chợt quên dâu bể

 

 

nghe đêm xuống phố u hoài
tiếng chim vườn cũ ngân dài xót xa
góc trời lộng lẫy hoàng hoa
thoáng như có chút mù sa tội tình

 

cây đời ngả bóng chông chênh
giữa cơn tràn mộng riêng mình ta đau
hắt hiu một ngọn tình sầu
mênh mang đêm lạnh một màu trăng khuya

 

người trên vạn nẻo đi về
chợt quên dâu bể, chợt mê mải tìm
từ tâm một chút là duyên
xin cho ta đợi đêm nguyên thủy tàn

NP phan

 

 

khi trở lại

 

npphan

 

khi trở lại cùng nỗi buồn sâu thẳm
em đã về rồi
sao tôi còn ngồi đợi
một cơn mưa vu vơ
đã từng rơi xuống miền quên lãng

 

con dế mèn trong bóng râm vô thức
cứ mãi than khóc một mình
bằng giai điệu rền rĩ
tôi cuộn tròn thương xót
trong lời ca xanh

 

không hiểu sao tôi lại lạc lối
ngay trên triền rêu của tuổi thơ
ngày bong bóng mưa vỡ tan
không còn gì ngóng đợi

 

khi trở lại cùng đôi tay trống rỗng
em đừng trách tôi
sao không lượm lặt
những mảnh vỡ của nụ cười
hiếm hoi
còn sót lại
của một đêm trăng
cong niềm nhớ

 NP phan

tự khúc

 

 npphan

hương mùa xanh

dằn vặt trắng
hương mùa xanh
quyến rũ

dắt tôi đi
qua cõi ta bà

màu nắng dịu
cũng đủ vừa độ lượng

con sẻ nâu
về đậu giữa thềm hoa

 

tôi đi về phía…

tôi đi về phía mưa bay
có đêm vô thủy, có ngày vô chung
cuộc đời thấp thoáng bao dung
có em san sẻ tận cùng nỗi đau

 

mùa quên lãng

trăm dòng sông vật vã
ngàn bóng núi lặng thinh
ta không còn là mình
rớt rơi mùa quên lãng

 NP phan

 

em về một thuở…

 

npphan

 

em về một sớm mưa ngâu
cánh hoa nho nhỏ bên cầu ghẹo duyên
đường xưa phơi lá trăm miền
vầng trăng ru mộng còn nguyên một trời

 

em về từng cánh xuân phai
mùa thương nhớ cũng ngậm ngùi trên tay
trời xanh hao bóng hoa gầy
dáng em xõa tóc buông dài lối xa

 

em về áo biếc rừng hoa
trên vai tròn bóng nguyệt tà nhớ nhung
ngàn cơn gió nhẹ sầu mong
thổi bao âm điệu vô cùng, đón em

 

em về một sớm mưa quen
cánh chim xinh nhỏ chao nghiêng giữa đời
mùa xưa tàn lá chơi vơi
em về vạt nắng bên trời ngủ ngoan

NP phan

ngày về

npphan

ngày về lớp lớp tàn phai
chỉ còn lại một dấu hài trong mơ
giọt nào rụng xuống hiên mưa
chút ơn cay đắng cũng vừa quạnh hiu

vai gầy thấm đẫm hoang liêu
quỳnh hoa một đóa ít nhiều đa mang
giật mình, ngỡ cơn mưa tan
là trăm năm đã ngỡ ngàng khói sương

thì thôi hí cuộc vô thường
dấu chân miên viễn, nỗi buồn kiêu sa
hỡi ôi, con dế hiên nhà
bỗng nhiên cất giọng la đà gọi ai

NP phan

nhánh tóc phôi phai

npphan

và thuở đó đất với trời hạnh ngộ
tôi một mình ngồi hát khúc tiêu sơ
chỉ còn lại một giấc mơ rạn vỡ
người còn đợi nhau cho đến bao giờ?

và nơi đó có hàng cây trút lá
một chút mong manh sợi khói lên trời
làm sao gọi những chiều thu tắt nắng
cho tôi về thương nhánh tóc phôi phai?

và ai biết sau niềm yêu lặng tắt
còn lại gì trên miền nhớ xa xăm
còn lại gì trong nụ cười hiu hắt
để trong hồn len lỏi chút dư âm?

