Trở Lại Gánh Xiếc

nguyenmonggiac

Tôi do dự khá lâu mới lấy đủ bạo bước vào trụ sở Hội văn nghệ. Khuôn viên rộng có thảm cỏ xanh và bóng cổ thụ. Biệt thự giữ vẻ bên ngoài cổ kính nhưng bên trong đầy đủ tiện nghi của cuộc sống Mỹ: máy điều hòa không khí, bộ salon uy nghi đồ sộ bọc nhung, tranh tĩnh vật, nền trải thảm len mầu rêu… Hình như đây đúng là biệt thự của bà mẹ ông Thiệu. Giữa phòng khách mênh mông có kê hai cái bàn gỗ ván ép có lẽ được khuân từ nhà bếp lên. Hai cán bộ mặc quần áo bộ đội ngồi tiếp khách trên ghế dựa gỗ cẩm lai. Một chân họ đè lên chiếc dép râu, chân kia gác lên ghế theo thói quen đặc biệt ở rừng.

Người ngồi bên phải cắm cúi viết, trước mặt có ba bốn người khách ăn mặc kiểu thành phố đang ngoan ngoãn chờ.

Tôi tiến về phía bàn bên trái vì cán bộ giữ phận sự đăng ký đang tươi cười tiếp chuyện một anh ca sĩ tôi có quen.

Anh cán bộ rít một hơi thuốc lào rồi ngửng lên hỏi tôi:

– Chắc anh đến đăng ký?

Tôi nuốt nước bọt rồi đáp:

– Vâng.

Anh cán bộ ngồi ngay ngắn trở lại như chuẩn bị viết, hỏi tôi:

– Anh ở ngành nào?

Tôi ấp úng chưa biết trả lời sao cho đúng. Anh ca sĩ chen vào nói:

– Ông ấy chuyên làm xiếc đấy mà! Ðột nhiên tôi nổi giận. Tôi cãi lại:

– Không! Tôi là nhạc sĩ chuyên đàn vĩ cầm. Anh ca sĩ không chịu nhượng bộ:

– Tôi chỉ thấy anh chuyên làm xiếc ở các đại nhạc hội. Không phải anh thường lộn ngược người trồng chuối trên cái gối đỏ để kéo vĩ cầm hay sao? Kia kìa, anh vẫn còn giữ hai cái kim găm ở ống quần. Tôi nói có sai đâu!

Tôi đau đớn vì hổ thẹn. Nếu có thể độn thổ được như trong chuyện Phong Thần, có lẽ tôi đã làm rồi. Phải. Anh bạn ca sĩ nói đúng. Trước đây tôi kiếm ăn bằng nghề làm xiếc. Tuy tôi có kéo vĩ cầm đấy nhưng cái thế trồng chuối lạ mắt lúc đàn, không thể chối cãi được, đúng là tiết mục xiếc. Tôi có muốn thế đâu! Tôi đã từng nổi tiếng thần đồng âm nhạc ngay từ tấm bé. Sáu tuổi tôi đã chơi vĩ cầm cho giàn nhạc giao hưởng thành phố. Bảy tuổi, cả giàn nhạc gần 40 người đệm đàn cho tôi độc táu. Tám tuổi, tên tôi viết lớn bằng chữ đỏ trên các bích chương quảng cáo, ngay bên cạnh tên Chopin, Beethoven, Bach. Rồi những đêm lạc phúc bất tận với chiếc áo đuôi tôm kim tuyến và những vòng hoa. Danh vọng, tiền bạc đến với tôi quá sớm. Nhưng càng lớn lên, tôi càng thua thiệt. Tôi chỉ là thần đồng âm nhạc khi ôm chiếc đàn bé bỏng đi lạc vào thế giới người lớn và nhắm mắt say đắm với tác phẩm các thiên tài. Khi đã lớn lên rồi, tôi trở thành tầm thường không có gì đáng chú ý. Vì vậy tôi đã phải tìm cách để thỏa mãn óc hiếu kỳ quái ác của khán giả. Bao nhiêu năm trời tôi âm thầm chịu đựng đau đớn, nhiều hôm nước mắt ràn rụa ướt trán để cắn răng trồng chuối lên chiếc gối đỏ và tiếp tục đàn vĩ cầm. Năm 17 tuổi tôi “tái xuất giang hồ” và lại được hoan nghênh như một tài tử xiếc. Khổ nỗi khán giả lại mau nhàm cái trò lạ của tôi. Diễn lần thứ 20, khán giả còn vỗ tay. Diễn lần 30, vỗ tay rời rạc chen lẫn tiếng huýt sáo. Ðến lần thứ 40 thì bị la ó. Tôi lại cắn răng chịu đau đớn tìm trò lạ mới, và trước hôm “giải phóng”, tôi trình diễn ở đại nhạc hội tiết mục cuối cùng: vừa trồng chuối để tấu nhạc Chopin, vừa dùng hai bàn chân chuyền một quả bong bóng ngũ sắc. Thói quen dùng kim găm chặt ống quần vào bít tất là méo mó nghề nghiệp do phải lộn đầu làm xiếc lâu năm của tôi. Ngoài các buổi trình diễn, tôi phải chuẩn bị sẵn sàng để làm trò chào hàng các ông chủ rạp hát béo phệ. Hai cái kim găm từ lâu trở thành đồ nghề của tôi, như chiếc vĩ cầm và cái gối nhung đỏ. Trời hỡi! Tại sao đúng vào hôm nay, hôm đến đăng ký ở hội văn nghệ giải phóng để sinh hoạt như một nhạc sĩ vĩ cầm, tôi lại hớ hênh găm thêm hai chiếc kim định mệnh.

Anh ca sĩ vẫn mỉm cười chế giễu tôi. Anh cán bộ kiên nhẫn dừng bút chờ đợi. Tôi cố vớt vát lần cuối khi phân bua:

– Tuy tôi phải lộn đầu làm xiếc vì cơm áo, nhưng ý nghĩa đời tôi, niềm kiêu hãnh thầm lặng của tôi là cây đàn. Hai chân tôi chuyền quả bóng, nhưng hồn tôi giao trọn cho âm nhạc. Tôi là nhạc sĩ, tôi không phải là anh hề gánh xiếc. Anh cán bộ suy nghĩ một lúc, rồi chậm rãi nói:

– Như vậy thì anh nên đăng ký vào phân hội âm nhạc. Tôi mừng quá, suýt chút nữa lộn ngược trồng chuối để cảm ơn anh cán bộ như đã từng làm để cảm ơn mấy ông chủ béo phệ, tôi dừng lại kịp. Tôi khỏi phải chào hàng ai nữa. Từ đây tôi có thể yên tâm nghiêng đầu bên cây đàn vĩ cầm yêu dấu của tôi, để nghe những lời tâm sự thầm thì của Bach!”
Ðọc xong truyện ngắn đăng năm 1976 trên tạp chí văn nghệ thành phố, chàng bồi hồi tiếc nuối. Tiếc cái gì, chàng chưa định rõ. Có cái gì đẹp lắm của quá khứ đã tan đi, như một lần chàng vô tình gặp lại người yêu đầu đời với một nhan sắc đã tàn phai.

Người đàn ông trước mặt vẫn kiên nhẫn đợi. Chàng nhìn kỹ người khách lạ lần nữa. Tóc hoa râm, khuôn mặt hốc hác và nụ cười vừa khinh miệt vừa cay đắng. Ông ta đến đây làm gì? Tại sao ông ta mang tờ tạp chí cũ đến khẩn khoản xin chàng đọc lại cái truyện cũ của chàng! Khách lạ không chờ thêm được nữa, lên tiếng hỏi:

– Ông chưa nhận ra tôi ư?

Chàng ngập ngừng, nói lơ mơ:

– Tôi nhận ra chứ, nhưng không ngờ qua mới có mấy năm…

Khách lạ mừng rỡ cắt lời chàng:

– Phải. Ông không ngờ mà tôi cũng không ngờ. Tôi già đi nhiều. Ông không nhận ra cũng phải. Năm 1975 lúc tôi kể chuyện mình để ông viết truyện ngắn này, tóc tôi còn xanh. “À, té ra thế. Tôi nhớ ra rồi”. Chàng thầm nghĩ. Nhìn kỹ khách lạ lần nữa, chàng bắt đầu nhận ra đôi mắt ấy, cái hàm bạnh vì “lao lực” ấy, nụ cười ấy… Chàng nhìn xuống ống quần người khách. Ông ta hiểu, hỏi chàng:

– Ông tìm đôi kim găm chứ gì?

Bị bắt quả tang lúc đang làm một việc thiếu tế nhị, chàng bối rối đỏ mặt. Ông nhạc sĩ vĩ cầm xua tay nói:

– Ông khỏi cần áy náy. Tuy tôi không cẩn thận cài kim vào ống quần, nhưng tôi vẫn làm xiếc đấy. Không chờ chàng hỏi, ông ta tiếp:

– Hồi ấy tôi sinh hoạt bên ngành nhạc một thời gian, sau đó “phòng tổ chức” khuyên tôi nên trở lại ngành xiếc. Vì ở đâu cũng là phục vụ, tôi vâng theo.

Chàng hỏi:

– Ông vẫn biểu diễn tiết mục nhồi banh đấy chứ?

– Không. Tôi tưởng khi không tìm thấy đôi kim găm, ông đã đoán ra. Gần đây tôi biểu diễn mục “vừa đi dây vừa kéo đàn”. Chán lắm, tuy các anh bên Tuyên huấn rất bằng lòng.

– Vì sao chán ạ?

– Trồng chuối tuy đau đầu nhưng còn có đôi chân giữ thăng bằng, mình chủ động được. Ði dây thì phải luôn luôn hồi hộp lo lắng, như mộng du giữa phải trái, thực giả, trong lúc đôi tay bận bịu với cây đàn. Tôi xanh xao sa sút đến thảm hại vì vậy. Tôi đến đây để xin ông chắp thêm cho cái truyện cũ một cái đuôi. Tôi van ông, chịu khó viết thêm cho. Nếu không, tôi phải mang tiếng là người dối trá.

Thấy ông khẩn khoản quá, chàng làm vừa lòng ông ta vậy!

Nguyễn Mộng Giác

Trong Cơn Say

nguyenmonggiac

Lúc chiếc Lambro đậu ở xế bên trái trại gia binh, Quang bước xuống, đưa tiền cho tài xế, rồi xăm xăm bước vào cổng. Người lính gác không thèm nhìn lại, lấy tay làm dấu cho đi. Cây chắn vẫn nằm ngang lối vào, Quang khom mình luồn xuống sát đất, chui vào bên trong. Mấy chiếc GMC vẫn đậu chỗ cũ. Mái tôn doanh trại chỉ huy đã bắt đầu rỉ sét, hàng dương liễu thấp trồng trước sân gần trụ cờ bám đầy bụi đỏ.

Trên sân tennis, các sĩ quan mặc quần sọt và áo cánh trắng vẫn tiếp tục trao banh dưới ánh nắng bắt đầu gắt. Vòng ra sau hai dãy nhà kho, cái ga ra và dãy phòng dành cho sĩ quan độc thân, Quang cúi xuống cho trán khỏi chạm vào các poncho ướt treo thấp, tiến về phía phòng mình.

Anh Lâm và ba người bạn nữa ngồi ở căn trước đang nhậu nhẹt. Cái giường ngủ được xếp lại gọn ghẽ, dành khoảng trống phía trước để trải chiếu ni lông trên nền xi măng. Đống chai 33 ngổn ngang.

Ba người bạn anh Lâm mặc quần treillis, áo mai dô, ngồi xếp bằng trên chiếu. Anh Lâm mặt mày xanh hơn thường lệ, dựa mình vào vách ván. Quang phải lần theo mé nước đi ra phía sau mở cửa bếp vào nhà. Tiếng anh Lân hằn học giận dữ:

-Uống, tao bảo uống là uống. ĐM thường ngày tụi bay chỉ huy tao, nhưng trên chiếu rượu, tao chỉ huy tụi bay. Nghe chưa?

Tiếng một người bạn cười ha hả, rồi nói lớn:

-Uống thì uống chớ sợ gì. Đó, đó, hai thằng nay chơi không ngon gì hết. tao với thằng Lâm nãy giờ uống một hơi cạn ly, tụi bay hớp hớp vài cái rồi để xuống. Ăn gian!

Anh Lâm lớn tiếng:

-Ăn gian là hèn!

Lại có tiếng cười hí hí, vẫn giọng anh Lâm:

-Tụi bay thường bảo tao say sưa. Mấy con mẹ ngồi lê đôi mách trong trại chê tao du côn, rượu chè be bét nên ế vợ. ĐM tao đâu có cần. Rượu uống cả két không say là ngon hơn hết. Anh em ở đây, tao thấy có thằng Thảnh là chơi được.

Ông bạn Thảnh phụ hoạ:

-Đúng. Nam vô tửu như kỳ vô phong. Cờ không có gió, hì hì, giống như mấy thằng già dịch hết xí quách. Tụi bay hết xí quách chưa mà ngồi nhắp nhắp như đàn bà.

Lại tiếng anh Lâm:

-Hai đứa bay là đồ bỏ. Thôi tao với mày hết ly rồi tính cái khác nghe Thảnh. Nè, một hai ba, dô.

Có tiếng ực ực trong khi hai người bạn yếu rượu gõ đũa vào mâm, hô theo nhịp; dô, dô, dô, dô. Thằng Thảnh cạn trước. Không, thằng Lâm cạn trước. Rán lên. Dô, dô.

Một cái ly dằn mạnh xuống mâm kêu rổn rảng. Một chặp sau, lại một tiếng dằn khác. cả bốn người la ó cười cợt náo nhiệt.

-Tao nói trúng phóc. Trước sau gì thằng Lâm cũng chì hơn. Nghề của chàng mà.

Tiếng Thảnh cố cải trây:

-Không đúng. Ly của nó ít hơn ly tao. Mà dù hai ly có đầy như nhau nó cũng không ngon. Uống rượu mà phải dựa lưng vào vách. Nó chỉ có cái gân cổ nói phét, còn cái gân lưng sụm bà chè rồi. Vậy là yếu.

Giông Lâm có vẻ tức tối:

-ĐM tao không lội bùn suốt tuần nay, thì tao chấp hết. Tụi bay ở nhà ngủ với vợ. Tao hành quân từ hôm mồng bảy, hôm qua mới về. Thằng trung đội trưởng mới ra trường như thỏ đế, cứ bắt lội lầy mà đi. Vòng về lại phải khiêng con heo nặng thấy bà nội…

Bỗng nhiên căn trước im lặng đột ngột. Quang kinh ngạc nhìn lên. Chị Phú tần ngần đứng trước cửa, nón cắp bên nách, thấy anh đang ngồi uống rượu không dám vào. Ba người bạn anh Lâm bối rối, tự sửa lại dáng ngồi. Giọng anh Lâm bắt đầu lè nhè:

-Nữa, nữa. Hễ uống hơi đã đã là có đàn bà tới tìm cằn nhằn. Vào hồi nào đó Phú?

Quang xỏ dép chạy lên phía trước. Chị Phú chưa thấy em, hỏi anh Lâm:

-Thằng Út có về đây không anh Hai? Có thằng nhỏ cạnh nhà ở Qui Nhơn về nói thằng Út bị nhà trường đuổi. Nó về đây chưa?

Quang lên tiếng:

-Em đây chị Phú.

Thấy Quang ở buồng sau, chị Phú không còn giữ ý tứ nữa, bước đại qua mé chiếu rượu vàn bên trong. Một tiếng huýt gió bay theo tà áo cụt tím của chị. Một người hỏi:

-Em gái mầy hở Lâm?

Giọng Lâm trả lời một cách miễn cững, nhát gừng:

-Em kề tao đó. Thằng chồng nó tập kết năm 54.

Bây giờ đến lượt Thảnh đề nghị:

-Gả cho em đi anh Lâm.

Cả lũ cười hô hố. Lâm nói:

-Muốn bị cắt cái đầu hả? Chồng nó đi bộ đội, lấy vợ mấy tháng rồi theo trung đoàn 120 ra Bắc.

Rồi tự nhiên, giọng nói của anh Lâm sang sảng, đầy hãnh diện:

-Con nó đã mười tuổi mà nó còn “ngon” lắm. Nhiều thằng nghĩa quân ngoài Phù Cát mê tít, quên cả gác cầu. Trong ba đứa bay, có thằng Thảnh tao chịu nhất. Để tao kêu nó ra gả cho mầy.

Chị Phú bực mình cau mày. Anh Lâm gọi lớn:

-Phú, ra biểu em.

Im lặng. Bên ngoài có vài tiếng cười khúc khích. Lâm la lớn hơn:

-Phú, ra biểu.

Quang nói nhỏ với chị:

-Chị thấy không, hôm nào đi hành quân về, ảnh cũng kéo bạn kéo bè nhậu nhẹt la hét. Cả xóm không ai chịu thấu. Ông thiếu tá mấy lần đòi trục xuất ra khỏi trại.

Chị Phú tỏ vẻ lo ngại, vội hỏi em:

-Ảnh mới hành quân về à? Hôm nào?

Lúc đó, anh Lâm nói chõ qua cánh cửa sổ che màn xanh:

-Phú, ra anh biểu. Anh mới đi càn ở Dương Xuân về đây.

Nét mặt của chị Phú hốt hoảng. Chị bỏ rơi cái nón xuống chân bàn, chạy ra phòng ngoài:

-Thật hả anh?

Anh Lâm làm chủ tình thế, chậm rải, thản nhiên:

-Ờ, lâu lâu hành quân miệt đó một lần, chớ thiệt với giả gì?

Giọng chị Phú nóng nảy hơn:

-Có gặp nẫu không?

Anh Lâm cười ha hả:

-Mầy nói huỵch tẹt là có gặp chồng mầy không, chớ giấu giếm làm gì? Sợ tao bắn chết chồng mầy hả?

Chị Phú không chịu đựng được nữa, chạy vào buồng khóc tức tưởi.

Quang tìm cách an ủi chị:

-Chị đừng sợ. Anh ấy hành quân trong đèo mà. Chị cứ lo sợ vẩn vơ, ảnh bắt chẹt doạ nạt hoài.

