Rủi-May !

trachantranhuuhoi

Phận lại thức giấc. Nhiều đêm nay, từ cái ngày ấy, anh bị thức giấc nhiều lần trong đêm. Anh quơ tay bên cạnh, không đụng vợ. Anh chợt nhớ, cũng từ dạo ấy, đêm khuya thức giấc thường không có chị bên cạnh …
Phận lại thao thức tiếc xót và rủa sả mình thậm tệ !
Hồi đi nghĩa vụ quân sự, anh đóng quân tận Vĩnh Long, gặp Lài rồi lấy làm vợ. Mồ côi từ nhỏ, anh nghe chốn này có ông chú ruột nên tìm về, nào dè vế tới nơi thì ông chú đã chuyển đi làm ăn đâu trong Xuyên Mộc, Bà Rịa !
Vốn liếng không có là bao, tằn tiện mua lại được cái nhà.
Cha xứ thường thăm viếng và rồi cả hai học giáo lý, rửa tội theo đạo và làm phép cưới ở nhà thờ. Bốn năm rồi mà vẫn không có con!
Công việc tuy không phải là nghề, nhưng cũng mang lại cho hai vợ chồng Phận miếng cơm hàng ngày…
Dưới gốc cây me, trước cổng vào nhà thờ, với một cái bàn chữ nhật nhỏ bỏ dăm đôi giày, đôi dép… đã may xong, một ghế thấp để ngồi và mấy cuộn chỉ, hộp keo “con chó”, anh gia công khâu, dán lại các loại giày dép, cũng tạm qua ngày. Chị lài không quen làm rẩy nên chỉ ở nhà …
Thế nhưng hai con mắt anh không biết tại sao càng ngày càng mờ, nhất là những lúc trời nắng !
Hôm đi bệnh viện tỉnh khám, Bác sĩ bảo anh bị đục thủy tinh thể, chờ có phái đoàn mổ từ thiện của nước ngoài ghé địa phương thì xã sẻ thông báo. Phải chờ thôi chứ tiền đâu mà không chờ! Hai năm rồi chưa ai ghé, mắt ngày càng mờ thêm. Không thấy rõ nên may cũng chẳng xong !
Anh dẹp may giày, bày ra bán vé số, cũng có mắm có muối nhờ ở ngay trước cửa nhà thờ, có ngày anh bán cả trăm tấm !
Chục ngày trước, có cậu thanh niên ở đâu đi xe máy sà vô mua sáu tấm, sau khi trả tiền, cho lại anh một tấm, Phận mừng lắm, gấp đôi cho vào chiếc ví ở túi sau. Chiều còn lại mười hai tờ, đại lý ghé lấy .
Về nhà sớm một bữa.
Gần đến nhà, thằng Toàn hàng xóm đứng trong hàng rào vói ra hỏi:
-Còn vé không?
-Hết rồi !
Đi được một quãng, anh lại nhớ tấm vé cậu thanh niên cho hồi sáng,
-Chậc, biết có trúng không, bán mẹ nó lấy năm ngàn cho chắc ăn ! Cái số mình nó nghèo rồi, mấy lần bỏ tiền mua còn không trúng huống là cho !
Anh quay lại,
-Ê, còn một tấm, lấy không?
-Lấy !
Toàn đưa anh mười ngàn, anh thối hắn năm ngàn.
Sáu giờ thì tin trúng số lan nhanh. Anh Từ đại lý, ghé đưa cho Phận tấm giấy kết quả xổ số, nói :
-Lốc của mi trúng độc đắc, mi nhớ bán cho ai thì ghé nhà xin người ta ít triệu !
Không nhớ ai mua vì mắt kém, Phận kêu thắng Toàn dò thử.
Trúng ! 125 triệu !
Phận như trúng phải gió độc, sụm ngay trước nhà, hai ngày sau không dậy nỗi, ốm luôn!
Và rồi đêm nào cũng giật mình thức giấc, nằm tiếc xót 125 triệu, rủa sả mình ngu !
Nằm chờ chán vẫn không thấy chị Lài, “đêm đi tiểu đi tiêu cũng đâu có lâu như vậy?”. Phận thoáng chút nghi hoặc. Từ mấy tháng gần đây, thằng Toàn qua nhà anh luôn, Lài thì cớt cớt nhả nhả… “Mà thằng Toàn thì có vợ, có con, không lẽ…”
Mắt anh ban đêm, trời không sáng thì còn ro rõ, anh lần ra bếp. Ngay trong cái chuồng heo từ lâu không có heo, hai tấm thân trần truồng, quấn vào nhau say sưa… !
Thằng Toàn và chị Lài, vợ Phận !
Anh lảo đảo trở lại giường chong mắt nhìn lên đỉnh mùng rách lỗ chỗ !
Hơn mười ngày ốm, cộng với những đêm thức giấc không ngủ … thể chất và tinh thần anh bủn rủn…Những ý nghĩ hỗn độn, chập chờn, như ma trơi trong đầu anh !
Lài trở vào giường, còn thở hồng hộc như vừa cày xong đám rẫy mì!
Hai ngày sau thì mất tích, cả Toàn, Lài vợ anh, cùng ông Ngoạn cha của Toàn. Thì ra họ có sắp đặt rồi !
Phận cũng không dậy nỗi mà nấu chén cháo cho mình !

***
-Anh Phận , dậy húp chút cháo !
-A…i… đ…ó? Phận nói như rên .
-Em đây, Thê đây anh Phận ! Cái tụi nó anh đừng buồn nữa, em cũng chẳng tiếc tác chi cái thằng say vũ phu đó !
Thê là vợ của Toàn.
Thê hiền, đẹp và chăm. Chỉ tội cái hồi còn nhỏ, cháy nhà, phỏng nặng, chân phải bị teo, đi khập khễnh ! Toàn ưng chị vì một mẹ một con, tưởng đâu bà mẹ góa có vốn liếng nhiều, nào dè cưới xong hai năm, sinh được đứa con gái, mẹ Thê chết, giờ hắn mới biết là chẳng vốn chẳng liếng gì, ba chỉ vàng không đủ cho hắn mua chiếc xe cũ đời 86 ! nhưng cũng còn có cái nhà ! Hắn bán cái nhà cha hắn, rồi đem cha về ở chung trong nhà vợ !
Dạo gần đây, đêm lại, kéo quần vợ ra, thấy cái chân dúm dó hắn mất hứng, nổi quạu, tống một đạp làm Thê rớt xuống giường! Chị không dám leo lên, sợ hắn lại cho thêm một đạp khác nên cứ ngồi mé giường khóc rấm rức !
Phận cố ngồi dậy, muốn bỏ chân xuống giường mà không nổi, anh nhìn thấy gương mặt Thê nhờ bóng tối ! Mắt anh rưng rưng !
-Anh phận gắng nuốt miếng cháo lấy sức !
Phận nuốt cháo và cũng nuốt luôn nỗi xót xa trong lòng. Xóm giềng lúc này, ai ai cũng ghé thăm và khuyên nhủ anh quên cái con phản trắc lăng loàn ấy đi .
Thê săn sóc anh tận tình như một người vợ, hai con người chung nỗi thất vọng. Cái nghèo, cái khổ làm cho người ta dễ chấp nhận nhau.
Thê bồng đứa con gái một tuổi qua nhà Phận cả ngày để tiện chăm sóc cho anh hơn,tối về nhà mình. Chừng mười ngày thì anh đã phục hồi trí lực, chuyện cũ cũng nguôi ngoai nhờ có Thê. Chạng vạng chiều hôm đó, anh buồn bã nói với Thê
-Cứ đi qua đi về mệt, hay là Thê ngủ lại đây luôn ?
-Đóng cửa nhà à, người ta nói vô nói ra…
-Thì để họ nói !
Đêm đó chị Thê ở lại…
Hai ngày sau thì cha xứ ghé thăm, cha cho hai lon sữa và 100 ngàn, khi sắp về cha nói:
-Cha có nghe người ta đồn này đồn nọ, cha cũng rỏ hoàn cảnh hai con, nhưng cha nghĩ nên chờ một thời gian coi sao đã. Sống với nhau như vậy e khó coi và còn luật hôn phối nữa, hai con đều có làm phép nhà thờ !
Tối hôm đó,Thê ẵm con về lại nhà, nằm thao thức không ngủ được !
Bên này, Phận cũng không ngủ ! Anh cảm thấy trống trải hơn cả lúc Lài mới bỏ đi !
Chiều tối lại, anh qua nhà Thê:
-Đêm qua tui không ngủ được, Thê tính chuyện tụi mình thế nào ?
-Cha đã nói vậy biết sao giờ ?!
-Cha chưa ở với thằng Toàn và con Lài, Cha chưa thấy tụi hắn mần chuyện lăng loàn sau chuồng heo, cha có người lo nấu nướng cơm nước hàng ngày…nói chung, cha không phải là tui và Thê. Thê không qua bên đó thì tui ở lại bên này !
Tối đó, Thê lại ẵm con qua với Phận. Đêm không còn thao thức, Phận không chê cái chân nhăn nhúm của Thê. Họ mặn mà như một đôi mới cưới, sau phút giây hạnh phúc …Thê đặt tay lên bụng Phận:
-Anh Phận…
-Chi vậy Thê?
-Mình đi vô trong Sài gòn mổ mắt đi!
-Có tiền đâu mà mổ ?
-Hồi chưa chết, mạ có đưa em năm chỉ vàng, nói là phải chôn kỷ, không cho thằng Toàn biết, để sau mà phòng thân !
-Của Thê và cho con bé sau này, chừ lấy mổ mắt sao được !?
-Sáng mắt rồi mình làm bù lại, của mạ cho em, thì cũng như của anh, lo gì ! mình đã…!
Một chỉ vàng là bốn triệu ba, thay thủy tinh thể một con mắt hết năm triệu tư, bán hai chỉ cũng còn thừa làm vốn, Thê muốn thay luôn cho Phận cả hai mắt nhưng bác sĩ không chịu làm, phải đợi một năm sau.
Chao ôi, một con cũng đủ sáng rực như đèn pha rồi, Phận như lanh lẹ hẳn ra…
Bây giờ cái bàn phải làm to ra, một bên bày vé số, một bên bỏ mấy đôi giày…Mua thêm một cái ghế vì hai người cùng ngồi, vừa bán vừa khâu giày…Chị Thê cũng mau mắn, miệng mồm, vui vẻ. Cột một cái võng nơi chãng hai của gốc me, con bé ngủ, hết ngủ thì dậy đùa chơi bên họ.
Phận tươi tắn lại. Chuyên buồn cũng không còn bận trí của hai người. Nhưng cứ mỗi lần thấy Cha xứ thì họ lại như kẻ phạm trọng tội, mặc dù cha chẳng trách móc gì ! Chúa nhật họ đi lễ nhà thờ nhưng không đi rước lễ !
***