và như thế, cứ trôi xuôi rời rã
tôi rót xuống đời một giọt cuồng say
và người đã cùng tôi thầm lặng
nhặt lời thở than rụng xuống vai gầy

NP phan

Bến đò xưa

npphan

1.
Tôi rất thích hai câu thơ này trong “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều:
Cầu thệ thủy ngồi trơ cổ độ
Quán thu phong đứng rũ tà huy
Đọc hai câu này, lúc còn học trung học, tôi cứ nghĩ phải có một cái cầu tên là cầu Thệ thủy (viết hoa) và một cái quán tên là quán Thu phong (cũng viết hoa). Cầu và quán đã được nhân cách hóa: ngồi và đứng.
Thực ra thì chẳng có cầu nào là cầu thệ thủy, chẳng có quán nào là quán thu phong cả. Tôi thấy thấp thoáng trong hai câu thơ kia là hình ảnh một bến đò hiu hắt dưới bóng nắng chiều rời rã, dòng nước cứ xuôi chảy miên man, không bao giờ dứt.
Hình ảnh một bến đò xưa cứ ám ảnh mãi trong tôi:
“… Có một thoáng mù sương
Lẩn trong chiều cổ độ”…
(“Có ta và em” – NP phan)
“Cổ độ” là hình ảnh bến đò xưa và dòng sông thời thơ ấu của tôi.
Đã nhiều lần tôi nhủ lòng là phải về thăm lại bến đò xưa. Nhưng cuộc sống cứ cuốn lấy tôi. Cứ mãi lần lữa, dây dưa.

2.
Tôi có dịp trở lại thăm nhà ngoại sau hơn bốn mươi năm.
Cậu Ba là người em cùng mẹ khác cha với mẹ tôi. Cậu mất đột ngột do đột quỵ lúc chỉ hơn bảy mươi lăm tuổi. Vợ chồng tôi phải về để tang cậu. Có lẽ đã hơn bốn mươi năm tôi mới trở lại thăm nhà ngoại. Ngoại đã mất từ lâu, năm nào tôi cũng không nhớ. Mẹ tôi cũng đã xa anh em chúng tôi hơn một năm khi ngoài tám mươi.
Căn nhà của ngoại ngày xưa bây giờ đã thay đổi quá nhiều, tôi không thể nhận ra. Con đường đất trước nhà ngoại đang được đổ bê tông. Hai gian nhà tranh đã được thay bằng hai căn nhà ngói liền nhau với các tiện nghi của cuộc sống hiện đại ở vùng nông thôn. Những thửa ruộng xung quanh nhà, bây giở đã là khu vườn rộng, có mấy cây xoài to lớn. Tôi hỏi mợ tôi:
– Con nhớ hồi xưa có hai cây mít ở hai đầu nhà và trước nhà là một cái mương nước, phải không mợ?
– Đúng rồi, trí nhớ con tốt đó. Hai cây mít đã chết từ sau khi ngoại con mất. Cái mương nước trước nhà cũng bị lấp sau khi xã làm lại hệ thống thủy lợi.
– À, bến đò Cầu Voi bây giờ còn không hả mợ?
– Không còn bến đò nữa. Mà sao con lại hỏi bến đò Cầu Voi?
Tôi chỉ cười, không nói gì.
Xong việc thì trời đã tối. Vợ chồng tôi phải vội trở về thành phố.

