NGƯỜI CHỒNG MỘT ĐÊM!

khuatdau

Năm ấy, tôi mười bảy tuổi. Ở đất Bình Định, tuổi đó đã có người đi lấy chồng. Như mẹ tôi, như cô tôi. Tệ lắm cũng đã có người đi dạm. Nhưng tôi thì chưa. Tôi đang học lớp bảy nên có nhiều mộng ước hơn mẹ và cô. Tôi chưa nghĩ ra người chồng tương lai của mình sẽ như thế nào, nhưng ít ra cũng hơn cha tôi và dượng tôi. Đó là những người đen đúa, tuy không đến nỗi xấu xí, nhưng ai cũng già trước tuổi. Quanh năm gần như chỉ mặc quần đùi để lộ đôi chân khẳng khiu mốc thếch. Đó là chưa nói tới cái bệnh sốt rét họ mang về từ rừng núi xa xôi sau khi đi làm nghĩa vụ dân công, tức là đem gạo muối tiếp tế cho bộ đội, hay đi tải đạn. Người nào mặt cũng tái mét, da dẻ vàng vọt như không còn một hột máu.
Thực ra, mẹ và cô tôi cũng chẳng hơn gì. Ai cũng một bộ đồ đen bạc phếch, cũng một búi tóc thiếu chải gỡ, trông xơ xác như một mớ râu bắp. Lũ con gái chúng tôi có khá hơn vì đang là tuổi dậy thì, tự nhiên da thịt hồng hào dù phải ăn uống kham khổ.
Năm lớp bảy là năm cuối cấp hai, bọn tôi được chọn đi dự trại liên hoan mừng chiến thắng ở Bồng Sơn. Cùng đi với chúng tôi còn có các cô gái chưa chồng trong hội phụ nữ. Vì đã hòa bình, chúng tôi được phép ăn mặc đẹp. Nghĩa là được đội nón trắng không phải quét bùn, được khoe chiếc kẹp mạ bạc óng ánh trên mái tóc. Ai khá hơn được mặc áo in hoa cổ tai bèo hay áo trắng khoét cổ trái tim. Chúng tôi ngắm lẫn nhau, khen lẫn nhau. Biết mình đẹp hơn khi nhìn vào mắt người khác, chứ cái gương tròn nhỏ như chiếc bánh bèo chỉ đủ để soi mặt thôi, làm sao thấy được toàn thân như khi đứng trước gương. Nhưng thế cũng đủ vui quá rồi, nhất là lần đầu tiên được đi xe cam nhông ray, chạy trên đường sắt êm như lướt đi trong gió.
Chúng tôi được bố trí ở những trại đã được dựng sẵn dưới bóng dừa. Cơm nước cũng đã có người lo. Trước mặt trại là một đống củi gộc xây hình tháp, hứa hẹn một đêm lửa trại cháy đến tận sáng. Phía bên kia, cũng là một dãy trại đã được dựng sẵn dành cho bộ đội. Họ cũng là những người chưa vợ được chọn từ các tiểu đoàn.
Thế là chúng tôi cứ việc vui chơi, nhảy múa, hát ca. Chúng tôi làm quen nhau thoải mái, cứ ưng ý là bắt cặp nhau mà không sợ bị phê bình này nọ. Ai, chứ với bộ đội trẻ trung mà được thân quen với họ, là ước mơ thầm kín của lũ con gái thời ấy.
Chúng tôi ở đó ba ngày vừa đủ cho trai gái bén hơi nhau. Rồi sau những màn nhảy xôn đố mì chân nọ đá chân kia, nhảy sạp cắc cắc bụp bên đống lửa hồng, tất cả lặng lẽ kéo nhau vào rừng dừa, nơi ánh sáng không còn rõ mặt, cứ mỗi gốc dừa là một cặp ngồi tỉ tê tâm sự. Rồi chúng tôi làm cái việc gọi là yêu nhau tại chỗ. Nếu ai đó không muốn thì cũng đành chịu, chứ biết thưa kiện ai.
Khi Mỹ đến, sau những trận đánh khốc liệt, bọn họ tràn vào các quán bar cũng là để mừng chiến thắng hay trút nỗi buồn thua trận trên thân xác của các gái bán bar mà thôi. Có điều họ phải trả tiền, mà tiền đô, còn bộ đội thì không ngay cả tiền tín phiếu như giấy vàng mã!
Rồi họ xuống tàu đi tập kết, mang theo những chiếc khăn do chúng tôi thêu làm kỷ niệm. Còn họ để lại cho chúng tôi một thứ nhiều hơn chiếc lược nhôm hay lược gỗ được cắt gọt công phu, một thứ có thể họ không ngờ là cái bào thai trong bụng mỗi đứa.
Rất nhiều đám cưới được tổ chức chớp nhoáng. Không hai họ, không đón đưa, chỉ có thủ trưởng đứng ra tuyên bố hai người là vợ chồng. Thế là xong, như cha đạo thay mặt Chúa Trời. Dẫu không mang thai họ cũng đã là những thiếu phụ mòn mỏi đợi chồng dù chỉ một đêm, nhưng có nghĩa vụ lo cho cách mạng ròng rã suốt hai mươi năm sau đó.
Tôi được mẹ cha hiểu ra cái trò mừng chiến thắng bằng cách cướp đi cái phần trinh trắng nhất của đời con gái họ, sau khi đã cướp lúa gạo vòng vàng bảo là để cho cuộc kháng chiến thành công, nên đã nén cái đau cái nhục xuống đáy lòng, cho tôi vào trốn ở Sài Gòn.
Từ một xứ nhà quê, lại là vùng Việt Minh, đến một thành phố giàu có đông đúc, tôi hết sức ngỡ ngàng. Nhưng rồi tôi cũng quen dần, người Sài Gòn xởi lởi, tốt bụng, có đủ chỗ cho tôi kiếm sống. Chỉ khổ là cái bụng mỗi ngày một to, lắm khi cũng phải lao đao vì nó. Tuy vậy, đến ngày sinh, cũng có người sốt sắng đưa tôi vào sinh ở nhà thương thí.
Bao nhiêu cực nhục rồi cũng qua đi. Ơn Trời, tôi sinh được một cháu gái. Đó là kết quả của mối tình một đêm bên gốc dừa!
Ngồi ngắm con ngủ, tôi cố nhớ chút gì gợi lại hình bóng của người đã cùng tôi tạo ra nó, nhưng không tài nào nhớ nổi. Tôi chỉ nhớ cái mùi mồ hôi anh ta, nhớ tiếng thở hào hễn và nhiêu đó cũng đủ làm cho tôi cảm thấy xấu hổ, tủi thân. Chiếc lược mà anh ta tặng tôi trở thành một kỷ vật đắng cay. Tôi không trách anh, cả tôi cũng không tự trách mình, tôi chỉ trách ai đó đã lợi dụng tình yêu cho dù là xác thịt để đạt tới những mục đích sâu xa của họ.
Cùng một lứa với tôi, những cô gái tươi non khi ấy, sau này đã là những người nuôi giấu cán bộ, đào hầm vót chông, mua thuốc trụ sinh, chuyển vũ khí bằng cách khoét rỗng ruột bí bầu nhét đạn hay lựu đạn vào, khi bị bắt dù bị đánh đập tra khảo đến thừa sống thiếu chết vẫn không chịu khai…Để đến khi hòa bình, nhiều người cũ hoặc làm ngơ coi như không biết, hoặc có biết cũng chỉ lén lút mà gặp nhau một lần rồi thôi, vì sau lưng họ còn có những người đàn bà xứ Bắc không dễ gì trả lại chồng. Thì thôi đành vậy, vui chỉ một đêm mà buồn khổ suốt cả một đời!
Sau ngày 30 tháng tư, như bao người miền Nam, hai mẹ con tôi cố sống lây lất qua ngày, chạy chợ trên bán chợ dưới, bị quản lý thị trường rượt đuổi như chó săn chuột.
Một lần tôi bị bắt, bị tịch thu mấy bao gạo mua từ ga Biên Hòa. Nếu tôi bỏ hết hàng họ mà “xéo đi” theo lệnh họ, thì tôi đã không phải bị giam ở trụ sở phường. Đằng này tôi gào khóc, chửi rủa, cào xé mũ áo nên họ tống tôi vào như một mụ điên. Sau cùng, họ bảo tôi phải viết kiểm điểm thành khẩn nhận lỗi đã xúc phạm cán bộ, họ mới chịu thả ra.
Thì viết!
Nhưng cái nỗi đau mất của, cái đói đang chực chờ khiến cho tôi cứ ngồi mãi mà chẳng viết được dòng nào, ngoài mấy chữ: Tôi tên là…
Lúc ấy có một người mặc đồ bộ đội không biết cấp bậc gì đi ngang qua, thấy tôi ngồi bên bàn với tờ giấy ở trước mặt liền chồm tới xem thử. Bỗng người ấy hỏi, chị tên thật đó à? Tôi nói, chứ chẳng lẽ tôi viết tên giả. Lại hỏi, chị quê ở Bình Định phải không? Tôi nói, ông định tống tôi về ngoài đó chứ gì? Ừ, tôi là gái Bình Định, theo chồng vào đây không được sao? Người ấy nói, đó không phải là việc của tôi. Giờ đã tối rồi chị về đi. Nhưng ngày mai chị nhớ đến đây gặp tôi. Có thể chúng tôi xét mà trả lại hàng cho chị. Nhớ nhé, chị phải tới không thì hỏng cả đấy.
Thế là sáng hôm sau tôi lại tới dù hy vọng rất mong manh. Lại thấy ông ta đứng đợi lù lù ở trên thềm. Ông ta ra hiệu cho tôi vào phòng. Dẫu sao nói chuyện với những người đứng tuổi như ông cũng dễ chịu hơn là với bọn lau nhau mới hùa theo cách mạng. Ông ta chỉ ghế mời ngồi, nhìn tôi, rồi kéo từ hộc bàn ra một quyển sổ. Ông đặt lên bàn, lại nhìn tôi kèm theo một nụ cười khá tử tế. Ông lấy từ trong sổ ra một tấm hình ố vàng đẩy về phía tôi. Đó là tấm hình chụp một anh bộ đội và một cô gái đứng bên gốc dừa.
Trông thấy tấm hình, tôi xây xẩm mặt mày, toàn thân lạnh cóng. Tôi nhớ lại những đêm ở Bồng Sơn, nhớ cái phút giây điên cuồng dại dột. Và sau đó là thấp thỏm lo cha mắng mẹ chửi. Rồi kinh hoàng khi nghĩ tới lúc Tây tiếp thu, chúng sẽ thọc lưỡi lê vào bụng những người vợ Việt Minh mà lôi đứa nhỏ ra ngoài!
Tôi nghe ông ấy hỏi: chị có biết hai người trong tấm hình này không? Tôi bặm môi một lúc rồi nói: không biết. Chị không nhớ cái đêm liên hoan trong rừng dừa hồi đó sao? ông lại xoáy thêm vào nỗi đau của tôi. Thế là bao nhiêu uất ức, bao nhiêu đắng cay, cô độc trong hơn hai mươi năm như một con sóng lớn sắp đập vào bờ, tôi muốn đứng dậy chồm qua bàn, nhìn sát vào mặt ông mà gào lên: nhớ chứ, nhớ ông đã làm gì tôi, đã hứa hẹn thề thốt rồi bỏ tôi mà đi đến hơn hai mươi năm, giờ về đây cướp mấy bao gạo của mẹ con tôi. Ông có biết tôi đã khổ như thế nào mới có được nó không? Ông biết tôi là ai sao không bảo lũ lâu la kia đem trả gạo lại cho tôi. Ít ra con ông cũng còn có được hột gạo mà ăn. Các ông vào đây cướp thì có chứ quản lý thị trường cái nỗi gì.
Tôi tức nghẹn, nhưng vẫn cố giữ bình tĩnh nói với`giọng rắn rỏi chính tôi cũng không ngờ: nếu tôi đến đây chỉ để ông tra hỏi như thế này thì tôi thấy không cần phải ở lại nữa! Khoan đã, ông cũng đứng lên nói, giờ, chị có thể đem mấy bao gạo về! Nhưng tôi trở nên cay nghiệt: đó không phải là gạo của tôi, mà là của cướp giựt. Các ông cứ nhập kho rồi chia nhau!
Tôi ra khỏi trụ sở phường, người lảo đảo cứ như say. Tôi đi tới đi lui, đi hoài cho đến khi mệt lã mới nằm dài trên một ghế đá ở công viên. Tôi nghĩ đến ngày mai, đến con tôi. Đã có lúc tôi muốn chạy đến trụ sở phường gặp ông ta, bảo rằng tôi biết hai người trong tấm hình đó. Tôi hình dung ra cảnh ông ôm choàng lấy tôi và cả hai cùng khóc. Ông sẽ bảo với mọi người trong cơ quan, đây là người vợ ông đã tìm lại được. Còn tôi sẽ bảo với con, đây là cha của con. Và cuộc đời của chúng tôi sẽ khác.
Nhưng chút tự trọng của một người đàn bà níu chân tôi lại. Ông hẳn đã biết tôi là ai vậy mà cứ vòng vo hỏi tới hỏi lui. Ngày ấy tôi đã mê muội đem dâng hết cả đời con gái cho ông. Giờ đây ông còn muốn tôi quỳ xuống nữa sao? Ông kiêu ngạo hay sợ đảng đến nỗi không dám nhận một con buôn làm vợ?!
Tôi đứng lên, lủi thủi một mình đi về nhà. Con gái tôi hỏi, không xin lại được sao mẹ? Tôi lắc đầu. Tôi nghe nó thở dài giống như tôi cách đây hơn hai mươi năm.
Từ đó tôi thôi chạy chợ, kiếm nghề khác để khỏi phải gặp ông. Lúc đó tôi 39 tuổi, con gái tôi 21. Cũng đã đến tuổi lấy chồng. Cầu trời cho nó không lấy phải người chồng một đêm!

