Giữa Hai Miền Viễn Xứ 3

 

 

Chương ngón trỏ phù vân

Mang VẾT THƯƠNG trở về
Hay mây khói sơn khê ?        

   Việt đã tạm xếp bút nghiêng, giã từ ngôi trường Văn Khoa yêu mến, giã từ ngôi nhà ở Làng hoa thân thương, giã từ bạn bè, giã từ người yêu dấu để gia nhập binh nghiệp. Ô! không, không thể là binh nghiệp, Việt chưa bao giờ muốn đi theo hết con đường này, chỉ là tạm thời khi cần tới “binh” mà thôi, một khi đã bình yên anh sẽ trở lại con đường với ánh sáng, đó mới là “nghiệp”, Việt mãi đinh ninh như vậy.

Nơi đầu tiên trong cuộc hành trình bất đắc dĩ, Việt đặt chân đến là Dục Mỹ – Trung tâm huấn luyện Biệt động quân.

Một tuần đầu, Việt muốn đổ bịnh, muốn phát sốt, ngày Chúa Nhựt cuối tuần anh nằm dính chặt trên giường, ngủ li bì gần như mê man. Hẳn nhiên sẽ xảy ra điều này cho những tân binh “mài mực”, một sự thay đổi đột ngột quá thể, từ một anh chàng cầm bút nay phải suốt ngày giang mình giữa trời, giữa thao trường rất ư là xa lạ. Hơn nữa còn là sự khác biệt quá thể từ vùng đất tưởng chừng bình thường như mọi nơi, thời tiết là sự khác biệt qua thể. Thao trường được ví như “lò luyện thép” một mặt cho thấy sẽ đào luyện ra những chiến sĩ can trường, dũng mãnh, một mặt còn cho nghĩa bóng rằng nơi này là một chảo lửa, nắng nóng khủng khiếp và rất hanh từ những cơn gió Lào, nhiệt kế có khi chạy lên tới 40 độ C. Trái ngược với ban ngày, ban đêm thì lạnh buốt kéo về.

Tuần thứ hai Việt muốn đổ gục, mệt mỏi càng thấm hơn mà anh ngỡ rằng sẽ quen từ từ.

Những buổi sáng, Việt không thức dậy nổi, thân thể cứ bất động, Việt muốn nằm yên ngủ mãi mãi, không cần thức dậy nữa. Chỉ có các bạn bè đỡ dậy, đúng hơn là lôi kéo, thúc vào người anh mới tỉnh được.

Những lúc được ngồi nghỉ, tựa người bên những bao cát thường được chồng lên nhau để làm lô cốt dã chiến, Việt cũng không nhấc người lên nổi khi phải trở lại tập luyện.

Những lúc như thế này, ý nghĩ trốn đi, đào thoát khỏi “chảo lửa” chập chờn xuất hiện, anh muốn thực hiện nó lắm, sẵn sàng lên kế hoạch cho cuộc đào thoát, may sao sự sỉ nhục cũng vừa lúc ùa tới, sỉ nhục thức tỉnh bằng suy nghĩ sẽ là lừa phỉnh, bội bạc mà ngày ra đi Việt rất dứt khoát, dứt khoát với gia đình, với bạn bè và với người yêu. Nhớ tới người yêu, trong cái nắng gay gắt, Việt tưởng tượng, “Nắng Dục Mỹ anh đi mà chợt mát, bởi vì em mặt áo tím Gia Long…”.  Việt thầm cảm ơn thi sĩ Nguyên Sa đã sáng tác bài thơ và nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đã phổ nhạc để có bài Áo Lụa Hà Đông, để anh xin thay đổi lời, để anh có động lực mà đứng lên… Việt cũng thầm so sánh vui vui, nắng Sài Gòn không là gì cả so với nơi đây, áo lụa Hà Đông cũng chẳng là gì so với áo tím Gia Long của anh. Một sự so sánh thiên vị quá đỗi, nhưng chắc chắn không ai bắt lỗi, sự thông cảm là một món quà tưởng thưởng ngay cả đối với những người khó tánh nhứt.

Tuần thứ ba, ta sẽ không đào thoát, nhưng sẽ gục ngã, sẽ im lìm nằm mãi và im lìm luôn hơi thở, Việt nghĩ vậy khi tối thứ Bảy tuần thứ hai anh đã gắn chặt với cái giường mà gần như không nhúc nhích.

Đó là anh nghĩ mà thôi. Anh không nhúc nhích? Sai bét nhè. Anh cựa quậy hung tợn mà chẳng biết, cựa quậy có khi muốn lọt xuống khỏi giường, thân thể gần một nửa không còn trên giường, bạn bè anh lại một phen khó khăn đẩy, khó khăn hất anh lên. Anh lăn lộn rên hừ hừ, hơi thở khào khào, thều thào mệt nhọc phát ra hừ hừ, và đôi khi anh hát, hát dĩ nhiên nghe không rõ, đó là bài “Áo tím Gia Long”. Việt lăn lộn, cựa quậy một đêm, sang một ngày, cho tới chiều Chúa Nhựt. Chiều Chúa Nhựt anh lù lù ngồi dậy, ngồi dậy khá dễ dàng, khá thoải mái. Bắt đầu tuần thứ ba thì mệt mỏi tan dần, cơ thể quen dần trong khi cường độ tập luyện cũng tăng dần. Vậy là Việt chắc chắn mình sẽ trụ lại được nơi này, sẽ không từ bỏ như một vài người đã thực sự ngã gục, đã quá ngưỡng chịu đựng phải rời đi dù không muốn chút nào.

Giữa tuần thứ tư Việt gần như trở lại bình thường. Nói gần như là bởi vẫn còn có mệt mỏi chứ, nhưng cơn mệt sẽ nhanh chóng qua mau lẹ, không thấm và nằm yên trong cơ thể. Anh bắt đầu cảm nhận vùng đất mới này. Cảm nhận những điểm độc đáo riêng biệt, những điểm hay ho chứ đâu chỉ khác biệt thời tiết đến khó chịu.

Và điều gây ấn tượng sâu đậm trong Việt là bầu trời đêm. Vẫn tựa người trên những dãy bao cát ban ngày tỏa nhiệt góp sức làm chảy mồ hôi, ban đêm thì se se lạnh, Việt dòm được bầu trời trong vắt, không một chút gợn gì dù nhỏ nhoi nằm trong bầu trời này, bầu trời trong cho tầm nhìn xa thiệt là xa.

