VỠ LÒNG CHO MỘT NGƯỜI CON GÁI MỸ

dutule

1.
không bao giờ đâu Donna, Donna
dù anh có yêu em
hơn bất cứ thứ gì có trên đất Mỹ
thì anh cũng vẫn trở về
anh vẫn phải trở về quê hương anh
cái dải đất nóng khô cong hình chữ S
cái dải đất không lớn bằng tiểu bang California của xứ sở em
(nơi anh đã sống những ngày đầu tiên và tập ăn, tập nói theo lối Mỹ)
cái dải đất rách nát nghèo đói vì chiến tranh
liên tiếp trên hai mươi năm
dù anh không bao giờ quên được em
trong đêm nhạc của ngày Hội Mùa Thu
ngày kỷ niệm 50 năm tiến bộ của các trại chủ miền Indiana
và nhất là anh không thể nào quên được
lúc Hội Mùa Thu bế mạc
em đã cùng Jana
ôm đàn chạy ra kiếm anh và một thanh niên Việt Nam khác
trên chuyến xe buýt chở đầy sinh viên
của các quốc gia đồng minh với Mỹ
trong sương mù giá buốt một đêm chớm thu
em ngơ ngác như một con bò non tội nghiệp
ôi những bước chân son
chạy đau nền cỏ lạnh
và những ngón tay run
xóa nhanh lớp nước mờ cửa kính
để nhìn rõ mặt nhau
anh đã đứng lên đẩy kính xe thò hẳn đầu ra ngoài
cùng em nói chuyện
và người bạn của anh đã phải gào lên
“tôi từ Việt Nam tới”
để trả lời cho một câu hỏi của Jana, bạn em
ôi Donna, Donna
phải là người Việt Nam
em mới hiểu được nỗi xúc động rưng rưng của anh
khi nghe thấy tên gọi quê hương mình
dạt lùa trong một khoảng không gian đẫm mù sương muối
át cả trăm ngàn tiếng động cơ máy nổ chung quanh

2.
không bao giờ đâu Donna, Donna
dù anh có yêu em
hơn bất cứ một thứ gì có trên đất Mỹ
thì anh cũng trở về
vì như em đã biết
quê hương anh trên bốn ngàn năm lập quốc
trên bốn ngàn năm không ngừng đánh đuổi ngoại xâm
trong đó có gần một ngàn năm bị Tàu đô hộ
và ngót trăm năm làm thuộc địa của Tây
nhưng dân tộc anh không bao giờ bị đồng hóa
bởi dân tộc anh là một giống dân quật cường
tuy hiền lành và rất nhiều tình cảm
mặc dù anh không thể quên
những lần gọi điện thoại cho em
trong những phòng điện thoại công cộng
với mười xu cho một cuộc nói chuyện kéo dài tối đa 7 phút
và đôi khi máy đã chẳng trả lại cho anh mười xu
như điều đã ghi trong bảng chỉ dẫn
mỗi khi không liên lạc được
không phải anh tiếc mười xu đâu, Donna
dù mười xu tính ra tiền Việt Nam
những trên hai mươi đồng theo giá chợ đen cơ đó
với hai mươi đồng Việt Nam xưa
anh có thể ăn một bữa cơm tạm no
hay thừa để mua một bao thuốc lá
nhưng kể từ khi có người Mỹ sang chiến đấu
bên cạnh quân đội của nước anh
thì với hai mươi đồng anh đã không đủ mua một gói thuốc

3.
không bao giờ đâu Donna
dù anh có yêu em
hơn bất cứ một thứ gì có trên đất Mỹ
thì anh vẫn trở về quê hương
nơi mẹ già anh đã một đời ăn cơm chan bằng nước mắt
nơi anh em, nơi chú bác, cô dì, gần xa ruột thịt
đã và còn đang từng giờ gục ngã
chiến đấu cho sự trường tồn
và lý tưởng tự do của giòng giống
mặc dù ngay khi anh vừa bước chân xuống phi trường Sài gòn
anh có thể chết tan thây
vì một miếng plastic
một trái mìn nổ chậm
hay một quả đạn từ xa
của người anh em bên kia bắn tới
mặc dù anh không thể quên
đôi mắt em xanh như những cánh đồng hai mùa trĩu hạt
và mái tóc em óng vàng
xõa tung trên đôi vai gầy cổ tròn ngấn trắng
mặc dù anh không thể quên
lòng tốt của ba mẹ em
dành cho anh một người Việt nam cô đơn lạc lõng

và anh cũng không thể quên
những lá thư của em
như có đem theo cả tiếng cười vô tư giòn tan
vỡ cao trên những hàng cây phong úa vàng lá chín
ôi những nụ hôn thầm
trong đêm nào rét ngọt

