Anh Chi Yêu Dấu (14)

Đinh Tiến Luyện

girl-with-long-hair-blowing-heart-shaped-bubbles-pink-red-feminine-woman-fine-art-oil-painting-beautiful

mười bốn

CON CHIM TRẮNG NHỎ BÉ CỦA TÔI ĐÃ BAY MẤT về trời, năm đó. Để lại cho tôi một lời hẹn không của những ngày chủ nhật bâng khuâng rơi mãi trong đời. Em là tiếng chuông mơ hồ rung lên trong quê hương trái tim tôi, ngân nga đã suốt bao năm rồi không mỏi. Vẫn là em ngoan ngoãn như ngày nào, với môi cười và mắt nhìn đằm đằm yêu thương. Em Chi nè anh. Rồi em ngồi xuống bên tôi, với những công việc bận rộn cũng có có, hoặc khi một mình tôi với những phiền toái, những nỗi buồn quanh quẩn đeo đuổi. Em ngả đầu ngủ ngoan như nai giữa những giấy tờ sách báo bừa bộn trên bàn tôi, chờ tôi làm xong công việc. Dậy thôi, đi và nói chuyện với anh, đi và hờn giận cho anh dỗ, đi và cười phụng phịu cái má đòi anh mi cả hai bên. Em Chi nè anh. Em đòi điếu thuốc trên tay tôi và ngồi xuống im lặng cho đến khi tôi bỏ được những buồn phiền nặng nề trong đầu, quay sang nói chuyện với em. Anh vẫn nhớ em đầy ắp biển cả, như bao giờ. Nhớ em như một thiên thần bản mệnh, phù hộ và an ủi trên mọi lối đi lối về của đời sống lạ lùng ấy. Đã tưởng tôi mất em, nhưng thực sự là mới bắt đầu có em, rạng rỡ hơn bao giờ.

Cuối mùa thu năm đó tôi trở về để tiễn những cơn mưa muộn màng của Sài Gòn, để thấy thành phố bụi đã có một chút thay đổi. Con đường trước cửa nhà em có hai hàng me đã bị đốn đi để người ta mở thành một con đường rộng nườm nượp xe cộ và tiếng động suốt ngày. Tôi trở về để có một lần điên lên, tới đập tay thình thình vào hai cánh cổng gỗ nhà Chi rồi lầm lũi bỏ đi. Hai cánh cổng cao đen đủi đã khép lại như chôn kín căn nhà nhiều cây cối trong đó, nhốt kỹ con chim nhỏ dễ thương của tôi. Mỗi lần ngang qua nhìn vào, hồn tôi lại thắt đau, nghẹn ứ. Trở về căn phòng đã ẩm mốc những bàn ghế sách vở, để thấy bức tường trong phòng mình như rộng mãi thêm, tôi bỗng cảm thấy trong khi đi, khi ngồi, khi đứng, khi ăn, khi nghỉ ngơi có lẫn một chút gì chán nản, mệt mỏi. Chị Hà bảo, Huy như người mất trí, chị chịu chả giúp được Huy gì. Ngày nào Huy xếp đặt kỹ lắm về việc học hành, cuối cùng lại để lỡ mất. Huy có nhớ Huy đã nói với chị những gì không? Tôi lầm lì trong mọi động tác quen thuộc, trong mọi câu chuyện hàng ngày. Trường có viết thư cho tôi, cùng cả những dòng thư của Liên và Chúc trong một phong bì, tôi cũng chẳng nghĩ gì tới việc phải viết lại cho họ. Căn nhà đóng kín cổng trên con đường cây cối mới bị đốn hết đi là nỗi thao thức lớn trong quãng thời gian này. Tôi không thể nào biết nổi Chi có còn ở trong căn nhà đó, hay ở một nơi nào khác mà tôi chưa biết tới. Mất liên lạc với em, tôi lao đao thấy rõ. Công việc định làm là sẽ sơn phết lại vài thứ đồ đạc trong phòng và dọn dẹp bớt đi một ít đồ cũ, rồi cũng chỉ mua được hộp sơn và những cây cọ bỏ đó. Cho đến vài tháng sau, khi tôi thấy mẹ Chi trên cùng một lối qua đường trên phố với người đàn ông (hẳn là ông Chương) tôi mới cảm thấy yên ổn đôi chút. Đôi chút thôi, nghĩa là vẫn còn có thể nhìn thấy bóng dáng em ở những nơi quen thuộc, ở đâu đó trên khuôn mặt những người thân thuộc của em.

Tôi đợi. Rồi trời mùa hạ thăm thẳm, xanh biếc. Một bầy chim trắng đã đưa Chi về trời, đưa Chi vào cõi muôn đời. Ngày nào tôi đã tưởng tượng tới, một buổi tối đến thăm em với nhánh ngọc lan trên tay, với tâm hồn cỏ dại héo úa. Em nằm xuôi tay lạnh ngắt trong một căn phòng đầy hoa, chiếc áo trắng em mặc phủ kín gót tôi vẫn còn nhận ra cái chấm màu xanh vương vào của một lần em ngồi bên xem tôi vẽ. Tôi đã đặt nhánh hoa trắng trên tay em và cúi xuống hôn lên trán vĩnh biệt. Nhưng đời sống đâu có sẵn những hình ảnh thật đẹp thật chiều chuộng của mộng tưởng như vậy. Tôi mất Chi, chẳng còn được nhìn em một lần vĩnh biệt. Nhận được tấm thiệp nhỏ của mẹ Chi, báo tin Chi chết, tôi đã lịm người đi trong giây lát. Cũng là buổi sáng chủ nhật, những tiếng chuông rung lên tới một âm lượng cực độ. Bầu trời rẽ ra, hồn tôi rẽ ra. Tôi đi như chạy tới nhà Chi. Mẹ Chi đón tôi, mặt bà lạnh băng như tượng sứ. Tôi không nhớ là đôi mắt mình đã ngó bà dữ dằn như thế nào trong giây phút kinh khủng ấy. Em Chi đâu. Em Chi của tôi đâu. Nhưng tôi vẫn chết sững ngó bà, cho đến khi không còn chịu đựng nổi cái im lặng kinh khủng ấy nữa, bà ôm lấy mặt oà khóc nức nở.

Tất cả những cây cối trong vườn nhà Chi hình như đều cúi đầu chịu tang. Chịu tang cho một mùa yêu dấu đã chết. Cây ngọc lan trên lối đi không còn tỏa hương và chắc sẽ không bao giờ còn tỏa hương nữa. Lúc tôi như người vô hồn trở về, chân dẫm nát bồn cỏ trước nhà một cách tàn bạo. Mẹ Chi nắm chặt lấy cánh tay tôi:

– Xin lỗi em. Vô cùng xin lỗi em.

Tôi lắc đầu nguầy nguậy:

– Không, cháu không hề ân hận hay tiếc nuối gì – Chúng tôi đầm đìa nước mắt nhìn nhau – Mọi sự hình như đều đã sắp sẵn cả, cháu tin như vậy.