Khuất Đẩu

BÊN MÌNH

khuatdau

Không ở nơi nào nhiều quán cà phê như ở Việt Nam. Cà phê cóc, cà phê võng, cà phê vườn, cà phê máy lạnh, cà phê cao ốc…

Không còn những căng tin với các mậu dịch viên mặt khó đăm đăm, khách phải sắp hàng lấy phiếu để mua một ly nước đen đen với hai điếu thuốc Tam Đảo. Cũng không còn cảnh các bà già Tàu ngồi chồm hổm trên ghế trụi, đổ cà phê ra đĩa ngồi húp như trước 75.

Cà phê bây giờ là nơi hò hẹn, chứ không phải những cây cầu. Trẻ, hẹn để được ngồi gần nhau, được ve vuốt hôn hít. Sồn sồn, đàn ông hẹn đi nhậu, hát karaoke. Đàn bà, hẹn khoe quần áo, xe cộ. Già như tôi, hẹn tán gẫu.

Nếu nhìn vào các quán cà phê và quán nhậu, thì quả thật kinh tế Việt Nam rất phát triển, không chừng là số một thế giới. Từ đó, thang điểm về mức độ hạnh phúc cũng không nước nào bằng.

Chúng tôi ngồi ở một quán cà phê vườn có tên là Gió Núi, cách thị trấn đến những 10 cây số. Nơi đây, trước kia là mật khu, sau đó là kinh tế mới, giờ là xã Ninh T. với trụ sở xã một tầng lầu bề thế như tòa hành chánh tỉnh trước 75. Quán cũng có cây cảnh, có đá, có nước nhểu tong tong từ một tượng nữ giả Chăm đang hờ hững lấy nước cố tình phơi bộ ngực bằng gốm tròn căng và cái rốn sâu thẳm. Ai đó cắc cớ đội lên đầu một chiếc mũ tai bèo, trông rất chi là cảm khái. Vì rằng nếu trước kia các cô du kích đi lấy nước kiểu này thì các cựu chiến binh hai miền chẳng việc gì mà phải vác súng bắn nhau.

Ông anh họ vợ tôi trầm ngâm nhớ tới những ngày vác gỗ rừng sâu trong trại cải tạo. Rồi những ngày đạp xe thồ sau khi được “tha”, những ngày hồi hộp chờ kết quả H.O. Vợ tôi nói cái buồn nhất của những bà mẹ kinh tế mới, là không thể cho các con xuống thị trấn học vì quá xa và đói. Cô em vợ bảo rằng về đây thấy đàn ông bụng ông nào cũng to kềnh, mặt thì xệ xuống, uống chi mà uống suốt ngày. Cô đập tay lên vai ông anh họ bảo: “bên mình, chỉ cần một lon thôi mà lái xe là bị phạt 15.000 đô, ở đó mà uống!”.

Nghe hai tiếng “bên mình”, tôi bỗng giật mình. Tôi nhìn cô em đã trên 50, vừa mới thi đậu quốc tịch Mỹ. Cô tuy trẻ hơn nhưng rất giống nhà tôi. Cô vẫn yêu chị mình, yêu họ hàng làng xóm, không hề xa cách bạn bè, nhưng trong bốn người ngồi chung bàn, cùng uống cà phê, cùng ngắm tượng nữ giả Chăm, cùng hít thở bầu không khí mát rượi của núi rừng ban mai, sao lại nói “bên mình” như kiểu “bên thắng cuộc” và “bên thua cuộc” vậy?

Đương nhiên, cô không có ý coi thường anh chị mình, nhưng điều gì khiến cô thấy gần hơn với ông anh họ bên Mỹ, mặc dù cô qua sau anh ấy đến hơn 15 năm? Hóa ra, cái điều khiến họ thấy gần nhau hơn, chính là luật pháp của Mỹ. Cô nói: “ Thằng T. (em chồng cô) hết dám về VN. Hồi mới qua, nó mang theo bánh mì kẹp thịt để ăn. Tới cổng ra, chó đánh hơi, tụi Mỹ bắt phải bỏ vào thùng rác, rồi chụp hình, lăn tay, lưu vào hồ sơ. Giờ nó đi đâu cũng bị kiểm tra tơi bời. Em định đem về một ít lọ mắm ruột, ngon quá, nhưng chồng em bảo tụi Mỹ nó tưởng là thuốc phiện thì khổ. Có con bạn mang bột sắn dây qua, nó nghi là heroin, tháo tung ra rồi xét nghiệm làm con nhỏ sợ hết hồn”.