4.
không bao giờ đâu Donna
dù anh có yêu em
hơn bất cứ một thứ gì trên đất Mỹ
thì anh cũng trở về
quê hương anh với trăm ngàn đời khốn khó
nơi anh sống chui rúc như chuột
trong một căn nhà tôn, vách ván
nơi người yêu anh
đang từng phút giây mong đợi
(nàng cũng có một mái tóc dài thả xõa như em)
nàng cũng có một đôi mắt mở to sáng trong nhẫn nhục
tất nhiên tóc và mắt của nàng thì đen
và da vàng cũng hệt như anh
nàng có may mắn
hơn khá nhiều người khác
ở chỗ còn được đi học
nghĩa là chưa đến nỗi phải tập nói O.K
để đi bán bar hay làm sở ngoại quốc
nhưng suốt một đời nàng không được như em
có những ngày hội vui
để đem đàn tới cùng bè bạn hòa nhạc
vì nàng cũng như bất cứ một người Việt Nam nào đó
đã sớm biết đến chiến tranh
từ trong bụng mẹ
rồi lớn lên cùng lửa đạn điêu tàn
và ngay trong tình yêu
(nàng cũng chịu biết bao điều nhục nhã)

5.
không bao giờ đâu Donna, Donna
dù anh có yêu em
hơn bất cứ một thứ gì có trên đất Mỹ
thì anh cũng vẫn trở về
quê hương anh ruộng cằn đất cỗi
người chưa lớn đã già
trẻ chưa cao đã cọc
dù anh sẽ chẳng bao giờ quên em
đôi mắt xanh, mái tóc vàng và những ngón chân ngà
chạy nhanh trên nền cỏ lạnh
và tất nhiên sẽ về cùng anh
là những tấm ảnh em cho
với xấp thư thơm mùi lúa mạch
anh sẽ mãi ngóng trông
một ngày nào em đặt chân lên quê hương anh nhỏ bé
anh hy vọng ngày đó
những hố bom hố mìn
đã được lấp bằng
cho rất nhiều hoa nở
để mỗi bước chân đi
em sẽ thấy xứ sở anh có phần đẹp hơn nước Mỹ
để em sẽ nhận ra
không ở đâu có thể có được
một giống dân hiền lành nhưng quả cảm
một giống dân cần cù nhẫn nại
và dễ mến như dân tộc anh
biết chừng đâu khi ấy
em sẽ chẳng chọn quê hương anh
như một tổ quốc thứ hai
khởi đầu một cuộc định cư vĩnh viễn
ôi Donna, Donna Ostermeyer
hoài hoài sương mù trong anh một đêm mùa thu tay vẫy
một đêm ngời giọng hát vỡ trên cao
ôi Donna, Donna Ostermeyer
em có hiểu chút gì
những điều anh mới nói?

DU TỬ LÊ
(Indiana, tháng 9-69)

hiến chương tình yêu

dutule

em đã biết Hiến Chương nào cũng vậy,
có những điều bắt buộc chúng ta theo
(như ngày mai thi lấy bằng lái xe)
ta cẩn thận ghi những điều phải nhớ.

I.
khi em lạnh, tôi biến thành ngọn lửa,
củi thương yêu. Than đỏ hực ân tình
em cần thơ cho sáng dậy thơm hơn
tôi lập tức hóa thân thành vần điệu.

II.
khi em bước tôi biến thành chiếc kiệu
ngựa hai hàng. tứ mã chắc… nan truy?
có sao đâu? tôi nào hỏi mấy khi.
(dù lắm lúc cũng thầm ghen tức chứ)!

III.
khi em viết tôi biến thành giấy mực
bút tương tư mực nhớ đến ai kìa?
giấy từ cây. bút từ gỗ xa xưa.
mực từ nhựa. tôi từ em sống lại

IV.
khi em ngủ tôi biến thành chiếc gối:
để phòng hờ …ngộ nhỡ em muốn ôm
để đêm hờn, em có cái vứt luôn
sáng nhặt lại. thấy mình sao…dữ thiệt!?

V.
khi em đọc, tôi biến thành chữ viết.
cả nghìn chương, chỉ chép chuyện đôi ta.
mỗi đầu dòng: tên em sắp chữ hoa
cả chấm, hỏi cũng đậm mùi hạnh phúc

VI.
khi em ốm tôi biến thành tủ thuốc.
thành tấm màn, che gió máy cho em.
em chả cần phải lể, giác hay xông,
vì tôi đã hóa thành cây ngải cứu.

VII.
khi em khóc tôi biến thành… nước mắt
chảy dùm em – cho cạn sạch nỗi niềm.
để mắt em xanh – để môi em mềm:
tôi là lá giữa buổi chiều… sắp tối.

VIII.
khi em hát tôi thành loa khuếch đại,
cho cả làng cả nước đổ ra nghe.
giọng em cao – tôi bảo gớm thanh ghê.
giọng em thấp – tôi tha hồ thêu dệt.

IX
khi em chết – cuộc đời này phải hết
không chỉ tôi, hoa cỏ cũng lên trời!
thú lìa rừng. chim chóc lạnh từng đôi
bao thế hệ vì em mà… biến mất!

