CƠN GIÓ MANG HỒN LỮNG THỮNG (TT)

ledachoanghuu

Hai tháng sau thử việc với củi chẻ và mài dũa lưỡi cưa, dao rựa nó được cho qua xẻ gỗ bìa, xẻ bốn mặt lóng gỗ tròn thành khối vuông. Cây đốn hạ xuống, chọn khúc thẳng và tương đối tròn đều nhau cưa ra từng lóng. Lóng ngắn nhứt phải hai thước tư, trên thì ba, bốn năm sáu và dài nhứt là tám thước. Hơn nữa khó có cách đưa về, với lại tám thước là đã dài, nhà làm tám thước là lớn lắm rồi, thả đòn tay, rui mè là đủ, trính suốt cũng vậy tám thước là cùng. Cây cưa ra từng lóng rồi canh búng mực bốn đường, sau đó đóng cọc xuống đất, neo con đĩa từ lóng gỗ vô cọc cây giữ lóng cây cho chặt, con đĩa làm bằng sắt gân đặc ruột cỡ phi mười hai, mười bốn, bẻ thành chữ u dài chừng bốn tất, hai thanh chữ u ngắn thôi, chừng năm phân mài nhọn sắc bén để đóng được vô cây cứng, xong là theo đường mực mà cưa ra. Có bác Hai Liên uống rượu ác chiến mà làm cũng ác chiến, thế thần đưa lên xe hay qua dốc là số một, bác không cưa được, bác chỉ đẽo bỏ phách bìa bằng rìu và làm một mình, bởi còn lại thì không ai đẽo giỏi.
Nó mon men lại chỗ bác Hai Liên:
“Bữa nào bác Hai chỉ con đẽo với”.
Bác Hai lắc đầu:
“Thôi, bây học cái này làm chi, đẽo bây giờ xưa lắm rồi, cưa cho nó tiện”.
Nó chỉ mấy vết sẹo dài trên chân bác Hai:
“Bác hai chinh chiến nghề này chắc lâu lắm rồi?”.
Bác Hai cười:
“Ờ, tao làm mấy chục năm rồi hồi cũng cỡ bây bây giờ, mấy sẹo lớn nhỏ là từ rừng ra hông đó, cái dài này là lưỡi rìu nè, hôm đó sơ ý quất một cái bị trợt, may là chưa đứt ống quyển, mất mấy tháng mới lành”.
Nó đã biết hít hà, phả khói thuốc lá. Mọi người chia nhau từng điếu thuốc Hoa Mai, Đà Lạt, hết thì cùng bóc lăn xe, lâu lâu được điếu thuốc thơm có đầu lọc Samit hay Scott. Đội quân làm ở đây đâu ít người nhưng nó hiếm khi thấy có cãi cọ chỉ chia sẽ cho nhau là chính, cằn nhằn chút đỉnh thì làm sao tránh khỏi nhưng to tiếng thì không. Ai nấy lầm lũi làm, có lẽ không ai muốn vậy vì dễ gây nhớ lại quãng đời đã qua, họ muốn chôn vùi quá khứ có phần tăm tối này.
Và nó cũng đã biết nhâm nhi ly rược gạo. Tối tối sau bữa cơm, ở lán trại tập trung hết lại ai cũng lai rai, lai rai ít nhứt vài ly để dễ bề vùi giấc ngủ, khỏi phải suy nghĩ mệt đầu.
Chú Ba Tỷ để ly rượu tới vòng hơi lâu, chú đang nghĩ ngợi gì đó, bác Hai Liên khều chú Ba:
“Làm gì mậy Ba Tỷ, nhớ nhà hả?”.
Chú Ba Tỷ lấy ly uống ực, chẳng nói chẳng rằng chuyền ly qua. Anh Tư cà lăm cà một tràng:
“Ổ…ng… ổng … ổng… mà… mà nhớ… nhớ mẹ gì”.
Chú Lâm lên tiếng:
“Ờ, thằng Tỷ này lạ hen, từ lúc tui vô đây tới giờ, tính ra cũng bốn năm rồi chớ ít đâu, tui chưa thấy nó về lần nào, ai về nó chỉ gởi tiền về cho con cái”.