Gần Tết, bộ thương mại và công an họp ngày đêm tìm cách chống hàng lậu nhập về từ các cửa khẩu miền Bắc. Nào chân giò, nào lòng heo đã thúi đen, chỉ cần rửa bằng một thứ nước gì đó là trắng tinh, ướp ngũ vị hương vào là thơm phức. Công an cấp tướng, hải quan cũng đầy sao, dưới trướng cả ngàn quân, tưởng một con ruồi cũng không chui qua lọt vậy mà mà mỗi ngày có hàng trăm tấn hàng lậu độc hại đi qua cứ như chỗ không người. Xét về luật thì VN không thiếu, còn qui định chi tiết và chặt chẽ hơn cả Mỹ, nhưng về con người thì, nói như một vị có thẩm quyền, không ai mua bom nguyên tử, chứ nếu có nhập vào cũng dễ ợt.

Một lần đi xe lên Thủ Dầu Một, anh tài xế sau khi “làm luật” với công an, nói lầm bầm gì đó trong miệng, hỏi, anh bảo xếp nói :” đù mẹ, nhiêu đây sao đủ chung, mậy?”

Thế đó! Từ anh công an đứng đường, đến anh hải quan cửa khẩu, anh nào cũng phải chung, chi. Cấp nhỏ chung cấp lớn. Rồi cấp lớn vừa chung cho cấp lớn hơn. Cứ thế chung lên cho tới đỉnh. Tham nhũng ở VN là một kim tự tháp. Một vài viên gạch có cạy ra vẫn trơ trơ.

Cái “bên ta” nó khác với cái “bên mình” là ở đó.

Những người VN định cư ở Mỹ 3,4 chục năm vẫn đau đáu nỗi nhớ quê, vẫn thương cây chuối bụi tre, vì khi lìa bỏ quê hương họ chưa có hay ít có cái “may mắn” sống trong cái thiên đường hình tháp. Còn những người mới qua, họ ớn tận mạng cái ụ mối tham nhũng đó rồi. Cái mà cô thấy “bên mình” nó hơn “bên ta” chính là sống trong luật pháp, được nó bảo vệ chứ không phải bị nó vòi vĩnh, hành hạ. Cô không ghét VN, cũng không yêu nước Mỹ hơn, cô giờ chỉ biết có bản thân và gia đình, sao cho con cái học hành, có việc làm và đau bệnh có bảo hiểm y tế. Liệu như thế có ích kỷ chăng?

Tôi tự hỏi, giả dụ tôi ở Mỹ về, liệu tôi có nói “bên mình” như cô? Chắc là có. Một hệ thống pháp luật rõ ràng, minh bạch chính là sự kết nối những người nhập cư trên đất Mỹ chứ không phải vì niềm hãnh diện được là công dân của Hiệp Chúng quốc giàu mạnh nhất thế giới.

1/2015

Khuất Đẩu

NHỎ NHOI HẠT BỤI (Đọc thơ Đan Tâm của Phạm Ngọc Lư)

khuatdau

Tôi mượn bốn chữ dễ thương trong tập thơ Đan Tâm để làm tiêu đề cho bài viết này. Dễ thương vì còn lại “một chút gì để nhớ” của con gái anh.
Nằm im giữa trái tim ta
Nhỏ nhoi hạt bụi… tên là Các khuê

Tôi đã đôi lần được gặp anh, quả là anh cũng nhỏ nhoi cả trong dáng hình và lời ăn tiếng nói.

Hãy nghe anh thầm thì bên mộ con:
Nằm chơi dưới một hàng cây
Lao xao lá, lá thơ ngây chuyện trò
Nằm thanh thản một nấm mồ
Hồn nhiên cỏ, cỏ thơm tho hơi người
Hồn nhiên bao tiếng khóc cười
Tan vào lòng đất thắm tươi linh hồn
Hòa vào màu cỏ xanh non
Bay vào mây khói chiều hôm quê nhà

Cùng năm sinh, cùng năm mất. Ngắn ngủi quá, mong manh quá! Nhưng qua những câu thơ trong trẻo, ta thấy bé vẫn còn sống mãi giữa hoa cỏ đất trời, sống mãi trong tim người cha cũng như trước kia đã từng sống trong bụng mẹ.
Nhưng khóc cho một mối tình thì khác. Chẳng phải khác vì người dưng mà vì
đời nông tình cạn/
ta bơi qua sông
mới hay đời nặng.

Chảy đi chảy đi
Hỡi sông buồn lắm
Nước thôi chờ chi
Thuyền xưa đã đắm
Người đi người đi
Trăm năm bến vắng
Chảy mau chảy mau
Đời: con nước siết
Tình: vực nước sâu
Em: dòng ly biệt
Ta chiếc lá chìm

Rất nhẹ nhàng, kín đáo. Nhưng cũng rất sâu xa thắm thiết.
Một người rất mực nhỏ nhẹ, tế nhị như thế, nhưng khi vào đời lại bị quăng vào một nơi:
Bốn phía rừng xanh màu nước độc
Đông tây nam bắc núi chập chùng
Một lũng đất bằng khu chén nhỏ
Trói chân ta vào chân Trường Sơn

Nơi đó là Củng Sơn, nơi chưa hết thanh xuân đã cùng đường, nơi đêm nằm mộng lớn nuốt mộng con. Một nơi đất trích nhưng không phải là Tầm Dương của Tư Mã Giang Châu, để ít ra bên trời lận đận cũng còn có một kỳ nữ cho mình chan chứa lệ áo xanh.
Nhưng chính nơi sơn cùng thủy tận ấy, đã giúp cho nhà giáo trẻ có tâm hồn thi nhân, viết nên một bài hành mà theo tôi là thống tâm thiên cổ. Bài Biên Cương hành.
Biên cương biên cương chào biên cương
Chào núi non rừng thẳm nhiễu nhương

Đây biên cương ghê thay biên cương
Tử khí bốc lên dày như sương
….
Cô hồn một lũ nơi quan tái
Có khi hóa thành thú muông…
Cô hồn một lũ nơi đất trích
Vỗ đá mà ca ngông hát cuồng

Những âm ương, uông lặp đi lặp lại đến mấy mươi lần nghe như những hồi chuông báo tử. Còn thê thiết hơn cả trong Vì ai chuông báo tử của Hemingway. Có lúc như cọp gầm núi Lá. Có lúc như con thú bị thương. Có khi như oan hồn kêu khóc ở Quỷ môn quan.
Vì đâu một chàng thư sinh chưa một ngày ra trận lại có thể viết nên một bài hành về nỗi cô độc, nỗi chết của người lính biên cương hay như thế? Đó là vì cả một Trường Sơn với đường Chín nam Lào, với Khe Sanh, Đắc Tô, với mùa hè đỏ lửa Quảng trị…
Gớm gió Lào tanh mùi đất chết
Thổi lấp rừng già bạt núi non

Chiến trường ném binh như vãi đậu
Đoàn quân ma bay khắp bốn phương.

Một nơi như thế nên nhìn đâu cũng thấy đá mang dáng dấp hình chinh phụ/trơ vơ chóp núi đứng bồng con.
Nhưng thân trai thì hề chi buổi chinh chiến tang thương/sá chi hạt cát giữa sa trường. Biết là nhất khứ bất phục phản, nhưng vẫn cứ phải ra biên cương vì cả hai bên đều ném binh như vãi đậu. Đây là nơi mà thân phận cỏ rác của người lính hai miền được tác giả thể hiện một cách thật bi tráng.
Họ không sợ cái chết, nhưng họ phát cuồng vì nỗi cô đơn.
Đầu tiên là nỗi nhớ, trông núi có khi lầm bóng vợ và vì vậy đêm nằm ôm đá mà mơ chuyện yêu đương. Nhưng đá sao yêu đương nổi, chỉ có thể vỗ đá mà ca ngông hát cuồng. Cô đơn khiến họ chém cây cho đỡ thèm giết chóc/ đỡ thèm môi mắt gái buôn hương. Sau cùng là hờn dỗi, trối trăng:
Thôi em yêu chi ta thêm tội
Vô duyên xui rơi lược vỡ gương
Thôi em chớ liều thân cô phụ
Chiến trường nay lắm nỗi đoạn trường
Thôi em còn chi ta mà đợi
Ngày về thôi cạn máu khô xương.

