NẮNG HÀNG CAU

khuatdau

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
(Hàn Mặc Tử)

Chừng mươi năm nữa thôi, khi những bà nội, bà ngọai, những cô dì không còn mời nhau những miếng trầu,cưới hỏi không quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau, khi mà những khu vườn được chia nhỏ bề ngang bốn thước để mọc lên những ngôi nhà ống, thì cây cau chỉ còn trong ca dao và thơ của Hàn Mặc Tử mà thôi.
Cây cau ở thôn Vĩ Dạ được các ông hoàng xứ Huế trồng thành hai hàng, khiến khách đi vào nhà tưởng như được gia nhân cung kính cầm lọng đứng che. Khi nó cao lên cùng năm tháng, vượt hẳn những xoài những mít, với thân thẳng, tàu lá xanh đen, các ông hoàng phong nhã lại tưởng đó là những cây bút lông khổng lồ đang viết những chữ đại tự lên nền trời xanh. Có bao nhiêu cây cau là có bấy nhiêu tháp bút tả thanh thiên.
Vườn cau của bà tôi, một bà già trầu đúng nghĩa, không có được cái ý cao sang và văn vẻ như thế. Nói theo kiểu bây giờ, nó đúng là một loài cây kinh tế. Chỉ một buồng cau được cắt tỉa gọn gàng, đặt trong rổ lót lá chuối tươi, bà đi ra chợ thong dong như đi chơi, khi trở về là có cả một chục cá nục hấp thơm phức, một gói bánh hỏi trắng muốt, nghĩa là có đủ quà sáng cho ông cháu tôi và thức ăn cho cả ngày. Rồi quanh năm, không thứ lá rụng nào hái được tiền như tàu cau. Bà tỉ mẩn ngồi tướt bỏ lá, rồi cột bốn hay năm tàu thành cây chổi quét nhà. Và cũng chỉ cần vài ba cây chổi, thêm một vài nải chuối là đủ cho bà ra chợ đổi lấy một miếng thịt sườn, vài cái bánh ú. Bẹ cau, bà kết thành gàu múc nước, cắt thành quạt mo cho cả nhà phe phẩy. Mo miểu (bẹ trong) thì dùng vắt cơm bữa trưa cho những ai đi xa không kịp về nhà.. Cơm xắt thành lát, đưa lên miệng nghe có mùi thơm của hương lúa, hương cau. Chỉ cần một ít muối đậu hay một con tôm rim là bữa cơm đã thấy ngon chi lạ.
Vườn cau của bà, với hơn một trăm cây được trồng từ ngày bà theo chồng, khi tôi lớn khôn, chúng đã vươn hết cả lên trời xanh. Chẳng có con mèo nào dám trèo lên tận ngọn để mà hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà. Chỉ có mỗi mình bà leo lên, mỗi mình bà biết cây nào ngon cây nào dở, biết buồng nào có thể đem ra chợ, nghĩa là không quá non cũng không quá già, quả cau bổ đôi phải mịn như sáp, phải dịu như mật, mới bắt mắt được người mua.
Cây cau đứng một mình đương nhiên không xinh bằng em đứng một mình. Nhưng đứng thành hàng trong vườn phải nói rừng bạch dương của Nga cũng thua xa. Không có loại cây nào vừa cao, vừa thẳng lại thanh nhã như thế. Chỉ có những cuộc thi hoa hậu quốc tế khi trình diễn áo tắm mới có được những hàng chân ngọc duỗi song song như những thân cau. Mà những đôi chân ấy phải được chiếu sáng bằng những ngọn đèn hàng ngàn nến mới có được vẻ đẹp đến sững sờ. Còn cau, thì chỉ cần ánh nắng thôi. Không phải nắng đổ lửa buổi trưa, cũng không phải nắng quái chiều hôm, mà là nắng mới mẻ tinh khôi, nắng mới lên của mặt trời vừa thức dậy.
Chết mê chết mệt với một nhà thơ là thứ nắng mới lên chiếu qua hàng cau ấy. Cái thứ nắng xiên ngang mặt đất chưa đủ sức nóng làm tan sương đêm, chỉ vừa đủ làm cho những thân cau già trở nên trẻ trung mịn màng. Nắng chưa lên tới ngọn cho nên lá vẫn còn đen ướt như những mái tóc vừa mới gội.
Thế thì, khi cô gái hỏi: sao anh không về thăm thôn Vĩ/ nhìn nắng hàng cau nắng mới lên, là có ý trách anh sao không về mà xem em đẹp nhường này, em chân trắng tóc thề, em đang đợi anh trong vườn xanh như ngọc. Và vì vốn tính e lệ, thêm một chút điệu đà nên em sẽ vin cành trúc che ngang mặt để trốn anh đó. Áo em trắng quá nhìn không ra, chỉ là cái cớ dấu che nỗi đau của một người mang bệnh nan y, chứ thực ra chàng đã yêu nàng, yêu rất đậm đà qua hình ảnh nắng hàng cau nắng mới lên.
Những hàng cau, ôi những hàng cau, bây giờ cũng mọc thành hàng trên những dãi phân cách của các khu đô thị mới. Những cây cau ngoại nhập, to thù lù như những đứa trẻ béo phì cũng đứng song song đấy nhưng chẳng phải cầm lọng che cho xe cộ chạy qua, mà giống như những cây chổi chà dựng ngược với khói bụi mịt mù, không phải để làm sạch mà làm bẩn thêm nền trời. Và những cô, cả những bà chân ngắn và mập, có nhiều ngấn như chân bàn bida, diện quần ngắn tận háng để có ảo tưởng chân dài, không dùng lá trúc mà dùng khẩu trang để che mặt chữ nhật, thì dù Hàn Mặc Tử có sống lại cũng không làm nổi nửa câu gọi là thơ.
Mặt trời vẫn mọc, nhưng khi những cây cau thanh mảnh xinh đẹp như những cô gái vừa tắm dưới sông lên không còn nữa, thì nắng mới lên cũng không còn!
Lại tiếc đứt ruột!

Khuất Đẩu

CẢM ƠN NHỮNG GIỌT SƯƠNG

khuatdau

…với một con thuyền nát và lá buồm rách bươm
vượt qua chính số phận mình
tôi sắp đến nơi tôi phải đến
một nơi xa thẳm ngoài vũ trụ
nơi không có mặt trời
cũng chẳng có trăng sao
giống như dấu chấm
hết
…tôi rất vui khi bỏ lại cuộc đời này
những tị hiềm tối ám
những ảo tưởng bão giông
những xích xiềng ngày đêm khua loảng xoảng
những biên cương đẫm máu tranh giành
những hận thù không đáng có
…bỏ lại hết để tròn trĩnh một con số không
lăn vào một nơi không trọng lực
lăn và lăn mãi
vào thời gian vô cùng
…Xin cảm ơn kẻ ghét người thương
cảm ơn mái hiên nhà trong những đêm trăng tỏ
cảm ơn những giọt sương
đẹp như nỗi buồn…

KHUẤT ĐẨU
(15/6/2014)