Chú Ba Tỷ thở dài:
“Thằng Tư cà nói đúng, nhớ làm mẹ gì”.
Bác Hai Liên chậm rãi:
“Có gì mày nói ra cho nhẹ lòng, chứ giữ khư hoài càng ngày nó càng bức bí, mệt mỏi thêm, ở đây coi như người nhà, anh em con cháu chớ ai đâu xa lạ”.
Chú Ba Tỷ cạn ly vòng, rót uống thêm ly nữa, chú nói nhát gừng:
“Tui chẳng muốn về, về tui giáp mặt con vợ tui muốn điên liền, tui chém nó chết”.
Chú Lâm vỗ vai chú Ba Tỷ:
“Bình tĩnh chút nghen mậy, ai cũng có nỗi niềm, tao cũng vậy, nhưng còn con còn cái”.
Chú Ba Tỷ hậm hực:
“Tui biết vậy nhưng chẳng kềm lòng với loại đàn bà lang chạ”.
Bác Hai chậm rãi khuyên tiếp:
“Thằng Lâm nó nói đúng, còn con còn cái, với lại tao ở thăm thẳm trong này chớ tao biết chuyện ngoài đó hết ráo nghen mậy, từ ngày mày bắt con vợ mày làm bậy nó quỳ lại xin mày tha thứ tới giờ ân hận lắm, thui thủi tối ngày trong nhà trong cửa, lo cho con cái, đồ đạt món ngon nào trong này là một tay nó gởi vô đó, làm thằng đàn ông phải biết rộng lượng, ai cũng phải có một lần mắc lỗi lầm, dễ gì tránh khỏi, tụi nhỏ nhớ mày lắm, con nít cần tình thương cha mẹ chớ lơi lơi đâu có được”.
Chú Ba Tỷ im lặng. Bác Hai Liên nói tiếp:
“Mà tao nói thiệt tao thấy mày còn thương con vợ mày, mày hãy để thời gian xóa tan hết đi”.
Chú Ba Tỷ mắt rưng rức. Ông Bảy nói:
“Chuyện thằng Tỷ để nó suy nghĩ, còn thằng Ba lém giang hồ tứ chiến, nổi tiếng ngang dọc hông chỉ thị xã, ra cả mấy vùng lân cận ai cũng biết giờ gát kiếm vô đây coi như tu chí tao hông nói, hai thằng Thiện và Đức thì trốn nghĩa vụ quân sự, còn thằng Lâm mày sao tao chưa biết?”.
Chú Ba lém gục gật:
“Con xin bác Bảy, chú Hai và anh em ở đây chỉ biết vậy là được, một thời giang hồ chẳng có gì hay ho, lại tàn bạo nên con xin bỏ qua hông phải kể, để nó chôn vùi trong rừng rú”.
Bác Hai gục gật. Chú Lâm mân mê ly rượu:
“Tui gần giống như thằng Tỷ nhưng con vợ hông lang chạ, tui là lính chế độ cũ, mới ra trường bậc thiếu úy, bị đi cải tạo gần chục năm, ở nhà vợ hay tin đã chết trong trại, lấy chồng khác tui hông trách, hai đứa con thơ dại nuôi nấng sao đây, phải kiếm chỗ bấu víu, tui lù lù trở về thì đành thôi, hai đứa nó có thêm hai đứa con làm sao tách, tui chẳng còn gì ngoài hai bàn tay trắng, chui vô đây chớ đi đâu”.
Anh Tư cà nghe lính ngày xưa khoái chí:
“Ông… ông… Lâm… làm… thiếu úy oai… oai lắm hen, đi… đi xe ríp… ríp hông chớ gì?”.
Bác Hai Liên hất đầu:
“Thiếu úy xưa hét ra lửa hén, mà nghe cải tạo cực lắm phải hông?”
Chú Lâm cười, nét cười chua chát:
“Cực lắm chớ sao chú Hai, thiếu thốn trăm bề, cũng lao động giữa rừng rú vậy nè nhưng còn khổ hơn, bị tinh thần, nhưng là kẻ thua cuộc mà, phải chịu thôi”.
