NHỮNG VÒNG TRÒN XIẾC

khuatdau

xiếc của người

Chợ nằm bên bến sông, nhưng không trên bến dưới thuyền mà chỉ có một con đò rách do một ông lão lái. Một năm chỉ có mấy tháng mưa lũ là có khách, còn thường ngày, người ta cứ việc xắn quần lên mà lội. Chợ phiên của làng nên dọc một hàng dài trước chợ ưu tiên cho những gánh cốm đặt kề nhau san sát. Rồi hàng gốm, hàng thổ sản, hàng cá, hàng mắm đều bày ra giữa trời, dưới những tàn cây. Chỉ có hàng xén là được kê lên cao trên sạp bằng tre trong những chiếc lều xiêu vẹo. Những cô gái đẹp thường là chủ hàng, bán được ít lâu các cô theo chồng, để lại không ít ngẩn ngơ cho một vài ai đó.
Chợ cũng là nơi kéo đến khá đông những mụ ăn xin rách rưới, những lão thầy bói giả mù. Đôi khi còn có thêm một gánh xiếc nhỏ, bày ra một vài trò lạ để bán thuốc. Như cái trò bào thai nằm trong bụng mẹ khá kỳ dị của một cặp vợ chồng nghe đâu ở tận Cà Mâu ra.
Khi phiên chợ bắt đầu đông người, anh chồng đem ra một chiếc bình thủy tinh to cỡ vò nước đặt lên bàn, hỏi: “Có ai thấy cái bào thai nằm trọng bụng mẹ chưa? Chưa hả? Thì Coi này!” Và, một con bé chừng 10 tuổi gần như trần truồng leo lên bàn, chầm chậm cho hai chân vào bình. Rồi em từ từ hạ cái mông teo tóp xuống sát đáy, cùng một lúc co hai chân khẳng khiu lên, hai tay ôm lấy gối, sau cùng là rụt cổ cho đầu vào, nhắm mắt lại. “Mình ơi, anh ta kêu lên, có phải con em nó nằm trong bụng mình như thế này phải không?” Chị vợ đứng gần đó gật đầu nói “phải”. Mọi người đang quây kín vòng trong vòng ngoài cứ trố mắt ra mà nhìn, bàng hoàng như vừa trông thấy một phép lạ. Rồi như bị ma ám, ai cũng đâm ra tin những gì anh ta nói, thì cứ cho là mù quáng đi, nhưng mớ lá cây và rễ cây lộn xộn chẳng biết cây gì mà anh ta bảo là trị bách bệnh, chỉ trong chốc lát đã được bán sạch.
Đứa bé xong việc chui ra ngồi thụp xuống đất, liền được bọn trẻ con bu quanh. Chẳng những để nhìn mà chúng còn muốn sờ thử xem người thật hay con gì đó như con rắn, con trăn đã biến thành người nên mới chui được vào bình một cách ma mị như thế. Rõ ràng là em đang thở và cái ngực mỏng dính với hai núm vú nhỏ như hai hạt đậu có khác chi mọi đứa bé trong làng, nhưng chúng vẫn cứ hồ nghi. Vì vậy, khi một đứa trong bọn bất ngờ kêu lên: “ma! bay ơi, ma!” thế là cả bọn rùng rùng bỏ chạy như bị ma đuổi.
Có một đứa chẳng những không chạy mà còn bước tới gần hơn, đưa miếng cốm đang cầm trong tay cho con bé như muốn nói: nó tin em là người thật. Con bé ngước đôi mắt có hai hàng lông nheo cong vút lên nhìn nó. Em ngập ngừng thò bàn tay nhỏ như một búp hoa ra cầm lấy. Rồi lại ngập ngừng đưa lên miệng, cắn một vài hạt, nhai tí tách. Nó nhìn cái miệng con bé, nhìn những hạt cốm thấm nước bọt, nhìn đôi mắt đen to và nhoẻn miệng ra cười.
Thế là chúng làm quen nhau, con bé ăn mà không nói, nó cũng nhìn thôi chứ không biết nói gì. Nhưng cả hai đứa tưởng chừng như đã quen nhau lâu lắm, còn hơn thế nữa, cùng ở chung một nhà. Khi cha mẹ thu dọn xong đồ đạc kêu con bé đi, nó cũng đi theo. Ra khỏi chợ, đi xuống đò có ông lão ngồi chờ, nó cũng theo xuống luôn. Cứ thế, nó không rời con bé nửa bước cho đến khi người đàn bà nhận ra có một điều gì gần như là của trời cho, chị ta liền kề tai chồng nói nhỏ gì đó và anh ta vội vàng đến bên thằng bé, đưa tay ra nắm chặt lấy tay nó.
Mãi đến khi chợ tan, người mẹ xao xác kêu con ơi, con hỡi mà không nghe nó “ơi”, mới hay là mình đã lạc mất con!