Những chủ nhật sau đó, tiếng chuông chỉ còn là những âm trầm ngân nga, đổ chậm từng tiếng rời rã. Tôi bình tĩnh đến không ngờ. Nhớ Chi, miệng tôi ngọt lịm. Nhớ Chi, đến thăm mẹ em. Người đàn bà sầu muộn bây giờ mang một màu áo đen tuyền, bà chỉ lên cái chuồng chim bồ câu với nhiều màu hồng màu đỏ, cái ô cửa tròn vắng lặng, giọng đau đớn. Em xem, chúng bỏ đi cả. Hạnh phúc là một con chim đến thăm, rồi một ngày nào không hẹn trước nó bay đi mất. Người đàn bà đã hẹn lỡ hạnh phúc một lần và lại hẹn lỡ thêm một lần nữa.

Ngày xưa tôi cứ nghĩ, nếu khó nhọc với hạnh phúc thì sẽ giữ được nó, đến bây giờ nghĩ lại, tôi biết mình đã lầm lớn. Cái gì là định mệnh thì vẫn có thực. Giọng bà có lẫn cay lẫn đắng. Tôi không còn ở nổi căn nhà này nữa. Có lẽ một ngày nào tôi phải nghĩ tới chuyện bán nó đi. Bà hỏi lại tôi. Em tiếc gì không, em oán trách gì không? Tôi trả lời bà: Cháu cảm thấy thật yên ổn khi nghĩ rằng, như thế là hơn. Hình như không thể khác được. Mọi sự như đã có những sắp đặt. Người đàn bà héo hắt đến tội nghiệp. Tôi mong sẽ nghĩ được như em, sống được bằng tâm tưởng như em. Có một điều là cái chết thảm quá, đột ngột quá mà không ai có thể ngờ được.

Bà cắn chặt môi, những đầu ngón tay quấn lấy nhau kêu lên đau đớn: Trời ơi sao tôi không cùng đi chuyến bay ấy. Cái gì là định mệnh thì vẫn có thực, một câu nói thường chỉ là tự biết để an ủi, song không ai dám phủ nhận nó. Một sự kiện rất thường: ông Chương được bổ nhiệm giữ một chức vụ ngọai giao ở nước ngoài, được phép mang gia đình theo. Thật đơn giản và ngay cả chuyện mẹ Chi không thể cùng đi một chuyến vì phải ở lại lo thu xếp mọi thứ, mọi liên lạc còn dang dở, đó cũng là một sự kiện đơn giản. Nhưng chuyến bay cất cánh 8 giờ tối hôm đó đã nổ tung trên trời khi chưa ra khỏi không phận, thì sự kiện trở nên bất thường quá đáng. Xác cả trăm hành khách rải trên diện tích một cây số vuông đồng bằng đều được tìm kiếm và xác nhận đầy đủ. Duy nhất có xác của một hành khách nhỏ, cô bé mười ba tuổi rưỡi được ghi nhận là mất tích. Theo lời yêu cầu đặc biệt của thân nhân, hãng máy bay đã bỏ hai ngày công tìm kiếm nhưng cuối cùng đành vô vọng.

Mẹ Chi đau đớn khi kể lại với tôi, nước mắt lúc nào cũng đầy. Và bà luôn kêu trời: Trời ơi. Trời ơi, sao lại có thể thế được. Tôi nói với bà, một câu nói trong mộng tưởng của tôi: Anh Chi là chim mà, em ấy phải về trời chứ.

Tôi tin thế. Con chim trời đã trở về với trời là quê hương của em. Thiên đường em đã đến, để lại một lời hẹn cho tôi. Miệt mài đã bao năm, tôi vẫn còn lang thang trên những con đường ngang dọc của đời sống mình. Tôi có quen thêm vài người con gái khác, đôi khi cứ nghĩ đó là một tình yêu rực rỡ, bởi lúc nào thì tôi cũng sống thật với mình. Song chỉ là những giấc mơ không. Những đau thương những xót xa có thật, còn một thiên đường hẹn thì vẫn mù lối. Tôi hiểu, bắt đầu biết tìm kiếm là bắt đầu biết cô đơn, nhưng sao tôi vẫn không dứt bỏ được một đời sống đầy ắp mộng tưởng. Anh Chi lúc nào cũng là cái bóng lớn đi theo. Hình ảnh nhạt nhòa của đôi mắt em chợt có những lúc sáng rực, nhìn tôi chăm chăm. Và mảnh thủy tinh mà tôi còn giữ, mẩu giấy nhỏ với lời hẹn của ngày chủ nhật không bao giờ còn có trong đời, cho đến bây giờ vẫn y nguyên vậy, sống đầy với hơi thở tôi.

Cuối năm ấy tôi đã trở lại Đà Lạt, thăm lại nơi chốn đã ghi dấu một thời mộng tưởng đậm nét nhất của đời mình. Đà Lạt, cũng vào đúng những ngày lạnh của mùa đông năm nào tôi đã tìm tới. Tôi đốt lò sưởi giùm cô Ngàn, phát quang giùm cô một khu rộng trước cổng nhà mà cỏ cây đã mọc lại um tùm. Tôi đi lại trên những con đường ngày nào tôi và Chi hay đi, thăm lại nội trú Domaine de Marie và những con dốc cùng những gốc thông già nua. Không có gì khiến tôi xúc động quá đáng, ngoài nỗi nhớ Chi và khi nghe tin Sơ Catherine, người nữ tu mắt to đã bỏ đời sống tu trì mà trở về đời sống bình thường, ngay cuối mùa thu năm ấy. Một tâm hồn có thể lại phiêu lưu trong đời sống mộng tưởng rồi đây, tôi nghĩ thế và không khỏi có những e ngại giùm cho một nữ tu đầy lãng mạn tính. Có thể nào chính vì chuyện tôi và Chi đã khiến người nữ tu ở tuổi con gái thấy có một… thiên đường khác quyến rũ hơn? Điều này cũng đã làm tôi băn khoăn trong một khoảng thời gian sau đó.

Tôi trở lại Đà Lạt cũng để báo tin cho đồi núi, những con đường, những cây cối, những hoa những cỏ, mặt nước bờ hồ lạnh lẽo và những người thân thiết là Chi sẽ không bao giờ còn thăm lại họ nữa. Liên và Chúc sửng sốt bỏ dở bữa cơm. Ở nhà Trường hôm ấy cũng có mặt cả ông chú Thuyên, người đàn ông để râu mép và có đôi mắt đã ám ảnh tôi một cách khó hiểu dạo nào. Chúc tìm tấm ảnh của Chi mà nàng đã chụp vào dịp chúng tôi tới trại của chú Thuyên chơi, đem chuyền cho cả nhà coi. Một tấm hình duy nhất được chụp rõ ràng trong nửa cuộn phim còn lại mà nàng đã phá máy của ông anh một cách vô tội vạ ngày ấy. Chú Thuyên cầm tấm ảnh lâu nhất, ông gật gù: Đây là một nhân vật có khuôn mặt và đôi mắt tôi đi tìm.

