TUỔI THƠ

Tôn Nữ Thu Nga
_________________

3_last_soldiers_att

3 last soldiers, Tram Anh Tran

Ðời sống của ông nội tôi lúc tuổi già thật là an bình, khi ông chết, ông cũng giã từ cõi thế một cách êm ái. Mỗi buổi chiều, ông hay thẩn thơ ngoài vườn nhổ cỏ dại, bắt ốc sên, săn sóc mấy bụi hoa trang, hoa tỷ muội. Hôm ấy, ông làm vườn xong, trở về phòng, lọc một cốc cà phê, uống xong, ông đặt lưng trên tấm phản gụ, nhắm mắt nghỉ ngơi và sau đó ông không bao giờ thức dậy nữa.

Năm ấy, tôi mới mười hai tuổi, cư ngụ tại Nha Trang, “da đen như mọi”. Cô tôi chê cháu vì ham tắm biển. Buổi trưa đi học mới về, nghe tin ông mất, trái tim tôi trĩu nặng. Thế là hết những lần ông vào Nha Trang thăm cháu, đến tận trường học đón tôi về, kiên nhẫn chờ cho cháu xong việc quét lớp. Biết tánh tôi láu cá, nhanh mồm miệng đỡ chân tay, lúc nào cũng chỉ ra các chỗ dơ cho bạn quét, ông cưng tôi lắm nên thường khen cháu: Con ni giỏi tài chỉ huy, thay vì chê tôi biếng nhác không chịu làm việc. Hết rồi những chiều hai ông cháu ngồi bên cửa sổ nhâm nhi cà phê, hóng gió biển, đàm luận truyện Tàu, không còn nắm tay hai chị em tôi đi dạo trên biển, mua đậu phọng luộc hoặc cà rem cho cháu. Trưa hôm ấy sau khi nghe tin ông mất, tôi bỏ học trèo lên cành cây chùm ruột chót vót tận trên cao, ngồi yên không cho ai thấy mình, chỗ trốn tránh quen thuộc của tôi mỗi khi tâm thần bất ổn.

Tối hôm ấy, anh tài xế vừa tu chỉnh xong chiếc xe Dauphine màu hồ thủy của ba. Chúng tôi chồng chất lên xe bắt đầu cuộc hành trình vội vã. Trong sự đau buồn, mặt ba thật là nghiêm nghị nên đứa nào cũng im thin thít, kể cả Lương. Chú ta vừa mới bị té vỡ đầu chảy máu hôm qua vì sự nghịch ngợm của tôi, dù đau hắn cũng không dám nhỏng nhẻo nhè khóc nữa. Ðầu Lương bị quấn một khúc vải trắng như khăn tang làm hôm nay mấy cụ hàng xóm lắm miệng xuýt xoa cho đó là điềm gở. Bốn đứa con chua mùi mồ hôi, tóc khét nắng biển ngồi băng ghế sau, nép sát vào mẹ như một bầy heo con. Mẹ tôi gầy như cây liễu, dang vòng tay ôm các con lẳng lặng nghe từng hơi thở khi chiếc xe ru bầy con vào giấc ngủ.

Trong đêm tối có khi xe bị chận xét giấy bởi mấy người “phe bên kia”, sau này mẹ cho tôi biết, lúc ấy tôi chỉ nhớ những gương mặt đen sạm, xương xẩu, súng kẹp bên mình, ánh mắt tò mò ngó nhìn bầy trẻ trong xe và những bàn tay lật mấy mảnh giấy tờ hộ thân của đám người lớn. Ba hôm sau qua bao nhiêu gian khổ chúng tôi mới về đến Huế. Chuyến về lại Nha Trang, ba sợ bị “ phe bên kia” bắt vì tình hình trở nên biến động, ba cho chú tài đem xe về trước, cả nhà về bằng máy bay. Ðó là chuyến hành trình cuối cùng về Huế của gia đình tôi.