X
Hiến Chương viết ngày Tình Yêu vô lượng
của hai người? – vâng, của chúng ta thôi.
mặc ai cười? mặc ai đó bĩu môi
họ ghen đấy. bởi em là Thánh Nữ

Ta sẽ chết. nhưng tình ta bất tử
vì mở đầu nhân lọai: cuộc chơi riêng.

DU TỬ LÊ

HÀNH TRÌNH VĂN CHƯƠNG NHÀ VĂN VÕ PHIẾN

dutule

Võ Phiến là một trong những nhà văn hàng đầu của 20 năm VHNT miền Nam, giai đoạn 1954-1975. Giai đoạn sự nghiệp văn chương của ông đạt tới đỉnh cao nhất là thập niên 1960s, khi ông di chuyển từ miền Trung vào Saigon. Ðó là thời gian ông xuất bản những tác phẩm được nhiều người biết tới, như: “Ðêm Xuân Trăng Sáng,” “Giã Từ,” “Thương Hoài Ngàn Năm,” hay “Thư Nhà,” “Ðàn ông,” “Ảo ảnh,” “Phù Thế” v.v.v

Trong một tiểu luận của nhà phê bình văn học Nguyễn Vy Khanh, ở hải ngoại, trước khi đề cập tới văn nghiệp của nhà văn Võ Phiến, thuộc thập niên 1960s, họ Nguyễn viết:
“…Miền Nam vĩ tuyến thứ 17 sau 1954 vốn quen với hai luồng văn học từ hai thủ đô văn nghệ, một mới, Sài Gòn và một cũ, Hà Nội, đã ngạc nhiên đón nhận một nhà văn từ miền Trung là miền đến lúc ấy vẫn nổi tiếng về thơ hơn là văn: nhà văn Võ Phiến gây chú ý ngay từ những tập truyện ngắn đầu tay xuất bản ở Qui Nhơn vào đầu nửa cuối thập niên 1950: Chữ Tình xuất bản năm 1956 và Người Tù một năm sau đó. Lúc đó ông cộng tác thường xuyên với tạp chí văn chương Mùa Lúa Mới ở Huế và gửi bài đăng trên Bách Khoa và Sáng Tạo ở Sài Gòn. Hai tập truyện ngắn Chữ Tình và Người Tù ra đời hợp không khí chính trị những năm đầu của nền đệ nhất cộng hòa, về văn chương không có mới lạ, có thể nói bình thường, hơi quê, văn theo tiêu chuẩn chung, chưa đặc sắc…”
Vẫn theo nhận định của Nguyễn Vy Khanh thì phải:
“…Ðến Ðêm Xuân Trăng Sáng, xuất bản năm 1961, tập truyện ngắn đồ sộ về số trang (370 trang, sau tách thành hai cuốn ÐXTS và Về Một Xóm Quê khi tái bản), Võ Phiến được người đọc nhìn như một tác giả điêu luyện, có tính chất “thời đại” với những phân tích tâm hồn và quan sát con người rất tinh tế. Nhân vật của ông thêm sức mạnh và “bản lĩnh”! Ðêm Xuân Trăng Sáng gồm 8 truyện ngắn Lẽ Sống, Tâm Hồn, Anh Em, Ðêm Xuân Trăng Sáng, Thị Thành, Thác Ðổ Sau Nhà, Về Một Xóm Quê, Tuổi Thơ Ðã Mất đến với người đọc như một bảo đảm văn tài của tác giả Võ Phiến. Nhìn chung, qua các truyện ngắn này, Võ Phiến chứng tỏ tài quan sát và phân tích tâm lý con người, tận cùng sâu thẳm của con người, tài xây dựng nhân vật vừa điển hình vừa đặc thù. Các nhân vật sống động với bề mặt diện mạo cử chỉ và bề sâu tâm tình súc tích. Họ là những người dân quê, là những ông phó lý, chủ tịch Liên Việt, những quân nhân hay ông tướng Hùng Sơn hoang đường…”
Ðó cũng là thời gian giới văn nghệ sĩ miền Bắc di cư vào Nam, hiện diện một cách lấn lướt, ồn ào ở hầu hết mọi sinh hoạt VHNT: Từ báo chí tới thơ, văn, âm nhạc, phát thanh, hội họa, kịch nghệ…
Do đấy, tôi không biết vì lý do tế nhị, hay bắt nguồn từ một nguyên nhân nào khác, một số nhà văn có ảnh hưởng lớn thời đó, như Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Vũ Khắc Khoan, Trần Phong Giao… đã đồng tình chọn nhà văn Võ Phiến, như một tài năng văn xuôi, đại diện cho những cây bút miền Trung. Và, nhà văn Bình Nguyên Lộc là ngọn cờ đầu của văn xuôi miền Nam…
Sinh thời, cố thi sĩ Nguyên Sa cũng biểu đồng tình với chọn lựa vừa kể, khi ông nhấn mạnh, đó là chọn lựa mang tính “quân bình ba miền đất nước.” Hoặc dí dỏm hơn khi ông dùng cụm từ “nhu cầu cân bằng sinh thái.”
Theo tôi thì, nhà văn Võ Phiến không phải là người tạo được văn phong (style) riêng, mới như Mai Thảo. Khi Mai Thảo là người khởi đầu cách biến những động tự, tính tự, trạng tự, giới tự, thậm chí liên tự… thành danh từ, làm chủ từ cho một mệnh đề.
