, con chạy về bên nội coi ra răng”.
Bà cô Bảy gật đầu:
“Ờ, bây vô nhà nghỉ để thằng Tư về bên đó coi ra răng rồi tính”.
Ba nó lấy mấy tấm bạt phủ che đồ đạt lại xong rồi nổ máy chiếc Mobylette vọt đi. Má con lững thững đi theo bà cô Bảy.
Xế chiều ba nó quay trở lại cùng với bốn người kéo hai chiếc xe kéo. Má nó bươn bươn chạy ra, nghe ba chậm rãi nói:
“Đất cát của ông nội mấy đứa bên đó cũng bị lấy hết rồi…”.
Má nó đang lo lắng càng thêm xịu xuống chưa kịp nói gì thì ba nó nói tiếp:
“Nhưng còn may, cô Ba kêu cho miếng đất cất cái nhà, còn vài sào ruộng cô giữ lại của ông nội lấy lại làm đỡ rồi tính tiếp, bây chừ cô Bảy cho mẹ con nó ở tạm vài bữa, con về cất xong nhà rồi qua đón về cô Bảy nghe”.
Bà cô Bảy ừ:
“Thằng Tư tính vậy cũng được”.
Má nó suy nghĩ một hồi rồi đáp:
“Thôi, vậy mẹ con tui về bển luôn đi, tui coi có phụ được gì thì phụ, về lấy mấy tấm bạt che trại ở tạm cũng không sao”.
Ba nó gật đầu:
“Vậy cũng được, thôi ra chất đồ lên cộ* (xe kéo) để họ kéo về”.
Chất đồ xong ba nó thưa cô Bảy về, lấy xe chở hai anh em đi trước, rồi quay lại đón dần dần mấy chị và má nó. Bốn người kéo cộ chở đồ cọc cạch đến khi trăng lên cao mới tới nơi. Bên này cách nhỗ bà cô Bảy gần hai chục cây số.

***

Miếng đất bà cô Ba là em ông nội cho nằm gần bờ sông, cách chừng một trăm thước. Cạnh dòng sông có bãi cát dài, dòng sông rộng và rất thơ mộng, nhìn qua bờ bên kia có những lũy tre xanh ngắt xen lẫn những đám lau sậy, nước trôi êm đềm như dải lụa. Được ví von như lụa bởi có những đoạn trên bãi bồi trồng rất nhiều cây dâu cho lá tằm ăn và nhả tơ, những sợi tơ óng ả dệt thành dải lụa không khác gì dòng chảy dòng sông gợn sóng lăn tăn trong những buổi chiều dưới ánh nắng vàng. Đó là dòng sông Thu Bồn nổi tiếng khắp nơi.
Buổi sáng sau giấc ngủ dài bù cho mấy ngày mệt mỏi, nó thức dậy thì đã thấy đông đúc gần cả chục người lớn đục đục đẽo đẽo những cây gỗ, lâu lâu có vài người kéo cộ trên chất đầy cây gỗ đem lại. Vừa làm mấy bác mấy chú chuyện trò rôm rả lắm mà nó không hiểu được bởi không nghe được tiếng nói, tiếng rất lạ, như tới nửa buổi sáng hay chiều, má nó đem đồ ăn dặm thì hay nghe nói en en đi, rồi cùng ngồi vào ăn, có chú chỉ chú khác, thèng ni cà chớn cà chố, nó cũng chẳng hiểu gì luôn, dần dà sau này nó mới quen dần, à thì ra là phát âm có khác, âm a thành âm e, oa thành ô…
Phía trước miếng đất khoảng hai trăm tước là con đường đi ngang, đường vắng lặng, ít người qua lại, lâu thiệt là lâu mới có tiếng xe chạy tới. Băng qua con đường là cánh đồng trồng lúa, nhưng ruộng lúa từng miếng nhỏ nằm cao thấp khác nhau chớ không lớn và bằng phẳng trải rộng như ở Hóc Môn. Nhà cửa cũng xa xa cách chừng năm chục tới một trăm thước mới có một ngôi nhà, vườn xung quanh nhà cũng có vườn cây mít xoài… nhưng không nhiều lắm, đất còn để trồng bắp trồng khoai… Nhìn xa xa qua cánh đồng lúa là những gò cao, rất nhiều ngôi mộ màu xám xám đen đen ở trên đất gò này.
Anh em nó ngày ngày chạy nhảy tung tăng trên cánh đồng hòa cùng với màu xanh của đồng lúa có khi còn bắt được con ốc con cua. Buổi chiều chờ trời mát là chạy ra lăn đùng đùng trên bãi cát rồi ùm ùm xuống sông mà tắm táp, chiều chiều xuống là nhiều người ra sông tắm giặt và chơi đùa.
Khoảng chừng mười ngày sau là ngôi nhà gỗ lợp tôn được cất xong. Ngôi nhà xoay hướng ra bờ sông hứng gió. Má nó cùng mấy chị sắp xếp đồ đạc giường chõng gọn gàng trong nhà. Cái đi văng lớn ngồi được cả chục người thì để phía trước nhà dưới gốc cây nho nhỏ, chiều tối ba nó và mấy chú bà con, chòm xóm hay ngồi uống trà nói chuyện, có khi nhâm nhi ly rượu gạo.
Mấy miếng ruộng bà cô Ba đưa lại, ngày ngày ba má và mấy chị ra cuốc lật rồi cho nước xâm xấp vào để đó, nó thấy vậy hỏi ba nó:
“Sao cuốc lên rồi để vậy làm gì vậy ba?”.
Ba nó cười:
“À, để chừng hơn tháng cho nó mềm mình bang ra cấy lúa, lúa là những cây ba gieo trên luống nhỏ đó”.
“Còn kêu là gieo mạ phải hông ba”.
Ba nó ừ
“Đúng rồi”.
Ông nội nó về. Cả nhà vui lắm. Ông nội rảnh rỗi hay đi chặc tre về chẻ nan đang những cái rổ để xài. Một bữa ba hỏi ông nội:
“Cha à, con thấy gần mé sông phía dưới còn đám đất cỏ lau sậy um tùm cũng khá rộng mà bỏ hoang, chưa ai làm gì, mình xuống đó phát hoang để trồng bắp trồng khoai được hông cha?”.