Xe vừa qua khỏi chợ Cống, mấy người làng đã nhận ra ba tôi, gật đầu chào và tò mò nhìn chúng tôi chăm chú qua cửa xe hơi. Xe chạy chậm trên con đường gồ ghề, tránh trẻ con và các cô bán hàng mặc áo dài, gánh hàng hóa thoăn thoắt len lỏi trong những đường kiệt. Bọn trẻ con thật là tinh nghịch, có đứa trèo lên cảng xe đánh đu tòn ten làm anh tài xế phải thò đầu ra khỏi cửa và la lối ỏm tỏi. Có người hàng xóm đạp xe đạp bấm chuông lanh canh, nhanh nhẩu chạy trước mũi xe, hân hoan thông báo lớn tiếng cho những khuôn mặt tò mò:

-Ông Quận về thọ tang…

Người trong làng quen gọi ba tôi là ông quận vì có một thời gian ba tôi được bổ đi làm Quận Trưởng trên vùng cao nguyên và chúng tôi đã sống và tiếp xúc thật gần gũi với dân Ra Ðê. Ðối với người dân chân thật và mộc mạc, những công việc ba tôi làm có một tầm vóc lớn và đáng chiêm ngưỡng. Vì vậy ba tôi trở thành một ông quận bất diệt trong lòng thiên hạ.

Anh ta lặp đi lặp lại câu nói này cho tất cả các người làng chúng tôi thấy trên con đường dẫn về nhà nội.

Theo lời mẹ dạy, khi đến nơi, chúng tôi vòng tay chào hỏi cả mấy chục người bà con chú bác, kẻ xoa đầu, người bẹo má làm tôi rất là khó chịu, lại phải vòng tay trả lời bao nhiêu là câu hỏi lăng nhăng… Cô tôi chê:

-Bọn ni noái tiếng trọ trẹ!

Lũ trẻ con hàng xóm bu ngoài cửa tò mò ngắm nghía bọn trẻ vừa đến từ Nha Trang, như những kẻ mới đến từ một hành tinh khác. Bác Ben, tuy được chúng tôi gọi bằng bác nhưng chỉ lớn hơn tôi vài tuổi, rủ rê:

-Ði hái ổi không?

Không chờ mẹ cho phép, tôi chạy theo bác, trốn ra vườn. Ổi nhà nội năm nay sai trái, mơn mởn treo trên những nhánh vừa tầm tay với, tôi ham hố bẻ trái nhét đầy hai túi. So sánh với khoảnh vườn nhỏ bé của ba tôi ở Nha Trang, vườn nhà nội như một thiên đàng hạ giới. Tôi quanh quẩn nhìn ngắm những cây thanh trà, cây mít lủng lẳng quả, sờ buồng chuối dài ngoằn chi chít trái. Tôi rong ruổi vẩn vơ trong thiên đường xanh của mình, thẫn thờ ngồi dưới gốc cây nhãn, nhìn lũ kiến đỏ cần cù làm việc, bên tai tôi văng vẳng tiếng đàn sáo ai oán não nề. Nghe tiếng nhạc, tôi lững thững trở ra sân trước. Mấy người nhạc công mặc bộ áo lương đen, đầu đội khăn đóng, còng lưng cù cưa kéo nhạc trên chiếc chiếu cạp điều. Trước quan tài ông nội, mấy người đàn bà lạ mặt vật vã than khóc inh ỏi. Thấy tôi, cô Khánh vẫy tay:

-Nì, mi tới kêu mấy mụ nớ xuống bếp ăn cơm trưa.

Tôi nhíu mày nhìn cô:

-Họ đang khóc than như rứa làm răng mà kêu đi ăn được chớ?

-Không răng mô, mi cứ kêu mấy mụ xuống ăn cho có sức mà khóc tiếp.

Tôi dùng dằng không muốn làm theo ý cô. Cô giậm chân:

-Con ni lì quá, răng tau sai mà mi không làm? Tau khỏ một cái chết!

Tôi nhăn nhó :

-Con kêu họ bằng chi?

Tôi muốn biết cách xưng hô cho đàng hoàng lịch sự để không làm mất lòng họ khi tôi cả gan cắt đứt nỗi thương tâm của họ đối với người quá cố.

-Con ni nhiều chuyện, hỏi chi lắm rứa, mấy mụ nớ trong làng, thấy nhà có đám ma, tới khóc lóc rứa cho có tình nghĩa chòm xóm, rồi để được mời ăn uống và ba mi cho tiền đó mà…

Hiểu lời cô, tôi chạy lên hiên, khều nhẹ người đàn bà đang bù lu bù loa kể lể:

-Thím ơi, cô con mời xuống bếp ăn cơm.