Trên biển, tầm nhìn trên mưới cây số là bầu trời đẹp thì ở đây có lẽ trên cả trăm cây số, Việt không nhớ được khoảng cách của những ánh sao đến trái đất, anh nhớ mang máng áng chừng hơn như vậy. Ở đây anh thấy rõ cả sự nhấp nháy của những vì sao lung linh, đôi khi anh đếm được số lần nhấp nháy của vì sao mà anh tập trung nhìn. Nhưng khó mà tập trung lắm, bởi không phải một vài vì sao, có hàng triệu vì sao không đếm xuể, hàng triệu vì sao đua nhau tỏa sáng, có những chòm sao Việt có cảm giác đó là những tấm gương nhỏ ai đó chấm vào những chấm đen để giảm bớt đi sự phản chiếu, hoặc giả có thêm chút ít vì sao nữa thôi thì đây là một tấm gương hình vòm khổng lồ chứ không phải là bầu trời. Việt tựa người khá lâu đến nỗi bao cát ấm lên nhưng chẳng thấy buồn ngủ, đôi mắt anh len lõi giữa những “con hẻm” chằng chịt trên bầu trời, ừ đó, giữa các vì sao chỉ là những con hẻm như những con hẻm ở phố xá đông đúc của Sài Gòn, anh len lõi để tìm những vì sao lạ mà từ trước tới giờ chỉ nghe nói tới trong sách vở.

Rồi Việt bắt gặp không phải một mà là một cặp sao long lanh chứ không phải là lung linh, sao chớp chớp liên hồi, hai vì sao này chắc chắn có sự sống vì trong sao có nước, ở đâu có nước là ở đó có sự sống mà, và hơn nữa sẽ là sự sống động bởi sao tràn đầy nước. Một lúc sau thì hai ngôi sao biến mất, Việt lại lần trong các ngõ hẻm để đi tìm, bây giờ thì anh đã xóa khoảng cách tầm nhìn, bầu trời không gần như tay với của bầu trời vùng Cao Nguyên đất đỏ, nhón chân hái được sao trời thì anh đã bay lên, bay lên hòa trong nó để chơi trò chơi trốn tìm, hai vì sao ẩn ẩn hiện là “ai trồng khoai” đất này nữa mà không phải là đôi mắt cô nàng Nụ Tím Gia Long.

Với Việt, bầu trời này chính là biểu tượng nơi đây. Và anh lại ước ao, Việt chưa bao giờ ngưng khao khát ước ao, anh ước ao cả đất nước có bầu trời biều tượng, rồi rộng ra hơn nữa là toàn cầu, một bầu trời bình yên, lấp lánh.

Sáng Chúa Nhựt, Việt dắt con chiến mã ra thì một anh bạn hỏi:

“Việt có về thị trấn hông, cho mình quá giang với? mình về thăm người bà con.”

Việt đáp lời:

“À, hông, mình đi…” – Việt tần ngần chút rồi tiếp: “A, nhưng cần về dưới thì mình chở đi.”

Anh bạn lắc đầu:

“Đâu dám làm phiền quá vậy. Để mình tự đón xe thôi.”

Việt phẩy tay:

“Phiền phức gì chứ. Đây xuống dưới có bao xa, chừng mười lăm cây số chứ mấy, chạy cái vèo là tới. Vả lại mình cũng chỉ đi dạo mà thời gian còn cả ngày. Ra mình chở đi, mau lên, không gì dượng gì hết.”

Anh bạn cười xòa bước ra lên xe để Việt chở đi. Chạy một đoạn, anh bạn hỏi:

“Việt định đi dạo ở đâu, quanh quanh các xã hả?”

Việt trả lời:

“À hông, mình đi ngược hướng này, chạy lên trên đèo Phượng Hoàng á, xem trên đó ra sao? Minh không dám rủ ai hết, sợ cười mình khùng điên cán cuốc.” – Anh cười hi hi. Lúc ngắm trời đêm, Việt không nhón hái sao được như ở Đà Lạt hay Pleicu, anh nghĩ đứng trên ngọn núi phía trên gần đây có lẽ được thì sực nhớ trên đó có con đèo Phượng Hoàng. Bữa nay anh muốn du hí tới nó.

Anh bạn cười:

“Đúng là khùng thiệt. Ui, giỡn chơi thôi nghen, chỉ là khác người một chút. Bữa nào cho mình theo khùng điên một bữa với.”

Việt nhún vai:

“Gì thì được chứ đừng khùng khùng theo.”

Đôi bạn chuyện trò thiệt vui cho tới nhà người bà con của anh bạn ở thị trấn. Việt quay đầu xe, nói với lại khi anh bạn nhắc cẩn thận vì trên đèo hoang vắng lắm:

“Cảm ơn nhé! Chiều mình xuống đón, nhơn tiện uống dùm ly cà phê Ninh Hòa xem ra sao luôn hén.”

Việt chạy tà tà, ngắm nghía làng quê với nhà cửa khá thưa thớt hai bên đường, chừng hai mươi phút sau thì anh trở lại Trung tâm huấn luyện, tiếp tục hạy qua luôn, anh chạy chừng vài cây số nữa thì hết đường bằng, đường bắt đầu lên dốc, chân núi khá cao xuất hiện, rồi dốc ngày một cao hơn và đường ngày càng quanh co, uốn qua lượn lại trông rất đẹp mắt.

Việt ngừng lại ở lưng chừng dốc. Từ dây dòm xuống phía dưới thấy  nguyên cả Trung tâm huấn luyện nằm trọn trong một thung lũng. À, không chỉ có “Lò luyện thép” mà còn các Trung tâm khác, Trung Tâm huấn luyện Lam Sơn, huấn luyện tân binh quân dịch *(* binh lính bắt buộc) và Hạ sĩ quan bộ binh, cùng với Trường Pháo binh nữa. Các Trung tâm vào ngày Chúa Nhựt không nhộn nhịp như thường ngày bởi vắng sự luyện tập của binh sĩ. Việt tưởng chừng như đây là khu dân cư yên ả. Nếu được là một khu dân cư thì quá đỗi tuyệt vời.

Một mình một ngựa Việt tiếp tục chạy lên nữa. Dĩ nhiên con đường Quốc lộ 21* (*nay là 26) chạy lên Ban Mê Thuộc này ngày càng dốc và càng khúc khuỷu. Và không khí càng trong lành. Một màu diệp lục đậm chiếm hầu hết các nơi bởi những cánh rừng nguyên sinh trên đồi núi. Chạy án chừng gần hai chục cây số tính từ Trung tâm của mình thì Việt lên tới đỉnh đèo. Anh tìm một chỗ khá bằng phẳng, rộng rãi với bãi cỏ mềm, một tảng đá lớn ven đường mà tựa người, thả hồn trong bầu không khí thoáng đãng, lạnh nhè nhẹ. Lâu thiệt là lâu mới có một vài người chạy xe Honda, và xe hơi chạy xuống lên. Những người trên xe thiệt là ngạc nhiên khi nhìn thấy Việt ở nơi này. Không ngạc nhiên sao được, ngạc nhiên như chú nai vàng ngơ ngác ấy chứ.