Ông nội nghĩ một lát sau nói lại:
“Cha nghĩ chắc được chớ, đất hoang mình khai phá thôi”.
Ba nó gục gật:
“Dưới đó sát mé sông dễ tưới, trồng mùa nào cũng được, vậy vài bữa con xuống đó phát cỏ”.
Ông nội ở nữa tháng sau ông kêu lên nhà cô Út đâu trên núi ở nhà chơi với đứa con nhỏ của cô vừa coi nhà dùm để cô đi làm.
Mấy bữa sau ba nó cầm rựa dài mà đi phát lau sậy, có ngày tụi nó lon ton chạy theo chơi, cũng không có xa mấy, chừng nữa cây số. Được mấy ngày thì một buổi tối ăn cơm xong má nó chìa tờ giấy:
“Ông à, sáng mai ở nhà họ kêu lên xã, có giấy mời gởi nè”.
Ba nó hỏi:
“Có biết kêu lên làm gì hông?”.
Má lắc đầu:
“Hổng biết nữa, họ chẳn nói gì, đưa giấy rồi đi”.
Ba thắc mắc:
“Kêu lên làm gì ta, hổng lẽ cái vụ phát hoang dưới mé sông?”.
Sáng mai ba nó lên xã. Tới trưa về mặt mày hầm hầm bực bội. Má thấy lạ:
“Có chuyện gì vậy ông, hổng lẽ họ phạt…”.
Ba giọng gắt gỏng:
“Chẳng phải chuyện đó, chuyện phát hoang họ nói cứ làm, nhưng ngày từ mai phải lên xã ít nhứt là hai tuần để học tập cải tạo, cải tiết gì đó chẳng biết nữa”.
Má nhíu mày khó hiểu:
“Học tập cái gì vậy trời, đã về mần ruộng mà còn học tập cái gì hổng biết nữa”.
Ba nó tiếp:
“Thì tui cũng nói vậy nhưng họ có nghe gì, thằng lính quèn lính quyết gì, ngồi bàn giấy bàn má gì cũng phải học tập hết ráo, họ nói chính sách là vậy, đành chịu chớ sao, chỉ hai tuần thôi, cãi họ gông cổ luôn thì khổ”.
Sáng chiều hai buổi lên xã học tập cải tạo, có bữa tối trên cái đi văng trước nhà, ba nó với vài chú uống rượu nói chuyện nho nhỏ:
Một chú hỏi:
“Anh lên trên xã học cái chi vậy?”.
Ba nó uống ực ly rượu, nhìn đăm chiêu xa xa một hồi rồi trả lời:
“Học tập tương tử để thành con người mới của xã hội mới, bởi tui là người ngụy quân ngụy quyền, biết vậy thôi chớ học cái gì tui có nghe lọt lỗ tai, nhớ được gì”.
Một chú hỏi tiếp:
“Chi lạ rứa?”.
Một chú xen vô:
“Nghe nói mấy đứa dạy còn choi choi phải hông?”.
Ba gật gù:
“Mấy đứa ở làng mình đây chớ đâu, ngày xưa lúc tụi mình lớn tụi nó còn con nít, chẳng học hành chi đó, bây giờ cầm giấy tờ đọc chữ được chữ mất ai hiểu cho thấu, với lại ngồi học mà lo đất cát ruộng vườn chưa làm được gì thì sao mà tập trung cho được”.
Mấy chú gật đầu, ừ à, một chú cười nho nhỏ:
“Mấy thằng này đọc còn đánh vần mà, nó theo vô rừng đánh nhau thời gian đâu đi học”.
Ba nó rót rượu mời mấy chú cụng ly:
“Thôi kệ, ngồi cho qua ngày lấy cái chứng nhận xong về làm ăn, mà bỏ mấy chuyện này đi nói chuyện khác cho vui”.
Ba nó về cầm theo tờ giấy chứng nhận hoàn tất lớp học cải tạo. Má vui mừng lắm:
“Vậy là xong hả ông?”.
Tiếng thở dài phát ra:
“Chưa đâu, mỗi tuần phải lên trình diện ít nhứt một ngày nữa”.
Má nó cũng thở hắc, không nói gì nữa.
Hết học tập, tiếp tục phát lau sậy mé bờ sông, cả tuần được khoảng đất rộng, ba nó nhẩm nhẩm chắc cỡ bốn sào* (*một sào ở xứ Quảng tính bằng 500m vuông). Lau sậy khô châm lửa đốt cho cháy hết. Bữa đốt vào ban đêm lửa thì khỏi nói, sáng cả một vùng trời, khói đen bay mịt mù. Sáng ra đất biến thành màu đen cùng một lớp tro trên mặt đất. Sau đó ba nó cuốc lỗ cách nhau chừng ba bốn tất, má và các chị bỏ phân và bỏ ba bốn hột giống bắp xuống lỗ rồi lắp lại, gánh nước từ dưới sông lên tưới vào. Mấy ngày sau hột giống nảy mầm lên cây bắp non màu xanh lợt. Lúc này luống mạ cũng lên cao, bắt đầu bang đất cuốc lật hổm trước, anh em tụi nó lội xuống chơi thấy đất sình sình mền nhão, má nó cùng các chị tiếp tục nhổ mạ đập đập vào cẳng chân cho bung hết đất bám vào rễ, bó thành từng bó bằng cỡ ống tre to, cắt đầu lúa đem thảy xuống ruộng lội xuống mà cấy. Tuần sau thì lúa nảy ngọn trở lại, lên xanh mơn mởm, những ngọn gió thổi lúa bay nhấp nhô như những ngọn sóng con sông Thu Bồn phía sau nhà nhìn mát mắt.
Vậy là hơn hai tháng trôi qua kể từ ngày cất xong ngôi nhà.
Ba nó đi thăm vườn bắp về cười cười nói với má nó:
“Bắp lúa đều lên xanh tốt, lạy trời cứ như vậy”.
Má nó gật đầu xong lại thở ra, nói nho nhỏ:
“Nhưng mà cũng gay đó ông ơi! Tiền dự trữ sắp hết rồi, chắc phải bán bớt đồ đạc”.
Ba nó cũng thở ra:
“Chắc phải vậy, bà tính sao thì tính, ráng tới mùa thu hoạch là khỏe”.