Ông bắt Chúc tìm lại cho bằng được phim của tấm ảnh đó và tỏ ý muốn phóng lớn. Tôi bằng lòng ngay và theo đến phòng tối của ông mới thiết lập, theo lời ông nói, đây là một máy phóng đại có thể phóng lớn hàng trăm lần tấm phim. Tôi chờ ông suốt hai buổi mới chỉ được xem một tấm hình in thử lớn bằng cuốn vở mở đôi. Phim nhỏ quá với lại chụp không được rõ nên phóng lớn hơn sẽ mờ, rạn nứt mất hết nét. Tôi đề nghị lẫn thách thức ông: chắc chắn chú có thể vượt qua tất cả những kỹ thuật thông thường được. Chú thử nghĩ tới một tấm hình to bằng cái bàn xem sao. Trường ham mê nhiếp ảnh và hắn cũng phụ họa với tôi. Ông chú nhiều đam mê nghệ thuật, liên tiếp mấy ngày cặm cụi trong phòng tối, đã hoàn thành một tác phẩm phi thường: tấm ảnh vĩ đại một bề tám mươi phân và một bề một bề một thước hai mươi lăm phân. Vì phóng quá lớn nên tấm ảnh đã mờ xuống thành một màu tro xám, các nét đã nứt rạn thành những chấm tròn và ô vuông. Nhưng cũng chính vì thế mà tôi thấy tấm ảnh trở thành một bức tranh tuyệt vời.

Tấm ảnh ấy tôi được tặng lại. Trường, Chúc và Liên cũng đều muốn vậy. Tôi đã cảm động ứa nước mắt lúc cám ơn chú Thuyên. Tôi cuốn tròn tấm ảnh đem về và bồi lên một mặt gỗ dày. Có một chỗ độc nhất mà tôi nghĩ tới để đặt tấm hình này, đó là bức tường rộng nhất trong phòng tôi, đối diện với cửa phòng. Khi vừa từ cầu thang bước lên, hình ảnh Chi hiện ra: Mái tóc và khăn quàng bay trên bờ vai, đôi mắt em mở lớn nhìn tôi dễ thương, đằng sau là đám cành cây mùa xuân không lá, chỉ có những chấm nụ.
ĐINH TIẾN LUYỆN

Saigon, tháng 7-1973

_________________________

.

ANH CHI NGOẠI TRUYỆN

.

Năm học lớp Đệ Tam hay Đệ Nhị  ngày đó ( khoảng cuối thập niên 60, lớp 10 hay 11 bây giờ ), tôi viết truyện ngắn “Một loài chim bé nhỏ” đăng trên báo “Đôi Mươi”, là một giai phẩm xuân hàng năm của trường trung học Võ Trường Toản, ngôi trường tôi đang theo học.

Nhân vật Anh Chi của tôi ra đời từ đó.

Dạo đó ngu ngơ lắm, bay bổng lắm, tôi ưa vẽ vời những hình ảnh dễ thương theo trí tưởng của mình, có khi bằng màu vẽ, có khi bằng ngòi viết. Một cô bé mắt to có mái tóc bay bay và trên môi ngậm hờ một cọng cỏ non ( thêm con chuồn chuồn  màu cam đậu trên tóc, là tấm hình bìa cho tập nhạc “Hoan Ca” của nhạc sĩ Phạm Duy sau này ). Vẫn hình ảnh ấy trong những minh họa khi tôi làm báo Tuổi Ngọc, có khi với con nai cũng mắt to ngơ ngác, với chiếc khăn choàng rộng theo gió bay bay, có khi thêm chú chim nhỏ hoặc những chùm lá non xen lẫn đâu đó … Ngây thơ và dễ thương, độc giả bảo thế, bởi có đẹp hay không thì tôi cũng chỉ là tay ngang, có bao giờ học vẽ, nên tôi vẫn thích thú vẽ tiếp mãi với một bài bản như thế. ( Khi có yêu cầu cho những tờ báo khác, phải vẽ hình ảnh những cô gái lớn, tôi đã cố gắng lắm nhưng sao nhân vật của tôi vẫn chẳng sao lớn được, cứ vậy, đôi mắt thủy tinh long lanh, uống mọi cảnh vật xung quanh). Anh Duyên Anh, chủ nhiệm, người Anh Cả, cũng là người bạn vong niên đã cùng tôi một thời làm báo, đến với báo nào cũng có nhau, một lần giới thiệu tôi là họa sĩ, người ta hỏi theo trường phái nào, tôi lúng túng chẳng biết mình đang đứng đâu trong  cái thế giới hội họa muôn thuở vĩ đại này. Chủ nhiệm của tôi có tài đùa, ứng đáp liền: Trường phái mắt to. (Tôi không biết ngành hoạt họa Manga có tự bao giờ, cho đến nay thì các họa sĩ Nhật Bản đã ép tôi phải phá sản hoàn toàn, những đôi mắt trong các nhân vật truyện tranh hay truyền hình dù nam hay nữ của họ đều to hơn sáng hơn những đôi mắt trong “trường phái” của tôi rất nhiều).

Như thế đấy, tôi vẽ lên một nhân vật dễ thương để nó theo tôi và tôi theo nó mãi cho đến tận bây giờ, dù đã gần bốn mươi năm trôi qua.

Tôi bước vào nghề báo bằng sự quen mặt. Quen mặt đặt tên. Tôi cứ phụ việc cho tòa soạn hoài trong suốt năm đầu bước vào đại học, họ cần gì cũng có tôi, nhất là minh họa, chỉ cần bữa trước bữa sau là có liền. Có thể không xuất sắc gì, nhưng làm báo là phải kịp thời, nhà in không đợi và phát hành phải đúng kỳ đúng hạn, (không thôi lỡ chuyến phải lưu kho, báo có hay cách mấy thì cũng chỉ phát hành cho… người nhúng mực cân ký). Tôi dễ dàng được chấp nhận. Thoạt đầu là đứng tên chung và sau đó được giao phụ trách trang riêng rồi có lương hàng tuần. Tôi bắt đầu viết truyện dài thiếu nhi đăng từng kỳ trên trang nhật báo mình phụ trách. Kỳ truyện cuối cùng vừa dứt thì nhà xuất bản Đời Mới đề nghị cho in thành sách. Cuốn truyện đầu tay “Suối đá mây” của tôi phát hành năm 1968. Chẳng thừa  thắng thì tôi cũng xông lên, viết tiếp. Hai năm sau là cuốn “Một loài chim bé nhỏ”, cũng tựa ấy và nhân vật ấy thời trung học, đời sống của cô bé Anh Chi bước ra thảm cỏ thênh thang hơn trong một truyện dài. ( Như cuốn “Trong nhật ký của Quỳnh” sau này tôi cũng  tiếp nối từ một truyện ngắn viết trong giai phẩm xuân của nhà trường thời trung học).