Việt thả hồn cho thoải mái chứ không nghĩ ngợi gì nhiều. Anh muốn tận hưởng từng khoảng khắc tuyệt vời này. Có chăng là Việt nghĩ tới những án thơ, anh sẽ làm những án thơ lãng mạn làm quà tặng cho Nụ Tím Gia Long khi mùa Xuân sắp sửa đến. Còn không bao lâu nữa, mười ngày nữa thôi là năm mới sẽ đến với mọi nhà.

Nghĩ tới điều này, Việt chợt nhớ ra phía dưới chưn đèo có con suối, không những một mà tới hai con suối chảy quanh, bao bọc lấy các Trung tâm huấn luyện, bao bọc lấy Dục Mỹ. Một con suối có một nhánh bắt nguồn là nước nóng được đặt tên suối Đá hay suối Trầu và một con suối với tên gọi suối Cầu Treo là con suối bắt nguồi từ núi Vọng Phu danh tiếng.

Ngồi chơi ở đây cũng khá lâu, hồn anh với không gian, với không khí nơi này khá hòa quyện. Tuy quyến luyến nhưng cũng đã gần tới trưa, Việt muốn xuống suối xem sao, may ra sẽ tìm được một sản vật nho nhỏ gì đó, một hòn đá đẹp, một nhành phong lan hay gì đó để đính kèm cùng bài thơ thì còn gì bằng. Anh đứng dậy quay đầu xe trở xuống.

Việt rón rén để nhẹ thử bàn chưn xuống con suối, suối mát rượi, có lẽ nhánh suối nước nóng ở khá xa phía trên không còn ảnh hưởng gì. Lội một lúc nữa thì suối lành lạnh chứ không chỉ là mát. Rồi Việt cảm nhận như bầu không khí xung quanh tỏa màu vàng vàng rất là mùa thu chứ không phải mùa đông, cũng không sắp vào mùa Xuân. Thấy khá lạ nên anh quan sát kỹ. Và xa xa, từ một bụi cây lý giải cho điều đó, bụi cây mang một màu vàng. Việt đi lại gần hơn, thì hóa ra đó là một cây mai nở bông sớm vàng rực. Cây sum xuê nhiều nhánh, gốc to phía bên dưới nên chẳng khác gì một lùm bụi. Mai vàng phương Nam là nét đặc trưng không gì sánh được nhưng không thấy ai gọi Xuân vàng, có lẽ Xuân Hồng thì may mắn hơn, và cũng có lẽ đã có thu vàng, Xuân tươi nhiều nụ nhiều màu nên nhường vàng cho thu. Việt nghĩ vẩn vơ một chút cho vui, anh dạo quanh bắt gặp thêm một số mai nở sớm nữa. Vậy là rừng nơi đây mai khá nhiều.

Việt dò tìm xem có cây nào chưa nở, anh sẽ cắt vài nhành đem về. Tìm không lâu Việt gặp một cây gốc rất bự, bự hơn bắp chưn anh, một cây rất là già, phải gọi là cội. Cội mai có nhiều nhánh ra ngay dưới gốc u nần rất đẹp và ra nụ xanh rất nhiều. Việt suy tính một hồi rồi rút con dao bấm ra, dao tuy nhỏ nhưng bén ngót, anh có thể cắt gọt, khía khịa lâu lâu một chút cũng sẽ đứt. Miệt mài hơn một tiếng đống hồ, Việt cắt được ba nhánh, một nhánh cao nhưng gốc không lớn anh sẽ vô chậu bằng cái thùng đạn rỗng anh vửa nghĩ ra để tại Thao trường, hai nhánh sẽ theo mình về phép. Dù nhà trồng mai khá nhiều nhưng mai rừng vẫn rất khác mai nhà, mai nhà hiếm có gốc u nần sần sùi cho hình thù đẹp mắt.

Việt về phép trước Tết được năm ngày.

Buổi sáng về tới nhà, chừng hai tiếng đồng hồ sau là anh đi tiếp. Nơi thứ hai Việt muốn ghé dĩ nhiên là ngôi trường của Nụ Tím Gia Long, nhưng lúc này thì hãy còn giờ học, Việt đành ghé lại quán cà phê. Ngôi trường của mình anh chạy ngang đầu tiên rồi.

Việt vận nguyên bộ quân phục, anh đội chiếc bê rê nâu* (* mũ nồi nâu) nhái thôi vì chưa nhận được chiếc chánh hiệu. Không phải vì Việt muốn làm dáng khoe khoang, lấy le với thiên hạ, dĩ nhiên có một chút hãnh diện nhưng cốt yếu anh muốn gặp lại chàng mắt kiếng để tỏ rằng mình không hèn nhát. Việt dựng xe, vài đứa trẻ ở gần chạy lăng xăng lại xung quanh như anh thuở bé, một đứa la lớn:

“A, ông Tây đen còn lang thang ở đây kìa tụi bây.”

Việt bật cười. Mới một tháng mà anh đã biến đổi màu da từ châu Á tới tận châu Phi. Một đứa nữa nói:

“Ông lính Tây mà cũng biết chơi mai nữa hén.”

Rồi một đứa chào:

“Hé lô (Hello).”

Mấy đứa nữa hùa theo hé lô, hé lô. Việt dựng xe xong, anh đưa tay chào lại:

“Chào các em.”

Mấy chú nhóc chưng hửng. Một chú cười hi hi:

“Ổng người Việt mình tụi bây ơi, Tây đâu mà Tây hả mầy.”

Mấy đứa cười theo. Chú nhóc nghĩ là Tây gãi đầu:

“Ông này bự tổ chảng, da đen thùi, tao tưởng Tây thiệt chớ.”

Việt ngoắc mấy đứa lại:

“Lại đây mấy em. Lại đây đi, anh hông có cắn đâu.”

Sau một hồi tần ngần thì mấy nhóc tiếng sát lại. Việt móc trong túi quần ra mấy thỏi socola phát cho mấy nhóc, anh tiếp:

“Mấy đứa chia nhau ăn chơi cho vui, và ngoan ngoãn nhé.”

Mấy chú nhóc ríu rít cảm ơn và dạ đều tăm. Việt nhớ những ngày nhỏ cũng thường được mấy ông lính Tây cho socola mỗi lần gặp. Cả đám nhóc lẫn ông Tây đều rất vui như anh cùng tụi nhỏ lúc này.