Má và chị Hai khiêng cái rương nói đi Đà Nẵng. Khi về thì không còn cái rương mà thay bằng hai bao gạo lớn, một giỏ đầy đồ ăn, bánh kẹo cho anh em nó rất khoái, nhưng thấy má buồn buồn chớ không vui, nó hỏi:
“Sao thấy má buồn buồn, má giận gì tụi mình…?”.
Anh nó gạt ngang:
“Hổng có đâu, má đâu có giận gì ai, má buồn là tại phải bán đồ quý giá cất bao lâu nay đó mậy”.
Nó hiểu ra là vậy, chút chút buồn buồn theo.
Mấy tháng lặng lẽ trôi qua. Có lúc nó hỏi:
“Ủa, sao mình hổng được đi học vậy?”.
Anh nó ký đầu cái cốc:
“Mày ngu quá, đang nghỉ hè mà, hết hè thì đi học lại”.
Tới gần cuối tháng chín vẫn không thấy được đi học, nó lại hỏi, được anh trả lời:
“Năm nay người ta nói sẽ nhập học trễ, chừng nào có trường lớp, thầy cô thì thông báo nhập học”.
Rồi cả tuần mưa ập đến, mưa có lúc lớn lúc nhỏ nhưng dầm dề mưa suốt không dứt, bầu trời lúc nào cũng xám xịt mây, ba nó thở than:
“Mưa gì mưa dữ thúi đất luôn, chẳng làm ăn được gì”.
Bà cô Tư mặc áo tơi* (*áo mưa chằm bằng lá buông) chạy qua nói giọng hớt hải:
“Ủa, thằng Hai mi* (mày) bỏ bắp bỏ lúa răng, muốn chết đói cả lũ hỉ*?.(*hả)
Ba nó ngạc nhiên:
“Cô Tư nói vậy là răng con chẳng hiểu?”.
Bà Cô Tư giải thích:
“Trời! bây quên hết trơn rồi, thời tiết này là sắp có bão và lụt lớn tới, sao không ra bẻ bắp gặt lúa về, để đó cho nó trôi hết làm răng”.
Ba nó hỏi lại:
“Nhưng mọi năm con thấy tháng mười mới có lụt mà cô”.
Bà cô Tư dậm chưn* (*chân):
“Theo trời thôi mi ơi, mưa ri* (này) là năm ni* (nay) lụt tới sớm, lo mà thu hoạch đi”.
Ba nó hỏi nữa:
“Dạ, bắp thì được rồi nhưng lúa chưa chín hết rồi răng cô?”.
Bà cô Tư phẩy tay:
“Được bao nhiêu hay bấy nhiêu, lúa bây gần chín vậy là được rồi tuy chưa chắc hột lắm còn hơn để nước cuốn trôi hết, bao nhiêu công sức bỏ ra đó, gặt về nhớ trải ra cho ráo đừng để cho lên mộng”.
Ba nó dạ, rồi cùng má và mấy chị mặc áo tơi đi trong mưa bẻ bắp về trước. Bẻ cả ngày cũng xong, bắp đem về treo đầy trên mấy mấy cây tre nhỏ gát ngang mái nhà thành cái giàn. Ngày hôm sao bắt đầu có gió, nhưng cứ mặc, tiếp tục gặt và đập lúa trong mưa lâm thâm. Hôm sau nữa mưa và gió lớn hơn, vừa gặt lúa vừa thu người, co ro hết cỡ để tránh gió, gặt được mớ lúa phải ngưng, để xuống vuốt nước mưa tràn trên mặt, anh em nó cũng chạy ra phụ ôm lúa về, cái bồ đập lúa được chuyển vào nhà để đập, đỡ ướt lúa nhiều lần. Buổi tối lúa chưa đập xong thì lấy chưn cùng xúm lại đạp, nghiến cho rơi hột lúa ra khỏi cành.
Ba ngày gặt lúa đã xong, ngoài trời gió và mưa ngày càng lớn, mưa quất trên mái tôn lộp độp như có ai quăng đá cục lên, gió thì thổi rùng rùng, có những chỗ tôn bung lên kêu bần bật không ngớt. Trong lúc má và mấy chị cho lúa đã ráo vào bao chất lên gát bằng mấy tấm ván và ngồi cào tới cào lui cho lúa ướt khô thì ba nó chạy ra ngoài bãi xúc cát cho vào bao chất đầy lên mái tôn và lấy cây chống xung quanh nhà.
Một ngày vất vả nữa trôi qua. Vừa cơm nước xong nằm ngả lưng cho bớt mệt mỏi thì nghe tiếng kêu lớn của bà cô Tư:
“Thằng Hai có nhà hông hay đi mô rồi?”.
Ba nó bật dậy:
“Dạ, con có ở nhà cô Tư”.
“Có ở nhà răng chừ chưa đưa vợ con vô Gò, muốn chết trôi cả lũ hỉ?”.
“Dạ, con thấy nước chưa lớn con định sáng mai đi”.
Bà cô Tư thở hổn hển, la lớn:
“Đi ngay bây chừ, ở ngoài đường nước lên rồi, nửa đêm ni là nước lên nước tràn xuống đầy, chờ tới sáng có chìm lỉm trong nước, đi mau chớ có nói năng chi nữa”.
Ba nó dạ, chạy ra đường, nước đã tới ống quyển, quay trở vô trong nhà, nói trong lo lắng:
“Chà ngoài bãi chưa thấy nước dâng nhiều sao phía ngoài này lại đầy nước, hổng hiểu được, thôi lấy gạo, đồ ăn và củi cùng mùng mền lên xuồng đi vô Gò nhanh thôi”.
Giữa đêm tối mưa gió ba nó đẩy chiếc xuồng chở đồ và hai anh em nhắm hướng Gò mà đi trong ánh đèn bão má nó cầm lội nước bì bõm cùng mấy chị. Không ai nói tiếng nào, chỉ nghe tiếng mưa và tiếng gió rít hãi hùng trong mịt mùng thăm thẳm.