Người đàn bà lấy cái khăn loang lổ sặc mùi dầu khuynh diệp, lau mặt, khều khều hai người bạn đồng nghiệp. Cả ba người nhanh nhẩu đứng lên, chợt họ lom khom xá lia lịa trước quan tài khi thấy ba tôi bước ra từ phía sau tấm trướng. Ba tôi cũng chắp hai tay xá lại mấy cái trả lễ.

Họ lui ra mép chiếu, quơ chân tìm guốc xỏ vô, le te băng qua sân đi vào bếp. Giờ này các nhạc công cũng đã ngưng chơi nhạc để xuống bếp ăn trưa. Tôi len lén đến bên chỗ họ gác nhạc khí, tò mò nhìn mấy cái đàn bầu, đàn nguyệt. Tôi khe khẽ lấy ngón tay lảy nhẹ trên sợi dây mong manh, lắng tai nghe tiếng nhạc cô độc rung lên, lòng bất chợt nghẹn ngào. Trong ánh sáng âm u của gian phòng chính, chiếc quan tài ông nội im lìm, những ngọn nến leo lét cháy, sáp chảy hai bên như những giọt lệ. Mùi sáp, mùi hương trầm thoang thoảng trong không gian, tôi hình dung gương mặt ông mơ màng sau làn khói thuốc, tiếng ông ngâm thơ nho nhỏ bên cạnh tôi ngày nào không xa lắm …cánh hạc bay lên vút tận trời…trời đất từ đây xa cách mãi… ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi…Lấy tay quẹt những giọt nước mắt lả tả trên má, lần đầu trong cuộc đời nhỏ bé của mình, tôi cảm thấy nỗi mất mát, nhìn xuống ngón tay mình trên sợi dây đàn, nghe âm thanh chìm trong tiếng ve ve mùa hạ. Tôi tiếc nuối cánh hạc vàng đã bay đi, nếm những giọt nước mắt mằn mặn trên môi và hiểu rằng từ nay, ông và tôi sẽ cách xa mãi mãi.

Bà nội tôi chết từ lâu, ông nội có thêm một bà hầu khác mà chúng tôi gọi là bà Dì. Bà Dì trẻ hơn ông nội nhiều tuổi, thích se sua chưng diện. Trong dòng họ ai cũng chịu đựng bà vì biết rằng ông nội vui lòng khi có bà bên cạnh. Bà như một cái bóng, không âm thầm lắm vì tôi hay nghe các cô, các bà trong họ nói hành nói xách bà Dì trong những ngày giỗ chạp. Những dịp này, họ tha hồ hội họp, bép xép trò chuyện những gì xảy ra trong dòng họ. Tôi thích lân la bên cạnh mẹ, bà vú già và các cô xem nấu nướng, làm bánh ít, bánh bột lọc, bánh nậm và bánh hoa hồng. Các bà vừa nấu ăn vừa chuyện trò rối rít. Tôi thường được giao nhiệm vụ hơ lá và bẻ hộp cho bánh su sê. Hơ lá có nghĩa là cầm tấm lá chuối tươi xé sẵn đúng khuôn khổ, hơ trên lửa than âm ấm. Miếng lá chuối trở màu, mềm dịu để gói bánh cho khỏi rách. Cô Khánh dạy cho tôi cách làm hộp lá dừa cho bánh su sê.Tôi thích việc này vì hợp với tính tỉ mỉ và khéo tay của mình, hơn nữa, tôi hay được các cô xuýt xoa khen ngợi, mẹ tôi rất hãnh diện, bà thường mỉm cười nhìn tôi với ánh mắt thật đầm ấm. Bà Dì không có tài năng chi cả vì là con gái nhà quê, không được trau giồi nữ công như các mệ hoàng phái. Bà có tài đi chợ vì biết trả treo, mà cả với bạn hàng rất giỏi, không ngượng miệng. Thế mà miệng đời ác độc hay gièm pha rằng bà ăn bớt tiền chợ và giấu tiền bạc của ông nội để đem về Nam Phổ cho gia đình. Cô tôi chọc ghẹo : Con gái Nam Phổ ở lỗ trèo cau… dĩ nhiên là khi không có bà dì lảng vảng gần bên. Cách đây sáu năm, tôi mới học xong mẫu giáo, về Huế nghỉ hè từ miền thượng du đất đỏ. Hàng ngày tôi lẽo đẽo theo bà Dì đi chợ, có khi hai bà cháu xuống Vân Dương để bà đi đòi nợ. Năm lần bảy lượt chưa chắc đã đòi được nợ nhưng bà vẫn cứ đi. Trên con đường đê nhỏ, tôi chạy nhảy tung tăng, lâu lâu trật chân té xuống ruộng giẫm bùn be bét, bà kéo tôi lên xem xét vỗ về. Tôi nắm tay bà hát nghêu ngao… Con gái Nam Phổ ở lỗ trèo cau… Bà giựt tay ra, giận dữ:

– Ðứa mô dạy mi câu nớ ?

Ánh mắt bà quắt sáng long lanh, cặp chân mày nhỏ như sợi chỉ cau lại, mặt bà đỏ bừng rồi tái mét. Tôi sợ rúm cả người, biết bà giận nhưng không hiểu vì sao. Bà ray rức, căn vặn tôi làm tôi mếu máo khóc. Sợ tôi mách ông nội, bà thôi không hỏi nữa lặng im lủi thủi đi trong bóng hoàng hôn nhập nhòa, tôi nối gót bà, lếch thếch chạy theo. Lòng tôi hồi hộp sợ hãi, trên những con đường làng nho nhỏ, bóng tối bắt đầu lấn áp vạn vật, những thân tre xao xác, vươn cánh tay dài ngoằn trong gió. Bầy chim sáo về trong đám lá xôn xao rục rịch kêu lên những âm thanh thật buồn.

Từ đó, tôi không bao giờ nghêu ngao câu “ Con gái Nam Phổ” nữa. Tuy nhiên tôi không bao giờ nghĩ rằng mình có lỗi gì với bà cả. Chung quanh tôi, bọn trẻ con trong xóm cởi truồng tồng ngồng, chúng nhảy xuống sông bơi như con nhái chẳng có gì là
xấu hổ.

Sau bảy ngày tang lễ, linh cữu ông nội được đem chôn trên núi Ngự Bình, trong một miếng đất của dòng họ, bên cạnh ông cố và bà cố.

Ðám tang ông nội rất vui, theo ý kiến non dại của tôi thuở ấy. Một đoàn người đông đảo cờ quạt, trướng liễn, vòng hoa cườm. Các cô tôi rải vàng bạc đầy đường, vừa rải vừa khóc mếu máo. Ba tôi là trưởng nam, mặc áo tang trắng te tua, cầm gậy đi ngược trước linh cữu, bọn tôi đứa nào cũng mặc áo mới ố các ông thợ may gọi như vậy khi chúng tôi vừa đến ố đeo khăn tang trắng. Ba mẹ và các cô, chú đội thêm một cái mũ đơn sơ may bằng vải thô sùm sụp. Các chắt chút chít gì đó thì đội mũ vàng. Ðám rước có ca nhạc trống chiên inh ỏi, ba bà hôm nọ cũng đi theo, vật vã khóc than thê thiết, có vẻ hiếu thảo với ông nội hơn cả ba mẹ và cô chú tôi.

Trong dịp này, điều tôi nhớ hơn cả, là gánh bún bò của chị Ẩm. Tôi không thấy chị trong lúc đưa ma nhưng sau khi hạ huyệt thì tôi thấy chị ngồi múc bún cho khách ngay giữa những nấm mộ. Chị ngồi trên cái đòn gánh, bên phải chị là nồi nước bún đỏ rực ớt màu. Quanh nồi úp san sát những cái bát sành, nắm đũa, muỗng. Bên trái chị là một rổ bún trắng tươi, thêm một rổ rau răm, rau thơm và hành ngò thái nhỏ. Chị múc thoăn thoắt miệng hỏi lia:

-Bác ăn chi cháu múc?