3.
Đó là vào khoảng gần cuối năm 1964.
Năm ấy tôi đang học lớp Tư (tức là lớp Hai bây giờ) trường làng. Mới vào học độ chừng hai tháng thi tôi phải nghỉ học vì chiến tranh nổ ra trên khắp cả tứ thôn Đại Điền. Quê tôi đồng khởi, phá ấp chiến lược, thành lập “chính quyền cách mạng”. Cha mẹ tôi và mọi người vẫn gọi năm ấy là năm “ly sơn”. Trường tiểu học nơi tôi học đóng cửa. Các thầy giáo cũng đã rời trường.
Vì tuổi còn quá nhỏ, tôi chẳng nhớ gì nhiều. Chỉ nhớ rằng, tôi không phải đi học mà rong chơi thỏa thích, nào bắt dế, bắn chim, thả diều và rất nhiều trò chơi vui vô kể. Tối đến, thỉnh thoảng được coi các đoàn văn công diễn ở trụ sở thôn (Trụ sở sau này bị đánh sập một lần và sau đó bị đốt cháy một lần nữa nên vẫn thường gọi là “Trụ sở sập” hay “Trụ sở cháy”). Các tiết mục múa hát, cả diễn kịch có anh lính giải phóng đánh nhau với anh lính cộng hòa. Tôi nhớ có người đã nhảy lên sân khấu đòi đánh anh lính cộng hòa trong khi vở kịch đang diễn. Tất cả khán giả là người dân quê tôi.
Đêm đêm, nhất là những đêm trăng sáng, thỉnh thoảng có những “sinh hoạt” gì đó tôi cũng chẳng biết. Và thỉnh thoảng, có những đoàn quân rất đông người với bao nhiêu là súng ống đạn dược, kéo về trong một đêm, rồi sáng sớm hôm sau họ lại lên đường. Chắc là đánh nhau ở đâu đó. Tôi nghe loáng thoáng cha mẹ tôi nói là bộ đội chủ lực gì gì đó.
Những chuyện này tôi sẽ kể thêm sau khi có dịp.
Tôi cứ suốt ngày rong chơi trong gần một năm học.
Khi bắt đầu vào năm học tiếp theo, trường học vẫn chưa được mở lại.
Không thể để con phải nghỉ học, cha tôi đã bàn với bác Hai tôi, bằng cách nào đó phải cho lũ trẻ đi học trở lại. Lũ trẻ ở đây là tôi và chị Sáu (con của bác Hai), lớn hơn tôi một tuổi.
Tôi có người chú họ ở Phú Ân Nam, bên kia sông Cái. Dạo ấy, vùng này còn tương đối an ninh (như cách nói của người lớn). Nhà chú tôi ở gần cầu Ông Bộ, ngay bên đường quốc lộ 1, trên đường về thị xã. Chú tôi làm nghề thợ mộc, có nhà cửa, cơ ngơi làm ăn khá rộng rãi, đàng hoàng. Bên kia cầu Ông Bộ là thôn Võ Cạnh thuộc xã Vĩnh Trung, quận Vĩnh Xương.
Thôn Võ Cạnh nổi tiếng vì nó gắn liền với câu ca dao về các đặc sản của “Xứ trầm hương”:
Yến sào Hòn Nội
Vịt lội Ninh Hòa
Tôm hùm Bình Ba
Nai khô Diên Khánh
Cá tràu Võ Cạnh
Sò huyết Thủy Triều
Đời anh cay đắng đã nhiều
Về đây ngọt sớm ngon chiều với anh
Trong sáu đặc sản trên đây, có hai món bây giờ có lẽ đã “tuyệt tích giang hồ” là nai khô Diên Khánh và cá tràu Võ Cạnh.
Võ Cạnh còn nổi tiếng với tấm bia Võ Cạnh. Bia Võ Cạnh được Viện Viễn Đông bác cổ phát hiện tại làng Võ Cạnh và đưa về Hà Nội năm 1910. Đây là tấm bia cổ duy nhất còn lại của vương quốc Champa xưa, khắc bằng chữ Sanskrit, là tấm bia cổ nhất vùng Đông Nam Á, có giá trị lịch sử lớn.
Đó là những gì về Võ Cạnh tôi biết về sau này.
Cha mẹ tôi đã gửi tôi và chị Sáu ở trọ nhà chú Năm và học ở Trường Tiểu học Võ Cạnh, nằm phía bên kia cầu Ông Bộ, cách nhà chú chỉ khoảng vài trăm mét.
Trường Tiểu học Võ Cạnh nằm bên cạnh đình Võ Cạnh, một ngôi đình cổ, uy nghi.
Đó là một ngôi trường nhỏ, nằm sát bên đường quốc lộ, một dãy nhà hình chữ L, có khoảng năm sáu phòng gì đó, tường xây, lợp ngói. Tôi và chị tôi vào học lớp Ba (cũng là lớp Ba hiện nay) mặc dù chưa học xong lớp Tư. Tôi nhớ lớp học có khoảng bốn chục học sinh mà bây giờ tôi chẳng nhớ ra ai cả, trừ một bạn có học chung với tôi ở bậc trung học mấy năm sau đó.
Ở trọ nhà chú Năm, tôi và chị tôi chỉ lo ăn học, chẳng phải làm việc gì vì còn quá nhỏ. Nhà chú cũng có mấy đứa con cùng trang lứa với chúng tôi nên vui chơi thỏa thích, nhất là vào chập tối, lúc ăn cơm xong (vì ban ngày phải đi học cả ngày).
Những đêm sáng trăng, chúng tôi chơi đủ trò chơi từ u mọi, cút bắt, bịt mắt bắt dê… Có một dạo, tôi bị “quáng gà”, chắc là do ăn uống thiều chất, với lại tôi cũng rất kén ăn. Ban đêm tôi chẳng nhìn thấy gì, không chơi được trò chơi gì, tức muốn phát khóc. Sau một thời gian ngắn, chừng hơn tháng gì đó, thì cũng tự khỏi, không biết làm sao.
Nhiều đêm, nhớ nhà, nhớ cha mẹ và các em, tôi cứ nằm khóc rưng rức mà chẳng có ai dỗ dành.