Việt bước vô quán. Vài người đã đứng tuổi vẫn dở nón ra chào, người không đội nón thì nghiêng mình, gật đầu, vài chàng thanh niên thì chào theo lối nhà binh. Việt cảm thấy lâng lâng người, những người lính thiệt là được kính trọng dù ở cấp bậc nào. Anh vui vẻ cuối người, gật đầu đáp trả lại hết và kèm cùng lời cảm ơn. Việt hơi tiếc một chút, quán không có mặt chàng mắt kiếng, có lẽ giờ này chàng ta đang “gạo” ráo riết trong lớp học.

Rồi Việt rời quán, xuất hiện trước cổng trường. Bất ngờ quá đỗi, Nụ Tím Gia Long đứng như trời trồng. Sau đó, cặp đôi lững thững bộ hành như ngày chàng ta lẽo đẽo theo sau. Không khí lúc này chưa Tết lắm nhưng với nhành mai ôm trước ngực, Nụ Tím Gia Long đã kéo Xuân về sớm hơn, còn chàng lính mang đến cho mọi người một bầu không khí được bảo vệ an bình.

Tiếng pháo nổ, tiếng pháo nổ giòn tan khắp thôn xóm, khắp phố phường những ngày giáp Tết. Lai rai hổm rày pháo đã nổ đì đùng, pháo nổ ở những nhà cúng Tổ thợ nghề, cúng ông Táo, cúng Tất Niên sớm, cúng rước Ông Bà sớm. Đêm Giao Thừa và sáng mùng Một thì ôi thôi, pháo nổ liên hồi, xác pháo rợp trời. Đêm Ba mươi, Việt cũng vận bộ quân phụ cùng Nụ Tím Gia Long cũng với tà áo dài tím thẫm dạo chợ bông Nguyên Huệ. Đôi trai tài gái sắc và hàng ngàn, hàng ngàn lượt người ăn bận đẹp với chợ hoa như tương tác với nhau, bên này làm cho bên kia rực rỡ lên, bên kia tôn vinh cho bên này thêm sắc thái. Tết, chỉ có Tết, không còn mấy nỗi lo gì khác, không còn mấy nỗi lo chiến tranh, chiến trận.

Và, tiếng pháo nổ đì đùng cũng là tiếng đưa tiễn Việt trở lại với thao trường sau mấy ngày Xuân nồng.

Đã bước sang đầu tháng Tư Dương lịch, tức đã hai tháng sau Tết Nguyên Đán. Một buổi sáng Chúa Nhựt, Việt chạy ra sân bay khá sớm, đón chiếc không vận C 133A to lớn hạ cánh chở kèm theo khá nhiều người đi thăm. Lần lượt đoàn người bước xuống hết, tuy nhiên, người mà Việt chờ đợi lại không thấy, anh thất vọng lắm lắm.

Ông sĩ quan xuống cuối cùng đi vào Trung tâm, Việt đưa tay ngang trán chào ông tuy lúc này anh bận đồ savin, thấy Việt và một vài người nữa đứng có vẻ thẩn thờ ông hỏi:

“Các cậu đón người thân phải không?”

Việt đáp:

“Dạ, thưa Thiếu tá.”

Thiếu tá cười:

“Phiền các cậu đợi chút nữa nhé. Còn chuyến sau, chuyến này đông quá, chở không hết.”

“Dạ, không phiền chi hết, thưa Thiếu tá.” – Việt quay sang nhóm cùng chờ: “Thì ra là vậy.” – Cà nhóm tươi vui trở lại.

Chừng một tiếng đồng hồ sau thì một chiếc trực thăng đáp tiếp. Nụ Tím Gia Long bước xuống thì cuối người chạy ào tới chỗ Việt, mái tóc mượt của cô nàng bay bay gần như xoay vòng trong gió nhưng không thấy rối chút nào. Cô nàng liếng thoắng:

“Em tưởng đến sớm chứ. Máy bay cất cánh trước cả chuyến kia thiệt lâu, nhưng phải ghé lại sân bay Căn tại Phan Thiết để làm việc gì đó. Anh đợi có lâu hông?”

Việt vuốt sửa lại mái tóc cô nàng:

“Lâu, lâu lắc hà. Đợi chờ hình bóng của em, mỗi giây mỗi phút mà như cả thế kỷ á.”

Nụ Tím Gia Long hứ dài:

“Thiệt hông đó. Hay nói gió như mấy ông văn chương.”

“Anh có văn chương đâu.”

“Anh thì có khác gì.”

Việt cười hì hì:

“Thôi ta đi ăn sáng đã cái nhé.”

“Anh đãi em món gì nè.”

“Anh sẽ đãi em món lạ nơi đây.”

“Em biết rồi. Nem nướng Ninh Hòa nổi tiếng chứ gì?”

“Ưm, Nem nướng thì ai cũng biết rồi. Chỉ để đem về làm quà thôi. Anh sẽ đãi món khác.”

Đưa nàng tới quán ăn. Việt gọi cho hai tô. Đó là hai tô… phở. Nụ Tím Gia Long dĩ nhiên tròn xoe đôi mắt nai. Thế rồi từ từ mới nhận ra điều lạ. Phở nơi này là phở heo chứ không phải phở bò như thường lệ ở các nơi, rau sống ăn kèm cũng rất lạ chứ không là những cọng húng quế, ngò gai, ngổ, thay vào đó là rau tựa như rau ăn mì Quảng trên xứ sở hoa anh đào, những vòng bắp chuối tròn tròn, bắp cải được xắt sợi mỏng, và vài lá rau thơm* (*húng lủi),… Nụ Tím vừa thưởng thức vừa gục gật:

“Đúng là lạ thiệt á anh, nhìn đã thấy lạ rồi, ăn thì càng lạ về mùi vị hén, ngon thiệt là ngon. Cảm ơn anh hen!”

Việt chở cô nàng đi… Hiển nhiên là đi chơi, nhưng đi đâu đây ta? Xuống thị trấn Ninh Hòa chắc? Không. Giống bé cái lầm như anh bạn của Việt, Việt chở cô nàng ngược hướng, lên đèo Phượng Hoàng.

Trên đường đi, Nụ Tím Gia Long cũng đoán:

“Mình đi suối Đá đó đa?”

Việt có đôi chút ngạc nhiên:

“Sao biết có suối Đá ở đây?”

“Ưm… em nghe ngóng được thôi.”

“Nghe ngóng cũng khá ha. Nhưng bữa nay mình hông đi suồi Đá.”

“Đi ra ngoải sợ chứ gì?”

“Sợ gì?”