Tin dữ lan nhanh làm cả xã rúng rính !
-Sao mà chết ?
-Thì đi buôn xăng bên Campuchia, lật xuồng chết cả đám chứ sao !
-Ai báo về ?
-Hai ông Công an dưới Miền Tây họ ra làm việc với xã cả buổi chiều đó !
-Chừ làm sao ?
-Họ chôn luôn dưới đó rồi, chờ lâu thối quá mà.
-Ông Ngoạn cha thằng Toàn cũng chết à?
-Thì đã nói là cả đám mà !
Đêm đó cả Phận và Thê không ngủ, họ ngồi suốt đêm, không ai nói chuyện với ai .Gần sáng, Phận nói:
-Hay là mình xuống dưới đó cho biết chỗ, rồi về làm cái tang cho cả ba người, cho con bé để tang cha và ông nội nó, sau này thuận tiện mình đem cốt về ?!
-Anh tính vậy cũng được !
Cũng phải hơn mười ngày mới xong thủ tục dưới miền Tây. Phận và Thê về lại nhà, Phận nói:
-Mở cửa nhà bên đó, anh đóng cái bàn thờ cho cả ba người Thê ạ.

***
Hơn bốn tháng rồi từ ngày họ cho con bé chịu tang và dọn mấy mâm cho bà con tới đốt nhang trên bàn thờ nhà của Thê. Nhà chỉ mở cửa khi nào Thê qua quét dọn rồi thắp nhang…
Hôm ấy, Thê nằm nghiêng thì thầm vào tai Phận:
-Hồi học giáo lý anh có biết luật Hôn nhân thế nào không?
-Không?
-Hai người họ đều chết thì mình có quyền làm phép cưới với nhau. Em muốn đi lể và rước lể bình thường như mọi người, cứ như vầy hoài em bứt rứt lắm !
Phận nằm im lặng một lát, anh nắm tay Thê như năn nỉ:
-Chờ một năm nữa em ạ. Làm giỗ xong, mình qua xin cha làm phép cưới !
Chị Thê ôm lấy anh Phận:
-Anh tính vậy cũng được !
Chị Thê lại tỉ tê:
-Hôm qua đi chợ, người ta nói với nhau em nghe được…
-Họ nói gì?
-Họ nói anh sống có tình !
Phận nằm ngẫm nghĩ một lúc:
-Không biết anh có tâm có tình hay không, nhưng cái bụng anh nó nói sao anh làm theo như vậy !
Phận nói xong, cho tay vào quần chị thê, xoa lên chỗ da nhăn nhúm vì phỏng, chị Thê nhột quá, níu lấy tay anh…

Trạch An – Trần Hữu Hội.

Nụ hôn đầu , tình yêu cuối.

trachantranhuuhoi

Hóa mừng đến run rẩy khi thấy hàng chè tàu vào nhà Hạnh không thay đổi. Từ bến xe đi bộ dọc theo con đường Chi Lăng cũ, hai bên đổi khác như mình đã đi lộn đường, nhầm con phố nào xa lạ !
Hóa nhớ lại cái ngày anh đứng trân nhìn thầy Giám học trường thông báo : “Em không đủ tuổi hoãn dịch đễ hoàn thành năm học Hóa à!”
Hóa bàng hoàng, anh không hề lo lắng hay sợ hải chuyện phải nhập ngủ, nhưng hình ảnh Hạnh với đôi mắt buồn u uất mỗi lần hai đứa tình cờ nói đến chuyện phải chia tay một ngày nào đó, khi anh phải lên đường nhập ngủ .
Hồi ở quê lên tỉnh, anh không ngờ mất hai năm học vì hoàn cảnh nông thôn lại đưa đến hậu quả tai hại này, cha anh cũng không ngờ. Cứ cắm cúi học cho giỏi vào vì so với các bạn cùng lớp, anh hơn hẳn họ cái đầu về chiều cao và hơn hai tuổi tính theo năm sinh !
Thế là chia tay. Ngày hôm ấy Hạnh thẫn thờ như kẻ mất hồn, u sầu như một thiếu phụ đã thực sự mất chồng tuy rằng cả hai chưa hề thề thốt với nhau đều gì và trên người anh vẫn còn bộ đồ thư sinh, áo sơ mi màu nâu và chiếc quần xanh đen, đồng phục của trường Nông Lâm Súc .
Hóa rụt rè tằng hắng khi vào sâu trong ngỏ, có tiếng  ai đó hỏi vọng ra:
– Ai rứa hè, anh tìm ai ?
– Phải đây là nhà Hạnh không cô?
– Anh ở mô ? chắc lâu rồi không về Huế hay răng mà chừ hỏi Hạnh?
Một cảm giác lo lắng dâng lên trong lòng ngực làm anh ngộp thở:
– Dạ lâu rồi bác à, 18 năm, anh nhẩm thầm, Hạnh còn ở đây không ạ ?
– Quen biết ra răng, đi vô nhà rồi nói chuyện.
Hóa theo người đàn bà  vào nhà, ngập ngừng từng bước chân, căn nhà vẫn như những ngày anh còn trọ học, nhưng lạnh lẻo hơn, trống vắng hơn, làm anh linh cảm một sự mất mát nào đó đã xảy đến cho căn nhà ! Vóc dáng và gương mặt người đàn bà gợi cho anh nhớ đến một ai đó quen nhưng không tài nào xác định được, Mẹ của  Hạnh thì chắc chắn không phải, nhưng vẫn có nét hao hao .
– Ngồi đây đi, anh là ai, ở mô ?
– Dì Thuận ! Hóa như hét lên khi nghe lại giọng nói, Phải dì Thuận không dì ?
– Ôi chao, mệ nội mi, thằng Hóa !
– Con đây dì,  Hóa bật dậy, Dì Cảnh mô rồi dì?
Người đàn bà nghẹn ngào, nước mắt tuôn ra  từ hai hốc mắt sâu, đỏ hoe:
– Chết hết rồi mi ơi !
Quá hoảng hốt, Hóa bật dậy :
– Cả nhà à dì, Hạnh, Chanh, Chương …cũng rứa à?
– Ừ, nhà  đi Kinh tế mới lên Ban Mê Thuộc, Thằng Chương chết vì  cuốc trúng lựu đạn, Dì  chết vì sốt rét, con Hạnh lấy chồng , chết khi sinh đứa con đầu ! Còn chắc con Chanh  mà chừ không ai biết hắn ở mô !
Dì Thuận ngừng khóc, kéo chiếc khăn vắt trên vai lau mặt:
– Tau không cho hắn đi lên côi nớ, hắn nói là : “Thằng Chương ghiền xì ke, bắt lên bắt xuống, lên côi nớ họa may hắn cai được ! Với lại cả nhà ngồi không lấy chi mà ăn, không vốn không liếng, chiêu yếu cả !”
Hóa chới với như rơi vào một cỏi xa xăm  nào, bềnh bồng, dập dềnh với những tiếng la loạn hổn độn ! Hồi lâu, anh mới hỏi được một câu:
– Rứa chừ dì ở với ai ?