Thí dụ, ngay từ truyện ngắn đầu tay, tựa đề “Ðêm Giã Từ Hà Nội,” viết năm 1954, phổ biến năm 1955, nhà văn Mai Thảo đã ra khỏi truyện ông bằng câu:
“…Bóng Phượng, bóng Thu nhạt nhòa dần. Rồi mất hẳn.”
Về phương diện ngữ pháp, “rồi” là trạng tự. Trước ông, chưa một nhà văn nào dùng trạng tự làm chủ từ cho một câu văn.
Cũng ở truyện ngắn vừa kể, Mai Thảo đã vào truyện bằng hai mệnh đề độc lập mang tính ẩn dụ khá dữ dội là:
“Phượng nhìn xuống vực thẳm.
“Hà Nội dưới ấy.”
Lại nữa, với trích đoạn sau đây từ truyện ngắn “Những Tấm Hình Của Chị Thời,” Mai Thảo còn đi xa hơn trong nỗ lực tạo một văn phong riêng cho mình, khi câu văn của ông, đôi khi chỉ có vài ba chữ… Văn phong này trước ông, người ta chỉ thấy trong thi ca chứ ít thấy xuất hiện trong văn xuôi:
“Và bây giờ là một đường phố xa lạ, chẳng có bướm vàng chẳng có bạn cũ. Những chùm hoa phượng đỏ chói của tuổi nhỏ bông hoa đã nở. Ðã rụng. Một năm học mới bắt đầu. Một năm học phường phố đầy vẻ xa lạ thù nghịch. Thù nghịch ngay từ căn phố Nhị vừa đặt chân tới. Thù nghịch ngay từ ngôi nhà ở đó những ngày trọ học của Nhị đã bắt đầu với Nhị bằng cái cảm giác rùng rợn của một kiếp lưu đày.”
Cách viết của Mai Thảo, sau đấy được nhiều người áp dụng. Hiện nay, nó đã trở thành bình thường, quen thuộc đến độ không còn ai bận tâm, thắc mắc về người khởi xướng!
Theo tôi, nhà văn Võ Phiến cũng không tiêu biểu như Bình Nguyên Lộc, người thủy chung chủ tâm chọn ăn ở ngôn ngữ Nam bộ.
Võ Phiến không cho thấy chủ tâm văn chương hóa những ngôn ngữ đặc thù của miền Trung. Chưa kể, khi di chuyển vào Saigon, ngôn ngữ địa phương ít ỏi, trong văn chương Võ Phiến đã rơi, rụng, dần
Vẫn theo tôi, tác giả “Thác Ðổ Sau Hè” cũng không bận tâm nhiều về những vấn đề mang tính triết lý, như sự phi lý của kiếp người hoặc, những vấn nạn thuộc về siêu hình, như vấn đề phải chăng thượng đế đã chết? Ông cũng không dễ dãi buông mình trôi theo những trào lưu văn chương, có tính cách thời thượng như hiện sinh, hay phong trào văn chương mới…
Võ Phiến là nhà văn chọn đi tiếp con đường của văn chương tiền chiến, với căn bản là sự ghi nhận những dữ kiện xã hội nổi bật, và nhất là khai thác tâm lý nhân vật…
Tuy nhiên, với biệt tài quan sát, phân tích tới chi ly, tỉ mỉ mọi sự kiện, kể cả những sự kiện nhỏ bé nhất, một khi lọt đã vào tầm nhắm của Võ Phiến, thì chúng được ông cho chúng một chiếc áo khác. Một linh hồn khác… Phải chăng vì thế, ông đã được phong tặng danh hiệu: Người có khả năng “chẻ sợi tóc làm tư.”
Về điểm này, nhà văn Nguyễn Vy Khanh, khi viết về giai đoạn mà, sự nghiệp văn chương của Võ Phiến nở rộ nhất, ở thập niên 1960s, cũng ghi nhận nhau sau:
“…Võ Phiến, một cây viết mới và ‘khác’, ông chẻ sợi tóc làm tư, viết những chuyện như ‘cái chạy loanh quanh của một con kiến vàng trên cái tay đầy những sợi lông măng của nàng’, hay truyện một anh cán bộ bị ‘phục viên’ vì sốt rét ngã nước. Nằm một chỗ tình cờ anh nhìn thấy một hạt thóc vương vãi đã nẩy mầm và cái lá non nhỏ đã nhú đang bay phe phẩy. Trong truyện Băn Khoăn, con người kháng chiến cũ ngồi ôn lại ‘quãng đời đầy buồn thảm, gớm ghiếc’ vừa qua đó của mình. Nơi kháng chiến, những cán bộ ở rừng như Lung (MÐCN) đạo đức khả nghi, đời sống sinh lý quá phóng túng, bất thường. Thác Ðổ Sau Nhà là một kết cuộc tự nhiên của Hạnh bỏ chồng vì anh đã bị vong thân chỉ nghĩ đến lợi dụng! Ðêm Xuân Trăng Sáng là một tập truyện ngắn đúng nghĩa, súc tích về bề dày, về nghệ thuật viết của tác giả. Cái tinh tế từ ba tập truyện đã xuất bản nay thành cay chua tàn nhẫn hơn…”

