Trái khổ qua

Nguyễn Thị Minh Ngọc

a b'lao

Đỗ Trung Quân, a B’lao

Tôi ngồi trong bóng tối trên một băng đá xa lạ của sân quần vợt. Gió thổi lồng lộng từ cửa biển. Tôi mân mê mảng thịt bong sau lưng. Xót như ai xát ớt chanh vào nơi thịt hở. Mãi đến bây giờ mới thấy đau. Nhớ đến một câu Kiều: “Dặm ngàn nước thẳm non xa, Biết đâu thân phận con ra thế này”. Còn ai thèm đến thân phận mày mà than thở hả Phi. Tía tôi chết rồi. Một chuyến ra khơi. Bão dậy. Không ai về. Còn má tôi, đó là một người đàn bà hiếm có. Hơn năm mươi tuổi mà trông vẫn còn có nét lắm. Tiếc rằng lưỡng quyền bà hơi nhô. Người ta bảo đó là tướng sát phu. Chẳng thế mà bà đã có đến nửa chục ông chồng rồi. Người chồng đầu nghe kể là dân Huế, gặp má tôi ở Quảng Nam, cưới nhau chưa đủ một tuần ông đã giao vợ cho má, theo bạn bè đi tập kết. Người thứ hai là bạn thân của ông chồng đầu, mang được má tôi đến xứ này rồi cặp luôn, sanh được anh Hào, chị Hiên rồi bị giết trong một chuyến tải hàng đi ngang rừng lá. Kế đến tía tôi mà tôi là đứa con độc nhất. Cái gia sản đồ sộ ngày nay phần lớn là của người chồng thứ tư. Hình như ông vẫn còn sống. Má tôi không kể nhưng bà quán Móm thì rành rọt lắm:

“Gặp người khác lù khù thì chắc êm rồi, nhưng trúng nhằm chị Hai thì không chạy đâu cho thoát được hết. Chỉ buộc lão phải ký giấy nhường thuyền bè lại cho chỉ. Cho lão ôm bạc mặt với thằng Hồ đi thôi. Chỉ cũng không thương yêu chi lão. Chỉ tội con Hiên. Sau lần đó dở điên dở khùng”.

Có lẽ nhờ tiền bạc của ông ta tôi mới được đi học. Tám tuổi vào lớp tư, trễ mất hai năm. Nhưng trễ còn hơn anh Hào, chị Hiên thất học. Còn con nhỏ Phước – con của ông chồng bây giờ – thiệt là chướng. Rớt kỳ thi vào Ðệ thất năm kia, nó tuyên bố:

“Tui ở nhà phụ tá má để sau này lớn lên làm nghề của bả luôn” Tiếp tục đọc

Xa Chồng Non Tháng

Nguyễn Thị Minh Ngọc

chan dung

Đỗ Trung Quân, Chân Dung

Là một nhà văn kiêm đạo diễn sân khấu, tôi sống độc thân đến 51 tuổi mới lập gia đình. Ở Việt Nam, có lẽ tôi phá kỷ lục là người trong giới “ nghệ” lấy chồng trể nhất. Chuyển từ tình trạng “dọc ngang nào biết trên đầu có ai”, không rờ tới bếp núc, ngủ thì trải manh chiếu nhỏ hay kê hai cái ghế xếp là tạm xong một giấc ngắn giữa hai xuất diễn, một cảnh quay, có lúc tôi làm việc quần quật từ sáu giờ sáng tới sáu giờ chiều mới thấy đói đói và phát giác ra từ sáng tới giờ mình chưa ăn gì, nay phải khép mình vào khuôn khổ với my better half – một nửa tốt hơn của tôi , với tôi là một cuộc cách mạng lớn. Đám bạn ở Việt Nam còn đánh cá xem tôi cầm cự cuộc hôn nhân nầy được mấy năm và chúng nó thua độ rất nhiều khi chúng tôi đã tiến tới năm thứ tám.

Trong thời gian đó, tôi vẫn có cơ hội làm nghề, có điểm thuận lợi hơn xưa, cũng có nhiều bề vất vả hơn xưa. Xưa, trong nước, làm nghề mười hai thành công lực tiêu tốn hết mười vào chuyện phải đối phó với .. muôn trùng vây, giờ phải đối phó đến mười một vì rất khó quy tụ được những người thích hợp với công trình sáng tạo tập thể nầy vì hoàn cảnh địa lý, tài chính và.. gia cảnh. Cụ thể nhất, vào cuối năm 2010, vở We’re- Chúng Tôi Là của tôi được nhà hát Liên Á tổ chức cho đọc ở New York tôi dám mời em gái ruột của mình là Minh Phượng nhân dịp Phượng sang diễn ở Boston. Bà giám đốc nhà hát không hiểu tiếng Việt nhưng cười ngặt nghẹo khi được xem Phượng độc diễn  vai bà vú với ông chủ liệt trong lớp kịch  phỏng theo I’m đàn Bà (*) của Y Ban. Đến  khi vở diễn chính thức ở New York vào năm 2011 thì tôi đành nhờ một diễn viên người Hoa thay vai đó. Phượng hiện là single-mom, phải làm nail nuôi hai con nhỏ nên thù lao $800 cho 3 tuần ở New York không đủ chi phí cho ba mẹ con sống. Phần tôi thì gặp phải vấn đề khác, không vì tiền mà vì… chàng! Đây là ghi chép của một người vợ kiêm đạo diễn, sau ba tuần xa nhà để đưa được kịch Việt Nam diễn song ngữ ở một nhà hát off-off Broadway tại New York Tiếp tục đọc