Một thời mà tương lai tối ám. Một thời mà ngày trở về là tang lễ thay cho hôn lễ. Cuộc chiến quá dài khiến cho những hy sinh mất mát trở thành những tiếng kêu vô vọng nếu không muốn nói là vô nghĩa. Đâu còn cái hào khí lãng mạn của những ngày đầu kháng chiến:
Tây tiến đoàn quân không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

(Quang Dũng)
Ở những nơi mà người ta ném binh như vãi đậu, thì những chữ tổ quốc, tự do dù được thét gào rống rú suốt ngày đêm của cả hai bên, cũng không còn làm ai xúc động. Tất cả đã biến thành những con-vật-người, thành hạt đậu. Cho nên dù có bắt tay làm loa gọi, thì giữa chốn sơn cùng thủy tận vọng lại cũng chỉ là tiếng hú của con thú bị thương mà thôi.
Hành là một thể thơ xưa chứa chan tâm sự. Bài Tỳ Bà hành của Bạch Cư Dị trên một ngàn năm rồi mà lệ áo xanh vẫn chưa khô. Bài Tống Biệt hành của Thâm Tâm đến tận hôm nay vẫn còn tiếng sóng ở trong lòng. Bài hành Phương Nam của Nguyễn Bính vẫn láng lai châu thổ. Bài hành Biên Cương của Phạm Ngọc Lư xé ruột xé gan của cả một thế hệ đầu thai lầm thế kỷ.
Cần gì đọc lịch sử hàng chục vạn trang, chỉ cần đọc sáu mươi câu thơ của một người họ Phạm là đã thấy được, cảm nhận được, sống lại được cả một cuộc chiến phi nhân, xuẩn ngốc, một cuộc nội chiến mù lòa chẳng khác gì một cuộc tự sát tập thể.
Với bao nhiêu tội ác như thế, người ta bảo hãy để lịch sử phán xét. Thì đây, bài Biên Cương hành là một cách phán xét ngắn gọn nhất, trung thực nhất và cũng đau đớn nhất của một công dân nhỏ nhoi như hạt bụi. Hơn ai hết, chính thi sĩ mới là người có quyền và có bổn phận nói lên phán xét xuất phát từ chính trái tim của chính mình, cũng là trái tim của nhân dân.
Rồi cũng đến lúc: bom ngừng rơi, đạn ngừng nổ. Nhưng cái biên cương ấy vẫn chập chùng như vạn lý trường thành giữa hai miền. Những con người đã cạn máu khô xương bên thua cuộc giờ lại bị ném vào đời như vãi đậu.
Rời Củng Sơn trở về làng cũ, lại một bài hành nữa làm ta buồn muốn khóc. Không thét gào xé ruột như Biên Cương hành, nhưng Cố lý hành thầm thì như đứa con trở về chịu tội với quê hương.
Thôn ổ tiêu sơ gầy khói bếp
Đồng không mốc thếch lạnh tro tàn
Sao phên dậu nghiêng đầu câm nín
Rơm rạ làm thinh chẳng hỏi han
Ngõ vắng bàn chân như hụt đất
Tre già đang kể chuyện chôn măng
Nương rẫy đang phơi lòng dâu bể
Nói làm sao hết nỗi bàng hoàng
Phải đây là cố lý ta chăng
Dâu bóng mẹ già sau khung cửa
Và những người em mặt trái xoan
Đâu bóng chị hiền như hoa cỏ
Bên luống cà xanh liếp cải vàng!

Muốn ở lại làng cũ làm một anh dân cày cũng không được, anh đành theo bước chân của những người thua cuộc, làm một chuyến hành phương nam. Bài Trở Về Phá Tam Giang, theo tôi, cũng là một bài thiên cổ lụy.
Nhớ buổi ra đi thân tình đưa tiễn
Vợ gói câu thơ chị gói khúc đàn
Mẹ tóc trắng nhìn theo lặng lẽ
Con tóc xanh hai đứa dùng dằng
Bước xuống thuyền nhìn trời cao dõng dạc
Gõ mạn thuyền ngâm khúc hành phương nam

Nhưng :
Mưa miền nam, nắng miền nam
Trông mây thấp thòm nghe gió bàng hoàng
Quá đỗi mưa mau
Quá nhiều nắng khổ
Chén rượu quê người sao mà bạc
Ân tình đất khách lắm đa đoan

Không thể so sánh bài Binh Xa hành của Đỗ Phủ, nhưng các bài hành của Phạm Ngọc Lư cũng là những tiếng kêu đứt ruột, ngập tràn nỗi đau phận người trong từng câu từng chữ.
Từ một thư sinh rồi một thầy giáo, giờ anh ma xui quỷ khiến ta ngồi chợ/ bán gió rao trăng một núi dừa!
Bài thơ hóm hỉnh cười nhạo chính mình nghe ra thật cay đắng.
Cô gái Bến Tre vừa quen mối
Đếm dừa mà đôi mắt đong đưa
Người đẹp thương ta hay chơi đẹp
Bạc tiền không nài ép hơn thua
Khổ mấy lần áo khô áo ướt
Sợ lòng em chợt nắng chợt mưa
Thôi để yên ta bên chén rượu
Uống say… thành bại cũng bằng thừa
Uống say… ném áo lên nóc quán
Hết nợ hết duyên vĩnh biệt dừa

Rời bỏ Bến Tre, anh lại lạc vào miền đất đỏ Long Khánh. Đây là miền đất anh nếm trải nhiều cay đắng nhất. Trong bài thơ Bụi Đỏ gửi các con, anh đã viết những câu như lời thú tội.
Trời sinh chi đôi vai thêm khổ
Gánh gian nan như gánh tội đồ
Sinh chi kẻ sĩ đem đày đọa
Chôn vùi nắng bẩn với mưa dơ
Đi giữa rừng cao su trùng điệp
Lòng đau như vết cạo còn tươi
Mủ cứ chảy bám đầy tâm sự
Tâm sự đùn cao như gò mối chôn người
Đi giữa hoang sơ ruộng bàu khe suối
Gai hổ ngươi cào nát đôi chân
Nghĩ về quê cũ lòng thêm thẹn
Một ra đi là một lỡ lầm
Cứ hỏi mình chưa chán? chán chưa?
Nhìn núi Chứa Chan mắt buồn chan chứa.

Mười mấy năm lưu lạc, ô nhục đắng cay, có khác chi Kiều. Chỉ khác là có nhiều Thúc Sinh mà không có Từ Hải. Chút lòng trinh bạch mà Kiều gìn giữ trong tâm hồn để trao cho Kim Trọng, thì Ngọc Lư xin trao về Nàng Thơ.
Xưa ta cầm tuổi hai mươi
Vay em nhan sắc về nuôi tâm hồn
Nuôi bao mộng mị vàng son
Một đêm trắng mộng chỉ còn đan tâm

Chính vì thương ngày xưa không tuổi/ôm mối tình không tên, nhờ mối tình với Nàng Thơ ấy mà anh đã sống sót qua những năm tháng ở Củng Sơn, ở phương nam nắng khổ mưa đau. Nàng Thơ không còn lững thững giữa thành cũ rêu phong, không phơi tấm thân ngà ngọc trên sông Hương, mà đã cùng anh mười lít gạo trộn vài cân muối/nấu với tình em ăn vẫn ngon! Nàng đã cùng anh xé toạc đất tanh mùi máu kêu thét lên ở biên cương, rồi cùng anh xuôi nam, lại lộn về cố lý, qua phá Tam Giang, cuối cùng dừng lại trên bến nước thứ mười ba là sông Hàn. Một nàng Thơ rất mực tận tụy, nên dù mộng lớn mộng con đã tan tành, cũng vẫn còn bút mực đan thanh tươi màu.
Bút ấy chấm vào tấm lòng son, dù mai sau thơ anh có nằm chết trần truồng, thì tôi vẫn tin, trong trái tim của bạn bè hãy còn nhỏ nhoi hạt bụi tên là Đan Tâm.

Khuất Đẩu
(Viết 2010.
2014, đọc lại có sửa đôi chút.)
*Những chữ in nghiêng trích thơ của Phạm Ngọc Lư.
Phạm Ngọc Lư, sinh 1946, tại Thừa Thiên.
Cựu học sinh Quốc Học.Cựu sinh viên Viện Hán học Huế và Đại Học Văn Khoa Huế.
Từng dạy học ở Củng Sơn, Phú Yên
Đan Tâm, tập thơ do chính tác giả tự thực hiện, tháng 1/2004, để dành tặng thân hữu.

NHỮNG ĐÊM TRẮNG

khuatdau

nguyenthaihoccogiang

Đêm ở đền Thượng

Đó là một đêm đầu xuân, ánh trăng mỏng quá không soi rõ được mặt người. Những bậc tam cấp cứ nối nhau lên cao, lên cao mãi như vút tận trời. Một đàn chim Lạc từ đâu bỗng bay qua, tiếng đập cánh làm đong đưa những chòm sao xanh biếc.
Đêm thánh vô cùng!

Họ đi lễ đền Thượng.
Lễ vật không có bánh chưng bánh dầy. Chỉ có trầu, cau và hai trái tim thắm đỏ.
Chàng nói, “hôm nay, anh cưới em”!
Nàng nói, “em cũng cưới anh, hôm nay”!
Họ cùng nói, “thưa quốc Tổ, chúng con xin cưới nhau”!
Nghe như có tiếng cười từ ái reo vui của các vua Hùng.
Chàng nói, “anh nghèo lắm, chỉ có món quà nhỏ này làm sính lễ. Nó sẽ thay anh bảo vệ em”!
Chàng nâng khẩu súng lục lên trước mặt. Nàng xòe tay ra như hoa quỳnh đón lấy, rồi áp cái kỷ vật lạnh ngắt vào giữa ngực mình.
“Em cũng nghèo lắm, chỉ có cái chết để đền ơn anh”.
Lập tức, chàng khóa miệng nàng bằng đôi môi dày, nóng rực, để cái tiếng “chết” kia không bao giờ thoát ra được nữa.