Tâm bút Võ Phiến, qua ‘Bắt trẻ đồng xanh’
Với tôi, ngoài nỗ lực đẩy dòng văn chương tiền chiến đi tới cùng đường của nó ở hai khía cạnh: Rọi lớn và đi thấu tới phía khuất lấp của những sự kiện đặc thù, tiêu biểu cho sinh hoạt xã hội thuộc đời đại của mình, và đào sâu khía cạnh tâm lý nhân vật… thì, Võ Phiến là một trong vài nhà văn lớn của miền Nam, giai đoạn 1954-1975, khi ông quyết liệt nêu cao lý tưởng dùng văn chương, tranh đấu cho những quyền làm người căn bản, như quyền: Tự do tư tưởng. Tự do tín ngưỡng. Tự do yêu thương. Duy trì nền móng gia đình…Vốn là những quyền tự do căn bản mà chủ nghĩa Cộng Sản chẳng những phủ nhận mà, còn thẳng tay xóa bỏ.

Ðể có một cái nhìn mang tính phác họa toàn cảnh, sinh hoạt 20 năm văn chương miền Nam, trong giai đoạn vừa kể, tôi trộm nghĩ, ở thời điểm đó, sinh hoạt văn học miền Nam có thể tạm chia thành 3 khuynh hướng chính, sau đây:

– Khuynh hướng thứ nhất, là khuynh hướng nỗ lực đi tìm cái mới cho văn chương, đứng ngoài mọi biến động xã hội, lịch sử. Khuynh hướng này được nhiều nhà văn miền Nam thời đó, hưởng ứng, xiển dương. Như thể đó là nhiệm vụ hoặc vai trò cao cả mà nhà văn, sau giai đoạn văn chương tiền chiến, được “vinh hạnh” nhận lãnh.

-Khuynh hướng thứ hai, là khuynh hướng “nhập cuộc.” Khuynh hướng này chẻ thành hai nhánh.

– Nhánh “nhập cuộc” thứ nhất, chủ trương lên án chế độ miền Nam. Ðược gọi vắn tắt là “phản chiến”hay, “thiên tả.” Ðặc điểm của khuynh hướng này là tuy lên án chiến tranh, nhưng chỉ “kết tội” chế độ miền Nam mà, không nhắc nhở gì tới “tội trạng” quyết tâm “giải phóng” miền Nam do chính quyền Cộng Sản Hà Nội chủ trương.

Sự thực, theo tôi, khuynh hướng này giống như một phong trào, tạo thành bởi những văn nghệ sĩ tự cho mình là thành phần trí thức, hay bị mặc cảm thuộc thành phần…kém trí thức… Nên đã hăng say tự khoác cho mình chiếc áo “thiên tả,” hầu có được nhãn hiệu “trí thức cấp tiến”! Ðó là một món hàng tinh thần, mang tính “thời thượng” rất “ăn khách” thuở đó, ở nhiều nơi trên thế giới.

– Nhánh “nhập cuộc” thứ hai, minh thị quan điểm ca ngợi những hy sinh xương máu của người lính VNCH, trong nhiệm vụ bảo vệ tự do cho miền Nam.

Là nhà văn nặng lòng với tương lai đất nước, dân tộc, nhà văn Võ Phiến không rơi vào một trong ba xu hướng văn chương mang tính thời thượng đó. Ông tách khỏi những dòng cuốn bất cập kể trên.

Ông trở thành nhà văn gần như một mình, đi trên con đường lý tưởng của mình. Giá trị những tác phẩm Võ Phiến viết ra trong giai đoạn này, hoàn toàn đứng trên phương diện ý thức hệ, chứ không phải là những phản ứng thụ động hay, những tranh đấu có tính cách…ngoài da, xức thuốc đỏ!

Do đấy, tôi không chút ngạc nhiên, khi người Cộng Sản miền Bắc đã đánh giá Võ Phiến như một “biệt kích văn nghệ” nguy hiểm hàng đầu!

Mặc dù không phải là nhà văn duy nhất chủ trương tranh đấu (bằng ngòi bút) chống lại lý thuyết, đường lối của chế độ Cộng Sản, vì cùng thời với ông, cũng có một vài nhà văn tố cáo, lên án chủ trương giới hạn mọi quyền sống căn bản của con người. Nhưng hầu hết họ biểu thị quan điểm của mình bằng những ẩn dụ, đôi khi rất khó nhận ra với những người đọc ít chú ý.

