Đầu tháng tám lịch Ta là đầu tháng chín lịch Tây trời vẫn còn mưa nhiều. Má nó đi chợ thị xã về mua rất nhiều đồ đạc, tập vở, cặp táp, giày dép, quần áo mới cho hai anh em nó, vừa về tới nhà là lục ra liền rồi kêu hai anh em mặc thử, cái áo trắng tinh và cái quần sọt xanh thiệt là đẹp và rất vừa vặn, hai anh em thích ghê nơi.
Sáng mùng năm tháng chín hai anh em được má chở trên chiếc Mobylette đi khai giảng đầu năm học. Vậy là bắt đầu được đi học lại. Nó tiếp lớp bốn còn anh nó lên lớp sáu, trường xa hơn má nó phải đưa đi đưa về.
Nó có bạn bè mới, nhà trường mới và học cũng có mới. Không giống hẳn như ngày còn học ở Sài Gòn, nó được học tập đọc, viết chính tả, tập làm văn, không còn học môn công dân giáo dục mà thay bằng môn đạo đức, học địa lý, lịch sử… Được cho học thuộc lòng Đất Nước ta giàu và đẹp với rừng vàng biển bạc, đất quê ta mênh mông, phì nhiêu, dân nước ta anh dũng, thông minh, cần cù chăm chỉ… Môn lịch sử nó được học về các trận đánh đuổi thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bè lũ Ngụy tay sai… Những trận đánh quân ta tiến công như vũ bão, mưu trí đánh tan tác hàng chục hàng trăm xe tăng máy bay, tiêu diệt hàng ngàn tên địch. Được học những gương anh hùng nhỏ tuổi gan dạ kiên cường trong chiến đấu…
Với nó được đi học trở lại là nó rất vui, không gì tả bằng! trường học cách nhà hai cây số, cứ lững thững bộ hành đi về cùng bạn bè lối xóm.
Đi học một buổi sáng, buổi chiều chủ yếu là đào trùng làm mồi cắm câu và câu cá, chỉ quanh quẩn những cái búng cái bàu gần nhà, nhứt là mấy sào ruộng nhà nó, lúc này ruộng lúa bắt đầu đồng đồng nên cá rất nhiều, nhiều nhứt là cá rô, có cá trê và cá lóc nhưng ít thôi. Những buổi chiều như vậy thiệt là khoái chí, anh em xách từng xâu cá về cho má, ăn chưa hết rộng đầy cả cái khạp nước. Ốc và cua thì nhiều vô kể, bắt loại này đỡ hại cho lúa lắm bởi nó phá ghê nơi, ốc dạt sát bờ ruộng cứ men theo mà lượm, cua bắt khó hơn và đôi lúc phải mò vô hang. Bắt cua trong hang có khi còn tìm được lỗ mọi, lỗ ngay bờ ăn sâu dưới đất thông ra ngoài khó thấy được, làm nước chảy hết trong ruộng mang theo cả phân bón nữa, còn khi nước đầy quá mà muốn xả bớt đi, cuốc cái lỗ ngang bờ cho nước chảy ra người ta kêu là lỗ trổ, xả xong nước theo ý là đấp lại như cũ. Khoảng hai ba ngày là anh em nó lại lượm và bắt được lưng lưng nửa thùng gánh nước ốc và cua. Cua ốc luộc lên thôi là ăn đã ngon chứ chưa nói tới những món xào nấu, thêm những bữa rảnh rỗi má nó giã cua nấu nồi bún riêu cua ốc ăn mê tơi.
***
Gần cuối tháng mười Ta là thu hoạch đậu và khoai mùa sau, trúng mùa cũng không kém mùa bắp khoai vừa qua. Đậu xanh đậu đen hái trái phơi khô rồi đập hay dùng chân đạp để tróc vỏ mà lấy hột bên trong, đậu phộng thì nhổ lên lặt và phơi khô. Anh em nó phụ lặt đậu phộng, nhưng phụ lặt đủ để đem đậu tươi luộc ăn chơi, ăn tới nồng lỗ mũi.
Trời đã ngớt mưa, chỉ còn lưa thưa vài cơn mưa nhỏ. Sắp sửa kết thúc mùa mưa. Lúa tới lúc hột no sữa thì trổ lỗ trổ xả hết nước. Ngay mấy lỗ trổ ba nó đặt mấy tấm lưới, nước đổ dồn về đây, cá đi theo bắt được khá nhiều, nhưng nhiều phải kể là tép, tét nhiều đến nỗi búng nhảy lấp lánh dưới ánh nắng thấy từng mảng, từng vệt nhìn rõ ràng, bắt được đầy rổ bọng, rổ bọng to như cái thúng lớn, nan đan thưa hơn và bằng cật tre chớ không như thúng mủng, tép xào ăn liền ngọt sớt, còn dư làm cả khạp mắm tép nữa.
Xong đậu khoai là lúc lúa chín, những bông lúa nặng trĩu vàng rực tỏa hương thơm lừng, những buổi chiều nắng vàng tỏa xuống lúa càng óng ánh, có những chỗ lúa trĩu nặng thân cây đỡ không nổi nên ngã rạp xuống hết. Ba nó và mấy chú đầm cái sân cạnh ruộng, trên miếng đất trồng đậu vừa xong để gặt lúa phơi cho gần. Lúa nhiều gặt tới mấy bữa, lúa cắt khúc ngắn bó thành từng bó chất trên sân mướn cặp bò để đạp chớ không cắt dài mà đập bồ lâu công hơn. Lúa gặt chưa gom kịp bỏ đầy đồng mấy bữa chẳng xê dịch nhúc nhích chút nào, mà nói chi lúa ngoài đồng, cây trái ngoài vườn, nhà nhiều lúc cửa mở toang hoát cả ngày đêm chẳng có ai coi cũng hề gì, có người đi ngang còn khép cửa lại dùm.
Đêm rằng sáng trăng, tranh thủ buổi tối gió mát cho bò đạp lúa. Hai anh em nó và mấy đứa bạn chòm xóm, bạn học thay phiên nhau cầm roi đi sau cặp bò quất vào mông cho nó đi vòng tròn đạp lên những bó lúa chất cũng thành vòng tròn cho hột lúa rã ra rồi quây quần bên nồi chè bự tổ chảng của má nó nấu. Ba nó và mấy chú trong lúc chờ cho lúa rả hết, cũng khá lâu, chừng hai tiếng đồng hồ một nhã (một lần) lấy cái gãy xốc lúa ra lúa rạ ra rạ thì ngồi lai với xị đế, mồi mỡ cũng hương đồng gió nội, trái bí trái bầu hấp cá, trái mướp xào lòng gà vịt…Chú Tư râu nói mà như hỏi:
“Xong lúa vậy là coi như hết việc anh Hai hén”.