Chị Phú quay lại lấy tay áo lau nước mắt. Cánh tay đưa lên, chiếc áo cụt may bó sát vào thân hình nẩy nở của chị bị kéo theo, vết xẻ quá cao để hở khoảng hông trắng. Chị bắt đầu tin tưởng lời Quang, nên xoay sang hỏi em:

-Mấy chị em mình mồ côi mồ cút, chỉ còn có Út may mắn được đi học. Vậy mà em còn làm các thầy phiền lòng, giận dữ, đến nỗi bị đuổi không cho học nữa. Sao vậy Út?

Quang đứng im không biết giải thích thế nào cho chị Phú hiểu. Làm sao cho chị hiểu rằng riêng cá nhân Quang, Quang không thấy có điều gì ấm ức bực bội đối với các thầy. Quang vẫn luôn luôn hết lòng tôn kính những người mà Quang tin là những nhà nho lạc loài. Quang chỉ nói giùm cho các bạn, nói giùm cho cả một thế hệ. thế hệ? Niềm hoang mang trước tương lai? Sự an nhiên của người lớn? Với một người đàn bà suốt ngày lo buôn bán tảo tần để nuôi đứa con mười tuổi, sống chật vật kham khổ từng ngày, những vấn đề ấy có lẽ vô nghĩa phù vân như một ngày không rượu của anh Lâm. Làm sao cho chị hiểu lúc này đây, Quang chỉ lo sợ cuộc đời mình cũng cần cù nhẫn nhục, lặng lẽ trôi đều như ánh đèn đá xe mì âm thầm trên đường khuya, giữa hai hàng cây thiêm thiếp ngủ. Làm sao nỗi lo sợ của chị giống nỗi lo sợ của Quang, sợ cái nhìn thương hại bao dung của những người đã từng một lần cuồng say, mệt mỏi ê chề.

Sự im lặng của Quang khiến chị Phú hiểu lầm, tưởng em đã thành thực hối hận. Chị bảo Quang lại ngồi với chị đằng cái giường gỗ, và tỉ tê:

-Nếu bấy giờ Út đủ khôn lớn để nghe mẹ trăn trối, Út đã lo học hành chăm chỉ. Lúc đó anh Lâm chạy lại nhà bác Chấn mượn tiền đi bổ thuốc. Cái bệnh ho của mẹ làm nhiều ông thầy bó tay, băn khoăn. Không biết phải làm gì cho dứt tuyệt một lần. Ở nhà quê mình cứ gọi là bịnh ho tổn. Mẹ mệt nhọc lắm, chị đoán là khó qua khỏi đêm ấy. Mẹ bảo bồng em vào, lấy tay xoa xoa lên má và vuốt tóc em. Mẹ khóc không thành tiếng. Chỉ có nước mắt chảy ra thôi. Mẹ dặn chị rán thưa với chú Bảy hay bác Chấn cho em đi học. Mẹ biết anh hai giỏi làm lụng cày bừa, nhưng học hành thì chậm lắm. Mẹ hy vọng nơi em. Mẹ cứ rán nhắc đi nhắc lại: hai đứa con tìm cách cho thằng Út học hành như các cậu bên ngoại. Cha mày ỷ y gia tài ruộng đất, đến lúc thời thế xoay đổi, phải đem thân đi nhờ cậy anh em. Nhục lắm con!

Quang cảm động, không còn nghe thấy tiếng nói chuyện ồn ào từ nhà ngoài. Chị Phú vẫn thút thít:

-Em biết tại sao mẹ cưng em nhất không? Tính anh hai, gàn bướng ngỗ nghịch ngay từ nhỏ. Mẹ suýt chết khi sinh con đầu, nên ít thương anh ấy. Chị thì là con gái. Mẹ sợ lại khổ thân như mẹ. Sau chị, mẹ sinh liên tiếp bốn em nữa, nhưng đứa nào cũng òi ọp chết lúc mới ra đời hay được vài tháng. Mẹ cầu khấn mãi, xin trời cho thêm đứa con trai nữa. Chưa sinh em ra, mẹ đã xin sẵn bùa. Lại năn nỉ gửi em cho nhà chùa. Út biết không, mẹ khóc vì sung sướng khi chị nói cho mẹ hay em là con trai. Vậy mà em cứ lo ăn chơi, không chịu học hành, đến nỗi bị đuổi.

Quang thấy không thể tiếp tục giữ im lặng. Bằng bất cứ giá nào, cũng phải giải thích cho chị Phú yên lòng. Quang không học hành bê bối, và chắc chắn không thể hỏng thi như mấy đứa khác ở quanh xóm chị Phú.

Quang nói:

-Không phải em bị đuổi vì lười học hay vì vô lễ đâu chị. Làm sao nói cho chị hiểu bây giờ? Có nhiều điều khó nói quá. Như cách anh hai cư xử với chị chẳng hạn. Ban đầu em tưởng ảnh ghét chị. Biết trung đoàn 120 trở về Nam hoạt động vùng Dương Xuân, hễ gặp chị đâu, anh hai cứ đem chuyện hành quân ở Dương Xuân ra doạ. Sau dần dà em mới hiểu. Một lần anh hai say đến quá khuya. Lúc tỉnh dậy, em lấy khăn ấm lau nước dãi quanh cổ và miệng cho anh hai, múc nước cho anh hai súc miệng. Anh hai ậm ừ không nói gì như thường ngày. Em hỏi anh hai có mệt không. Anh hai lắc đầu. Em đem cái áo mới giặt cho anh hai thay. Anh hai cầm áo tần ngần, rồi ôm em mà khóc. Anh hai nói không thể chịu nổi tai ách hách dịch của mấy tên chỉ huy. Anh hai đã quá chán với nghiệp lính. Anh hai ôm em mãi, khóc hức hức như con nít. Em nói anh hai còn say, rượu chưa dã hết. Anh hai nói không, anh tỉnh lắm. Anh phí cả đời anh vào những trò lố lăng thô lỗ. Hậm hực tàn nhẫn với cả hai đứa em. Gặp con Phú đâu, anh cứ đem chuyện hành quân giết Việt Cộng ra doạ nó đấy. Còn ở đây, anh cứ nhậu nhẹt la hét om sòm, Út có học được đâu. Mẹ mà còn sống, chắc mẹ đã vác gậy đuổi anh ra khỏi nhà như thời nhỏ. Nhắc tới mẹ, anh hai càng khóc to hơn, hai ba lần ôm đầu kêu: “Mẹ ơi! Mẹ ơi!” Em đỡ cho anh hai nằm xuống giường, bỏ mùng cho anh hai. Sáng hôm sau tỉnh dậy, anh hai chắc còn nhớ giây phút thổ lộ tâm sự đêm trước, nên tránh mặt không nhìn em nữa.

Vừa lúc ấy, ngoài phòng trước có tiếng dằn ly trên mâm nhôm, và tiếng vỡ loảng xoảng. Hai chị em im lặng nhìn nhau. Lại vẫn giọng anh Lâm, lè nhè cộc cằn:

-Mẹ ơi! Cả trung đội đứng tim hết. thằng nhãi mới ra trường ý chừng để cảnh giác binh sĩ, cứ nhắc đi nhắc lại đây là vùng Việt cộng trăm phần trăm. Coi chừng mìn bẩy. Coi chừng hầm chông. Coi chừng bắn lén. Đứa nào đứa nấy thất sắc. Nhất là mấy đau71 đi trước. Chiếc giày vừa giở lên, định dậm xuống một chỗ đất mới, đã rùng mình muốn rút lại vì tưởng tượng cái ngòi nổ hay hố chông bên dưới. Đứa đi sau gắng bước đúng dấu chân đứa đi trước. Cảnh tượng giống một lũ sợ vợ về khuya hay một toán hát xiệc đi dây. Khôi hài đéo chịu được! Nhưng bây giờ nói thế, chớ lúc đó tao cũng sợ xanh mặt. Từ chín giờ cho tới mười một giờ, cả đại đội mới tiến được nửa cây số đường đất. Ở đó lại toàn đồng không mông quạnh, đi ngờ ngờ có khác nào tấm bia sống cho Việt cộng. Mãi đến 12 giờ mới vào tới làng.

Một giọng ồ ồ hỏi Lân:

-Thiệt mấy con, được mấy con?

Anh Lâm tiếp:

-Con gì? Ngu bỏ bà! Tao không tả ra, tức là không có. Đánh đấm gì đâu! Vào trong mấy hàng tre, đến giữa xóm, mới biết chẳng phải là làng chiến đấu chiến điếc gì hết. Tất cả dân làng đã bỏ đi từ lâu, nhà cửa đã dột nát, vườn tược cây cối um tùm. Tụi tao giở luông khô ra ăn. thằng truyền tin đang lo báo cáo tình hình, xác nhận toạ độ. Vừa mới thiu thiu, cả trung đội giật mình chụp lấy súng nằm ẹp xuống. Có tiếng động lạ phía bụi cây. Tao nằm tênh hênh giữa cái sân cao, sợ teo luôn. Tiếng sột soạt vừa nghe rõ mồn một đó, bây giờ lại không thấy gì. Vừa định ngồi dậy, lại nghe sột soạt trở lại. Nhãi ranh ra lệnh tiểu đội của tao tiến đến mục tiêu. tao nghĩ thầm: Thôi, lần này nhất định về với ông bà rồi. Cả mấy đứa bò nhẹ, trườn lên, mắt đăm đăm nhìn tới bụi rậm. Cả trung đội nín thở theo dõi. Khi tao định nhỏm dậy, xung phong cho xong cuộc, thì một bóng đen trong bụi chạy ra. Súng nổ ran. Trật lất. Nó cứ ụt ịt chạy tới.

Sau một tiếng vỗ đét vào vế, có giọng Thảnh hỏi:

-ĐM heo hả?

Lâm trả lời:

-Ừ, heo Cộng sản. Dân làng chạy hết bỏ heo lại, đương nhiên là heo Cộng sản. Heo nhà mà lông dài và nanh mọc như heo rừng, thế mới kỳ. Cả tụi thở phào, hùa nhau bắt chú ị trói lại.

Cả mâm rượu cười rân, chị Phú và Quang cũng không ngăn được khỏi khúc khích. Chị Phú phác tay ý bảo dẹp chuyện lẩm cẩm đó sang một bên, nói với Quang:

-Chị cũng hiểu vậy, đâu có dám giận anh hai. Hồi nhỏ chị đã thấy cảnh anh bị mẹ hất hủi, nên hiểu vì sao tính ảnh lầm lì, đôi lúc cộc cằn điên khùng. Người ta chạy chọt đi được nghĩa quân, cảnh sát, ảnh vì vụng về mà kẹt lính. Ở Lam Sơn ra, người khác làm văn phòng, ảnh tác chiến. Người khác lên cấp, ảnh thì không. Nói mang tội, một phần do ở mẹ. Vô cớ, mẹ hất hủi ngay đứa con đầu. trông cái gương đó, bây giờ chị nâng niu chiều chuộng thằng Hiệp.

Quang hỏi:

-Cháu lâu nay vẫn thường chớ chị? Học lớp nhì đứng thứ mấy?

-Không biết. Nhưng mấy tháng nay, nhờ nó, chị làm ăn khá lắm.

Mắt chị Phú sáng rỡ, nét mặt hân hoan. Đáng lý Quang phải thấy điều đó ngay từ đầu. chị ăn mặc tươm tất chải chuốc hơn lúc trước. Cái quần lãnh bóng láng, chiếc áo cụt rủn ở vai và xẻ hông lên quá cao theo kiểu tân thời, đôi guốc nạm cườm giấu bớt đôi bàn chân đen tjho6 và mấy ngón hà ăn ngang dọc. Không chờ Quang hỏi, chị khoe:

-Nó học một buổi, buổi sáng. Buổi chiều, nó lấy tiền đi theo bọn con nít xóm chợ lên sở Mỹ gần phi trường. Tụi kia chui vào khiêng đồ hộp chuyển ra ngoài. Một thùng đồ ăn loại C bán có 300, một thùng có trái cây hộp thì 500. Thằng Hiệp trả tiền liền tại chỗ, rồi biểu tụi nó khiêng về nhà. Chị bán lại kiếm lời khi 200, khi 500, khi 1000. Có bữa chị kiếm lời cả 10000.

Quang thắc mắc:

-Kho tụi Mỹ canh gác cẩn thận lắm. Buổi chiều ngờ ngờ ai cho vào ăn cắp?

-Đâu có. Tụi nhỏ chờ tối mới lấy được. Kho ngoài phi trường chưa xây, đồ đạc để cả đống trên sườn đồi. Thằng Hiệp núp dưới gò vừa giữ giùm quần áo vừa mua ngay tại trận mấy thùng đồ hộp.

Quang cau mày hỏi chị:

-Tối nào cũng vậy sao?

-Ừ, cả tháng nay rồi. Cái kho đang xây. Chắc hơn tháng nữa mới xong.

-Thì giờ đâu cháu nó học bài?

Chị Phú lúng túng, nói qua quít:

-Nhiều bữa chị thức cháu dậy sớm. Với lại cũng gần hè rồi. Để nghỉ hè chị cho nó xuống đây Út kèm giùm. Răn dạy cho nó một chút. Chị sợ ở trên đó riết, nó hư…

-Tính thằng Hiệp hiền lành mà chị. Hôm Tết nó xuống đây, trông nhút nhát như con gái.

Chị Phú buồn rầu:

-Bữa nay nó khác nhiều. Nói thì còn biết nghe, nhưng đâu lại hoàn đó. Đôi lúc nó làm biếng, chị phải nhắc: Lúc ba đi, dặn má rán cho con học hành, dặn má đừng đánh thằng Hiệp con Định tội nghiệp…

Quang cắt ngang lời chị:

-Con Định nào?

Chị Phú giải thích, nét mặt có nét bâng khuâng mơ mộng:

-Ảnh dặn nếu sinh con trai thì đặt tên Hiệp. Sinh con gái thì đặt tên Định. Hiệp Định Giơ ne đó Út.

Cả hai chị em đều cười. Quang tò mò:

-Sao chị biết ảnh sắp ra Bắc mà cứ lấy?

Chị Phú cúi mặt, có vẻ thẹn thùng trước mặt đứa em nhỏ:

-Tiểu đoàn ảnh về đóng ở làng mình. Ảnh hát hay lắm, nhất là bài Nụ Cười Sơn Cước. Ảnh cũng… cũng dễ thương nữa. Chú thiếm không dám cản. Với lại lúc đó, trong bộ đội, ai muốn lấy vợ, chính phủ chẳng những không cấm đoán như trước mà còn khuyến khích nữa. Tiểu đoàn ảnh đóng ở làng mình có ba tháng, đã có gần hai chục cặp thành vợ thành chồng. Dễ dàng lắm. Hai đứa đưa nhau ra trước bàn thờ tổ quốc, chào quốc kỳ, thề gắn bó yêu thương nhau mà không quên nhiệm vụ trước mặt bác.

Khách uống nước trà ăn bánh ngọt. thế là xong.

-Hèn gì chị đặt tên Hiệp cho cháu. Chắc cậu ta sành chuyện mua bán lắm?

-Sành lắm. Sành nhiều thứ nữa: tập hút thuốc lá ở mép môi, tập nhổ nước miếng đánh xẹt một cái cho cao bồi, tập nói tiếng Mỹ…

Quang báo động:

-Chị coi chừng. Đi đêm lắm có bữa gặp ma. Ở dưới Qui Nhơn tuần trước, Mỹ nó bắn chết mấy thằng nhỏ vào phi trường ăn cắp đồ hộp.

Nét mặt chị Phú từ lo lắng, đổi sang hốt hoảng. Quang nhìn đăm đăm vào khuôn mặt đang cúi xuống, thấy rõ nét viết chì kẻ thêm ở đuôi chân mày, và vệt phấn vữa ra vì mồ hôi ở chân tóc. Cả Quang và chị Phú không nói gì. Hai chị em ngồi như thế không biết bao lâu. Quang vừa định lên tiếng bảo chị yên lòng về thằng Hiệp, đã nghe tiếng cười bên kia vách. Lúc nào cũng thế, tiếng anh Lâm luôn luôn lớn nhất.

-Tao nói láo làm cháu nội tụi bay. Chẳng lẽ đem về được mà sáng nay nhậu củ kiệu, xoài sống!

Một người hỏi:

-Chia mỗi đứa được bao nhiêu?

-Chia cái gì?

-Tụi bay bán con heo cho “bảy đáp” rồi chia tiền chớ chia gì.

-Mẹ ơi! Heo đâu mà bán! Tụi tao tiếp tục đi. Xóm bên cạnh cây cối nhiều hơn. Tre mọc hai bên đường cái, đứa nào cũng sợ bị phục kích hay bắn lén. Không thằng nào dám hó hé một tiếng. Vậy mà con heo cứ en ét kêu miết. Phát ớn luôn!

Giọng của Thảnh hỏi:

-Không bịt mỏ nó lại?

-Tại sao không? Mầy tưởng cả trung đội toàn đồ ngu hết sao. Tao lấy dây dù riết chặc hai cái hàm như cột chả giò. Nó vẫn kêu được, thế mới kỳ. thằng nhãi định thả ra, nhưng thấy tụi tao lăng xăng quá, không dám ra lệnh. Cả trung đội vẫn chậm chạp tiến giữa hai hàng tre. Giày bước thật nhẹ cho khỏi gây tiếng động. Và con heo vẫn kêu en ét. Thằng trung sĩ đề nghị lấy vải bịt mắt nó. “Nó tưởng trời tối, nằm ngủ một giấc quên kêu đi.” Tụi tao nín cười không được. Không tin, nhưng cứ thử.

Thảnh hỏi:

-Còn kêu hết?

-Ăn thua gì. Nó cứ kêu. Thằng nhãi tức giận bảo: Đem thọc huyết cho rồi. Cứ cái điệu này lộ mục tiêu, tụi nó phục kích chết cả đám.

Ông thượng sĩ già chậm rải giải thích: “Mấy ngày nay ăn toàn lương khô, thiếu uý. Lâu lâu có chút chiến lợi phẩm, anh em mới hăng hái. Giết heo bây giờ, thịt phơi nắng tới chiều, thúi là cái chắc.” Thằng nhãi đành làm thinh. Càng vào sâu trong xóm, cảm giác rờn rợn càng tăng. Cao heo khỏi thở dốc vì nắng, được trớn càng kêu to. Tao nhìn con heo, vừa tức giận, vừa tiếc rẻ. Đứa nào cũng muốn giết quách cho nó rảnh, nhưng lại tiếc của trời. Chỉ cần luộc sơ, lấy dao cắt chấm muối, phải biết. Miễn là cả bọn an toàn cho đến chỗ đóng quân định trước.