Ông Bảy chỉ anh Thông:
“Vậy thằng Lâm là bên kia chuyến tuyến với thằng này”.
Anh Thông giãy nãy:
“Đâu có ông Bảy, con mới đi chiến trường Campuchia sau này mà, anh Lâm hồi trước rồi”.
Ông Bảy nói tiếp:
“Ý tao nói hai thằng bây phe này phe kia đó, giờ ngồi chung mâm”.
Bác Hai hỏi:
“Campuchia cũng ác liệt lắm phải hông Thông?”.
Anh Thông dạ:
“Dạ, kinh khủng lắm, giờ con còn ám ảnh, hông muốn nhắc lại, con may mới về được, biết bao xương cốt anh em còn nằm lại, hồn xiêu phách lạc, nhắc tới thêm đau lòng, chẳng ai quan tâm, đi mất xác hay về cũng vậy y như những đứa con lạc loài”.
Chú Lâm lắc đầu:
“Chiến tranh thời nào cũng vậy, ác liệt giết chóc lẫn nhau, tui cũng chẳng muốn nhắc lại làm gì”.
Nó xin qua tua, bác Hai ừ rồi nói tiếp:
“Thằng nhóc này vô đây chi mậy, thất tình bỏ đi nhà đi bụi hả?”.
Nó nãy giờ nghe ngóng, giựt mình đáp:
“Dạ, đâu có bác Hai, con còn nhỏ xíu biết gì yêu đương, con mới nghỉ học hông biết làm gì, vô đây làm kiếm tiền”.
Ông Bảy chỉ anh Tư cà:
“Thằng này mới thất tình nè”.
Anh Tư cà trợn mắt:
“Cái… cái …cái gì ông Bảy, tui thất… thất tình hồi nào?’.
Ông Bảy cười:
“Hông có hả mậy, tao nghe nói mày ngồi tâm sự với con nhỏ nào đó lúc đêm, mày nói, anh… anh… thương…. thương… em, mày kéo dài vậy trời sáng bảnh mất tiêu, con nhỏ mắc cỡ chạy ào đi, đâu trả lời trả vốn gì, mày tưởng nó hông thương, mày thất tình hông phải sao?’.
Anh Tư cà chỉ còn biết nhăn mặt:
“Ông… ông… Bảy này”.
Cả bàn nhậu cười rần với câu của ông Bảy, cũng là câu chuyện kết cho bữa nhậu khá khuya.

***

Gỗ dưới chân núi cạn dần. Bác Hai kêu tiến lên sườn núi.
Trên sườn núi cây gỗ tốt và to còn hàng hàng. Lên giữa sườn núi khá cao, bác Hai tìm được mấy cây gỗ trắc và cẩm lai đoán không bọng, đoàn ngừng lại cưa hạ. Cưa đứt cây gỗ lớn ngã phóng xuống ào ào như chiếc phi cơ thấy thất kinh. Tán lá rộng đi tới đâu là những cây nhỏ gãy ngang đổ rạp theo tới đó, nhìn như có một đường băng. Nó phóng xuống cả trăm thước mới chịu ngừng lại. Trên sườn núi cao nên cưa lóng ngắn, cây lại lớn nên xẻ nhỏ nữa chớ không để khối vuông lớn. Hạ cây và cưa xẻ chỉ khó khăn hơn dưới chân chút ít, nhưng đưa xuống mới là kỳ công. Đóng con đĩa vô một đầu dưới, cột dây vào con đĩa mà nhấc đầu cây kéo xuống, phải nhất đầu bởi sườn núi đá lổm chổm, đá nhỏ nó tuôn phi xuống vuợt qua ầm ầm, gặp đá lớn thì lao ầm vào bị cắm đầu, đứng lại, lại nhấc nhích lóng gỗ né ra và phải canh chừng nhảy né chớ không bị lao vào người. Nó nhớ lại vụ anh Thững nên không thể không cẩn thận với việc này. Xuống gần chân núi còn dốc lên xuống nhưng hết đá thì nặng trì đường đất, kéo muốn xệ vai, trầy da tróc vảy là chuyện thường tình, những lóng gỗ to phải lom khom xài tới con lăn…
Xuống hết sườn, tới chỗ xe bò vô được. Ngồi nghỉ chút trước khi quay lại đưa xuống tiếp, anh Lãm đưa nó điếu thuốc:
“Biết mùi gần hết rồi nghen mậy, thua gì trâu bò”.