KHÔNG THẤY NÚI

khuatdau

Hồi đó bọn tôi còn nhỏ tuổi lắm. Được bộ đội cho một miếng lương khô là cả một cái gì hết sức to tát. Nhà thằng Hành nằm sát lề đường, bộ đội thường ngang qua nên mới có cái may rơi rớt đó, chứ không phải đứa nào cũng được. Lương khô của Trung Quốc lốm đốm màu nâu, cứng như gỗ. Hành khoe ăn một miếng bảy ngảy không thấy đói. Nó cầm cái miếng lương khô chết tiệt đó nhơi nhơi trước mặt bọn tôi rồi le lưỡi liếm một cái, bảo là ngon hết sẩy. Nó liếm rồi dấu, dấu rồi lại liếm khiến bọn tôi muốn nổi điên. Có đứa tức quá nhào tới giựt đại, nhưng nó nhanh tay hơn dấu biến vào túi.
Thì đành phải kiếm thứ khác đổi vậy, đó là cái cách mà nó muốn bọn tôi phải hàng phục. Đổi xoài, nó nói ở đây ai mà thèm xoài. Đổi mía, nó chê mía cứng ăn gãy răng. Đổi dế than, nó bảo đồ ăn, ngu sao đổi dế. Sau cùng nó chịu đổi trứng gà luộc. Mỗi trứng được cắn một miếng. Trứng gà thì nó bóc ra tộng vào mồm như rắn nuốt nhái, không sứt mẻ một chút nào. Nhưng lương khô của nó thì dấu kín trong lòng bàn tay, như con rùa dấu kín trong mai chỉ thò ra một cái đầu bé xíu. Nó bấm chặt ngón cái để làm dấu, chưa cắn được đã bị nó giụt ra. Nó là cái thằng tham ăn số một.
Nó khôn bỏ mẹ, nhưng thằng Mạnh còn ranh ma hơn. Đến lượt mình, Mạnh cắn một phát vào tay, khiến nó hốt hoảng buông ra. Miếng lương khô quý như vàng của nó rơi đánh bộp xuống đất. Tôi nhanh tay hơn chụp được chạy tuốt vào nhà.Cả bọn bên ngoài liền tru tréo chửi rủa.Anh tôi từ trên cao, chộp xuống tay tôi như con chim cắt, lấy mất.Anh lật qua lật lại săm soi, đưa lên mũi ngửi khịt khịt, thè lưỡi liếm thử rồi nhăn mặt bảo: như cục cứt khô, có ngon lành gì đâu mà tụi bay giành. Kệ em, tôi dậm chân bành bạch, khóc đòi lại.
Thôi để tao chia cho, mỗi đứa nếm thử một chút của ngon vật lạ của mấy ông cộng sản cho biết mùi. Anh lấy dao và cả búa, kê lên ghế chặt bộp bộp như bổ củi. Mỗi đứa được anh chia một miếng chỉ bằng nửa cái móng tay, nhưng sung sướng còn hơn được cả lon đồ hộp của Mỹ. Đứa nào cũng ngửa cổ ra, trịnh trọng bỏ vào mồm như đón nhận bánh thánh của cha, rồi cứ thế mà ngậm chứ không dám nhai. Ngòn ngọt, măn mẳn, lại hơi beo béo, như bắp rang giã nhỏ trộn đậu phụng. Đúng là chẳng ra cái quái gì cả, nhưng là của bộ đôi nên đứa nào cũng gục gặt đầu khen ngon! Dĩ nhiên đến trưa đứa nào cũng tộng vào bụng bốn chén cơm đầy nhưng đều bảo có lương khô, no, chẳng cần ăn.
30/4 đúng vào dịp hè nên bọn tôi chẳng phải đi học. Chúng tôi suốt ngày đá banh, đuổi bắt nhau, hay đợi tối đến rủ rỉ kể chuyện ma trong vườn xoài. Phải nói là rừng xoài vì vườn nọ nối tiếp vườn kia, cả chục cây số, chỉ có xoài với xoài. Những cây xoài xanh đen như những cây dù khổng lồ, suốt ngày phủ kín mặt đất, không để rơi một giọt nắng nào.Nằm giữa hai hai ngọn núi lớn, hòn Bà ở phía đông quanh năm mây phủ, hòn Ông ở phía tây sừng sững đụng trời, ai ở mấy cái xã này, sáng mở mắt ra là đã nhìn thấy núi. Cái hẻm núi sâu dài kẹp giữa hai đường quốc lộ và xe lửa như một con mãng xà đen và một con rồng lửa cùng thi nhau chạy tới vịnh Cam Ranh.
Dường như đất ở đây chỉ dành để trồng xoài.Tuy mỗi năm chỉ có một mùa, nhưng nhà nào cũng có cả ngàn cây, nên thu nhập nhiều gấp mấy lần làm ruộng. Đến mùa xoài trổ bông, hàng triệu con ong kêu vù vù bay đi bay lại suốt ngày, rì rầm như tiếng tụng kinh. Ấy vậy mà có lúc người ta định phá hết để trồng lúa. Trên bảo xoài không phải là lương thực.Với lại thành lập hợp tác xã nông nghiệp chứ ai lại đi thành lập HTX xoài!
Đó là nói chuyện sau này, chứ hồi đó người ta chỉ lo trừ gian diệt ngụy, lùng sục những phần tử chống phá cách mạng, chứ hơi sức đâu mà nghĩ tới cây xoài. Mà những kẻ đáng bị đem ra bắn bỏ ấy thì chỉ có ngu mới đi trốn trên cây xoài. Cho nên cái âm u bí mật của rừng xoài, cái giang sơn không hổ báo này, chỉ có bọn tôi làm chủ mà thôi. Nhưng bà tôi nói, tụi bay phá vừa vừa thôi, đất này là của quỷ ma đó. Ý bà tôi muốn nói tụi tôi là học trò chỉ đứng hàng thứ ba. Thì thứ ba cũng oai ra phếch chớ bộ. Vừa rồi, người chết đầy đường đầy sá, bà nói tiếp,có ai cúng kiếng gì đâu, bọn họ biến thành những con ma đói. Ma gặp được những cây xoài có bóng mát là mừng lắm. Giữa nắng trưa họ lơ lửng trên cây. Những con ma có con nhỏ lại còn cột võng tòn teng đưa con, hát ru văng vẳng.
Trời ạ, nghe bà nói cứ như thật. Và dù cha tôi nói bà lẫn rồi, đừng có mà tin nhảm, nhưng bọn tôi vẫn cứ tin. Chẳng những thế lại còn thêu dệt thêm đủ thứ chuyện. Thằng Mạnh bảo tối nào ma cũng tới giếng nhà nó xách nước rửa chân, có khi còn cởi đồ ra tắm. Núp trong nhà nhìn ra, nó nói, tao thấy cái gàu tự dưng nhảy xuống giếng, múc đầy nước rồi nhảy lên. Sau đó nước đổ lênh láng, không rửa chân hay tắm là gì! Thằng Hành lại bảo thấy ma đứng dựa gốc cây, những con ma tóc dài chấm đất, tối nào cũng đứng đợi người yêu là những người lính biệt động mũ đỏ.
Tôi thì bảo có lần tao nghe ma thở, đôi lúc lại nghe ho khúc khắc. Ma ho và thở giữa ban ngày đó. Cả bọn bảo láo làm gì có ma giữa ban ngày. Tôi úp úp mở mở, bảo không tin thì thôi. Chỉ có mỗi mình tao biết là có một con ma sống lại. Chúng nó hỏi dồn ở đâu. Tôi nói, muốn biết ở đâu thì phải đổi cái gì chớ.Thế là cả bọn nhao nhao, đổi gì, đổi gì tao cũng đổi. Một con chó con nghe? Không thèm. Một trái lựu đạn nghe, cha tao còn dấu một trái để ném cá. Có mà đi tù. Cái xe hơi của tao, được không? Xe tí tẹo hồi mày một tuổi làm sao tao ngồi. Vậy biết đổi gì bây giờ, sao mày khó thế. Cả bọn mắng tôi dóc tổ, không thèm chơi.
Vườn xoài nhà bác Ba giáp vườn nhà tôi. Vườn rộng ngút ngàn chạy tận núi.Hơn 20 năm trước, bác từ Phù cát vào mua rẫy lập vườn cùng với cha tôi. Hồi đó chỉ toàn cát sỏi, rẻ rề. Chỉ vài cây vàng là có cả một vùng đất rộng bằng cả xóm. Nhưng hai người đã phải bỏ nhiều công sức, chịu đói chịu rét suốt mười năm mới có được cơ ngơi như ngày hôm nay. Khi tôi sinh ra, vườn xoài đã trĩu trái. Ngoài dầu khuynh diệp, mẹ tôi nói, tao và mầy đều dược ướp mùi xoài chín thơm ngạt mũi.
Cha tôi là người Diên Khánh, chẳng họ hàng gì với bác Ba, nhưng ở gần nhau, cùng trồng một thứ cây, và cùng nhờ nó mà sống được, nên coi nhau như anh em. Bác từ vùng chín năm kháng chiến vào nên nhiều người gọi đùa là ông Ba Việt cộng. Lâu dần thành tên. Bác cũng có khó chịu chút đỉnh, thực ra là sợ chính quyền cũ hiểu lầm, nhưng chính các ông ấp trưởng và đại diện xã, cứ một điều bác Ba VC, hai điều bác Ba VC một cách vui vẻ, nên Bác cũng đành chịu chết danh với cái tên bất đắc dĩ đó. Bác là người lặng lẽ, ít nói, nên giá như có vì thế mà bắt bác bỏ bót thì chắc bác cũng cắn răng mà chịu thôi. Bác thường ngửa mặt trông lên núi, u uất nói với cha tôi, cái vận hạn của đất nước còn tối tăm lắm, chưa thấy có chút gì sáng sủa. Cha tôi nói, núi hai bên che chắn hết mặt trời, sáng sủa cái nỗi nào. Thì đó, cái vận hạn của đất nước mình cũng bị kẹp giữa Nga và Mỹ như hai cái núi này mà thôi.
Nghe Ban Mê Thuột bị mất, bác có vẻ lo, suốt ngày cứ ôm đài. Cha tôi nói, đánh chiếm lại mấy hồi.Dưới đất có thiết giáp, trên có máy bay, ngoài khơi có hạm đội Mỹ, đánh một trận là xong ngay. Không dễ đâu! Không dễ đâu anh Năm à. Sao không dễ, cha tôi ực một phát, mặt đỏ gay. Không dễ thiệt mà, họ đánh đủ nơi đủ chỗ. Biết đâu họ đã đưa quân tới phục chỗ của mình rồi. Từ hai bên núi họ đánh ụp lại như kẹp cổ một con rắn, chạy đi đâu cho thoát! Bác cứ ngồi trầm tư trước mặt cha tôi, mồi không chịu gắp, rượu không buồn đưa lên miệng. Cha tôi giục, uống đi chớ anh Ba, cộng sản cũng là người như mình, họ vào đây thì mời họ uống rượu chớ việc gì mà lo. Bác nói, anh chưa biết đấy thôi, kinh hoàng lắm, sống không nổi đâu. Thì chết, cha tôi đã bắt đầu lè nhè. Đâu dễ mấy ai được chết dưới bàn tay cộng sản. Anh say rồi, bác nói, thôi vào nhà ngủ đi, tôi về.
Từ đó cho đến ngày chạy đi, bác không qua chơi với cha tôi nữa. Chỉ đến khi sắp lên xe, bác mới qua chào. Bác nói thôi ở lại mạnh giỏi. Cha tôi không biết nói gì, chỉ rơm rớm nước mắt.
Cứ tưởng bác đi là không trở lại. Bởi vì ngày đó người ta đồn Mỹ đã chia cho CS từ Phan Thiết trở ra. Bác nói vùng quốc gia dẫu sao cũng dễ thở hơn. Nhưng sau ngày 30 tháng tư ít hôm, lại thấy cả nhà bác buồn bã lộn về. Bác bảo cùng đường rồi, thôi về đây có chết cũng được. Tôi thương mấy cây xoài quá. Rồi sau đó công tác này nọ các thứ, cha tôi và bác cũng không còn rảnh rồi để mà ngồi lai rai dưới gốc xoài nữa. Cũng có thể bác hơi mắc cỡ với cha tôi, có khi là giận và sợ cha tôi vì đã quyết định ở lại. Mẹ tôi nói, chắc bác ấy tưởng mình là CS nằm vùng. Nằm vùng gì tui, nằm mùng với bà thì có, cha tôi cười lớn. Mẹ hứ cái cốc, phủi đít, đứng lên bỏ đi.
Chuyện nghe ma thở là như thế này. Lúc ở Sài Gòn chạy về, bác Ba mua hai con ngỗng trắng. Hai con ngỗng thấy trẻ con là cứ à oạc, à oạc tới rỉa vào chim đau thấy mẹ. Sợ rỉa đau nhưng vẫn cứ thích chọc. Bọn tôi tuột quần khỏi háng chìa chim trước ngỗng, đợi đến khi cái mỏ vàng vàng như cái kẹp lửa của nó xỉa tới là quay đít bỏ chạy. Năm ba đứa cùng hè nhau chọc phá, hai con ngỗng chỉ rượt đuổi một lúc rồi thôi. Nhưng chỉ một đứa là nónrượt tới bến.Tôi bị nó rượt một lần chạy ná thở. Lần đó hai con đuổi tôi chạy tới tận cuối vườn, sát bìa rừng vẫn chưa tha. Tôi phài chạy vòng vòng sau cái nhà tắm mới xây của bác Ba và liều mạng đá vào cổ chúng mới thoát được.
Đúng là mệt ná thở. Không ngờ bọn ngỗng gan lì và hung tợn quá. Hèn nào bác Ba nuôi chúng để giữ nhà. Chúng nó à oạc suốt đêm, chẳng bọn trộm nào dám vào.Lúc hết mệt, đứng dậy định về, tôi bỗng nghe có tiếng thở. Ban đầu, tôi tưởng tiếng thở của mình. Nhưng nghe kỹ thì không phải. Áp tai vào vách, dường như có tiếng thở từ bên trong. Tiếng thở yếu, đứt quãng.Nghe như tiếng thở của người già hay của người bệnh. Tôi liền đi quanh tìm cửa nhưng không thấy.Rõ ràng là gạch xây không trát hồ chứ không phải chất thành đống.Một cái nhà dài hai thước, ngang một thước, cao cũng chừng đó giống như một cái hộp.
Biết bao câu hỏi mọc lên như nấm trong đầu óc non dại của tôi. Rõ ràng là bác Ba mới xây cái nhà này, xây vội vàng và rất vụng. Chắc chắn đó không phải là nhà tắm vì bác đã có một nhà cầu và nhà tắm cạnh nhà tôi. Vậy thì xây làm chi, xây để dấu ai? Mà sao phải dấu, sao phải trốn? Ai ở nổi trong một cái nhà mồ như thế.Thật là hoang mang, nhưng tôi không dám nói cho ai biết. Một phần, tôi thích tự mình khám phá ra bí mật. Nếu tôi tìm ra được sự thật, chắc hẳn tụi bạn tôi phục sát đất. Phần nữa, tôi sợ chính quyền mới sẽ kéo quân du kích tới đập nát nó ra, lôi cổ ai đó ra bắn bỏ hay cho đi tù. Và như thế là tôi có tội với nhà bác Ba.
Suốt ngày tôi cứ dõi mắt sang cái nhà gạch bí ẩn đó. Có lúc tôi leo núp trên những cây xoài.Tôi hồi hộp đợi chờ một con người to lớn hay một con gấu đập vỡ gạch chui ra. Đêm, tôi vừa sợ vừa mong, thấy một con ma áo trắng, y như bà tôi nói người chết có lúc đội mồ sống dậy. Tôi đã định lân la hỏi chuyện bác gái, nhưng chính bác sang nói với mẹ đừng cho tôi chọc phá ngỗng nữa. Bác trai nghe nói về quê, các anh chị đi lên rẫy. Nhà bác lúc nào cũng cửa đóng, lá rụng ngập đầy vườn. Khi chiều xuống, khí núi và sương đêm lạnh buốt, lại thêm có con chim cú ở đâu mới tới, thả vào bóng tối những tiếng kêu như quỷ gọi hồn. Có cho kẹo tôi cũng không dám tới cái nhà mồ đó. . .
Tôi đã nản định bỏ cuộc, thì trong một buổi chạng vạng, thấy có người đến. Người ấy là bác Ba gái. Bác nhìn trước ngó sau, thập thò như kẻ trộm. Rồi bác ngồi xuống,vẹt đống lá xoài ra, gỡ mấy viên gạch sát đất để lộ một cái cửa nhỏ đủ đưa nước và thức ăn vào. Sau đó, bác bịt kín, vun lá xoài khô che lại như cũ. Bác đứng lên mang theo một cái bô đi vào nhà cầu.
Đúng là ông Ba Việt cộng. Nhưng sao Việt cộng tới ông không reo mừng, không nhảy ra giữ chức này chức nọ mà lại tự nhốt mình như thế. Tôi nói điều đó với anh Hai, anh lấy tay bịt miệng tôi lại, không nói gì. Hôm sau anh bảo tôi đứng canh, rồi chính anh cạy những viên gạch và luồn vào trong một tờ giấy và cây bút bi. Một lúc sau, anh lấy ra, lấp lại gạch, kéo lá xoài tủ lại rồi chạy như bay vào nhà. Tôi cũng bắt chước cách anh dọa tôi, vừa đuổi theo vừa dọa, không cho em coi, em mét ba. Anh lại bịt miệng tôi, đưa tờ giấy soi dưới ánh đèn cho tôi đọc. Giấy ghi chỉ có hai câu: Phải bác Ba đó không? Và: phải, im coi như không biết, cảm ơn! Anh giật tờ giấy châm vào lửa, nghiêm sắc mặt không phải đe mà ra lệnh: không được nói cho ai biết nghe chưa? Kể cả cha và mẹ.Tôi vừa run vừa dạ.
Và chuyện con ma sống lại ấy, bọn bạn hỏi một đôi lần, tôi bảo không phải ma, chỉ có một con chồn đào hang chui vào nhưng đã bắt được rồi.
Đến tuổi không còn sợ ma và cũng chẳng thích nghe chuyện ma nữa, cả bọn tản mác theo cha mẹ phát rẩy trồng thêm mì, cũng chẳng còn dư thì giờ mà lêu lổng trong vườn xoài và cũng quên mất cái nhà tù kỳ lạ đó. Tôi cũng vậy, mấy năm sau đi lính sang xứ chùa Tháp, chết chóc thật khủng khiếp. Biết bao chuyện người sống còn lạ lùng hơn chuyện ma. Được sống sót trở về đã là may. Chuyện bác Ba tự nhốt mình trong cái hộp ấy chỉ là chuyện nhỏ, tôi cũng quên mất.
Mãi đến khi tôi lấy vợ, sang mời bác Ba thì mới biết bác đã mất rồi. Bác mất trong cái nhà tù đặc biệt đó. Con trai bác gỡ từng viên gạch đem bác ra tắm rửa. Mẹ tôi nói bác gầy và khô như que củi. Bác đã sống trong đó suốt 15 năm. Từ xưa tới nay chưa có ai tự làm tù mình như thế. Có người bảo bác là dân Bình Định, chắc trước kia là gia đình địa chủ, sợ cộng sản quá hóa ra lẩn thẩn. Nhưng anh Thức, nói nhỏ vào tai tôi, không phải sợ mà là ghét.
Giờ tôi cũng đủ khôn để hiểu bác ghét ai. Ghét đến nỗi không muốn nhìn thấy núi. Và tôi cũng hiểu ra rằng, núi chỉ đẹp và đáng nhìn khi được tắm dưới ánh sáng mặt trời./.