Người bạn nhậu không thể chờ đợi thêm, hỏi ngay:

-Tụi bay có việc gì không?

Anh Lâm không trả lời ngay, cả chị Phú và Quang cũng im lặng lắng chờ.

Sau một tiếng khà kéo dài, anh mới nói:

-Lảng xẹt! Có việc gì mà tao ngồi đây? Tụi tao về bãi đáp an toàn. Không thiếu một sợi lông. Râu tóc mọc tùm lum, vì cả tuần lội bùn không thằng nào thèm cạo. Thằng nhãi mừng hơn hết. Ra quân lần đầu mà không sát lính là may. Nó tới vỗ vỗ con heo, cười hí hửng. Tụi tao đứa đề nghị luộc, đứa đề nghị nướng, đứa đề nghị quay…

Chị Phú chợt nhớ chuyện bếp núc, hỏi Quang:

-Mấy giờ rồi em?

-Mười một giờ rồi chị.

-Lo cơm nước gì chưa?

-Em mới lên đây hồi chín giờ rưỡi trước chị khoảng một giờ. Để khách về hết hỏi anh hai có ăn cơm không, mua tạm vài cái trứng kho nước mắm.

Chị Phú trách:

-Ăn uống thất thường hèn gì hai anh em ốm như còng gió. Phải gởi tiền người ta đi chợ giùm chớ. Thôi chị về không kịp, để ở lại ăn trưa ở đây luôn. Gạo để đâu, chỉ cho chị nấu cơm?

Hai chị em dẫn nhau ra bếp. Tiếng cười rổn rảng vẫn dội xuống phía dưới. Quang chỉ cái thùng đạn đựng gạo cho chị Phú. Chị loay hoay không biết mở thế nào, Quang nói:

-Chị cầm cái quai sắt bên hông giật mạnh lên. Cái son để dưới giường. Để em đi múc nước.

Lúa Quang xách thùng nước về, chị Phú đã nhóm xong lửa trên cái rề sô. Khói đen bốc lên, chờ mãi ngọn lửa vẫn chưa xanh. Quang nghi ngờ:

-Chắc hụt dầu rồi chị. Chai dầu lửa dấu sau thùng giấy đựng rác. Thôi chị vo gạo, để em nhen cho. Em biết tật của cái lò nầy.

Lúc bắt xong son gạo lên lửa, chị Phú hỏi:

-Chỗ bán trứng gần đây không?

-Đầu bên kia dãy trại nầy. Quán của bà thượng sĩ.

-Để chị lấy tiền. Mua thêm hai hộp thịt ba lát ăn cho đủ.

Chị Phú lên giường mở cái xắc ni lông lấy tiền đưa cho em. Anh Lâm vẫn lớn giọng kể:

-Mẹ ơi, thiếu tá đâu có dám giỡn. Lãnh củ dễ ợt. Đứa nào đứa nấy mệt phờ, nhưng cũng đứng thật nghiêm. Thiếu tá đi thanh sát một vòng, bắt tay thằng nhãi rồi theo nó đi vỗ vai từng đứa. Tới chỗ tao, lão nổi hứng bắt tay khen ngợi điều gì không rõ.

Thảnh cười hô hố, lật tẩy:

-Ê, nghe không rõ mà mầy biết lão khen mầy?

Lâm cười lớn cho qua, kể tiếp:

-Bàn tay lão mềm nhũn. Tao biết lão làm cảnh, thối chí quá. Chợt lão chú ý con heo đang nằm quay lơ phía sau tao. Lão kêu thằng nhãi lại, hỏi:

-Heo đâu đó?

Thằng nhãi sợ xanh mặt, mới ấp úng được câu trả lời:

-Thưa thiếu tá, không phải của đồng bào. Tụi Cộng sản bỏ chạy, không kịp đem theo. Heo Cộng sản, thưa thiếu tá.

Thiếu tá gật gù:

-Tốt, tốt, các anh cừ lắm. Đã tảo thanh cả vùng, còn huỷ diệt nguồn lương thực của tụi nó nữa. Thiếu uý cho khiêng heo lại trực thăng của tôi. Đem về tiểu khu cho đại tá thấy.

Nhiều tiếng ồ lên ồn ào, không nghe được người nào nói câu gì. Chị Phú lại phác tay ngang qua trước mặt, ý bảo bỏ qua chuyện lẩm cẩm đó đi, rồi đưa hai trăm cho Quang:

-Em nhớ mua loại hộp mới. Mấy cái hộp phồng lên là hộp quá ngày hư rồi. Ăn đau bụng chết. Đừng có mua nghe chưa. Quang chọn mua thịt hao ngon hơn.

-Chị yên chí. Thịt heo Mỹ. Không phải heo Cộng sản của anh hai đâu.

Nguyễn Mộng Giác

(Nguồn Ý Thức số ?, năm 1971(?), đánh máy lại theo bản chụp của QuangTrungBìnhKhê)

Về Nguồn

nguyenmonggiac

Mở tivi định xem qua chương trình cải lương tối thứ bảy để quên nỗi bực dọc ở cơ quan, đồng chí thủ trưởng ban tuyển sinh đại học gặp ngay mục dự báo thời tiết. Khi hình bản đồ chữ S vừa hiện lên khung Tivi, xướng ngôn viên đã đọc bằng giọng đều đều ngái ngủ:
“Dự báo thời tiết cho đêm nay và ngày mai: Trời nhiều mây, buổi sáng có mưa lớn, trưa và chiều có thể có bão. Tin khí tượng cho tàu chạy ven biển: Khu vực thành phố Hồ Chí Minh và đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo: Tầm nhìn xa không quá 1 cây số, biển động đến động mạnh. Gió cấp 6 cấp 7, có nơi cấp 8… ”
Ông lặng người vì lo âu… Cô xướng ngôn viên đã dự báo đúng thời tiết của cơ quan ông. Nếu mỗi cơ quan có mùa xuân và mùa đông riêng cho mình, thì ban tuyển sinh đang ở mùa đông buồn. Làm việc tất bật, gần như vật lộn với đống hồ sơ mà không tìm được chút ánh sáng le lói ở cuối đường hầm. Kỳ họp tổng kết công tác nào cũng bị đem ra kiểm điểm, chỉ trích. Cán bộ nhân viên đem cả cơm chiều vào ăn tại cơ quan để làm thâu đêm, mắt người nào cũng thâm quầng, thế mà việc đâu vẫn ì ra đấy. Điện thoại từ các trường đại học giục. Điện thoại từ trường trung học chuyên nghiệp hối. Phải làm thế nào gởi gấp cho họ bản tổng kết về thành phần lý lịch để kịp niêm yết danh sách trúng tuyển. Đại học bách khoa trễ hạn ba ngày. Y khoa 7 ngày. Sư phạm 11 ngày. Đại học tổng hợp 6 ngày. Ban tổ chức thành ủy đích thân xuống kiểm tra. Trên hối, dưới thúc, chẳng khác nào đe búa cứ nhè vào cái thân gầy của đồng chí thủ trưởng mà đập cho dẹp. Ông có xin thêm bên công an Thành một số chuyên viên đến giúp đỡ. Nhưng họ chỉ làm công việc đổ thêm dầu vào lửa, thứ lửa đã đủ nóng để đốt cháy sự nghiệp toàn thể nhân viên cán bộ ban tuyển sinh. Bằng đôi mắt nhà nghề, sau khi đọc qua các bản lý lịch của học sinh nộp đơn thi vào các đại học, các chuyên viên đã lập bản báo cáo thật bi quan. Đại loại họ phân chia các lý lịch ấy làm hai hạng:
Hạng thứ nhất gồm những bản lý lịch mù mờ cần phải được xác minh trước khi thu nhận ứng viên đó vào đại học. Không phải những bản lý lịch giả hoặc có tẩy xóa. Cũng có khuôn dấu đỏ và chữ ký của ủy viên thường trực hoặc chủ tịch phường xã ký đàng hoàng. Nhưng vì người phụ trách không nắm hồ sơ chính trị của nhân dân ở trong địa phương mình, nên lý lịch có nhiều điểm đáng ngờ. Chẳng hạn trên bản lý lịch do chính đương sự viết, phường xã chỉ ghi: “Chứng thực theo lời khai của đương sự”. Thử hỏi có đương sự nào dại dột đến nỗi khai tuột những điều xấu hoặc bất lợi của mình ra giấy trắng mực đen? Hoặc có nơi viết: “Đương sự hiện có hộ khẩu thường trú tại phường 19 chúng tôi”. Thừa! Rất thừa đến nỗi hóa ra lẩm cẩm! Có ai dám cấp sơ yếu lý lịch cho người không có hộ khẩu thường trú? Đã thế, ủy viên thư ký phường xã, vì không có trình độ chuyên môn, nên bỏ qua một số chi tiết thật quan trọng, không đòi hỏi đương sự xác minh trước khi đóng dấu ký tên. Có cậu khai cha làm cán bộ ở cơ quan X. Loại cán bộ nào? Từ A (nghĩa là từ ngoài bắc ) vừa được chuyển công tác vào nam, hay từ R (nghĩa là từ chiến khu) về thành? Thậm chí những người ở vùng tạm chiếm (không ai rõ thời Mỹ ngụy có gây tội ác nào không) vừa được tuyển làm công nhân viên là nhân viên cấp thấp của guồng máy kềm kẹp chính quyền Sài gòn cũng vẫn xưng là cán bộ. Tin vào những lời khai đó khác nào tin lời Thị Mầu! Có cô khai mẹ đang công tác tại Mặt Trận Tổ Quốc quận Y. Mặt trận à? Cái tiệm chạp phô chuyên trưng bày hàng mẫu đầy đủ thượng vàng hạ cám ấy, từ kẻ chuyên làm nghề tôn giáo cho đến tên sĩ quan ngụy vừa học tập cải tạo về nằm chờ vượt biên, mẹ đương sự thuộc dạng hàng kiểu nào? Công tác gì? Công tác trốn núp dưới cái dù Mặt trận để đỡ bị công an phường khóm lưu ý hay dịch vớ vẩn vài ba trang tài liệu chữ Anh chữ Pháp để vất vào xó? Anh chị em ruột đều là công nhân viên nhà nước ư? 99% công nhân viên tại thành phố đều là người được Cách mạng lưu dụng. Ân huệ nhà nước đến mức đó là tận cùng rồi, còn thừa chút nào đâu để san sẻ cho anh em! Cha đương sự đã chết xin khỏi cần khai nghề nghiệp địa chỉ? Sao lại khỏi cần? Tại sao chết? Chết bệnh? Hay hy sinh vì tổ quốc? Hay vì là ác ôn nên phải đền tội? Nói chung các bản lý lịch do ủy ban nhân dân phường xã chứng thực đều không rõ ràng, mà không rõ ràng tức là khả nghi.
Hạng thứ hai gồm những bán lý lịch do chính công an địa phương chứng ký. Loại này tránh được các điều mù mờ thường gặp ở loại thứ nhất, nhưng nhận xét và đề nghị ghi bên dưới đặt ban tuyển sinh vào thế ngặt nghèo. Cô Trần thị Dung có mẹ là Huyền Tôn Nữ Thu Trang và cha là Trần Bá Cảnh thời Pháp thuộc làm cai khố đỏ. Ỷ cha mình đã chết bệnh từ 1944, cô Dung chừa trống chỗ khai nghề nghiệp và địa chỉ hiện tại của thân phụ. Trưởng ban công an phường 17 quận 6 đích thân ghi thêm bằng nét chữ xấu “cai khố đỏ” vào ô nghề nghiệp, và “chưa kịp trả nợ nhân dân ” vào ô địa chỉ. Bên dưới tờ lý lịch có lời nhận xét: “Con của thực dân phong kiến, đề nghị cho đi cải tạo lao động”. Gia đình vừa có con em đi lính ngụy vừa có người theo cách mạng như hầu hết gia đình miền nam ư? Phê ngay: “Nửa nạc nửa mỡ. Gia đình thuộc thành phần lưng chừng”. Một ứng viên hãnh diện khoe có anh đã từng tham gia tranh đấu trong phong trào sinh viên thành thị và từng bị Mỹ ngụy cầm tù. Nhưng qua đôi mắt nhà nghề, trưởng ban công an xã liền hỏi trên giấy khai sơ yếu lý lịch: “Trong tù có phản bội đầu hàng địch không? Cần xác minh trước khi thu nhận”. Tóm lại, trong hạng thứ nhì, hầu hết ứng viên đều trở thành kẻ thù của nhân dân, hoặc có thể đã là kẻ thù, kẻ phản bội.
Chỉ còn một số ít học sinh con em cán bộ từ Bắc vào hoặc từ bưng biền ra là có lý lịch rõ ràng, trong sạch. Số này lại quá ít, không đủ số định tuyển cho các đại học. Làm thế nào bây giờ? Bươi đống lý lịch kỹ chừng nào, công việc chậm chạp phiền phức chừng nấy. Mà không bươi không được. Đồng chí thủ trưởng nghĩ nát óc, vấn kế đủ mọi nơi mà chưa tìm được lối thoát.
Sáng hôm qua bị điện thoại thúc quá, ông định làm liều. Cho tốt hết. Rồi đề nghị suốt thời gian theo học, hiệu trưởng các trường dần dần cho xác minh lý lịch và loại những kẻ gian dối, man khai. Chưa kịp làm ẩu thì chiều hôm qua, Thành ủy đã gọi lên lưu ý tình trạng học sinh đại học bỏ trường vượt biên hoặc đã tốt nghiệp lại bỏ cơ quan ra bán chợ trời ngày một đông. Đồng chí bí thư gay gắt bảo: “Các đồng chí lo tuyển sinh tức là làm cái phần chọn giống. Phần quan trọng nhất đấy. Tương lai đất nước, tiền đồ của dân tộc nằm gọn trong tay các đồng chí. Các đồng chí làm ăn thế nào mà kết quả đáng ngại đến như vậy? Phải xem xét lại từ đầu. Từ đầu nghe chưa? Các đồng chí có hiểu tôi nói “từ đầu” nghĩa là gì chưa? Không. Không phải từ ban đầu! Từ “cái đầu” của các đồng chí đấy! Lập trường các đồng chí đã chao đảo chưa, phải rà lại cho kỹ. Nếu lập trường cách mạng vững, mắt các đồng chí sẽ sáng. Không có con em kẻ địch nào lọt vào đại học được đâu”.
Ðúng là một bản dự đoán thời tiết xấu cho cơ quan ông: “Tầm nhìn không xa quá 1 cây số”cho nên thế nào chiếc thuyền ông đang lái cũng gặp “gió cấp 7, cấp 8 “. Mưa lạnh, bão lớn sắp vùi dập sự nghiệp của ông sao?
Tối hôm ấy, Tivi chiếu lại tuồng “Thái hậu Dương Vân Nga “. Thái hậu Thanh Nga đã bị bọn cướp tống tiền bắn gục trên chiếc xe nhà ở đường Ngô Tùng Châu nên thái hậu Bạch Tuyết ra đóng thế. Tài tử đẹp, phông cảnh tráng lệ đắt giá, giọng ca điêu luyện! Nhưng vì mải lo nên đồng chí thủ trưởng chỉ xem lơ mơ. Ông khâm phục tài ba của các nghệ sĩ cải lương miền Nam tuy trong thâm tâm vẫn lợn cợn mối ác cảm với cô đào Bạch Tuyết. Một nhân viên lưu dụng của ông có mách rằng có lần Bạch Tuyết đã đội mũ lính GI xâm lược lên đầu để chụp hình đăng trên tờ Stars and Stripes. Tại sao lại chụp hình chung với lũ đế quốc, lại còn đội mũ mãng để quảng cáo cho chúng! Nhất định chúng đã chua thế này dưới bức ảnh: “Nghệ sĩ cải lương ưu tú nhất VN chào mừng các chàng GI”. Tại sao một đoàn ca kịch cải lương quốc doanh như đoàn Trần Hữu Trang lại thu dụng Bạch Tuyết? Tại sao Sở Văn hóa Thông Tin lại cho phép Bạch Tuyết lên Tivi? Lập trường của họ chao đảo rồi chăng? Những câu hỏi ấy khiến ông xem cải lương mất thú. Cuối cùng, ông chỉ khâm phục mỗi một mình tác giả kịch bản là Trúc Đường. Tài thật! Biến một người đàn bà lăng loàn may mắn được bọn sử quan phong kiến bỏ qua không hỏi tội ngoại tình thành một người phụ nữ ái quốc thức thời! Giới viết lách lách tài thật! Dẻo và khéo quá! Việc khó đến thế họ còn làm đưọc, còn ông? Ông nhớ đến bốn câu thơ của Bác:
Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Dời núi và lấp biển
Quyết chí cũng làm nên.
Việc ông đâu có khó? Bác đã thì thầm nhắc ông: Vì lòng không bền và chưa quyết chí nên ông lo âu đấy thôi! Vả lại cách mạng là sự nghiệp chung. Tại sao ông không tham khảo ý kiến các cơ quan bạn, như Viện Qui Hoạch, như Phòng tổ chức Thành ủy. Phải rồi. Ông có một người bạn thân hiện làm Viện trưởng Viện Qui Hoạch. Ông lú lẫn quá. Tại sao không hỏi ý kiến ông ấy. Tìm được giải pháp tốt, đồng chí thủ trưởng yên tâm đi ngủ. Lần đầu tiên từ 8 tháng về làm thủ trưởng ban tuyển sinh, ông ngủ ngon giấc.
***
Đúng một tuần sau cũng vào tối thứ bảy, đồng chí viện trưởng viện qui hoạch trung ương bồn chồn đi ra đi vô căn phòng rộng 20 mét vuông của mình ở đường Lý Nam Đế. Không khí nóng bức. Bên ngoài mây đen thấp xuống đe dọa những bóng đèn lù mù. Khi trời bắt đầu đổ mưa và gió dữ, ông phải đóng kín cửa lớn cửa sổ lại, và ngồi ở cái bàn con cạnh giường ngủ của vợ. Bên kia tấm màn vải hoa đã bị ố vài nơi vì mưa dột, ba đứa con ông đã ngủ say. Vợ ông có ý chờ xem tuồng chèo cổ thường chiếu trên Tivi vào mỗi tối thứ bảy, nhưng khi nghe loan báo có thay đổi chương trình vào phút chót do “sự cố kỹ thuật”, bà lật tờ Phụ Nữ Việt Nam xem qua loa rồi cũng ngủ nốt. Chỉ còn một mình đồng chí viện trưởng thức khuya. Bạn bè ông kháo nhau rằng vở kịch “Erostrate kẻ đốt đền” do Đoàn kịch nói trung ương trình diễn hay lắm, thâm lắm, nên ông rán chờ xem cho biết. Không phải ông bồn chồn chờ xem kịch. Ông không ái mộ nghệ thuật đến độ ấy. Ông chỉ muốn tìm cách nào đó để tạm quên chốc lát các điều phiền phức khó khăn ở viện.
Lúc vặn nút Tivi, ông gặp đúng mục Dự báo thời tiết “Trời ít mây. Buổi sáng có mưa vài nơi, buổi chiều trời nắng tốt. Tin tức khí tượng cho tàu chạy ven biển. Vịnh Bắc bộ: Tầm nhìn xa khoảng 10 cây số. Biển hơi động đến động. Gió cấp 2, cấp 3. Có nơi cấp 4… ”
Đồng chí viện trưởng hơi vui vui, gật gù nói một mình: “Bọn khí tượng thủy văn làm việc tiến bộ đấy chứ. Không bù với lúc trước lúc nào cũng dọa mưa với bão”.
Ông cảm thấy phấn chấn, quên hẳn vở kịch Liên Xô Người đốt đền và trở lại bàn làm việc. Ngọn néon 4 tất đêm nay như sáng hơn các đêm trước. Ông di di đầu bút bi vào miệng giấy thấm chuẩn bị ghi lại các đề nghị của mình thì điện cúp. Cúp thì cúp, cần gì. Lòng ta hồ hởi, chí ta bền, đèn dầu hỏa hay đèn néon ta vẫn làm việc được. Ông vừa húyt sáo vừa thắp cây đèn bão hiệu Minh Hoa của Trung Quốc.
Ngọn đèn vừa đủ soi sáng bao nhiêu vấn đề nan giải đang trải ra trước mặt ông. Phải làm sao đây? Không phải ông đã quên béng cái chìa khóa thần kỳ có thể mở tất cả mọi cánh cửa đóng: “Nắm vững chuyên chính vô sản, phút huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật và cách mạng văn hóa tư tưởng, trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt”. Ông nhìn quanh, lo ngại nhìn về phía vợ, rồi nói thầm: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!” Biết từ bao nhiêu năm nay, nhưng tại sao bao nhiêu chuyện cực nhọc hóc búa cứ đùn về cho viện ông? Tại sao năng suất đã không tăng còn giảm dần theo mức độ đáng ngại? Tại sao ở các hợp tác xã nông nghiệp, xã viên, và cả đảng ủy địa phương a tòng với nhau lén “khoán chui” đi ngược với chính sách nhà nước mà lúa nghĩa vụ đạt yêu cầu hơn các nơi theo đúng chính sách? Tại sao các kế hoạch thủy lợi ở các tỉnh phía nam đều vỡ, nhiều con kinh cấp l, cấp 2 tốn bao nhiêu công của đào lên lại phải lấp xuống? Tại sao đã ra chỉ thị dẹp bỏ các trạm thu thuế mọc như nấm trên đường quốc lộ mà trong chuyến vào nam vừa rồi, ông vẫn thấy mỗi tỉnh vẫn có luật thuế khóa riêng, giá cả nơi này chênh lệch quá xa với nơi khác? Tại sao đất hoang còn bỏ mặc cho cỏ lát cây dại mà dân thành thị vẫn sống bám vào chợ trời? Làm thế nào chận đứng nạn lãn công đang tràn lan khắp các cơ quan nhà nước và xí nghiệp quốc doanh? Làm thế nào chấm dứt hiện tượng xuất não nguy hiểm do phong trào vượt biên ồ ạt? Làm thế nào bài trừ tận gốc nạn tham nhũng? Làm thế nào hạ thấp số trại giam và tù nhân đang tăng vọt khắp nơi? Tại sao? Tại sao? Làm thế nào? Làm thế nào? Tại sao? Làm thế nào? Ông hốt hoảng hỏi liên tiếp và hãi hùng như tử tội hãi hùng nhìn chiếc máy chém. Ngọn đèn lụn dần trước mặt ông. Hết dầu rồi! Ông châm thêm dầu, và phải chờ khá lâu mới đủ ánh sáng đọc tiếp các đề nghị do viện qui hoạch địa phương và chuyên ngành gửi về. Tập công văn đề nghị dầy cộm, ông biết trước không cách nào mình đọc xuể. Phải tìm ra chiếc chìa khóa đơn giản và cụ thể hơn mới mong giải quyết được. Làm sao đây? Tìm ở đâu? Theo thói quen, mỗi lúc thối chí, ông ngước lên đọc bốn câu thơ của Bác do chính ông viết dán trước bàn làm việc:
Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Dời núi và lấp biển
Quyết chí cũng làm nên.
Phía trên cao, Bác đang mỉm cười khuyến khích ông. Cảm thấy yên tâm, ông lại moi óc tìm chìa khóa thần. Lúc đang lơ mơ suy nghĩ, mắt ông vô tình lướt qua lá thư của Tân, bạn cũ của ông, hiện làm thủ trưởng Ban tuyển sinh ở thành phố mang tên Bác. Ông đã đọc lá thư đó hồi sáng, đọc xong thấy khó chịu vì bạn ông lại nhờ ông trả lời những câu hỏi chính ông không trả lời được. “Tại sao như thế? Phải làm gì? Anh ở trung ương nắm vững đường lối chính sách (nhất là ở cơ quan có tầm nhìn chiến lược) mong anh giúp tôi. Phải nói đúng hơn là giúp chúng ta, giúp thế hệ thứ 4, thứ 4.5, thứ 5 để con cháu chúng ta có thể nối tiếp gìn giử thành quả cách mạng mà thế hệ tiên phong mở đường của Bác, thế hệ thứ hai của các chiến sĩ kháng chiến chống thực dân, thế hệ thứ ba chống Mỹ cứu nước đã đổ bao nhiêu máu xương mới đạt được”.