Đến được Gò, Gò là đồi đất cao trên đó có dãy nhà xây kiên cố. Trong dãy nhà người lớn nhỏ nằm ngồi la liệt, dáng ai nấy bơ phờ mệt mỏi. Cũng không ai nói gì nhiều, chỉ hỏi thăm những người mới tới. Vài người lớn đi lại ngoài hành lang nói vài câu bâng quơ như sao mà mưa bão hoài, chừng nào dứt đây không biết… Bên trong nhà lâu lâu có tiếng con nít khóc thét lên rồi tiếng dỗ dành, hát ru của người mẹ dưới ánh sáng những ngọn đèn dầu leo lét, lúc trồi lúc sụt muốn phụt tắt ngúm liền bởi gió thổi phần phật liên hồi. Mí mắt nó cứ kéo cụp xuống, muốn mở ra cho bớt sợ nhưng không được, nhưng muốn ngủ cũng không xong, bên tai tiếng mưa rào rào, tiếng gió lúc hú ù ù, lúc rít kèn lẹt cứ dội vào, nó thấy như đang đứng trong vòng vây của bầy quỹ dữ, màn đêm lại chắn ngang mắt không biết đường đâu chạy trốn hay tìm cách chống đỡ. Nỗi sợ lại chồng chất nỗi sợ khi nó nghe một người lớn nói:
“Bão lớn sắp đến rồi”.
Có người hỏi:
“Bão lớn lắm hả chú”.
“Tui đoán khá lớn”.
“Lâu hông vậy chú?”.
“Chắc cỡ hơn hai tiếng”.
“Chà, cũng lâu quá, chẳng biết nhà cửa ra răng”.
Nhiều tiếng thở dài.
Nó kêu gọi cơn gió tuổi thơ, dù biết khó hỏi được gì lúc này nhưng chí ít cũng có chút chia sẽ bớt đi sợ hãi. Gọi mấy lần chẳng thấy bóng dáng cơn gió đâu hết, nó thầm nghĩ chắc cơn gió tuổi thơ đã bị chặn mất lối đi rồi.
Chợt căn nhà trở nên im ắng, nó càng thấy lạ, vừa mới nghe bão sắp tới mà, nhưng vừa mở mắt chưa kịp định thần thì tiếng gió ầm ầm dữ dội ập vô rồi tiếp nối tiếp nối không ngớt. Mọi người bắt đầu lục tục ngồi dậy, co ro xúm xít sát vô trong góc, trong bờ tường và sát bên nhau. Tiếng khóc trẻ con ré lên chỉ nghe e é, không còn lớn giữa cơn gió hung hãn quất đùng đùng trên mái nhà, cánh cửa sổ bung đập cái rầm làm ai nấy điếng hồn trước khi có người chạy lại đóng chặt vào. Bây giờ thì nó có cảm giác như đang đứng giữa những bầy quỹ đang quần đang lồng lộn uýnh nhau tơi tả, cuộc chiến bất phân thắng bại cứ kéo dài, kéo dài không thấy hồi kết…
Cuối cùng đúng như đoán của người có giọng lớn tuổi, khoảng hơn hai tiếng đồng hồ sau thì mưa và gió nhỏ dần rồi ngưng hẳn. Bầu trời bớt tối mịt mùng, có ửng sáng nhưng yên ắng đến lạ thường, không nghe dù là tiếng động nhỏ, có lẽ tiếng ầm ầm dữ dội đã lấn át làm lỗ tai đã đặc khàn. Tiếng người lớn tuổi phát ra:
“Bão đã đi qua rồi”.
Có người tiếp theo:
“Ơn trời đất”.
Nó nghe giọng ba nó hỏi:
“Nhưng còn lụt, theo anh thì chừng nào rút hết?”.
“Tối mai mới rút hết”.
Mệt mỏi lắm rồi, không thể chống lại nữa, nó vùi vào giấc ngủ.
Giựt mình tỉnh dậy thì đã gần trưa, trời có nắng hanh, không còn mưa gió, nó uể oải bước ra ngoài. Đập vô mắt là cảnh vật xung quanh xác xơ, vài cây lớn bị trốc gốc nằm chỏng chơ, nghiêng ngã, cỏ nằm rạp xuống đất với xác lá phủ đầy, xa xa phía dưới Gò nước ngập màu đục ngầu, chỉ thấy nước toàn nước, nước đang chảy kéo từng đám cỏ bụi cây trôi theo lừ đừ, trên bầu trời đã có vài con chim bay qua lại, có một đàn sáu con giống như trong câu đố – đi trước là trước hai con, đi sau là sau hai con, đi giữa là giữa hai con, hỏi bầy chim có mấy con, nó nghĩ tới câu đố mẹo nên người thấy vui vui hơn chút đỉnh và chạy ra trước sân hòa vô đám con nít đang chạy nhảy chơi đùa có anh nó nữa. Ở hành lang những người đàn ông ngồi từng cụm bàn tán chuyện trò, mấy bà mấy cô thì nấu cơm, luột khoai lang khoai mì, rang bắp, giã muối đậu muối mè…
Đến chiều thì nước rút mạnh, những bụi cỏ, xác cây lá dính chùm thành từng đống theo nước cuốn chảy ào ào. Có vài người chèo xuồng tới lui, xuồng dập dền lên xuống rất nguy hiểm, nó hỏi ba nó:
“Người ta làm gì ngoài đó vậy ba?”.
Ba nó đáp:
“À, có người chắc về nhà lấy đồ đạc, còn có người thì giăng bắt cá, nước lũ tràn về mang theo nhiều cá lắm”.
Nó hỏi tiếp:
“Dạ, chừng nào mình về nhà vậy ba?”.
“Sáng mai con à”.
“Vậy là ngủ ở đây một đêm nữa?”.
“Ừ, ngủ thêm một đêm nữa”.
Đêm đó nó ngủ một mạch cho tới lúc sáng bạch không biết trời trăng mây gió gì, vừa thức giấc đã thấy đồ đạc được gói ghém xong xuôi và kêu đi về luôn. Ở nhà quanh cảnh còn tệ hơn ở trên Gò, xác củi khô, xác đủ thứ loại, giấy báo, bao bịch, lá cây và cả những con cá, con chuột chết nằm la liệt cho tới tận ngoài bãi sông. Căn nhà nó thì còn nguyên vẹn mà trên đường về thấy rất nhiều nhà tốc mái bay tứ tung. Ba nó biểu:
“Bà với mấy đứa coi lúa má ra sao, đem ra phơi nắng đi, tui đi gom củi trôi về đây, để người ta gom hết, với lại dọn mớ rác, xác chết”.