KHUẤT ĐẨU

CẬU UN “EM CHẢ! EM CHẢ!”

khuatdau

Ngay sau khi cái đám tang vĩ đại của ông bố vĩ đại trong giá rét vừa mới khô nước mắt, người kế tục phì đồn, qua thông cáo của bộ quốc phòng, đã ngạo mạn tuyên bố với cả thế giới rằng, sẽ không có gì thay đổi trong chính sách đối nội và đối ngoại của Triều Tiên. Và rằng, những nhà chính trị ngu dốt (Mỹ) và những kẻ bù nhìn (Hàn Quốc) đừng có mà mơ tưởng hão.
Như thế, có nghĩa rằng Triều Tiên vẫn vét cạn hết tài lực trong nước để chế tạo bom nguyên tử và hỏa tiễn có gắn đầu đạn hạt nhân, tiếp tục hù dọa hai anh nhà giàu hàng xóm là Hàn Quốc và Nhật Bản.
Đầu năm mới, sau khi đã được bầy đàn thuộc hạ thề sẽ đem tính mạng của mình, chiến đấu tới giọt máu cuối cùng để bảo vệ cái ngai vàng tân hình thức, đại tướng Kim Jong Un chưa một ngày vào lính đã tới xông đất sư đoàn thiết giáp, một trong những sư đoàn hùng mạnh (hay ảo tưởng hùng mạnh) trong đội quân đông nhất thế giới (1,2 triệu người).
Có thể nay mai, cậu sẽ noi gương các đồng chí Việt Nam anh hùng, đánh cho Mỹ cút, Hàn nhào để giải phóng miền Nam. Rồi đây, trên 50.000 người đăng ký thi tiếng Hàn, những ai không trúng tuyển làm cu ly cho tư bản Hàn Quốc có thể sang bắc Hàn làm cố vấn quân sự.
Với đám dân sắp chết đói vì làm việc đến 12 tiếng một ngày không lương cũng đừng có mà mơ giấc mơ đổi đời bằng cách vượt biên qua ngã Trung Quốc. Hàng chục vạn binh sĩ được điều động lên phía bắc, kết thành một bức tường Bá Linh kiểu mới với vũ khí được trang bị tận răng, được lệnh bắn bỏ bất cứ ai có ý đồ hay nghi ngờ có ý đồ đào thoát khỏi cái trại súc vật. Chẳng những bắn bỏ không thương tiếc mà còn cắt tem phiếu, đem ra đấu tố cả ba họ liên lụy! Nghĩa là cứ một người vượt biên sẽ có ít nhất 50 người nữa phải chết đói hay chết rét trong trại cải tạo.
Đúng là phong kiến định hướng xã hội chủ nghĩa có khác, một thái tử vừa mới lên nối ngôi liền hỗn láo với lân bang và hăm dọa dân chúng thay vì như trước kia, nhún nhường với lân quốc và ân xá tù nhân để lấy đức.
Khi Kim Jong Il còn tại thế, các nhà bình loạn Việt Nam thường gọi đùa là Chí Phèo! Nhưng nay, một Kim Jong Un chưa tới 30 tuổi mà bụng đã to như thùng nước lèo, mặt búng ra sữa, thì cậu út cầu tự của họ nhà Kim lại rất giống với thằng Phước “em chả, em chả” được nuông chiều rất mực của bà phó Đoan!
Thế là bà cô đại tướng phải chiều, ông dượng nhân vật số hai cũng phải chiều, bộ chính trị lại càng phải chiều.
Bởi vì xem ra, cái chức đại tướng 4 sao chẳng là cái đinh gì đối với cu cậu, nếu không được sờ vào các nút bấm hỏa tiễn có gắn đầu đạn hạt nhân. Có được cái bảng điều khiển trong tay, cậu sẽ bấm búa xua như bọn trẻ con chơi game.
Èng! Èng! Này Tokyo cháy!
Èng, Èng! Này Seoul cháy!
Èng, Èng! Kìa tàu sân bay Mỹ nó nổ tung!
Đã quá đã!
Nên chi, khi Kim Jong Il vừa ngỏm cù đeo, Obama mặc dù vừa mới thở phào nhẹ nhõm vì Bin Laden và Gadaphi bị giết, đã phải cuống lên bởi một thằng oắt con đang sở hữu trong tay vũ khí giết người hàng loạt! Thực ra, không chỉ có Mỹ, Hàn, Nhật mà còn có cả Nga, Tàu…đều sợ xanh mặt vì sự ngứa tay nghịch phá của cậu Un “em chả”!
Và, nếu nhìn những bức hình hiếm hoi của các nhân vật vây quanh, ta có thể thấy được nét mặt đau khổ như bị bệnh trĩ của bọn họ. Không phải đau vì Il chết mà vì mình có thể bị toi mạng bởi thằng nhóc còn chí phèo hơn cả bố này.
Tuy nhiên, những kẻ nghèo rớt mồng tơi như hai lúa Việt Nam mình thì chẳng việc gì phải sợ.
Tại sao ư? Tại vì những trái bom nguyên tử và những hỏa tiễn đó thực ra là của anh ba Tàu cho mượn để che dấu cái sự yếu đuối bất lực của bắc Hàn ( nếu ngon đã giải phóng nam Hàn từ khuya rồi). Đó là chưa kể, với một sư phụ chuyên làm đồ dỏm, thì chắc gì đó là đồ thiệt. Mà dẫu cho là đồ thiệt thì chắc gì con cháu Tào Tháo lại chịu giao ngòi nổ cho một thằng “em chả” mới lên ba đã đòi nghịch súng!
Thế giới sẽ không vì Kim Jong Un mà xảy ra thế chiến thứ ba. Thế giới chỉ có thể sẽ cười to hơn vì những trò “em chả” “em chả” và thương xót dân Triều Tiên hơn vì lại phải tiếp tục sống dưới một chế độ vừa hà khắc vừa khùng điên.
Cả vận mệnh của hai mươi bốn triệu người trao vào tay một thằng “em chả” như thế, thật đáng hổ thẹn.
Nếu không có Nga, Tàu chống lưng, nếu không có Libya (khi Gadaphi chưa chết), Cu Ba (để tang 3 ngày) liên danh ma quỷ…thì bắc Triều Tiên đã tự hòa nhập hòa tan từ lâu rồi trong một Hàn quốc giàu mạnh.
Nhưng, lại thêm một chữ nhưng sướng tái tê, cũng có thể sau khi uống hết những chai rượu Tây trong hầm và xem hết mấy chục ngàn bộ phim Mỹ của Kim Jong Il để lại, một sáng đẹp trời nào đó, bỗng Un bất ngờ đuổi hết cái đám ngu trung mà quay ngoắt 180 độ, bắt tay với Nam Hàn để thống nhất đất nước.
Biết đâu đó, thánh nhân nhiều khi đãi kẻ khù khờ!