Phần Võ Phiến, ngược lại. Với tôi, ông là một trong rất ít nhà văn, công khai quyết liệt chống trả chủ trương triệt tiêu quyền làm người của chủ nghĩa Cộng Sản. Ông cũng là người gần như duy nhất, minh danh tố cáo trước dư luận trong và ngoài nước những âm mưu “trồng người” tinh vi của chế độ Cộng Sản Hà Nội, qua tác phẩm “Bắt trẻ đồng xanh.”

“Bắt trẻ đồng xanh” của Võ Phiến, không phải là một truyện ngắn hay tùy bút. Nó là một tiểu luận. Phần riêng, tôi muốn gọi đó là Tâm Bút Võ Phiến. Bởi vì đó là một tiểu luận đầm đìa xót xa của một nhà văn, thấy trước bi kịch, phân tích từng chi tiết để dẫn tới cảnh báo nghiêm trọng về tương lai của cả một dân tộc.
Tôi nghĩ, đó là tâm-thái của một nhà văn trước những thảm trạng dân tộc, tổ quốc của ông ta.

Tâm Bút “Bắt trẻ đồng xanh” được Võ Phiến viết vào tháng 10 năm 1968. Ðó là thời gian thế giới bắt đầu bàn luận sôi nổi về một cuộc ngưng chiến tại Việt Nam. Ông dùng sự kiện thời sự này để làm một cuộc “rọi đèn” chói gắt nhất vào những mảng khuất lấp của những âm mưu, thủ đoạn của người Cộng Sản, trong quyết tâm thôn tính miền Nam. Mà, người đóng cùng một hai vai: Ðạo diễn và diễn viên, chính là ông Hồ Chí Minh, ngay tự những năm 1954, khi Hiệp Ðịnh Geneva, chia đôi Việt Nam, được khi kết:

Mở vào Tâm Bút của mình, Võ Phiến viết: “Trong bao nhiêu năm trời, chúng ta đã quen với nếp sống chiến tranh đến nỗi hòa bình làm chúng ta bối rối. Nhưng thiết tưởng ngưng chiến không đáng làm chúng ta bận tâm đến thế. Chiến tranh này sắp kết thúc, bằng cách này hay cách khác, hoặc sớm hơn một ít hoặc chậm hơn một ít. Chuyện phải đến rồi sẽ đến, nó xảy đến ra sao dường như cũng đã được trù liệu.”

Với bản lĩnh điềm tĩnh tới lạnh lùng (đôi khi mỉa mai, cay nghiệt) tác giả chỉ ra cho độc giả thấy những ngây thơ, thiển cận của giới lãnh đạo, hoặc những người làm chính trị ở miền Nam, nói riêng, phe tự do nói chung, tác giả viết tiếp: “Cái đáng bận tâm là những điều tiếp theo cuộc ngưng chiến ấy.

– Thì các vị lãnh đạo của chúng ta đã tiên liệu rồi: đấu tranh chính trị chứ gì? kinh tế hậu chiến chứ gì?

Ðấu tranh chính trị, nó hiển nhiên quá, nó sờ sờ ra đấy, tưởng như rờ mó được. Nói rằng trong giai đoạn tới ta với Cộng Sản phải đấu tranh chính trị với nhau, nói thế gần như không phải là tiên liệu gì ráo. Ðó là đối phó. Chuyện ấy đến ngay trước mắt rồi, ta buộc lòng phải đối phó tức khắc, thế thôi.

Nhưng nói thế còn là khá. Hầu hết mọi người chỉ chăm vào những cái gần hơn nữa: hàng mấy trăm ký giả mỗi tuần bu đến phòng họp báo của các phái đoàn Hoa Kỳ và Bắc Việt để ghi lấy dăm ba câu tuyên bố loanh quanh, các bình luận gia khét tiếng của báo này báo kia, đài này đài nọ bóp trán suy đoán xem lúc nào thì ngưng oanh tạc dưới vĩ tuyến 19 v.v… Thiên hạ theo dõi ý kiến của họ…”

Trong khi đó, đâu là đường lối hay chiến lược của người Cộng Sản? Trả lời câu hỏi quan trọng này, tác giả “Bắt trẻ đồng xanh” cảnh giác:

Trong lúc ấy nhóm lãnh đạo ở Hà Nội lặng lẽ lo liệu công việc mai sau: tức một cuộc chiến tranh khác. Một cuộc chiến tranh quân sự hẳn hòi. Và họ tiến hành thực hiện chuẩn bị, ngoài sự chú ý của dư luận: các bình luận gia có tiếng, khét hay không khét, gần như không mảy may quan tâm đến chuyện ấy.

Thế mà đó mới là chuyện đáng quan tâm. Thiết tưởng là chuyện đáng quan tâm hơn cả vào lúc này. Bởi vì nếu ta mù tịt về ý định của đối phương trong tương lai thì trong cuộc đối thoại thương thuyết với họ hiện thời ta làm sao biết đặt ra những điều kiện cần thiết?

