Nước Mắt Trước Cơn Mưa, Nguyễn Sơn

Sai-gon-sau-30-4-1975 (9)

NGUYỄN SƠN

(Lính Miền Bắc)

“Khi cùng thì phải cố”

Năm mười chín tuổi tôi xâm lên cánh tay mấy chữ: “Sinh Bắc Tử Nam”. Lúc ấy tôi đang đi học. Xâm tay rồi, lại đổi ý, chẳng muốn chết ở miền Nam nữa. Đến lúc phải nhập ngũ, tôi tìm đủ cách để lẩn trốn. Tôi kéo dài cho đến khi chiến trận miền Nam đã xong. Đến 1977 mới phải nhập ngũ. Cuối cùng vào bộ đội là vì bắt buộc thôi.

Khi xâm tay thì tôi ở Hà Nội, năm 1972 , đang học lớp 10. Năm ấy chiến tranh căng thẳng hơn, nhà trường đã sơ tán ra ngoại ô Hà Nội. Tôi ở lại Hà Nội, không đi theo nhà trường. Tôi đã ở Hà Nội suốt thời gian Hà Nội bị đánh bom vào mùa Giáng Sinh 1972.

Cứ như tôi nhớ, tàu bay đã bỏ bom từ 15 đến 27 tháng Chạp. Trước ngày 15 khắp chung quanh ngoại ô Hà Nội đã bị bom, rồi từ 15 đến 27, chính Hà Nội cũng đã bị born đánh xuống.

Đầu tiên họ đánh Đài phát thanh. Sau khi Đài phát thanh trúng, họ dội khắp nơi, cả nội lẫn ngoại thành Hà Nội. Khu An Dương là khu đầu tiên bị nặng nhất. Trên căn bản, họ chỉ đánh bom Hà Nội ban đêm, cho nên ban đêm tôi chả thấy gì ngoài lửa chớp. Nhưng nhớ cũng có lần vào sáng sớm, tôi đã thấy tận mắt tàu bay dội bom. Một lần nữa vào đêm 24 tảng sáng 25, tôi thấy một chiếc B-52 đánh xuống khu Khâm Thiên. Một bệnh viện trúng bom, đấy là bệnh viện Bạch Mai.

Chúng tôi chẳng sợ nếu nhỡ bị Mỹ giết. Tôi nghĩ “Số chết thì phải chết”, nhưng tất nhiên chúng tôi tránh xa các mục tiêu quan hệ, nhiều người đã sơ tán khỏi thành phố. Thế mà cũng khối người đã chết.

Ông cần phải biết lúc ban đầu, trong năm 1964 dân miền Bắc rất sợ chiến tranh, sợ tàu bay Mỹ. Nhưng chiến tranh cứ tiếp diễn mãi thì người ta phải dầy dạn hơn. Họ hết sợ bom, họ không rụt rè nữa. Thay vì sợ sệt, ho muốn chấm dứt bọn bỏ bom.

– Chúng tôi không hề được chính phủ giải thích gì về chuyện bỏ bom cả.

– Tôi chả suy nghĩ sâu xa gì về chuyện bỏ bom. Tôi có thấy mấy phi công Mỹ được điệu đi diễn hành quanh Hà Nội, nhưng đấy là năm 1967 chứ không phải sau này. Nhà tôi gần nhà máy điện, vì nhà máy điện cung cấp điện cho cả thành phố Hà Nội, đã hóa thành mục tiêu trọng điểm trong các vụ đánh bom, nên tôi có thấy phi công Mỹ bị hạ, bị bắt làm tù binh, bị đưa đi diễn hành. Dân không được phép đến gần nói chuyện với tù binh. Tôi chỉ nhìn họ từ xa. Tôi chả biết gì về họ, nhưng tôi cũng tự hỏi tại sao lại dội bom chúng tôi.

– Lúc ấy tôi chẳng có cảm giác gì về chiến tranh, về người Mỹ, tôi chỉ đi học, không lưu ý đến tin chính trị hoặc tin chiến sự trong Nam. Nhưng những người khác ở miền Bắc rất quan tâm đến tin chiến tranh để theo dõi tình hình.

Tôi còn nhớ năm 1972 ông Lê Đức Thọ và Henry Kissinger đã liên hệ gì đấy trong việc hội họp chuẩn bị hiệp định Paris. Hà Nội đã bị bom ngay trong lúc các buổi hoà đàm đang diễn ra.

Ở miền Bắc, nhân dân không thích gì chiến tranh. Vì thế mọi người hết sức quan tâm đến các tiến triển của việc thương thảo, và bất cứ cái gì liên hệ đến việc chấm dứt chiến tranh.