Nhưng cưới nhau vậy thôi, chứ họ là hai kẻ không nhà.
Họ đành ngồi bên nhau suốt đêm, chờ sáng.
Cũng ấm ức lắm, cũng thèm thuồng lắm.
Cũng muốn lấy cổng tam quan làm nhà, lấy nền gạch làm giường, lấy bóng đêm làm chăn màn để thực sự là của nhau.
Cũng muốn đã yêu là yêu cho tới bến, đã cho là cho đến tận cùng.
Nhưng đêm yên lành và thiêng liêng quá. Họ chỉ có thể cởi bỏ mọi buộc ràng, mọi lo toan, để hai tâm hồn bận rộn được ngơi nghỉ đôi chút bên nhau mà thôi.

Khi ánh ngày lên, nàng thấy chàng là ông cụ áo the thâm đeo mục kính, chàng thấy nàng là một chị nhà quê váy đụp, chít khăn mỏ quạ. Cả hai nhìn nhau, kín đáo nở một nụ cười thầm.
Rồi như hai kẻ xa lạ chưa hề gặp nhau bao giờ, nàng xuống Đông, chàng ngược lên Đoài Tiếp tục đọc

LẠI SINH NHẬT BUỒN!

khuatdau

Buồn, vì một người đã đi qua 3 đại dương và đặt chân lên 30 nước, một người có đến những 173 tên, bí danh, bút danh, đã chết đến những bốn mươi sáu năm rồi mà vẫn chưa được về với đất. Trong di chúc, ghi rõ xác phải đốt đi tức là hỏa táng, và tro xương được chôn trên một ngọn đồi ở vùng Tam Đảo, Ba Vì…
Thế nhưng, nhân danh Đảng, người ta vẫn cứ đem xác ra ướp như Lênin để rồi sáng đưa lên khỏi hầm, chiều đưa xuống, cứ như mọc rồi lặn, bảo rằng như thế là thể hiện lòng biết ơn của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân.*
Lại càng buồn hơn vì người chết chỉ muốn xây một cái nhà nhỏ nhưng chắc chắn, lại trồng nhiều cây, để ai đến thăm viếng cũng có chỗ ngồi nghỉ giữa thiên nhiên hùng vĩ, thì người ta lại bỏ công của ra xây một hang đá to còn hơn hang Pắc Pó giữa vườn hoa Ba Đình, phải điều động cả một trung đoàn để bảo vệ.**
Có biết đâu rằng, không làm theo di chúc của người chết là mang tội bất kính.
Và, cũng rất bất kính khi gọi một ông cụ cao tuổi bằng Bác, cho dù chữ Bác được viết hoa. Giả dụ rằng ông cụ hãy còn sống, trong lần sinh nhật thứ 125 này, các bé mẫu giáo gọi một người đáng tuổi cụ kỵ của mình bằng bác, thì quả là thiếu giáo dục, nếu không muốn nói là hỗn.
Đã vậy, người ta còn dịch ra tiếng Anh, gọi là uncle Ho. Mà uncle cũng được dịch là chú. Lại liên tưởng đến chú Sam, chú Chệch! Nếu bảo rằng hai tiếng Bác Hồ đã trở thành thiêng liêng, thì dù là tiếng nước nào, vẫn phải viết đúng viết đủ là Bác Hồ.
Một người đã đi vào lịch sử, thì hãy gọi đúng chức danh, không thể vì yêu mà gọi thế này, hay vì ghét mà gọi thế nọ.
Người ấy khi mất, như Đảng nói, đã để lại muôn vàn thương tiếc cho toàn dân, nhưng theo những tiết lộ không có gì động trời (vì ai cũng biết), thì vẫn có những người đàn bà chẳng những không thương tiếc mà còn oán hận. Những người đã từng là vợ như bà Tăng Tuyết Minh. Những người đã từng là người tình như cô gái họ Nông. Đảng khoác lên mình ông cụ chiếc khăn liệm, ngay cả khi cụ còn sống, để mạ vàng hai chữ hy sinh vì nước vì dân.
Nói một cách hình tượng thì ông cụ đã cưới nước Việt Nam và sản sinh ra đứa con thừa tự duy nhất là đảng Cọng Sản. Tiếc rằng đó là đứa con ngỗ nghịch bất hiếu, còn hơn thế, một phá gia chi tử. Đảng suốt ngày và đêm bảo noi gương Bác, nhưng một chuyện nhỏ như ông cụ ưa trồng cây ở những nơi chưa có cây, thì người ta lại chặt hàng ngàn cây cổ thụ để lấy chỗ trồng cây mới. Noi gương cha như thế thì khác gì chửi cha!
Sống không được gần vợ gần con, ngay cả về thăm quê cũ cũng phải được Đảng ra nghị quyết, thì sống như thế không khác gì bị bỏ tù. Và chết, lại còn cay đắng hơn khi bị canh giữ ngày đêm trong cái ngục được Tố Hữu gọi là bài thơ bằng đá ấy.
Suy cho cùng, một đời người như thế, phải nói là quá bất hạnh. Không thể nào mở miệng hát happy birthday to you được. Chỉ có thể kêu một tiếng sad birthday mà thôi.

KHUẤT ĐẨU

15/5/2015

* Về việc riêng – Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức đám đình, lãng phí ngày giờ và tiền bạc của nhân dân.

Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, nói chữ là “hỏa táng”. Tôi mong rằng cách “hỏa táng” dần dần sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất. Bao giờ ta có nhiều điện, thì “điện táng” càng tốt hơn.

**Tro xương thì tìm một quả đồi mà chôn. Gần Tam Đảo và Ba Vì như hình có nhiều đồi tốt. Trên mộ, nên xây 1 cái nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi.

Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi. Ai đến thăm thì trồng một cây làm kỷ niệm. Trồng cây nào phải tốt cây ấy. Lâu ngày, cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp.
(Trích di chúc đầu tiên 15/5/1965)

SAO CÒN NGỒI ĐÓ?

khuatdau

Con cóc trong hang con cóc nhảy ra

Con cóc nhảy ra con cóc ngồi đó

Con cóc ngồi đó con cóc nhảy đi

(Thơ con cóc)

Họ ngồi đó, đề huề. Rất đề huề, nghĩa là rất tôn ti trật tự. Và cũng rất bảnh chọe, xênh xang.

Những mặt phấn son ngào ngạt.

Những mặt phởn phơ béo tốt.

Những mặt đeo râu đội mũ như hát tuồng.

Dù mặt nào, cả ngàn mặt như được lấy ra từ trong thùng xốp, cũng lạnh căm như ướp nước đá.

Những mặt tai bị xẻo hay bị đổ chì.

Những mặt bị sụp mất mũi.

Những mặt mà hai con mắt lờ đờ như mắt cá ươn.

Vậy nên,

Đừng hỏi tại sao không nghe tiếng khóc của dân oan.

Đừng chê sao sống mãi trong mùi xú uế.

Đừng trách sao không thấy hèn thấy nhục.

Đó là những mặt quên mẹ quên cha, quên nước quên non.

Những mặt bề ngoài trông hồ hởi phấn khởi, nhưng trong bụng thì đau đáu nhiều nỗi lo.

Vì rằng sau một phút huy hoàng này rồi chợt tắt, không biết có chắc còn được ngồi đó hay không, nên dưới lớp da dày như mo cau, những luồng run rẩy vẫn khiến cho những mặt đã mất tính người không ngớt rung động. Nó cứ giựt giựt như dư chấn sau trận động đất ở Nepal.

Lại còn một nỗi lo không dám ngỏ cùng ai. Ấy cũng bởi lịch sử là những cuộc hưng phế cứ tái diễn, nếu một ai trong số đang ngồi đó bỗng dưng tuyên mẹ đầu hàng không điều kiện, thì biết chạy đi đâu?

Trực thăng thì đã quá cũ và quá ít.

Giàn khoan thì lại rút mất rồi!

Đâu như thời Mỹ cút, trực thăng bay đầy trời và chiến hạm của nó cặp sát biển Đông.

Cho nên trong ngày vui đại thắng đã nhạt nhòa, nhìn kỹ, mặt nào cũng buồn như đưa đám.

Những con cóc trong hang nhảy ra. Suốt bốn mươi năm thay nhau ngồi đó. Giờ đã đến lúc phải nhảy đi. Nếu không nhảy đi sẽ thành những con cóc chết.