“Sợ gặp người ta ở điểm hẹn hò, đã từng hẹn hò ở đây chứ gì. Rồi người ta nghĩ bữa nay Chúa Nhựt cũng sẽ vậy. Ôi! sợ có nhiều người ta nữa đó chứ. Ở đây nổi tiếng có các cô gái đẹp mà.”

Việt không nín được cười, anh cười khục khục:

“Nghe ngóng không những khá mà phải nói là giỏi dữ. Đúng là ở đây tiếng tăm về các cô gái đẹp. Nhiều chàng lính chết mê chết mệt luôn. Nhưng anh thì cần gì, anh chỉ yêu mỗi sắc tím mà thôi.”

Nụ Tím Gia Long nghe mà sướng rên mé đìu hiu, nhưng cô nàng giả bộ giả lả:

“Thiệt hông đó. Hay lại nói gió nữa đây.”

“Thề giữa đèo Phượng Hoàng này luôn.”

“Í, í, thôi đi, thôi đi, khỏi thề gì hết, em biết rồi. À, vậy mình đi chơi đèo Phượng Hoàng hả anh.”

Việt gật đầu:

“Đèo đẹp lắm!”

Đến đỉnh đèo, tiếp tục ở chỗ thoáng đãng Việt hay ngồi để ngắm toàn cảnh. Rồi Việt đưa cô nàng đến một chỗ mà anh mới phát hiện phía dưới đèo một chút và men men phía sườn đồi một chút.

Đến nơi, rải rát đây đó có những cây sim, mùa sim bắt đầu nở bông, lát đát vài bông hoa nở tím màu, thiệt là trùng hợp, tím rừng hòa lẫn tím Gia Long. Nhờ tím này mà một khoảng thời gian xa vắng Việt đỡ nhớ tím kia biết chừng nào, bởi nó cho thấy hình bóng cô nàng trước mặt.

Ở chỗ nào cũng lạ lẫm với cô nàng Nụ Tím Gia Long, chỗ nào cũng hút hồn cô nàng. Mùa sim nở rộ thì chắc chắn còn hút hồn nhiều nữa. Chọn một cội sim già, đôi trai gái trẻ ngồi thủ thỉ tâm tình. Và dĩ nhiên không thể thiếu một bông sim cài trên mái tóc óng mượt. Nụ Tím Gia Long mơ ước:

“Ước gì mình được ở nơi tuyệt vời này há anh.”

Việt gật đầu:

“Ừ. Những biết đâu được, có thể một lúc nào đó mình sẽ tới đây, sẽ cất ngôi nhà nhỏ bên cạnh gốc sim già này, sẽ trồng rau và nuôi một đàn cừu, một đàn dê, sẽ có một mảnh vườn đầy bông hoa mà ở  đó những đứa con nhỏ thân yêu thỏa thích chơi đùa, thỏa thích hưởng thụ bầu không khí trong lành, bình yên, thỏa thích ngắm sao trời về đêm.”

Việt tả lại bầu trời đêm làm cô nàng Nụ Tím Gia Long càng thích mê mệt. Nàng không thể thôi mơ ước:

“Ngôi nhà nhỏ trên sườn đồi nhỏ thôi, không cần trên thảo nguyên mênh mông, và chúng ta sẽ bình yên mãi mãi ở nơi tuyệt diệu này.”

Gốc sim già lay động, chứng nhân cho đôi lứa thủy chung. Và Việt hẹn trở lại, không phải là lần đem vật liệu để xây tổ ấm, sẽ sớm thôi, một tháng sau thôi, đó là ngày cuối anh ở thao trường, sau đó sẽ chánh thức trở thành người lính. Hẳn chắc chắn Nụ Tím Gia Long phải có mặt ở buổi lễ này.

 

***

 

Nhưng không có buổi lễ diễn ra, không bao giờ có, Việt không nhận được cái bê rê nâu chánh thức, không bao giờ.

Trước ngày tốt nghiệp một tuần, một tin chấn động được báo đến, chấn động như cơn địa chấn với mức báo động đỏ ở nơi chưa bao giờ có rung chấn dù nhỏ nhoi, quân đội Quốc gia đã thất thủ, từng vùng đất dần dần rơi vào tay quân Bắc Việt, và quân Bắc Việt hăng máu càng say máu tiến nhanh, tiến đã gần đến nơi này, sắp sửa nuốt trọn, nuốt chửng  miền Nam.

Nhận được tin, ai nấy đều bàng hoàng. Song, gạt bàng hoàng sang một bên, tất cả đều một lòng xin nhận súng nhận đạn để góp công sức cùng chống trả, chặn đứng đường tiến quân để không bị thôn tính. Rồi, một lần nữa lại nhận được lịnh mà thất thần, lịnh không chống trả, Trung  tâm sẽ giải tán và chuẩn bị đi tản.

Còn nỗi đau đớn nào hơn?

Cho tới lúc này thì với Việt, không có nỗi đau đớn nào lớn hơn nữa. Buồn rầu, thất vọng, anh xách xe ra đạp nổ máy chạy đi.

Anh chạy bất định, chạy trong vô thức, chay theo kiều của con ngựa quen đường cũ. Mọi hoạt động kể cả của người dân sở tại dường như chững hết lại, dường như thời gian không còn chạy nữa, không gian cũng chững lại thành không gian tĩnh. Việt anh đang băng băng chạy trong một mô hình mà điêu khắc gia mô tả các trạng thái hoạt động của con người, của cảnh vật bị dừng lại một cách gây ngạc nhiên, giống như người ta đang biều diễn thì cho ngừng các con rối.

Và rồi Việt rùng mình, với một bầu không gian lặng im như tờ thì càng làm lộ rõ tiếng đại liên nổ giòn. Anh rồ ga mạnh, cắm đầu chạy, chạy và chạy, lỗ tai anh khản đặc tiếng súng liên thanh đang càng lúc càng ré lên, tiếng súng chát chúa rượt đuổi ngay sau lưng mình. Càng lúc thì Việt càng lạnh gáy, anh ngoái nhìn lại phía sau, tiếng súng rất gần, gần sát bên tai nhưng tuyệt nhiên không thấy một bóng người, không thấy một họng súng nào cả. Ngay lúc đó thì mấy tiếng “quạt, quạt, oác oác” gì đó phát ra xen ngang, có thể là tiếng của con quạ, có thể là tiếng của con diều hâu, cũng có thể là tiếng của con kền kền chuyên rình mò ăn xác chết, Việt không rõ lắm là tiếng gì, ở đây anh chưa thấy kền kền bao giờ, nhưng những tiếng này đã đánh thức tâm trí Việt, làm gì có ai truy đuổi anh với đạn bay cheo chéo bên mang tai, đó là tiếng nổ cùa ngay chính chiếc xe của anh mà thôi.