Rắc rối đây! Phiền nhỉ! Ông bạn xa thật láu cá! Dùng dao to búa lớn đế ràng buộc anh em, chơi độc thật!
Ðồng chí viện trưởng gạt hết xấp công văn sang một bên, đoc kỹ lá thư của ông Tân lần nữa. Đọc nửa chừng, ông reo lên:
A! Chìa khóa đây rồi! Sao ta lú lẫn thế! Chính Bác đã dạy: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Không lo đào tạo con người mới thì làm sao xây dựng thiên đường mới ngay trên quá đất này? Gợi ý của Ban tuyển sinh thành phố mang tên Bác thật đáng chú ý. Phải đặt vấn đề này lên ưu tiên hàng đầu.
Mừng quá, ông chạy đến lay vợ dậy. Bà vừa đi công tác ở nông trường bò giống Ba Vì trở về quá mệt nên nằm co quắp ngủ say, nước dãi nhểu cả ra mép. Viện trưởng thấy thế ngủ của vợ dễ thương, vệt nước dãi trở thành dấu hiệu của niềm vô tư thanh thản. Vợ ông càu nhàu gì đó trong miệng, rồi dụi mắt ngồi dậy. Ðồng chí viện trưởng lay vợ bảo:
– Mình ơi mình. Dậy tôi nói chuyện này hay lắm.
Vợ ông ngáp dài rồi hỏi:
– Cái gì thế? Có nhà ai cháy hở?
– Không! Tôi vừa tìm ra cái chìa khóa để giải quyết trọn vẹn bao nhiêu khó khăn trên toàn quốc. Mình thử nghĩ mà xem. Chỉ lấy đơn giản một trường hợp nhỏ: Làm sao cho các xã viên chịu sản xuất chứ không bỏ đi buôn chợ trời?
Bà vợ ngáp một cái thật dài nữa, rồi nói:
– Dễ quá. Có thế cũng gọi người ta dậy!
– Dễ à! Mình đáp đi.
Bà vợ bực mình ngồi ngay người nghiêm mặt hỏi chồng:
– Ðược. Nhưng trước hết mình trả lời tôi mấy câu hỏi ngắn thôi. Mình có thích ăn ngon không?
– Có. Ai lại chả thế.
– Mình có thích mặc đẹp không?
– Dĩ nhiên là có, nhưng…
– Khỏi cần thêm “nhưng, tại vì, tuy thế”. Mình có thích ngủ trên cái giường êm và ấm không?
– Có chứ, nếu…
– Khỏi cần “nếu”. Mình có thích ở biệt thự, có xe riêng không?
– Thì coi như có đi, dù rằng…
– Thôi đủ rồi. Trời sinh sao thì để vậy. Có ông thánh như Bác nhưng đời còn có nhiều người không phải thánh. Tại bắt mọi người làm thánh cả nên mới rắc rối.
– Lập trường em để đâu mà…
– Em có lập trường riêng dựa theo kinh nghiệm quan sát ở Viện nghiên cứu chăn nuôi. Trâu bò không có tư tưởng nhưng cách sống của nó cũng có “chính sách” đấy chứ.
– Mình nói gì tôi chẳng hiểu.
-Thôi em hỏi gọn lại: Anh tìm ra được cái chìa khóa gì nào?
Đồng chí viện trưởng hí hửng đọc câu danh ngôn của Bác, cho đó là chìa khóa mở tung cửa khó khăn của ông bạn Ban tuyển sinh.
Vợ ông trề môi hỏi:
– Nhưng muốn có toàn con người mới để xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải làm sao?
Viện trường bí, lí nhí lặp đi lặp lại:
– Muốn có con người mới… muốn có con người xã hội chủ nghĩa… muốn có con người cộng sản thuần khiết… thì ta… thì ta…
Vợ ông bật cười:
– Thì hãy bắt chước cách em vẫn làm lâu nay!
– Cách gì?
– Cách dùng tinh đông viên để lai giống. Trâu Mura Ấn Ðộ, bò sữa Liên Xô, heo Cuba mình chỉ xin có vài con, thế mà hiện nay khắp các nông trường chăn nuôi, đếm không xuể.
Viện trưởng hồ nghi rụt rè hỏi:
– Trâu bò làm thế được, chứ con người…
– Con người thì sao? Vẫn là một loại sinh vật như trâu bò thôi. Em nghe nói hồi xưa bọn quốc xã Đức muốn các bà vợ lính ở quê nhà vẫn tiếp tục sinh ra những chú quốc xã tí hon để nối nghiệp cha anh, cũng đã dùng cách gửi các lọ tinh khí từ mặt trận về. Bây giờ khoa học tiến bộ, dùng tinh đông viên tiện hơn.
– Nhưng anh Tân khổ sở về chuyện khác cơ. Chuyện xét lý lịch để tuyển các học sinh ưu tú và vững lập trường vào đại học.
Bà vợ đáp ngay:
– Thì giải pháp của em cũng giải quyết được. Ta dùng tinh khí của những người cộng sản chân chính đã kinh qua thử thách, thì lý lịch bên cha tất phải tốt. Việc còn lại là lựa chọn những bà mẹ “ba đảm đang”, những “chiến sĩ gái kiên cường”.
Gợi ý của bà vợ mới mẻ quá, táo bạo quá, khiến viện trưởng sững sờ. Ông ngồi chết lặng hồi lâu. Điều khó nghĩ cho ông, là đề nghị ấy vừa quá hợp lý, vừa không hề trái với các nguyên tắc bất khoan nhượng của chủ trương chính sách như : “chuyên chính vô sản”, như “phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”. Nó lại phù hợp với cuộc cách mạng then chốt là cách mạng khoa học kỹ thuật. Suy nghĩ hồi lâu, ông đành phải gật gù:
– Mình cũng có lý. Thôi ngủ đi. Mai tôi thử trình phương án đó lên cấp trên xem sao.
***
Do ngẫu nhiên, thứ ngẫu nhiên Marx bàn rất chu đáo trong duy vật sử quan, bộ chính trị họp khẩn cấp vào tối thứ bảy. Trong khi chờ đợi các đồng chí đến muộn, những người đến sớm mở tivi xem chương trình đặc biệt cuối tuần. Ngẫu nhiên lịch sử lại khiến mọi người gặp đúng mục dự báo thời tiết. Cô xướng ngôn viên có giọng ngọt ngào êm ái đọc chậm:
“Dự báo thời tiết cho đêm nay và ngày mai: khu vực Hà nội trời quang đãng, buổi sáng có mưa phùn lấm tấm, chiều nắng đẹp tuyệt vời. Tin tức khí tượng cho tàu chạy ven biển: Vịnh Bắc bộ: Tầm nhìn xa trên 10 cây số. Biển hoàn toàn lặng, gió nhẹ cấp 1, có nơi cấp 2… ”
Ðồng chí tổng bí thư bật cười khen:
– Sau mấy kỳ kiểm điểm, chúng nó có khá đấy chứ.
Câu chuyện sau đó nổ như bắp rang. Khác với tưởng tượng của quần chúng lao động vẫn nghĩ cung cách họp hành ở cấp cao giống như kiểu cung đình phong kiến, ở đây không khí hoàn toàn thoải mái thân mật. Cách sống và làm việc giản dị của Bác Hồ đã trở thành mẫu mực cho lớp học trò kế nghiệp Bác. Do đó phòng họp là phòng khách ấm cúng của đồng chí tổng bí thư, người nào thích ngồi ở đâu, ngồi thế nào tùy ý. “Tài liệu hồ sơ đặt trên bàn nước, lót dưới cái gạt tàn thuốc làm bằng vỏ máy bay B52, vất trên đống báo Nhân Dân, kẹp trong tạp chí Cộng Sản hoặc nằm trên ghế piano gỗ bóng màu huyết dụ. Ngoài hai đồng chí thư ký của ban bí thư ăn mặc nghiêm chỉnh luôn luôn giữ thái độ cung kính lễ phép, tất cả mọi người đều ăn mặc xuề xòa, áo sơ mi ngắn tay bỏ ngoài quần, chân mang dép Nhật. Các đồng chí lãnh đạo đều mạnh khỏe nên tuy ngoài trời mưa giông gió giật, khí hậu rét căm căm, mỗi người chỉ quấn sơ một chiếc phu-la len mỏng. Cách xưng hô thân mật gọi nhau bằng thứ hai thứ ba y theo lối ăn nói của một gia đình nông dân miệt vườn Nam bộ. Chẳng hạn không ai cung kính “Thưa đồng chí tổng bí thư”. Chỉ nói thật gọn: “Thưa anh Ba”. Thế thôi! Cấp lớn xưng tôi gọi chú. Cấp nhỏ hơn xưng em gọi anh.
Các ban bí thư và đặc trách bắt đầu báo cáo tình hình chung. Ngoại vụ có vấn đề bình thường hóa quan hệ với Mỹ và các kế hoạch hợp tác toàn diện với Liên Xô anh em. Tổng công đoàn có vấn đề giải thích hiện tượng “công đoàn gọi là Ðoàn kết” ở Ba lan và tiên đoán các hệ lụy của nó. Nội vụ có vấn đề tìm kinh phí phát triển các trại giam và bù đắp lương thực lạm chi cho số phạm nhân gia tăng. Nông nghiệp đề nghị thông qua phương án khoán cây lúa xuống đến từng hộ để cứu vấn nạn khan hiếm ngũ cốc. Công nghiệp cũng xin khoán sản phẩm và trả lương theo thành quả sản xuất được. Vì được bàn cãi nhiều lần nên các vấn đề tưởng như hóc búa ấy được cho qua giữa những tiếng cười, ngụm trà ngon và tiếng nhai kẹo lạc rôm rốp. Gần khuya mà chưa có ai thấy lý do vì sao “anh Ba” triệu tập cuộc họp toàn Bộ chính trị thật khẩn cấp này. Mọi người chờ, chờ, chờ… Ðến khi anh Ba nhắc khéo hai đồng chí thư ký nên về ngủ để bảo vệ sức khỏe, mọi người mới biết giờ phút nghiêm trọng của lịch sử dân tộc đã đến.
Chờ cho hai đồng chí thư ký ra về xong, đồng chí tổng bí thư mới thân mật mời mọi người kéo ghế lại gần, rồi nói:
– Vấn đề này vừa quan trọng vừa ngộ nghĩnh, theo lối nhìn của từng anh em. Tôi thì không xem nhẹ nó chút nào, nên mới có cuộc họp này. Tôi phải bàn kín với anh em trước, rồi mới cho họp mở rộng sau. Việc tuy chung mà riêng vì liên quan đến sức khỏe và ý chí, tâm tình từng người, riêng mà hóa chung vì có ảnh hưởng đến nhiều thế hệ. Chẳng những thế hệ thứ 4, thứ 4.5 như anh em thường nói đùa, mà có thể kéo dài đến thế hệ thứ 10, thứ 20. Để anh em được về nghỉ sớm, tôi đọc ngay phương án của Viện Qui Hoạch.
Anh Ba đọc xong, rất nhiều người ngẩn ngơ không hiểu mình đang nghĩ gì, sắp nên nói gì. Lâu về sau, có người thì thào:
– Họ đề nghị thật như thế ư?
Người thì hỏi:
– Họ nghiêm chỉnh đấy chứ?
Người thì hàng hai dò đường:
– Kể ra cũng không có gì sai chính sách lắm!
Ðồng chí tổng bí thư nói:
– Tôi đã đọc kỹ các sách kinh điển, và quả thật nhận thấy phương án không đi ngược với học thuyết Mác Lê. Nhìn theo đôi mắt duy vật biện chứng, nó còn phù hợp với đòi hỏi của lịch sử là đằng khác. Vấn đề chính là anh em ta có dám thực hiện hay không. Tôi tin rằng khi đồng chí Lénine đọc xong bộ Tư bản luận của đồng chí Karl Marx, đồng chí Lénine cũng ở cùng tâm trạng của chúng ta đêm nay. Dám hay không dám, đó là vấn đề.
Anh Ba nói xong nhìn quanh khắp mọi người. Chẳng hiểu do buồn ngủ, do lạnh, hoặc do hoang mang trước phương án táo bạo, mà mọi người đều ngồi co ro, hai vai so lại trong chiếc áo mỏng, dáng ủ rũ như những cụ già về chiều. Anh Ba chợt nhớ mọi người đều đã già, nhỏ nhất cũng trên 60, có người đi quá cái tuổi “cổ lai hi” từ lâu lắm. Một người vừa ho húng hắng vừa phều phào hỏi:
– Họ đề nghị làm thí điểm như thế nào?
Anh Ba lật qua nhiều tờ giấy, đến tờ cuối mới đáp:
– Có đây. Họ ghi vào phần phụ bản. Dĩ nhiên những người cha lý tưởng phải là các bậc cách mạng lão thành đã kinh qua nhiều thử thách, và có sức khỏe dồi dào.
Người vừa hỏi quên giữ ý, ngây thơ nói:
– Sức khỏe của chúng ta, của anh em ta, tôi sợ…
Anh Ba lừ mắt hỏi lại:
– Sức khỏe chúng ta thế nào? Chủ Tịch Mao trên 70 còn bơi nổi qua sông Dương Tử. Chẳng những bơi nổi, mà còn bơi nhanh hơn cả bọn trai tráng nữa. Ðáng lý chúng ta cũng phải làm cái gì tương tự như vậy. Đây cũng là một thử thách về ý chí cách mạng, đồng chí nhớ cho!
Từ lúc anh Ba gọi anh em bằng hai tiếng “đồng chí”, không khí trong phòng trang trọng nghiêm túc hẳn lên. Phương án được thông qua nhanh chóng. Dáng ngồi, cách nói của từng người trở nên trẻ trung, vững chãi, hùng hồn. Vấn đề còn lại là tìm những người cha lý tưởng cho thế hệ sau thế hệ thứ tư hiện tại. Người thứ nhất đề nghị giao cho các đồng chí tỉnh ủy viên. Ý kiến bị bác bỏ vì như vậy cuộc thử nghiệm sẽ mở rộng trên qui mô cả nước. Liệu dư luận quần chúng chưa tiến bộ, guồng máy chiến tranh tâm lý của bọn phản động, óc hẹp hòi bảo thủ của giới tu sĩ, và dư luận thế giới có để yên cho không? Trung Nam Hải, Hoa Thịnh Đốn, Rangoon, Kuala Lampur, Singapore, Jakarta, Manila, Roma, và có thể cả Mat-cơ-va nữa, sẽ nghĩ thế nào? Người thứ nhì nâng lên cấp trung ương ủy viên. Vẫn còn nhiều quá, thế nào cũng có lời ong tiếng ve. Dĩ nhiên làm kẻ khai phá bao giờ cũng đơn độc và thường bị đàm tiếu. Nhưng quan hệ ngoại giao hiện đang bất lợi không cho phép quá liều lĩnh. Ý kiến thứ ba đề nghị thu hẹp vào ban bí thư. Bàn qua tán lại cuối cùng chỉ còn một lối thoát độc nhất: “đã đứng mũi phải chịu sào”, đã đủ ý chí chiến thắng những cuộc thử thách đối đầu với bao nhiêu tên đế quốc sừng sỏ đủ màu đủ cỡ từ Nhật, Tàu, Tây, Mỹ cho đến bọn bành trướng Trung Nam Hải hiện nay, thì phải dư ý chí chiến thắng cái thứ thử thách cỏn con này.
Chân lý cách mạng quá đơn giản. Mọi người tuy trong lòng phần bực, phần lo, phần tức cười, nhưng ngoài mặt ai ai cũng tỏ ra lạc quan tự tín. Đồng chí tổng bí thư nhìn lên ảnh Bác, giọng bâng khuâng:
– Tiếc quá, nếu Bác còn sống với anh em chúng ta…
Những người còn lại đã từng nghĩ như đồng chí tổng bí thư, nhưng không đủ thế để nói ra một điều dường như bất kính, bấy giờ được dịp phụ họa:
– Ừ nhỉ! Giá Bác còn sống!
– Phải rồi. Được có Bác thì…
Rồi nghĩ đến sự yếu đuối chùn bước trước thử thách, không hẹn họ cùng hướng về phía bức sơn mài mầu đen có khảm xa cừ bốn câu thơ quí giá:
Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Dời núi và lấp biển
Quyết chí cũng làm nên.
Họ ra về lúc đã quá khuya. Xe của từng người có gắn máy sưởi ấm nhưng ai nấy đều lạnh run. Một phần khí hậu Hà nội không đúng như bản tin thời tiết đọc trên tivi, một phần do họ cứ lo âu vu vơ.
***
Phương án thử nghiệm được thực hiện đúng như đề nghị của Viện Qui Hoạch. Phòng tinh đông viên thuộc Viện nghiên cứu chăn nuôi trung ương được bí mật giao thêm một công tác mới. Hội Phụ Nữ Trung Uơng khẩn cấp họp kín để tranh cãi bình bầu 14 bà mẹ lý tưởng. Ở đây, hội phụ nữ đã gặp quá nhiều khó khăn khách quan. Luật sinh vật học dám ở ngoài biện chứng pháp nên không cho phép những chiến sĩ gái luống tuổi từng kinh qua nhiều thử thách có thể thụ thai, nên bắt buộc phải lựa chọn các phụ nữ dưới bốn mươi tuổi. Họ thuộc thế hệ thứ ba, thế hệ chống Mỹ cứu nước. Một số khá lớn từng sống nhiều năm trong rừng để làm hết đường mòn Hồ chí Minh bên Trường sơn tây lại đến Trường sơn đông, nên bị sốt rét kinh niên, tức là không hội đủ tiêu chuẩn sức khoẻ. Số xinh đẹp khoẻ mạnh lại bị mang tiếng lập trường chao đảo không dám xung phong đi B. Số ốm o vì từng bị tra tấn trong nhà tù Mỹ ngụy. Số quá to béo vì làm việc lâu năm ở cửa hàng thương nghiệp hoặc nhà hàng ăn uống quốc doanh. Số quá trẻ để có thành tích nghĩa là có lý lịch tốt. Số quá già để đủ sữa nuôi con.
Kình cãi gấu ó nhau mãi, cuối cùng Hội phụ nữ đã phải nhờ đến máy tính điện toán. Lựa cho được 14 người mẹ khó thật.Máy vừa lựa xong, một trở ngại mới lại xuất hiện: 7 trong số 14 người phụ nữ may mắn đã đăng ký ứng tuyển khi chưa hỏi ý kiến chồng. Gia đình suýt có cơ tan vỡ nếu 7 ban thư ký công đoàn không vội vã đến gặp 7 ông chồng cổ hủ để vừa giải thích, vừa đe doạ,.,vừa vuốt ve. Sức người hợp với sức máy cuối cùng đã hoàn thành sứ mệnh chu đáo.
Bộ Y tế phối hợp với Hội Bảo vệ bà mẹ và trẻ em chuẩn bị đầy đủ các phương tiện thăm thai, bảo vệ thai, đỡ đẻ, nuôi trẻ sơ sinh. Bộ Giáo dục chuẩn bị mở các lớp đặc biệt dành cho trẻ em xuất sắc. Một Ủy ban đặc biệt được thành lập để phối hợp công tác, theo dõi đôn đốc phần vụ các ngành ban cho nhịp nhàng và có hiệu quả cao nhất. Tóm lại, mọi sự đều sẵn sàng đến mức tối hảo, tối tối hảo.
Viện nghiên cứu chăn nuôi cử 14 chuyên viện xuất sắc nhất của Phòng tinh đông viên đến Hà nội lãnh công tác đặc biệt. Trước đó, họ được dự một khoá học tập chính trị 21 ngày, mỗi ngày được hưởng phụ cấp bồi dưỡng 50 đồng. Ăn ở tại khách sạn dành cho khách quốc tế. Đi lại có xe con của Bộ nội vụ. Họ phải tuyên thệ giữ bí mật trước khi nhận công tác.
Phương án sơ khởi của Viện qui hoạch chỉ có hai trang giấy đánh máy hàng đôi cỡ 21 x 27. Nhưng sau khi triển khai đầy đủ phương án gốc, tập tài liệu dày đến 200 trang đặc cỡ chữ nhỏ.
Tuy nhiên phương án chi tiết này quên một điểm then chốt: đó là quyết tâm của các đồng chí lãnh đạo trong Bộ Chính trị. Sau cuộc họp khẩn tối thứ bảy hôm đó, về đến nhà, các vị mới thấy mình vừa chấp nhận một cuộc thử thách kỳ cục. Kể cả đồng chí tổng bí thư. Nhưng ai là người đầu tiên dám thú nhận mình không còn đầy đủ sinh lực để tiếp tục hi sinh cho cách mạng? Ai? Mao Trạch Đông còn dám bơi qua sông Dương Tử giữa ban ngày trước mắt hàng triệu triệu người. Còn mình? Chỉ gắng sức một tí ở chỗ không có ai trông thấy, mà hiệu quả tuyên truyền chẳng kém gì hành động ngoạn mục của họ Mao, tại sao không dám làm?
Phải làm, tuy vẫn thấy kỳ cục, đó là vấn đề.
Cho nên có vị bèn nhờ anh tài xế lái xe riêng cho mình. Có vị đi nhờ anh cần vụ. Anh cần vụ không hiểu gì ráo vẫn thấy kỳ, đi nhờ lại những chỗ làm ăn ơn nghĩa lâu nay với anh, như cửa hàng trưởng cửa hàng lương thực đặc biệt, như trưởng phòng thương nghiệp, anh phụ trách vật tư, thủ kho xăng dầu, công an kinh tế…nghĩa là các chức sắc cấp trung nắm trong tay rất nhiều tiền, và có trong óc rất nhiều kế móc ngoặc bọn cửa quyền để thủ lợi.
Kết quả cuộc thử nghiệm ra sao?
Chính xác lắm. Và các bạn đọc đừng ngạc nhiên khi thấy sang thế hệ thứ 4.5, thứ 5, thứ 6…những người kế nghiệp thực sự nắm quyền lãnh đạo đất nước là anh tài xế cán bộ thương nghiệp, cán bộ vật tư xăng dầu, công an kinh tế…
Cha truyền con nối theo huyết thống mà.