Ba nó chưa kịp trả lời thì chú Ba Mạnh, người phốp pháp, nhìn to khỏe như con trâu, đúng y cái tên Mạnh, tụi con nít mới nhìn là sợ phát run, chú cứ như ông Trương Phi chỉ thiếu bộ râu, ấy vậy chú lại ít nói và hiền khô như cục đất, thật thà như gốc rạ, chú hỏi nho nhỏ:
“Ủa, vậy khoai mì anh Hai đào một mình hả, hổng kêu tụi tui nữa hà?”.
Chú Tư râu tiếp lời:
“Thì còn có khoai mì, ảnh rỉ rả đào mươi bữa nửa tháng là xong, cần gì nhiều công”.
Chú Ba Mạnh không nói gì chỉ thấy thoáng buồn hiện lên trên nét mặt. Ba nó nâng ly rượu xây chừng:
“Nè, uống cạn cái nè”.
Ực cạn ly rượu ba nó chậm rãi:
“Mấy chú cứ lo, tui lại đang sợ hông đủ sức mà làm”.
Chú Ba Mạnh mặt giãn ra, chú hớn hở như trẻ con:
“Có việc hả anh, anh nói nghe chơi”.
Ba nó tiếp:
“Vụ khoai mì anh em tiếp tục phụ tui, xong nhờ thêm mấy chú nữa chớ dễ có nghỉ, nhờ mấy chú cùng tui vô rừng kiếm mớ cây, mớ tranh, tre thì sẵn đây” – Ba nó đưa tay chỉ mấy bụi tre cuối đất, nói tiếp: “tui tính làm thêm hai cái chái bên nhà chớ chật chội quá rồi đâu đủ chỗ để đồ”.
Chú Ba Mạnh cười hề hề, tiếng cười của chú nghe cũng hiền khô. Chú Tư râu cười lớn:
“Đúng rồi, anh Hai phải làm thêm chớ, lúa má, bắp trái để ở đâu, hổng chừng còn phải làm thên căn nhà lớn ăn ở tiếp khách, căn nhà này để làm bếp và kho chứa đồ”.
Ba nó cũng cười:
“Tui cũng dự định vậy nhưng chưa nổi đâu chú, nếu rảnh rỗi thì cứ kiếm dần dần, bộ cột, bộ kèo, đòn tay, cặp trính… tới đủ thì làm luôn, mấy chú cũng tính từ từ như vậy là vừa”.
Chú Ba Mạnh gật gù, đưa ly mời ba nó:
“Anh Hai nói có lý, kiểu gì cũng phải có cái nhà đàng hoàng”.
Đạp xong hai nhã lúa thì ba nó kêu nghỉ ngơi, còn bao nhiêu mai mốt làm tiếp. Nồi chè của tụi nó cũng sắp cạn, tụi nó xúm một lượt nữa là cạn queo luôn rồi rã đám hẹn mai đi học gặp lại.
***
Gặt hết lúa ba nó mướn chú Ba bừa cày ải đất để mùa tới. Kêu là chú Ba bừa mà chú cày luôn, chú có hai cặp bò chiến lắm, và thêm cỗ xe nữa, ai cần chở gì nhiều đều kêu tên chú. Cày đất xong lúc ngồi nhâm nhi với ba nó chú hỏi:
“Anh Hai nè, đất anh tốt, mùa này mưa nhiều còn giữ ẩm lâu sao anh hông làm luôn vụ đậu phộng trái mùa?, coi vậy chớ ngon ăn lắm chớ hông có giỡn đâu nghen”.
Ba nó gật đầu:
“Cảm ơn chú, tui biết nhưng sức lực có hạn chớ tham quá hổng được, hổng chừng thâm luôn, tại còn nhiều việc khác”.
Chú Ba bừa chặc lưỡi:
“Tiếc quá anh, tui thấy đất đẹp vậy mà”.
Ba nó chợt nảy ra sáng ý, chỉ chú ba Mạnh:
“A, mà nè hay chú Tư và chú Ba làm đi, khoai mì để tui từ từ đào, làm xong rồi phụ tui làm chái nhà”.
Chú Tư râu chần chừ:
“Nhưng tụi tui đâu đủ vốn liếng…”
Ba nó ngắt lời:
“Có gì đâu nè, đất đó cày rồi giờ bừa là xong, làm được bao nhiêu thì làm, còn phân giống tui cho mượn, chừng nào khá trả lại tui”.
Chú Ba Mạnh sáng mắt lên:
“Thiệt vậy hả anh?”.
Ba nó vỗ vai chú ba Mạnh:
“Thì vậy đi chớ thiệt với giả gì nữa, mai chú Ba bừa cho tui luôn nghen”.
Chú Ba bừa gật đầu:
“Anh tính vậy còn gì bằng, sẵn tui nói luôn, tiền công bừa coi như khỏi tính, cho hai chú, vụ bừa là có Ba bừa này”.
Chú Tư râu trợn mắt:
“Vậy sao đặng, cái nào ra đó, anh cứ tính bữa nào có tiền tụi tui trả”.
Chú Ba đưa ly:
“Uống đi, nói gì đâu hông, anh Hai có tính toán gì hông, tui bừa giúp hai chú một ngày có đáng bao nhiêu, thu hoạch có dư làm bữa nhậu là huề cả làng” – Chú Ba bừa cười khà khà, ba nó cũng gật gật cười khà khà theo.
Chú Tư râu và chú Ba Mạnh trồng được mỗi người hai sào ruộng đậu phộng, đậu phộng lên xanh tốt tuy không bằng đúng mùa như nhà nó trồng. Trong lúc đó ba nó đào khoai mì. Khoai mì để củ tươi được lâu, hai ba tháng nên nhà nó giữ lại một đống để dưới gầm phản, sáng sáng luột ăn dần, khoai mì chấm muối đậu ngọt ngọt dẻo dẻo và bùi bùi. Má nó kêu người bán cũng nhiều còn một phần thì lột vỏ xắt lát phơi khô để xay thành bột, bột khoai mì làm nhiều thứ, làm bánh khoai mì, bánh quai vạt, nấu chè…
Ba bốn ngày sáng sớm ba nó và chú Ba Mạnh cùng chú Tư râu vác rựa, vác cưa, quẩy cơm nước nước đi tới chiều tối mới về. Rồi ngày nữa chiếc xe bò lọc cọc của chú Ba bừa xuất hiện, trên xe chất đầy những bó tranh, bên dưới là những cây dài có cây to hơn bắp vế, cây to bằng bắp tay người lớn. Lấy cây to làm cột, cây nhỏ làm kèo và đòn tay, chặt tre phía sau nhà chẻ hom để đánh tranh thành từng tấm lợp và lạt để cột, vài ngày sau là thành hai cái chái rộng rãi hai bên nhà. Anh nó nằm ngửa nhìn chái nhà hỏi nó:
“Ê, mày biết cây này kêu cây gì hông?”.