– Thằng Danh chết năm 72 khi mới ra trường, dượng buồn rầu, cũng chết theo hắn năm 78, con Vân lấy chồng vô nam, chừ dì ở với con Tý , hắn đi bán rau muống tối mới về !
Ôi bao mất mát ! Hóa gục đầu  khóc rưng rức . Bao năm mong đợi một ngày về , nơi không là quê hương nhưng lại là chốn đã cho anh nhiều tháng ngày đẹp nhất với những kỷ niệm êm đềm thủa thành niên, anh đâu ngờ lần ra đi ấy là lần cuối cùng, đễ không bao giờ còn gặp lại Hạnh, gặp lại người con  gài đã ban cho anh nụ hôn đầu đời và những giây phút ngọt ngào đằm thắm, thơ ngây !

Ngày ấy, ở Quảng Trị mà tình chuyện vào trọ học ở Huế  chỉ những nhà giàu mới dám nghỉ đến, nhà Hóa không giàu, nhưng không còn cách nào khác, anh vào Huế thi vô Trường Nông Lâm Súc, hy vọng đủ tuổi để học xong lớp đệ nhất, vì trường này hoãn thêm cho học sinh một năm.
Dì Thuận ngày đó ở cùng xóm với gia đình Hóa , có đứa con trai là bạn của anh. Danh, học hơn Hóa một lớp, cũng Trường Nông Lâm Súc Huế, chính Danh đã bày cho Hóa vào trường này. Hè năm đó anh thi vào lớp 10, cùng trọ nhà dì của Danh ở Gia Hội, dì Cảnh.
Những ngày đầu rụt rè của cậu học trò ở trọ qua nhanh nhờ sự cởi mở, dạn dĩ của hai cô con gái nhà dì Cảnh. Hạnh và Chanh xem Hóa như người than. Những tối xem phim ở rạp Châu Tinh, Hưng Đạo, về khuya ,co ro vì cái rét, Hạnh ôm lấy tay anh đi sát vào nhau và cố ý chậm hơn mọi người, Hóa cảm thấy  mình chơi vơi trong hạnh phúc, cậu học trò xa nhà quên đi những lo âu…
Một năm trôi qua, ba tháng hè đằng đẳng là ba tháng nhớ nhung, quay quắt, của cả hai. Ngày trở lại Huế tựu trường chao ôi là hạnh phúc, không phải vì anh lên lớp 11 mà chính là sự trưởng thành trong con người cậu trai học trò và sự chín muồi của tuổi xuân nơi Hạnh. Ngôi mộ cổ bằng đá ong sần sùi lại là nơi cho anh phút giây đắm say hạnh phúc một đêm hè !
– Làm chi ngoài nớ mà đen rứa ?
– Gió Nam và gió Lào thổi khô hết có chừa ai mô ! đen lắm à ?
– Ừ, Nhớ Hạnh không?
Hóa bóp bàn tay nhỏ nhắn của Hanh như để bù vào nổi nhớ từng phút, từng ngày…Hóa không tìm ra được ngôn từ nào để diễn đạt hết nổi nhớ nhung của anh, trong ba tháng qua, Hóa không nói vì tim anh như muốn chảy tan vì một cảm giác ngọt ngào trong giọng nói trong trẻo vui tươi của Hạnh.
– Nhớ không ?
– Nhớ, nhớ lắm !
Tình cảm lên ngôi, Hóa choàng tay ôm lấy vai Hạnh, run rẩy đặt lên đôi môi Hanh nụ hôn đầu đời , vụng về nhưng ngọt ngào , say đắm !
Đêm hôm đó, trong cùng một nhà, có hai tâm hồn thơ trẻ nằm thao thức nhớ nhung và thèm khát được gần nhau !
Giữa niên khóa ấy có lệnh đôn quân và sự xuất hiện của thầy Giám học, Anh quay về nhà chuẩn bị nhập ngủ….rồi biến cố 72, chưa kịp  tìm về thì 75 đến ! Lao đao mưu sinh cùng gia đình lúc này đã vào Nam, Hóa vẫn không hiểu sao số phận đẩy đưa anh trôi nổi mải cho đến hôm nay, 18 năm, bao  nhớ nhung nghi hoặc ! bao hy vọng  mong chờ một ngày có điều kiện về tìm lại Hạnh. Tuổi xuân trôi đi trong các nông trường, công trường , những cánh rừng âm u ngùn ngụt khói của rẩy nương và những hầm than … Thời gian qua mau đem theo những đổi thay không ngờ !
Hóa gần như tuyệt vọng

Đêm sập xuống như bức màn đen phủ trong lòng Hóa, anh lững  thững bước chầm chậm ra ngôi mộ đá ong, ngồi chỗ bờ thành ngày nào hai đứa cùng ngồi, anh vẩn còn hình dung rỏ ràng hình ảnh Hạnh , nụ hôn ngọt ngào khi môi chạm môi…
Hạnh ơi, sao không chờ nhau hả Hạnh ?
Nước mắt Hóa cứ tuôn ra như một chú bé thơ, đôi vai  rung lên theo từng tiếng nấc nghẹn ngào ! Sự hối hận dày vò  làm tim anh nhói lên, sao không tìm cách quay về sớm hơn nhĩ !
Có tiếng bước chân thật khẽ đến bên Hóa, anh nhìn lên, Tý đứng bên anh. Gương mặt ngày nào bé dại đã đỗi thay thành một thiếu phụ đẹp dịu dàng, Tý nhìn anh không nói, trong đầu Hóa lóe lên một câu hỏi bất ngờ “Sao chị em bạn dì lại giống nhau vậy nhĩ ?” Anh buột miệng gọi tên như ngày xưa thường gọi khi Tý còn bé .
-Tý !?
– Mạ nói anh vô ăn cơm. Răng anh không đi luôn đi mà về mần chi ?!
Hóa nắm tay Tý:
-Tý cũng trách anh à? Anh khổ quá mà Tý !
-Thôi vô ăn kẻo mạ chờ !
Buông bàn tay hơi thô cứng, Hóa đứng dậy cùng Tý  vào nhà. Ngọn đèn diện vàng vỏ soi bóng dì Thuận nghiêng nghiêng cô độc làm Hóa như ở trong một cỏi mơ hồ! Mâm cơm dọn sẵn cũng đơn sơ như khung cảnh buồn bả của mất mát, đau thương…
– Mi có nhớ mặt hắn không Hóa?
– Tý à, con nhớ chớ,
– Bựa ni đừng kêu hắn bằng Tý nữa, giấy khai sinh hắn tên Trâm, mi kêu Tý hắn ghét lắm !
– Dạ, con thì ưng gọi Tý như ngày xưa cho thân mật, mà vui nữa dì ạ,
Anh nhìn qua Tý, Tý cười, gương mặt giờ đẹp và càng giống Hạnh hơn làm Hóa bối rối,
– Ưng rứa thì cứ kêu rứa, chết ai mô mà sợ! Tý nói , giọng nói vui hơn lên với nụ cười vô tư .