Có được thằng bé như bắt được vàng, hai vợ chồng liền dông tuốt vào nam, bỏ lại sau lưng những phiên chợ quê, mà ở đó sự nghèo đói, sự khờ khạo đã giúp cho cả hai có một thời rủng rỉnh bạc tiền. Chồng, người to khỏe, trên mình xăm rằn rịt như thuồn luồn, có một vẻ gì đó giống như người Miên với nước da nâu bóng, tóc quăn quăn. Hắn làm nghề ăn ong nếu có thể gọi đó là nghề, len lách quanh năm giữa những cánh rừng tràm bạt ngàn trước khi làm cái nghề bán thuốc. Vợ, có cặp mắt lúng liếng chết người, đi ở đợ bị bà chủ dữ như cọp ghen ngất trời xẻo mất một bên vú. Cả hai gặp nhau khi hắn ta cho chị ta một nắm lá (không biết lá gì, hắn bí mật không nói) để đắp lên ngực mỗi khi đau nhức. Hắn bảo hắn thương cái vú tội nghiệp đó, phải nói là tiếc thì chính xác hơn, vì mỗi khi hành sự bàn tay hắn thấy thiêu thiếu và hắn thề là sẽ cắt cả hai khi gặp con mụ đàn bà ác độc kia. Nhưng khi gặp rồi, trong một đêm trăng trên bến sông, thay vì nghiến răng xẻo một phát cho hả giận, hắn lại đặt môi lên hôn rồi làm này nọ các thứ, coi như đã trả thù xong cho vợ. Hắn bảo, đối với đàn bà, làm như thế là đủ nhục lắm rồi. Chị vợ hứ cái cốc, bảo “vậy tôi đã bị anh làm nhục biết bao nhiêu lần rồi, hả?” Hắn nói, “tụi mình thì khác, chuyện đó coi như cơm ăn nước uống, không ăn sao mà sống được!”
Đứa con gái kia cũng không phải là con đẻ của hai người. Nó là con của một người đàn bà dân tộc, mới sinh chỉ được ba ngày đã bị dân làng bắt phải chôn theo mẹ, vì mẹ chết nó cũng sẽ chết thôi. Hai người, trong một lần luồn rừng ăn ong, đã liều mạng cướp lấy nó đem về nuôi. Đứa bé có nước da màu mận chín chứ không đỏ hon hỏn, được chị vợ bỏ vào gùi đeo miết trên lưng. Ăn, ngủ, thức, ngay cả chơi cũng chỉ ngọ ngoạy trong chiếc gùi chật hẹp. Lâu ngày lưng nó cong vòng, chân tay mềm oặt đến nỗi có thể cuộn lại như một con cuốn chiếu. Thế là, hắn nảy ra cái ý định tập nó chui vào bình như làm xiếc để dụ người ta tới xem mà bán thuốc.
Để có được cái trò lạ mắt không gánh xiếc nào có được, hắn cũng phải tốn không ít tiền bạc và công sức. Hắn tập ngày tập đêm khiến chân tay đứa bé lúc nào cũng trầy trụa, đau nhức. Muốn mau kiếm ra tiền, hắn cứ giục “ráng lên con, ráng lên chút nữa, chỉ còn cái đầu thôi mà!”. Rồi vì quá nóng ruột, hắn bôi mỡ lên khắp người đứa bé, cố ấn cái đầu bướng bỉnh của nó xuống, mím môi ấn mãi cho đến khi lọt thỏm vào bình. Đứa bé sợ hãi khóc è è còn hắn thì nhảy cẩng lên reo mừng: “được rồi! được rồi đấy con!”.
Nhưng hắn bỗng kinh hoàng nhận ra đứa bé đã bị nêm chặt như một cái nút chai, coi như nó sắp bị chôn sống một lần nữa. Hắn vò đầu bức tóc, loay hoay mãi mà không làm sao kéo con nhỏ ra được, đành phải xách búa mà nện vào bình. Đứa bé chết hụt, cứ trông thấy chiếc bình là sợ run. Hắn phải dỗ ngon dỗ ngọt, hứa xuống phố mua búp bê, mua quần áo đẹp; rồi lại dọa bỏ vào rừng cho cọp tha hay bị đười ươi bắt dẫn vào hang làm vợ, mãi đến mấy tháng nó mới biết cách tự mình chui vào rồi chui ra như một con ốc mượn hồn. Nó cũng bắt đầu thấy thích thú khi nằm cuộn tròn trong đó, nên thay vì chui vào nốp ngủ, nó lại chui vào bình.