Thời mà tờ nhật báo còn to bằng khổ cuộn giấy xếp đôi thì tờ tuần báo Tuổi Ngọc to bằng một nửa, một tờ báo cho tuổi mới lớn, có bìa offset bốn màu. Tuổi Ngọc cũng là tên của trang chuyên mục thiếu niên chúng tôi đang phụ trách trên một nhật báo thời bấy giờ. Báo ra hàng ngày, chuyên mục từ nửa trang rồi nguyên trang cho đến khi chiếm tới hai trang nhưng hầu như vẫn chỉ đáp ứng được phần rất nhỏ bài viết và thư từ của độc giả. Bưu điện mỗi sáng ập về từng bó thư. Từng bó thư xếp nhóc nhách những ngăn kéo, leo lên đầy nóc tủ rồi tràn xuống cả nền nhà. Phòng của chúng tôi ngập bài vở và thư từ không kịp bóc ra chứ đừng nói chi đọc tới. Mình sẽ ra báo riêng, anh Duyên Anh nói. Năm trước ra tờ “Búp Bê”, cũng lấy tên từ một chuyên mục mình phụ trách trên nhật báo, chưa tròn chục số thì “tờ báo dành cho lứa tuổi từ 7 tới 77” lại đành phải đưa độc giả của mình trở về ở đậu tiếp trên trang chuyên mục nhật báo. Đồng nghiệp đùa, trẻ con chẳng ra trẻ con, người lớn không ra người lớn. Có thể khổ báo lớn quá không hợp với cặp sách học trò. Tờ Teenage đang ăn khách ở nước ngoài có khổ nhỏ, in màu nhiều hình ảnh và kèm theo cả truyện tranh rất đẹp. Chúng tôi rất mê. Chỉ cần một góc báo của xứ người thôi thì cũng đủ trụ vững độc giả. Xúc tiến giấy phép, anh Duyên Anh giao nhiệm vụ cho tôi làm ma-két một tuần báo khổ nhỏ, ngoài thơ văn là thế mạnh còn có thêm nhiều chuyên mục và truyện tranh nhiều kỳ. (Phải có truyện tranh, vì lứa tuổi học trò dù lớn vẫn thích thú với truyện tranh, đó là điều dễ nhận thấy ở mọi nơi mọi lúc). “Tuổi Ngọc”, tuần báo của những tháng năm đẹp nhất đời người ra đời. Tôi vẽ đủ bốn bìa để in ốp-sét, vi-nhét đủ chuyên mục cùng nắn nót một truyện dài đăng tiếp nhiều kỳ: “Một loài chim bé nhỏ”. Cô bé Anh Chi  bước vào thế giới thơ mộng cùng những phiêu lưu tình cảm riêng tôi cũng bắt đầu

từ đây.

Khi những số báo đầu tiên còn nằm ở nhà in, chưa kịp phát hành thì tôi đã được…phát hành đi Thủ Đức. Hai năm liên tục không nhận được chứng chỉ nào của trường Luật, tôi đành ngậm ngùi nhận giấy báo gọi nhập ngũ. Trước đó một tuần tôi cũng đã ngậm ngùi ra phi trường tiễn cô bạn gái “Khoai Hường” được bố mẹ “phát hành” đi học ở Luân-đôn. Kỳ lạ, khi có nhiều thứ chia tay một lượt mình lại cảm thấy thanh thản, nhẹ nhõm. Hai mươi hai tuổi, ngửa mặt lên tôi thấy bầu trời rộng mở, thênh thang nhiều đón đợi. Chia tay, tặng cô bạn gái “nhỏ như cái kẹo” của tôi cái tên Anh Chi (khi câu chuyện mới chỉ là khởi đầu tung tăng, chưa có phần kết thúc), sau này tôi biết, cũng vừa vặn đủ để một cô gái nhỏ nhận chút ấm áp cho những sớm mai chờ đợi nắng lên nơi xứ người, cảm nhận chút xót xa cũng với nắng ấy, đốt những giọt sương làm lấm tấm thâm đen bao cánh hồng mỏng manh trong vườn nhà. Anh Chi, một cái tên thân thương cho một quan hệ thân thương, nối nhau nửa vòng trái đất là đầu tuần thư, cuối tuần thư, tình cảm khi ảo khi thực như khoảng cách như những hạt chữ long lanh giọt nước mắt, là những hạt sương, tê buốt trong đêm rồi lại bỏng rát vào những sớm mai hớn hở chút nắng. Là tôi, chú lính…similac ôm khẩu súng gỗ garant chưa chạy giáp vòng thao trường mặt mày đã xanh lè không còn giọt máu, đầm đìa mô hôi. Tôi chẳng nhớ mình đã trưởng thành được gì , cái thời trai trẻ ấy, nơi quân trường. Chỉ biết từ đó tôi đã bắt đầu buổi sáng bằng những ly cà phê nóng rát môi uống vội bên hàng rào và làm quen với những điếu thuốc lá, rít chưa hết nửa đã dụi tắt. (Cho đến giờ thói quen ấy vẫn còn theo tôi, cà phê với thuốc lá. Tôi không thể nào có ly cà phê mà không có thuốc lá, không thể nào nhận điếu thuốc trên đường xã giao mà cảm thấy ngon khi không có ngụm cà phê kèm theo. Bởi thế, ly cà phê vào mỗi sáng khi vừa lăn từ trên giường xuống “ngồi vào bàn” với tôi, cũng chỉ một ly cà phê ấy, có khi là suốt buổi).

Vẫn là tôi, ngày ấy, nhân vật Anh Chi ngây thơ theo tôi trên các bãi tập đì đùng đạn mã tử, cùng tôi trong những đêm thao luyện dã chiến có trăng và vô số sao. Để hàng đêm về tôi viết từng kỳ truyện trên chiếc rương kê đầu giường rồi gửi tới hàng tuần cho báo. Riêng đoạn kết « Một loài chim bé nhỏ » tôi viết trong thư viện của quân trường Thủ Đức những ngày cuối khóa. Không kịp đăng trong “Tuần báo của những tháng năm đẹp nhất đời người”, thì đời tờ báo tháng ngày huề vốn đã hết, không chịu nổi nợ nần nhà in, chủ nhiệm quyết định tự đình bản. Số phận của tờ báo Tuổi Ngọc bộ đầu tiên chấm dứt, cũng vừa vặn khoảng thời gian tôi chấm dứt giai đoạn “thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu”. Có đổ mồ hôi, thật ra chẳng thấm vào đâu so với những đồng đội một thời tuổi trẻ cùng trang lứa hăng say, nhưng tôi lại chẳng có tí tẹo chiến trường nào để phải bớt đổ máu. Binh phục ra trường của tôi không rằn ri hay mang màu xanh của lá rừng, là kaki vàng phẳng nếp và lon óng ánh trên cầu vai. Tôi không hề có chút cầu cạnh nào để được xếp mình vào loại “lính kiểng”. Cơ may là vậy, thử hỏi nếu giao cho tôi một trung đội mấy chục người, không biết tôi sẽ xoay sở ra sao, khi một tâm hồn mơ mộng lúc nào cũng luôn mang theo hình ảnh mơ hồ về một cô bé ở bên !  Bước vào cuộc đời là  binh nhưng chẳng có nghiệp, đơn vị trong thành phố nơi đầy cây xanh chỉ cách ngôi trường trung học ngày xưa của tôi đúng một mặt đường rộng song song, nơi bàn làm việc lại vẫn là giấy và một màu mực in.