Ngày ấy, khi còn ở Quảng trị, nhà không xa nhau là mấy  nên Hóa và Danh thường đến nhà nhau nằm nghe nhạc, chuyện trò hàng buổi. Hóa qua nhà Danh thường hơn, sau lưng nhà Danh có một ngôi mộ hoang, lâu lâu ngày rằm, Dì Thuận, mạ Danh thắp nhang với một dĩa trái cây đơn sơ…Nơi đây cũng là nơi hai đứa thường ôm đàn hát những ca khúc của TCS, Ngô Thụy Miên và Tiền chiến…
Tý là thứ tư trong nhà, hồi ấy, nhà có bán một cái quán nho nhỏ, Tý đi học về là trông quán giúp mạ. Cô bé còn nhỏ và mau miệng nên lắm lúc nói năng ngây ngô…Hóa nhớ có lần ngồi cả nhà, dì Thuận hỏi vui :
– Hóa, mi với thằng Danh lớn cả rồi, răng không thấy bồ bịch chi cả, cứ đeo nhau hoài rứa ?
– Dạ, có ai ưng mô dì !
– Bây kén quá chớ con gái chán chi !?
– Không biết ưng ai dì ạ !
Tý ngồi nghe, còn nhỏ lắm, vọt miệng nói làm ai cũng phì cười :
– Ưng em đây cũng được nì! Ngày mô cũng xin: “cho anh hai điếu Ruby Tý ; cho anh ca nước đá Tý…khi mô cũng cho, rứa mà không ưng người ta !!!
Năm tháng qua đi với những xáo trộn khôn lường !
Anh nhớ lại lúc chiều tối, khi anh nắm bàn tay Tý hơi thô sần vì ngâm nước và cắt rau muống. Giọng nói trong trẻo ngây thơ ngày xưa  và trách hờn hôm nay: “Ưng em đây cũng được nì…”. “Răng anh không đi luôn mà về mần chi ?! “
-Mi không dẫn thằng Hóa đi chơi à Trâm, lâu rồi  bữa ni hắn mới về có biết chi Huế mô, để đó mạ dọn cho.  Dì Thuận nói sau bữa ăn, không khí không còn u ám  như khi mới ngồi vào bàn !
Tý nhìn Hóa, anh hơi bối rối vì ánh mắt dịu dàng :
– Hai quán cà phê Sương Lan và Dạ Thảo còn không Tý ?
– Còn, mà không đẹp như trước mô, bỏ nhạc chi không à !
– Kệ, mình ra đó ngồi đi Tý, ngày xưa a
Hoa sứ rụng trắng ngôi mộ cổ và ven đường, quán ngày xưa không còn thú vị vì, ồn ào những chuyện làm ăn, đèn sáng trưng, có cả những bàn mang rượu từ ngoài vào, khách khứa huyên thuyên.
Hóa và Tý lang thang một quãng ngắn đọc đường Chi Lăng cũ rồi quay về, anh nhớ Hạnh, nhớ đôi tay Hạnh quấn lấy cánh tay anh ngày xưa, bất giác, anh nắm bàn tay Tý…
– Răng không lấy chồng ?
– Không ai ưa  mà cũng không ưa ai !
– Có nhớ hồi nhỏ nói gì không?
– Nhớ chớ, nhưng chừ lớn hết rồi !
Hóa vòng tay ghì Tý vào lòng, Tý đặt hai bàn tay vào ngực anh, ngước mắt nhìn Hóa đợi chờ…Nồng nàn, Hóa đặt lên môi Tý nụ hôn dài, ngọt ngào và ấm áp. Tiếng ve râm ran trong tĩnh lặng êm đềm và mùi hoa sứ dịu dàng…Những nụ hôn nối tiếp trong hạnh phúc chơi vơi…
– Tý có vô Nam cùng anh không?
– Mạ đi thì …đi.
– Mình đưa mạ vô luôn.
– Anh có muốn lên Ban Mê Thuột tìm thăm mộ Hạnh không?
– Vô trong đó ổn định rồi mình cùng đi nghe Tý.
– Dạ, anh tính khi mô đi?
– Mai đi thăm mộ anh Danh và dượng, rồi chuẩn bị…Nhưng mình không tổ chức đám cưới à?
– Khỏi, bà con có ai mô mà bày vẽ !
– Em có buồn không?
– Không, lâu ni em chờ anh !!!
Hóa nghèn nghẹn trong cổ, anh muốn nói gì đó với Tý, Nhưng đôi tay anh lại ghì Tý mạnh hơn, một nụ hôn tưởng chừng bất tận, bù đắp cho những tháng năm dài cô độc,  thay cho  những ngôn từ vô nghĩa !
Đêm ngọt ngào với những nụ hôn và mùi hoa sứ!

Trạch An-Trần Hữu Hội

Đêm Phan Thiết

trachantranhuuhoi

Hương ngồi trên bãi cát, nhìn mông lung ra biển. Thoáng trong gió, vẫn còn một cảm giác sợ sệt mơ hồ… Hình ảnh của Hiến hiện lên, dập dềnh, dập dềnh…theo cơn sóng. Những giọt nước mắt lại dâng lên mi… Những giọt nước mắt không ngừng chảy từ hai mươi chín năm nay!
Hai mươi chín năm. Kể từ ngày chị rời nơi đây với niềm hy vọng ít hơn nỗi sợ hãi! Niềm tin về một nơi có cái ăn, cái mặc, cuộc sống không phải lo toan từng bữa, từng ngày… Hạnh phúc được sống cùng Hiến, bên nhau mãi mãi, quá xa xăm mơ hồ, trong khi nỗi sợ hãi, bất an… thì hiện hữu thường trực trong lòng chị và cả Hiến. Nỗi lo lắng cho bản thân và cả cho nhau.
Hai mươi chín năm đơn độc, nuôi đứa con mà thượng đế đã hào phóng ban cho chị, không, cả Hiến nữa! Nó đã cho chị niềm hạnh phúc, cho chị niềm tin rằng Hiến vẫn sống bên mẹ con chị, cho chị nghị lực, để không buông xuôi trước những đa đoan, cô quạnh nơi xứ người!
– Hiến ơi, ổn rồi, ổn lắm rồi, con chúng ta đã kết hôn. Chỉ có niềm đau, nỗi buồn là không có anh đễ cùng nhau chung chia niềm hạnh phúc, Hiến ơi !
Gió biển cuốn ra khơi xa những lời thầm thì như tiếng thở dài của Hương…

oOo
Sau tiếng chuông, học sinh rời phòng học như một đàn ong, Hương uể oải nhìn buổi chiều buông xuống trên thành phố hắt hiu, một nỗi buồn lo lại đến ngập lòng chị mỗi khi đêm về. Những bước chân nghiêm nghị cố tạo, Hương bước qua cổng trường Hữu Nghị, nay đã là Phan Bội Châu, nhưng vẫn chưa ai quen với tên gọi này, hướng về nhà tập thể.
Bất giác, Hương quay lại, một gã cán bộ đội chiếc nón cối nhoẻn miệng cười:
– Hiến! anh, anh được tha à?
– Không, cứ đi tiếp đi. anh trốn trại! Có chỗ nào ngồi nói chuyện một lát không em?
– Về phòng tập thể của em?
– Đừng, kiếm cái xe nước mía nào khuất khuất chút, mình ngồi hay hơn.
Trời nhá nhem tối, băng qua chợ. Xe nước mía nào cũng vắng khách…Hiến kéo hai cái ghế con ra xa, dựa lưng vào tường rào một căn nhà phố, nhìn ra đường, cô bé mang đến hai ly nước mía còn sủi bọt, đặt lên một chiếc ghế khác…
– Họ cần một người biết tiếng Anh. Khỏi chung vàng!
– Em định cuối tuần này về đi thăm anh…
Đôi mắt Hiến rạng rỡ trên khuôn mặt ương bướng mà chị luôn muốn ghì lấy mỗi lần hai người gần nhau…
– Khi nào đi vậy anh ? anh có cùng chuyến không?
– Hai ngày nữa, cùng chuyến. Nghe nói cần thêm một người biết tiếng Anh, anh mừng quá!
– Liệu họ có đồng ý không?
– Phải đồng ý, cái hải bàn anh giữ mà.
Chiếc hải bàn mua bằng sáu chỉ vàng, qua hai chuyến đi không thành, anh vẫn chôn dấu được trước khi bị bắt. Nó là chiếc bùa hộ mạng của Hiến.
– Cũng những người cũ hả anh?
– Một số cũ, lần này có một tay vừa cải tạo về, làm việc có vẻ kỹ càng hơn. Mua bãi hai cây. Họ cho người ra tới trại giam Sông Cái liên lạc với anh.
– Cái nón cối này…
– Anh “chôm” của một tay cán bộ, bộ đồ này của một người trong nhóm cho.
Hương nhìn cái áo trắng cụt tay rộng thùng thình, cái quần kaki màu nâu và đôi dép râu màu đen… Nhìn chung, Hiến giống một cán bộ ngành Thương nghiệp hay Lương thực.
– Đêm nay anh ngủ đâu?
– Anh đinh thuê chiếu ngủ ở bến xe Phan Thiết, nhưng coi bộ không nên. Có thằng bạn ở bên thành đoàn, TNXP, nhưng cũng ngại cho hắn. Xuống Trường Y Tế Phong Nẫm cùng Lý thì phải giải thích này nọ về chuyện trốn trại. Anh rất ngại cô em họ lắm mồm này! Có lẽ anh ra Ga ngồi chỗ nào kín nhất, qua đêm. Em cứ về nhà tập thể như mọi khi.
– Ga đông người quen ngoài mình đi buôn lắm!
– Không lên tàu nên cứ tìm chỗ khuất mà ngồi… Có gì cũng dễ chạy!
– Em ở lại cùng anh được không?
– Không nên, các bạn ở tập thể trường thắc mắc.
– Tụi nó biết em hay xuống Lý, chắc nghĩ tối nay cũng vậy.
Hiến im lặng. Anh thèm được bên Hương biết bao nhiêu! Bốn tháng trong trại anh nhớ Hương đến quay quắt! Lần trước lâu hơn nhưng ở tận Bà Rịa, Hương lo lắng nhưng không biết ở đâu nên chẳng thăm, anh chấp nhận, cũng nhớ nhưng không bằng lần này! Hiến thở dài nắm tay Hương.
– Cũng được em ạ.
oOo
Khuất trong đám cây dại lúp xúp xa đường ray xe lửa, Hiến nằm nhìn lên trời cao với những vì sao lấp lánh, nỗi bất an cũng vơi dần…
Anh nhớ tới những ngày nào, khốn đốn từ những chuyện không đâu…
Sau 75, anh chấp nhận những đổi thay của Xã hội như một số Thanh Niên khác, cũng háo hức một cuộc sống mới. Một đất nước thanh bình không chiến tranh, không lệ thuộc vào ngoại bang…Anh tham gia Phong Trào Thanh Niên và làm phó bí thư chi đoàn, bên cạnh, nhờ có hai năm Đại học, anh được chỉ định làm Tuyên-Văn-Giáo thôn.
Nhiệt tình của anh vấp phải một chuyện nhỏ nhưng người ta cho là lớn. Anh bị nghi ngờ…
Khoảng tháng 10/75. Chủ trương xóa tàn tích văn hóa cũ: Dâm ô, đồi trụy và nô dịch, không lành mạnh…
Không sai, trong xã hội cũ, theo anh , bên cạnh những cuốn sách hay, vẫn có những cuốn sách mang nặng những nội dung không hay và nhảm nhí thậm chí tục tằn. Địa phương của anh trước đây có nhiều người đi làm sở Mỹ. Những cuốn Playboy, tranh khỏa thân… vẫn còn đâu đó trong dân. Không có giá trị bao nhiêu về nghệ thuật, tư tưởng….
Chiều hôm đó, anh có nhiệm vụ thông báo trên loa phóng thanh của thôn về chủ trương thu giữ và tiêu hủy sách cũ. Các thôn khác cũng như thế.
Sáng hôm sau, rất nhiều sách được người trong thôn mang đến nộp, có sự chứng kiên của Tuyên Giáo Huyện, địa phương của anh được đánh giá là thành phần Trí Thức nhiều nhất trong Huyện, trong Xã.
Hiến vui cười với những bà con bạn bè đem đến những cuốn truyện kiếm hiệp của Kim Dung, Hàn Giang Nhạn…Truyện trinh thám 007, Z.28 của “Người Thứ Tám”…Một số của “Người Khăn Trắng”, Dương Hà, Tùng Long …Trong đó có một số, anh không cho là đồi trụy, tuy nhiên, cũng không cần phải trả vì đa số cũng chỉ loại sách xem giải trí …
Khoảng gần trưa, một chiếc xe kéo tay mang đến một xe sách. Tất cả khoảng bảy thùng “các tông” lớn có nhỏ có. Anh nhận ra người kéo xe là con trai của Thầy giáo Lê Thanh Ninh. Thầy dạy Sử – Địa một trường Trung học ở Quy Nhơn, người đi theo là vợ của thầy, gương mặt cô ấy trông thật thảm hại:
– Thầy bị đau nên không đi được, cô đem sách đến nộp.
Hiến biết Thầy bị phổi nặng, nước da thầy đã chuyển qua xanh tái, kèm theo những tiếng ho khan từ hai tháng nay.
Hiền mở mấy thùng “các tông” xem qua. Một số tập san: Văn, Văn Học …còn phần nhiều là Tự Điển, sách Tham Khảo, Thế Giới Sử, Việt Sử… Một số tác phẩm văn học tiếng Anh, Pháp… Và cả những bản dịch Việt Ngữ …
Hiến bối rối thật sự vì khó phân định …
Có lẽ cũng thấy xót xa cho chồng, cô Ninh nói nghèn nghẹn:
– Thôi… cô về nghe em… Con ở lại kéo xe về sau…
Hiến chặn cô lại, nói:
– Khoan cô ạ, em thấy trong này có một số, có lẽ cô mang về cho thầy chứ không phải nộp!
Anh Tuyên Giáo Huyện, một cán bộ , nghiêm mặt:
– Không mang về được, nộp và tiêu hủy tất cả! Anh lấy quyền gì mà trả lại?
Hiến lôi ra mấy cuốn tự điển Hán-Việt, Anh-Việt và Pháp-Việt…Cuốn “Phong Lưu Đồng Ruộng” của Toan Ánh… bỏ lên bàn:
– Những cuốn này mà dâm ô đồi trụy và phản động ở chỗ nào?
Những năm học Đại Học, mấy cuốn sách này là mơ ước của anh, nó khá đắt!
Anh cán bộ quay qua mấy Du kích:
– Các anh cho vào trụ sở đi…Tất cả !
Nhân lúc Hiến đang đứng bên xe kéo, gã cán bộ đẩy chiếc ghế của anh ra sau, kéo chiếc ghế hắn đang ngồi qua chính giữa bàn. Hiến nghe nghèn nghẹn trong ngực, máu dồn lên mặt anh đỏ gay:
– Đồ…dốt !
Tiếng hét của anh làm tắt lặng hết mọi âm thanh! Không có ai dám nói với cán bộ Tuyên Giáo Huyện như thế cả…
Bước chân Hương nhẹ nhàng đến và tiếng nói nhỏ nhẹ làm Hiến trở về với thực tại:
– Anh chờ lâu không ? Em ghé nhà con bạn mượn ít tiền, bánh mì khá cứng, anh cố ăn nhé.
– Bạn em không nghi ngờ gì chứ ?
– Không đâu, nó có gia đình, biết em hay kẹt tiền giữa tháng mà.
Hiến thấy đói cồn cào, anh ăn ngấu nghiến ổ bánh mì cứng sửng, nhưng mùi vị ngòn ngọt của tinh bột làm anh có cảm giác khúc bánh mì ngon nhất từ trước tới nay, cả một ngày anh chưa có gì vào bụng!
Hương đưa khúc bánh mì mới ăn một phần cho Hiến:
– Anh ăn dùm em đi, em không nuốt nổi!
– Không, em phải ăn, anh chan nước mía vào cho em nhé, sẽ mềm hơn.
– Không, em mừng quá không ăn nổi!
Hiến cầm tay Hương, ghì lấy đầu nàng, nụ hôn nóng bỏng gắn lên môi, đôi môi khao khát vồ vập nhau với tất cả ngọt ngào nhung nhớ…Và rồi ..hai thân thể tan chảy trong nồng nàn yêu thương !
– Qua được, mình có làm đám cưới không anh?
– Có ai quen đâu mà đám cưới, chỉ có làm phép ở nhà thờ là đủ, ha em?
– Ừ nhỉ, em quên! à mà những người cùng chuyến sẽ dự lễ cưới tụi mình!
– Có thể, một số có đạo thôi…
– Lạy Chúa, cho lần này mình có…
Hiến ôm vai Hương, hôn lên tóc:
– Không lần này thì lần khác cũng sẽ có, anh thế này mà không có con sao?!
– Em muốn có ngay từ lần đầu, sẽ hạnh phúc hơn khi nghĩ đến hôm nay, nơi góc khuất của Ga này, trên thảm cỏ này!
– Ừ, sẽ có đó em, chúng ta yêu nhau mà!
– Em sẽ nhớ mãi đêm này: 21 tháng 5 năm 1984.
Lại một nụ hôn dài trong gió và mùi dầu hăng hắc của sân ga!
oOo
Trời tối như bưng. Nhóm của Hiến tập trung đủ 26 người trên bãi, chờ hơn một giờ rồi!
Bao lo âu nghi hoặc! Càng lo âu họ càng im lặng như nín thở, hướng mắt nhìn ra biển nguyện cầu, họ sợ bị bỏ rơi!
Hiến và Hương cũng cùng tâm trạng với họ.
Chừng 20 phút sau, ngọn đèn đỏ mờ mờ hiện ra cách xa bờ chừng 50m, xoay vòng làm hiệu. Hiến đáp lại bằng ngọn đèn pin cũng màu đỏ cầm trên tay…
Tất cả thở phào, Hiến nói vừa đủ cho mọi người nghe:
– Lội ra mau, ai có con dại thì cột chặt vào người, nhớ bịt miệng thật chặt khi nó khóc.
Điều này anh đã nói trước, thế mà lúc này cũng nhắc lại như một phản xạ tự nhiên!
Trên thuyền có tiếng nói rõ mà nhẹ:
– Người giữ hải bàn và người biết tiếng Anh lên trước đi.
Hiến trả lời cũng rõ và rắn:
-Tôi giữ hải bàn, tôi sẽ lên sau cùng.
Những bàn tay đàn ông kéo những người trong nhóm Hiến lên ghe, rất nhanh và êm thấm, anh đẩy lưng Hương, hai bàn tay cùng đưa ra đón hai người… Ghe chật, trong đêm tối, anh gặp ánh mắt thân thiện của “người mới cải tạo về”:
– Gọi mình là Phú.
– Tôi là Hiến, có lẽ nhỏ hơn anh! Bao nhiêu tất cả vậy anh Phú?
– 53 mạng lớn nhỏ.
Chiếc ghe chèo theo hướng ra biển, sóng vỗ nhẹ hai bên mạn ghe.
Hình như ai cũng thấy dấu hiệu của may mắn khi tiếng máy bắt đầu nổ. Chiếc ghe lao nhanh trên sóng, xa dần bờ yên tĩnh!
oOo
Đêm, ngày, rồi đêm và ngày… Đêm lạnh ngắt, ngày nắng như thiêu…
Những gương mặt đàn ông cũng như đàn bà phồng rộp, đỏ au… Lũ trẻ được trùm khăn kín mít, nằm trong lòng người thân như đã chết, những cơn sóng cao, nhồi con tàu như chiếc lá khô mỏng manh, hầu hết đàn bà tựa vào nhau lờ đờ… Có tất cả chín người đàn ông, nhưng sóng, gió và nắng làm họ rũ rượi như những bệnh nhân. Hương cũng ôm một cháu bé, con của một người có ba cháu nhỏ đi cùng, tựa vào chiếc thùng phuy đựng nước đặt giữa ghe, mặt và thân cháu bé đã mưng mủ nhiều chỗ!
Ngày thứ sáu, Phú kéo Hiến và hai người đàn ông còn khỏe mạnh khác, đến bên chỗ tài công, hét trong tiếng sóng và gió:
– Lương thực và nước gần cạn, hạn chế tối đa. Ai có con dại, lấy sẵn cho họ một bi-đông và dặn họ tiết kiệm, tránh đi lại nhiều.
Một người rụt rè:
– Chừng bao lâu nữa thì…
– Bốn năm ngày, nếu may mắn thì chúng ta có thể thấy Philippine , nhưng mong nhất là gặp một tàu ngoại quốc tử tế, hình như ra hải phận Quốc Tế rồi.
Niềm hy vọng lóe lên trên những gương mặt sầu thảm!
Sáng ngày thứ bảy, trời yên ắng hiền hòa! Những chú cá chuồn từ đâu xuất hiện lao vút qua ghe, một số con rớt vào ghe làm mọi người mừng rỡ!
Ngày sau lại, sóng gió lớn hơn, sẫm tối thì mưa. Những con sóng dữ dội chưa từng thấy nhồi chiếc ghe lên cao rồi lắc giật liên tục!
Phú thét lớn với Hiến trong khi tay ôm chặt cột cabin:
– Cột chặt dây vào mũi ghe rồi lần tới đây đi…
Phải ba lần Hiến mới hiểu Phú nói gì. Anh nằm soãi người kéo cuộn dây tói tìm đầu mối, khó khăn lắm mới cột được vào mũi ghe. Anh lần dây bò giữa ghe về phía Phú, vừa bò anh vừa hét cho mọi người bám chắc vào dây. Đoạn đường từ mũi ghe đến cabin như dài vô tận ! Khi Phú cùng Hiến đang cột dây vào thân chiếc cột, một con sóng cao kèm nhiều tiếng thét nổi lên, không thấy gì ngoài mưa và gió !
Gần sáng, sóng gió không còn hung dữ, Hiến và Phú hãi hùng nhìn cảnh tượng trên ghe. Hơn nửa số người biến theo cơn sóng gió, số còn lại nằm gọn giữa lòng ghe ngập nước, không thể phân biệt được ai còn sống và ai đã chết, hai thùng phuy nước uống lật nghiêng…Không thấy cả tài công, chiếc máy im re không động tỉnh!
Hiến đến bên Hương, có lẽ nhờ hai thùng phuy nước trống rỗng kèm hai bên nên Hương đã không văng xuống biển.
Phú gục đầu rên rỉ như một con thú. Vợ và hai đứa con gái không còn, đứa con trai nằm lịm bên anh! Không có ai, không có một cái gì trên mặt biển chứng tỏ rằng hơn ba chục con người vừa rớt xuống đó đêm qua. chỉ còn một số đồ đạc dập dềnh…
Ghe như đứng yên, nhồi theo từng con sóng. Không còn lương thực, không còn nước, nắng như thiêu… Hiến buông người nằm xuống bên Hương, bàn tay anh nắm chặt tay Hương, nỗi hối hận dâng lên trong lòng, trong đầu Hiến lóe lên một lời nguyện cầu khẩn thiết: “Lạy Chúa, Xin cứu giúp chúng con !”
oOo
Năm ngày trôi dật dờ …
Không một chiếc tàu nào đi ngang, mấy người chết bắt đầu bốc mùi thối! Phú và Hiến cùng ý nghĩ : “Cho họ xuống biển thôi !”. Trên ghe còn lại đúng 16 người, 16 cái thây bất động! Phú và Hiến gom họ vào trong cabin. Những con chim biển chao lượn trên bầu trời nắng chói, tấm bạt được căng ra hứng sương đêm…Phú và Hiến đến nhỏ từng giọt vào những đôi môi nứt nẻ !
Những con tép biển búng vu vơ, có con rơi vào ghe. Phú nhìn Hiến, cả hai bò đi nhặt rồi chia cho mọi người…
Những ngày sau, cả hai lên nằm trên cabin, cạnh chỗ căng bạt, cố gắng nhặt những con tép quý báu, bên dưới cabin, đã có thêm mấy cái xác bốc mùi !
Mọi hy vọng đều tan biến trong cái đói lã và khát bỏng cổ : “Bờ!”, đó là điều duy nhất còn lại trong những bộ não đã dại đi vì đói và khát!
Phú và Hiến cũng không còn sức, mặc cho những cái xác bốc mùi ! Người chết và người sống không còn phân biệt được nữa.
Sẫm tối, biển lại mưa! Phú và Hiến mừng đến dại người…Cả hai lăn hai cái phuy để giữa ghe hứng nước, nỗi mừng tăng thêm cho cả hai chút sinh lực. Sóng đánh vào chiếc ghe lắc lư, cả hai cố giữ hai cái phuy đang chao đảo. Hơn hai giờ mưa, hai cái phuy không cần phải giữ, đã đủ nặng để đứng yên. Biển tối đen và những cơn sóng.
Hiến lần đến bên Hương, cơn mưa và nước như phép mầu làm Hươn gượng ngồi dậy khi Hiến đến. Hiến ôm vòng qua người Hương lạnh ngắt, Hương thều thào vào tai Hiến:
– Có hứng được gì không anh?
-Có, gần đầy hai thùng em ạ.
– Anh Phú thế nào rồi?
– Còn sống, anh ấy đang ngồi với con.
Hiến nhớ đến hai con tép mò được hồi chiều, trong cái lỗ trũng gần bánh lái… Anh đứng lên chập choạng đi về sau ghe. Mưa và sóng vẫn giật từng cơn. Khi trở lại, một cơn sóng tràn lên ghe với cú lắc mạnh làm Hiến văng xuống biển. Hương thét lên hoảng hốt quay lại phía Hiến, nhưng một màu tối đen và mưa gió quất vào mặt. Hương gục xuống hai bàn tay nức nở:
– Hiến, Hiến…ơi!
Chỉ có sóng, gió, mưa và một màu đen của đêm.
oOo
Hương mở mắt, nhìn quanh, gắng ngồi dậy mà không được. Miệng và mũi chị cảm thấy mát lạnh, có cái gì như chiếc mặt nạ nhỏ chụp lên đó.
Một người phụ nữ mặc áo blouse, da ngăm đen, mập mạp, đến bên chị mỉm cười, nói một câu gì đó chị không hiểu. Bà ấy không nói tiếng Anh!
Người phụ nữ giảng giải thêm thật nhiều, nhưng chị chỉ đoán, có lẽ đây là Philippine vì nó được nhắc lại nhiều lần! Người phụ nữ nhẹ nhàng đặt bàn tay lên trán chị một lát, rồi vẫy tay cười hiền, rời khỏi giường.
Bốn ngày sau, Hương biết mình sống sót cùng hai cha con Phú và thêm ba người nữa. Tàu tấp vào Philippine rạng sáng hôm sau, khi cơn mưa vừa dứt.
Phép màu đã xảy ra, nhưng quá muộn màng ! Chị bật khóc:
– Hiến ơi, anh đâu rồi Hiến ơi !
Như một tia chớp lóe lên trong đầu, Hương đặt hai bàn tay lên bụng… Chị nhắm mắt nguyện

Trạch An-Trần Hữu Hội

Bức tranh.

trachantranhuuhoi

 

-Hình như cậu thích tranh ?
Luận nhìn quanh xem câu hỏi ấy phát ra từ đâu, khi biết chắc là từ ông già bất động trên chiếc xe lăn, Luận cúi đầu chào kính rồi nói:
-Vâng, cháu có thích thật, nhưng chỉ ngắm thôi chứ chưa hề mua một bức nào !
-Tại sao?
-Tranh giống như phụ nữ đẹp nhưng kiêu kỳ, muốn đến với họ thì phải có tiền, mà cháu thì nghèo!
Một tràng cười phát ra từ chiếc xe lăn. Âm thanh dòn dội vào các ngóc ngách của quán vắng, làm Luận thấy rờn rợn.
-Sao hả Bác?
-Hai mươi hai năm trước tôi cũng nói câu này, nhưng là nói với một người phụ nữ.
Luận rụt rè:
-Dạ…
Lại im lặng, im lặng như mọi khi. Chỉ còn tiếng nhạc nhè nhẹ.
Hơn sáu tháng nay, Kể từ ngày ra tòa chia tay với người vợ gần mười lăm năm chung sống không lấy gì làm hòa thuận, điều đau nhất của anh trong cuộc ly hôn này là không dành được quyền nuôi đứa con ! Anh trở thành một kẻ độc thân ở tuổi bốn mươi ba ! Luận chọn quán cà phê này trú thân, ngoài căn nhà trọ chật hẹp, cũng ấm cúng vì nó thích hợp với mẫu người cô độc như anh. Quán này cũng thế, sâu, hẹp nhưng ấm áp, vắng và nhiều tranh…Chủ quán, một thiếu phụ, chỉ xuất hiện khi có khách vào, pha cà phê xong là biến mất, còn lại ông già bất động trên chiếc xe lăn, ngồi trầm tư như thế suốt ngày, hiếm khi nghe ông nói gì, ông ở đó như một pho tượng, khách vào, ra không hề nghĩ đến sự hiện hữu của ông !
Luận cũng quen dần và cảm thấy những bức tranh trên tường ý nghĩa hơn cả sự tồn tại im lìm đó !
Hôm nay, pho tượng ấy đột ngột mở lời khi anh đang lơ đãng ngắm bức tranh chép lại của Levitan, “ Ngày nắng”. Treo gần cửa ra vào.
-Cậu biết gì về hội họa?
-Dạ hầu như không biết chút gì !
Lại một tràng cười….
Luận bối rối không vì kiến thức ít ỏi của minh mà vì câu hỏi đến từ một người mà anh vừa mới đây thôi, cảm thấy thú vị, tò mò…
-Tôi cũng đã nói như cậu !
-Với ai ạ?
-Bà ấy! Chủ nhật này cậu có đến đây không ?
-Thưa.. ngày mai ?
-Ngày mai là chủ nhật rồi à? Tôi quên mất ngày tháng ! Ừ, ngày mai cậu đến chứ?
-Dạ vâng, cháu đến, buổi chiều được không Bác?
-Được.
Lại im lặng, một khoảng lặng mênh mông….
oOo
Người đàn bà rời mắt khỏi giá vẽ, ngước mắt nhìn người khách vừa vào phòng :
-Ông muốn mua tranh ?
Người khách trung niên bối rối :
-Tôi muốn một bức sơn dầu, khoảng 0m70 – 0m90.
-Vậy là ông cần kích cỡ hơn tác giả và trường phái?!
Người đàn ông bối rối chưa biết nói gì thì một câu hỏi tiếp, lạnh lùng:
-Ông không thích hội họa?
-Thời trẻ tôi có thích, nhưng chưa bao giờ có đủ tiền để mua một bức tranh nào!
Một nụ cười thoảng nhẹ trên đôi môi người phụ nữ:
-Thế sao?!
-Bà hỏi gì ạ?
-Như vậy rồi ông không tìm hiểu gì về tranh, về hội họa nữa ư?
-Vâng, hoàn toàn không biết gì!
-Tôi không nghĩ thế, ít ra thì ông biết thích tranh sơn dầu…
Câu nói như khuyến khích người đàn ông mạnh dạn thêm một chút:
-Tôi thích tranh sơn dầu về tĩnh vật hoặc chân dung. Với tôi, màu sắc vẫn là chính.
Người phụ nữ cười thành tiếng:
-Khó cho ông rồi, những phòng chép tranh chỉ chép toàn tranh phong cảnh để dễ bán. Ông có muốn đặt một bức theo ý mình không? Khá lâu mới lấy và giá tiền cũng cao hơn.
-Vâng thế cũng được, tôi không vội, miễn là đẹp.
Người phụ nữ nhìn vào mắt ông. Đôi mắt buồn của người đàn ông góa vợ mười sáu năm nay bỗng xuyến xao pha chút trìu mến, khiến người đàn bà bối rối, lãng tránh bằng cách lật những bức tranh mẫu trong cuốn album dày cộm…
oOo
-Bức tranh đầu tiên tôi đặt là một giỏ hoa, chép theo mẫu của Rachel Ruysch. Treo đối diện cửa sổ thứ nhất đó.
Luận nhìn theo hướng ông già vừa nói. Bức tranh vẽ giỏ hoa với màu nền tối, nhưng những đóa hoa thì rực rỡ, trắng nhạt và hồng. Mặc dù treo đối diện, ngang với cửa sổ, vẫn không sáng lên được bao nhiêu!
-Rồi những bức kế tiếp…Tôi đến phòng tranh thường hơn.
-Những bức tranh trong quán này đều do bà ấy vẽ, thưa bác?
-Ừ, trong hơn một năm, bà ấy chỉ vẽ cho tôi. Bà ấy tự chọn mẫu, còn tôi, tôi thì chỉ cần được đến đó, ngồi xem bà ấy vẽ.
-Bác đã trở thành…người giàu ?
-Tiền bán căn nhà của tôi ở Đà Nẵng, mua lại căn nhà này, mở cái quán cho con gái, tôi vẫn còn tiền để sống. Những bức tranh chép bây giờ không còn là một cái gì quá cao để tôi không thể mua nổi ! Nhưng cái chính là do… bà ấy vẽ. Ông già khoa tay quanh tường… Được mười một bức thì bà ấy không vẽ nữa !
Luận nhìn ông già định hỏi, nhưng gương mặt của ông già đã chìm trong một nỗi buồn vừa ập đến sau câu nói. Quán như trống trải hơn, tối hơn và im lặng hơn…
Bên ngoài cửa sổ, chiều xuống trên dàn hoa pháo, nơi cánh cổng nhà bên cạnh.
Im lặng, Luận nhìn vu vơ những bức tranh…
-Tôi có chuyện phải về Đà Nẵng, mười hai ngày sau trở lại thì bà ấy đã chết, bà ấy bị Ung thư đại tràng giai đoạn cuối trước khi tôi đến đó. Một căn nhà nhỏ trong hẻm sâu, nơi đứa con trai đã có gia đình ở cùng bà ấy. Cậu ta trao cho tôi một bức tranh :
-Mẹ tôi bảo trao lại cho ông và dặn ông thay khung cho bức tranh.
Luận bật hỏi và lập tức đưa mắt nhìn bức “Người đàn bà xa lạ“ của Kramskoi treo đối diện:
-Bức tranh nào ạ?
-Không có ở đây, “Bà ấy” ở trong phòng của tôi. Khi thay khung, tôi thấy bức thư của bà ấy.
Im lặng lại bao trùm căn phòng, Luận nhìn những bức tranh giờ như những mảng màu loang lỗ quanh tường, mắt anh không tập trung được vào một chỗ nào. Khi quay lại nhìn ông già, anh có cảm giác như ông đã ngủ, đầu gục xuống lọt vào đôi vai gầy…Luận rụt rè đến bên tấm thân bất động:
-Bác có …khỏe …không ạ ?
Ông già ngẩng đầu nhìn Luận, gương mặt ông như nhão ra với những giọt nước mắt. Tiếng nói của ông bất ngờ vang lên, rõ ràng, tương phản với vẻ yếu ớt của cơ thể:
-Nếu tôi trao toàn bộ tranh cho cậu, cậu có đồng ý không?
-Sao, Bác không thích nữa à?
-Tôi vẫn quý chúng như những đứa con, nhưng tôi phải vào Viện Dưỡng Lão !
-Ở đâu ạ?
-Ở Long Thành. Tôi có cô em tu ở một ngôi chùa dưới ấy. “Viện mồ côi” thì đúng hơn.
-Thế con gái bác, chị ấy?
-Tôi làm khổ nó đủ rồi. Từ ngày bị tai biến, mười sáu năm nó phải chăm sóc tôi, không nghĩ chi đến chuyện chồng con, nó trở thành gái già khi nào không hay! Giờ nó gặp một Việt kiều góa vợ, tôi muốn nó xuất cảnh theo chồng.
oOo

Cuối cùng thì chiếc xe chở hàng thuê cũng vào được con hẻm chật chội nơi căn phòng trọ. Hai ngày bận rộn với việc tháo gỡ, đóng gói cẩn thận những bức tranh, Luận ở trong tâm trạng ray rứt, mâu thuẫn. Phần thì xót xa với hoàn cảnh của ông già, đàng khác, anh mừng vì bỗng dung lại có được những bức tranh….Nghĩ đến chuyện phải treo những bức tranh này lên bức tường nham nhở của phòng trọ mà não lòng.
Không nôn nóng với những bức đã thấy hàng ngày trong quán, anh hồi hộp đặt bức tranh “Người phụ nữ đợi chết” lên bàn. Báu vật của ông già là bức chân dung một người phụ nữ trạc ngoại tứ tuần, chính là người đã chép lại những bức tranh. Bức tranh thật đẹp, trong không gian dịu dịu của buổi xế chiều, một gương mặt phụ nữ trong chiếc mũ len màu nâu trùm kín đầu, bên khung cửa sổ, đôi tay khoanh hờ hững, ánh sáng chếch tôn lên chiếc mũi thanh tú. ” Bà ấy đây sao !” Luận buột miệng không hoàn toàn là bởi nét đẹp của người thiếu phụ mà do đôi mắt buồn, đăm chiêu của người phụ nữ vẫn hài hòa được với đôi môi mỏng, mĩm cười như khinh bạc thách thức.
Một linh cảm mơ hồ đều gì đó thật buồn, thật xót xa ập đến trong tâm hồn Luận làm anh xao xuyến lo âu khi chợt nhớ lại lời ông già:
-Tôi đã “sống” với bà ấy hơn hai mươi năm. Giờ thì tôi không cần gì nữa, Tôi vào viện mồ côi nhưng rồi cũng sẽ không phiền ai… Bức thư vẫn ở đằng sau bức tranh. Cậu cứ giữ lấy tất cả, tôi không nỡ đốt nó !
Luận run run lật úp bức tranh, mở lưng tìm lá thư. Một tờ giấy gấp tư, như được dán vào khung vải:
oOo

Ngày … tháng … năm 1993.

Này, người đàn ông vô duyên !
Tôi đã nghĩ như thế từ khi gặp ông, cho đến lúc này, hơn một năm và trong những ngày cuối cùng của đời mình, khi những tế bào ung thư đã di căn và hủy hoại hầu hết các bộ phận trong cơ thể, gây nên những cơn đau thật khủng khiếp! Tôi vẫn gọi ông như thế.”người đàn ông vô duyên”.
Trước hết, tôi cảm ơn ông đã đi xa đúng lúc để tôi không ray rứt vì sao không có ông bên cạnh, không ngóng đợi trông mong như những ngày ông thỉnh thoảng bận việc, không đến phòng vẽ .
Tôi gọi ông là người đàn ông vô duyên bởi: Ông đến và làm tôi xao lòng khi vừa phát hiên ra căn bệnh chết người một tuần lễ. Tôi quyết định không phẫu thuật hay đều trị vì nó đã ở giai đoạn cuối. có nghĩa là tôi không còn sống được bao lâu!
Trong đôi mắt ông từ lần gặp đầu tiên ấy, tôi đọc được một điều là Tôi sẽ yêu ông, và ngược lại.
Nhưng ông có thấy vô duyên không khi không hề có đoạn kết trọn vẹn cho cuộc tình này. Ông vẫn không biết gì, nhưng tôi, tôi biết sẽ phải xa ông khi tình yêu vừa đến! lẽ ra lúc này chính tôi phải nhận lấy hai chữ “vô duyên” nhưng tôi vẫn gọi như vậy, bởi nó mang nghĩa định mệnh cho cả hai chúng ta. Vâng, đó là một định mệnh!
Bức tranh này tôi vẽ cho người đàn ông vô duyên của tôi, một bức tranh duy nhất tôi vẽ chứ không chép. Hai tháng sau khi đã trải qua lo âu, sợ hãi tột cùng…, thật lạ, tôi lại trở nên bình thản, chấp nhận ngày nó đến. Tôi đặt tên cho bức tranh là ”Người thiếu phụ đợi chết”. Hãy nhìn màu xám nhạt của bầu trời, ông sẽ thấy…Ông cũng cứ gọi như thế nhé.
Thông thường, người bị ung thư, đều trị bằng phương pháp hóa trị đều rụng hết tóc, tôi không hóa trị, nhưng tôi muốn ở trong tâm trạng thường trực đối mặt với căn bệnh khi vẽ, chiếc mũ len trùm kín đầu có làm ông hình dung được điều đó không?!
Không biết lúc nào thì cái chết đến để giải thoát cho tôi khỏi những cơn đau! Ôi, tôi tiếc biết mấy những phút giây gần gũi bên ông, êm đềm quá, yên bình quá… sẽ không bao giờ có được nữa!
Đau quá! Tôi… tôi… vĩnh biệt ông thôi…! Người đàn ông vô duyên.

Luận vẫn cầm là thư trong tay, với lòng dạ bần thần. Anh muốn nhanh chóng tìm đến ngôi chùa nào đó ở Long Thành, nói với ông già rằng anh sẽ thay con gái ông chăm sóc ông, cùng ông sống với những tháng ngày còn lại với các bức tranh. Nhưng anh vẫn ngồi bất động. Hình ảnh ông già ở nơi nào đó gục đầu thì thào “Tôi…tôi đến với bà đây, chờ nhé” như rõ mồn một trong đầu anh!

Trạch An -Trần Hữu Hội

(Sài Gòn , ngày 20 tháng 3 năm 2014)