Đã 5 năm rồi nó giúp hai người không phải sống trong rừng vừa thiếu thốn vừa đói khát: chồng chiều tối nào cũng có bữa nhậu, vợ mặc quần lĩnh cổ đeo kiềng vàng. Giờ nó đã lên mười, sắp bước vào tuổi dậy thì, dù có bắt nhịn ăn nó cũng sẽ lớn phổng lên, biết làm cách nào mà chui cho lọt. Chỉ có cách thay bình to hơn, nhưng cách ấy thì đành dẹp bỏ nghề vì bình cỡ lớn phải đặt mua tận bên Tây, lại thêm tiền chuyên chở nữa, có mà bán nhà nếu hai người có nhà.
Đang lo con bé lớn quá coi như mất cái cần câu cơm, thì bỗng dưng như từ trên trời rơi xuống, có được một thằng bé bảo đi là đi, bảo xuống thuyền là xuống, răm rắp nghe theo không khóc không la cứ như bị thôi miên. Nó sẽ thay con Mị Lan mà chui vào bình, sẽ nối tiếp cái trò bào thai trong bụng mẹ để kéo khách đến dài dài cho họ. Hai người liền bỏ tên cũ đặt tên mới cho nó là Đông Nhi, vừa hay hơn mà cũng vừa để chẳng còn ai tìm được nó.
Đông Nhi lúc ấy 5 tuổi mà đã cao gần bằng Mị Lan, nên phải tập ráo riết thôi. Khổ nỗi, đứa bé ấy chỉ nằm cuộn tròn trong bụng mẹ có mỗi chín tháng và mười ngày. Khi sinh ra, nó đâu có lớn lên trong gùi, cùng lắm khi vui mẹ nó lật ngửa cái nắp bầu đựng cốm ra, đặt nó nằm lên rồi lo bán hàng. Đến khi biết đi biết chạy, thì nó như con gà con vịt con chó con mèo, cứ việc chạy nhảy vui chơi thõa thích. Vì vậy tìm cách bắt nó chui vào bình như Mị Lan là rất khó, nếu không muốn nói là không thể được.
Nhưng cặp vợ chồng dễ bị kết tội là mẹ mìn này lại cứ tưởng hễ muốn là được, nên chồng thì mua thuốc võ, vợ mua than quạt lò, ngày nào cũng đem nó ra mà thoa bóp hơ hóng. Thuốc gì lạ lắm, gắt gắt cay cay chứ không thơm mùi quế và mật ong như thuốc bắc. Thuốc thấm vào da chạy rần rần, lửa nóng đến nỗi làm tay chân bốc khói, trông nó giờ như miếng thịt đã được ướp gia vị đang nướng trên lò than, chỉ thiếu là không nhỏ xuống những giọt mỡ bắt lửa kêu xèo xèo. Hai người ra sức bóp nặn, phải nói là hành hạ thì đúng hơn, suốt cả mấy tháng cũng chỉ làm cho nó co được hai chân lên ngực, còn đầu và tay thì không cách gì cho vào bình được.
Đã có lúc đâm ra nản, nhưng rồi cuối cùng hắn cũng nghĩ ra được một trò mới, ấy là thuê thợ thiếc hàn một cái ống thủng hai đầu như cái trống cơm chưa bịt da. Đứa bé bị hắn bẻ gập làm đôi, nhét cả chân và mình vào rồi nhấc cả ống lên mà xóc xóc, một lúc sau nó khó nhọc chui ra như một con bê đẻ ngược. “Vung hai tay lên coi, ờ, giỏi lắm!” Cái ông kẹ mà trẻ con chỉ nghe dọa chứ không thấy giờ đang đứng trước mặt nó, miệng ngọt ngào thế chứ ăn thịt nó mấy hồi!
Cái trò này tuy không nghẹt thở bằng trò chui vào bình, nhưng xem ra cũng lạ con mắt. Cái khó là đứa bé bị gập làm đôi với tay chân lèo quèo mà vẫn lọt qua được cứ như một viên đạn vọt ra khỏi nòng một khẩu súng thần công, nên hắn đặt tên là súng bắn thịt. Chị vợ đứng xem bảo “ngộ quá ta, mình lập luôn gánh xiếc đi, bán vé một đồng một người, chứ bán thuốc gặp ai cũng bị chửi”. Anh chồng cười, “nếu thế mình mua thêm một con khỉ nữa. Xiếc mà không có khỉ đâu ra xiếc”. Chị vợ hào hứng bảo “mua thêm trăn, anh to con quấn trăn lên cổ, coi đã lắm à”.
Thế là bọn họ lập ra một gánh xiếc thật sự với hai tài tử là Mị Lan và Đông Nhi, đặt tên là Xiếc Lan Nhi.