Má nó ừ. Hai anh em chạy theo ba nó ra gom củi khô ngoài bãi. Ra ngoài thì đã có vài người đang gom, củi khô củi mục rất nhiều, chất thành mấy đống rồi đem từ từ vô nhà, ba nó hỏi tiếp:
“Lúa má ra sao?”.
Má nó đang lấy cào cào cho lớp lúa ở dưới lên trên, quay qua trả lời:
“Cũng chưa đến nỗi nào, chỉ vài bao ướt nhứt nức mộng sơ sơ, nhưng còn ăn được, lúa hườm hườm* (gần chín) thì chín rồi”.
“Hột lép nhiều hông bà?”.
“Cũng hông bao nhiêu”.
“Vậy là đỡ rồi”.
Hết buổi sáng với vụ củi, buổi chiều vác chài lưới ra sông, ba nó vừa đi vừa nói trong khi hai anh em lẽo đẽo theo sau cầm cái thùng gánh nước:
“Sau lũ lụt cá tôm nhiều lắm, ba kiếm mớ tôm kêu má bây nấu mì Quảng bù những ngày cực quá”.
Nó mừng rơn, chưa được ăn mì Quảng nấu tôm lần nào chỉ nghe là ngon. Ngoài sông cũng rất nhiều người chài lưới, người chài gần bờ, người chèo ghe xuồng ra giữ dòng. Và đúng lắm, cá tôm nhiều quá chừng, không lâu sau ba nó kéo được hai thùng gánh nước gần đầy và gần rổ rá tôm. Nó thấy cá rô thì nó biết nhưng nhiều con khác thì không, chỉ con cá hỏi anh nó:
“Con này là con cá gì?”.
Bị anh ký đầu cái cốc:
“Dễ ẹt mà hổng biết, cá gáy còn kêu cá chép đó”.
“Con này?”.
” Cá hanh”.
“Còn mấy con kia?”.
“À, đây là cá diếc, con này cá mòi, còn đây con cá bống…”.
Nó đọc một lèo:
“Bống bống bang bang lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người”.
Nó vừa đọc xong thì có người reo lên:
“Ý chà, cá bự quá!”.
Anh em nó quay qua nhìn thì giữa dòng, một chú đang ngoắc mấy chú khác lại kéo lưới phụ, con cá lớn vùng vẫy dãy đành đạch liên hồi, cả buổi sau ba người mới kéo lên được chiếc nghe, chèo vô trong bờ, mọi người xúm xít lại coi, con cá bự thiệt, dài cả thước, bề ngang bự còn hơn cái mình của nó, có người nói mấy chục ký luôn. Ai nấy hớn hở vui mừng. Ba nó nói:
“Vậy là mùa cá lũ lụt năm nay trúng rồi”.
Nhiều người đồng tình:
“Ờ, bù bớt mất mát cũng đỡ khổ”.

***

Chiều hôm sau, cả nhà cùng xúm xít phụ với má nấu mì Quảng. Nấu mì Quảng thì từ xay bột bằng cối đá cho tới tráng bánh đều tự tay ở nhà làm, má nó tráng bánh như tráng bánh tráng, nhưng tráng hai lớp nên nó dầy rồi lấy cây tim làm bằng cật tre* (phần vỏ ngoài của cây tre, cứng và dẻo) vót mỏng như cái nan sọt vô lấy bánh ra. Bột xay bằng gạo Nàng Hương nên có màu đo đỏ, chị nó thoa một lớp dầu phụng* (phộng, dầu làm từ hạt đậu phộng) cho khỏi dính rồi xếp cỡ bánh gần gang tay, lấy con dao dài chắn lụp cụp thành những sợi nhỏ. Nước nhưn má nó nấu bay thơm lừng, đặc ngào thịt tôm cá, ba nó thì xắt lõi cây chuối hột trộn với bắp chuối bàu sợi và rau húng lá tròn tròn nho nhỏ, lá tía tô, giá… làm rau sống mà anh em cùng lặt phụ.
Xong xuôi cả nhà cùng ngồi trên cái đi văng cùng ăn và chuyện trò, mì rất ngon, nó càng thấy ngon hơn được ngồi ăn trong cái không khí dịu mát, trước nhà dòng sông êm đềm trôi không dấu hiệu gì cơn lũ lụt vừa đi qua và không ai muốn nhắc lại. Ăn gần xong thì có một người ôm cái cặp táp đi vô nhà, hỏi:
“Chà, cả nhà đang ăn cơm hỉ?”.
Ba má nó dạ, rồi chào lại:
“Chú mới tới, chú ngồi ăn cơm luôn với tụi cháu?”.
Đây là ông chú bà con xa, là chú của ba nó nhưng ổng còn rất trẻ, độ chừng hai mươi mấy thôi. Ba nó thứ hai má nó thứ tư, ở bên nội thì kêu theo ba, bên ngoại kêu theo má. Ba nó là trưởng Tộc nên dù vai vế nhỏ nhưng với nhiều người vai vế lớn hơn lại lớn tuổi hơn rất nhiều. Ông chú phẩy tay:
“Tui mới ăn rồi”.
Ba nó bỏ lở nữa chừng bữa ăn, đi vô nhà rót trà mời chú:
“Chú qua chơi”.
Ông chú gật đầu ra vẻ trịnh trọng:
“À, ghé thăm, sẵn tiện hỏi việc ni”.
“Dạ, việc chi rứa chú?”.
Ông chú mở cái cặp táp lôi ra mớ giấy báo nhào nát, có tờ rách te tua, gương mặt sắt lại, ổng hỏi:
“Cái ni chắc của anh Hai, anh mới ở Sài Gòn về mới có thứ ni chớ ở đây làm chi ai có hỉ?”.
Ba nó cầm mớ giấy báo lật qua lật lại:
“Dạ đúng rồi, đợt lũ lụt vừa rồi chắc nó trôi bay tứ tán”.
Ông chú vẫn với gương mặt đó, lấy lại xấp báo:
“Nhiều người lượm lặt giao cho tui họ nói anh Hai còn tư tưởng chế độ Ngụy nên mới xài mấy thứ này”.
Ba nó ngạc nhiên:
“Nhưng cháu dùng làm mồi lửa đốt củi nấu cơm nước mà chú”.