Nó cười ha hả, trả lời đúng phóc, nó lẽo đẽo theo nghe ba nó và mấy chú trò chuyện biết liền mà, trả lời:
“Tưởng chuyện gì dễ ẹt, em biết rồi đó là cây bằng lăng, trúng phóc đúng hôn?”.
Anh nó ký đầu nó cái cóc:
“Hay quá ha, cây bằng lăng vỏ trắng, cây này là căm xe nghe chưa”.
Ba nó đặt bác Chín ở xóm trong làm cái cối xay lúa đem về để bên trong cái chái, kề bên quây mấy tấm mê bồ thành hình trụ tròn đổ lúa vô kêu là cái bồ lúa. Bác Chín chuyên làm cối xay lúa nên mọi người kêu là bác Chín cối xay. Bác làm ai cũng nói là nhứt, làm một cái cối mất cả tháng, cối xay lúa cách xay và kiểu cũng tựa như cối xay bột gạo bằng đá nhưng to và cao hơn nhiều, có cái cần dài dứng cầm xay. Cối đan bằng nan tre, bên trong đổ đất sét cứng, tạo các răng lượt bằng những miếng gỗ mỏng, bên ngoài trét cứt trâu để bít kẻ hở và cho bền. Ba nó cũng đặt làm cái cối giã gạo đạp chân, đặt ở chỗ chú thợ mộc để trong cái chái này luôn. Lúa xay xong lấy cái nia sẩy hay cái thúng nhỏ mà giê, cũng kêu là thúng giê, nhờ gió cho bay hết trấu, còn gạo lứt đem giã rồi giừng sàng gạo trắng ra gạo trắng, lúa sót chưa tróc vỏ ra lúa, cám ra cám. Cám để dành cho heo gà vịt.
Làm xong hai cái chái ba nó với hai chú tiếp tục đi lấy củi nhưng chỉ lấy về đủ chụm chớ không có thời gian làm đem bán nữa, cũng nhờ chú Ba Bừa chở xe bò về, mấy xe chất đầy sau nhà. Tới giữa tháng chạp, ba nó chặt kèm về mấy cây mai to, gốc bự hơn cái bắp vế, gồ gề sần sùi nhìn độc đáo. Ba nó đốt lửa thui gốc trồng vô chậu, lá thì lặt hết, cột cành uốn cong qua lại.
Chuẩn bị Tết năm nay má nó chuẩn bị cũng từ rất sớm, làm bánh mứt và đóng cốm, cốm và bánh in là nhiều nhứt. Cốm đóng từ nổ rang lúa nếp bung ra, ngào với đường đóng thành hộc, nổ má nó đổi lúa mà lấy, bánh in cũng làm từ nếp nhưng xay ra thành bột trộn với bột đậu xanh rồi cũng ngào đường đóng khuôn. Ba nó nói sang năm để hẳn một sào ruộng trồng nếp than, nếp than thơm lựng ngon nhứt trong các loại nếp, có cái để Tết và có nếp nấu xôi, và cả nấu rượu nếp than nữa. Hai mươi tám Tết mấy chú kéo nhau qua phụ mần một con heo đã gần cả tạ, để ở nhà gần một nửa con, cái đầu cúng tạ trời đất còn hơn nửa con chia xóm giềng, có ba phần đặt biệt là chú Chín, chú Tư râu và chú Ba Mạnh. Xóm giềng của ít lòng nhiều, ai có gì thì đem chia nhau một ít mà xài, nấu nồi chè dù nhỏ xíu cũng bưng một chén qua ăn lấy thảo.
Đến Tết, mai ra búp xanh non đầy cây, nở bông vàng rực rỡ, chậu to được đặt trước nhà thiệt là đã mắt, bên trong là chậu vừa vừa treo lủng lẳng những tấm thiệp xuân. Tết năm nay vui hơn năm trước nhiều, nhà cửa đông đúc, người lớn đi chúc mừng xóm làng rôm rả, thanh niên và con nít đổ cả ra đường cái từ xóm trong tới xóm ngoài, có tiền rủng rỉnh xúng xính quần áo mới chơi bầu cua cá cọp, ba hột xúc sắc xốc xốc dở dở. Pháo nổ đì đùng liên hồi, bắt đầu từ ngày đưa ông Táo lận rồi lai rai mỗi nhà cúng Tất niên sớm trễ, tới Giao thừa thì pháo nổ rần rần, sáng mùng một cũng nổ nhiều rồi từ từ ít dần cho tới cỡ mùng mười. Ở thôn quê pháo nổ vang xa cả vài cây số vẫn nghe, cứ nghe tiếng pháo là chộn rộn thấy không khí Tết đến rất háo hức, nhứt là đám con nít tụi nó, nhiều thằng nghịch tặc bày nhiều trò, làm pháo tên lửa, thăng thiên bay chéo chéo, đốt pháo hù nhiều cô gái, và nhứt là cắm viên pháo lên bãi cứt trâu còn nhão đốt rồi lấy cái lon sữa bò đậy lại, pháo bị ép nổ bung cứt trâu bay tứ tán, dính bê bết áo quần những cô nàng xinh đẹp đi chơi Tết thiệt là chỉ muốn khóc…
***
Hai năm sau, năm 1977 và 1978 trôi qua gần gống như năm 1976. Nó lên lớp sáu và đi học xa hơn, cách nhà bốn cây số, được ba mua cho nó chiếc xe đạp mini đạp đi về. Chỉ vài sự việc xảy ra ở làng xóm trong hai năm này.
Đó là một lần vừa đi học về, nó thấy mấy chú công an, xã đội và du kích tay áo quấn băng đỏ, bồng súng chạy ầm ầm bao vây nhà thím Bảy Hảo bán quán, chú thím Bảy chỉ biết đứng run cầm cập, mặt mày tái lét, không nói nên lời nào. Mấy chú này cũng chẳng nói gì nhiều, một số người nhào vô lục lọi khắp nhà, dở tung hết đồ đạt lên, cả mấy cái giường ngủ, một người chừng là đứng đầu nhóm nghiêm mặt hỏi:
“Bà là cháu ông Sèn ù phải không?”.
Thím Bảy lắp bắp:
“Dạ…dạ, dạ chồng tui mới… mới là cháu ổng, mà bà con xa lắc xa lơ…”.
Người đàn ông hỏi tiếp:
“Xa gần gì cũng là bà con, ông bà có giữ gì của ổng gởi không?”.