Phải gọi là gánh xiếc bỏ túi thì đúng hơn, vì cả người và thú nằm gọn trong lòng một chiếc xe ngựa, sáng chiều lọc cọc từ làng này sang làng nọ. Vật dụng quý nhứt vì đắt tiền và dễ vỡ là chiếc bình thủy tinh, được bọc trong một chiếc mền chuột cắn rách lỗ chỗ. Con khỉ có dây xích được móc vào thùng xe mà vẫn cứ nhảy choi choi, con trăn thì ngoan hơn nằm ngủ im trong một cái lồng sắt.
Đến một ngã ba thôn hay trước một cổng làng, chủ xiếc gò cương cho ngựa dừng xe lại. Bọn trẻ con lúc nào cũng là những khách không mất tiền nhưng được cái ồn ào vì có mặt sớm nhất, coi như chúng quảng cáo giùm.
Mở đầu là cảnh bắn súng thịt. Ông chủ dựng đứng cái ống thiếc, bẻ gập Đông Nhi làm đôi, nhét vào như kiểu mấy chú ba Tầu cán mực khô trước cổng trường học. Khi thằng bé bị ép chui qua khỏi đầu, ông vác cái ống lên vai như một chiến binh vác ống phóng lựu quay mấy vòng rồi đưa lên cao, xóc xóc mấy cái miệng hô “đùng” và viên đạn thịt liền rớt xuống đất nghe cái “bịch”! Bọn trẻ con rú lên như chính chúng bị bắt làm như thế. Rồi con khỉ mặc áo chẽn leo lên một chiếc xe đạp con đạp mấy vòng, vừa đạp vừa nhăn nhó. Trò này rất nhộn vì con khỉ đít đỏ cứ chỏng cái đít lên mà đạp chứ không chịu ngồi và bọn trẻ có dịp cười thích thú. Tiếp đến là Mị Lan, tự chui vào bình một cách lặng lẽ như con tằm đang tự trói mình vào trong cái kén. Đây là màn biểu diễn coi như kỳ công và cũng kỳ dị nhứt. Người ta hồi hộp nín thở theo dõi từng cử động của em, cách em co chân rụt tay sao cho vừa khít để còn chỗ cho cái đầu. Giờ em như con gà con sắp nở, đã đến lúc chui ra mà không được làm vỡ một miếng vỏ trứng nào! Sau cùng, ông chủ cởi trần phơi cái bụng có cái rốn sâu hoắm bế con trăn to và dài nặng đến cả trăm ký ra khỏi lồng, nặng nhọc quấn quanh cổ như chiếc khăn lông to sù đi qua đi lại. Thỉnh thoảng ông nắm đầu con trăn đang thè lưỡi chìa vào mặt một đứa nhỏ nào đó đang đứng gần, khiến nó cũng phải thè lưỡi sợ xanh mặt.
Vậy là xong một cuộc hát xiệc mà không cần rạp hay quảng cáo rình rang. Khách hảo tâm cứ việc bỏ tiền vào tay bà chủ đang ngồi ngáp vặt. Nhưng cái lòng hảo tâm của bọn trẻ là một cái gì quá xa lạ, còn người lớn thì nó cũng teo tóp như cái bụng của họ, nên nhiều khi cái lòng bàn tay chỉ có những đường chỉ ngang dọc và mấy cục da chai sần. Hát không công đã buồn, lại càng buồn hơn khi có điều ra tiếng vào, rằng cái bọn này to đầu mà sao lại sống bám vào những đứa trẻ?!