Ông chú vẻ mặt không thay đổi, còn đanh lại lạnh hơn:
“Người ta đâu có biết anh Hai làm cái gì, họ thấy thì họ nói tàng trữ văn hóa phẩm phản động, đồi trụy thôi, với lại cũng không được xử dụng bất cứ đồ gì của chế độ Ngụy hết, như vậy là phạm pháp”.
Ba nó lo lắng:
“Chà, cháu hông biết, nay chú nói cháu nghe, thôi để cháu đốt hết” – Ba nó với tay qua ông chú: “Cho cháu xin cháu đốt luôn”.
Ông chú cất xấp báo vô trong cặp:
“Răng mà được, người ta nói đây là bằng chứng phải giữ, mai là chủ nhật nghỉ, sáng thứ hai mời anh Hai lên xã làm việc”.
Ba nó càng lo lắng:
“Vậy là răng chú, chú nói đỡ cho…”
Ông chú cắt ngang:
“Đâu có được, nguyên tắc là nguyên tắc, tui làm sai ai chịu cho tui, cứ vậy sáng thứ hai lên, thôi tui về”.
Ông chú đứng dậy cái rẹt bước ra. Ba nó bước theo thẩn thờ như người mất hồn rồi ngồi phịch xuống đi văng. Má nó thấy lạ, hỏi:
“Có chuyện gì vậy ông?”.
Ba nó thở hắt ra. Má nó nói tiếp:
“Thôi ăn tiếp đi, để tui làm tô khác, tô nãy nguội ngắt rồi”.
Ba nó bóp trán, lắc đầu:
“Trời đánh còn tránh bữa ăn, ăn chi nổi nữa mà ăn. Muốn về quê với Tổ Tiên, với bà với con, muốn có cuộc sống yên ổn mà chẳng dễ, sao khó quá ngay trên mảnh đất quê mình”.
Ba nó kể lại chuyện ông chú đem đến vừa rồi. Má nó trấn an:
“Chắc hông sao đâu, ông lên họ nói ba điều bốn chuyện rồi cho về thôi mà”.
Ba nó lắc đầu:
“Biết đâu được, hổng chừng học bắt bỏ tù luôn thì làm sao? mấy bữa đi học tập họ ăn nói hùng hồn lắm”.
Má nó tiếp:
“Trên xã cũng bà con hông mà”.
“Còn gì bà với con, hồi nãy tui nói chưa ráo nước miếng là bị xắn ngang, còn tệ hơn người ngoài, thô dẹp mâm đi, tui suy nghĩ cái đã” – Ba nói với vô trong: “lấy cho ba bình trà ra đây”.
Ba nó nhấm từng ngụm trà ngồi đăm chiêu suy nghĩ lung lắm. Ánh trăng vàng vọt chiếu lên mái tóc ông trong đêm tối mà ngỡ như bạc cả mái đầu. Má và mấy chị ngồi im thin thít kề bên. Hồi lâu sau ba nó quay qua:
“Bà còn nhiều ít tiền”.
“Chẳng bao nhiêu hết, tiền chợ búa chừng một hai tháng, mà ông hỏi lằm chi?”.
Ba nó nhắm thêm ngụm trà:
“Chắc phả bán thêm đồ đạc, mai tui đi Đà Nẵng mà tui đâu biết bán đồ, hay bà đưa tui mấy chỉ vàng”.
“Để làm gì?”.
“Đi thôi, trở lại Sài Gòn thôi, bán mấy chỉ vàng làm lộ phí, chịu hết nổi rồi, nhứt định…”.
Má nó ngắt lời:
“Ông nói thiệt chớ?”.
“Thiệt, nhứt định phải đi”.
Má nó chần chừ:
“Ông nói chắc hả, mới về chưa bao lâu…”
Mấy chị chen vô:
“Thôi má ơi, tụi con thấy ba nói đúng đó, người ta đâu có muốn mình ở”.
“Nhưng…” – Má nó định nói nữa, ba nó cản lại:
“Không nhưng nhị gì nữa, phải đi thôi, sáng mai tui đi Đà Nẵng kiếm xe, ở nhà bà và mấy đứa đóng gói đồ đạc, tối tui đưa xe về âm thầm mà đi trong đêm, cả nhà không được nói gì hết nghe hông, mấy đứa hông được để bất cứ ai biết, họ biết quy tội cho ba bắt là cái chắc”.
Sáng ba nó dậy đi rất sớm, khi trời còn tờ mờ chưa sáng hẳn. Nó cũng không ngủ được, chạy một mạch ra bãi cát ngồi trước bờ sông, nó kêu cơn gió mang hốn tuổi thơ tới, nó nói:
“Tao lại phải sắp đi nữa rồi”.
Cơn gió nói buồn buồn:
“Đi thiệt hả? đi đâu?”.
“À, trở lại nơi tao sanh ra”.
“Ở đó có giống đây hông?”.
“Cũng quê quê như vầy, nhưng gần nhà không có sông”.
Nó hỏi lại cơn gió:
“Sao người ta lại làm khó nhau, tao nghe ba tao nói vậy?”.
Cơn gió rít rít như thể đang nhíu mày:
“Chẳng biết nữa, chắc tại người ta lớn rồi, lớn rồi tánh tình khác chớ hông như trẻ thơ tụi mình”.
Nó à:
“Chắc vậy” – Nó chợt nhớ tới ông trắng bóc ngồi trên xe ríp nói không muốn lớn lên, nó hiểu hiểu ra phần nào, làm nó lừng khừng nửa muốn lớn nửa muốn không, nó hỏi cơn tiếp:
“Mày có muốn lớn lên hông?”.
Cơn gió đáp ngay:
“Hông, mình chẳng muốn lớn lên, mình thích vui chơi như thế này”.
Nó gục gật với cơn gió mang hồn tuổi thơ:
“Chắc vậy là hay nhứt”.
Lăn dài ra bãi cát chơi đùa với cơn gió tuổi thơ, nó sẽ xa nơi này mà không biết bao giờ gặp lại chỉ sau đêm nay thôi…

Lê Đắc Hoàng Hựu

CƠN GIÓ MANG LINH HỒN CHẾT(1)

download (2)

Lê Đắc Hoàng Hựu:
Gã là một thường dân chính hiệu “Con Nai Vàng”.