KHUẤT ĐẨU

CHỖ ĐỨNG CỦA MẠC NGÔN?

khuatdau</a

DSC09930

>DSC08683

Ông đứng ở đâu khi xe tăng tiến vào Thiên An môn? Ở đâu khi người sinh viên bé nhỏ đứng chặn trước đầu đoàn xe?
Ông đứng ở đâu khi quân Trung Quốc vũ trang đến tận răng tiến vào Tây Tạng? Ở đâu khi Đạt Lai Lạt Ma lên tiếng đòi tự do cho dân tộc mình?
Ông đứng ở đâu khi người Hán tàn sát dân tộc thiểu số Tân Cương?
Ông đứng ở đâu khi Lưu Hiểu Ba bị giam trong ngục tối và giải Nobel Hòa Bình phải trao cho một chiếc ghế?
Ông đứng ở đâu khi đồng bào ông lấy cớ bảo vệ chủ quyền quốc gia đi đốt phá, hôi của tất tần tật những gì made in Japan?
Và, trong cuộc chiến mà Đặng Tiểu Bình bảo dạy cho Việt Nam một bài học, thì ông đứng ở đâu khi bảo rằng đó là cuộc chiến vệ quốc?
Lại nữa, ông đứng ở đâu khi ông cho rằng nhà văn cần phải tự kiểm duyệt và bị kiểm duyệt?
Rõ ràng là ông đứng về phía đảng.
Và, đứng với một cái chân rất dài.
Còn một chân nữa, trong Phong Nhũ Phì Đồn, trong Cây Tỏi Nổi Giận,… thì đúng là ông đứng về phía nhân dân. Ngay cả trong Ma Chiến Hữu ông cũng nói tới nỗi khổ của những con ma lúc sống là những nông dân nghèo đói ngu dốt bị lùa qua biên giới trong chiến thuật biển người.
Nhưng đó là một chân rất ngắn.
Đọc những tác phẩm nói trên, nhiều người lầm tưởng ông là một người dũng cảm, dám phơi bày bộ mặt thật của một Trung Hoa xôi đậu thời Quốc Cộng, một Trung Hoa điên cuồng mê muội dưới thời Tứ Nhân Bang.
Thực ra, đó là những gì mà đảng của những kẻ sống sót sau cách mạng (vô) văn hóa, đứng đầu là Đặng Tiểu Bình và hiện giờ là Hồ Cẩm Đào cho phép nói. Cái thây ma chưa chôn ấy ông muốn nói, muốn viết, muốn chửi bao nhiêu cũng được miễn là đừng đụng tới cái hiện tại cùng hung cực ác của Trung Nam Hải.
Liệu ông có biết cái ác của thời Mao chỉ là ác với dân tộc mình, còn cái ác của thời hậu Mao là ác với cả nhân loại?
Ông không thấy một Trung Hoa hung hăng, ngang ngược đang mang thai một hậu duệ có cả gien của Tần Thủy Hoàng, Tào Tháo và cả Hitler để lại đưa nhân loại vào thế chiến thứ ba?
Tôi tin là ông thấy, ông nghe, ông biết nhưng ông im lặng như bút danh của ông. Mà im lặng trước cái ác tức là thỏa hiệp với nó.
Phải công nhận ông là một nhà văn có tài, mà cái tài đáng nể nhất là đi khập khiễng với một chân ngắn về phía nhân dân, một chân dài về phía đảng.
Ở Việt Nam, có một nhà thơ (!) hào hển khen ông rằng, viết mà được đảng tin (phó chủ tịch HNV), được dân mến (nhiều người đọc) và được địch yêu (trao Nobel) là rất đáng khâm phục. Tôi nghĩ rằng ở Việt Nam, không chỉ có một con cừu mà có cả một bầy cừu!
Bây giờ, trên đỉnh cao chói lọi của một nhà văn được giải Nobel, tiếng nói của ông vang khắp thế giới. Ông có thể mở miệng mà không một thế lực nào dám bịt miệng, nhưng ông chỉ thỏ thẻ một cách yếu ớt như tiếng kêu be be của một con cừu rằng, thì là ông hy vọng (!) Lưu Hiểu Ba sẽ được sớm trả tự do.
Thật tội nghiệp cho ông! Một người đi cà thọt, chàng hảng, thì cái tự do* lủng lẳng dù giải Nobel có như một liều viagra, nó vẫn ỉu xìu buồn thiu mà thôi.
Vậy thì tôi ơi, đừng ngây thơ mà mơ mộng rằng, ông sẽ ngẩng cao đầu tuyên bố không nhận giải Nobel nếu nhà cầm quyền chưa thả Lưu Hiểu Ba!
Và, ông đứng đâu mặc ông, miễn là không còn đứng trong lòng tôi nữa là được rồi!

KHUẤT ĐẨU

ĐỂ TANG CHO SÁCH

khuatdau

Bà tôi thường than thở, hết một nửa cơ nghiệp của nhà này đã tan tành theo sách. Một nửa cơ nghiệp nói cho to, cho xứng với nỗi đau tiếc của của bà, chứ thực ra chỉ vài trăm cuốn sách của ông tôi thôi. Có điều, đó không phải là những quyển sách bèo nhèo giấy rơm thô kệch, đang tràn ngập trong các hiệu sách, trong trường học và trong thư viện. Chưa nói tới nội dung, chỉ mới lật qua vài trang mờ nhoẹt vàng đục với những con chữ ốm o đói khát như những người bị sốt rét rừng là đã thấy chán lắm rồi.

Sách của ông tôi, bạn chỉ ngắm không thôi cũng đã thấy thích. Những cuốn tự điển của Pháp, của Việt, thư pháp của Trung Hoa, những sách thuốc, sách khoa học, những bộ tiểu thuyết của các nhà văn danh tiếng, những sách học làm người, những sách triết…đứng sát bên nhau phơi cái gáy mạ vàng như cả một đội ngự lâm quân thông thái và oai vệ. Trang nghiêm nhưng không lạnh lẽo, bọn họ là thầy là bạn của ông tôi. Và vì vậy, bạn cũng như tôi chỉ được phép đứng nhìn mà thôi.

Ông tôi là một người mê sách (cũng lại là cách nói vừa tấm tức vừa giận hờn của bà) mê hơn cả vợ con. Nếu bảo rằng “thư trung hữu nữ nhan như ngọc”, thì ông tôi tuy đã già nhưng lại có đến những mấy trăm người đẹp như các vua chúa ngày xưa, nên bà tôi “ghen” cũng phải.

Ông mê sách như người mê đồ cổ. Nghe ở đâu có sách quý là ông tìm tới dù có phải tốn kém tàu xe và phải bỏ ra cả một mòn tiền lớn để “rước” người có nhan như ngọc đó về, ông cũng dám chơi một phen cho thỏa chí. Như cuốn Tự vị của Paulus Của, nghe đâu như là ấn bản đầu tiên của một ông cụ nào đó bắc bực làm cao đến tận giời, ông tôi đã phải lặn lội vào tận xứ Thủ Dầu Một xa lắc xa lơ để mua cho bằng được. Công cuộc mua quyển sách đó, chẳng những khiến ông mất đến mấy chỉ vàng, mà còn ốm một trận thừa sống thiếu chết.

Cuốn sách cũ đến nỗi như đã ngàn năm tuổi. Còn hơn một người chơi đồ cổ, ông tôi lại phải tốn thêm một món tiền và nhất là tốn rất nhiều thì giờ để nài nỉ và kiên nhẫn ngồi chờ anh thợ đóng sách đóng lại giùm. Lúc này quyển sách đối với ông như một con bệnh thập tử nhất sinh và anh thợ đóng sách cứ như một bác sĩ. Khi anh thợ tháo bung sách ra, ông đau nhói như thể gan ruột của mình cũng bị lôi ra như thế. Ông hồi hộp theo dõi từng mũi chỉ khâu, nín thở xem anh ta cắt xén, làm bìa. Cho đến khi sách được làm mới một cách khỏe mạnh, xinh đẹp, ông ôm quyển sách trước ngực như một người mẹ ôm đứa con bé bỏng vừa được bác sĩ cứu sống. Ông hết lời cảm ơn anh ta, đưa cho anh một tờ tiền lớn và hào phóng không nhận tiền thối lại. Đem quyển sách về nhà, ông lại mất cả buổi ngồi ngắm đến nỗi quên cả bữa cơm khiến bà tôi phải giục.

Đó là với những sách cũ quý hiếm. Còn sách mới, ông lại “phá của” một cách không giống ai. Sách nào ông cũng phải mua đến những hai quyển, một để đọc và cho mượn, một để nguyên không đụng tới. Những quyển sách để nguyên ấy nằm im trong tủ kính, mỗi lần mở ra là thơm nồng mùi giấy mới và mực in. Đối với ông, đó là một mùi thơm huyền hoặc đầy quyến rủ và mê đắm như những người nghiện nghe thấy mùi thuốc phiện. Chẳng những chỉ mùi thơm trinh nguyên không thôi, quyển sách vẫn còn trinh trắng khi hãy còn những lề chưa rọc.

Học cách người xưa, không để của cải cho con cháu mà để sách, nên giá như có phải vì thế mà tiêu hết cả cơ nghiệp, ông tôi cũng không tiếc. Chỉ có một điều khiến ông băn khoăn, ấy là trong đám con cháu thực sự chưa có một người nào đủ để ông tin tưởng. Gạt hết những đứa chỉ biết có nhà to xe đẹp, những đứa chỉ biết vung tiền trong các cuộc ăn chơi, suốt một đời chưa đụng tới một quyển sách nào, những đứa mà ông bảo là trong đầu toàn chứa những thứ vớ vẩn nếu không muốn nói là hôi thối ấy, còn lại chỉ vài đứa có để mắt tới sách, nhưng với một thái độ hờ hững, một đôi khi thô bỉ xúc phạm đến sách.

Ông ghét nhứt ai đó đọc sách mà miệng cứ nhai nhồm nhoàm, vừa đọc vừa tán chuyện, bạ chỗ nào cũng đọc ngay cả trong nhà cầu, đang đọc mà có ai ới lên một tiếng là ném ngay cái xạch sau khi đã tàn nhẫn xếp lại một góc để làm dấu, rồi bỏ đi mà không cần biết tới quyển sách có thể bị ướt, bị bẩn hay bị cháy. Ông cũng không chịu được cái cách lật sách thô bạo bằng cả bàn tay úp lên trang giấy hay thấm nước bọt trên đầu ngón tay. Đó là cách cư xử của kẻ phàm phu tục tử, của phường giá áo túi cơm. Lật sách mà như thế có khác gì sàm sỡ nếu không muốn nói là cưỡng bức. Phải lật như những nhà sư nâng nhẹ một trang kinh hay là như khẽ lay một người đẹp đang ngủ.