Thím Bày lí nhí:
“Dạ, đâu có giữ gì, mà mấy chú tìm cái gì?”.
Người đàn ông trừng mắt:
“Chú cháu gì ở đây, chỗ làm việc bà phải nói là cán bộ nghe không”.
Thím Bảy gật đầu lia lịa:
“Dạ, dạ, dạ thưa cán bộ”.
Người xưng là cán bộ nói tiếp:
“Tui hỏi một lần nữa thôi nghe, bà phải thành thật khai báo, bà dấu diếm mà tụi tui lục soát được là bà chết đó”.
Thím Bảy rưng rưng:
“Dạ, thưa cán bộ tui đâu có dấu cái gì, tui nói gian… ra đường xe cán…”.
Người cán bộ ngắt lời thím Bảy:
“Thôi, thôi, thề thốt gì, tào lao quá đi, thời buổi này là thời buổi gì còn thề thốt, thời mới bây giờ là chỉ tin vào chính quyền thôi nghe không?.
Thím Bảy dạ răm rắp, người cán bộ ra lịnh cho cấp dưới:
“Đồng chí Mừng lấy máy đi rà hết cho tôi, rà trong và vòng vòng xung quanh nhà luôn, không được bỏ xót chỗ nào”.
Người có tên Mừng đứng nghiêm trước mặt người cán bộ:
“Báo cáo đồng chí, rõ” – và đi lấy cái máy rà, rà như người cán bộ nói, rà xong hết quay lại chỗ người cán bộ: “Thưa đồng chí, đã rà kỹ rồi nhưng không thấy gì hết”.
Người cán bộ lộ rõ vẻ bực mình chửi đổng:
“Mẹ kiếp cái thằng Ba Tàu Sèn ù này không biết nó tẩu tán tài sản ở đâu, tìm thấy mẹ vẫn không ra” – Một hồi sau ra lịnh tiếp: “Thôi rút”
Một người trong toán hỏi:
“Còn mấy cái bao này tính sao đồng chí?”.
“Thì tịch thu đem về xã chớ sao, vượt quá quy định buôn bán lẻ”.
Toán người vác hai cái bao lên mấy chiếc Honda 67 nổ máy chạy đi. Má nó chạy qua nhà thím Bảy, lính quýnh hỏi:
“Họ có lấy gì hông vậy?”.
Thím Bày còn hồi hộp, nói nho nhỏ:
“Chỉ lấy hai bao mấy đồ linh tinh thôi chị, may quá tui gởi bên vườn nhà chị chớ hông là tiêu hết rồi, với lại họ chủ yếu tìm vàng vòng của ông Sèn ù, chú chồng tui, ông này đi đâu rồi, tài sản ổng chẳng biết ra sao, họ nghi ngờ gởi ở chỗ tui”.
Má nó à lên:
“Thì ra là vậy, nghe đồn là đang chiến dịch oánh tư sản”.
Thím Bảy gật đầu:
“Đúng rồi đó, nghe đâu dưới thị xã nhiều hãng nước mắm, nhiều xưởng đông lạnh, khách sạn, rạp hát hay nhà làm ăn lớn đều bị tịch thu hết rồi, bây giờ nhà nước quản lý”.
Thím Bảy lấy đồ dấu ở sau vườn nhà nó về, cất kỹ sau nhà, không treo nhiều đồ trước nữa, mà cũng mấy thứ linh tinh, xà bông, bột ngọt, đường và mắm muối mà người ta nói bây giờ không cho tích trữ. Còn ông Sèn ù là người nổi tiếng giàu có ở thị xã, ông có nhà vườn cách nhà nó khoảng cây số nhưng biết vậy chớ chưa bao giờ thấy ông ở đó từ ngày nhà nó về đây. Trước bữa lại lục soát nhà thím Bảy, toán người này cũng đã lục soát nhà ông Sèn ù rồi sau đó niêm phong nhà luôn.
Một tuần sau cái ngày lục soát, toán người cũ quay trở lại trên chiếc xe lam, họ dẫn giải chú Bảy đi đâu không rõ, không ai biết kể cả vợ con chú, biệt tăm biệt tích khoảng chừng sáu tháng sau thì chú Bảy lủi thủi một mình trở về, nhưng kể từ đó về sau cũng không ai biết điều gì xảy ra bởi chuyện này nửa lời chú cũng không hé môi, ai hỏi chú liền lảng qua chuyện khác.
Trong hai năm này lâu lâu nó lại thấy những chiếc xe Molotova nối đuôi nhau thành đoàn dài hơn cả cây số chạy từ hướng Sài Gòn ra hướng bắc, tới khoảng xóm nhà nó thường dừng lại, xin nước dân làng nấu nướng nghỉ ngơi qua đêm, hỏi xe chở gì mấy chú này cũng không rõ chỉ biết chở chiến lợi phẩm từ miền Nam. Mấy chú thường hay hỏi mua khoai lang khô của bà con đóng bao chở về, có bao nhiêu muốn bán cũng mua hết, mấy chú nói ngoài đó khan hiếm hàng hóa mua về bán kiếm thêm chút tiền lời. Những chiếc xe Molotova nổ máy bằng cách đút cái cần bằng sắt trước đầu xe mà quay bần bật, chạy xình xịch chầm chậm.
Rồi thêm những lời đồn ra đồn vào, đồn nghe ớn lạnh cả người lớn chớ không chỉ trẻ nít như tụi nó, như ai để móng tay dài hay sơn móng tay là sẽ bị chính quyền rút móng, ăn mặt như dân híppy áo dài phủ đít quần ống loe sẽ bị lấy kéo sởn ngắn, xẻ toạt ra, tóc tai cũng vậy phải để gọn gàng, ở sau ót hớt cao lên ba phân, phía trước chắc chắn là cắt ngắn rồi, cấm có phủ có che. Và nhứt là lời đồn làm bà con hoang mang là sẽ có chính sách đổi mới làm ăn.
Giữa năm 1978 thì có hai chiếc xe cam nhông tới bên nhà chú Chín chở hết đàn bò đi, chú Chín về thị xã mấy ngày sau trở lên, chú qua nhà nó ngồi uống rượu vừa chập tối, ba nó hỏi:
“Vậy là mấy đứa nó quyết định bán hết bò” – Ba nó ý nói mấy người con ông chú của nó. Chú Chín gật đầu:
“Dạ, bán hết rồi anh”.
“Còn nhà cửa đất cát thì sao chú?”.
Chú Chín thở dài:
“Thì để đó chớ sao anh, bây giờ đâu có bán được, ai mà mua, người ta đang chờ chính sách mới”.
Ba nó chau mày:
“Chẳng biết chính sách mới thề nào, chỉ nghe đồn đoán không, mệt thiệt”.