Định thần được phần nào thì Việt cũng vừa chạy tới đỉnh đèo. Những con ngựa cũng quen thuộc với bến bãi. Anh dừng xe như mọi khi ở nơi này.

Đêm xuống. Bầu trời có đầy ánh sao hay không? hình như là có, có cả ánh trăng sáng tỏ hay một nửa vầng trăng sáng gì đó. Việt chẳng màng, chẳng thiết bầu trời đẹp hay là không, anh cũng chẳng thiết tới thời gian, chỉ thấy màn đêm thì biết nó là đêm. Bầu trời lúc này vô tác dụng với anh cũng như trong suy nghĩ của mình anh là một người vô dụng.

Phiến đá mọi lần là điểm tựa cho Việt thì nay lạnh lẽo, chẳng khác nào một khối băng vĩnh hằng. Thân thể của Việt cũng đâu có khác gì mấy, người anh ngồi đó gần như bất động và cứng đờ, xụi lơ. Anh lim dim anh nhắm mắt, anh nhắm mắt anh lim dim, anh ngước đầu lên bầu trời, vũ trụ đẹp đẽ ngày nào để anh thả hồn len lõi tìm ánh sáng, tìm con đường chân lý của ánh sáng thì nay đã biến thành một vòm hầm tối tăm, tối tăm bịt bùng bao phủ, anh cuối đầu, không có những hàng sim, không có gốc sim già, không có những dãy đồi tiếp nối những dãy đồi nhấp nhô với những bãi cỏ non xanh mướt, cũng chỉ có một màu đen chiếm hết mọi chỗ, chỉ có một con đường hầm tăm tối, ngày một tăm tối dẫn xuống vực sâu đen ngòm…

“Sự đau khổ tận cùng có thể dẫn đến một trong hai phản ứng trái ngược nhau: Một là nó làm cho người ta trở thành cay đắng, chua chát và thù hận với mọi người; hai là nó làm cho người ta trải đời, từ đó, độ lượng và nhạy cảm hơn trước những nỗi đau của người khác.” (Nhà thơ Phan Quỳnh Trâm)

Trạng thái thứ nhứt đã vận vào người Việt. Anh tức tối, còn hơn là tức tối, anh điên tiết lên, anh gồng mình hét lớn: “Hèn nhát, những kẻ hèn nhát.” – Đó là anh nói tới những người chỉ huy ở Trung tâm. Tại sao phải giải tán, tại sao phải bỏ chạy, tại sao không chống trả tới hơi thở cuối cùng? Tại sao cũng chính những người chỉ huy này, trong các bài tập, các bài giảng luôn luôn hò hét, luôn luôn ủy lạo để vực dậy tinh thần cho các tân binh thụ huấn? Có những lúc Việt té sấp mặt xuống vũng sình, người không nhúc nhích nổi, anh muốn nằm chết lịm luôn cho rồi, nhưng anh vẫn phải cố gượng người dậy để vượt qua. Và được chính những vị chỉ huy này khen ngợi: “Phải như thế chứ, phải đi đến cùng…” – Cớ sao bây giờ lại như vậy? Cớ sao bỏ mất lời thề : “Tổ quốc – Danh dự – Trách nhiệm.” – Cớ sao không hãy cứ chiến đấu, dù có chiến bại, dù có chết cũng phải chết một cách hiên ngang, một cách xứng đáng chứ.

Việt vùng đứng dậy, anh bặm môi muốn bật máu: “Ta sẽ bắn hết các ông, một lũ hèn nhát. Ta sẽ bắt các người cùng chiến đấu, ta sẽ bắn hết sạch những kẻ bỏ chạy”

Bầu máu nóng hừng hực như lửa chảy trong người Việt, chưa bao giờ tình cảnh này diễn ra, đây là lần đầu tiên trong đời anh không tự chủ được mình, không chờ suy xét mà hành động ngay, Việt nhào đến chiếc xe, nhảy ào lên vừa lấy chưn hất cho xe chạy vừa đạp máy và rồ ga hết cỡ…

Trở về tới Trung tâm, Trung tâm ngổn ngang như một bãi chiến trường, chỉ không có mùi khét của lửa cháy, của thuốc súng, và không một bóng người. Máu của Việt dịu xuống thì anh trở thành một chú bé ngơ ngác nhìn chim bay, một chú bé ngơ ngác lạc vào khu đất vừa bị địa chấn làm cho mọi thứ ngổng ngang mà không hiểu vì sao. Vừa chiều qua chỉ mới có thông báo chung chứ chưa có báo động khẩn cấp, vậy mà chưa hết một đêm, mọi người đã đi hết cả, không còn lại một ai dù bây giờ trời còn chưa ửng sáng.

Việt mệt mỏi lê bước về lán trại của mình. Vừa đi anh lại muốn quay đầu chạy đuổi theo để nã đạn vào những người chỉ huy, nã đạn vào những kẻ nào anh thấy sự hèn nhát, nhưng ngọn lửa máu đã không còn ngùn ngụt, người thì mệt mỏi rã rời nên Việt thả người cái ình, bệt người dựa vách trong lán.

Rồi Việt bật khóc ngon lành, khóc như một đứa con nít, một đứa con nít bị đem bỏ bơ vơ giữa chợ, giữa đường, anh khóc không kìm nén được, khóc như thể sự tổn thương là sự hồn nhiên. Có chuyện quái dị này nữa sao? Đã khóc mà hồn nhiên? Có chứ. Có lắm chứ. Có bật cười hồn nhiên vì một sự việc nào đó làm cho bật cười thì khóc cũng vậy thôi, một cách của trạng thái vô thức vậy, chẳng hạn đứa bé bật khóc huhu vì té đau rồi nó sẽ nín bặc ngay khi hết đau, nó ngay lập tức trở lại bình thường, thậm chí là cười ngay sau đó mà chẳng cần truy căn nguyên, chẳng cần nhớ sự việc vừa trải qua ra sao hay lưu trữ điều gì. Việt không có được điều này, cũng như không có sự hỏi han ân cần của nhiều người khi bắt gặp một đứa con nít đứng khóc bơ vơ, xung quanh anh chỉ là những đống ngổng ngang, anh không ngưng bặc được tiếng khóc, khóc bây giờ chuyển dạng thành rưng rức, rưng rức…

Khóc òa òa, rồi sau đó thôi ngay, để cho sự việc gây nên khóc bay theo một cơn gió, trôi theo một dòng nước đi mất tiêu thì sẽ rất dễ chịu, dễ trở lại bình thường như chưa từng có việc gì xả ra. Rưng rức thì không, rưng rức rất khó chịu. Rưng rức nó làm cho thân thể Việt cứ cách một khoảng thời gian ngắn lại rung hoặc giựt giựt, rung giựt nhẹ bên ngoài nhưng bên trong thì tựa hồ có một con dao được mài sắc lẹm, bén ngót cứa thành những vết thương lòng nhức nhói, nhức nhói tàn canh.