Đối với ông, đọc sách là để được tiếp cận với những tâm hồn ngoại hạng, cho nên trước hết phải tắm rửa sạch sẽ, ăn mặc chỉnh tề, phải “dọn mình”như con chiên quỳ trước Chúa, như nhà sư đảnh lễ trước bàn thờ Phật. Chẳng những sạch ở phần xác mà còn sạch cả phần hồn. Nghĩa là không để những giận hờn phiền muộn hay những ý nghĩ ô trọc dính bám cho dù chỉ một tí trong đầu. Chỉ đọc trong lúc thanh tịnh giữa khuya hay khi gần sáng tinh mơ. Đọc với hương trầm cộng với mùi hương ngai ngái của giấy mực, hương của sương đêm loáng thoáng hay hương của nước mưa mát dịu. Đọc là mở hồn ra để hơi thở của sách ùa vào căng buồm lên cho con thuyền bé nhỏ của mình được dọc ngang trên biển học mông mênh.

Đương nhiên là ông tôi khó tính nhất nhà. Cái viện sách bé nhỏ của ông là một nơi khả kính, thâm nghiêm như một ngôi đền không một ai ngay cả bà tôi dám động tới. Bảy mươi năm sống trên đời của ông thì hết một nửa là ở trong cái gian phòng đựng đầy sách với mùi hương và sắc màu của những tâm hồn kỳ vĩ. Dạo ấy, mặc dù được cưng chiều và rất có triển vọng được ông tin tưởng, tôi cũng chưa được một lần đọc một quyển sách nào trong tủ sách ấy. Ông bảo tôi chưa đủ tuổi và chưa học được cách nâng niu gìn giữ theo cách gần như tôn thờ, thì đọc chẳng ích lợi gì mà còn “giết” sách. Theo ông, đọc vì tò mò, đọc như “lua cơm”, đọc như ngốn ngấu thì cả đầu óc mình chỉ là một bãi hoang chứa đầy những xác chết của sách bị vất ngổn ngang mà thôi. Đọc là phải ngấm từng chữ từng câu, phải để nó bén rễ trong đầu mới có thể thành cây cho trái ngọt.

Năm tháng qua đi, ông tôi âm thầm làm một cuộc chuyển giao lặng lẽ. Tiền bạc trong nhà cứ cạn dần nhưng sách của ông lại đầy lên, phải đóng thêm tủ kê thêm kệ. Cô chú tôi biết ý ông, nên mừng tuổi không bằng trà ngon rượu bổ, mà bằng những phong bì ít nhất cũng đủ cho ông mua được một hai quyển sách. Những lúc ấy ông vui như một đứa trẻ lên 5 được nhận tiền lì xì. Rồi ông đi ra tiệm sách, khệ nệ ôm về những chồng sách mà ông ao ước nhưng chưa đủ tiền mua. Ông ve vuốt từng cái bìa, ngắm nghía từng con chữ, đê mê những sách của Lá Bối, An Tiêm, mơ màng với những tác giả Saint Exsupéry, Bùi Giáng…Giá như ông sống đến một trăm tuổi và giá như ông còn có đủ tiền thì cái viện sách của ông sẽ kín đặc những sách. Ông sẽ ngồi giữa những bức tường dày cộm thơm tho đó như một anh lính già đang tử thủ trong một cái lô cốt văn hóa.

Sau tháng tư năm ấy, cái tháng tư mà dù nằm dưới mộ sâu ông vẫn còn đau đớn, những cuốn sách của ông tưởng sẽ sống đến ngàn năm đã bị bức tử một cách oan nghiệt.

Khi người ta đội lên đầu những quyển sách của ông, có những quyển già như một ông tiên đầu bạc, có những quyển xinh tươi như những thiếu nữ trẻ trung, những chiếc mũ có tên là “nọc độc”, là “đồi trụy”, là “phản động” thì hơn ai hết ông hiểu đó là một lời tuyên án tử hình.

Ông suy nghĩ lung lắm, không phải để tìm cách chôn dấu hay tẩu tán. Mà suy nghĩ làm sao để chọn cho sách một cái chết xứng đáng với lòng tin yêu và kính trọng của ông.

Một đêm thức trắng.

Rồi hai đêm thức trắng.

Ngày thường ông bình tĩnh là thế nhưng lúc này, ông bối rối run rẩy. Có lúc mặt ông đỏ bừng và mắt ông lóe lên những tia lửa căm hờn. Cả nhà chẳng ai dám hỏi nói gì với ông. Giống như một con sư tử già bị săn đuổi cùng đường, lâu lâu ông lại gầm lên một cách tuyệt vọng.

Cuối cùng ông đã chọn cho mấy trăm cuốn sách một cái chết dũng cảm. Đó là chính ông tự mình đốt sách.
Một quyết định cháy lòng.

Tôi cũng được dự phần trong cuộc hỏa thiêu đau đớn ấy, bằng cách giúp ông bê hết sách ra sân. Dù đem đi đốt nhưng ông không cho phép tôi làm rơi rớt xuống đất, không được nặng tay, mà phải sẽ lén nhẹ êm như đang bồng một em bé say ngủ. Phải rồi, những cuốn sách của ông đang say ngủ. Đánh thức chúng dậy, ông sẽ không chịu nổi những tiếng khóc mà chỉ riêng ông mới nghe được mà thôi.

Sách được xây thành một cái tháp quanh những thanh củi chẻ nhỏ. Ông không muốn đốt chúng bằng xăng hay dầu. Ông lại càng không muốn xé sách ra từng mảnh nhỏ để đốt. Xé ra là làm chúng đau. Và làm cho chúng đau trước khi chết là tội ác. Một người coi sách là sinh vật sống, để cả đời nâng niu bồng ẳm, vậy mà phải giết do chính bàn tay của mình, bạn phải biết là ông tôi đã đau khổ đến nhường nào.

Đó là một đêm tháng năm lặng gió. Cây cối im ngủ. Những ngôi sao như tan đi trong khói trời mờ đục. Ông tôi cử hành lễ đốt sách cũng bi tráng và lẫm liệt như Huấn Cao cho chữ trong ngục. Ông mặc toàn đồ trắng, cắm một cây đuốc giữa trời, khấn khứa rì rầm rồi lạy bốn hướng mỗi nơi một lạy. Xong ông lấy cây đuốc đang cháy đặt vào giữa tháp. Dứt khoát và quyết liệt như cái cách các võ sĩ đạo đâm kiếm vào bụng.

Lửa bắt rất nhanh, chỉ trong phút chốc đã bắn vọt lên đầu ngọn tháp.

Đã nghe mùi mực và mùi giấy.

Đã nghe tiếng vặn mình của các bìa sách.

Đã nghe những âm thanh líu ríu như run như rẩy của những trang sách méo mó cong vênh.

Lửa trào ra như từ miệng hỏa diệm sơn.

Lửa ôm choàng lấy sách, hôn dữ dội bằng đôi môi bỏng cháy.

Sau cùng, cái tháp bằng sách đỏ rực như một trái tim để lộn ngược.

Ông tôi ngồi xếp bằng, cố giữ nét mặt trầm tĩnh một cách cao cả. Không một giọt nước mắt cho dù là vì khói cay xè. Ông như thượng tọa Thích Quảng Đức đang ngồi kiết già với ngọn lửa bao quanh. Có thể nói, chính ông cũng đang tự thiêu. Bất giác tôi cảm thấy muốn khóc vì lo sợ. Đến một lúc nào đó, biết đâu ông đứng bật dậy bước thẳng vào ngọn lửa.

Ông chết theo sách.

Đó là một cái chết đẹp, xứng đáng với một người yêu sách như ông.

Nhưng ông chưa muốn chết vì ông còn phải để tang cho sách như một đứa con chí hiếu. Ngay lúc lửa tàn, ông quỳ xuống lạy ba lạy. Rồi ông kiên nhẫn ngồi đợi cho tất cả biến thành tro nguội. Ông bảo tôi hốt tro vào bao, cất vào tủ rồi mới chịu đi vào nhà. Gần như suốt đêm ông không ngủ. Bà tôi than thở là nghe tiếng dép của ông kéo lê lệt sệt mãi tới tận sáng.

Hôm sau, ông bảo tôi thuê thợ đóng nhiều chiếc hộp để đựng tro. Mỗi chiếc để một ngăn tủ. Ông khóa lại và dặn không được dùng vào việc gì khác ngoài việc gìn giữ những chiếc quách ấy. Hơn 30 năm sau, cái tủ đựng đầy những hộp tro vẫn đứng im đó như một nhà mồ. Ngày giỗ ông, chúng tôi cũng đem một bát nhang đến thắp trên đầu tủ. Có cảm giác như hồn ông và hồn sách cùng lãng đãng bay về.

Vẫn chưa hết chuyện về ông tôi đâu. Một tháng trước ngày mất ông muốn tôi làm cho ông những tấm mộ bia bằng giấy. Ông đưa tôi một danh sách dài những quyển sách bị đốt, cứ mỗi tấm bia đề tên một quyển sách. Hơn mấy trăm cái bia như thế, phải mất cả tuần mới làm xong. Những mộ bia không có ngày sinh nhưng có chung một ngày tử. Chúng được xếp lên kệ thay cho hàng trăm cuốn sách đã chết tập thể.

Cả viện sách của ông giờ đây biến thành một nghĩa trang.

Ông trịnh trọng chít khăn trắng, lên nhang đèn rồi cung kính khấn vái như trước bàn thờ tổ tiên. Trong những lời rì rầm, nhiều lúc bỗng vang lên như tiếng khóc, ta là người có tội, có tội. Theo như tôi hiểu đó là cái tội không bảo vệ được sách, tội với các tác giả, tội với những thợ sắp chữ ở nhà in và xa hơn nữa là có tội với giấy và mực.

Ông biết ơn họ bao nhiêu thì bây giờ ông ray rứt vì mình có tội bấy nhiêu.

Từ đó ông ăn ít ngủ ít. Ông đem từng tấm bia đặt lên bàn, lặng lẽ ngồi ngắm hằng giờ như đang đọc sách. Mỗi tấm bia gợi nhớ đến màu bìa, co chữ, tranh vẽ và cả nội dung mà chỉ có ông mới thấy được, hiểu được. Ông như sống lại những năm dài trước đó với những niềm vui kín đáo khi tìm được sách quý, hay mua được những sách hay. Những lần như thế, ông tự thưởng cho mình khi thì một bình trà, lúc một chung rượu hay tách cà phê và những điếu thuốc thơm thay cho hương trầm.

Rồi đến một lúc ông không ăn mà cũng chẳng ngủ. Người ông khô kiệt tái xám. Ba tôi và các chú đi cải tạo chưa về đương nhiên là khoét sâu vào hồn ông những nỗi buồn lo khôn nguôi. Nhưng dù vậy, tận cùng của đêm thì cũng phải sáng. Ông có thể đợi đến mười năm hay hai mươi năm. Chỉ có những quyển sách bị đốt là không đợi được. Ông nói với bà, biết trước như vầy tôi đã để hết tiền cho bà chứ mua sách làm chi. Bà tôi cay đắng, ai mà có con mắt sau lưng.