Nhiều người đã chết cho lý tưởng thống nhất đất nước, miền Bắc hay miền Nam cũng đều là Việt Nam cả, nên cần họp lại thành một nước. Lúc lớn, đọc nhiều hơn, tôi mới được hiểu đáng nhẽ vào năm 1956 hai miền phải có tổng tuyển cử để thống nhất đất nước trong hoà bình thay vì bằng chiến trận và vũ khí. Nhưng tôi biết là họ đã không đồng ý thực hiện những việc đáng lẽ phải xảy ra, vì thế mới có đánh nhau.

Tôi nghĩ Hồ Chí Minh là một anh hùng. Tôi thành thực ngưỡng mộ kính trọng vì Bác là một lãnh tụ rất tài giỏi khôn ngoan. Cũng như Hitler ở bên Đức. Đầu tiên Bác chỉ là thường dân, nhưng Bác đã đi du lịch khắp nơi trên thế giới để tìm đường giành độc lập cho Việt Nam từ tay chính phủ Pháp. Bác cũng đã chiến đấu chống Nhật xâm lược. đấy, vì thế tôi hết sức kính phục Bác.

Tôi cũng kính phục đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đây, tôi xin kể cho ông nghe. Ông ấy là tướng. Ông ấy ở trong chính trị bộ. Ông ấy là Tổng Trưởng Quốc Phòng. Ông ấy là người tài ba. Ông ấy có thể nói nhiều thứ tiếng. Ông không được nể phục bằng Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh là đại anh hùng cả nước. Ngay sau 1975 cũng có nhiều người quan trọng mà tên tuổi đáng ghi nhớ trong lịch sử nhưng người ta vẫn chẳng buồn biết đến. Người ta chỉ ghi nhớ: Thứ nhất Hồ Chí Minh, thứ nhì Phạm Văn Đồng, thứ ba là Võ Nguyên Giáp.

Khi tôi còn 17, 18, 19, tôi nghĩ nếu hết chiến tranh thì ít nhất cũng phải đến 1979 hay 1980. Tôi không bao giờ ngờ là sớm như vậy. Chẳng bao giờ nghĩ đến năm 1975 đã hết. Nhưng tôi chưa hề bao giờ nghi ngờ gì, tôi chắc chắn chúng tôi sẽ thắng.

Trừ phi ông sống trong chế độ cộng sản, không thì không thể hiểu tại sao tôi đã đã nghĩ như thế. Đây, người miền Nam nghĩ rằng họ sẽ thắng, còn người miền Bắc thì biết rằng sẽ thắng. Có một câu cách ngôn Việt Nam liên hệ đến chiến thuật quân sự: “Biết mình, biết người, trăm đánh trăm thắng”. Miền Nam không biết gì miền Bắc. Còn miền Bắc biết hết mọi chuyện miền Nam.

Dân miền Bắc chẳng hề bao giờ sợ sệt các lực lượng quân sự Mỹ. Tại sao thế? Lâu lắm rồi, từ khi còn bé tôi đã nghe một câu tuyên bố của một ai đấy trong chính phủ Mỹ – mấy ông tướng thì phải – họ bảo họ sẽ “Ném bom Bắc Việt cho Bắc Việt quay lại thời đại đồ đá”. Tôi đã được nghe nói thế ở trường học. Và tôi nhớ lại Hồ Chí Minh đã gợi lên biết bao nhiệt tình và lòng yêu nước của người miền Bắc. Bác bảo cuộc chiến này có thể kéo dài hàng 5 năm, 10 năm hay 15 năm, do đó chúng tôi phải luôn luôn sẵn sàng. Tôi nhớ ở nhà trường, tôi đã được yêu cầu phân tích những lời tuyên bố ấy. Chúng tôi trở nên thấu suốt và giữ vững lập trường của chúng tôi trong cuộc chiến. Nhờ sự tin tưởng ấy, chúng tôi trở nên không sợ hãi cuộc chiến nữa.

Ông thấy, khi người ta bị dồn chân tường thì còn cách gì khác hơn là đứng dậy đương đầu với vấn đề trước mặt? “Cùng thì phải cố.” Vì thế chẳng còn sợ gì, bởi vì thế chúng tôi phải xông lên. Chúng tôi bị bắt buộc phải chấp nhận vị trí và số phận chúng tôi. Nhìn lên trời thì máy bay Mỹ dội bom, chúng tôi lại chỉ có thể bắn trả từ dưới đất. Giả thử có thể làm giảm bớt được số lượng bom ấy thì tốt quá, nhưng làm gì được, làm ở đâu bây giờ? Chúng tôi còn cách nào khác hơn là chấp nhận tình thế, tốt nhất chẳng sợ gì nữa. Và nếu muốn khỏi bị bom thì phải vào Nam đánh Mỹ ra khỏi nước, chúng tôi chỉ có cách duy nhất ấy để tự vệ thôi.