Đã ở nơi khác, nhưng vẫn là bãi cỏ. Bãi cỏ ấy giờ đây dường như thênh thang hơn nhiều vì bước chân mình hầu như rộng hơn dài hơn trước. Và tôi bắt đầu chạy nhảy.

Hai cuốn sách trước giao cho nhà xuất bản họ muốn in sao thì in, tôi không ưng ý. Giờ đã ngồi quen các công đoạn của nhà in, tôi muốn tự chăm sóc cho sách của mình. Để ra một cuốn sách, cũng như mọi ấn phẩm báo chí khác, trước tiên phải nghĩ tới nhà phát hành. Kẻ lắm mơ mộng là tôi không hề nghĩ tới chuyện đó. Mẫu bìa cuốn  “Một loài chim bé nhỏ” là một bức tranh xé giấy có cô bé chu môi với chiếc khăn đỏ choàng vai bay bay theo gió, in ốp-sét trên giấy láng để bọc ngoài cho một bìa cứng chữ mạ bạc phía trong. Phần ruột cũng do chính tay mình sửa bản xếp chữ, in thử. Hai bìa, ruột cũng hai bản loại giấy dày giấy mỏng. Giá thành ghi cuối sách quá cao. Nhà phát hành…chỉ nhìn mà không ý kiến, vì trước khi in tác giả đã không hề biết đến kẻ sinh tử cho những cuốn sách chính là họ. Cũng may bấy giờ tuy là vô danh nhưng không đến nỗi tiểu tốt, năm ngàn ấn bản cuốn sách (tôi ngồi nhà in thì lộn vào đâu được) đầu tiên tôi tự bỏ vốn in lấy rồi cũng trôi, dù có đầy nghẹn ngào, với bảy mươi lăm phần trăm cho phát hành trọn gói. (May sao, tôi từng là kẻ một thời hay lang thang vỉa hè sách cũ, chủ yếu là xem sách báo cũ nước ngoài, có hình nào đẹp, kiểu chữ nào hay để sưu tầm đem vào bìa, tôi biết sách mình không đến nỗi chất kho rồi giải phóng kho ra lề đường khất thực sau đó). Cộng trừ nhân chia xong vốn vay vốn lời tôi cũng còn đủ tiền mua một chai Black and White rủ bạn bè đi “nhẩm xà” một chầu ở Chợ Lớn. Cũng gọi là để mừng một đứa con thôi nôi cho kẻ viết lách. Thế là vui. Những cuốn sách sau không nhiều cảm xúc như những cuốn đầu nhưng lúc nào cũng vui, cái vui của những ai hay đếm hay tính toán ít có, khi mình cho ra những giá trị không đếm được. Cái thuở còn nhiều lý tưởng là thế, chỉ cần đẹp, không tính toán. Tôi viết rất ít so với bạn bè, có thể một phần vì màu sắc quyến rũ hơn, dù thế thì những cuốn sách sau này ra đời tôi cũng chỉ có “ý kiến” với nhà xuất bản chứ không bao giờ đứng ra tự làm nữa. Tôi tự nhủ nếu mình làm có đẹp có hay thì còn ai đó giữ lại, như bây giờ chính những cuốn sách tôi o bế in ấn bản đặc biệt giấy trắng, giấy dày, giấy thấm hồng… đến nay, hoặc vì đưa đi in lại hoặc ai đó cầm mượn rồi cũng chẳng còn đẹp trên kệ sách nhà mình nữa.

Song cái tên Anh Chi thì hình như vẫn còn…nhập vào tôi cho đến tận bây giờ.

Vài năm sau khi cuốn “Một loài chim bé nhỏ” tự xuất bản, chúng tôi hợp nhau lại vực dậy tờ báo Tuổi Ngọc. Lần này khổ nhỏ hơn và nhắm đặc biệt đối tượng ham đọc ham viết  là tuổi mới lớn, tuổi chớm yêu. Mặc dù có “nhiệm sở” chính thức trong quân đội, tôi vẫn còn đủ giờ để thường trực lo cho nội dung và hình thức của tờ báo mình yêu mến. Dạo ấy rất nhiều tờ báo không có cơ ngơi riêng, phần lớn chỉ ăn đeo ở bám nhà in. Tòa soạn Tuổi Ngọc chỉ là căn gác xép sát mái dùng làm kho sách của nhà in. Ra vào chen chúc với thợ xếp chữ cùng thợ in đầy mực lem luốc, chỉ cần hơi lỡ thân thiện một chút ở đâu đó là chiếc áo sơ mi đang mặc của mình…đổi đời ngay. Thu mình hết mức leo lên được cái thang gỗ ọp ẹp vẫn chỉ là tới căn gác mà quá nửa là sách, vỏn vẹn vừa đủ chỗ cho một cái bàn. Cái bàn nhỏ kê sát tường mà ba mép bàn, ai tới trước thì ngồi trước, chủ nhiệm, quản lý, thư ký, nhân viên sửa bản xếp chữ…Ưu tiên cho những ai đang cầm bút, còn không thì đứng. Vậy mà mọi việc cũng xong, báo vẫn ra đúng kỳ hạn. (Sau này có dịp tới chơi một vài tòa soạn báo, thấy phòng ốc khang trang, bàn ghế lớp lang, mọi thứ gọn gàng chẳng gợi tôi nhớ gì một thời, tôi chỉ nhớ ngai ngái mùi giấy báo, mùi hăng hắc của mực in và nồng nặc khói chì nhà đúc…Cái thời mà những con chữ nhỏ li ti lích nhích là những thanh chì chỉ lớn hơn cái que tăm, người thợ nhặt từng thanh chữ một ghép thành từ, thành câu rồi thành dòng thành trang…Từng bát chữ dàn trên khuôn và người thợ in đặt từng tờ giấy một cho máy chạy…Gạt đôi gạt bốn xếp lại mấy lần tờ giấy rồi người thợ khâu mới xuyên kim dán gáy trước khi chuyển qua công đoạn cắt xén hoàn chỉnh một ấn phẩm. Cái dây chuyền ấy bây giờ hầu như không còn hay chỉ còn rất ít trong khái niệm của những người ngồi tòa soạn, từ trang viết hay đúng hơn là từ máy vi tính chui thẳng tới máy in rồi chui theo cuộn giấy, tự động đóng xén, tự động phân phối tới mắt người đọc. Tưởng như ít cảm xúc hơn, y như ai cũng có thể tự đưa mình lên Net và tự ngắm mình.  Chẳng ai ngớ ngẩn để xót xa cho một quá khứ vàng son của bần hàn, nhưng tôi vẫn muốn tin đường đi nhọc nhằn của chữ viết một thời cho người ta nhiều cảm xúc hơn, gần với hạnh phúc hơn).