Gã như bụi cỏ khô giữa đồng hoang hanh nắng, và bị chứng bịnh khó ngủ.
Gã cầm viết, viết lại những câu chuyện ký ức, tình cờ trở thành phương thuốc tuyệt diệu chống lại căn bịnh này, thay vì đếm số.
Gã hy vọng nó cũng là toa kê dành cho những người giống mình.
Chuyện là một phần những gì gã đã sống qua và phần còn lại là đã thấy.
Chuyện như một bài học ghi chép, ghi chép sự thật thì đúng hơn.
Ghi chép để nhìn lại, để tiếp bước chớ hoàn toàn không phải bươi móc, đả kích cá nhân hay tập thể nào.
Đối thoại với những cơn gió hiển nhiên là hư cấu, thì lẽ dĩ nhiên phòng thí nghiệm của vị bác sĩ trong chuyện cũng vậy.

Anh ta nằm, ngồi hay đứng anh ta không thể biết.
Anh ta chỉ biết chắc chắn bộ não của mình vẫn còn hoạt động bởi anh ta còn biết suy nghĩ để biểu tay chân cử động, kêu đôi mắt và miệng mở ra, nhưng không thể, tay chân xụi lơ buồn thiu chiếc lá liễu rũ, mắt như có tảng đá đè lên làm cho nhắm nghiền, hai bờ môi như bị keo dán chặt cứng, tất cả hoàn toàn không nghe theo lời bộ não. Có lẽ những sợi dậy thần kinh điều khiển đã bất tuân chỉ huy hoặc giả liên lạc bị cắt đứt rồi mất liên lạc.
Vậy là anh ta biết mình đang nằm, chỉ có nằm mới cứng đơ như vậy. Còn đôi mắt không mở được nên không biết ngày hay đêm, cảm giác là một màn đêm tăm tối phủ lên người. Tối đến mịt mờ.
Anh ta lại nghe rất rõ tất cả những âm thanh xung quanh mình. Tiếng tích tắc của cái đồng hồ lớn tới nỗi anh ta nghe được tiếng di chuyển xạch xạch của cây kim, chắc đây là cái đồng hồ có quả lắc, rồi tiếng xè xè nghe giống tiếng máy móc, mấy tiếng này cứ đều đều làm anh ta khó chịu. Nghiệt hơn nữa là anh ta nghe tiếng đập thình thình trong lồng ngực, tiếng đập chậm chạp kinh khủng, chậm hơn tiếng tích tắc của đồng hồ, như một cuộc đua mà tiếng đập lại không muốn về đích, mỗi tiếng đập chừng muốn nổ tung lồng ngực, muốn nghe êm ái và nhanh hơn nhưng không có cách nào. Duy chỉ có tiếng từng giọt nước rơi và chạy xuống thấm vào da thịt là thấy đỡ, bất giác anh ta nghĩ đây là dòng suối ngọt ngào mà mình đang ngụp lặn trong đó và dõng tai nghe tiếng róc rách, tưởng tượng thêm vài tiếng chim chóc líu lo chuyền cành trên những bụi tre, lau sậy hai bên bờ.
Kết nối những mắc xích này lại với nhau, anh ta bỗng giựt thót người, hét thiệt to: “Trời đất ơi! Trời đất ơi! ta đã nằm bất động trong bịnh viện rồi”. Dĩ nhiên giựt mình và hét chỉ nằm trong óc chớ anh ta đâu cục cựa gì được. Nghe tiếng hét của chính mình vang dội trong óc, chạy lòng vòng như âm thanh đa chiều trong những rạp chiếu phim càng thêm nhứt nhối, buốt thấu xương.
Rồi anh ta nghe tiếng bước chân người đi tới. Hai kiểu bước chân, một bước bình thường và một bước gấp gáp, có lẽ bước gấp gáp chạy theo bước chân đi trước. Và đúng như dự đoán, có tiếng người cất lên:
-“Dạ, thưa giáo sư em mới tới, đường xá xe cộ đông đúc quá nên em không đi nhanh được, em xin lỗi tới trễ”.
Tiếng trả lời nhẹ nhàng, đây hẳn là của vị giáo sư:
-“À, không có gì đâu, tui cũng mới tới thất thì, còn dư giờ hẹn mà, thôi ta vào trong”.
Tiếng lách cách tra chìa khóa, sau đó là tiếng bật cửa cái cách, bước chân của vị giáo sư và cô gái xưng em đi vào. Cô gái hỏi:
– “Em vừa về tới nơi là chạy lại đây luôn thưa giáo sư. Dạ, mấy hôm nay tình hình có tiến triển gì hông vậy?”.
Anh ta nghe tiếng xẹt xẹt nhẹ như tiếng gió và đoán là tiếng lắc đầu của vị giáo sư, vị giáo sư trả lời:
– “Mấy hôm nay vẫn vậy”.
Tiếng thở dài phát ra từ cô gái. Anh ta nghe nó dài vô tận và thiệt não nề. Cô gái im lặng, vị giáo sư lấy ống nghe áp lên ngực anh ta, một lát sau khá lâu ông lên tiếng:
– “Bữa nay có vẻ khá hơn, có khác lạ, sự sống có vẻ hồi sinh”.
Cô gái mừng rỡ:
-“Vậy hả giáo sư, vậy thì tốt quá rồi, cảm ơn giáo sư nhiều lắm…”.
Vị giáo sư ngắt ngang lời cô gái:
-“Chưa biết tiếp theo là gì, khoan chớ vội vui mừng, tạm thời trước mắt cứ theo phát đồ điều trị này vậy”.
Cô gái nói lý nhí:
– “Dạ, trăm sự nhờ giáo sư, chỉ cần có chút hy vọng là có quyền hy vọng”.
Anh ta nghe tiếng gật đầu của vị giáo sư:
-“Phải, ta sẽ làm hết sức dù hy vọng nhỏ nhoi, cũng cần phải cầu ơn trên, biết đâu có điều kỳ diệu”.
Cô gái dạ:
-“Em sẽ ngày đêm cầu Trời khấn Phật!”.
Vị giáo sư nói tiếp:
-“Thôi, bữa nay vậy đủ rồi, ta không nên ở đây lâu không tốt, rảnh lúc nào tui sẽ ghé thăm chừng, có tin gì tui sẽ báo, hẹn gặp lại sau”.