Buổi chiều cuối cùng ngồi bóp chân cho ông, tôi nghe ông hỏi, cháu thấy ông thế nào? Tôi nói, dạ, ông nên ăn chút cháo, trông ông gầy lắm. Không phải, ông nói, da ông thế nào, đã ngã thành màu đất chưa? Không biết da màu đất là màu gì, tôi nói đại, chưa ông à. Ngã màu đất là sắp chết đấy cháu, ông nói. Ông đã có ý để lại sách cho cháu, nhưng ta tính làm sao được bằng trời tính. Cháu nhớ giữ giùm ông cái tủ và mấy cái kệ.

Nghe ông nói, tôi thấy da ông quả thật rất giống với màu đất bạc phếch, lạnh lẽo ở nghĩa địa. Da ông là da của một người đã chết từ lâu nhưng chưa chôn. Hay là ông đã chết từ cái đêm hôm ấy. Hồn ông đã cùng với hồn sách nương theo khói bay lên tận trời cao. Cái miền đất ồn ào đầy ô trọc và thù hận này biết đến bao giờ mới lại có được những con người, những quyển sách biết yêu quý tương kính lẫn nhau như thế. Chính lúc này tôi mới thấy thấm thía nỗi đau mất sách của ông.

Tôi vừa buông tay ra thì ông ngừng thở. Ông chết nhẹ nhàng như gấp lại một cuốn sách. Tính ra, ông đã để tang cho sách đúng một trăm ngày.

Khuất Đẩu

Vua Tango

khuatdau

Với dáng vẻ tự tin của một ông hoàng Ả Rập, anh nói, đây là “tệ” xá, xin mời vào. Khi tìm đến khu kinh tế mới N. Tr, tôi không hề có ảo tưởng sẽ bước vào một ngôi nhà lát gạch men bóng lộn, nhưng không ngờ cái “tệ xá” của anh lại tệ đến như vậy. Ngôi nhà như một con bệnh liệt giường chỉ mong được mau chết để thoát khỏi cảnh đày đọa nhọc nhằn. Bốn bức vách đang oằn xuống vì cố sức đỡ cái mái tranh mục nát khiến tôi bỗng nhớ tới Huấn cao và những người bạn tù ốm đói khiêng cái gông trong truyện Chém treo ngành. Trời không gió, nhưng rõ ràng ngôi nhà đang run rẩy, nó như không còn đủ sức chịu đựng thêm phút giây nào nữa để cho chủ và khách có thể bình yên mà trò chuyện sau nhiều năm xa cách.

-Vào đi, chưa sập đâu mà sợ!
Giọng nói bỡn cợt kèm thêm tiếng cười kiêu bạt của anh khiến tôi vẫn chưa hết ái ngại. Cái ái ngại của một người đàn bà khi gặp lại người tình cũ không ngờ lại sa sút đến thảm hại. Ngồi xuống đi, anh đẩy về phía tôi một chiếc ghế mà bốn chân của nó không khác gì bốn bức vách của ngôi nhà. Những luồng sáng giữa ngọ xuyên qua mái tranh đen xỉn, làm thức dậy những hạt bụi đang ngủ yên. Chúng múa may nhào lộn long lanh như một bầy phù du dưới ánh đèn. Bất giác tôi thầm hỏi, không biết hạt nào là của anh, hạt nào là của tôi nếu một mai chúng tôi chết đi.

Ba mươi năm trước anh là ông hoàng của các vũ trường. Với một chiếc vespa duyên dáng, anh lượn tới lượn lui trong ánh đèn màu y như một con ong đào hoa trong vườn thượng uyển. Những vũ nữ thân gầy thơm tho hơn bao giờ, duyên dáng hơn bao giờ vây lấy anh như các phi tần trong truyện Nghìn lẻ một đêm. Mỗi khi anh xuất hiện bọn họ có cảm giác như mình đẹp hơn, nhảy hay hơn nhất là lúc bay bổng cùng anh với những bản tango quyến rủ. Anh đã tiêu pha tuổi trẻ và những đồng tiền kiếm được dễ dàng cho những cuộc chơi rập rình tiếng nhạc, để được những người chuyên sống về đêm tôn xưng là vua, mà không hề biết rằng cuộc đời là con một mụ cho vay nặng lãi.
– Mọi sự là do tớ, anh nói, có vay là phải có trả vậy thôi. Có điều là phải trả bằng một cái giá cắt cổ, chán bỏ mẹ.
Nhìn ra bên ngoài đầy nắng, một thứ nắng làm cho người ta chán chường mỏi mệt, tôi thẫn thờ vì không thể tin được là anh đã phải sống ở một nơi mà dù Quỷ Cốc tiên sinh có tái thế cũng không cách gì đoán được.
– Anh bị đưa lên đây à,
tôi hỏi.
– Không,
anh nói,
-tớ xung phong đấy chứ.
Trầm ngâm một lúc, anh lại nói,
– ngữ như tớ không cách gì ở lại được. Cơ nghiệp bỗng chốc tiêu tan, nhà không, việc làm không, thì sống bằng gì nào. Thôi thì đi trước khỏi phải đi sau. Với lại xung phong cũng có được ít nhiều quyền lợi. Được ưu tiên chọn đất canh tác, được giúp đỡ dựng nhà. Cái nhà này hồi đó là đẹp nhất xóm này đấy.
-Còn bây giờ, như hiểu ý tôi định hỏi,
anh nhún vai, ậm ừ:
-cũng như tớ, nó sắp tàn rồi.
Một lúc, anh bỗng đứng lên,
-phải kiếm thứ gì cho cậu uống chứ, cà phê nhé.
Rồi không đợi tôi có muốn uống hay không, anh đi nhóm lửa đun nước.
Khói bắt đầu trùm kín căn nhà. Tôi phải bước ra khỏi “tệ xá”, đến trú nắng dưới bóng một cây dầu mà chủ nhân cố tình để lại như một chứng tích của núi rừng xa thẳm. Nơi đây, hươu nai và đôi khi có cả cọp chắc đã từng thong dong qua lại. Bãi mía chung quanh rộng chừng nửa mẫu tây nằm thiêm thiếp dưới cái nắng tháng sáu như cũng đang bốc khói. Những cây mía khẳng khiu không biết sẽ cho anh được bao nhiêu đường để đổi lấy gạo mắm cho vợ con. Đúng là cuộc đời không phải lúc nào cũng là những đêm màu hồng để cho anh có thể lả lướt mãi với nhịp điệu tango.
-Cà phê xong rồi đây, vào nhấm nháp tí chút cho tỉnh người,
tiếng anh từ trong bếp vọng ra. Tệ xá bỗng dưng tươi hẳn lên trong mùi hương ngát thơm. Trước mặt tôi là hai cái phin bằng đồng mạ bạc của Pháp đang thong thả nhỏ xuống những giọt nước đặc quánh nâu sẩm. Những chiếc phin này tôi đã từng thấy hơn hai mươi năm trước và đã từng uống những giọt đắng từ đó chảy ra cùng với anh trong gian phòng có gắn máy lạnh và có những đĩa nhạc đắt tiền của Chopin.
– Xin lỗi ông, tôi nói, ông giống như gã ăn mày trong truyện của Nguyễn Tuân quá. Đến bây giờ mà ông vẫn còn giữ được những chiếc phin này có khác gì cái ấm trà Thái Đức của lão ấy.
– Lão ấy còn phải đi xin trà chứ tớ lúc nào cũng có cà phê xịn đấy nhé, ngay cả những lúc bị ngăn cấm còn hơn thuốc phiện.
– Giỏi thế!
– Ừ, không giỏi sao sống được. Anh cười héo hắt.
Cà phê của anh được rang tẩm đã khéo mà pha chế còn khéo hơn. Dù trời mưa hay trời nắng, bao giờ anh cũng tráng phin cho thật nóng trước khi bỏ từng thìa cà phê bột vào. Anh lắc đều, đặt rá lên, xoay nhẹ rồi cẩn thận châm nước từ từ. Nước trong phin phải thật trong như chưa hề có cà phê để tất cả tinh túy của đất trời cao nguyên hòa tan cùng nước sôi nhỏ xuống mới không bị đục, và vị cà phê khi ấy mới thật thanh,thật dịu đủ sức ngấm sâu vào tận thịt da và tận tâm hồn.
Cũng như gã ăn mày kia đã từng tiêu phá cả gia tài chỉ vì cái tính nghiện trà, anh cũng đã từng để những giọt cà phê nung chảy cả một hộp bích quy đựng đầy vàng lá. Anh không ghiền rượu, bia, không bài bạc hút xách, chỉ ghiền có mỗi cà phê và thuốc lá. Lệ thường là ba cữ, vui gấp đôi, buồn gấp ba. Có lần anh uống đến những hai mươi mốt tách cà phê không đường vì giận vợ! Thuốc lá thì phải là Capstan không đầu lọc. Sau 75, không còn tìm đâu ra được một điếu thuốc sợi vàng chính hiệu Virginia anh buồn còn hơn khi bị mất sạch cả nhà cửa.
– Tớ lên đây một phần cũng vì vậy, anh nói, ai trồng gì mặc, tớ chỉ trồng mỗi một thứ là thuốc lá Lạng Sơn. Tớ pha chế cũng hay lắm, cậu hút thử một điếu mà xem.
Tôi đón lấy điếu thuốc, mới trông có vẻ như xì gà, thực ra là thuốc xắt được vấn bằng lá thuốc rất khéo.
– Ừ, kể cũng ngon, tôi gật gù khen.
– Ngon quá đi chứ lị, anh cười tít mắt nói, vợ tớ có muốn về thì mặc bà ấy chứ tớ đếch thèm về. Ở đây tớ có còn thiếu thứ gì nữa đâu.
– Còn thiếu vũ trường, tôi cười lớn.
– A, vũ trường, những cái sàn nhảy chết tiệt ấy đã tống tớ ra khỏi nhà rồi, cậu không nhớ sao?
– Nhớ chứ, tôi nói, làm sao tôi quên được cái cảnh ông ném bà nhà vào cái phòng nhỏ như lỗ mũi cùa tôi ở phường Củi rồi dông đi đâu mất tiêu.
– Đi uống cà phê chứ đi đâu, buồn không uống cà phê thì chỉ có nước uống thuốc chuột thôi!
– Ông đến là điên, bà nhà ông cứ khóc mãi làm mọi người xung quanh tưởng tôi là một thằng Sở Khanh. Đau hơn nữa là sau này, bà nhà tôi cứ vặn vẹo tra hỏi, dù có nói thế nào cũng không tin đó là vợ của bạn.
– Thế à, hôm nào có dịp tớ sẽ minh oan cho cậu. Nghĩ lúc đó tớ cũng bậy thiệt. Trên đời này làm gì có bà mẹ nào chịu nhận cave làm con dâu đâu. Ông anh cả tớ cũng thế, ông còn xách súng định bắn nếu tớ không chịu xéo đi. Thực ra bà cụ và ông anh vẫn rất thương tớ. Khi nghe nói tớ sắp có vợ, cả nhà sôi lên như cơm sôi, ai cũng bảo phải đem về ra mắt. Bà nhà tớ lúc ấy nhỏ xinh ai thấy cũng thương, nhưng khi biết làm nghề không được đẹp thì đồng loạt gầm lên như đại bác: Xéo! Xéo! Xéo! Thế là tớ lôi bà ấy đi như giông như gió, cũng định ghé lại cậu để cùng đi uống cà phê, nhưng sao lúc ấy tớ cảm thấy ghét tất cả mọi người. Tớ muốn ngồi một mình, uống một mình. Nếu cắc cớ ai pha thuốc chuột tớ cũng uống luôn cho rồi đời.
– Trời, tôi kêu lên, nếu ông mà chết thì tôi chẳng biết làm sao với bà nhà. Chỉ sáu tháng sau ông đã mời tôi ăn đầy tháng!
– Nói thế chứ chết thế nào được.
– Thế bà nhà và các cháu bây giờ ở đâu?
– Xuống phố buôn bán chứ ở đây có mà chết đói cả lũ à! Ông trời cũng chơi khăm tớ hêt biết, chỉ có ba lần sinh mà đến những sáu đứa.
– Ba lần sinh đôi à?
– Không, cứ lần sau nhiều hơn lần trước một.
– Nghĩa là sao?
– Nghĩa là nếu bà nhà tớ tiêp tục sinh thì sẽ sinh tư ở lần thứ tư. Rồi sinh năm ở lần thứ năm và cứ thế, sinh mười ở lần thứ mười!
Khi hiểu ra tôi cười đến chảy nước mắt. Cà phê đã được bỏ nhiều đường mà sao vẫn đắng chát. Con tàu tốc hành của anh ngày trước lộng lãy bao nhiêu thì bây giờ lệch bệch tối ám bấy nhiêu. Thật khó mà vui được khi biết đứa con gái đầu lòng xinh đẹp của anh đã phải lấy Mỹ đen lai để có chút tiền đô cứu vớt gia đình. Cặp sinh đôi thì một đứa câm, một đứa tưng tửng suốt ngày cứ nhìn lên trời chẳng biết tìm gì. Ba đứa cùng tranh nhau sinh một lúc thì may mắn hơn, chân tay lành lặn, mặt mũi cũng dễ coi nên đã được mẹ nhanh chóng cho gia nhập vào đội quân bán vé số từ lúc mới lên sáu!
– Lúc ấy một đứa con trai ốm tong teo từ ngoài hiên bước vào. Nó thò cánh tay dài ngoằng ra chụp lấy tách cà phê của anh đổ ụp vào mồm nghe cái rột.
– Nó đấy, anh nói, mê cà phê còn hơn cả bố.
– Uống nữa không, tôi hỏi.
– Không đợi đến lời mời lần thứ hai, nó cũng lại chụp lấy tách cà phê của tôi và làm cái rột.
– Hỗn, anh mắng, thôi đi đi. Con nhỏ kia khá hơn nhưng lại không biết nói. Tôi phải khổ vì hai đứa nó, cậu nghĩ mà xem, mang chúng nó về để cả họ nhà tớ mắng cho té tát à?
– Con bé ấy đâu không thấy, tôi hỏi.
– Lang thang ở đâu đó ai mà biết được. Câm mà lại đa tình mới bỏ mẹ! Thấy đứa nào trắng trẻo đẹp giai là mê tít. Chắc lại theo cái thằng Đại Hàn lai ở trong kia.
– Ông không sợ à?
– Đến nước này còn sợ gì nữa. Thiên hạ sợ thì có.