Lần đầu tiên Việt bị mang những vết thương lòng vượt giới hạn. Là người mẫn cảm và sự việc lại xảy ra lần đầu nên anh cảm thấy chắc chắn rằng không thể vượt qua được. Tâm hồn Việt chất chứa không phải là sự kiêu hãnh mà chất chứa nỗi niềm tự trọng, quá đỗi dễ tổn thương khi gặp phải biến cố.

Việt lắc đầu quầy quẩy rồi lầm bầm, tự hỏi và tự trả lời cũng với giọng rưng rức: “Không thể được, không thể nào chịu đựng nổi. Vậy thì phải làm sao? Làm sao thoát ra tình cảnh này? Thoát ra bằng cách nào ?… Ừ, thoát ra bằng một… viên đạn là gọn gẽ nhứt, là mau lẹ nhứt. Ừ, hãy chết quách đi cho rồi, gì gì đi chăng nữa cũng là một kẻ bại trận dù chưa một lần ra chiến trường, chưa hề bắn được một viên đạn gọi là chiến đấu. Trở về để làm gì khi trong người mang vết thương. Vết thương lòng nặng trĩu sẽ gặm nhấm tâm hồn như lũ dòi bọ chui rúc lúc nhúc gặm nhắm xác chết chứ chẳng thể khác được đâu…”

Việt lê bước xiêu vẹo đến kho Quân tiếp vụ. Đồ Quân tiếp liệu vương vãi khắp kho. Lục tìm một hồi thì anh cũng tìm được khẩu súng lục và hộp đạn. Việt run run mở hộp đạn, anh muốn sự vụ kết thúc càng nhanh càng tốt nên nạp đạn thiệt lẹ, nhưng càng muốn nhanh thì càng run, run lật bật làm viên đạn cứ trật lên trật xuống và có viên rơi rớt xuống đất. Việt cũng không nghĩ ngợi nhiều về sự lo sợ để đến nỗi phải run run, anh nghĩ nó nhẹ nhàng như sợi lông hồng, nhưng không hiểu sao lại xảy ra như vậy, có lẽ cũng là rơi vào trạng thái vô thức, hay là một trạng thái tiềm thức lo âu trong trí não bị đánh thức mà anh không làm chủ được. Việt nạp được vài viên cho khẩu rulo, anh muốn nạp cho đủ sáu viên, vẫn với dáng dấp xiêu vẹo, vừa bước đi vừa nạp đạn, anh va vào một vật gì đó làm vang lên tiếng rổn rảng, ngoái đầu dòm thì ra đó là những két la de* (bia, bia Quân tiếp vụ dành cho quân nhân, một loại với bia Con Cọp của hãng BGI) chất chồng ở đây. Chợt Việt nảy ra ý nghĩ rằng, có chết, cái chết của kẻ thua cuộc chăng nữa cũng cần phải có cái chết đẹp đẽ một chút, một cái chết lãng đãng một chút, anh hếch mép cười khảy, chết với một chút men trong người như người ta biểu diễn túy quyền trước khi giáp trận cho nó có một chút oai phong, bớt đi sầu thảm và biết đâu chừng linh hồn còn được là đà sương khói. Ý nghĩ này đến làm Việt nạp đạn dễ dàng. Đút khẩu súng vào đai lưng quần, Việt rút một chai la de bật nắp tu ừng ực, anh rút tiếp chai nữa đút vào túi quần bên, tay cầm thêm hai chai nữa đi ra khỏi kho. Trên đoạn đường đi anh với tay lấy mấy tờ tạp chí anh nghĩ sẽ có thơ trong đó, đọc một vài bài thơ và vài bài của mình nếu nhớ hết thì càng có cái chết đẹp đẽ. Và không đâu đẹp bằng nơi đỉnh đèo quen thuộc của anh để nằm xuống.

Việt tựa một hiệp khách giang hồ, anh cầm chai la de dốc ngược tu ừng ực, rồi đưa hai cánh tay dang ngang, bước tới bước lui như đảo qua đảo lại, đảo qua đảo lại thì một cánh tay co một cánh vẫn để thẳng và đổi tay cho nhau, đào bên này thì co bên kia, đầu cổ cũng nghiêng qua nghiêng lại theo, anh giống như đang hòa mình vào không gian, bay bay vào không gian, mà cũng giống người ngà ngà say, chưn nam đá chưn chiêu… Song, Việt ngừng lại, ngửa đầu lên trời đọc thơ. Anh rất khoái những bài thơ cùa thi sĩ Nguyễn Bắc Sơn, dĩ nhiên anh không thích tâm trạng buông xuôi vì ghét chiến tranh trong thơ của ông, nhưng có những điều rất hợp với tâm trạng anh lúc này:

Ta vốn hiền khô ta là lính cậu
Đi hành quân rượu đế vẫn mang theo
Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo
Xem cuộc chiến như tai trời ách nước

Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước
Vì căn phần ngươi vì xui khiến đó thôi
Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi
Suy nghĩ làm chi cho lao tâm khổ trí

Lũ chúng ta sống một đời vô vị
Nên chọn rừng sâu núi cả đánh nhau
Mượn trời đất làm nơi đốt hỏa châu
Những cột khói giả rừng thiêng uốn khúc
Mang bom đạn chơi trò chơi pháo tết
Và máu xương làm phân bón nơi rừng hoang.

                     (Chiến Tranh Việt Nam Và Tôi)

 

Đêm nằm ngủ võng trên đồi cát
Nghe súng rừng xa nổ cắc cù
Chợt thấy trong lòng mình bát ngát
Nỗi buồn sương khói của mùa thu

 

Mai ta đụng trận ta còn sống
Về ghé sông Mao phá phách chơi
Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui

 

Ngày vui đời lính vô cùng ngắn
Mặt trời thoắt đã ở phương Tây
Nếu ta lỡ chết vì say rượu
Linh hồn chắc sẽ thành mây bay

 

Linh hồn ta sẽ thành đom đóm
Vơ vấn trong rừng động Thái An
Miền Bắc sương mù giăng bốn quận
Che mưa giùm những đám xương tàn.