Nguyễn Mộng Giác

Mùa Vu Lan, Nghĩ Về Mẹ!

nguyenmonggiac

Ở cuối bài thơ Chùa Hương (Thiên ký sự của một cô bé ngày xưa) nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp ghi thêm mấy dòng dí dỏm “Thiên ký sự đến đây là hết. Tôi tin rồi hai người lấy nhau vì không Iấy được nhau thì cô bé còn viết nhiều. Lấy nhau rồi là hết chuyện.”
Nguyễn Nhược Pháp mất năm 24 tuổi, mặn nhạt chua cay của cuộc đời chưa nếm đủ, nên nhìn đời đơn giản và thơ mộng y như cô bé mười lăm theo mẹ đi chùa Hương. Ông tin rằng cô bé dễ thương rồi ra cũng lấy được anh chồng văn nhân ngẫu nhiên gặp trên đường hành hương. Lý do ông nêu ra, nghe mộc mạc tự nhiên như hai với hai là bốn: “’Lấy nhau rồi là hết chuyện!” Hết sao được! Cặp giai nhân tài tử ấy khi chưa lấy nhau được thì hồn thơ dào dạt. Nàng lén thầy mẹ thức khuya nắn nót viết cả một thiên ký sự dài. Chàng không nề hà thuyền chật, chỉ lo ngắm trời mênh mông, ngắm nước đục lờ rồi cất giọng đọc thơ. Giọng thơ chắc chắn không thua gì Quách Đàm – Hồ Điệp nên mới được ông bố vợ tương lai khen nức nở:

Thày khen hay, hay quá!
Em nghe rồi ngẩn ngơ!

Không biết văn nhân trong thiên ký sự ngâm thơ ai để biểu diễn tâm hồn với người đẹp. “Thầy” khen hay, còn “em” thì ngồi ngẩn ngơ, như vậy bài thơ chàng ngâm phải có nội dung hợp ý hai đối tượng quá khác biệt về tuổi tác, phái tính và cách suy nghĩ cảm thụ. Bài thơ hợp ý “thầy” thì bị “em” chê là khô khan khó nuốt. Bài hợp ý “em” thì có thể bị “thầy” quắc mắt, mắng là “suồng sã ong bướm”. Thế mới biết cái tài ứng biến tinh tế và trí nhớ phi thường của “chàng” đắc dụng tới mức nào. Hiểu thơ, “dùng” thơ nhuyễn như vậy, chàng là một độc giả lý tưởng. Chưa hết! Chàng còn là một người sáng tạo thơ:

Khi qua chùa Giải Oan,
Trông thấy bức tường ngang,
Chàng đưa tay, lẹ bút
Thảo bài thơ liên hoàn.

“Thầy” lại tấm tắc khen hay. “Em” lại ngẩn ngơ lần nữa. Biểu diễn tài hoa như thế, kết quả phải bảo đảm: một cuộc hôn nhân. Chấm dứt một bài thơ dài. Và . . . và bắt đầu một thiên trường giang tiểu thuyết về nỗi khổ âm thầm của đời làm vợ, làm mẹ. Thiên tiểu thuyết này không hề được ghi trên giấy. Thử phác họa lại cuộc đời cô bé chùa Hương từ ngày đẹp trời đó về sau. “Em tuy mới mười lăm, Mà đã lắm người thăm” thì chắc chắn chàng không thể bỏ lỡ cơ hội tốt. Không thể đợi lâu, một tình địch nào đó giọng thơ hay hơn, làm bài thơ liên hoàn hợp ý thầy hơn, “tướng mạo trông phi thường” hơn có thể cướp mất của chàng một người vợ xinh. Chậm nhất là nàng lên xe hoa năm sau, mười sáu trăng tròn.
Hai vợ chồng trẻ bắt đầu gấp lại trang thơ để bước vào đời thật. Chồng “thanh lạ thường”, cô bé bị mê hoặc kêu lên là “tướng mạo trông phi thường”, nhưng không phải vẻ phi thường của người vạm vỡ khỏe mạnh. Phi thường ở cái thanh nhã lịch sự. Một người tướng mạo như thế không thích hợp với tay cày tay cuốc. Mà cũng không thích hợp với nghề buôn. Đó là người sống cho sách vở, của lý thuyết, của nghệ thuật. Cũng may là xã hội ta thời xưa tuyển chọn nhân tài cho guồng máy hành chính bằng tài làm thơ và lý thuyết nho học, nên giá trị của người chồng đặt hết vào hy vọng tương lai. Một ngày nào đó, chàng đậu đạt, làm quan, nhỏ thì như Hành tẩu Bộ Lễ như thời mới bước chân vào hoạn lộ của Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, cao hơn có thể leo tới những chức như Hiệp trấn, Đốc đồng, Tham tri (như Nguyễn Du, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích).
Cho dù chàng có may mắn thành công như các bậc danh sĩ nói trên, thì cuộc đời thực tế của nàng và con cái cũng không giàu sang bao nhiêu. Nguyễn Khuyến hồi hưu về sống với bà con xóm làng vẫn chia sẻ cái nghèo với người chung quanh. Nguyễn Du con nhà đại tộc có thời đói hoa cả mắt, nhìn hoa cúc không thấy hoa đẹp, chỉ thắc mắc là liệu có ăn được cúc hay không. Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích làm quan đại thần mà vợ con chạy ăn từng bữa. Hóa ra ngày xưa khác với ngày nay, quyền lực chính trị không nhất thiết phải đưa tới giàu có. Một nhà thơ hỏng thi thất chí như Trần Tế Xương, không biết làm gì để giúp đỡ vợ con, nên bà Tú phải:

Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò nơi quãng vắng.
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

Bà Nguyễn Du, bà Phan Huy Ích, bà Ngô Thì Nhậm được xóm làng nể vì hơn bà Tú, nhưng chắc cũng phải tảo tần xuôi ngược để nuôi con y như bà Tú.
Họ là cột trụ kinh tế của gia đình, âm thầm chịu đựng gánh nặng đó mà không hề than van. Sự phân công giữa vợ chồng không bình đẳng theo cái nghĩa chúng ta hiểu ngày nay, nghĩa là người chồng có toàn quyền dốc hết khả năng, tiêu hết thì giờ cho cái “chí” của mình, việc sinh sống và nuôi dạy con cái người vợ phải đảm đương. Thời bà Tú Xương đã thế (bà Tú còn may là được ông chồng thi sĩ nhắc tới trong thơ). Bà Phan Bội Châu cũng thế. Thậm chí thời trước 1945, lúc phong trào Âu hoá đã mạnh mẽ, ý thức cá nhân và bình đẳng nam nữ đã là thời trang, bà Nhất Linh cũng thế. Một mình các bà lo chuyện cơm áo nhà cửa, sinh con đẻ cái, nuôi dưỡng giáo dục cho chúng nên người. Họ lam lũ cày như những nhà nông, nhưng phải sống cho đúng “nếp nhà thư hương”. Buôn bán mom sông nhưng phải giữ gia giáo. Như người múa kiếm mà chỉ được múa một tay. Đa số sống thanh bạch, và phải giấu sự thanh bạch của mình. Đời sống đầy mâu thuẫn, nghịch lý, chịu đựng, nhẫn nhục ấy, không phải là chất liệu của loại thi ca “chàng” lẹ bút thảo ra ở bức tường ngang chùa Giải Oan. Nỗi khổ của người vợ, người mẹ, không thể ngâm vịnh biểu diễn trước đám đông. Nó âm thầm lưu cữu từ đời này sang đời nọ, thấm vào những lời hát ru con.
Mãi về sau, những người viết văn xuôi mới chứng minh rằng “Lấy nhau rồi chưa phải là hết chuyện!” Lấy nhau rồi, chuyện mới bắt đầu. Lấy nhau rồi, mới có Nhà Mẹ Lê của Thạch Lam, mới có Chân Trời Cũ của Hồ Dzếnh, mới có Đoạn Tuyệt của Nhất Linh, mới có Giông Tố của Vũ Trọng Phụng. Người tình vẫn cứ là mẫu ăn khách của văn chương, nhưng từ đây những mẫu
người nữ khác đòi được quyền hiện diện: người vợ, người mẹ, người chị. Đất nước càng lâm vào cảnh chiến tranh điêu linh, hình ảnh người mẹ càng hiện diện, như hiện thân của Bao Dung, như ánh sáng ở cuối đường hầm, như liều thuốc màu nhiệm hàn gắn được mọi tranh chấp. Trong đớn đau người Việt Nam thống thiết gọi Mẹ.