Cuộc bắn giết sắp tới giữa miền Nam và miền Bắc đã được Cộng Sản xếp đặt từ lúc này, cũng như cuộc bắn giết thê thảm mười năm qua được họ xếp đặt từ trước tháng 7, 1954, trước ngày đình chiến theo Hiệp Ðịnh Genève…”


Ý thức hệ và tính nhân bản trong đời văn Võ Phiến

Khởi đi từ một sự kiện thời sự nóng bỏng, với một số ghi nhận vắn tắt, tác giả “Bắt trẻ đồng xanh” đã phác họa được toàn cảnh sự khác biệt mang tính quyết định sự tồn vong của hai miền Nam/Bắc.

Sau đó, ông mới đi ngược dòng lịch sử, một cách chi tiết hơn, vạch trần những âm mưu thâm hiểm của nhà nước Cộng Sản Hà Nội, ngay khi Hiệp Ðịnh Genève còn chưa ráo mực.

Trong những phân tích sâu sắc và rất tâm lý của nhà văn Võ Phiến thuở đó, có một chi tiết dường như chính quyền quốc gia không mấy quan tâm, hay chưa từng lên tiếng đề cao cảnh giác(?) Ðó là sự kiện những đứa trẻ được sinh ra bởi những “đám cưới cấp tốc” giữa những cán bộ tập kết ra Bắc và, những cô dâu ở lại miền Nam. Lớp trẻ này mai kia, khi trưởng thành, sẽ là một “đạo quân” lớn, làm nòng cốt cho những trận chiến khác. Những trận chiến sau Hiệp Ðịnh Genève …
Ở chiến dịch “Bắt trẻ đồng xanh” lần thứ nhất này, Võ Phiến viết:
“…Cuộc chiến này xuất hiện ngay từ những cuộc liên hoan chia tay giữa kẻ ở người đi trong thời hạn 300 ngày tập kết, những cuộc liên hoan có hát có múa, có bánh trái tiệc tùng… Nó xuất hiện ngay từ những đám cưới vội vã sau ngày đình chiến, những đám cưới lắm khi tổ chức tập thể, do trưởng cơ quan, trưởng đơn vị chủ tọa. Nạn nhân đầu tiên của cuộc chiến này không phải là những kẻ ngã gục vào 1958, 1959, mà là những cô gái tức khắc biến thành góa bụa từ 1954.

“Dân chúng miền Nam ai nấy đều biết những bận rộn tới tấp, những công việc bề bộn ngổn ngang mà nhà cầm quyền Cộng Sản hồi ấy phải làm cho kịp trước khi rút ra Bắc. Trong hoàn cảnh rộn ràng bấy giờ, nếu không vì lý do quan trọng, chắc chắc đảng và nhà nước Cộng Sản hồi ấy không đến nỗi quá sốt sắng lo cưới vợ cho cán binh như thế. Chắc chắn. Dù tìm trong bất cứ thời kỳ lịch sử nào của bất cứ dân tộc nào, cũng hiếm thấy một trường hợp chính phủ lo vợ cho quan binh túi bụi đến chừng ấy…”

Tới đây, hẳn bạn đọc đã liên tưởng ngay tới những đứa con được sinh ra bởi hằng ngàn phụ nữ thôn quê miền Nam, khi họ vô tình trở thành “con tin” hay “quân cờ” trong tay chế độ Cộng Sản miền Bắc; vì những ràng buộc tình cảm mặc nhiên giữa họ và những người chồng, cha của những đứa con, bao năm tháng không gặp mặt.

Ở đoạn văn trước đó, tác giả đã phân tích sâu sắc tình cảnh éo le đó, như sau:

“…Ngay từ đầu, tình cảm của những người này đã hướng về Bắc, theo bóng kẻ thân yêu. Thái độ và hoàn cảnh éo le của họ khiến nhà chức trách địa phương lo ngại, đề phòng. Do đó, họ thành một khối người dần dần sống cách biệt, nếu không là đối lập với chính quyền miền Nam. Một vài trường hợp đối xử vụng về bị khai thác, một vài sự hiểu lầm bị xuyên tạc: thế là mâu thuẫn giữa hai bên trở thành trầm trọng. Rồi một ngày kia, chuyện được tính trước sẽ xảy ra. Xin thử tưởng tượng: gia đình có đứa con hay người chồng ra Bắc năm 1954, hai năm sau, một đêm nào đó, có kẻ lạ mặt lẻn vào nhà, lén lút trao cho xem một lá thư và một tấm hình mới nhất của con hay của chồng từ Bắc mang vào, gia đình nọ làm sao nỡ tố giác kẻ lạ mặt, dù biết họ đang gây loạn.