Bởi thế, có một vuông cửa sổ nhỏ nhìn ra mái tôn của những ngôi nhà san sát bên cạnh, nơi cái kho sách của nhà in nhà xuất bản Nguyễn Đình Vượng dùng làm tòa soạn báo một thời ấy, vẫn còn sâu đậm trong ký ức chúng tôi như một may mắn. Cái thiếu thốn chật hẹp không bỏ tù được một ai, chính ở đó thơ văn lãng mạn đã bay bổng những tâm hồn Tuổi Ngọc. Khi Nguyễn Tất Nhiên mới học trung học đã có tập thơ “Thiên tai” từ Biên Hòa năm lần bảy lượt tìm tới tòa soạn tặng tận tay để nhờ giới thiệu. Thày dạy Triết Nguyễn Thanh Trịnh trường Hòa Đa Phan Thiết, người vừa nhận một giải Văn học Nghệ thuật cao nhất nước, nhất định kéo anh em trong tòa soạn ra quán khao một chầu…âm dương bò nướng ngói suốt buổi chiều.

Cũng có ở đây Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Hoàng Đoan…tuổi đá tuổi thép rồi vẫn muốn vào vườn Tuổi Ngọc. Rồi quây quần thêm những Trần Dạ Từ, Nhã Ca và cả những lão làng văn học như Doãn Quốc Sĩ, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền…cũng góp mặt. Tuần báo Tuổi Ngọc ra mấy trăm số, miệt mài bao năm rồi vẫn chỉ là một tiếng thở dài lỗ lã triền miên của chủ nhiệm. Hầu như mỗi độc giả cũng đồng thời là một cây viết, sáu mươi bốn trang báo chẳng thể nào đáp ứng. Thế cho nên tòa soạn lúc nào cũng là tỷ phú về bài vở và thư từ, còn bữa ăn chỉ là những quán cóc ven đường. Tôi và Phạm Chu Sa, nhà thơ kiêm “thày cò” kỳ cựu của mấy thời Tuổi Ngọc thường mỗi chiều xì xụp cháo huyết ba đồng một tô trước cửa nhà in rồi mò đường leo lên tòa soạn lo cho kịp số báo sắp tới.

Tuổi Ngọc, tuần báo của yêu thương. Anh em đã yêu thương bao năm rồi nhưng hình như vẫn chưa có “nhà” trong làng thơ văn. Tủ sách Tuổi Ngọc có nhiều sách đáng kể như của Nguyễn Thanh Trịnh, Mường Mán, Hoàng Ngọc Tuấn, Từ Kế Tường…nhưng khi phải tổng kết, dù theo thị phần độc giả chiếm rộng thì  cũng chỉ được coi như một hiện tượng trong văn học. Hiện tượng một dòng thơ văn Tuổi Ngọc. Thơ mộng, nhẹ nhàng. Không quấn gai, không đeo đá, không cõng Satre, Camus…trên lưng, mà chỉ là thiết tha tình người. Được giao nhiệm vụ đầu bếp cho Tuổi Ngọc, tôi lo cả hình thức lẫn nội dung. Từ trình bày bìa đến vẽ hình bên trong. Từ viết bài, chọn bài, chuyên mục đến trám bài và tổng kết ma-két. Chỉ với một tiêu chí tự đặt ra, phải sao cho thật dễ thương. Tuổi Ngọc phải như một cô bé thật dễ thương mà ai biết cũng muốn gần.  Những người viết trẻ đông vô số kể, ai cũng muốn mình có “nhà”. Nhà văn, nhà thơ… Cái nhà ấy tôi biết chẳng có ai cấp cho mình, ngoại trừ độc giả. Có nhà thì vui, không có nhà thì ở trọ cũng vẫn vui. Tôi có may mắn sự thúc bách viết không phải để sở hữu chút gì đó cho cuộc sống. Bạn tôi, viết nhanh như máy, mà thực sự là anh ta dùng máy chữ như chuyên nghiệp văn phòng, mổi cuối tuần có thể xong một cuốn sách nhỏ, ký nhiều bút hiệu khác nhau, giao cho nhà xuất bản để đủ  tiền chi trả xi măng, công thợ…, sửa nhà một tháng là xong. Bạn tôi, viết báo này báo nọ ngóng tiền nhuận bút để còn tiếp tục ký sổ cơm tháng Ký túc xá. Cũng bạn tôi, chạy vạy đầu này đầu nọ xin bán “văn non”, cho một cuốn sách nào đó mới chỉ có cái tựa để kịp đóng tiền học cho con. Nhà văn, nhà thơ…nhà họa, có mấy ai khá. Nhưng thúc bách vì nợ nần, cơm áo cũng là một thúc bách tích cực, trong nghệ thuật không ít tác phẩm và tác giả đã “để đời” như thế. Trả nợ được người thì cũng trả xong được nợ đời, đáng quý lắm chứ. Hình như hắn ta, nói chung trong nghệ thuật, không được phép no đủ. No đủ sẽ bóp chết hắn. Cũng như khi đã tràn trề hạnh phúc,  không còn khao khát được yêu thì tự dưng những thi sĩ, nhạc sĩ… sẽ biến mất. Tôi không có cái thúc bách ấy, đâu biết là may hay rủi. Viết một cuốn sách nhỏ, khi thì lười khi thì cớ này cớ nọ bận rộn, ì ạch cả năm trời cũng không xong. Tôi cũng thiếu cái ham để có được một cái “nhà” nên bạn bè ra sách ào ào, còn mình thì dăm ba năm mới in được vài ba cuốn sách, lại là những truyện dài viết từng kỳ đã in trên báo tuần.  Sau cuốn “Trong nhật ký của Quỳnh” do Nguyễn Đình Vượng xuất bản, tôi không biết viết gì để đăng tiếp trên Tuổi Ngọc, cô Tuấn quản lý nhà in gợi ý: Ông viết tiếp câu chuyện “Một loài chim bé nhỏ” đi, tôi thích nhân vật ấy lắm.