*

Những người cha trên đời có quyền khiếu nại giới sáng tạo ra văn học nghệ thuật rằng họ bị phân biệt đối xử, bị kỳ thị. Họ ít được nhắc tới trong văn chương kịch nghệ, hội họa. Thỉnh thoảng nếu có được nhắc tới, thì qua hình ảnh cứng cỏi, nghiêm khắc, lạnh lùng, rất ít chất người. Cha là hiện thân của Lý Trí, Nguyên Tắc, Sức Mạnh, Quyền Lực. Không biết từ lúc nào, sách vở đã “tuyên truyền” cho mọi thế hệ thiếu nhi tin rằng hình ảnh một gia đình lý tưởng là cảnh ban đêm, dưới ánh đèn ấm cúng, cha ngồi đọc báo, mẹ Io vá may, con cái học bài. Những ông cha “hiền” ấy tìm đọc thứ gì trên báo vậy? Tin xe cán chó? Không. Cách nấu nướng? Không. Tử vi? Không. Thì thầm bên gối? Không. Truyện diễm tình hấp dẫn đăng nhiều kỳ? Không. Ông ấy mải mê theo dõi tin chiến sự, tin thể thao, và nếu đã đọc hết mọi tin tức mà chưa buồn ngủ, thì đọc truyện trinh thám phiêu lưu. Tóm lại những gì thu hút tâm trí người cha trong khi vợ may vá con học bài đều có dính tí máu. Đều có liên hệ đến sức mạnh. Người cha có vẻ hiền lành ấy thật ra không hiền chút nào. Ông ta là một hỏa diệm sơn sắp bùng vỡ, là một con hổ nhớ rừng,
là con gấu sắp choàng thức dậy khi tuyết tan mùa đông. Ông ngồi bên vợ con dưới mái ấm gia đình mà mơ mình đang làm Tarzan ở rừng Phi châu, điệp viên 007, James Bond, Tổng bí thư đảng Cộng sản Liên Xô, Tổng thống Hoa Kỳ, chúa trùm Mafia, Magic Johnson, Maradona, Platini . . . May cho đời là những giấc mơ ấy không thành. Những người cha ấy vừa bỏ tờ nhật báo xuống, mắt lim dim mơ mộng, là những người mẹ đã kịp thời ngừng kim nhắc nhở cho chồng nhớ rằng hồi sáng ông mua chịu bà Ba Bủng bốn điếu thuốc lá lẻ, hai ngày nay ông lười không chịu tắm rửa, đêm ông ngủ đã ngáy lớn còn nghiến răng trèo trẹo, chiếc áo lót dưới chiếc áo sơ mi trắng và cà vạt nghiêm chỉnh đã có màu cháo lòng và rách lưng. Các bà vợ vì tế nhị và yêu chồng không tiện nói ra lời, nhưng các bà hiểu hết. Các bà biết đâu là cải vỏ đâu là thực chất, đâu là đời sống và đâu là những giấc mơ.
Cảnh gia đình hạnh phúc trong sách giáo khoa chỉ khả tín nếu người cha không bị những trang báo trang sách che mắt tầm nhìn để trở thành mù lòa, mất hết những ý niệm đúng về cuộc đời, về khả năng hạn hẹp của mình. Lịch sử tiếp nối hỗn loạn đẫm máu chỉ vì những trang giấy mỏng ấy đủ rộng đủ dày lấp hết thực tế. Chữ nghĩa nhảy múa hấp dẫn như những vũ nữ lắc rốn Ai Cập, từ đó người cha dựng lên những lý thuyết cứu đời, những tòa kiến trúc vĩ đại, những phác họa cho làng nhân loại thế kỷ hai mươi mốt. Từ đó vẽ ra bức tranh thế giới đại đồng, ra đường không ai thèm nhặt của rơi, không ai là chủ không ai là tớ, làm tà tà tùy thích mà hưởng thì thả giàn. Lúa thóc đầy đồng, cá tôm đầy sông, trái chín rơi vào túi người hứng, chim chóc đậu trên vai người mà hót khúc ca chào mùa Xuân! Muốn được cảnh thái bình thịnh trị như thế ư? Chữ nghĩa lại nỉ non vào tai người cha rằng muốn xây nhà thì trước hết phải phát quang cỏ dại, cây cằn, dọn nền, xây móng. Thế là có máu. Máu thấm vào vũng đất hẹp dưới xác tử thi. Rồi suối máu, sông máu, biển máu. Những người cha không còn đêm đêm đọc báo bên cạnh vợ vá may và con học bài, đã trở thành “cha già dân tộc”, “lãnh tụ anh minh”, “người cầm lái vĩ đại”, “Vị cứu tinh muôn đời”. Hình ảnh của cha ở cùng khắp, trên nóc tòa thị sảnh, khoảng tường trên bàn thờ ông bà, ngoài công viên, trang bìa sách giáo khoa, đề thi tốt nghiệp. Ai dám bảo văn học nghệ thuật kỳ thị người cha?
Hãy gượm! Đó là loại văn học giả hiệu! Văn học nghệ thuật đích thực không hề ba hoa ca tụng kẻ quyền thế. Kẻ đáng ca tụng là người mẹ hằng đêm lặng lẽ vá may. Đã có hàng triệu bà mẹ kiên nhẫn tế nhị nhắc chồng rằng bà yêu ông không phải vì ông sẽ là Tarzan, James Bond, Platini, Gorbachev, Bush . . . mà vì ông là người từng trốn học lẽo đẽo đạp xe theo bà, giọng vịt đực mà cũng rán hát bài “Ngày xưa Hoàng thị”. Bà yêu ông vì một hôm bà đánh bạo dừng xe lại, nhìn vào mắt ông hỏi: “Tại sao anh theo tôi hoài vậy?”, ông ú ớ lúng túng đưa hai tay lên gãi dầu, chiếc xe đạp ngã chỏng gọng trên hè phố. Bà yêu ông vì ông là chồng bà, cha của đàn con thân yêu của bà, yêu lúc ông nồng nhiệt hùng biện cũng như lúc ông ngáy và nghiến răng trèo trẹo, lúc ông bảnh chọe hào hoa cũng như lúc ông ngồi rờ râu nhổ lông mũi, lúc ông thơm tho mạnh khỏe cũng như lúc ông hôi hám yếu đau. Những niềm vui, nỗi buồn của bà tùy thuộc vào chồng, vào con, những bộ trường giang tiểu thuyết dài nhất cũng không thuật hết buồn vui của những bà mẹ. Không phải ngẫu nhiên mà sách giáo khoa cho mẫu mẹ hiền Việt Nam ngồi chăm chỉ vá may giữa cảnh gia đình sum họp.
Mẹ Việt Nam ngồi đó, nhưng mắt luôn luôn theo dõi những trang sách giáo khoa con đang học, nhìn suốt qua trang báo để xem nét mặt chồng. Nói như cách nói ví von của Chế Lan Viên, mẹ là “hoa ngày thường”, nhưng là “chim báo bão”. Mẹ nhắc nhở cho những người đàn ông trong nhà nhớ đâu là giả đâu là thực, đâu là đời sống vốn vậy đâu là những giấc mộng hão huyền.
Và khi những người đàn ông trong gia đình không nghe lời mẹ, chạy theo chữ nghĩa lắc rốn, vung gươm lên múa may làm cho mọi sự đổ vỡ rách nát, thì mẹ thở dài, lặng lẽ kiên nhẫn ngồi vá lại những chỗ rách, gắn lại những mảnh vỡ.
Công việc ấy thật nhọc nhằn, và không “thơ” chút nào! Nguyễn Nhược Pháp là nhà thơ, không nhắc đến đoạn đời gian truân của cô bé chùa Hương sau khi về nhà chồng, cũng phải thôi!

Nguyễn Mộng Giác

Đất Và Nước

nguyenmonggiac

Nắng đổ xuống hai dãy phố xô lệch và bụi bặm. Xe cộ nối đuôi, ì ạch gầm gừ tiến lên vài tấc rồi phanh khựng lại. Mấy chiếc Honda lách ngang lách dọc, mon men tiến về phía trước, nhưng đành chịu thua trước đám đông ù lì, làm ngơ. Người đổ xô ra đường, ngơ ngác, dò hỏi… Cửa tiệm vàng khép vội hai cánh cửa sắt, chủ nhân đứng trong thế phòng vệ. Bụi và khói xăng mù, khét, khó thở. Tiếng họ hục hặc và tiếng xe rồ ga sợ tắt máy dang dở. Tiếng còi đục và nghẹn hú vang, nhưng xe cộ vẫn mắc nghẽn.
Mọi người nhìn dồn về phía núi lở. Trên ấy vẫn bình thường. Trời thì xanh thật xanh. Nơi sườn đá hoen màu tím sẫm, mấy hàng dây điện giăng ngang qua mặt lộ, chênh chếch về phía tân cảng. Dãy nhà cất sát theo dọc núi loang lỗ dấu đạn, khép nép sợ bóng nắng. Vẫn bình yên. Vẫn ngoan ngoãn, vẫn ẩn nhẫn. Vẫn quen như từ bao giờ : đời sống tỉnh lẻ thu mình để sống bình yên qua bao nhiêu cuộc đổi thay, thay đổi. Con đường sắt vẫn song song đồng hành. Bánh xe những chuyến tàu chở vật liệu xây cất cho hãng RMK lăn hai lần mỗi ngày không đủ làm bóng mặt đất. Đường tàu vẫn song song. Chưa lệch một chiếc ốc, hoặc cong nghiêng trên một hố mìn.