                (Mật Khu Lê Hồng Phong)

 

Trời bắt đầu ửng sáng. Đứng nơi này nhìn thấy được cảnh mặt trời lên, có thể là rất đẹp nữa, nhưng Việt không chờ đón nó, anh không nhìn về hướng đó, bầu trời hừng sáng, những tia sáng vô giá trị với anh vào lúc này. Việt cũng không nhìn về hướng Tây như lời trong bài thơ.

Và, có điều lạ lùng, có phải chăng cám cảnh của anh mà trời bỗng dưng có sương mù? Không biết nữa, không biết có phải vậy không nữa, nhưng sương mù xuất hiện ngay trước mặt Việt, sương mù là đà như mây khói giữa sơn khê.

Việt nhẹ nhàng đưa bàn tay lướt qua lại trong sương và thấy sao nó mong manh quá, sợ màn sương lơ lửng tan nhanh, tan biến mất liền tay như kiểu cách nó bất chợt xuất hiện,  anh liền đưa ngón tay trỏ lên quyết định tức thì, Việt muốn dòng máu cùa mình, linh hồn của mình hòa quyện trong nó, hòa quyện cùng với sơn khê trong cảnh này là tuyệt đẹp.

Lại có điều lạ lùng hơn, Việt không thấy ngón tay mình, thay vào đó, anh thấy mây khói kết lại thành hình hài, thành hình ngôi nhà của anh, gia đình anh, ngôi làng của anh, những ngôi trường của anh hằng yêu mến, và hơn hết là hình bóng của nàng Nụ Tím Gia Long trong tà áo dài phất phơ, uyển chuyển chẳng khác gì trong mơ…

Tự nãy giờ, tự trong tiềm thức bắt anh hướng nhìn về phương Nam mà anh không hề hay biết, nỗi buồn mụ mị trong anh làm anh quên bẵng tất cả.

Việt lại bị kéo ngồi xuống trong dáng phủ phục. Rưng rức lại kéo tới. Rưng rức dồn dập biến thành thổn thức. “Tội lỗi, ta thiệt là tội lỗi, ta chọn cách êm ái ra đi mà không thèm đoái hoài chi hết đến đấng sanh thành, đoài hoài đến ai hết cả…” – Việt liên tục thổn thức.

Cuồi cùng, dĩ nhiên, cũng với ngón tay trỏ, anh quyết định trở về dù mang trong lòng vết thương loang máu. Và làm bạn với thời gian phía trước, chờ đợi cho những quyết định tiếp theo, cũng hãy chưa có gì là muộn màng.

Lê Đắc Đồng Vọng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Advertisements

One thought on “Giữa Hai Miền Viễn Xứ 3

  1. lê ngọc duyên hằng nói:

    Giã từ trường học Văn Khoa
    Tạm biệt luôn cả làng Hoa quê mình!
    Bắt đầu vào nghiệp nhà binh
    Dục Mỹ thao trường luyện mình thành Thép
    ….Gan đồng để biết bắn giết
    Kẽ thù xâm lược phải triệt tận gốc.
    Tân binh phải chịu khổ cực.
    Bao cát giới tuyến từng lúc phòng thủ
    …..Kẽm gai cứa đau nhừ tử
    Máu chảy chuyện nhỏ tập thử chịu đựng…
    Đời lính luyện đầu cho cứng?
    Nhưng vẫn mềm lắm tâm hồn yêu thương.
    …..Tình với Nụ Tím Gia Long.
    Đêm nhìn bầu trời tưởng gương Khổng Lồ.
    Những Vì Sao đôi bơ vơ!
    Cách nhau không gần khổ sở gì đâu!?
    ….Diệu vơi chấm đen Vì Sao!
    Li ti chi chít niềm đau nỗi riêng!
    Mắt lính nhìn xuyên con hẻm..
    Buồn vào sự sống tối đen cuộc đời!
    …..Mắt lính quan sát không thôi!
    Đất nước bầu trời mỗi nơi lạ lùng?
    Cao nguyên đồng bằng núi rừng…
    Sông ngòi suối nước mỗi vùng lạ sao?
    ….Thám thính Phượng Hoàng đèo cao
    ”Khùng điên cán Cuốc”ào ào cười vang
    Quanh co dốc lượn đèo ngang
    Lưng chừng sườn núi lính tráng thấy vui..
    ….Trung tâm huấn luyện kia rồi!
    Thao trường Lam Sơn phía dưới ngàn xanh.
    Đầy lính bộ binh,pháo binh
    Ngày đêm rèn luyện cho thành anh hùng?
    …..Ban Mê Thuộc đậy miền vùng
    Có rừng nguyên sinh có nguồn Suối Lạ…
    Gọi Suối nước Nóng-Suối Đá
    Và suối Cầu Treo đi qua Hòn Vọng…
    ….Có bụi Sim tím đầy bông
    Có cội Mai rừng vàng hương sắc thắm
    Có tôi tân binh lãng mạn
    Đi lính mơ nghĩ về nàng Nụ Tím.
    ….Về phép tìm chàng Mắt Kiếng
    Để tỏ ta đây chiến binh kiêu hùng
    Chẳng hề nhát gan mềm nhũn!
    Thỏ Đế ngày nào áo còn thư sinh.
    …Đi bên Nụ Tím hãnh diện
    Phố Hoa Nguyễn Huệ rất tình Cầm Tay.
    Hết phép quân trường về ngay!
    Tiếp tục đời lính nếm trải chông gai
    ….Ninh Hòa nhớ món Phở ấy!
    Lạ miệng thịt bò thay heo mềm mại…
    Kỹ niệm với nàng nhớ mãi…
    Nụ Tím Gia Long tình ấy còn Hoài…
    ….Tân binh súng chưa bắn ai.
    Ngưng chiến rưng rức khóc ngày bơ vơ!
    Thao trường tanh banh tan vỡ
    Lính bạn đi hết mỗi có mình ta!
    …Rulô súng ống buồn bã!
    Sáu viên còn nguyên đủ cả trong nòng
    Muốn bắn một phát cho xong!
    Đời tàn tân binh chưa dụng đã vất!
    …Buồn quá Lade Con Cọp.
    Nốc một hơi sạch hỏa bốc đỉnh đầu
    Miệng thét cuồng nộ thảm sầu!
    Sương mù sơn khê chạy nhào vào rừng…
    …Mê sảng chỉ muốn tự vận!
    Nhưng kịp nghĩ lại bước chậm đôi chân
    Nghĩ ơn vay mượn Sinh Thành
    Chưa trả áo cơm quyên sinh vội vàng!
    ….Như thế ta đâu thành Nhân!?
    Hành động nông nổi vô ân với đời
    Phải trả còn nợ Làm Người.
    Công dân hữu ích xã hội cần ta?

Comment

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s