Chú Chín lắc đầu:
“Tới đâu hay tới đó chớ biết sau được anh ơi”.
Ba nó hỏi tiếp:
“Chú nhứt định phải đi?”.
Chú Chín giọng buồn buồn:
“Dạ, chớ đâu khác được, bò bán hết rồi, tui đâu coi sóc gì nữa, tui cũng đâu có nhà cửa đất cát gì ở đây, đi vô chỗ đứa em nó cho đất”.
“Chú nói ở Miền Tây?”.
Chú Chín gật gù:
“Phải đó anh, đi Vùng bốn chiến thuật* (Miền Tây), đứa em nói trong đó còn thoải mái, chưa nghe động tĩnh gì, với lại đất đai ở trỏng cũng tốt lắm, trồng lúa trồng vườn còn dễ hơn ở đây”.
Ba nó tán đồng:
“Đúng rồi, hồi tui còn đi quân dịch* (*đi lính) có vài lần về dưới này thấy vườn cây trái xum xuê lắm, ruộng lúa bạt ngàn, sông nước thì ôi thôi chằng chịt, cá tôm nhiều vô kể, thảy cái lưới xuống là ăn muốn mệt xỉu”.
Chú Chín mắt sáng lên:
“Dạ, anh nói chí phải, cá mắm ở dưới ê hề, nhứt là mùa nước nổi đó anh”.
Ba nó giọng trở buồn buồn:
“Thời thế biết đâu mà lần hen, mà thôi ở đâu sống tốt là được, chú đi lâu lâu nhớ ghé về chơi”.
Chú Chín nghèn nghẹn:
“Dạ, phải về chớ, nơi này tui gắng cũng đâu ít, biết bao kỷ niệm, biết bao tình thâm bà con lối xóm”.
Chú Chín và ba nó ngồi tới khuya vẫn chưa về, có lẽ bịn rịn chia tay và cũng từ đó, chú Chín nói sẽ ghé về lại nhưng chưa một lần chú trở lại.
Nhưng có lẽ chuyện mà đọng mãi khó phai về sau trong ký ức nó là câu chuyện buồn thê lương ở xóm trong. Xảy ra chuyện ai nấy muốn rụng rời, hai đứa trạc tuổi nó có chơi chung nhiều lần lượm được mấy trái rất đẹp, thân màu bạc sáng có đầu tròn vàng ươm, vậy là đập thử chơi mà không biết đây là trái lựu đạn rơi vãi, đạn phát nổ và cả hai tử vong, thân xác không toàn thây, đứa mất tay, đứa chưn cẳng chẳng còn nguyên vẹn. Tiếng gào thét xé lòng của mẹ hai đứa bạn: “Hòa bình rồi sao lại thế này, Trời hỡi Trời ơi!”.
Tuổi thơ không nhớ dai, tuổi thơ mau quên với nhiều trò vui nơi cánh đồng, dưới bầu trời xanh, nếu bỏ qua vài chuyện như vậy thì hai năm trôi qua bình yên, những năm tuổi thơ của nó thật dịu dàng hồn nhiên với cỏ cây, hoa lá, với rơm rạ với đất cày…
***
Năm tiếp theo thì hoàn toàn khác. Và bắt đầu từ đó thì hoàn toàn khác.
Vừa ăn Tết xong bà con thấy lục tục mấy người trên xã chở xuống cái thanh tà vẹt đường ray xe lửa bằng chiếc xe lam. Treo ngay nhà ông Sáu Hoàng cách nhà nó khoảng nửa cây số, nhà ông Sáu Hoàng là nhà tường quét vôi lợp tôn xi măng, nhà rộng lớn, ông ở đây đã lâu đời, cạnh nhà ông có con đường xe bò đi vô xóm trong và vô rừng. Treo xong họ lấy thanh cây sắt gõ thử nghe kêu keng keng vang rất xa, người đánh người chạy tuốt luốt gần cả cây số thử có nghe không, chạy lòng vòng đánh rùm beng cả buổi trở lại nhóm người gật đầu, tốt, nghe rõ hết xóm, cái kẻng này là hết ý. Vậy là họ làm cái kẻng.
Buổi chiều chạng vạng có tiếng loa loa lập đi lập lại vang lên:
“Alô alô, bà con xóm mười tới xóm mười bốn ghe đây, đúng bảy giờ ba mươi ngày mùng mười mời chủ hộ tập trung về nhà ông Sáu Hoàng để họp, nghe chỉ thị chủ trương của nhà nước, phải đi họp đầy đủ, ai không đi sẽ mất quyền lợi về sau, alô alô…”.
Nó nghe tiếng rất quen, chạy ra coi thì đó là tiếng của chú Tư râu, nó chạy vào nói với ba nó:
“Chú Tư râu đi alô ba ơi”.
Ba nó trầm ngâm:
“Ba biết rồi, mà hông được hổn, chỉ kêu chú Tư thôi nghe chưa”.
Nó lý nhí:
“Dạ”.
Sáng ngày mùng mười, bà con bốn xóm tụ tập đông đủ ở nhà ông Sáu Hoàng. Trước nhà, trên cái sân xi măng đã được dựng thêm cái rạp, phía bên trong gần cửa nhà sắp bộ bàn ghế ở giữa rạp trải khăn bàn trắng, bốn người ngồi ở đó im lặng nghiêm trang cầm tập giấy lật tới lui coi đi coi lại, xéo xéo cái bàn này là bàn với hai người ngồi với tập giấy và cầm sẵn viết, mấy chú du kích người bồng súng người súng vắt vai nghiêm nghị, mặt sắc như tiền, có người còn nghênh nghênh đi vòng vòng xung quanh. Bà con được kêu ngồi hết xuống sân. Mùng mười nhằm ngày chủ nhật nên đám con nít tụi nó cũng lu bu chạy tới lấp ló coi họp hành ra làm sao.
Đúng tám giờ, một người ngồi giữa chỗ bàn trải khăn đứng dậy trịnh trong:
“Kính thưa đồng chí bí thư” – Người này nhìn qua người kế bên rồi quay qua phía bên ngược lại: “Thưa đồng chí xã đội trưởng, đồng chí trưởng công an xã, thưa bà con, bà con biết rồi tui là chủ tịch xã, hôm nay tui điều hành cuộc họp này để phổ biến chỉ thị chủ trương của nhà nước ta, mời bà con bắt đầu dự họp”.