Tiếng bước chân cô gái và vị giáo sư quay ra, cô gái nói:
– “Dạ, giáo sư đi cẩn thận”.
Anh ta lắng nghe tiếng bước chân xa dần cho tới khi không còn nghe nữa.
Trở về với thực tại, anh ta nhớ lại hai giọng nói, giọng cô gái nghe quen lắm nhưng lục lọi miết cả buổi trong đầu mà vẫn không nhớ được là của ai, còn giọng vị giáo sư thì rất lạ, anh ta chưa nghe bao giờ. Rồi anh ta nghĩ, qua cách họ nói chuyện và những âm thanh nghe được ở đây, anh ta đang nằm chỉ một mình. Quá nhiều câu hỏi cho anh ta, không lẽ bị cách ly, bị gì? bịnh gì? tại sao lại nằm yên nơi này? đã chết đi hay sao vị giáo sư nói có vẻ hồi sinh sự sống?. Không thể hiểu được, anh ta thấy quái lạ vô cùng, không giải thích nổi dù cố nhớ cố hết sức tập trung suy nghĩ.
Tiếng tích tắc, tiếng xè xè, tiếng thình thịch vẫn đều đều dội vào tai, anh ta bực bội lắm nhưng quyết đẩy nó ra không thèm nghe, tiếp tục cố nhớ. Đang vặn óc suy nghĩ chợt một luồng không khí lạnh buốt tràn khắp cơ thể, nhứt là ở sống lưng và sau ót mặc dù lưng và ót anh ta sát rạt có lẽ với tấm ra giường, luồng không khí như đi xuyên ra tất cả để thấm vào lưng anh ta vậy. Theo sau luồng không khí là một loạt tiếng lào xào, gào thét, hú hí ghê rợn, những tiếng lộn xộn này cuộn xoáy lòng vòng quanh người, có cảm giác như là tiếng của con quỷ đang chập chờn sắp xà vào người, anh ta buộc miệng hỏi:
– “Ngươi là ai? là lũ quỷ hả?”.
Lẫn trong tiếng lộn xộn là tiếng cười phát ra:
– “Ha ha ha, ta không phải là quỷ, ta chỉ là cơn gió”.
Anh ta hỏi lại:
-“Cơn gió à, cơn gió gì mà ghê rợn vậy, ngươi muốn gì ở ta và còn đọc được suy nghĩ của ta?”.
Cơn gió ngừng cười:
-“Ta không phải cơn gió xấu xa, nhưng vì chức phận ta vậy nên buộc phải vậy. Ta là cơn gió mang linh hồn chết, thực ra thì ta nói gọn chứ linh hồn không chết, ta đang nói chuyện với linh hồn ngươi, chỉ có thân xác mới chết. Ta mang linh hồn người chết ra đi”.
Anh ta nghe rợn người:
– “Mang linh hồn chết mà không xấu xa?”.
Cơn gió giọng buồn buồn:
-“Mỗi người mỗi chức phận, dù muốn dù không ta phải làm tròn việc được giao phó mà thôi”.
Anh ta hỏi tiếp:
-“Tại sao phải mang linh hồn đi?”.
Cơn gió trả lời:
-“Mai sau này thì ta không biết, vũ trụ biến đổi từng giây từng phút, hiện tại thì có sự sống ắt có diệt vong, diệt vong để nhường cho sự sống mới, cứ vậy mà luân hồi”.
Anh ta lặng đi một lát, cơn gió hỏi:
– “Vậy ngươi biết ta tới làm gì rồi chứ?”.
Anh ta đã hiểu:
“Biết rồi, ngươi đưa linh hồn ta đi đâu?”.
Cơn gió đáp:
“Việc của ta là đưa ngươi đến nơi tập trung, ở đó có người phán xét ngươi sẽ về đâu, thế giới nào, xấu hay là tốt tùy thuộc vào ngươi, điều này thì ta không biết, ngoài tầm của ta”.
“Giống như vị quan tòa?”.
“Phải, ngươi rất thông minh”.
Anh ta suy nghĩ về sự thông minh:
– “Có lẽ không, bởi nếu thông minh ta đã biết vì sao phải bị đưa đi? ta phải biết ta gây ra tội tình gì?”.
Cơn gió cười:
– “Không, không hẳn ngươi gây ra tội thì mới bị đưa đi…”.
Anh ta ngắt lời:
– “Mà là do số phận sắp đặt, ta phải an bài”.
– “Đúng, số phận, ta nói ngươi thông minh mà”.
Anh ta vẫn chưa chịu:
– “Nhưng ta còn chưa biết ta là ai, vì sao lại nằm bất động lẻ loi một mình nơi đây, nơi này là nơi đâu ta cũng chẳng biết được thì không thể nói là thông minh”.
Cơn gió bị bất ngờ:
-“Ngươi nói thiệt chứ, ngươi không biết cả bản thân mình?”.
Anh ta đâu nói dóc:
-“Ta nói thiệt, không sai nửa lời”.
Cơn gió nói tiếp:
-“Quái lạ, sao lại có chuyện như vậy, ta chỉ biết sơ ngươi là người tốt”.
Anh ta buồn buồn:
-“Tốt xấu lúc này có ích gì khi không biết cả bản thân”.
Cơn gió nghe ngậm ngùi, ngần ngừ một lúc nó lên tiếng:
-“Thôi được, ta hiểu và thông cảm cho ngươi. Ta cũng đã từng tới Sài Gòn để mang linh hồn rồi, lần này ta thấy Sài Gòn khác xưa, ta cũng muốn ngao du một chút, sẵn dịp ta chừa cho ngươi thời gian tìm hiểu về bản thân”.
Anh ta vui mừng:
-“Vậy thì hay quá, cảm ơn ngươi nhiều lắm, mà ta nên bắt đầu từ đâu… có lẽ từ nơi ta được sinh ra chăng?”.
– “Đúng, ngươi hãy bắt đầu từ đó, tìm về với cơn gió mang hồn tuổi thơ của ngươi trước tiên”.
Nói xong cơn gió chào tạm biệt và bay đi. Anh ta sợ thời gian không còn nhiều cũng liền xuất hồn bay lên không trung.

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU