THẰNG GIÀ NOEL

Trường Nghị

mallsanta_9838

“Thằng Già Noel”. Vâng, đêm Giáng sinh năm vừa rồi hắn đã bị gọi như thế. Hắn không được gọi bằng Ông thân thương như những ông già Noel khác do mấy đứa bạn của hắn hóa trang. Cái nghề hóa trang thành ông già Noel đem niềm vui đến cho mấy đứa trẻ nhân mùa Giáng sinh, tính đến năm nầy, nếu hắn dằn lòng đeo đuổi thì hắn đã có thâm niên công việc năm thứ tư. Dù sao thì hắn cũng đã tới những ba năm nghề. Cơm cha áo mẹ, gạo dỡ mắm đùm ở quê lên đất Sài gòn cắm đầu với sách vở, đâu phải sinh viên nào nhà cũng nghèo nhớt mồng tơi như nhà hắn, ăn nhín nhịn thèm lại kiên trì bám được tới những ba năm đi làm chuyện ban phát quà tặng như hắn !?

Hắn gọi chuyện hắn làm đó là nghề. Là nghề, nghề nghiệp hẳn hoi. Chẳng lẽ một năm làm có một ngày – không, đúng ra chỉ một buổi – thì không thể gọi chuyện làm đó là một nghề được hay sao Tiếp tục đọc

ABC

Trường Nghị

images

Có lẽ ngày xưa các cụ của ta hẳn bấn loạn ghê gớm khi bỏ bút lông cầm lấy cây bút sắt để viết chữ “quốc ngữ” – kiểu chữ abc (!). Cái “chữ ta”, chữ Nho của Hán ngữ mà lâu nay các cụ tụng như tụng kinh, theo các cụ đó là chữ của thánh hiền. Chữ thánh hiền là chữ của đạo nghĩa. Không ít người kể lại chuyện các cụ khi tập viết chữ, viết xong phải nhai chúng nuốt vào bụng. Chữ của thánh mà vứt bỏ bậy bạ sẽ ô uế, tỏ ra bất kính. Không biết có phải vậy không, nhưng cũng không ít người kể lại rằng các cụ nuốt chữ vào bụng là để chữ ở luôn hẳn trong người, may ra khi đi thi còn có chữ lấy ra tranh làm ông Nghè ông Cống với thiên hạ !

Thời của các cụ còn đậm hằn cái tư tưởng người An Nam phải học chữ An Nam. Cái chữ viết bằng cái bút sắt kia là chữ của Tây, của giống bạch quỷ đang gặm từng tấc đất của cha ông như tằm ăn dâu. Chữ của Tây là chữ của quân xâm lược, chữ của chúng làm sao có đạo lý bằng “chữ ta” … Ấy đấy, nhưng chữ viết ta đang dùng hiện nay lại là chữ của Tây, là chữ “quốc ngữ” mà hồi ấy các cụ đay nghiến! Thế mới đau cùng các cụ! Nhưng kể ra cũng lạ, nỗi đau nào rồi cũng đụng tới cái ngưỡng hòa tan với sự trưởng thành của chính con người. Thế mà đến tận bây giờ, có người còn cho rằng chữ Quốc Ngữ, chữ của mấy ông Cố đạo Tây sáng tạo từ thời Trịnh Nguyễn ấy, họ phát minh ra chúng chỉ nhằm mục tiêu duy nhất là tạo ra một phương tiện truyền đạo để rồi gieo rắc bao tai ương cho đất nước (!?), không cần phải tri ân, không cần phải dùng tên của họ đặt tên đường để biểu lộ lòng biết ơn! Hãy coi chữ “quốc ngữ” như là một “chiến lợi phẩm” Tiếp tục đọc

TIẾNG TỲ BÀ TRONG KHÚC HÁT LƯƠNG CHÂU

Trường Nghị

tibaUnknown

Buu Chau mến,
Đất nước mình đã từng trải qua những tháng năm ngập ngụa mùi súng đạn. Lứa tuổi của chúng mình ngày ấy từng chứng kiến cảnh người chung quanh sống nay mà không biết ngày mai có còn hiện diện ở trên đời. Đêm không chỉ xa nghe tiếng súng vọng về mà còn nghe chính tiếng gầm của đại bác ngay giữa lòng phố thị. Từng ấy năm kề cận với lằn ranh giữa sống và chết, hầu hết ai cũng thấy và thông cảm hình ảnh “say nằm” của người chiến binh trong Khúc Hát Lương Châu của Vương Hàn hơn ngàn năm trước :

LƯƠNG CHÂU TỪ
Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi

Bản chép mà Buu Chau gởi cho mình, ghi lại khúc ngâm của người bạn, có lẽ đó là bản dịch của cụ Trần Trọng San Tiếp tục đọc

Một Cây Số Đi Chân

Trường Nghị

Men and Women walking_cropped

Một cây số đi chân
Là hư là hư lá hứ …
Hai cây số đi chân
Ối a !  là vui quá chừng …

Bài hát trên, những năm xa xưa đó, bọn học trò nhỏ chúng tôi chỉ hát mà không được chơi. Các anh chị lớp Ba, lớp Nhì, lớp Nhất  (lớp ba, bốn, năm bây giờ)  được diễm phúc vừa hát vừa chơi. Chơi mà học, Học mà chơi. Chơi mà đi xa cả sáu, bảy cây số không có phần cho bọn học trò lớp Năm, lớp Tư  (lớp một, lớp hai)  hỉ mũi chưa sạch chúng tôi.
Những năm đầu thập niên 60 thế kỷ trước, các Thầy của Trường Tiểu Học Bình Giang đa phần ở Phú Phong lên giảng dạy. Cô giáo duy nhất dạy lớp Năm là cô Hồ Thị Bích Nga, người ở địa phương. Các Thầy Phan Hoàng, Nguyễn Đốc, Đặng Văn Đại, Trần Văn Hớn … ngày ấyđến trường bằng xe đạp, phải đi hơn mười cây số với đường sá có lúc bị hầm hào xẻ ngang xẻ dọc, mấp mô mìn bẩy thời “phá đường”. Dạy học thời chiến tranh, bom đạn, đúng là hiểm nguy, vất vả trăm bề. Nhưng lúc đó bọn chúng tôi nào thấy khó nhọc, vất vả của Thầy Cô, chúng tôi chỉ biết cặm cụi nắn nót từng chữ trong giờ học, hê hả cười theo chuyện kể, hồn nhiên nô đùa với trò chơi dưới sự dẫn dắt của Thầy Cô Tiếp tục đọc

Tổng Vĩnh Thạnh và Chánh Tổng Kham

Trường Nghị

minhvien

Những năm đầu thế kỷ trước, địa giới của tổng Vĩnh Thạnh, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định bao gồm phần đất cả huyện Vĩnh Thạnh, cộng với phần đất xã Tây Giang, xã Bình Tường của huyện Tây Sơn ngày nay. Tổng là một đơn vị hành chánh xưa, là cấp trung gian giữa huyện và làng xã. Tương đương với cấp Tổng là Thuộc. Thuộc là đơn vị hành chánh bao gồm những ấp, thôn, phường, nậu, man ở vùng ven biển hay miền núi mới vừa khai phá. Tên gọi của nó được bảo lưu từ thời các chúa Trịnh – Nguyễn, dùng để phân biệt với Tổng gồm những thôn, ấp đã được định cư lâu đời. Thuộc còn được dùng để gọi cấp hành chính người Minh Hương (người Hoa) sống trên đất Việt là Trang (làng), Thuộc (tổng), Bang (huyện).

Năm 1832, vua Minh Mệnh thực hiện cải cách hành chánh toàn quốc, Trấn Bình Định được chuyển tên thành Tỉnh Bình Định. Các Ấp trong Trấn cũng được đổi tên, sáp nhập hoặc lập thêm thành thôn xã mới. Trong những năm đó, ấp Vĩnh Long được cải lại tên là thôn Vĩnh Thạnh. Thôn Vĩnh Thạnh với 45 thôn khác cùng nằm trong tổng Thời Hòa của huyện Tuy Viễn.

Đến năm 1841, hai tổng Thời Đôn và Thời Hòa của Tuy Viễn phân ra làm 4 tổng với các tên gọi mới là Phú Phong, Mỹ Thuận, Nhơn Ngãi và An Ngãi. Thôn Vĩnh Thạnh thuộc Tổng Phú Phong. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, vào năm Đồng Khánh thứ 3 (1888), triều đình Huế trích lấy 10 thôn của tổng Phú Phong, 8 thôn của tổng Mỹ Thuận, cộng với 28 thôn mới mộ khẩn của vùng cao nguyên (Tây Sơn thượng đạo cũ) để lập nên huyện Bình Khê, thống hạt 4 tổng là An Khê, Tân Phong, Vĩnh Thạnh và Thuận Tuyên. Tổng Vĩnh Thạnh có 10 thôn xã là Thạch Quang, Vĩnh Khương, Vĩnh Thạnh, Định Thành, Định Quang, Tiên Thuận, Thượng Giang, Hữu Giang, Tả Giang và Trinh Tường. Có nghĩa là tổng Vĩnh Thạnh thời ấy có địa giới từ Cầu Phú Phong hiện nay trở ngược lên đến huyện Vĩnh Thạnh bây giờ.

Vào tháng 3 năm 1908, dưới sự điều động của Chánh tổng Vĩnh Thạnh là Chánh Tổng Kham, dân đinh các thôn xã nầy đã kết hợp cùng với người dân trong các tổng, huyện khác của Bình Định đi đòi giảm thuế, giảm sưu. Phong trào xin xâu (sưu) kháng thuế kéo dài mấy tháng liền suốt dọc dãy miền Trung, đã làm kinh thiên động địa cả triều đình Huế, quan chức bảo hộ người Pháp ăn cũng không ngon, ngủ cũng không yên. Người đời đã gọi phong trào nầy là Dân biến Trung Kỳ, còn triều đình nhà Nguyễn thời ấy đã gọi những người dân chân lấm tay bùn đang đòi quyền sống đó là giặc: Giặc Đồng Bào Tiếp tục đọc

TRI HUYỆN BÌNH KHÊ – MỘT ÔNG QUAN LÃNG TỬ

Trường Nghị

nguoixua

Đọc Vang Bóng Một Thời của Nguyễn Tuân, người nào có chút lòng hoài cổ thấy ngậm ngùi nhưng thật hào sảng với truyện Chữ Viết Người Tử Tù, thấy một chút khoan khoái qua Chén Trà Trong Sương Sớm, thấy cả không gian đầm ấm, hương vị Tết như thơ của mấy cụ Đồ với bài Hương Cuội … Phải nói cả 11 truyện ngắn của Vang Bóng Một Thời không có bài nào non tay qua bút lực của Nguyễn Tuân.

Trong Vang Bóng Một Thời, Nguyễn Tuân dành ra đến 2 truyện ngắn là Thả Thơ và Đánh Thơ để xây dựng lại hình ảnh món ăn chơi của “một thời vang bóng”. Nếu không tường tận cái thú chơi của người xưa thì thật khó mà thấy được cái ý vị của món chơi chữ nghĩa mà bây giờ đã tuyệt tích trong xã hội công nghiệp. Nhưng nếu có chút hồn thơ thì xem Thả Thơ, Đánh Thơ, thấy người xưa chơi thơ thật “nên thơ”.

Nhưng trong món chơi thơ nầy có một ông quan huyện Bình Khê xuất hiện qua ngòi bút của Nguyễn Tuân trong truyện ngắn Đánh Thơ. Quan Phủ Tam Nguyên Trần Bích San ở Bình Định thật sự là một Kẻ Sĩ, nhưng ông quan huyện nầy lại là một anh ma mãnh với trò đời. Ông đã bị mụ Mộng Liên (nhân vật trong truyện) bắt nọn được mánh lới của mình … “… nên mỗi lần sau, ông huyện Bình Khê động tay vào lá thơ là mụ lại buông tay đàn, chận lấy giấy và nhìn trừng trừng vào giữa mặt ông huyện có tính gian giảo kia … (Đánh Thơ – Vang bóng một thời Tiếp tục đọc

NGÀY XUÂN CHƠI ĐỔ XĂM HƯỜNG

Trường Nghị
___________________

boxamhuong_0

Trong những thú chơi Tết ngày xưa thì có lẽ chơi đổ Xăm Hường là trò chơi hấp dẫn cả người lớn lẫn bọn trẻ, nhưng vào thời buổi nầy thấy không bao nhiêu gia đình tổ chức được cuộc chơi. Ngày xưa nhiều khi người lớn còn năn nỉ bọn trẻ chơi đổ Xăm Hường ngày Tết để … bói hên xui đầu năm. Chơi đổ Xăm Hường không mang tính cao thấp, hoàn toàn dựa trên may rủi của 6 hột xúc xắc bung vào tô mà ngẫu nhiên nó đem chiến thắng đến cho người chơi. Chơi trò chơi hên xui nầy cũng không kém phần hồi hộp, căng thẳng, nhưng chưa bao giờ thấy đổ Xăm Hường mà sinh ra chuyện cãi vã, gian lận cay cú ăn thua như những trò sát phạt khác. Cũng vì vậy mà người lớn muốn bọn trẻ đầu năm đổ Xăm Hường, vừa chơi vừa giải trí, mà cũng vừa như xin cái xăm xem thử chuyện học hành, thi cử của bọn trẻ trong năm như thế nào.

Chơi trò đổ Xăm Hường, còn gọi là bói Xăm Hường chỉ cần có bộ hột xúc xắc (còn gọi là hột xí ngầu, tào cáo) và bộ thẻ, có được một tô sứ to, sâu lòng để bung hột xúc sắc nữa thì tốt. Các thẻ trong bộ Xăm Hường được mang tên những học vị đạt được trong thi cử thời xưa. Cách chơi chỉ cần bung vào tô sứ 6 hột xúc xắc, qua các mặt xúc xắc hiện lên, theo quy định mà người chơi giật được thẻ Trạng nguyên, thẻ Bảng nhãn hay Thám hoa, hay Tiến sĩ … Tên gọi các thẻ xăm phần nào đã thể hiện khát vọng đạt được khoa bảng của sĩ tử ngày xưa, phần nào đó cũng thể hiện được tính thanh tao của một trò chơi nho nhã Tiếp tục đọc