Ở dưới có tiếng xì xào to nhỏ, bàn hai người cầm viết bắt đầu viết. Ông chủ tịch xã cầm xấp giấy đánh máy lên bắt đầu đọc: “Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. Tỉnh… ngày… tháng… năm…Căn cứ…. căn cứ…. Quyết Định…”
Ông chủ tịch xã đọc hết trang giấy xong, dừng lại một chút. Bên dưới bà con ngơ ngác. Người hỏi râm ran qua lại, hợp tác xã là sao, hợp tác xã là như thế nào?, người lắc đầu, người không hiểu. Ông chủ tịch nói tiếp:
“Thưa bà con, như vậy là quyết định thành lập hợp tác xã nông nghiệp, xã ta chia làm bốn hợp tác xã, mỗi hợp tác xã có sáu đội, bốn xóm bà con ở đây hợp lại là đội sáu, gồm năm mươi hai hộ gia đình, thuộc hợp tác xã hai”.
Một người đứng dậy hỏi:
“Thưa ông chủ tịch, hợp lại rồi làm ăn ra sao?”.
Ông chủ tịch chậm rãi:
“Bà con yên tâm, tui sẽ trình bày ngay đây, vào hợp tác xã là bắt buộc và có lợi cho bà con, đất đai, ruộng vườn và tư liệu sản xuất như trâu bò quy về một mối, đội với hợp tác xã quản lý, cùng làm ăn chung, bà con chỉ bỏ sức lao động ra thôi, còn mọi thứ khác như giống, phân… bà con không phải lo, tất cả đã có nhà nước lo, làm tính công điểm, công lao động người lớn là mười điểm một công, công lao động phụ trẻ em dưới mười tám tuổi là năm điểm, đến hết mùa điểm được quy ra lúa, ra bắp, ra khoai thu được, làm bao nhiêu điểm hưởng bấy nhiêu…”.
Có một người lớn tuổi đứng dậy cắt ngang với giọng tức tối:
“Làm như vậy khác gì cướp đất, cướp bò của bà con bỏ vô hợp tác xã”.
Ông chủ tịch giải đáp giọng có gằng hơn:
“Không phải vậy, nhà nước ta là nhà nước công bằng, bà con vào hợp tác xã là không còn bất công, không còn cảnh người giàu kẻ nghèo, làm thuê làm mướn, bóc lột sức lao của người không có đất có vườn”.
Một người nữa đứng dậy định nói, ông chủ tịch ra hiệu ngồi xuống rồi nói luôn:
“Thôi cuộc hợp hôm nay để thông báo cho bà con được rõ, chuẩn bị tinh thần đến đây là kết thúc, chúng tôi sẽ thông báo ngày họp tiếp theo để triển khai chi tiết, chào bà con”.
Ông chủ tịch xếp tập giấy bỏ vào cặp táp cùng ba người ngồi cùng bàn và hai người ngồi viết với mấy chú du kích đi ra, người lấy xe Honda, người lấy xe đạp chạy đi để lại bao ánh mắt ngỡ ngàng của bà con bốn xóm. Tan hàng ra về vẫn còn lao xao, như vậy là ăn cướp, như vậy là ép buột chớ công bằng cái gì, công sức người ta bao nhiêu năm coi như mất trắng, một số người thì gật gù đồng tình, tui thấy hay đó chớ, làm chung đông vui, cùng hưởng cùng làm giàu…”.
Về tới nhà ba nó ngồi phịch xuống, người thẩn thờ, má nó rót lý nước:
“Ông uống nước đi, làm gì như người mất hồn vậy?”.
Ba nó thở dài thường thượt trả lời:
“Mất thiệt rồi chớ gì nữa”.
Má nó lo lắng:
“Có chuyện gì dữ vậy?”.
“Mất hết rồi, đất cát mất hết rồi…”.
“Là sao, chuyện gì ông nói rõ coi”.
“Là phải giao đất hết cho vô hợp tác xã, cùng làm ăn chung ăn chạ”.
Má nó như không tin:
“Phải giao hết hả?”.
Ba nó gật đầu:
“Phải giao hết”.
Má nó cũng ngồi phịch xuống thẩn thờ, hồi sau má nó lầm rầm:
“Thôi kệ chớ biết sao bây giờ, người ta sao mình vậy”.
Một tuần sau chú Tư râu lại đi thông báo bằng cái loa tay cuốn bằng tấm tôn, thông báo ngày mai đi họp tiếp.
Lần họp nầy ông chủ tịch xã nói triển khai chi tiết. Mỗi hộ gia đình được giữ lại sáu trăm mét vuông đất thổ cư, đó là đất làm nhà ở, hai sào đất thổ canh để canh tác, có nghĩa là để trồng rau củ, cây trái, ai muốn trồng gì thì tùy. Bầu đội trưởng và đội phó, nói là bầu chớ thực ra chỉ định sẵn rồi hỏi bà con có đồng ý không, ai không đồng ý vì lý do gì, lấy số đông kêu đa số thắng thiểu số. Và chú Tư râu được bầu làm đội trưởng, ông Sáu Hoàng chữ nghĩa rành rọt làm đội phó ghi sổ sách. Thành lập một tổ đo đạc, đi đo đạc đất thổ canh thổ cư cắm mốc, đo đất cát, ruộng vườn của ai còn lại xung vào hợp tác xã bao nhiêu ghi hết vào sổ.
Có người phản đối nói tại sao không để những người giỏi, những người có trình độ làm đội trưởng, người nói chú Tư râu có học hành bao nhiêu trong khi còn có người học hành đàng hoàng hơn nhiều, có mấy người đề cử mà ba nó là người đứng đầu danh sánh.
Ông chủ tịch xã gạt ngang:
“Thưa bà con, chính quyền biết rồi, nhưng làm trong bộ máy lãnh đạo phải có lý lịch trong sạch, không dính dáng gì tới chế độ Mỹ – Ngụy, chú Tư râu hiện thời ít học nhưng sẽ được cho đi phổ cập, cho đi học thêm”.
Tới đây thì bà con hết còn ý kiến gì nữa.
Tổ đo đạc ngay ngày hôm sau là bắt đầu đo luôn. Lấy cây sào bằng cây le dài bốn thước mà phóng tới. Cây le giống cây tầm vông, le không có gai như tre ở đây, cây tre đá gai góc nhọn hoắc và đâm tua tủa.
Sau khi đo đạc đất cát xong là thu gom hết bò, cày bừa và xe bò về nhà ông Sáu Hoàng. Được năm cặp bò đực, năm cái cày, bừa, xe bò hai chiếc. Đội làm bốc thăm để hộ nào bốc trúng thì nuôi cặp bò, hộ nuôi bò mỗi ngày được ghi một công điểm. Và quy định giờ giấc, tiếng kẻng. Sáng sớm năm giờ đánh một tràng dài báo hiệu để thức dậy vệ sinh, thể dục, lo cơm nước sáng, bảy gờ đánh ba tiếng là tất cả lao động tập trung ở nhà ông Sáu Hoàng, sau đó được phân công đi làm ở đâu theo đội trưởng chỉ đạo, mười một giờ rưỡi đánh một tiếng nghỉ trưa, ai về nhà nấy, một giờ đánh tiếp ba tiếng tập trung lại chỗ làm buổi sáng, năm giờ có một tiếng kẻng kết thúc buổi chiều. Đánh kẻng ba hồi là tối đó bảy giờ tập trung lại họp.