Nghe chuyện của anh, tôi có cảm giác như đang bước hụt chân xuống một cái hố. Bấy nhiêu con người ấy sống được đến tận hôm nay đã là một sự dũng cảm khác thường.
Đêm ấy, tôi ở lại cùng anh. Chúng tôi ăn một bữa cơm rau, uống một ít rượu mía thay cho bánh pâthé chaud và sữa đậu nành mà cả hai trước đây đều rất thích.
Anh, cả một thời anh ăn chơi nhảy nhót. Tôi, một thời đùa chơi với chữ nghĩa. Rốt cuộc chẳng được cái tích sự gì. Chỉ để khổ, để khó cho vợ con.
Trời sáng, anh đãi tôi một tách càphê phải nói là nhớ đời vì quá ngon. Trong cái lạnh se se của sương sớm và trong yên lặng của núi rừng, từng giọt cà phê thấm qua đầu lưỡi khiến người ta có thể chết đi trong giây lát để sống lại tưởng chừng trong một thân thể mới và một cuộc đời mới.

Một năm sau, tôi lại gặp anh trong lần họp bạn của nhóm học trò cũ. Rất phóng khoáng, rất tự nhiên, một cô đã được anh dạy kèm tiếng Anh trước khi sang Úc, mừng rỡ đến ôm anh, chìa cái má trắng hồng cho anh hôn. Tuy bất ngờ, nhưng bình tĩnh và duyên dáng, anh chỉ đưa hai ngón tay lên môi mình rồi đặt nhẹ lên má cô.
– Hôn thiệt đi thầy! Cà nhóm ồn ào cổ vũ.
Anh nheo mắt nghiêng về phía chị, bảo đừng có mà xúi dại!

Buổi tối hôm đó anh trở lại là vua Tango. Với dáng thẳng và vững như cây tùng anh đi những bước hào hoa để cho những người nữ uốn quanh như gió, như mây. Nhạc chảy trong anh, biến anh thành suối thành sông để nâng niu những con thuyền nữ mong manh nhưng chở nặng tình.
Vào khoảng mười một giờ, anh bỗng ngã xuống trong tay chị. Từ đó anh bằn bặt trôi đi trên sàn nhảy được lót bằng mây và thắp sáng bỡi những vì sao.

Thôi vua đã băng hà! Tôi còn biết nói thêm được điều gì nữa!

KHUẤT ĐẨU

You might enjoy reading

KHÔNG ĐỀ.

khuatdau

Bà tôi kể: Ngày xưa, trên bến sông của làng, có một con đỉa to như chiếc thuyền. Bao nhiêu trâu bò xuống uống nước, đều bị nó hút cạn máu, chưa kịp lên tới bờ đã chết.
Dân làng dùng sào dài cột câu liêm, giáo mác, đánh đuổi. Nhưng nó dai như đỉa, chẳng thấm vào đâu.
Các thầy phù thủy cao tay ấn đến đọc thần chú, dùng roi dâu quất lên mình, cũng chẳng ăn thua.
Nó chỉ chịu đi với một điều kiện: phải đưa một cô gái trinh cho nó, làm vợ.
Các hương chức sau một ngày cãi nhau đều gật đầu mà rằng: là con rể của làng, chắc là nó không phá nữa. Nhưng cái khó là ai chịu làm vợ nó đây. Gái nhà giàu, thì nhất định là không rồi. Chỉ có gái nhà nghèo, nhưng các cô thường đi cấy đi gặt, không con gì bọn họ ghét bằng con đỉa. Thà lấy chằn tinh còn hơn.
May sao có một cô gái mồ côi chịu lấy nó.
Ngày cô đi lấy đỉa làm chồng, cà làng ra đưa tiễn tận bến sông, ai cũng khóc.
Cô chèo một chiếc thuyền con đến bên con đỉa. Cô nói: “dù thiếp là người, chàng là con vật, nhưng dầu sao cũng là nghĩa phu thê. Xin mời chàng một miếng trầu thay cho chén rượu hợp cẩn”.
Con đỉa vui vẻ ăn miếng trầu. Chưa kịp nuốt, nó đã lăn ra chết.
Thế là cô cứu được cả làng.

Lời bàn thêm của cháu nội:

Bà ơi, cô gái đó thật gan dạ. Lúc cô chèo thuyền qua sông, hình ảnh ấy còn bi tráng hơn cả Kinh Kha khi qua sông Dịch. Cô cũng rất thông minh khi biết rằng tuy con quái vật to như chiếc thuyền, nhưng bản chất của nó vẫn là đỉa. Mà đỉa thì muôn đời vẫn sợ vôi.
Giờ đây trên biển đông có một con đỉa khổng lồ to như cái giàn khoan. Nó cũng đang quậy phá, không cho ngư dân kiếm con cá con tôm.
Chỉ cần cho nó ăn một miếng trầu quệt đầy vôi là xong ngay. Tiếc rằng, cái đám hương chức thời @ này, chỉ biết vừa run vừa la mà không đủ dũng cảm để nhét vôi vào họng nó.
Thế là thua xa một cô gái mồ côi phải không, thưa bà?!

Khuất Đẩu
O8/7/2014

TRÊN ĐỒI CAO

khuatdau

Họ chưa là gì của nhau. Anh, vẫn gọi nàng bằng cô và xưng tôi. Cô, tuy gọi bằng anh nhưng cũng không xưng em. Cứ như hai kẻ xa lạ mới gặp nhau lần đầu.
Nhưng họ đã quen biết nhau khá lâu.
Anh là sĩ quan pháo binh, trông coi hai khẩu pháo 155 ly đóng tại sân vận động quận lỵ, sát cạnh trường của cô.
Cả hai không có duyên cớ gì gặp nhau, nếu không có những lá đơn thưa kiện của trường. Cứ mỗi lần, hai khẩu pháo thi nhau nhả đạn, cả thầy và trò đều phải tháo chạy ra khỏi lớp. Bao nhiêu ngói đều lần lượt rơi xuống đất, tường thì nứt, cửa thì xệch xạc. Đó là chưa kể cái mùi thuốc mồi nồng nặc đến cả tiếng đồng hồ sau vẫn chưa chịu tan.
Nắng, trông thấy cả trời xanh. Và mưa, nước lênh láng như ngập lụt.
«Trường học mà như thế, kiện là phải!».
Đó là kết luận của anh. Nhưng anh bảo, «tôi đâu có muốn thế. Quận bảo đóng ở đâu thì đóng ở đó. Cả năm, đóng cạnh trường cô, tôi biết ai cũng khó chịu. Nhiều lúc thấy thầy trò leo lên mái che chắn bằng bao nilon, tôi thực áy náy. Chiến tranh là vậy, nhiều cái thật phi lý!»
«Không phải nhiều cái mà là tất cả», cô nói cay nghiệt.
«Có lẽ là vậy, nhưng biết làm sao được. Tôi đâu có muốn đi lính. Cũng như cô đâu có muốn giảng bài trong mùi thuốc súng. Chúng ta bị cuốn vào cuộc chiến chết tiệt này, không biết đến bao giờ!»

Cuộc chuyện trò của họ cứ như thế, nhàn nhạt, chan chán. Anh cố giải bày, còn cô vẫn cứ cố chấp. Làm như thể bao nhiêu tai họa là tự anh gây ra. Vậy nên, chẳng bao giờ thấy họ ngồi thân mật với nhau trong một quán ăn hay một quán cà phê não nuột những bài ca phản chiến. Một chút gì đó nghe ra có vẻ tình cảm, thì chỉ là mùi hương kín đáo trong những trang sách.
Anh thường cho cô mượn mà không bao giờ muốn đòi lại: những Mặt trận miền tây vẫn yên tĩnh, Giã từ vũ khí, Một thời để yêu và một thời để chết…
Toàn là những sách về chiến tranh. Cứ tưởng cô sẽ ném vào một góc nào đó, không ngờ cô lại đọc say sưa. Cuộc chiến ở Tây Ban Nha, ở Đức thật khốc liệt, tàn bạo nhưng nó không bẩn thỉu và hèn hạ như ở đây, một nơi, người ta sẵn sàng giết cả đàn bà và trẻ con để lên án lẫn nhau là tàn ác!
Dần dần cô cũng nhận ra thấp thoáng bóng dáng anh trong đó, một kẻ lạc lõng, cô độc, mang trên lưng một nỗi buồn dài.