Một thảm cỏ xanh non mát rượi được trải ra, tôi mời nhân vật nhỏ bé của mình một thời tung tăng nhảy nhót tiếp trong “Anh Chi Yêu Dấu”. Chỉ còn là sinh viên hàm thụ của trường Luật, dưới chân tôi bắt đầu lao xao cuội đá của một thời con trai hai mươi lăm, đa đoan việc, đa đoan tình.  Lúc này đây, như người ta thường bảo, đương thời “tinh anh phát tiết” … Tôi không cảm nhận rõ nét điều gì nơi mình, nhưng nỗi cô đơn thì hình như có thật và bắt đầu loang dần, xâm chiếm. Lúc này đây, người con gái “nhỏ bé như cái kẹo” mang cái tên chim Anh Chi tôi tặng vẫn xa vời nửa vòng trái đất. Đầu tuần thư, cuối tuần thư, đều đặn như cái kim đồng hồ trước cửa tòa nhà Bưu điện thường nhật tôi ngang qua, mãi rồi như tình cờ như hờ hững. Hờ hững cả một mùa hè lỡ hẹn. Tôi và em. “Có ai qua sông Thames một mình vào những sớm sương mù dày đặc mới hiểu thế nào là tận cùng của nỗi cô đơn”. Chẳng bao giờ em giấu được những giọt nước mắt trong các tờ thư. Các phong thư đầy ắp trong ngăn kéo, còn tôi thì những cuối tuần lang thang, không biết đi đâu rồi cuối cùng cũng vòng qua con đường nhà em. Ngôi nhà gỗ nâu trên con đường Hồng Thập Tự một thời đã ám ảnh tôi, như nhân vật nào đó trong văn học Nhật Bản, trong cơn mê sảng tôi mơ đốt nó thành tro bụi. (Ngôi nhà ấy ngày nay sau bao năm rồi vẫn còn nguyên vẹn đấy, màu gỗ nâu xưa, dù đã bạc màu nhiều nhưng không thay đổi bao nhiêu, nơi thành phố ấy em đã ra đi, giờ  chen chúc người ở. Tôi quá hiền để có một “lời nguyền” tro bụi cho kỷ niệm, nhưng tôi không khỏi rùng mình khi ba mươi năm sau nghe tin Trung tâm Quốc tế Thương mại, trước đây đã từng thuộc về nhà em,  bị thiêu hủy gần như hoàn toàn).

Một câu mà các độc giả thường hỏi người viết: Truyện ấy có thật không ? Như thế đấy, ngay khi bắt đầu dắt Anh Chi vào thế giới mộng tưởng tôi cũng không hề biết là sẽ dẫn em tới đâu. Viết “Anh Chi yêu dấu” đăng từng kỳ trên tuần báo, gần một năm sau thấy chừng như đã dài, nhưng tôi lúng túng mãi không biết dắt nhân vật của mình khỏi thế giới của câu chuyện ra sao.  Tôi chỉ quen với những đoạn kết “lơ lửng con cá vàng”, khi mà các nhân vật chưa được định hình rõ ràng, hoặc chỉ có “vấn đề” nho nhỏ nào đó dành cho độc giả  tự kết theo suy nghĩ riêng của mỗi người. Cuối cùng tôi mới nghĩ đến cái tựa truyện đã đặt. Muốn Anh Chi trở thành yêu dấu thì phải biến mất. Tôi cho nhân vật của mình biến mất một cách hoang đường. Là chim, Anh Chi phải về trời.  Tôi không có chút cảm nhận nào về sự “linh ứng” cho số phận nhân vật của mình khi quyết định như vậy. Nhưng nhân vật ấy, sau này làm sao cứ còn quanh quẩn bên tôi mãi. Đã có nhiều cô bé mang tên Anh Chi mà

tôi biết.

Sau khi viết dứt trên báo, cuốn truyện đã có nhà xuất bản hứng lấy in ngay. Mừng vì chút ít đồng cảm nào đó có người đón nhận, tôi biết không phải chỉ một mình là kẻ ưa mơ mộng vẩn vơ, nhiều bạn bè hay thư độc giả khi nhắc tới họ chỉ nhớ tôi với nhân vật Anh Chi. Có người trách tôi, sao để kết cục thảm vậy, ông không thấy hối hận sao? Không, một đoạn kết cổ điển là thế. Như thế là hơn. Muốn lưu mãi một hình ảnh đẹp thì nó phải vượt khỏi trí tưởng tượng của ta. Trả lời cho ai đó  như vậy và không nghĩ rằng tôi cũng trả lời cho chính mối tình đầu của tôi thời gian tiếp diễn sau đó. Tặng cô sinh viên du học Luân Đôn về quê nghỉ hè cuốn sách mới in, chúng tôi cảm thấy xa lạ khi gặp lại nhau. Như sợi chỉ mỏng manh nối từ những tờ thư cùng nỗi nhớ  đến cái nắm tay  giáp mặt, sao giữa chúng tôi vẫn thấy lãng đãng sương khói. Không gọi em như chính tên em, sao cứ gọi cái tên Anh Chi để thấy …nhạt môi mãi thế. Em cứ mãi là em mơ hồ một khoảng cách từ huyền thoại cho nhau đến thực tại nhìn nhau, dù chúng tôi cố gắng làm cho đầy những ngày hè nắng ngày hè mưa bằng các cuộc gặp gỡ hầu như liên tục.

Thường là trò “đuổi bắt” nhau trên phố. Hồi ấy thương xá Crystal Palace đang giai đoạn hoàn chỉnh, khu trượt băng còn đang thử nghiệm phun tuyết lần đầu, hẹn nhau để thay nhau vòng vòng hết lầu trên lầu dưới rồi mất gần nửa buổi mới tìm được nhau ở đấy. Em bảo muốn bật khóc khi nhìn thoáng thấy tôi mà không kịp len bước qua đám đông trước mặt. Băng như đã đóng cứng dưới chân và một giây câm lặng, em cảm thấy một mình ở đấy, co rúm như vẫn đang ở xứ người. Em viết trong                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                           nhật ký như vậy, hết mùa hè và trở về nơi bắt đầu niên học mới. Tôi trở về với bộn bề công việc thường nhật, nhưng lại cảm thấy trống không tất cả. Những khoảnh khắc rảnh rỗi hiếm hoi cuối tuần cũng đủ khiến mênh mông nỗi buồn vô cớ một thời trong tôi. Biết định nghĩa thế nào nhỉ, thời gian đã phủ đầy rong rêu khi nhìn lại, giờ tôi hiểu được nỗi cô đơn tự nhiên của mỗi ai khi bước vào tuổi trưởng thành cũng tương tự. Khác chăng là quá nhiều chữ nghĩa thư từ đã  làm quan hệ giữa tôi và em ngày ấy thêm rối rắm, phiền muộn lo lắng những gì không đâu. Tôi linh cảm rồi chuyện hai đứa cũng chẳng đi tới đâu, đã chia tay rồi giờ có chia xa hơn nữa thì cũng thế thôi. Tôi biết nói lời như thế chẳng ai vui được. Gom hết tháng lương của một công việc, tôi đến Interflora, một cửa hàng hoa quốc tế, gửi em lời dỗ dành cùng những đóa hoa muộn màng. Những lá thư thưa dần rồi chấm dứt. Thời cuộc đã chôn cất gọn gàng giùm tôi mối tình đầu sau đó. Cho đến tận bây giờ tôi vẫn mất dấu người con gái nhỏ mang cái tên Anh Chi một thuở. Nghe đâu nàng đã tưởng tôi chết trong cuộc biển dâu, rồi bỏ xứ sở sương mù mà đi. Tôi cũng không còn ở lại thành phố cũ và những công việc ngày trước.