Ba nó bốc trúng giữ một cặp bò. Cả nhà vừa mừng vừa lo. Mừng là có thêm được công điểm, có phân bò làm đất thổ canh, lo là hai anh em nó chưa bao giờ chăn bò, không biết ra sao, với lại được giữ cặp bò phải cử người giữ rẫy trong rừng, trong rừng cách làng khoảng gần ba cây số có mấy rẫy người ta phát lao tre, rồi đốt sạch cho đất rất tốt, mỗi rẫy rộng chừng hai mẫu, rẫy này đội nó cũng không biết của ai, chỉ biết hợp tác xã giao. Anh nó trấn an ba má nó:
“Không sao đâu, ba má khỏi lo, tụi con giữ được”.
Nó cũng nghĩ như vậy.
***
Đầu tháng ba là nghe tiếng kẻng. Trước đó mấy ngày là đã có tin phổ biến bắt đầu. Đúng như quy định vậy, bảy giờ có mặt tại nhà ông Sáu Hoàng, mỗi hộ ít nhứt một người, có hộ hai ba người, đoàn người hơn cả trăm lục tục vác cuốc kéo nhau đi dãy cỏ hết chỗ này tới chỗ khác. Ban đầu thấy cũng đông vui vài ba bữa sau bắt đầu xìu xìu ểnh ểnh, chia nhóm này bè nọ, người mới đầu làm hăng say sau thấy người tà tà cũng tà tà theo, vừa làm vừa tán chuyện, tới đâu hay tới đó, nhìn nhau mà làm .
Chú Tư râu thì loay hoay chạy đầu này chỉ làm cái này làm cái nọ, rồi cũng chạy tới chạy lui, thúc giục chỗ này làm nhanh lên, quát tháo chỗ kia làm chậm chạp. Đang làm anh Hải mà mọi người cho thêm biệt danh Hải tặc, bỏ cuốc móc bịch thuốc rê ra vấn hút, chú Tư râu nổi nóng:
“Cái anh kia, mọi người ai nấy làm còn anh bỏ cuốc nghỉ là sao?”.
Anh Hải im lặng vấn xong điếu thuốc, lấy lưỡi liếm cho giấy dính lại, thuốc rê còn gọi đùa là bóc lăng xe le lưỡi liếm, châm lửa nhả một làng khói anh Hải hất hàm:
“Thèm thuốc hít một hơi hổng được sao? Bắt nhịn lấy tinh thần đâu mà làm”.
Chú Tám Phèn gật đầu:
“Đúng đó, nghỉ chút hút điếu thuốc bà con ơi”.
Chú Tư Râu hầm hầm mặt:
“Hút nhanh đi rồi làm cho xong”.
Mấy người đàn ông tụm lại hút thuốc, mấy bà mấy chị cũng nghỉ theo. Chú Tư không nói được nên bỏ đi. Anh Hải chửi:
“Mẹ, cha nội dốt như bò, học ba chữ không xong bây giờ làm phách”.
Chú Tám Phèn nói theo:
“Mấy cha xã, mấy cha du kích cũng vậy chớ khỉ gì”.
Chú Tám phèn vỗ vai anh Hải:
“Chú mày ngon, lỳ đòn hen”.
Anh Hải cười trả lời:
“Hạng người này phải nói vậy”.
Vài người chửi thêm vài câu nữa.
Anh Hải có biệt danh Hải tặc để phân biệt với anh Hải đất, anh này hiền khô như cục đất, còn anh Hải có người nói giỡn giống cướp biển nên kêu là vậy nhưng chủ yếu là vì Hải là biển.
Tối tối bây giờ không còn chú Chín, chú Tư râu thì bận bịu, chỉ có chú Ba Mạnh ghé lai rai với ba nó. Một bữa ngồi nhâm nhi, chú Ba Mạnh lắc đầu:
“Tụi thấy điệu này căng quá anh Hai”.
Ba nó hỏi lại:
“Vụ gì chú”.
“Dạ, thì chuyện đi làm hợp tác xã nè, tui nghĩ khó thành quá”.
“Ý chú là kiểu cha chung không a khóc, làm cho có hả”.
Chú Ba gật đầu:
“Đúng đó anh, tui thấy kiểu làm cho xong, không biết đi về đâu, làm ẩu làm tả, nhiều người bất mãn quá”.
Ba nó thở ra:
“Tui cũng thấy rồi mà hổng dám nói, nhưng mà thôi chú ơi, tai vách mạch rừng, lỡ có gì thì chết, bỏ đi nói chuyện khác chơi”.
Chú chín gật đầu đưa ly uống cạn, ba nó và chú tiếp tục chuyện trò nhưng không còn đá động gì tới chuyện hợp tác xã nữa.
***
Một buổi tối vừa cơm nước xong chợt nghe ba hồi kẻng. Ba nó bước ra đi họp sau khi thắc mắc: “Không biết họp chuyện gì mà gấp gáp giờ mới oánh kẻng, không oánh từ sớm”.
Họp không lâu chừng tiếng sau ba nó trở vể. Má nó nãy giờ ngồi đợi:
“Họp hành nói chuyện gì vậy ông?”.
Ba nó uống ngụm trà trả lời:
“Có chuyện nữa rồi nhưng nhà mình không dính, chuyện là nhà nào có con cái đủ mười tám tuổi bắt buột phải đăng ký nghĩa vụ quân sự, chủ yếu là con trai, con gái thì tình nguyện, mà chỉ những nhà có lý lịch không dính gì tới chế độ cũ”.
Má nó hỏi tiếp:
“Đăng ký nghĩa vụ là đi lính đó phải hông?”.
Ba nó ừ:
“Nhưng đăng ký xong còn khám coi có đủ tiêu chuẩn không nữa đã, nhưng bà con đang lo lắng, nói thì vậy chớ bây giờ là đi tuốt luột hết, có chính sách tổng động viên, chiến trường ở Campuchia đang ác liệc lắm, đi là chết chín phần mười, có còn được trở về cũng bị thương tật”.
Má nó thở ra:
“Lại chiến tranh, sao khổ hoài vậy”.