Nó cười, quẹt lửa châm thuốc cho hai anh em:
“Sướng hơn chút đỉnh, hông bị oánh”.
Anh Lãm gục gật:
“Ờ, mà mới đó gần hai năm, lẹ ghê, chẳng lẽ mày muốn ở suốt trong này hả?”.
Nó nhún vai:
“Chẳng biết nữa anh ơi, tới đâu hay tới đó, anh thì có tính gì hông?’.
Anh Lãm chề môi:
“Tao biết tính gì, định về cưới vợ, mà sợ bị tó”.
Nó nhả một hơi khói dài:
“Cũng lâu rồi mà, bữa nào anh về dò la coi, êm êm thì cưới, mà cưới rồi anh làm gì?”.
Anh lãm hít sâu điếu thuốc, ém khói luôn:
“Thì tao quay lại đây làm tiếp chớ biết làm gì”.
Hai anh em quay đầu lên sườn dốc.

***

Nó về thăm nhà. Dự tính hai bữa trở vô. Má nó nói thằng Chí hai tháng nay, chiều tối thứ bảy tuần nào cũng ghé coi nó có về không, có chuyện gì đó muốn nói, thằng Chí đã lên huyện làm liền lúc vừa tốt nghiệp. Ở thêm vài ngày nữa chờ thằng Chí, không việc gì làm, nó lôi mấy quyển truyện cũ ra đọc lại. Sách vở đã dồn hết vào cái rương đóng chặt, nó nghĩ khó có bao giờ lôi ra làm gì. Ngấu nghiến hết Thằng Gù Nhà Thờ Đứa Bà Paris, Tereda, Tội Ác Và Trừng Phạt, nó lục lọi dưới đáy rương gặp được Nàng Iseult tóc vàng. Đang đọc thiên diễm tình đẫm lệ tới nửa chừng thì một tờ giấy rơi ra, cầm lên thì ra là tờ giấy chép bài thơ tình Vũ Hoàng Chương:
Mòn con mắt đợi cổng trường
Người ta về… các ngả đường xôn xao
Bóng ai nào thấy đâu nào?
Mây càng thấp gió càng cao…
Một mình…

Nét chữ chép bài thơ là của cô bạn học cùng lớp mà nó cho mượn quyển truyện, thực ra đâu cho mượn, cô bạn này mượn qua cô bạn ngồi kề nó thôi. Nó không thể quên được nét chữ này, cũng như gương mặt hay cả dáng đi dáng đứng. Nó cầm bài thơ mà người bỗng lâng lâng khó tả, lâng lâng như những lúc đứng từ xa nhìn cô nàng, nó đâu dám lại gần, lâng lâng khi thấy đôi mắt ấy quay lại nhìn rất lạ, cũng không thể tả được.
Trời sập tối thằng Chí từ trên huyện đạp xe về ghé nhà nó trước. Gặp nhau hai thằng mừng quá trời quá đất, cũng phải một năm rưỡi hai đứa mới gặp lại. Nó hỏi thằng Chí:
“Mày nhắn gặp tao có chuyện gì?”.
Thằng Chí nhìn nó:
“Chu cha, giờ ra dáng rồi nghe, có gân có guốc, chững chạc lắm, râu lún phún dữ nghe”.
Nó phì cười:
“Dáng cái con khỉ, tao cưa riết nên vậy, còn mày cũng cao lớn hơn nhiều, có khác tao, trắng trẻo mập mạp, đâu như tao đen sì”.
Thằng Chí kéo nó lên xe:
“Thôi, tao mày xuống chỗ xã có quán nhâm nhi trò chuyện tiếp”.
Nó gật đầu, nhảy lên xe:
“Ừ, mày cũng biết uống rượu rồi hả?”.
Thằng Chí cười:
“Biết lâu rồi, lên huyện vài bữa là biết”.
Thằng Chí đạp xe đi, nó nhớ lại thời còn đi học, rồi lại nhớ bài thơ rớt ra, nó hỏi:
“Ê mày Chí, mày nhớ nhỏ Hạnh lớp mình hông?”.