Người thì nói:

-Chị cho tui một bát không giò, nhiều thịt hỉ !

Kẻ đòi hỏi:

-Cho tui hai cái giò móng hỉ ?

-Bát tui không cay nghe.

-Răng chị ni cho ít bún rứa?

-Cho tui miếng chanh nghe!

-Chao ơi, trái ớt ni cay vô hậu!

Bây giờ tiếng sụt sùi, xuýt xoa, và những giọt lệ ứa trên mi không phải cho người quá cố nữa mà vì những tô bún bò nồng nàn của chị Ẩm.

Trên nấm mộ mới, những người phu đắp mộ dùng những cái đầm đất dện ình ình cho đất nện cứng trên quan tài, vừa nện đất họ vừa hát những bài vè có vần có điệu.

Trên thành mộ bà cố, ba tôi ngồi trầm ngâm, nét mặt không vui, không buồn. Tay ông cầm xấp tiền dày cộm chắc để phân phát cho các nhạc công, ba bà khóc mướn, và mấy anh phu hòm. Thấy tôi tần ngần đứng bên, ba hỏi:

-Con có đói không, tới ăn bún đi.

Bác Ben cười hì hì:

-Anh biết không, hắn ăn một bát như người lớn lại đòi hai cái giò.

Tôi trề môi:

-Can chi mô, lần trước ông nội vô Nha Trang, ông dẫn cháu đi bún bò Bưu Ðiện, cho cháu ăn như rứa. Ông nói là cháu muốn ăn hai tô cũng được.

Nói xong, đột nhiên tôi òa lên khóc, có lẽ tôi chợt nhận thức rằng trong đời, không còn ai nuông chiều yêu thương tôi bằng ông nội cả. Ba tôi dang tay ôm tôi vào lòng vỗ về, tôi gục đầu thổn thức trong cánh tay ba, cảm thấy những giọt nước mắt nóng của ba cũng đang rơi trên tóc mình.

Tôn Nữ Thu Nga

 

Tác giả TÔN NỮ THU NGA từng cộng tác với các báo: Nguyệt San Thế Kỷ 21, Phụ Nữ Diễn Đàn Người Việt, Nhật Báo Người Việt, Tuần San Vietnamerican,Nhât Báo Viet Herald, Nguyệt San Photographic Society of American Journal và trang mạng Hội Ảnh Nghệ Thuật http://apavietnam.org Trước 75, cũng từng là một nhà thơ Tuổi Ngọc. Viết lách chỉ là nghề tay trái, nhà văn Phạm Phú Minh nói về tác giả này:..”.một cây bút rất Huế, mặc dầu cho tới nay thời gian sống ở hải ngoại của cô còn dài hơn tại Việt Nam, và ngay khi còn sống tại Việt Nam thì thời gian ở Nhatrang và một số nơi khác còn nhiều hơn ở Huế…Tôi biết niềm đam mê nhiếp ảnh của cô nhưng nơi người này cái nợ chữ nghĩa cũng không phải là nhẹ…” ( Phạm Phú Minh)

13 thoughts on “TUỔI THƠ

  1. Rất vui khi đọc truyện của chị Thu Nga.
    Bà xã TBN là Minh Vy người gốc Huế, sanh ra ở SG, bình thường thì nói giọng miền Nam. Nhưng mỗi khi gặp ông bà ngoại thì nghe Minh Vy nói giọng Huế cũng thật ngọt ngào. Hứa với vợ con sẽ có dịp đi Huế để lấy cảm hứng viết truyện và thơ, hy vọng hè năm sau sẽ làm được…
    “… Giữa chùa Thiên Mụ có còn
    Gót son thiếu nữ, lối mòn khói hương…”
    Trích bài Thương Lắm Miền Trung – TBN

    Thích

  2. Hình đại diện của TRI THỨC TRI THỨC nói:

    Bài viết đã gợi nhắc, lại nhớ về tuổi thơ.. cho dù câu chuyện không giống như của riêng mình!
    Cám ơn tác giả Tôn Nữ Thu Nga

    Thích

  3. Hình đại diện của Mai Mai nói:

    “Viết lách chỉ là nghề tay trái”, nhưng ngòi bút của chị rất tinh tế, sâu sắc. Chị Nga ơi, chị hãy tiếp tục viết nghe chị. Bài viết rất cảm động làm Mai ứa nước mắt.