Cuộc sống miền Bắc không ổn định vì bom đạn liên miên, chiến tranh căng thẳng. Cái gì cần làm, người ta cố làm, việc ai nấy lo. Tình trạng đất nước như thế, làm sao sản xuất hàng hóa có phẩm chất tốt cho được? Hoạ may hoà bình thì mới mong có phẩm chất tốt thôi.

Khi Sài Gòn đầu hàng, mọi người mở liên hoan, ai nấy đều sung sướng. Tôi nghĩ có bốn lý do làm chúng tôi vui mừng mà mở liên hoan.

Thứ nhất, những gia đình có thân nhân vào Nam chiến đấu, họ sung sướng vì đất nước thống nhất, không còn đánh nhau. Những người thân sẽ về với gia đình.

Thứ hai, nó liên hệ đến tình trạng tinh thần và cảm xúc mới của người miền Bắc. Trước kia cuộc sống luôn luôn khó khăn, người ta đều lo lắng, nhưng giờ đây chẳng còn phải ngay ngáy lo đạn bom, chết chóc nữa.

Lý do thứ ba liên hệ đến khả năng sum họp với những người thân yêu. Xin nhớ vào năm 1954, đã có rất nhiều người vào Nam. Trong những năm chiến tranh, người ta đứt liên lạc, chẳng biết ai còn ai mất. Bây giờ đất nước trở lại làm một, người ta lại có thể liên lạc với nhau.

Thứ tư, thế hệ trẻ muốn vào thăm miền Nam để so sánh tìm hiểu cuộc sống miền Nam thực sự ra sao.

Còn ở Hà Nội, sau 1975 cuộc sống có tốt đẹp hơn không? Có cái có, có cái không. Đời sống vật chất có phần sút kém đi sau 1975, nhưng lại tốt hơn nếu nói về mặt tâm lý, mặt tinh thần, về cuộc sống nội tâm. Sau 1975, trạng thái tinh thần của chúng tôi được thoải mái hơn cho nên tôi có thể nói là tốt. Nhưng trước 1975, chính phủ miền Bắc đã được các nước bạn ở Âu Châu, được Trung Quốc và Liên Xô giúp đỡ. Trước khi chiến tranh chấm dứt, các nước ấy đã cho viện trợ, nhờ đấy chúng tôi mới có thể giành lại việc kiểm soát miền Nam, thống nhất đất nước. Nhưng với chiến thắng 1975, họ bắt đầu thôi không viện trợ, nên chúng tôi chẳng còn gì nữa. Một chuyện khác là sau bao nhiêu năm chiến tranh, ruộng đồng tiêu huỷ, đường sá, các ống dẫn dầu, dẫn nước đều đã bị tiêu huỷ hoặc một phần, hoặc toàn phần. Làm sao quý ông có thể trông đợi chúng tôi phục hồi ngay được sau chiến tranh, sau bao năm bom tàn phá?

Vì thế cuộc sống dân chúng đã khó khăn hơn bắt đầu từ 1975. Ngay giờ đây, miền Bắc hãy còn chịu khó, chịu khổ. Trong nhiều trường hợp, còn tệ hơn cả thời chiến. Nhưng con người ta không còn ở tình trạng thường xuyên sợ hãi. Chính đấy là phần tốt nhất về chuyện chiến tranh chấm dứt.

Xin cho tôi được dùng một lời ví von. Ở miền Bắc, các bạn tôi và tôi thường hay nói chuyện đời, chúng tôi ví đời mình như những cánh bèo trôi trên sông. Đời là một dòng sông, chúng tôi là những cánh bèo lênh đênh trên mặt nước. Chúng tôi không định được đời mình và số phận mình. Nước chảy bèo trôi, làm sao biết bến bờ nào. Trong nhờ, đục chịu, chúng tôi chẳng lựa chọn gì được cho đời mình. Mỗi khi nghĩ đến số phận và cuộc đời chúng tôi như thế, thì một phần trong tôi luôn muốn phá bỏ cái loại đời ấy đi.

Cũng như các bạn tôi, tôi muốn có thể được là chính mình, được làm những gì mình chọn chứ chẳng để cho ai khác ép buộc mình. Tôi chỉ là một con người sống bình thường, tôi cũng chỉ muốn thế thôi.

Cuộc chiến này do những người khác hoạch định, chủ trương gây ra. Những người dân bình thường chúng tôi không dính dáng gì. Như mọi con người bình thường khác ở khắp nơi trên thế giới, chúng tôi hàng ngày làm lụng và cũng chỉ cố sống một cuộc sống bình thường…

..

Advertisements

One thought on “Nước Mắt Trước Cơn Mưa, Nguyễn Sơn

  1. Nguyên Vi nói:

    Tôi vẫn sống,
    vẫn ăn và vẫn thở
    Nhưng biết đến bao giờ
    mới được nói thẳng
    điều tôi ước mơ…(Nhất Hạnh)

Comment

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s