Đó là những ngày đầu chệch choạc chưa được tổ đãi, người và thú đều đói meo. Cứ trông cái mặt con khỉ như dài ngoằng ra, không nhảy nhót mà ngồi ôm gối là đủ biết cái nỗi buồn của một gánh xiếc nghèo. Chị vợ một thời quần lĩnh kiềng vàng thấy sao mà nản quá, đã mấy lần định bỏ xiếc để đi theo cải lương. Anh chồng xem ra cũng chẳng tiếc gì cái người đàn bà đã bị xẻo mất một bên vú, nhưng mà công sức đã bỏ ra, nghĩ cũng uổng. Anh ngồi vặt râu, ngẫm ra thấy mình cũng quá dại, thọc tay vào tận túi thiên hạ mà chưa chắc đã moi được tiền huống hồ là ngồi chờ cho họ móc túi ra.
Sau những lần coi như hát chùa, hắn ta khôn hơn, chọn những sân chùa có cổng tam quan và có tường xây, nhờ sư cụ cho các chú tiểu đứng canh rồi hát ăn chia, chùa 3 xiếc 7. Với trường học, xin hiệu trưởng cho phép diễn trong giờ ra chơi, mỗi đứa chỉ 5 cắc thôi mà cả mấy trăm đứa thì đúng là hốt bạc cắc! Một đôi khi cũng có một vài tay phú hộ chơi ngon kêu vào xiếc cho con cháu và bạn bè coi chơi, cũng kiếm được cả bạc trăm. Hai tài tử còn được xoa đầu hun hít, cho thêm bánh kẹo. Thế là chị vợ lại ỏn ẻn: “em nói chơi chứ dại gì mà bỏ anh!” và hắn lại ưỡn ngực ra mà đấm bình bịch, ra cái điều thằng này chứ phải ai đâu mà giỡn mặt.
Và rồi, lóc cóc lóc cóc, con ngựa già lại tiếp tục lọc cọc kéo chiếc xe lăn bánh trên những nẻo đường vô định. Và cậu bé mất mẹ từ đây chỉ còn biết trông lên những đám mây mà tưởng tượng rằng đó là dáng mẹ nằm, tóc mẹ xỏa, áo mẹ bay trong những chiều nắng đẹp…(Còn tiếp)

One thought on “NHỮNG VÒNG TRÒN XIẾC

  1. Con bé còi cọc dị dạng!Bị UỐN NẮN từ bàn tay tàn nhẫn!Bàn tay mưu cầu cá nhân !Lợi ích gánh Xiếc lang thang dọc đường…Thằng bé theo con bé thương!Lạc cha lạc mẹ lạc đường bám luôn…Tồn tại gánh Xiếc nhờ chúng-Những đứa trẻ nhỏ BỊ UỐN thảm thương!Hai kẽ thủ ác bất nhơn!Nhởn nhơ phè phỡn vui sướng trên TIỀN!Tội tâm trẻ con hồn nhiênTương lai thân thế đắm chìm MÀN ĐEN!”Gánh Xiếc của người nghèo-hèn!Người và thú rong ruỗi trên mình Ngựa …Khỉ -Trăn cặp lớn cặp nhỏ ”Lan Nhi” gánh Xiếc đủ trò LẠ -HAY?

    Thích

Gửi phản hồi cho aitrinhngoctran Hủy trả lời