Khuất Đẩu

(Tháng 5, 2015)

 

BỐN ANH EM TRÊN MỘT CHIẾC CÔNG NÔNG

khuatdau

Xịt khói tùm lum như cháy nhà, nổ cành cạch, cành cạch, ấy là xe công nông.
Cụ thể là: lấy máy nổ của máy cày tay, gắn vào một cái thùng có bánh xe, thêm một cái vô lăng, thế là làm nên một sự cải tiến tuyệt vời hơn cả xe cải tiến.
Công nông là gọi theo ý Đảng, còn nôm na gọi là xe cọc cạch.
Bốn anh em họ nhà Vẹm sau một cuộc họp gia đình, thấy rằng thời đại công nghiệp hóa mà cứ con trâu đi trước cái cày theo sau là tụt hậu, bèn bán trâu cộng thêm tiền bán ruộng, tậu một chiếc công nông.
Chiếc xe được người chủ cũ ưu ái cầm lái đưa bốn anh em về nhà. Cả bọn ngồi xỏm trong thùng xe, nẩy tưng tưng như con lật đật, sau một hồi nghiêng ngã xiên xẹo, cuối cùng cũng dừng lại được trước sân nhà.
Dù ù tai chóng mặt, họ cũng cố bước xuống xe trong sự thán phục đến nghẹn ngào của bốn bà vợ và trong tiếng reo mừng ầm ĩ của lũ con.
Đêm ấy, sau một bữa tiết canh nòng nợn ăn mừng, tục lệ gọi là “rửa xe”, cả bọn lại họp nội bộ để phân công ai là chủ quản, ai cầm lái, ai phụ ếch, ai lo việc giao dịch.
Anh Cả đương nhiên là chủ quản, chẳng những vì được sinh ra trước mà vì cái phong thái nho nhã, dịu dàng ăn nói rất mực. Anh lại có nhiều bằng cấp dù rằng không có bằng lái xe.
Anh Hai, tuy mắt có hơi bị lé, nhưng đã từng vững tay súng chắc tay cày, nên sẽ cầm lái. Dĩ nhiên anh sẽ học lái do người chủ cũ chỉ dạy. Người chủ cũ râu xồm, mắt ốc nhồi, quá mừng vì đã bán tống được cái xe thổ tả cho bốn thằng khùng nên hào hứng nói: “dễ mà, việc đó nhỏ như con thỏ, để ta lo”.
Anh Ba khéo tay nhiều sáng kiến như kỹ sư, lo việc bơm dầu mỡ và siết bù loong.
Anh út Tư, ít nói chăm làm, lo phụ ếch.
Thế là xong cái ban quản trị công ty vận tải một thành viên, tên tiếng Việt gốc Hán là Tứ Trụ, tiếng Anh là Tutrumexco.
Anh Hai sau bảy ngày được kèm cặp cũng đã biết nhấn ga đạp thắng, tuy nhiên vì mắt bị lé nên dễ gây tai nạn, phải có người bên cạnh nhắc nhở. Thế là có thêm anh Cả cùng cầm lái bằng miệng. Hai anh em vì vậy, cứ cãi nhau rậm rịch.
Anh Cả thót cả tim khi thấy chú em lái không như ý mình. Anh bảo, “con trâu thù lù đứng đó sao mày không nhìn nó để tránh mà lại đi nhìn con bò kia”?
“Thì nhìn con bò mới tránh được con trâu chớ, cũng như em nhìn chị Cả, thực ra là em nhìn vợ em. Chị Cả biết thế nên có mắng em hỗn đâu”
Người anh chủ quản thở dài, nói: “mày lái kiểu đó trước sau gì cái cơ nghiệp này cũng tan tành”. Người em cãi: “em nhìn khác anh, nhưng lái đúng đường thì thôi chớ, anh lo làm gì cho mệt”
“Trách nhiệm của tao quá nặng nề, không lo sao được”, người anh lại than thở.
“Chính vì có anh ngồi bên suốt ngày lải nhải mới là đáng lo. Em muốn bể cái đầu luôn”, người em đâm ra cáu.
Tuy rất lo và bực nhưng dẫu sao, sự kết hợp của việc lái bằng tay và bằng miệng vẫn hơn là chỉ lái suông bằng mồm. Người anh đành chịu nhịn một chút để giữ tình đoàn kết.
Và thế là chiếc xe đúng như tên gọi cọc cạch, nổ máy lạch bạch tiến thẳng trên con đường làng XHCN quanh co, quanh co…
Chiếc xe kêu thì to, thở khói hôi rình, nhưng chạy như rùa bò, nhiều khi siết ga tiến lên được vài mét lại kẹt sao đó phải de lại mấy mét. Lắm khi nó đứng ì như con ngựa trở chứng, có đánh mấy cũng không chịu nhúc nhích.
Đến nước này phải huy động sức của bốn bà vợ và đám con, ra đẩy. Chiếc xe kêu lụp cụp, rùng mình tỉnh giấc, rồi bất ngờ lao tới trước khiến bốn bà vợ và lũ con ngã sấp xuống mặt đường. Bốn bà nằm đó la như bị ai cắt cổ, chỉ có lũ con là đứng dậy chạy theo.
Anh Hai chán nản nói, “xe cũ mèm, lái nó còn cực hơn kéo cày”.
Anh Cả, người duy ý chí bảo rằng “đã là xe là phải chạy. Nó không chạy được là do mình”. Anh khích anh Ba: “chú mày từng độ được trực thăng mà, đồ này dễ ợt, sửa được chứ gì”.
Anh Ba nói, “được chớ sao không, chỉ có điều phải tốn thêm tiền để thay đồ phụ tùng”.
Anh Cả bảo, “được, bao nhiêu cũng cứ mua, miễn là nó chạy. Nó mà không chạy, mất mặt bầu cua với xóm làng mình quá”.
Thế là anh Ba trần lưng ra tháo tung các thứ, bảo cái này hư, cái nọ cũ, cái kia không đồng bộ, phải thay tất. Anh Cả bảo: “ừ, thay đi”. Anh Ba cười thầm, một mình xuống phố. Anh chẳng mua gì ráo, hết nhậu tới chơi gái chân dài, xong về lau chùi ráp lại, nổ phầm phập.
Từ đó, chiếc xe hễ có bệnh nằm ì, là anh Ba lại có thêm tiền. Anh nghĩ, ngu sao không ăn. Và anh cũng không ngu gì mà ăn một mình. Anh chi chút ít cho anh Hai, để lâu lâu nói với anh Cả nó không chịu chạy.
Chiếc xe chưa chở thuê được món nào đáng giá đã phải sửa tới sửa lui. Các bà xót cái hầu bao lép xẹp đòi bán, nhưng chẳng còn kiếm đâu ra được một thằng nào khờ nữa để mà dụ nó rước cái của nợ này về. Vì thế nó vẫn cứ cọc cạch, ì ạch, ngày nào cũng chạy mà chẳng đi tới đâu..
Trong một cuộc họp kín của bốn anh em (chứ không phải bè lũ bốn tên), anh Cả mệt mỏi thôi cái chức chủ quản, giao lại cho anh Hai. Thế là cùng với việc cầm lái, anh Hai được toàn quyền chạy tới chạy lui. Anh Ba vay thêm tiền thay con heo dầu, nhờ vậy xe chạy cũng tàm tạm.
Thấy thế, anh Hai va Ba định bỏ con đường XHCN ngoặt sang đại lộ TB. Đây là con đường tráng nhựa rộng thênh thang. Có chạy được trên đường này mới mong làm ăn có lãi. Nhưng anh Cả lấy quyền gia trưởng không cho. Anh bảo: “ngu sao mà chạy ra đó. Trong cái xó làng này thì xe mình là nhứt chứ bẹo ra đó thì ai coi ra gì!”
Mặc kệ, hai anh vẫn cứ muốn ra đại lộ. Anh Cả liền đứng trước đầu xe, dang hai tay ra la làng. Nhưng anh Hai cho máy nổ như đại bác, xịt khói mù mịt khiến anh Cả phải hốt hoảng chạy dạt ra.
Tưởng rằng lên đó sẽ chạy phom phom, nhưng xe quá đông và chạy quá nhanh, anh Hai đâm ra sợ, lúng túng quờ quạng một hồi khiến cái xe lật ngửa.
Nghe tin xe bị lật, chẳng những không buồn mà bốn bà vợ đều mừng.
Mừng vì nó không còn nổ to đến nỗi long đầu mệt óc nữa.
Mừng vì bốn ông chồng, xe ngã mà không ai hề hấn gì.
Và mừng hơn nữa vì lũ con của họ không còn có dịp nào leo lên xe để nó đưa xuống hố.
Tôi cũng mừng vì, ra đường hết sợ công nông/ về nhà chỉ sợ…, mà thôi, nhắc đến mấy bà, tôi cũng phải bớt ngu mà biết sợ vậy. Tức là xin dừng tại đây.

Khuất Đẩu
*Ca dao mới: Ra đường sợ gặp công nông/ về nhà lại sợ vợ không mặc gì

RĂNG ĐEN MàTẤU

khuatdau

Mẹ tôi, nhuộm răng đen. Như cô tôi, bà tôi. Một màu đen như tóc mọc trên đầu, như áo quần họ mặc. Chính hàm răng ấy đã nhai những hạt cơm trắng đầu đời mớm vào miệng tôi. Như chim cánh cụt mớm mồi cho con của nó. Nhớ về mẹ, tôi nhớ nhất hàm răng đen của bà.
Tôi nhớ me tôi, thuở thiếu thời
Lúc người còn sống tôi lên mười;
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội,
Áo đỏ người đưa trước dậu phơi.
Hình dáng me tôi chửa xóa mờ
Hãy còn mường tượng lúc vào ra:
Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trưa hè trước dậu thưa.