4.
sông Cái ngăn giữa hai thôn Phú Ân Nam (thuộc xã Diên An) và Phú Ân Bắc (thuộc xã Diên Phú). Lúc ấy, từ bên này sang bên kia hoặc ngược lại, phương tiện duy nhất là đi đò. Từ Phú Ân Nam, gần nhà chú tôi, có một con đường nhỏ chạy giữa cánh đồng lúa của làng, dẫn đến một bến sông. Bên kia sông là bến đò Cầu Voi. Sở dĩ có tên gọi như vậy là vì nó nằm gần bên một chiếc “cầu tre lắt lẻo” tên là Cầu Voi (Không hiểu sao lại gọi là Cầu Voi), bắc ngang một nhánh sông nhỏ. Ở đó, thường có một chiếc nhỏ đò chờ đưa khách qua sông.
Thường thì cứ vào cuối buồi chiều cuối tuần (có khi hai tuần), tôi và chị tôi xin phép chú thím, dắt díu nhau về thăm nhà. Hai đứa bé, một lên tám, một lên chín tuổi lôi thôi lếch thếch đi bộ quãng đường dài sáu cây số. Chị đi trước, em lẽo đẽo theo sau, nhiều lúc đi theo không kịp chị, cứ vừa đi vừa khóc, cố chạy theo cho kịp chị để còn lên đò qua sông.
Chị Ngôi là người chèo đò đưa chúng tôi qua lại trên dòng sông Cái. Bây giờ tôi cũng không hình dung ra được khuôn mặt chị, chỉ nhớ là chị còn trẻ, hơn chúng tôi độ gần mười tuổi, hay đội chiếc nón lá. Hôm nào chị bận việc gì đó không chèo đò thì có cha chị (tôi đoán vậy) chèo thay. Mấy mươi năm rồi, không biết bây giờ chị thế nào, gia đình, chồng con ra sao, sinh sống nơi đâu?
Tôi nhớ có hôm hai chị em về đến cánh đồng gần nhà thì súng bỗng nổ vang, đạn bay “chíu chíu” trên đầu, đạn cối nổ ngay trước mặt, chớp lửa nhoáng nhoàng. Phía bên này và phía bên kia từ trong các khu vườn nhà dân thi nhau nã đạn về phía nhau. Chị em tôi nháo nhào chạy dưới hai làn đạn, chạy cả xuống ruộng bùn, vừa chạy vừa la khóc. May mà cũng về được đến nhà không sao cả.
Trong thời gian tôi học lớp Ba tại Trường Tiểu học Võ Cạnh, chiến tranh vẫn diễn ra ở tứ thôn Đại Điền và ở nhiều nơi khác.
Sau gần một năm thì “chính quyền cách mạng” ở tứ thôn Đại Điền giải tán. Phía “quốc gia” tấn công ác liệt để giành lại vùng tứ thôn Đại Điền. Phong trào “ly sơn” tan rã, cán bộ, du kích rút hết lên núi.
Hết năm học, tình hình tạm yên. Cha tôi đưa chúng tôi về quê. Chúng tôi giã từ chú thím và các em, giã từ thầy cô và các bạn học trường Võ Cạnh trong tiếc nuối bùi ngùi.
Tôi về lại Trường Tiểu học Đại Điền Đông, học lên lớp Nhì.
Đó là vào khoảng tháng 9 năm 1966, năm Bính Ngọ.
Năm sau và những năm sau nữa, khói lửa chiến tranh lại tiếp tục bùng lên dữ dội.
5.
Trời đã về chiều nhưng nắng vẫn còn gay gắt.
Từ nhà ngoại, tôi chạy xe dọc theo xóm thôn bên bờ bắc sông Cái. Nhà cửa khang trang, ruộng đồng tươi tốt. Đi mãi một lúc thì đến Cầu Voi. Chiếc cầu tre năm nào được thay bằng chiếc cầu bê tông kiên cố.
Bến đò Cầu Voi năm nào đâu rồi?
Tối hỏi một chị bán hàng gần cầu:
– Xin lỗi chị, chị có biết bến đò Cầu Voi chỗ nào không?
– Em không biết bến đò nào cả, chỉ biết Cầu Voi này thôi. À, có khi anh hỏi bà bác kia kìa, bác ấy lớn tuổi chắc là biết.
Tôi tiến tới người phụ nữ lớn tuổi, chắc cũng xấp xỉ tám mươi, trông còn khá khỏe mạnh, lễ phép hỏi:
– Thím cho cháu hỏi, thím có biết bến đò Cầu Voi hồi xưa bây giờ ở đâu không ạ?
Thím nhìn tôi từ đầu đến chân rồi hỏi lại:
– Cháu người vùng này hay ở đâu? Muốn tìm nhà bà con ở đây à?
– Dạ, quê cháu bên Đại Điền. Hồi nhỏ, cháu trọ học bên Phú Ân Nam, hàng tuần hay đi về thăm nhà, qua bến đò Cầu Voi này. Cũng đã lâu lắm rồi, chắc cũng gần năm mươi năm. Cháu chỉ muốn thăm lại bến đò ngày xưa thôi ạ.
Thím cười giòn giã:
– Bến đò Cầu Voi đã bỏ lâu rồi cháu ạ. Nó nằm ở chỗ kia kìa.
Theo tay bà thím chỉ, tôi thấy hai ba ngôi nhà cây cối um tùm, không có lối nào dẫn xuống bến sông.
Nhìn sang bên kia sông, tôi cũng không thấy dấu vết gì ngoài hàng tre xanh mướt.
Bến đò xưa, từ lâu đã không còn nữa.
Tôi cám ơn chị bán hàng và người thím, rồi thẫn thờ nhìn ra dòng sông.
Chiều đã xuống. Nắng tắt dần.
Trong lòng tôi là một khoảng trống mênh mang.