Nhưng bên nầy con đường sắt bụi bay mù và trời đổ lửa. Nóng nực. Khói khét lẹt. Xe rú ga và nhấn còi. Người lao xao bu quanh…
Tránh xe. Tránh xe. Người ta làm ngơ. Cái gì vậy bà ? Thằng nhỏ… Chưa trả lời hết câu, bà ta chen thêm tới chút nữa. Có người nhễ nhại mồ hôi chui từ trong ra. Gì vậy ông ? Trời ơi, hết chỗ nói. Sao mà ác nhơn ác đức vậy chớ. Mà cái gì ác đức ? – Tụi nó bắn thằng nhỏ chết tươi. Ai bắn ? Tránh xe. Tránh xe. Còi xe mười bánh át tiếng trả lời. Người đàn ông hả miệng khoa tay trong khi tiếp tục lấn ra ngoái. Sao bà biết nó học trò ? – Trời, thì cái quần xanh, cái áo trắng. Quyển sách Anh văn với tập vở đó kìa. Có ai đi báo cảnh sát chưa ? Như đậu đen. Sao cái gì như đậu đen ? Ruồi bu trên đống não, khiếp, thôi tao không dám ăn chè nữa. Dóc tổ. Mầy mà chừa ăn hàng. Lâu chưa ? Không ai đỡ nó xuống, để treo tội nghiệp thằng nhỏ. Cái gì vậy bà con cô bác ? Vô mà coi. Cái gì ? Không tin sao, tay nó còn kẹp điếu thuốc. Con nít đời giờ hút thuốc tràn đìa coi cái gì, vô duyên. Mô Phật, con người ta chết mà cha nội còn nói cà rỡn. Chắc chiều nó có giờ Anh văn hở mầy ? Chưa chắc. Tao thấy có quyển English for today màu vàng. Ngã cách sao mà quần móc chặt vào cây sắt vậy ? Mẹ nó người miệt Bình Thới. Mỹ đen hay Mỹ trắng ? Hổng biết, không phải Đại Hàn. Xe có sao trắng rõ ràng.
Nóng bức. Khói khét lẹt. Xe rú ga và nhấn còi. Người ta lao xao. Trong cái hỗn mang vô trật tự ấy, Nguyễn trở thành hòn sỏi. Đã có kẻ đạp lên chân, suýt ngã. Đằng sau đẩy tới, đằng trước xô lui. Thân thể đu đưa, nghiêng ngã, cứ tự nhiên lắc lư mà chuyển dần tới trước. Qua quá trạm xăng, người thưa hơn, mọi việc trở nên thứ tự. Trân liếng thoắng hỏi : Mầy nhìn thấy xác chưa ?
– Chưa, đứa nào vậy ?
– Thằng bé học lớp sáu trường mình.
– Nhưng sao mà chết ?
– Mỹ bắn.
– Sao vậy ?
– Ai biết được. Mấy người ở ngả ba bảo tụi nó bị mất cắp, nghi ngờ mấy đứa nhỏ nên bắn đại cho hả giận.
– Nhưng mấy đứa nhỏ làm gì cho tụi nó nghi ?
– Làm gì đâu ? Ba bốn đứa đi học sớm ngồi trên hàng rào tán dóc. Thằng nhỏ bị bay cả chóp não, ngã liền. Quần dính trên cây móc sắt đó nên treo lủng lẳng.
***
Kiểng đánh báo hiệu vào lớp. Đám học trò nhỏ lơ láo, ôm sách vở chạy ùa vào trong, mắt còn nhìn ngoái lại. Một nhóm nhỏ vờ như không nghe thấy tiếng kiểng, bu quanh hai đứa ở trần, mặt mày thất sắc. May cho mầy, phước lớn dữ a. Mầy ngồi sát bên nó không ? – Sát chớ. Tụi tao đang nói chuyện mà. Máu nó văng đỏ cả áo tao. Giặt không kỹ, chiều má mầy la chết. Ngu, quá ngu. Má nó nghe chuyện thì mừng hết lớn chớ la gì. Quăng áo đi mầy. Dính máu người là có ma rồi.
Kiểng đánh lần nữa, gấp gấp thôi thúc. Mấy cậu nhỏ chạy vào phòng học. Học sinh các lớp 10 và lớp 11 vẫn lơ lửng ngập ngừng. Giám thị và giáo sư vẫn đứng ở hành lang nhìn ra cổng. Bên ngoài, tụi thằng Lý, Sum, Vĩnh, Sự vừa vô vừa bàn tán. Nguyễn nhập bọn và lên phía văn phòng.
Ông giám thị hỏi hờ hững :
– Chưa vào lớp cho rồi mấy em ?
Sự đáp :
– Tụi nó không chịu vào, đứng canh xác.
Thầy Linh hỏi :
– Cảnh sát đã lên chưa ? Có ai lập biên bản không ?
Thầy Vũ hỏi ông giám thị :
– Sao, bây giờ cứ dạy hay cho tụi nó nghỉ ? Xôn xao quá dạy dỗ gì được.
Ông giám thị nhìn ra cổng, trả lời mau :
– Nhờ mấy thầy cho học sinh vô lớp dạy như thường. Sợ ở ngoài ồn ào.
Cả bọn học sinh nhao nhao phản đối :
– Học sao được thầy. Tụi nó bắn chết bạn mình, xác còn nằm đó. Học sao được.
Nói vậy, nhưng cả lớp vẫn lửng thững lên cầu thang. Số học sinh ở ngoài cổng vội vã chạy nhập bọn.
Chỉ còn khoảng vài chục người trong phòng 11. Vĩnh xuống xin thầy Vũ cho học sinh vài phút bàn riêng chuyện nội bộ. Trân ra cổng gọi nốt số còn lại vào lớp. Lý băn khoăn hỏi :
– Tụi bay định làm gì vậy ? Nguyễn đáp :
– Để anh em đông đủ hãy hay. Phải làm một cáin gì. Không thể chịu được. Đây đâu phải là lần đầu.
Sum vẫn ngồi yên, mắt lạc thần :
– Nước mẹ gì. Rồi chả đi đến đâu hết.
Vĩnh dưới cầu thang chạy nhanh lên, reo :
– Thầy Vũ đồng ý rồi. Nào, anh em.
Vĩnh nhảy lên bục cao, giọng sang sảng :
Có ai can đảm học nữa không ? Hô chung dưới cuối lớp : Không có ai còn chịu đựng nổi cảnh này nữa. Thằng nhỏ chết tức tưởi như vậy, mình còn lòng dạ nào ngồi học. Thằng nhỏ sẽ khinh mình là bất nghĩa. Đồng bào khinh mình là bọn bất nhân. Tụi Mỹ khinh mình là bọn hèn nhát, bạn bị bắn chết mà còn cố gằm đầu vào sách. Ai có can đảm hãy đọc bài lên coi :
Ta cũng nòi tình thương người đồng điệu, cái kiếp không hoa lẩm cẩm, con hồn xuân mộng gâng khuâng.
Cả lớp cười ồ. Không khí náo nhiệt, vui vẻ. Nguyễn hỏi :
– Đồng ý. Phải làm cái gì. Nhưng làm cái gì ? Làm thế nào ?
Trân lúc bấy giờ cùng một số bạn bè lớp 10 ùa lên, la to :
– Biểu tình. Xuống đường anh em ơi.
Phòng học trở nên nhốn nháo khác thường. Bốn năm người cùng nhảy lên bục, và người nào cũng gào to những câu không ai nghe rõ. Vĩnh mặt đỏ bừng, xô tất cả xuống, hét lớn :
– Im hết. Cho tôi nói. Biểu tình, đồng ý. Nhưng chiều này học sinh trường mình học ít quá, mấy lớp nhỏ không có giờ. Nên phải kêu gọi các trường khác hưởng ứng. Anh em đồng ý không ? ( Đồng ý. Chí lý. Đồng ý là cái chắc ). Cảm ơn anh em. Bây giờ nghe tôi phân công : Trân, có xe Honda, chạy xuông chợ mau vải và sơn kẽ khẩu hiệu. Thằng Nguyễn, cô hái mơ của thầy Vũ ( cả lớp cười ) làm Nguyễn Trãi thảo hịch ( đồng ý ) Sum thì xuống vận động các lớp 8 và 9 tham gia biểu tình.
Sum la lớn : Không, ồn ào. Ê, thằng Sum rét rồi. Thỏ. Sum nhảy lên bục, đứng ngay trước mặt Vĩnh, mở nút cổ áo và xăn tay :
– Đứa nào nói tao thỏ, nói lại thử tao nghe ( Lao xao rồi im lặng ) Tao không ngán đứa nào hết. Tụi bay là đồ con nít. Tao là huynh trưởng Phật tử, đã bị bắt chung với thầy Vi và Thụ kỳ Phật giáo tranh đấu năm 1966. Tao đã bị đập dập mũi, bị đưa lên Pleime quan sát chiến trường. Tao trải qua hết. Chịu nhiều đòn rồi. Thất vọng nhiều rồi. Tao sợ lời tụi bay khích sao ? Tao không làm, vì biết chẳng đi đến đâu. Làm cái gì vô ích, tao không làm.
Lửa hơi hạ. Vĩnh lúng túng. Nguyễn nói :
– Chưa làm đã bảo là không ích. Chờ đến lúc nào mới làm ? Không được gì, thì cũng được một tiếng chuông gióng. Còn hơn là bặm môi nín lặng.
Lửa lại bừng. Đúng. Đồng ý. Xuống đường gấp. Sum bỏ ra. Vĩnh lại tiếp :
– Thôi, ai muốn về thì về.
Lý dợm đứng dậy. Tiếng Vĩnh lại sang sảng :
– Nhưng tôi tin anh em ở đây không ai là kẻ hèn nhát.
Lý lại ngồi im.
Nên tôi phân công tiếp. Lớp 8, 9 khỏi cần vận động chắc sẽ tham gia khi mình giăng cờ, biểu ngữ ra trước lớp. Sự, đem kháng thư thằng Nguyễn thảo đến các trường cho ban đại diện. Được không hay từ chối như thằng Sum ?
– Cũng được. Lý cương quyết đứng dậy :
– Để tôi lãnh công tác đó. Tôi có xe Honda.
Vĩnh hơi lúng túng, nhưng nói bừa :
– Thôi giao cho cả hai cậu. Miễn đừng nhân cơ hội bỏ về.
Trân vào nhanh như lúc ra đi, ôm vải và sơn. Cả lớp ùa ra hành lang, tranh nhau viết biểu ngữ. Trân khoe :
– Tao lách qua lách lại một chút đã trở về. Xin tiền thầy giám thị đó. Hôm nay vui quá xá.
Tiếng cãi vả về nội dung câu khẩu hiệu át tiếng Trân. Lon sơn đen đổ vươn vãi trên nền xi măng. Nguyễn từ bên phòng 12 cầm tờ giấy vở chạy đến, hét to :
– Xong rồi. Đây, anh em im đi. Để tôi đọc to, ai đồng ý thì ký tên vào :
Học sinh trường trung học… kính gửi tất cả học sinh công tư toàn quốc.
Hồi 14 giờ chiều ngày 7-12, một học sinh lớp 6 trường chúng tôi tên Nguyễn văn Minh, 12 tuổi, trong khi đang ngồi trước cổng trường chờ giờ học, vô cớ bị một lính Mỹ dùng súng M16 bắn chết. Thi thể nằm ngay trước mặt chúng tôi, óc vọt ra ngoài, khiến chúng tôi vừa vô cùng thương xót vừa vô cùng phẫn nộ.
Hằng ngày, một số đông lính Mỹ vô kỷ luật đã phá phách tài sản đồng bào, đập vỡ kính xe, chọc ghẹo bộ hành… Nhưng lần này, cái chết của một học sinh nhỏ tuổi vô tội đã khiến chúng tôi không còn có thể giữ mãi im lặng.
Toàn thể học sinh trung học… cực lực tố cáo tội ác kể trên của một quân nhân Hoa kỳ, một nước vẫn thường tự hào về truyền thống tôn trọng phẩm giá con người và trật tự xã hội. Toàn thể học sinh trung học … cương quyết đòi hỏi chính phủ Việt Nam Cộng hòa trừng trị đích đáng kẻ gây tội ác.
Chúng tôi kêu gọi sự hưởng ứng nồng nhiệt của các bạn, để đòi hỏi chính đáng của chúng tôi được chính phủ lưu ý, để người bạn đã khuất của chúng tôi không thẹn là một học sinh VN, và để tất cả chúng ta còn hãnh diện là người có liêm sỉ không khuất phục trước tội ác.
Khá lắm. Cả đám ồ lên. Nguyễn nhắc lại :
– Ký nhanh vào cho hai thằng Lý Sự đem đi. Nhớ đề rõ tên.
Có tiếng phản đối :
– Cần gì đề tên.
– Ký đại diện được rồi.
Nguyễn hỏi :
– Sợ hả.
– Đ M Thằng này chuyên nói móc. Mầy ký trước đi.
Tờ giấy chuyền qua trả lại. Vĩnh bực mình sừng sộ :
– Chuyện gì tụi bây sợ dữ vậy. Thằng Nguyễn viết tự nhiên nó ký rồi. Đưa tao ký thử có chết không.
Sự và Lý lãnh sứ điệp ra đi. Số còn lại theo Vĩnh và Nguyễn hò hét mang khẩu hiệu ra đường. Xác chết hạ xuống, đặt trên cái xe mui trần. Bốn đứa mang biểu ngữ chăng ngang đường cái chận hết xe cộ lưu thông. Chiếc xe xác qua phố phường đổ nắng. Cuộc biểu tình bắt đầu. Mười phút sau, cổng trường đóng, chỉ còn đám ruồi bu đen trên vũng óc và máu đặc.
***
Hơi xác chết làm lạnh xương sống và nóng hai thái dương. Cuộc xuống đường quấy động thành phố lên cơn sốt.
Trên hiên trường, chỉ còn cụ già, Nguyễn và thầy Vũ. Xác Minh nằm co quắp trên cái bảng đen đặt trên hai bàn học, phủ bằng cái mền cũ. Chỏm tóc bết máu ló ra phía trên còn phía dưới lòi hai bàn chân xanh đá và ốm o.
Trong trường vắng, tuy cổng để mở. Mấy người lạ đứng ngoài hàng rào e sợ nhìn vào, rồi bỏ đi. Cách khoảng vài phút, một chiếc Honda rú ga leo qua cổng trường dốc, phanh gắt trước hiên. Hai ba học sinh vào, nhìn tò mò, rồi im lặng lên yên rú ga trở về phố. Thân nhân em bé đã lo mua đồ liệm chỉ còn ông ngoại yếu ớt ở lại bên xác cháu.
Từ hơn một giờ đồng hồ, hai thầy trò ngồi bên xác chết, im lặng không nói. thỉnh thoảng Nguyễn lấy cây đập mạnh lên bảng đen, xua mấy con ruồi vo ve. Thầy Vũ nắn lại mấy ngón chân xác chết cho khỏi co quắp nhưng vô vọng. Lần đầu hai thầy trò đối diện với dự lạnh lẽo mênh mông của nỗi chết, tâm hồn rã rời. Thầy Vũ lên tiếng trước :
– Các em làm có kết quả lắm. Tỉnh hội giáo giới, hội đồng tỉnh đã lên tiếng bằng tuyên cáo hôm qua. Nghiêm nghị lên án. Đồng thanh kiến nghị. Cương quyết yêu cầu. Cả thành phố đã sôi lên rồi. Tối hôm qua, giáo sư trong trường cũng đã ra bản tuyên cáo nầy.
Thầy Vũ đưa cho Nguyễn đọc :
Chúng tôi, giáo chức trường trung học … vô cùng xúc động khi nghe tin một học sinh lớp sáu trường … bị một quân nhân Hoa kỳ vô cớ bắn chết lúc 14 giờ ngày 7-12-70. Đây không phải là lần đầu tiên một số quân nhân Hoa kỳ vô kỷ luật đã xem thường mạng sống của luông dân VN. Vì vậy, chúng tôi tán thành mục tiêu tranh đấu của học sinh trong ngày 7-12-70 nhằm lên án hành động dã man của một số quân nhân Hoa kỳ. Đồng thanh quyết nghị :
1) Yêu cầu chính quyền địa phương bày tỏ thái độ hành động sát nhân nầy.
2) Yêu cầu giới chức thẩm quyền tức khắc truy tố thủ phạm và công bố bản án cho toàn thể đồng bào biết.
3) Yêu cầu chính quyền áp dụng mọi biện pháp để những quân nhân Hoa kỳ vô kỷ luật chấm dứt mọi hành động xem thường tính mệnh và tài sản lương dân V.N.
Tuy nhiên chúng tôi cũng không chấp nhận những hành động đáng tiếc có phương hại đến tài sản và trật tự chung.
Nguyễn mỉm cười khi đọc xong. Thầy Vũ hỏi :
– Sao em cười ?
– Dạ vì các thầy cẩn thận quá. Trong kháng thư, em viết :
Hằng ngày, một số đông lính Mỹ vô kỷ luật đã phá phách tài sản của đồng bào. Tụi bạn đòi bỏ chữ VÔ KỶ LUẬT vì như vậy là có ý bào chữa cho thanh danh quân đội Mỹ. Em bảo không nên vơ đũa cả nắm. Bây giờ, đọc tuyên ngôn của các thầy, em mới thấy mình còn sơ hở.
– Em đã trải qua những biến động tâm cảm nào vậy Nguyễn ? Em nói như một ông già.
– Bây giờ em lớn bằng tuổi em, cộng tuổi một buổi chiều dài nhận rõ mặt anh em, và 12 tuổi xác chết. Thầy tha lỗi, có phải các thầy định phân biệt hai loại đồng bào. Các thầy bảo : Này nhé, chúng tôi nói rõ nhé, chúng tôi long trọng xác nhận trước quí vị, là chúng tôi chỉ phản đối sự xem thường mạng sống của lương dân, còn đối với bọn cộng sản, bọn sống với cộng sản, bà con thân thuộc với cộng sản, nộp thuế tải thương cho cộng sản, thì, xin các ông tùy ý.
– Em tàn nhẫn. Có lẽ em khó hiểu nổi tâm trạng lớp người trước. Tâm hồn thầy như một mặt ao, giấu dưới bóng tre già. Viên sỏi vô tình nào rơi xuống cũng gợn những vòng xao động. Cực nhất là đối diện tra hỏi mình. Biến cố hôm qua là viên sỏi ấy.
Vĩnh và một người bạn lạ đèo Honda vào trường. Mặt mày hớn hở và sạm nắng. Dựng vội chiếc xe trên cát lún, Vĩnh chạy về phía thầy Vũ.
– Chúng em đã quấy động cả xứ. Thầy coi mấy số báo ở Sài gòn :
Đứng trước cổng trường chờ giờ học bị Mỹ kiều bắn vỡ sọ. Học sinh khiêng xác đồng môn diễn hành khắp phố.
Đoàn biểu tình võ trang gậy gộc gạch đá, đòi đập phá các cơ sở quân sự Hoa kỳ ở thị xã. Quân Mỹ cấm trại 100%.
Sinh hoạt tê liệt. Tình hình nghiêm trọng. Biểu tình tiếp diễn dữ dội. Nhiều xe Mỹ bị đốt. Cảnh sát dã chiến được tăng cường từ Sài gòn ra.
Theo tin bổn báo đặc phái viên gửi về, mặc dầu cảnh sát dã chiến bắn hàng trăm lựu đạn cay để giải tán biểu tình, nhưng nhiều quân xa đồng minh đã bị học sinh biểu tình đốt cháy, những người Mỹ và Đại Hàn ngồi trên xe bị ném đá dữ dội.
Một khách sạn bị đập phá. Trực thăng được huy động để di tản lính Mỹ lánh nạn. Tổng hội sinh viên Sài gòn phát động tuần lễ chịu tang.
Thầy Vũ trả mấy tờ báo, hướng về phía Vĩnh:
– Các em thành công trên tro tàn và gạch vụn. Nhưng có chắc thành công không ?
Người bạn lạ của Vĩnh cướp lời :
– Chắc chắn. Không phải chúng em tranh đấu cho một mình xác chết nầy.
Nguyễn gay gắt hỏi :
– Có phải ý mầy không Vĩnh ? Từ đêm qua, tụi bây chở xác thằng Minh về bỏ nằm đây. Không có lấy một nén hương. Không nói với tang gia lấy một lời an ủi. Tụi bây đèo nhau trên Honda, đến, nhìn, chạy xuống phố hò hét, rồi khi thấy hào khí hạ, lại trở lên nhìn lấy hứng.
– Mày xuyên tạc. Thằng Minh chỉ là một cá nhân. Từ hôm qua đến nay, mình đòi cái gì ? Đâu phải đòi phép tiên cho thằng Minh sống lại. Nói chết, yên phận nó. Nhưng mình làm thế nào để nhờ nó không có một ao chết tức tưởi thêm. Muốn thế phải làm gì ? ( Vĩnh hướng về phía thầy Vũ ) các thầy trách tụi em bạo động. Em đọc kỹ tuyên cáo của các thầy. Các thầy chỉ tán thành mục tiêu tranh đấu của tụi em, và không chấp nhận những hành động đáng tiếc có phương hại tài sản và trật tự chung. Thưa các thầy cực lực lên án, đồng thanh quyết nghị, nhưng cuối cùng nhỏ nhẹ yêu cầu. Các thầy có thể thành công, nhưng tụi em ? Xin yết kiến Đại tá tỉnh trưởng. Rất tiếc. Đại tá bận. Xin yết kiến ông cố vấn : Sorry. Xin gặp ông phó : Chú muốn gì ? Thỉnh nguyện thư hả ? Họa hoằn lắm cái chết thằng Minh mới được đăng nơi trang ba, trong mục Xe Cán Chó.
Nguyễn không kém giận dữ :
– Mày hãy lấy gương mà soi. Dám nói thẳng đi. Mày say mê hò hét hay nhiệt tình với bạn ? Bây giờ lo liệu xác thằng Minh sao đây ? Hãy tìm cách giúp đỡ thân nhân khâm liệm tống táng.
Người bạn Vĩnh lên tiếng, rắn rỏi :
– Không chôn cất gì hết. Để đó. Chôn xong là xẹp hết.
Nguyễn trừng trừng nhìn người bạn Vĩnh :
– Cái xác đã bắt đầu bay mùi. Ai xa lạ với ngôi trường này không có quyền chen vào việc tẩm liệm một học sinh trường nầy. Chúng ta tranh đấu vì lý tưởng tuổi trẻ, không phải bọn buôn xác. Vĩnh, tao biết rõ mày sửa năm sinh sau khi thi hỏng Tú tài. Có cứng hãy đứng đầu gió. Mầy phải để yên xác chết. Để yên cho thằng bé về Trời.
Vĩnh thoạt bậm môi, rồi xuôi tay bỏ ra phía để xe. Ngoài đường, còi hụ uất nghẹn và loa phóng thanh tuyên bố giới nghiêm Hai bốn trên hai bốn.
***
Xe tang đi trong mưa rả rích và gió buốt. Trên chiếc GMC quan tài của Minh nằm dọc theo lòng xe. Chỉ có ông ngoại, người cậu và một bà dì được cảnh sát thông báo và đón đi đưa tang. Bên này có Vĩnh, Nguyễn, Sum, Trân và thầy Vũ. Xe quân cảnh mở đường, tiếp đến xe Đại tá tỉnh trưởng, xe tang và sau chót xe cảnh sát dã chiến. Mặt trời chưa mọc. Phố xá nằm chết trong giới nghiêm. Tiếng động cơ gầm gừ át tiếng gió thổi và giọng khóc nỉ non. Ra khỏi ngả ba, xe dẫn đầu rú ga. Xe cảnh sát ở sau hụ còi. Chiếc GMC lại gầm gừ rồi đột nhiên lao mạnh. Mọi người ngồi hai bên quan tài suýt ngã, cây nến trên nắp quan tài gẫy đổ tắt lịm, ông ngoại Minh định cúi xuống thắp lại nhưng xe dằn mạnh khiến ông cụ sợ sệt bíu hai tay vào thành xe.
Xe dừng ở một nghĩa địa ngoại ô. Toán cảnh sát dã chiến và quân cảnh nhảy xuống đến vây quanh xe tang. Tất cả xúm nhau khiêng quan tài ra gần huyệt. Ông tỉnh trưởng, ông chủ tịch hội đồng tỉnh, viên cố vấn trưởng đến gần, chia buồn lần cuối với tang gia. Mưa vẫn rơi rả rích. Gió vẫn thổi bay tạt hàm râu trắng của ông ngoại. Ông tỉnh trưởng đăm chiêu. Nét mặt cố vấn thành kính, mắt hư không. Khi hạ huyệt, ông tỉnh trưởng hỏi :
– Cậu nào đọc điếu văn ?
Vĩnh định tách khỏi đám nhưng rụt rè do dự, đưa mắt nhìn Lý. Lý nhìn thầy Vũ. Thầy Vũ chưa biết chỉ ai, chợt thấy Nguyễn lấy tay che mặt. Thầy nói :
– Thưa Đại tá, có em Nguyễn, đại diện học sinh đọc điếu văn. Qua phút bối rối, Nguyễn tiến đến trước huyệt. Anh bắt đầu nói, một mình :
Minh em,
Anh biết nói gì bây giờ.
Anh chưa biết mặt mũi em.
Anh chưa biết cha mẹ em.
Anh chưa thấy khu vườn lá xanh và mái nhà nhỏ nơi em chào đời.
Anh chưa thấy con đường làng dẫn em ra ngôi trường đầu tiên để bập bẹ mấy tiếng A B C làm vốn liếng tìm hiểu nét đẹp cuộc đời.
Anh chưa tưởng tượng nổi cảm tưởng của em, khi ngỡ ngàng bước chân vào trường trung học, hí hửng trả lời My name ia Minh khi cô giáo hỏi What’s your name ?
Anh chỉ biết em, nằm treo trên đó, óc đổ trên trang sách, tay víu vào đất mẹ.
Anh chỉ biết em, nằm queo trên sàn xe, lang thang dạo chơi khắp phố phường ngập ngụa tiếng la ó phẩn nộ lẫn tiếng hò reo tở mở.
Anh chỉ biết em, khi em đã thành đề tài trên đầu môi chót lưỡi.
Nghĩa là anh biết em quá trễ, khi em vĩnh viễn xa đất mẹ xa sách Anh văn, xa mái tranh và cánh đồng, xa mẹ cha cô dì chú bác…
Minh, tất cả mọi người thương tiếc em.
Nguyễn trở về chỗ cũ. Mọi người không ai nói với ai lời nào, lẳng lặng vốc đất ném xuống huyệt rồi trở về xe. Thầy Vũ nắm tay Nguyễn. Nguyễn nói nhỏ :
– Thưa thầy.
– Gì hở Nguyễn ?
– Hôm qua, thầy bảo tâm hồn thầy như mặt ao dấu dưới khóm tre già ?
– Ừ, rồi sao ?
– Thầy còn may mắn hơn em. Viên sỏi vô tình nào đó còn làm thầy xao xuyến. Ánh trăng lọt qua khe lá còn làm mặt nước gợn sóng vui. Còn em, đầu óc rỗng không như mộ huyệt. Biết bao nắm đất ném xuống, do những người chí tình. Tâm hồn em vẫn trơ trơ.
– Nguyễn, em không giống các bạn rồi ! Hãy xem tất cả, tất cả như cơn mưa rào, làn gió thoảng, chút nắng rớt. Đừng để cho rã rời, hoài nghi.
Nguyễn không trả lời. Thầy Vũ không nói thêm. Xe lại chạy trở về phố trong gió lạnh.
Nguyễn Mộng Giác

Ngựa Nản Chân Bon

nguyenmonggiac

Nguyễn Mộng Giác

Gió vi vu làm nền cho lời ca thánh: …”Nhờ công ơn lân tuất của Chúa ta, Đấng đã từ cao cho ‘Mặt trời mọc’ đến thăm viếng. Và soi sáng cho những ai còn ngồi trong u tối và trong bóng chết, để dắt chúng ta trên con đường an lạc. Lạy Chúa xin cho các linh hồn được yên nghỉ muôn đời và được hưởng ánh sáng nghìn thu. Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin ta thì dù có chết sẽ được sống lại, và ai sống mà tin ta thì không phải chết đời đời”.