Những câu thơ hiền hậu nói trên là của Lưu Trọng Lư, ra đời cùng lúc với con nai vàng ngơ ngác*. Những câu thơ không đẹp như trong bài Tiếng Thu, nhưng hình dáng mẹ trong bài Nắng Mới thì đẹp xiết bao. Nét cười đen nhánh sau tay áo ấy còn được nhà thơ của Lá Diêu Bông làm cho nó trở nên rực rỡ hơn:
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu tỏa nắng

Trước đó hơn hai trăm năm, Nguyễn Huệ, không là nhà thơ nên không thấy mùa thu tỏa nắng, nhưng ông thấy hồn dân tộc sáng ngời trong chính màu đen từ thủa Hùng Vương cho đến đời anh em ông. Và giữ độc lập cũng chính là giữ cái quyền được để răng đen, được ăn trầu và để tóc dài, Đánh cho nó biết nước Nam anh hùng tri hữu chủ, là để nó biết hữu chủ ngay từ chuyện nhỏ nhặt như thế..
Có thể nói, răng đen là hình ảnh tượng trưng bình dị nhất của dân tộc ta, cho dù chưa được văn minh như người nhưng không thể nói là man rợ. Lại càng không phải là ác độc, tàn bạo, nhất là với chính cha mẹ, anh em, xóm giềng, làng nước.

Vậy mà, sau bốn lăm, cái màu đen ấy bỗng thêm một cái đuôi đáng sợ. Không còn đen nhánh sau tay áo, không còn mùa thu tỏa nắng, mà là răng đen mã tấu!
Tự đâu mà có bốn tiếng xa lạ dường ấy trong tiếng nước tôi, nghe lịch kịch xủng xoẻng như tiếng khảo tra?
Phải trở lại những năm sau cuộc cướp chính quyền, những năm mà xác chết cụt đầu nổi đầy sông. Chính những người cọng sản đầu tiên, thời ấy hãy còn nhuộm răng đen, đêm đêm vác mã tấu đi chặt đầu những ai không cùng đảng với họ, những ai làm việc cho Pháp, Nhật. Chỉ cần gắn cho hai tiếng Việt gian là đi đứt sinh mệnh của một con người. Rồi cũng chính họ, mười năm sau, nhảy lên xác bà Nguyễn Thị Năm đạp cho lọt vào hòm, mở đầu cho những cuộc đấu tố kinh hoàng đến cả mấy chục vạn người chết vì hai tiếng địa chủ.
Bốn tiếng răng đen mã tấu chắc là do thân nhân của những nạn nhân oan ức kia kêu lên trong kinh hoàng và khinh miệt. Nó gọi đúng tên một giai cấp mới, gồm những kẻ mông muội, chỉ biết tin theo Đảng.
Đến nay, họ cũng rơi rụng gần hết theo quy luật thời gian, dăm ba kẻ còn lại thì nghễnh ngãng tuy được tôn là tiền bối cách mạng.
Nhưng con cháu họ, đương nhiên răng trắng bóng, không mặc áo bà ba đen mà veste đen, không xách mã tấu mà xách cặp vi vu bay lượn khắp nơi. Giờ, họ văn minh không thua gì ai, nhưng cái bản năng răng đen mã tấu vẫn còn trong những đạo luật và nghị định mà họ đặt ra, làm chết dần chết mòn một thứ có màu đen muôn thủa là dân đen.

KHUẤT ĐẨU

Tháng tư, 2015
* Sau 75, Lưu Trọng Lư vào thăm chơi miền nam. Có người hỏi ông về con nai vàng trong bài Tiếng Thu, ông bảo nó không còn ngơ ngác nữa vì đã có Đảng lãnh đạo.

THÁNG TƯ QUỶ ÁM

khuatdau

Tháng tư, giống như sốt rét kinh niên, cứ đến cữ (chứ không phải đến hẹn), lại đến. Ai đã từng bị cơn sốt này hành hạ, đều cảm thấy cái lạnh không phải của đất trời, mà là của quỷ ma, của những xác chết chưa chôn, của mồ hoang mả lạnh, lạnh từ trong xương cốt lạnh ra, không chiếu chăn nào làm ấm được.
Bốn mươi năm qua rồi mà ai may mắn sống sót, đến nay, răng vẫn cứ đánh vào nhau lập cập.
Người ta đã từng đặt tên là tháng tư đen, nghĩa là tháng của số phận đen đủi, không phải số phận của một người mà của nhiều triệu người, bỗng dưng bị quỷ ám.
Và, trong cảnh tưởng chừng sắp tận thế đó, người ta bồng bế nhau, giẫm đạp lên nhau mà chạy. Chạy như bị ma đuổi, chạy đến nỗi chết rồi mà vẫn còn chạy.
Chạy từ cao nguyên xuống đồng bằng.
Chạy từ Quảng Trị vào Đà Nẵng.
Chạy từ Nha Trang vào Phan Thiết.
Rồi từ Phan Thiết chạy vào Sài Gòn.
Sau cùng là đu lên trực thăng Mỹ để rồi bị rớt xuống như sung rụng.
Cuộc tháo chạy đau đớn đáng hổ thẹn ấy là do cái mặc cảm tự thua.
Trước hết là tự tông tông, người nắm quyền tổng tư lệnh, trong cơn hờn dỗi với quốc hội Mỹ, khi cái quốc hội ấy cũng muốn tự thua bằng cách thắt hầu bao không chịu chi thêm 700 triệu đô nữa để cứu con tàu sắp bị chìm, bèn ra lệnh cho các tướng lĩnh cứ việc bỏ.
Bỏ cao nguyên đất rộng người thưa.
Bỏ kinh thành Huế già nua rệu rã.
Ngay cả Đà Nẵng, Mỹ nó cũng không thèm giữ thì mình giữ làm chi.
Bỏ luôn Ninh Chữ, một thời được các bốc sư bốc phét là đất có long mạch của bậc đế vương.
Bỏ tuốt cửa ngõ Long Khánh, Biên Hòa.
Chỉ giữ mỗi Sài Gòn để còn cái phi đạo Tân Sơn Nhất mà cất cánh bay vù đi.
Cái não trạng tự thua ấy khiến một triệu quân và 30 triệu dân miền nam sống trong sợ hãi. Người ta chạy vì sợ cộng sản chứ không phải vì bom rơi đạn lạc. Hơn 20 năm nội chiến thì bom đạn nhằm nhò gì.
Bộ tâm lý chiến do một ông họ Hoàng trẻ tuổi đẹp giai đã không chống đỡ nổi cơn bão của những tin đồn.
Rằng, sẽ cắt đất từ đèo Hải Vân trở ra.
Rồi từ đèo Cả.
Rồi từ đèo Mẹ Bồng Con.
Sau cùng, khi xe tăng nghiến lên cánh cổng dinh Độc Lập, thì người ta ngớ ra rằng, chẳng có cắt cúp gì ráo, chỉ là một cuộc đổi chác: Mỹ rút êm sau khi đã vén được bức màn sắt nặng hằng triệu tấn, để đặt chân vào nước Tàu mênh mông, thì bõ bèn gì một cái thùng tham nhũng không đáy là miền nam này.
Canh bạc hay cuộc chơi của những thế lực bên ngoài tưởng là thù địch, thực chất là ngoéo tay, khèo chân dưới gậm bàn để chia chác nhau cái bánh lợi nhuận, đã đến hồi kết thúc.
Cái thang bám đầy người trên nóc tòa đại sứ Mỹ, chẳng phải nó nghĩa tình gì với dân tộc này, mà chỉ là một chút đoái thương những nhân viên cũ, sợ bị cộng sản chặt đầu bêu rếu như phiến quân Hồi giáo IS. Rồi cực chẳng đã nó mới cứu vớt các thuyền nhân nổi trôi trên biển Đông đầy hải tặc và cá mập đang ngoác miệng ra chờ.
Giờ, bài ca nhân quyền cũng chỉ là tiếng rao cò kè mặc cả cho một thương vụ mới. Nó cho treo cờ để xôm tụ coi chơi, chứ trong cuộc tháo chạy có cả tông tông, phó tông tông, và gần đủ mặt các bộ trưởng, mà đâu có thành lập nổi cái gọi là chính phủ lưu vong! Little Saigon, cũng chỉ là một chút vang bóng, chứ đừng hòng mà tuyên bố tuyên mẹ, là tân thủ đô. Nó đập cho bể miệng và đi tù là cái chắc!
Có vậy thôi, cái quay đã búng sẵn trên trời. Nhưng một bên tự cho là thắng cuộc, cứ đến hẹn lại lên, trống chiêng hò reo “đại thắng mùa xuân” ầm ĩ. Một bên nữa, gọi là thua cuộc, cũng không hẹn mà đến, cứ ngồi khóc than ca cẩm, chửi đổng là đồ phản bội dưới mái hiên nhà của nó.
Cái tâm trạng tự thua ấy, buồn thay, sau 40 năm lại ám vào đầu những kẻ một thời tự tin kẻ thù nào cũng đánh thắng. Lần này là con quỷ bảy màu. Khi thì nó khề khà như một anh bạn nhậu xả láng sáng nghỉ sớm, lúc nó ỏn ẻn như một con đĩ thập thành với một anh nhà quê vừa bán được đất. Rồi bất ngờ nó để lộ cái bộ mặt mắt xanh nanh vàng, tay nó cầm chỉa ba. Nó chỉ thọc một cái là lấy ngay được trái tim đang run rẩy.
Vì tự thua như thế nên lúc nào cũng sống trong sợ hãi. Sợ to tiếng, sợ đông người, sợ nhắc đến tên cúng cơm của nó, nên phải gọi trại đi như thí sinh sợ phạm húy, sợ nó hạch hỏi đi đêm với đứa nào, chỉ mới gằn giọng đã phải quỳ mộp tấu trình.
Biết tỏng tự thua, nên nó vờn như mèo vờn chuột. Nay nó chiếm đảo này. Mốt nó lấy đảo nọ. Nó thử bứt tóc nhổ râu, mà cứ nhũn như con chi chi.
Tôi là dân Bình Định. Tiếc thay không được sinh ra và chiến đấu dưới ngọn cờ Tây Sơn. Khi 29 vạn quân Thanh tràn ngập đất bắc hà, Nguyễn Huệ liền lên ngôi Quang Trung hoàng đế cho chính danh, rồi dõng dạc tuyên bố: Đánh! Đánh để cho răng đen tóc dài. Đánh để cho nó biết nước Nam anh hùng tri hữu chủ!
Đánh chứ không chạy. Đánh trong niềm kiêu hãnh ngất trời như thế, dẫu có chết cũng sướng!
Tháng tư lần thứ bốn mươi