Thằng Chí đáp:
“Nhớ sao hông mậy, mày làm như lâu lắm rồi hông bằng, con nhỏ xinh gái lại học giỏi, mà tao thấy nó mếch mày đó, còn mày cũng mếch nó phải hông?”.
Nó gãi đầu:
“Mếch gì mày ơi, nó con nhà cán bộ, ở thị xã khá thấy bà ai dám…”.
Thằng Chí chọc:
“Xời, mếch nói mếch đại thằng quỷ ơi, bày đặt, con nhỏ mà mếch tao tao cũng mếch lại liền”.
Nó đấm vô lưng thằng Chí mấy cái, kể chuyện bài thơ trong quyển truyện rồi hỏi:
“Nói thiệt mày thấy nó mếch tao hả?”.
Thằng Chí cười ha hả:
“Thấy hông, dấu đầu lòi đuôi, nói chơi chớ tao thấy mếch mày thiệt, con nhỏ dễ thương, sao mày mới gặp nó à?”.
Nó buồn buồn:
“Gặp gì mà gặp, tao ở trong rừng rú suốt từ lúc ra trường tới giờ”.
Thằng chí tiếp:
“Bữa nào mày xuống dưới tìm nó coi sao?”.
Nó giãy nãy:
“Nói chơi nhắc chuyện cũ, nhắc kỷ niệm chớ sao được mậy, tao giờ có ra gì”.
Thằng Chí quẹo vô quán cháo lòng của cô Năm. Hai đứa vô quán bỏ lửng câu chuyện về cô bạn học. Sau này không gặp lại bao giờ nhưng với nó đây như mối tình chớm nở.
Kêu dĩa lòng thêm tô xí quách và xị rượu gạo, rót hai chung nhỏ nó đưa chung cụng cái cốp:
“Mừng hội ngộ, mày làm gì trên huyện?”.
Thằng Chí ực hết chung rượu:
“Mày nhớ hồi còn đi học tao đã viết lách, có đăng báo chút chút hông?”.
Nó gật đầu, thằng chí tiếp:
“Trên huyện có biết, tao học văn cũng khá nên cho tao phụ trách bản tin, bản tin có hai người làm thôi”.
Nó hất hàm:
“Chà, dữ nghen”.
Thằng Chí chề môi:
“Thường thôi mày ơi”.
“Làm khá hông?”.
“Cũng tàm tạm, lương chẳng đủ nhưng được khoảng này khoảng khác, đi công tác có chừng hai ngày chớ mấy, chia hai hướng là xuống hết xã, đi hai ngày hỏi đủ thông tin đóng đủ con dấu”.
Nó thắc mắc:
“Là sao?”.
Thằng Chí giải thích:
“Thì một chuyến công tác là một ngày, đóng dấu đừng ghi ngày, buột lươn lẹo chút mày ơi, đi hai ngày nhưng giấy tờ thanh toán thì mười lăm ngày, mười lăm xã lãnh đủ tiền tàu xe lưu trú, có dư chút tiền xài, rồi viết thêm bài ngoài chỉ tiêu, làm thơ làm thẩn có thêm tiền nhuận bút…”.
Nó gục gật:
“Sướng mậy”.
“An nhàn đỡ cực thân, bởi vậy tao mới rủ mày lên làm, trên huyện còn tuyển người, bữa tao gặp phòng tổ chức nói còn cần, tao kêu cho một chỗ bạn em, chị này nói được, tốt nghiệp mười hai là ngon rồi”.
“Tao biết làm gì”.
“Mày cứ lo bò trắng răng, người ta làm được mình làm được, nhiều người chưa hết lớp chín kìa, vừa làm vừa học hỏi thêm, à mày thấy hông mấy đứa tốt nghiệp lớp chín chớ mấy, hay mấy đứa lớp mình nghỉ ngang giờ làm thầy cô giáo hết rồi, khỏe ru đó”.
Nó chưa hiểu:
“Sao hay vậy mậy?”.