Vị linh mục đọc kinh Lạy Cha… và rảy nước thánh lên chiếc quan tài đóng vội bằng gỗ ván thuyền. Vợ người quá cố khóc thảm thiết, và lúc bấy giờ lời cầu nguyện lại làm nền cho tiếng khóc. ”Lạy Chúa, xin thương người quá cố này là tôi tớ Chúa. Xin đừng theo việc làm mà phán xét họ, họ vốn một lòng một ý với Chúa. Lại nữa, khi còn sống họ đã ở cùng đoàn thể các tín hữu, với một lòng tin tưởng thành thực. Xin vì lòng nhân từ Chúa, cho linh hồn Giu-se họp đoàn thể cùng các Thiên Thần Chúa trên trời. Nhờ Chúa Ki Tô, Chúa chúng con. Amen”. Quả phụ nín khóc. Dường như một lúc nào đó, tạm quên đau khổ nàng lắng nghe lời ca thánh, và bất chợt nhận thấy lời nguyện chung gần gũi với nỗi lo lắng và niềm mơ ước riêng tư. Hoặc niềm đau xót đã đến chót vót, khiến nàng bàng hoàng ngơ ngác, như người đã lên đến ngọn đỉnh trời, lo âu nhìn vực thẳm quanh mình, không biết làm gì nữa giữa chốn mây khói bàng bạc và gió thổi. Vị linh mục tiến thêm một bước để làm dấu thánh giá trên quan tài… ”Lạy Chúa xin cho linh hồn Giu-se được nghỉ yên muôn đời, và được hưởng ánh sáng nghìn thu. Xin cho linh hồn Giu-se được nghỉ yên. Amen. Mong cho linh hồn này và linh hồn mọi tín hữu, nhờ lòng lân tuất Chúa được nghỉ ngơi bằng an. Amen”.

Đã đến giờ hạ huyệt. Từng nắm cát rơi rào rào trên tấm ván thiên, lâu lâu có lẫn tiếng sỏi rơi khô. Góa phụ lại nức nở khóc. Chẳng mấy chốc bên bãi đáp phi cơ trực thăng lập chon von trên sườn núi có thêm một ngôi mộ. Những người đưa tang lần lượt xuống núi, lòng nặng trĩu đẩy bước chân mau.

Chờ cho góa phụ về xong, vị linh mục mới cởi áo lễ và mời mấy người bạn thân về lán mình uống trà. Họ vui vẻ nhận lời, mỗi người có lý do hoàn toàn khác nhau. Viên trung úy từng học ban triết ở đại học Văn Khoa trước khi bị động viên muốn bàn với linh mục vài vấn đề thuộc tín lý đạo Thiên Chúa liên quan tới cái chết và sự phục sinh. Ông nhà giáo muốn có dịp đưa ra nhận xét về ý nghĩa tang lễ. Cụ cán sự công chánh hồi hưu muốn quên một ám ảnh khó chịu và muốn thưởng thức trở lại vị trà thơm Đài Loan sau mấy tuần uống trà HCR nhạt thếch Tiếp tục đọc

HOẠT CẢNH NGÀY XUÂN

NGUYỄN MỘNG GIÁC

1177364120121116191909937

1.

Như thường lệ hàng năm, những tờ báo Xuân sặc sỡ xuất hiện cũng lúc với những chợ hoa mai, quầy bánh chưng bánh tét trên hè phố. Hai cụ già đứng quanh một thùng bán báo Việt ngữ, ngắm nghía trang báo Xuân nhiều mầu sau tấm nắp kính. Một cụ rụt rè đề nghị với bạn:

– Trông cũng hay đấy. Ta bỏ hai đồng 25 xu vào lấy một tờ xem thử có khác số thường hay không.

Người bạn ngăn:

– Chắc thế nào trong chợ cũng có báo biếu. Mình vào thương xá tìm cái gì uổng đã.

Cụ già gật gù, chân theo bạn mà đầu cứ quay lại nhìn thùng báo, tiếc rẻ. Từ trong thương xá, một bà lão tay ôm cành mai tay dắt cháu đi ra. Ngang thùng báo, bà lão ngừng lại, bảo cháu:

– Cháu đưa 50 xu cho bà. Ông ngoại dặn mua một tờ báo Tết.

Cô cháu ngoan ngoãn lục túi lấy đưa cho bà lão hai đồng quarter. Bà lão bảo:

– Bà bận tay cái cành đào. Cháu đi lấy báo luôn đi.

Cô bé thả tay bà ngoại, chạy đến trước thùng báo, nhón gót đẩy hai đồng quarter vào khe bên phải nắp thùng, chờ cho tiếng kim khí leng keng chấm dứt, rồi mới thành thạo giở nắp. Bé kéo ra một tờ báo Tết, vừa định thả nhẹ cho nắp thùng bán báo tự động đóng lại thì một người đàn ông trung niên ăn mặc thật sang từ xa chạy tới, vừa chạy vừa la lớn:

– Ấy, ấy… khoan đóng đã cháu! Chờ chú lấy thêm tờ báo đã!

Người đàn ông trung niên gạt cô bé sang một bên, rút nguyên một xấp báo Tết đặt lên thùng báo, rồi đứng ngay tại đấy giở một tờ ra đọc.

Chợt nhìn thấy hai đôi mắt ngỡ ngàng của bà và cháu, người đàn ông lắc đầu chán nản, nói bâng quơ:

– Báo với bổ! Chẳng có gì đáng đọc cả. Mua chỉ phí tiền!

2

Thằng em mặt mũi lấm lem, nước mắt ràn rụa chạy vào nhà mếu máo mét thằng anh:

– Nó giật mất cái pháo của em rồi…Nó…

Thằng anh cắt lời thằng em:

– Đứa nào? Nó đâu? Nó chết với tao.

Hai anh em chạy ra cửa, thằng anh chạy nhanh, mặt đỏ vì giận. Thằng em lon ton chạy theo, tuy còn khóc hưng hức nhưng mặt rạng rỡ ánh vui.

Thằng anh khuỳnh tay nhìn quanh, hỏi:

– Nó đâu? Thằng khốn nạn đâu rồi?

Thằng em nép sau lưng anh, rụt rè trỏ về phía một thằng cô hồn to như con bò mộng, tóc tai bờm xờm, trên cánh tay có xâm hình con cọp đang nhe răng. Thằng anh bảo em:

– Vào nhà tìm cái gì đánh cho nó một trận dập thây.

Hai anh em lại vào nhà, thằng em hí hửng chạy trước. Nhưng khi thấy anh cứ tìm mãi tìm mãi không ra vũ khí gì vừa tay, thằng em đề nghị:

– Hay em xuống bếp lấy con dao của má?

Thằng anh trừng mắt:

– Mày muốn ở tù mục xương hả? Chỉ cần thứ gì đánh cho nó biết sợ mà thôi!

– Hay thanh sắt ba dùng chèn cửa sổ?

– Đừng động tới đồ đạt của ba. Ổng…

– Hay là anh sợ nó?

– Thằng nhóc nhiều chuyện! Chung qui chỉ tại mày. Mày nhỏ mà đi sanh sự với tụi côn đồ mất dạy ấy làm gì!

3.

Cả làng sống hết mùa đông này đến mùa đông khác, suốt đời chưa hề thấy ánh nắng, nên khi có người bảo ở phía bắc có mùa Xuân vĩnh cửu, mọi người bỏ làng chạy về hướng bắc không một chút do dự, luyến tiếc.

Đi được một tháng thì họ bị một ngọn núi chận lại. Tuyệt lộ. Tuyệt lương. Tuyệt vọng. Người dự báo mùa Xuân lại nhất định bảo bên kia ngọn núi Xuân đang tràn trề, công việc phải làm là mọi người phải vừa canh tác để sống, vừa đào một đường hầm xuyên núi.

Cả làng bớt tuyệt vọng, bầu người đó làm lãnh tụ và ngoan ngoãn xếp hàng vào hai đội: đội trồng tỉa và đội đào núi. Dưới chân ngọn núi đá chót vót hiểm trở, tự nhiên mọc lên một làng mới. Việc mưu sinh trước mắt và việc đục một con đường vào tương lai đều nặng nhọc, lâu dài, nên dần dà mọi người trong làng đều trở thành anh hùng. Không anh hùng nông nghiệp thì anh hùng đào hầm. Có người đoạt danh hiệu anh hùng nông nghiệp ban ngày và anh hùng đào hầm ban đêm.

Mùa đông năm thứ mười lăm, một người săn thỏ khám phá ra một hẻm núi tuy cây cối um tùm gai góc, nhưng có thể dẫn đi vòng qua núi để đến phía bên kia. Anh chàng săn thỏ hớn hở chạy về làng báo tin mừng.

Mọi người reo hò một lúc, rồi đột nhiên không ai bảo ai, tất cả đều im lặng. Người này lấm lét nhìn người kia, như vừa phạm một tội lỗi không thể tha thứ. Người đoạt nhiều danh hiệu anh hùng nhất lên tiếng trước:

– Làm gì có đường vòng qua núi! Nó nói láo, bà con đừng tin!

Thế là các anh hùng liệt nữ hùa nhau chửi bới người săn thỏ. Họ dồn anh ta vào một vách đá. Trẻ con leo lên cao đái vào đầu anh ta. Đàn bà nhổ nước cổ trầu vào mặt anh ta. Đàn ông ném đá vào anh ta. Cuối cùng, lãnh tụ đến. Ông phất tay ra hiệu mọi người im lặng, rồi ra lệnh cắt lưỡi người săn thỏ.

Từ đó dù thiếu thịt, không ai còn dám đi săn thỏ nữa, chỉ lo miệt mài đào hầm xuyên núi để gặp mùa Xuân.

Nguyễn Mộng Giác

Trái tim bên phải

Nguyễn Mộng Giác
prgress_on_heart_painting_for_cypress_basin_charit_abstract_art__abstract__ab37bba349b9d6d1bc412d8819b66ff2

Ðến trại tị nạn Galang “chàng” mới bị một vết thương đầu tiên! Xin nói rõ ngay cho bạn đọc đỡ sốt ruột, đây là vết thương lòng. Của riêng “chàng”! Vì nàng kiều nữ tác giả của vết thương tội nghiệp ấy, cho đến bây giờ, vẫn vô tình chưa biết mình đã lơ đãng làm người gieo gió.

Phải thông cảm cho người đẹp. Họ quá đẹp cho nên do lòng bác ái, họ cũng muốn những người tình trong mộng, những “hoàng tử của lòng em” cũng phải đẹp như họ. Người thích phủi bụi trên những pho cổ văn thì lấy mẫu Kim Trọng:

Trông chừng thấy một văn nhân
Lỏng buông tay khấu bước lần dặm băng
Ðề huề lưng túi gió trăng
Sau lưng theo một vài thằng con con
Tuyết in sắc ngựa câu dòn
Cỏ pha mầu áo nhuộm non da trời.

Mặc áo xanh cỏ non, cưỡi con ngựa trắng, lưng đeo túi thơ, chao ơi, “chàng” tình biết mấy!

Người khoái phim quyền cước đấm đá tơi bời thì thích cái mẫu đại khái như TỪ Hải:

Râu hùm hàm én mài ngài
Vai năm tấc rộng thân mười thước cao Tiếp tục đọc

Thư Mùa Xuân Gửi Người Bạn Trẻ

Nguyễn Mộng Giác

dream_seekers_logo

Cô Liên thân mến,

Tôi vừa nhận được tập thơ của cô gửi tặng. Xin cảm ơn cô nhiều. Thật là một món quà mùa xuân đến đúng lúc. Bìa trình bày trang nhã. Chữ in đẹp và rõ. Ðọc đến đây, chắc cô chờ đợi ý kiến của tôi về nội dung tập thơ. Chờ đợi những lời tán thán quen thuộc như “hay”, “được”, tuyệt diệu”, độc đáo”… Tôi nghĩ những hạn từ thông thường loại này (mà các nhà phê bình thường dùng đi dùng lại nhiều lần với lòng kiêu ngạo đáng ghét) không nói được gì cả. Dù khen hay chê, đó là những lời xã giao giữa hai kẻ lạ, ngẫu nhiên gặp nhau ở một buổi họp mặt có diễn văn khai mạc, có những cái bắt tay qua loa, có những nụ cười gượng, có những câu thăm hỏi không cần trả lời.

Không, khi một mình ngồi bên đèn giữa đêm mênh mông, soi gương nhìn cả cuộc đời mình bằng trang giấy trắng, chộp bắt những xúc động mông lung mơ hồ ép vào khung ngôn ngữ rồi chới với vô vọng khi nhận ra cái bất lực của ngòi bút, tôi nghĩ cô không hề muốn nghe những lời xã giao lấy lệ. Nếu muốn sống ngoan ngoãn như chiếc lá xuôi dòng, cô đã không mất thì giờ viết lách. Còn nếu muốn nghe những tràng vỗ tay nhiệt liệt làm cô hân hoan suốt tuần suốt tháng, làm cô thấy mình vĩ đại như một nữ thánh, trường cửu như Kim tự tháp Ai cập, có lẽ cô cũng không dại gì làm thơ. Cô sẽ dùng thì giờ cuối tuần vào những hoạt động từ thiện, dùng bàn tay thơm mịn của cô để vỗ về những người tàn tật già nua. Tuy chưa gặp mặt, nhưng tôi vẫn nghĩ lối chữ viết của cô, lời thơ của cô thế nào cũng từ những bàn tay búp măng thon nhỏ rất thích hợp với những công việc thiện nguyện ấy Tiếp tục đọc

Tám Khùng

Nguyễn Mộng Giác

_20111122_2085554635

Nguồn cuongde.org, ảnh Đặng Ngọc Vân

Năm 1995 lần đầu về thăm quê hương sau mười bốn năm xa cách, tôi hỏi các cháu trong nhà “Ông Tám Khùng bây giờ ra sao?”. Các cháu tôi ngơ ngác, đứa này đưa mắt hỏi thầm đứa kia, không biết trả lời thế nào. Đứa lớn nhất đáp mơ hồ”Chắc ổng chết lâu rồi cậu”.

Tim tôi đau thắt! Tám Khùng chết rồi! Nhưng tôi trấn tĩnh được ngay. Phải, nếu tính nhẩm tuổi đời của Tám Khùng thì chuyến về thăm Qui Nhơn lần này tôi không gặp Tám Khùng nữa, cũng phải. Ông ấy đã lớn tuổi, lại sống theo cách sống như thế, làm sao…

Không một chút đại ngôn, tôi có thể nói rằng Tám Khùng là công dân số một của thành phố Qui Nhơn, quê hương tôi. Những anh hùng hào kiệt, những văn hay chữ tốt, những rừng vàng biển bạc, những mũ cao áo rộng có dính dáng tới Qui Nhơn một thời, bây giờ còn ai nhớ đâu. Họ đến , rồi họ đi. Họ đến vồ vập tham lam. Họ đi lầm lũi lén lút. Qui Nhơn thành phố thân yêu của tôi đối với họ chỉ là một quán trọ không mất tiền. Đòi hỏi họ thủy chung là chuyện không hợp tình, nói gì tơí hợp lý. Tám Khùng thì khác hẳn. Ông là một trường hợp ngoại lệ, vì thế ông xứng đáng là một công dân ngoại hạng của Qui Nhơn.

Sau hiệp định Genève, lúc chiếc tàu Ba Lan nhổ neo ngoài khơi Qui Nhơn đưa đợt bộ đội và cán bộ kháng chiến cuối cùng của Liên Khu V tập kết ra Bắc, Qui Nhơn chỉ còn là một đống gạch vụn trên bãi cát hoang dại khét nắng. Trong chiến dịch Atlande, lính Pháp đã cho phá sập những căn nhà gạch hoang tàn còn lại trên những phố cũ, và giăng hàng hà sa số những hàng rào dây thép gai về các hướng nguy hiểm để phòng vệ. Lúc tôi xuống Qui Nhơn tiếp tục học trung học, Qui Nhơn trống hoác như một bãi tha ma, lác đác đây đó vài mái nhà tranh cất vội, những hàng keo lá thưa, vài con đường nhựa loang lổ ổ gà và những người dân đánh cá hồi cư gầy yếu, khắc khổ. Thành phố điêu tàn vì chiến tranh, và bây giờ hồi sinh cũng nhờ chiến tranh. Nghề mưu sinh của hầu hết mọi người hồi cư là gỡ dây thép gai cuộn lại thành từng cuộn để bán.

Bọn học trò rắn mắt chúng tôi, ngoài những buổi học nực nội trong những căn phòng mái tôn nóng bức và những chiều tắm biển, chỉ còn lại cái thú giải trí là đi lùng hái những trái keo hiếm hoi còn sót lại, và… chọc nghẹo ông Tám Khùng. Chúng tôi đang ở lứa tuổi 14, 15; giọng nói bắt đầu đổi, mụn bắt đầu mọc trên da mặt, lúc nào trong người cũng hừng hực sinh lực nên lúc nào cũng muốn xê dịch hay đập phá một cái gì. Tám Khùng rủi ro trở thành nạn nhân của chúng tôi Tiếp tục đọc