Khuất Đẩu

NHỮNG ĐỨA TRẺ THÁNG TƯ

khuatdau

Thủa ấy, thế hệ chúng tôi thường ca cẩm đầu thai nhầm thế kỷ!. Cái thế kỷ mà chúng tôi ngán ngẩm là thế kỷ hai mươi, với thế chiến thứ nhất, thế chiến thứ hai, rồi chiến tranh lạnh, chiến tranh qui ước và cuộc nội chiến lê thê suốt hai mươi năm dài.
Kêu trong chán nản, trong hờn dỗi nhưng không tuyệt vọng. Vì còn kêu được kia mà. Chỉ có một chút tấm tức, sao không được sinh ra trong những thế kỷ yên bình. Có nghĩa rằng, dù thế nào chăng nữa, thì được sinh ra làm người vẫn hơn là không được sinh ra.
Khác hẳn với những đứa trẻ sinh ra trong tháng tư, bảy lăm, sau chúng tôi một thế hệ. Chúng không kêu mà hỏi: sinh chúng tôi ra làm gì?

Đó là những đứa trẻ mẹ mang đầy bụng, mẹ không thở ra hơi mà vẫn phải bết bát chạy.
Chạy từ cầu Ái Tử qua cầu Tràng Tiền. Rồi từ cầu Tràng Tiền lê lết trèo qua đèo Hải Vân. Rồi từ đèo Hải Vân qua đèo Mẹ Bồng Con. Sau cùng đến giữa trái tim thủ đô Sài Gòn, vẫn phải giẫm đạp lên nhau để xuống bến Bạch Đằng, hay chen lấn nhau đến nghẹt thở để chui vào phi cảng Tân Sơn Nhất. Một cuộc chạy Marathon dài nhất trong lịch sử.
Và rồi mẹ sinh. Không phải trong nhà thương Từ Dũ với sự giúp sức của các bác sĩ và cô đỡ mát tay để mẹ tròn con vuông.
Mà sinh, có thể là lúc đang chạy trối chết, con rớt trong quần mà mẹ không hay.
Cũng có thể là lúc mẹ mệt quá cái đôi chân này đang ngồi tựa lưng vào một bức tường lỗ chỗ dấu đạn. Rồi con lặng lẽ chui ra mà mẹ không cần phải rặn, đúng hơn là không còn hơi sức đâu mà rặn.
Có thể trong thùng xe chất cứng người, suýt nữa con bị người ta đạp cho nát bét.
Có thể trên con tàu mấp mé sắp chìm, người ta đang ném những xác chết và những người sắp chết xuống biển cho nhẹ bớt. (Cũng may họ không ném những người đàn bà chửa)
Có thể trong khoang trực thăng mà viên phi công bị đạn dưới đất bắn lên, xuyên qua ghế ngồi khiến anh ta đầm đìa máu, vẫn cố sức giữ cho máy bay khỏi rơi.
Có thể mọi lúc, mọi nơi, mọi giờ, mọi phút.
Ngay cả phút cuối cùng của giờ thứ hai mươi lăm, khi tông tông Dương Văn Minh vừa nói xong mấy tiếng “đầu hàng không điều kiện”.
Mẹ sinh, không có cha bên cạnh.
Có thể cha đã chết trong chiến hào, có thể đang chiến đấu mà súng bị gãy, có thể bị thương, bị bắt, cũng có thể cởi bỏ quân phục lẫn lộn giữa đám thường dân đói khát trên quốc lộ số 1
Người ta đi biển có đôi
Còn tôi đi biển mồ côi một mình.
Mẹ sinh con ra chỉ mình ên, quạnh hiu lắm con ơi!
Mẹ sinh con ra, chính mẹ, cũng không biết để làm gì!
Không biết để làm gì nhưng vẫn muốn con được sống.
Giữa chốn đông người, mẹ vẫn cứ vạch áo ra cho con bú. Tuy chỉ uống nước lã cầm hơi, mẹ cũng hãy còn một ít máu. Những giọt máu hiếm hoi màu đỏ khi chảy qua miệng con vẫn thành màu trắng thơm tho.
Và kỳ diệu làm sao, con vẫn sống được.
Nghĩa là con vẫn thở trong khi khắp nơi đậm đặc mùi xác chết thối rữa, mùi khói, mùi xăng, mùi nhà cháy. Và con vẫn khóc được trong tiếng đại bác ì ầm, tiếng A.K cọc cọc, tiếng xe tăng rít trên mặt đường.
Con sống, nhưng sau cái phút cuối cùng của giờ thứ hai mươi lăm, mẹ ngơ ngác không biết đang ở đâu, rồi sẽ đi về đâu giữa rừng cờ nửa xanh nửa đỏ.
Sau cùng, mẹ cũng hiểu ra rằng lịch sử đã sang trang. Không chỉ riêng mình mẹ mà nửa nước đều thấy xa lạ với chính thành phố, xóm làng của mình. Ngay cả con phố, căn nhà, mảnh vườn cũng không còn là của mình nữa.
Mẹ bị đuổi về quê làm xã viên hợp tác xã. Mẹ lội xuống ruộng, mặc dù rất sợ đỉa, để cấy, gặt. Đôi lúc mẹ trần vai để kéo cày thay trâu. Mẹ làm ra lúa ra khoai đầy kho đụn, nhưng mẹ và những người đội nón lá chỉ làm cho nón cối hưởng, nên con vẫn đói khát, bủng beo.
Mẹ bị hốt trong đêm quẳng lên rừng thiêng nước độc, gọi là kinh tế mới. Mẹ phải sống chung với rắn rít và cả cọp beo, khi ấy hãy còn nhiều lắm. Mẹ bẻ măng rừng, hái nấm ăn cho đỡ đói. Nhiều lần ăn phải nấm độc suýt chết. Cả con và mẹ đều bị sốt rét rừng, bụng ỏng da vàng khè.
Chịu hết xiết, mẹ cõng con trốn về thành phố. Mẹ vay mượn chút ít chạy chợ trên, lộn chợ dưới. Bị mắng là con buôn, bị quản lý thị trường rượt đuổi còn hơn mã tà. Một đôi lần bị cướp sạch cả vốn. Đến nổi, nói ra thật xấu hổ, chỉ còn cái vốn trời cho. Để làm lại cuộc đời mẹ đã thử theo bè bạn đi đứng đường. Nhưng mẹ gầy yếu teo tốp quá, chẳng ai thèm rớ tới.
Cũng may, lúc ấy cha con chẳng phải chết, chỉ bị bắt đi cải tạo, vừa được thả ra. Cha con còn thảm não hơn cả mẹ. Nhưng nhờ cái gọi là tình chồng nghĩa vợ, mẹ cha cũng gắng gượng mà sống để nuôi con. Cha đạp xe thồ, bán cà rem, mẹ lượm lon nhặt giấy vụn trong bãi rác.
Con được (hay bị) dạy thành cháu ngoan Bác Hồ.
Rồi con cũng học đến lớp 12.
Nhưng tới đó thì thôi, cánh cửa đại học đã đóng sầm trước mặt con.
Con bị ném vào đời không nghề nghiệp, không vốn liếng.
Con sống lây lất cho đến hôm nay.

Hôm nay, những đứa trẻ tháng tư năm ấy đã bốn mươi tuổi, cái tuổi tứ thập nhi bất hoặc. Còn bi đát tội nghiệp hơn cả cha mẹ, chúng không có quá khứ để tiếc thương, không có tương lai để hướng tới, chỉ có cái hiện tại không sắc màu, không mùi vị, như một con số không chẳng biết để làm gì.
Trong gia đình, nhìn thấy mẹ cha co rúm, mòn cùn, tuy không nói ra, nhưng chúng thừa biết họ là những kẻ hèn. Ngoài xã hội, chúng chỉ đứng bên lề, nếu không muốn nói là đứng dưới đáy. Trong khi những đứa cùng năm sinh, tháng sinh nhưng ở nửa nước bên kia hay dưới cái dù lý lịch màu đỏ phía bên này đang được cơ cấu vào những chức vụ ngon ăn, sắp sửa đi làm đầy tớ cho những ông chủ kém may mắn nói trên.
Thế nên, đến chết vẫn còn nguyên câu hỏi: Sinh ra trong chết chóc, lớn lên trong đói khổ và suốt đời sống trong ô nhục, vậy sinh chúng tôi ra làm gì?!

KHUẤT ĐẨU