Mọi thứ chừng như chìm vào quên lãng, tôi còn viết chút chút, vẽ chút chút như cho vui khi có bạn bè làm báo. Tôi không còn cái hăm hở như thời tuổi trẻ muốn viết nhiềt vẽ nhiều mà không cần biết để làm gì. Khoảng vài chục năm sau thì những cuốn sách cũ của tôi, cuốn còn cuốn mất, lần lượt được tái bản. Riêng cuốn Anh Chi Yêu Dấu tới lần thứ tư. Tôi hiểu thời của internet và cái điện thoại ở mọi nơi mọi lúc thì những độc giả như độc giả Tuổi Ngọc ngày xưa đã lạc mất và tôi cũng lạc mất trong quên lãng đương nhiên. Mơ mộng lãng mạn như một thứ xa xỉ, như tập quán thủ công, như cánh đồng cỏ rồi vời vợi…nhường chỗ cho những cao ốc, máy móc và …cái bản đồ định vị mọi thứ, định vị được cả trái tim. Bởi thế tôi rất vui khi thỉnh thoảng còn nhận được những lá thư đi vòng vèo qua bao địa chỉ tòa soạn rồi mới tới, hoặc chỉ dăm ba hàng chữ không dấu qua bao nhiêu cầu bao nhiêu forward  nhắc nhớ được ngày xưa. Chỉ là một thoáng. Nhưng cũng có ai đó đã nhọc công đánh máy vài ba truyện của tôi để upload trên một website nào đó, tôi biết không hẳn là một thoáng. Bạn tôi, có bạn tha thiết với những ấn phẩm văn học,  bao năm nay vẫn chỉ mong được hòa vốn, cũng với tên Tuổi Ngọc, để nuôi dưỡng một dòng thơ văn nhẹ nhàng yêu thương. Thật là can đảm và đáng quý.

Một lần, trong dịp giao lưu với độc giả tuyển tập thơ văn Áo Trắng, cuối buổi có một cô bé đến gặp tôi: Chú ơi, cháu là Anh Chi nè, tên mẹ đặt cho cháu đó. Hơn hai mươi năm rồi, thời gian đếm giùm tôi trên mái tóc cô gái trước mặt, tôi ước tính được tuổi người mẹ bằng liên tưởng tới thời điểm lần đầu in Anh Chi Yêu Dấu, tôi thầm nghĩ, một thời  mơ mộng rồi cũng già cả như nhau mà thôi. Thế đấy, thảm cỏ ấu thời đâu đó có khép lại  thì người ta vẫn tiếc nuối muốn nuôi lại ở một góc khác để mong nó còn xanh hơn, tươi mãi. Tôi cũng được biết thêm vài cái tên Anh Chi ra đời như thế. Khoảng cuối thập niên 90, có một thiếu phụ trẻ từ Mỹ về tìm gặp  tôi để khoe rằng: cô con gái Anh Chi của bà vừa đúng tuổi Anh Chi trong truyện. Bà muốn tôi vẽ cho con gái bà tấm hình chân dung bằng sơn dầu, có nền tranh bát ngát một màu trắng hoa Margueritte.  Chúng tôi còn giữ liên lạc với nhau thường xuyên, đến năm ngoái thì bà thông báo Anh Chi nhà bà vừa quen một người con trai tên Huy, run rủi sao anh ta lại là một phi công. Bà không giấu những lo ngại về ám ảnh đoạn kết bi thương trong câu chuyện của tôi. Tôi chúc phúc cho chúng: Mọi bất hạnh đã qua và có người gánh chịu rồi, chỉ còn lại hạnh phúc thôi. Thật ra hạnh phúc chẳng thể “vẽ vời” mà có được, Anh Chi và Huy vẫn đẹp như một cặp trời sinh như một cổ tích mà chẳng cần biết có ai đã viết gì và mẹ chúng đã đọc bao giờ. Vài tháng trước đây sau khi đã kết hôn, chúng về quê thăm tôi. Đẹp hơn cả nhân vật trong truyện, một Anh Chi dịu dàng, nhẹ nhàng và đằm thắm, một  Huy phi công cao lớn, rắn rỏi. Và một Happy end.

Đã Happy end rồi nhưng vẫn còn một điều tôi muốn kể nữa. Người phụ nữ là quà tặng đời tôi, trong nhà tôi, mẹ bày trẻ nhà tôi, sau khi biết có nhiều Anh Chi ở nhà người ta thì… ghen, cũng muốn nhà mình có một Anh Chi. Khi có thai đứa con áp út chúng tôi đã quyết định như thế. Trong nhà tôi đang có một Anh Chi, năm nay cũng vừa  tuổi bước vào đại học.

ĐINH TIẾN LUYỆN

Biên Hòa, tháng 9 – 2009

5 thoughts on “Anh Chi Yêu Dấu (14)

  1. nguyen thi huyen suong nói:

    Doc lai Anh Chi nho thuo nao con ngay tho qua

  2. thang6172 nói:

    Lang thang thế nào mà tôi lại vào cái trang KHUẤT ĐẨU này rồi gặp lại người mà mình đã từng yêu say đắm ” ANH CHI YÊU DẤU”.
    Hóa ra ĐTL vẫn còn đây.
    Đã mấy mươi năm rồi mà đọc lại mình vẫn thổn thức, hồi đó tôi cứ nghĩ ANH CHI là nhân vật có thực.

    Kính chúc Huynh trưởng khỏe mạnh ,bình an.

  3. Trái tim mộng tưởng Anh Chi..-”Ychang” ngày đó Anh si yến oanh-Si tiếng chim hót chào xuận-Mê tình yêu đẹp như tranh vẽ vời..-Say nàng thơ Anh Chi tôi-Đắm hồn mơ tưởng thế giới có em-Văn thơ ngọt ngào trái tim -Như viện kẹo chạm lưỡi tìm bờ môi…”Anh Chi yêu dấu”……

  4. nguyễn thanh sơn nói:

    Ôi chu choa!. Gần bốn mươi năm rồi mới gặp lại Anh Chi Yêu Dấu. Ông Đinh tiến Luyện, ông Duyên Anh của một thời xa ngái. Ôi nhớ cái thời xưa quá.

  5. Đọc ANH CHI NGOẠI TRUYỆN , cả khoảng không gian, thời gian xưa cũ quay về với bao yêu dấu .Anh Luyện đi lính , anh Tường về thay , anh Phạm Thanh Chương ,anh Thống ( Phạm Chu Sa)…và các cây bút rất thân quen …có nhiều người chưa hề gặp mặt bao giờ những vẫn quý mến như từng là tri kỹ !!!có họa sĩ Lê Vĩnh Ngọc , Hồ Đắc Ngọc , Văn Xuân Lộc …Có bạn Nguyễn Đình Hiếu , Nguyễn Hồng Giang…thời nào Ở BMT , bạn thân với Phạm Khánh Vũ …Nghe nói Hiếu giờ là một đại đại gia …mà nhắc lại là nhớ hồi nào Dung dẫn chui rào vô coi cọp văn nghệ của trường Võ Tánh ( bởi Dung có giấy mời còn Hiếu thì không !!!)

Comment

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s