Ðã không tố giác được, tất phải che giấu, nuôi dưỡng mối liên lạc. Từ việc này đến việc khác, gia đình nọ dần dần đi sâu vào sự cộng tác với tổ chức bí mật của đối phương, chịu mệnh lệnh của họ, rốt cuộc gia nhập hẳn vào hàng ngũ của họ…”

Giai đoạn hai, chiến dịch “Bắt trẻ đồng xanh” được Võ Phiến ghi nhận một cách chua chát rằng:

“…Cũng như hiện nay, trong giai đoạn ác liệt sau cùng của chiến cuộc tại miền Nam này, nếu không vì lý do quan trọng, đảng và nhà nước Cộng Sản nhất định không bao giờ khổ công gom góp thiếu nhi ở đây đưa ra Bắc, trải qua bao nhiêu gian nan khó nhọc, trong những điều kiện di chuyển nguy hiểm đến nỗi cả các binh sĩ khỏe mạnh của họ cũng phải hao mòn suy kiệt dọc đường.

“Ðưa thiếu nhi miền Nam ra Bắc, không phải Cộng Sản họ nhằm làm nhẹ một gánh nặng nuôi dưỡng, giúp các ông tổng trưởng kinh tế hoặc xã hội của chúng ta. Mọi người đều rõ, tại Bắc Việt và Trung Cộng, người ta tiết giảm sinh sản rất gắt gao: họ hạn chế hôn nhân, hạn chế luyến ái.

“Ðưa thiếu nhi miền Nam ra Bắc, cũng không phải Cộng Sản họ nhằm giúp ông tổng trưởng Giáo dục của chúng ta một tay để giải quyết nạn thiếu trường ở trong này/

Trong giới quan sát nhiều kẻ bảo rằng Bắc Việt kiệt quệ rồi, không đủ sức kéo dài chiến tranh nữa, họ bối rối lắm, luống cuống lắm. Dù không tin vào nhận định ấy, ít ra cũng phải chịu rằng lúc này họ bận trăm công nghìn việc, nếu chuyện bắt trẻ miền Nam không có một tầm quan trọng đặc biệt thì họ không hơi đâu nghĩ đến. Ðàng này họ đang ra sức thực hiện một kế hoạch bắt trẻ qui mô trên một phạm vi hết sức rộng lớn: đồng loạt, người ta phát giác ra trẻ em bị bắt ở khắp nơi trên toàn quốc Việt Nam Cộng Hòa, từ Quảng Trị, Thừa Thiên, Pleiku, Kontum, đến Mỹ Tho, Cà Mau, người ta gặp những toán trẻ em chuyển ra Bắc Việt bằng phi cơ từ Cam-bốt, hoặc bị dẫn đi lũ lượt trên đường mòn Hồ Chí Minh, nghĩa là bằng mọi phương tiện, một cách gấp gáp. “Họ bổ sung quân số đó chăng? – Không đâu. Trẻ bị bắt có hạng mới tám chín tuổi. Trong những trường hợp khẩn cấp, họ có thể tạm sử dụng một số trẻ con bắt được ngay tại địa phương; chứ thành lập những đơn vị con nít như thế để dùng ngay vào chiến cuộc này là chuyện điên rồ. Không phải bổ sung quân số đưa vào chiến cuộc đang kết thúc đâu, mà là họ đang tổ chức chiến cuộc mai sau đấy…”

Với tâm lượng của một nhà văn đau đáu xót xa trước thảm họa của tuổi thơ miền Nam, trước khi ra khỏi những trang tâm bút của mình, Võ Phiến viết:

“…Hỡi các em bé của đồng bằng Nam Việt xanh ngát bị bắt đưa đi, từng hàng từng lớp nối nhau dìu nhau ra núi rừng Việt Bắc! Riêng về phần mình, các em đã chịu côi cút ngay từ lúc này; còn đất nước thì sẽ vì những chuyến ra đi của các em mà lâm vào cảnh đau thương bất tận. Tai họa hiện xảy đến cho các em cũng là tai họa về sau cho xứ sở. Ðã sáu tháng qua rồi. Dù người ta có thôi dài cổ ngóng về Ba-lê, để nghĩ cách cứu các em, thì cũng đã muộn.

“Nhưng đâu có ai chịu thôi ngóng chờ? Và trong không khí thấp thỏm chờ đợi hòa bình, ngày ngày báo chí chỉ những rập rình từng thoáng tin ngưng oanh tạc, tôi hướng về các em những ý nghĩ vô cùng buồn thảm, đen tối.”

Tôi nghĩ, chỉ với một tâm bút này thôi, chưa kể bao nhiều tác phẩm giá trị khác, nhà văn Võ Phiến là ngọn cờ đầu của văn học miền Nam, về phương diện ý thức hệ và tính nhân bản.

Một cách công bình, ngay thẳng, dù chính kiến có khác, tôi nghĩ, khó ai có thể phủ nhận tấm lòng, tâm hồn nồng nàn tình yêu dân tộc, đất nước của ông. Ðó chính là điểm lớn của cõi văn xuôi Võ Phiến vậy.

DU TỬ LÊ
(Garden Grove, tháng 9, 2014