Tháng 10/2016
NP phan

ngoảnh lại

npphan

chợt ngoảnh lại, thời gian
đã nhuốm màu dâu bể
cho lòng ta như thể
quay quắt trời bão giông

trái tim nhạt máu hồng
những vòng đời hệ luỵ
trên con đường vạn lý
dẫn về một mùa ngâu

chợt ngoảnh lại, trên đầu
cả hai vầng nhật nguyệt
cả thu đông biền biệt
còn đắm mộng hoàng hoa

NP phan

hình như ta đợi từ lâu lắm

npphan

hình như ta đợi từ lâu lắm
mất cả trăm năm, một kiếp người
và em đã đến trong ngày mộng
vầng trăng thương nhớ thoáng đầy vơi

thuyền sao có thể rời xa bến
sông vẫn ngàn năm trôi lửng lơ
núi vẫn ngàn năm cao vời vợi
còn không lay lắt nỗi mong chờ?

hiển nhiên bao tháng năm mòn mỏi
ta vẫn là ta thuở viễn hoài
và em là mộng mơ ngày ấy
đường trần chưa vương dấu chân ai

NP phan

hỏi thăm nẻo về

npphan

sầu tan mấy giọt đầu mùa
tuổi nào tóc buộc hững hờ dung nhan
cúi xin chút mộng huy hoàng
chợt nghe hư ảo đã tan cuộc chờ

đường về đã lặng cơn mưa
bao nhiêu hò hẹn đã vừa nhớ nhung
cho em tiếng guốc ngập ngừng
tình ta xuống ngự vô cùng mắt môi

tuổi nào lược ngắm gương soi
nắng mưa thì cũng đất trời trăm năm
ngày trông tháng đợi trầm ngâm
chút buồn đăm đắm hỏi thăm nẻo về

NP phan