Thằng Chí lắc đầu quầy quậy:
“Đúng là mày ở trong rừng riết chẳng biết gì, bây giờ đổi mới rồi mày ơi, bớt khắc khe hơn hồi trước nhiều, đâu còn chế độ mua bán bằng tem phiếu, sổ gạo nữa mày thấy hông, ruộng đất cũng đã khoán trắng về cho bà con, ai có sức nhận bao nhiêu cũng được, đâu còn khống chế, chia nữa đâu. Còn vụ thầy cô, có đợt tuyển giáo viên cấp tốc, khóa học có ba tháng, có khóa một tháng hà, mấy đứa nó thành thầy cô hết chớ sao, đang thiếu giáo viên trầm trọng mà”.
Nó lơ mơ hiểu hiểu chút:
“Là vậy hả?’
Thằng Chí gật đầu:
“Mày làm hồ sơ đi, thứ hai đưa tao đi ký cho dễ, mấy ông ở xã giờ cũng ngán tao lắm, lạng quạng tao phang một bài là chết, tao nghỉ một ngày, thứ ba tao đem nộp, chắc chừng nữa tháng tao về báo cho làm gì ở đâu”.
Nó trố mắt:
“Thiệt hả mậy?”.
Thằng Chí nảy người:
“Tao nói giỡn sao, chắc chắn trăm phần trăm, mày bạn chí cốt tao tao hông giúp thì giúp ai”.
“Tao biết mày tốt với tao nhưng…”
Thằng Chí cắt ngang:
“Hông nhưng hông nhị gì hết, thứ hai đưa hồ sơ cho tao”
Nó đành gật đầu:
“Thôi cũng được, nhưng để tao vô lại trong đó chia tay với chú bác, anh em”.
Thằng Chí cười:
“Ai cấm mày, mày có nửa tháng mà, à mày cho tao đi với, tao vô tao viết về mấy lâm tặc này coi, xong kêu kiểm lâm bắt luôn – Nó cười ha hả rồi chợt ngưng bặt, trầm ngâm: Giỡn chơi vậy chớ ai muốn vô chỗ bần cùng nhứt này, để mang trên người cái tai cái tiếng, hoàn cảnh và cơm áo… à mà quên hỏi mày làm trong đó sao, đỡ hông?”.
Nó gục gật:
“Mày biết đó, ngày đêm đối mặt với rừng, chừng đó con người, ăn xong vác cưa vác búa đi, tối về sau khi ăn là làm vài ly xong lăn ra ngủ, ngày qua ngày cứ vậy, làm gỗ thì tiền khá, đâu có xài gì giữa rừng, tao có dư phụ bà già. À mà vừa rồi mất một vố khá đau, lâu lâu cũng bị bắt nhưng bắt ít, kỳ này mất trắng, tính ra công cán cả hai tháng trời”.
Thằng Chí nhíu mày:
“Mất nặng dữ vậy, kiểm lâm lùng tới nơi à?”.
Nó lắc đầu:
“Hông, đưa về nơi bán mới bị bắt”.
Thằng Chí ngờ ngợ, nó có nghe vậy đâu rồi:
“Bán ở đâu mậy?”.
“Bán cho công ty gì thuộc huyện đó tao hông biết nữa”.
Thằng Chí nhớ ra:
“Trời, bán ở đó hả mậy, chết rồi, bị gài rồi mày ơi”.
Nó ngỡ ngàng:
“Sao mày biết?”.
Thằng Chí gõ gõ tay xuống bàn:
“Bữa tao cũng có nghe ai nói mà quên, tao định tìm hiểu vụ này mà chưa xong, chưa có chứng cứ, họ bắt tay làm chuyện ác quá, dĩ nhiên đi làm rừng là trái phép nhưng họ đâu có ngăn chặn từ đầu, họ cứ để cho làm rồi bắt, bắt chia nhau mới đau”.
“Chia nhau cách nào?”.