Xã thông báo sau cuộc họp ba bữa tức sáng chủ nhựt tất cả nam thanh niên đi đăng ký nghĩa vụ. Sáng chủ nhựt ở xã bắt đầu rộn ràng, bác sĩ và huyện đội xuống kết hợp với xã đội và du kích chuẩn bị bàn ghế, giấy má… Rồi chờ mãi chờ hoài từ sáng tới trưa, qua luôn buổi chiều chỉ lèo tèo có vài ba thanh niên tới đăng ký. Ông ở huyện đội tức giận:
“Các đồng chí có phổ biến xuống cho nhân dân chưa?”.
Chú xã đội trưởng tên Cường phân bua:
“Dạ thưa đồng chí đã thực hiện đúng như công văn chỉ thị, đã họp phổ biến toàn dân”.
“Thế tại sao vắng như chùa bà đanh thế này, các động chí phải biết vận động quần chúng nhân dân, các đồng chí phải nắm danh sách hộ gia đình nào có con em đúng tuổi để vận động ráo riết, thôi tôi cho các đồng chí tuần sau, phải đạt chỉ tiêu chớ không là không được, xã mình ít nhất là phải một trăm”.
Xã đội trưởng Cường gật đầu:
“Đồng chí cứ yên tâm, lần này chúng tôi sẽ vận động”.
Buổi chiều nó cỡi lưng bò dắt theo con bò phía sau ra đồng gần rừng nhập bọn với những đứa chăn bò khác. Gần cả tháng nó tập cỡi bò bây giờ đã rành rẽ, nó phóng cái tót là lên lưng liền. Nó cỡi bò đi ngang nhà chủ bò cũ, hai đứa con gái là chị em ở trong nhà thấy nó phóng ra, đứa chị hất đầu:
“Ê, ai cho đi ngang nhà tao thằng ăn cướp?”.
Nó cũng hất đầu hỏi lại:
“Ăn cướp gì mậy, có đường thì tao đi, ai cấm?”.
Con nhỏ em đứng kênh kiệu:
“Ăn cướp bò chớ ăn cướp gì nữa, giả ngu hả mày”.
Nó ức quá nhảy xuống:
“Bò hợp tác xã giao nhà tao chớ ăn cướp hồi nào, tao thèm chăn bò lắm hả?”.
Con chị đứng thủ thế:
“Mày nhảy xuống định uýnh lộn phải hông, ngon nhào vô thằng ăn cướp”.
Con em cũng thủ thế theo:
“Nhào vô mày”.
Nó định nói chấp hai chị em mày luôn, tao bẻ một phát là gãy giò hết đi, nghĩ lại ai lại đi uýnh lộn với con gái, quê thấy mồ, nhảy lên lưng bò thúc đi nhanh, nó nói với lại:
“Tao thèm đụng tới thứ con gái tụi bây”.
Hai chị em la làng theo:
“Cha con ông Hai Sài Gòn ăn cướp”.
Nó thúc bò chạy lúp xúp, nghe câu này sực nhớ lại câu của ba, tuy nó chưa hiểu gì mấy: “Mấy đứa nhỏ bị cướp mất tuổi thơ rồi”.
Ra tới đồng nó còn bực bội, định nhập bọn đám chăn bò rủ chia phe chơi trò đấp lô cốt oánh trận giả cho bớt, đám chăn bò đang ngồi trong gốc cây cày cao to có bóng mát lớn, cây cày cứng kinh khủng nên chẳng ai cưa chặt nổi nên nó còn chình ình đứng đó. Đi lại thì đám chăn bò đứa nào đứa nấy ngồi lù lù một đống buồn thỉu buồn thiu chớ không như mọi bữa, không chạy nhảy vui chơi thì ngồi kể chuyện tiếu lâm cười ngả nghiêng, nó hỏi:
“Có chuyện gì vậy tụi bây?”.
Chẳng thằng nào buồn trả lời.
Nó nói tiếp:
“Tao đang bực thấy mồ tổ đây, gặp tụi bây làm gì mặt thằng nào thằng nấy như cha chết hổng bằng vậy”.
Như bị chạm nọc, thằng Hào sừng cồ:
“Thì có khác gì cha chết”.
Nó giựt mình:
“Chuyện gì ghê vậy tụi bây?”.
Thằng Cu anh lên tiếng:
“Thì mai anh thằng Hào, anh thằng Cọt phải đi bộ đội, tụi nó buồn chớ sao”.
“Thiệt vậy hả mậy Hào, Cọt?”.
Thằng Hào và thằng Cọt gật đầu, thằng Hào nói như mếu máo:
“Cả tuần nay mấy ông xã đội ngày nào cũng xuống, nói miết làm ba tao chịu hông nổi, ổng ký giấy ngày mai anh tao phải đi rồi”.
Thằng Cọt nói theo:
“Mấy ổng nói không tự động lên thì cũng bị bắt hà”.
“Nhưng tao nghe nói chưa chắc đi, mới khám thôi mà”.
Hai đứa nó lắc đầu:
“Có tên là đi hết, không dễ trật đâu, mà đi là chết chắc”.
Nó cố trấn an hai thằng này:
“Chưa chắc vậy đâu tụi bây ơi, mấy ổng đi vài năm rồi về chớ gì”.
Nghe nó nói mấy thằng đỡ bớt buồn chớ nguyên một buổi chiều tụi nó xoay quanh mấy chuyện này thiệt là thê lương. Bữa nay tụi nó lùa bò về sớm, nó cỡi bò đi đường khác, không theo đường cũ ngang nhà hai đứa con gái chằn lửa nữa.
LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

Đất nước đổi mới gì cũng mới…Học hành cũng mới-lịch sử đổi…Công dân cũng đổi-Đạo đức tốt?Tuổi thơ sớm làm người đổi nốt! Lao động tốt sống đời mới -Giàu như nghèo sống mới vui?Của Chung không riêng -sống phân phối…”NGANG BẰNG”-đời nào khổ trên đời?Mở ra chân trời một thế giới…”Bắt ốc mò cua -tuổi thơ tôi!Lớn nhỏ thi đua -sống đẹp đời?Lao động cho ta”Sướng mới Hưởng?”Rồi cật lực sản xuất tăng cường…Cả nước người người lo cái CHUNG Và chính sách ĐỘNG trong dân chúng-Một quan điểm SỐNG TỐT vô cùng!?…Nhưng LÒNG NGƯỜI-Đời nào đều giống???Từ Trên xuống Dưới nào MỘT LÒNG???-Thế rồi tuổi Thơ trôi theo dòng..Dòng đời PHÂN BIỆT trôi nổi sống…”Sống đời vẫn-QUYỀN cao CHỨC trọng Là đời sung sướng CÓ phần trong?”….Ngẫm cuộc đời bỗng thốt lời buồn…”Thời nào cũng lấy NHÂN làm TRỌNG Thì đâu có chuyện phải KHỔ LÒNG?
ThíchThích