Lúc này, hai khẩu pháo đã dời ra khỏi phố quận, đặt trên một ngọn đồi cheo leo.
Anh bảo: «ở đó tha hồ mà ngắm mặt trời lặn. Đẹp thì có đẹp, nhưng buồn quá!». Một lúc, anh lại nói: «nhất là ngồi ngắm một mình!» Lúc ấy, cô mới chịu cười, một nụ cười đối với anh là dịu dàng quá đỗi.
«Thế thì anh giống như hoàng tử bé rồi. Tôi chỉ ao ước một lần thôi mà chẳng được!»
«Sao vậy?», anh hỏi.
«Chẳng sao cả, lên một mình thì có mà điên!»
«Tôi sẽ đưa cô lên!»
«Lại để nhìn hai con quái vật ấy à?»
«Đâu có sao. Giờ nó hiền lắm. Mỗi đêm bắn vài chục quả vào các mật khu để các cụ ở quận ngủ ngon, vậy thôi.»
«Nó hiền với các anh chứ không hiền với tôi!»
«Thế thì hết chiến tranh tôi sẽ đưa cô lên.»
«Chừng đó cả tôi và anh đều chống gậy, lên sao nổi!»
«Không lâu đến thế đâu. Mỹ rút, Đại Hàn rút, cũng sắp hòa bình rồi. Có điều Bắc Việt không rút, chẳng biết hòa bình kiểu gì: trong chiến thắng hay chiến bại!»
«Kiểu gì thì cũng không giống như «nước thanh bình ba trăm năm cũ»

Khi hàng trăm khẩu pháo giấu kín trong núi rừng Buôn mê thuột cùng lúc nhả đạn, cứ tưởng khẩu đội pháo của anh phải gấp rút lên trấn giữ ở đèo Dốc cao để khống chế con đường tiến quân của địch, thì được lệnh kéo vào Phan Rang. Rồi lại vào Phan thiết, Long Khánh…Sau cùng bỏ cả pháo cả xe, chạy bộ, rồi lại phải tháo cả giày, vứt cả mũ để khỏi bị bắt sống.
Một cuộc tháo chạy lạ lùng và kỳ quái nhất trong lịch sử chiến tranh. Còn hơn quân Napoléon khi rút khỏi Moscow, quân Anh chết dí ở Dunkerque!
Trong cơn hoảng loạn đương nhiên họ chẳng thể nào nghĩ đến nhau. Họ còn có cả cha mẹ, anh em. Nhưng những lúc một mình trong cô đơn và cơ cực, người nọ nhớ tới người kia với bao nhiêu điều hối tiếc.
Anh, trong trại cải tạo, càng khổ nhục lại càng nhớ tới ngọn đồi quạnh hiu và anh cứ tiếc là không được ngồi với cô dù chỉ một lần để xem mặt trời lặn. Khi cô bảo anh giống như hoàng tử bé, quả thật anh sướng ran, chiều nào anh cũng ngồi trên chiếc ghế và cứ dịch chuyển mãi cho đến khi mặt trời khuất hẳn.
Còn cô, sau khi bị đuổi khỏi trường, không biết làm gì hơn, chỉ ngồi dài lưng ra coi quán cho mẹ, cũng ao ước phải chi ngày đó đừng kiêu ngạo khép kín, đừng cố chấp thì đã ít ra là một lần, theo anh lên đồi, đưa tay để anh dắt qua những gộp đá…!

Ôi chao, sao mà sến và cải lương quá, (đọc tới đây chắc có người kêu lên như vậy), nhưng nếu không cải lương và sến như thế, thì bốn mươi năm sau, khi người đàn bà đã trên sáu mươi và người đàn ông đã bảy mươi, làm sao có thể gặp nhau được.
Và cũng lẩn thẩn làm sao khi ta thấy họ gặp nhau trên đồi.
Họ chưa phải chống gậy. Ông vẫn còn đủ sức nắm tay dắt bà bước qua những gộp đá chông chênh và bà, một đôi lúc quá đà tưởng sắp ngã vào ông. Trên đỉnh đồi toàn đá sỏi, chẳng còn để lại chút gì dấu vết của hai khẩu pháo. Những vỏ đạn, ngay cả những viên thuốc mồi, những bao cát, những vòng dây thép gai đã được dân chúng quanh vùng nhặt nhạnh đào bới mang đi. Giờ, chỉ còn có bầu trời, vẫn cao và xanh ôm lấy ngọn đồi bé nhỏ giống như tinh cầu của hoàng tử bé.
Họ ngồi xuống bên nhau. Và, như hai đứa nhỏ cùng chơi một trò chơi bí mật, họ ngắm mặt trời đang lặn. Trời và đất như cũng đang ngỡ ngàng. Xanh hơn, cao hơn. Mặt trờì tưởng chừng không chỉ một lần lặn, mà đến cả chục lần. Cứ lặn xuống rồi lại trồi lên, có vẻ như muốn bù đắp chọ họ những gì đã mất.
Như chàng chăn chiên xứ Provence, ông kể cho bà nghe những câu chuyện lưu lạc ở xứ người, những vùng đất ông đã qua, những sa mạc nắng cháy hoang vu, những con sông dài bất tận, những ngôi nhà chạm tới lưng trời và nỗi buồn lạc lõng, đất và người của ai chứ đâu phải của mình, những hàng cây cổ thụ râm mát, những cây cầu rực sáng trong đêm, đẹp ngời ngời như thế nhưng sao không bằng bụi chuối sau hè, cây cầu khỉ bắc qua một con lạch, và những lúc tan trường bao nhiêu tà áo bay bay như cánh chim, trong khi cô giáo kiêu kỳ đủng đỉnh gõ từng bước trên hè phố như một nàng quận chúa …
Đó là bản trường ca ngọt ngào, êm ái, mà bà được nghe, dù muộn. Và khi sương đêm đã thấm lạnh, bà gục đầu lên vai ông mà ngủ. Cũng là lúc, ông nói một câu, lẽ ra phải nói những bốn mươi năm trước: «Tôi yêu em xiết bao!»

Giả sử trước kia ông nói như vậy, thì sao nhỉ? Thì hai người sẽ lấy nhau, sẽ sinh ra những đứa con, bà sẽ một thân một mình vừa nuôi con vừa nuôi chồng trong tù, sau đó họ sang Mỹ theo diện HO, bà gọt khoai, rửa bát trong nhà hàng, ông cắt cỏ, đẵn cây, rồi cố học để có thể ngoi lên, làm đến hai job, cứ chồng về thì vợ đi, chồng đi thì vợ về, ngay cả gặp nhau trên giường cũng khó huống gì là rủ nhau lên đồi, họ dốc sức nuôi con, lo cho chúng vào đại học, hãnh diện khi chúng tốt nghiệp, rồi chúng có nhà riêng để lại căn nhà mênh mông chỉ có hai người, ông thì tìm vui trong internet, bà ngồi xem phim bộ.
Đến một lúc nào đó ngôi nhà chỉ còn một người. Rồi chẳng còn người nào nữa!
Vậy thì, mất bốn mươi năm nhưng còn được một đêm như đêm nay, cho dù có vì cảm lạnh mà hai người không bao giờ thức dậy nữa, thì cũng giống như một câu vọng cổ đang xuống xề, thôi hãy cứ vỗ tay như thường lệ!

KHUẤT ĐẨU
4/2014

“ĐỨA CON HOANG ĐÀNG VIỆT NAM HÃY TRỞ VỀ NHÀ!”

 

khuatdau

Theo đài RFA, báo chí Trung Quốc, mô tả chuyến thăm Việt Nam của Dương Khiết Trì như một món quà của Trung Quốc, nhằm tặng cho Việt Nam một cơ hội nữa để “tự kiềm chế trước khi quá muộn”. Trung Quốc thúc giục “đứa con hoang đàng Việt Nam hãy trở về nhà!”
Cái giọng điệu khốn nạn đó tiếc thay 700 tờ báo và hàng trăm đài phát thanh Việt Nam không hề nhắc đến dù chỉ một chữ. Cũng như trước kia Đặng Tiểu Bình bảo “dạy cho bọn côn đồ Việt Nam một bài học”, nhưng báo Nhân Dân đã cắt xén 3 chữ “bọn côn đồ” vì sợ và hèn!
Một nền văn minh có đến 6000 năm của Trung Quốc với các bậc hiền giả như Khổng tử, Lão tử, Trang tử, những thi bá như Lý Bạch, Đỗ Phủ, sao giờ lại có thứ báo chí hỗn láo, mất dạy như báo Hoàn Cầu?
Năm 2012, Khổng Dưởng Nghị gọi dân Hồng Kông là con hoang,đồ chó của Anh.
Sinh thời, Mao Trạch Đông gọi trí thức không bằng cục cứt!
Thì ra, cái thứ mất dạy đó là của cọng sản Trung Quốc. Cũng như cọng sản Việt Nam đã từng gọi bọn “đế quốc rẫy chết” là thằng. Thằng Mỹ, thằng Pháp, thằng Nhật. Còn Thiệu, Kỳ ra rả ngày nào họ chẳng gọi là thằng. Ngay cả liệt sĩ hùng anh Ngụy văn Thà, họ cũng bảo, chỉ là một thằng lính ngụy!
Cái cách “dạy một bài học”, “khuyên nhủ” của Trung Nam Hải, thực ra là dạy và đe nẹt cái đảng cọng sản Việt Nam, một đảng tép riu được cọng sản Trung Quốc nuôi dạy giờ đủ lông đủ cánh tỏ ra hỗn láo (dám đánh Campuchia và tranh giành đảo Gạc ma).
Sau năm 1975, nếu miền nam Việt Nam không giàu có, rủng rỉnh bạc tiền nhờ theo tư bản, thì cả nước Việt Nam ngày nay cũng chỉ là một Bắc Hàn mà thôi. Chừng đó thì cả đảo Phú Quốc cũng là của đàn anh vĩ đại. Cái gọi là “đổi mới” thực chất là làm giàu theo tư bản, còn cai trị thì vẫn theo cách của cọng sản.
Đương nhiên cái giọng điệu chợ búa đó chỉ giành cho một cái đảng già nua, ốm yếu, ngớ ngẩn chứ không thể nào dạy cho một dân tộc đã từng chém Liễu Thăng, đuổi Tôn Sĩ Nghị chạy bán sống bán chết, cái dân tộc ấy không thể và không bao giờ là “đứa con hoang đàng của Trung Quốc”
Nếu báo Hoàn Cầu chạy cái tít như thế này: Đứa con hoang đàng, là đảng cọng sản Việt Nam hãy trở về nhà, thì tôi không viết bài này. Vì, đúng quá “chời dồi”!

Khuất Đẩu
6/2014