“Chuyện là vầy, công ty thì thiếu gỗ để sản xuất, để xuất đi kiếm lời, vậy là họ bày ra mưa kế, thông báo ngầm sẽ mua gỗ của bà con giá cao, một hai chuyến đầu họ mua trả tiền ngon lành nhưng mua ít thôi, ai nấy đều khoái, thấy bán cho họ được quá, vậy là họ hẹn một ngày tập hợp hết lại, hẹn khuya để che dấu ý đồ, bà con chuyển gần tới là bị phục kích sẵn của kiểm lâm, họ bắt tay với kiểm lâm mà, vậy là bị bắt hết, kiểm lâm đóng búa, kiểm lâm hóa giá rẻ bèo cho công ty họ thành ra gỗ hợp pháp, gỗ hợp pháp xuất đi bán lời gấp mấy, sổ sách thì làm gì ghi lời nhiều, tiền dôi ra chia chác cho nhau, hôm họ xong vụ này kéo nhau ra quán lớn nhứt ở huyện ăn nhậu thâu đêm rần rần ”.
Nó lắc đầu:
“Hèn gì mất trắng, bữa bên tao mất gần chục xe gỗ, may tháo bò chạy kịp, gỗ và xe bò nằm lại, toán tao mất ba xe vậy, tội nghiệp mấy người chở mướn, chưa lấy tiền chở lại mấy cả xe, nghe đâu mấy toán khác còn mất cả bò, bỏ chạy mất xác chớ hông bị bắt đi tù. Thiệt nhiều người thất đức quá, chuyện này người trong đó mà biết chắc trả thù…”.
Thằng Chí lo lắng:
“Mày có nên kể hông, trả thù có được hông, tao thì hông có bằng chứng, chỉ nghe lại thôi nhưng tao biết chắc là vậy, chính người trong đó nói”.
Nó suy nghĩ hồi lâu:
“Thôi, trời cao có mắt, sẽ có quả báo, chớ để trả thù, đổ máu cũng đâu có gì hay, rồi cũng đâu có thoát khỏi tù tội…”.
Thằng Chí gật đầu:
“Vậy đi mày”.
Hai đứa uống đã hết lít rượu, ngà ngà và đêm đã tối, hai thằng ngất ngưỡng đạp xe về và ngêu ngao cho đỡ buồn.( còn tiếp)
***
LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

One thought on “CƠN GIÓ MANG HỒN LỮNG THỮNG (TT)

  1. Đẽo cây giỏi vẫn là Bác Liên!
    Uống rượu nổi tiếng là ”ác chiến”!
    Tài chở Cây qua Dốc Một”Xiềng!”
    Giỏi Hay Tài và đời Lắm Chuyện…
    …”Rượu vào lời ra…”với bạn hiền…
    Vẫn Bác Liên uống rất trầm tĩnh
    Cùng Bạn hữu thân tình Nhậu Khuyên…
    ”Ba Tỷ ơi bỏ qua đi những chuyện…
    -Độ lượng đi”Vợ lầm lạc một chuyến…!”
    ….Rồi lấn sang đời tư từng Tên…
    Kể rồi cười vang cả Khu Rừng…
    -Đốn Cây không ĐẼO như Xưa nữa!
    Giờ CƯA mới đổ thât ngon ơ…!?
    Sườn núi cao khi đốn cây ngã…
    Đốn rồi phải lo chuyện Kéo Cộ…
    -Thế mới biết tận cùng”MÙI KHỔ!”
    Thằng Tôi và Anh Lãm MUỐN KHỜ…
    Chuyện Cưa gỗ Rừng chuyện Bịch-Bồ!
    Chuyện tương lai phía trước mịt mờ!
    ….Trở về thăm nhà gặp bạn cũ..
    Thằng Chí thân thằng bạn nối khố..
    Rất vui gặp gỡ cuộc hội ngộ
    Với Tin mừng cho một Thời Cơ..
    ”Sẽ đổi đời là NỘP HỒ SƠ..
    Học một Khóa sẽ thành THẦY GÕ…
    Đừng lầm nghe ”Không phải Thầy GỖ..”
    Mà Chính là ”Gõ đầu trẻ nhỏ…”
    Dù công tác ở nơi xa trú
    Chốn đèo heo hút gió rừng rú…
    Vẫn đỡ buồn việc CƯA ĐẼO GỖ?”
    Hai Thằng tương đắc ngồi CHUYỆN TRÒ….

    Thích

Gửi phản hồi cho aitrinhngoctran Hủy trả lời