    Thích

  4. Hình đại diện của Sa Sa nói:

    Chị Tôn Nữ Thu Nga ơi, cám ơn chị đã cho đọc một truyện ngắn rất hay. Chất Huế trong truyện thật đậm đà, và những hình ảnh trong ký ức tuổi thơ được tái tạo một cách thật sống động, như một cuốn phim tinh tế không bỏ sót một chi tiết nhỏ.

    Thích

  5. Chị Nga ơi , Dung nhớ khi xe ba về tới cổng thì bà dì chạy ra đầu tiên khóc nức nở ,vì bà dì biết chỉ có ba là thương bà thôi vì bà làm cho ông nội vui trong tuổi già , ba mình luôn là người thấu hiểu mọi điều…Rứa mà mấy cô, mấy thím cứ háy nguýt cho là bà dì xức dầu vô hai con mắt để chảy nhiều nước mắt…Lúc đó Dung cỡ 9,10 tuổi bắt đầu thấy sợ những lời nói và bắt đầu chìm vào thế giới riêng của mình !

    Thích

  6. Hình đại diện của Chuan C Phan Chuan C Phan nói:

    Thu Dung ơi,
    Nếu Chuẩn đoán không lầm thì Thu Nga là Tôn Nữ Thu Nga, chị ruột của Thu Dung ?
    Chị viết bài về Ông Bà Nội và xứ Huế rất hay, khiến Chuan lại nhớ Huế, cảm ơn và hân hạnh chào Chị
    Em Chuẩn (bạn của Trần Toản, Đường Duy Tân, Nha Trang trước 75)

    Thích

  7. Hình đại diện của chu thụy nguyên chu thụy nguyên nói:

    Bài viết làm nhớ một quảng đời ấu thơ khi còn cả ông lẫn bà. Cám ơn tác giả.

    Thích

  8. Chào Tôn Nữ Thu Nga,lâu lắm mới đọc được bài viết của bạn làm mình nhớ đến Bà Nội .Vì thuở nhỏ ,ba mất sớm,mẹ đi làm ăn xa ,nên mình chỉ sống gần bà .Đến bây giờ hình ảnh Bà Nội vẫn còn lung linh trong trái tim mình đó .Chúc Thu Nga vui khoẻ và hạnh phúc.

    Thích

    • Hình đại diện của Tuấn Anh Tuấn Anh nói:

      ThuNga ơi, nhớ bạn cũ không.ThuNga viết về Huế quá trong trẻo với cái nhìn thơ ngây của cô bé 12 tuổi , mà sao cô em gái của ThuNga lại tra trắn quá khi phản hồi ” bắt đầu thấy sợ những lời nói và bắt đầu chìm vào thế giới riêng của mình…”khi mới 9,10 tuổi là sao ?

      Thích

      • Hình đại diện của Ni Na Ni Na nói:

        Thanks Thu Dung đã giới thiệu đôi dòng về tác giả , đơn giản mà đầy trân trọng.

        Thích

      • Hình đại diện của Quỳnh Quỳnh nói:

        “… Lần đầu trong cuộc sống nhỏ bé của mình tôi cảm thấy nỗi mất mát…” và…:” đột nhiên tôi òa lên khóc, có lẽ tôi chợt nhận thức rằng trong đời , không còn ai yêu thương nuông chìu tôi bằng ông nội cả…”
        Những câu đơn giản của một bé con nhưng chứa đựng cả một trời buồn làm Quỳnh ứa nước mắt , Nga ơi !

        Thích

      • Khi chìm vào thế giới riêng . Tôi ngồi trên thành cửa sổ , nhìn ra vườn có cây khế trổ đầy bông tím và im lặng cả buổi không muốn ai đến gần mình… Người lớn sợ tôi bị tự kỷ , nhưng may thời gian đó qua nhanh…Chỉ là những rối loạn của sinh học bình thường.Nên sau đó Tuấn Anh mới có một cô bạn tri kỷ được chớ !

        Thích

Gửi phản hồi cho Sa Hủy trả lời