Dương Nghiễm Mậu, “sống tự do hay là chết”.

nguyenleuyen

Báo chí miền Nam viết nhiều, nói nhiều về Dương Nghiễm Mậu và đều dành cho ông những tình cảm đặc biệt và một vị trí xứng đáng trong dòng văn học miền Nam trong giai đoạn từ năm 1954 trở lại đây (ngoại trừ Thằng Gù bên hông nhà thờ Đức Bà – tựa một bài viết của Viên Linh trên tuần báo Nghệ Thuật).
Với 21 tác phẩm, gồm truyện ngắn, truyện dài và những đoản văn, bút ký… người đọc đã nhìn thấy trọn vẹn thái độ và trách nhiệm của ông với ngòi bút của chính mình trước người đọc, xã hội và cả một khúc lịch sử ngắn ngủi bị xé toạc, tơi tả.
Trên bán nguyệt san Thời Tập, số cuối cùng, số 23 tháng 4.1975, khi mà ông chủ bút Viên Linh chưa thấy được mặt mũi “đứa con út”, thì ở đó, Dương Nghiễm Mậu đã có bài trả lời ngắn về những lý do tại sao ông không chịu di tản ra nước ngoài: “Có người đến hỏi tôi: Có đi ra ngoại quốc không? Tôi đã trả lời dứt khoát: Tôi sống và chết tại nơi này. Người ấy hỏi: Anh chấp nhận sống chung với người Cộng Sản? Tôi nói: Tôi không phải là một con chó để nay sống với chủ này, mai sống với chủ khác chỉ vì miếng xương chúng liệng ra. Tôi tin tưởng con đường tôi đi. Có một nơi là lẽ phải và ánh sáng. Có một nơi là lẽ trái và bóng tối. Có trắng và đen không thể nhập nhằng được. Nếu tôi có chết chăng nữa, điều ấy tôi không ân hận. Lịch sử đã chứng minh rằng: Nhiều khi cái chết là một điều tốt hơn là sống. Chết đi cho người khác sống, cho lẽ phải và sự thực, sống chết như thế cần thiết. Tôi bình tĩnh với quyết tâm đó”.
Thái độ chọn lựa của Dương Nghiễm Mậu cũng chính là thái độ của chàng Kinh Kha với con chủy thủ trên đất Tần bất trắc, một truyện ngắn mà ông đã rút cả máu, cả ruột gan để viết. Ông để Kinh Kha qua sông Dịch. Ông ném đoản đao vào tay Kinh Kha. Chàng cầm chặt, kề vào cổ Tần Vương, nhưng thay vì run sợ, Tần Vương lại ngửa cổ cười khan, sảng khoái. Và chàng hiểu ra tất cả: Tần Vương này chết sẽ có một Tần Vương khác, vài ba Tần Vương khác… đánh đổ một chế độ độc tài này thì tức khắc sẽ có một chế độ độc tài khác mọc lên.
Đó là sự thất bại cay đắng của trí thức, một thất bại nhục nhã của lòng yêu chuộng tự do, hoà bình. Và hình ảnh chàng Kinh Kha lầm lũi quay lui trong một cung điện nguy nga, tráng lệ tội ác vẫn là nỗi đau đớn không cùng của chính ông, như một dự báo cho ngày hôm nay.
Tại sao như vậy? Những kẻ tọc mạch luôn muốn biết “tại sao” như một căn bệnh sổ mũi kinh niên. Và không để cho những kẻ đó khốn khổ mò mẫm trong bóng đen suy diễn, ông dốc tuột sự thật đang diễn ra từng ngày từng giờ, mà ai cũng nhìn thấy những cảnh tượng đau lòng này nối tiếp những đau thương khác dồn dập đổ ập trên quê hương: “Những chiếc xe như súc vật, những xác nguời nằm như lá khô, pháo kích không ngừng, những bà mẹ, đứa bé bò trên mặt đường và chiếc bình sữa… Trong cồn cào của thời sự, những sự việc làm tôi chóng mặt. Tôi tự hỏi: có phải đã tới lúc mà mình phải cầm lấy mũi nhọn, phải, chỉ có thế trong chọn lựa một khi cơn lốc đến. Tôi không thể có một chọn lựa đầu hàng để sống như trâu chó. Tôi chỉ thương hai tấm con thơ… Có thể một cơ sự như thế sẽ đến không?” (sđd) .
Những cảnh tượng kinh hoàng, xám xịt màu đen tối kia, không phải chỉ đến những ngày cuối cùng chúng ta mới nhìn thấy, ông mới nhìn thấy. Đã từ rất lâu, khi mới là chàng thanh niên ngoài 20, ông đã thấy và hiểu tất cả, tạo thành vật nhọn đâm thẳng vào tâm hồn ông, đau nhói. Ông đã nhìn thấy và ông đã viết ra. Trong bối cảnh xã hội đang vật vã, hấp hối, với tư cách của một phóng viên chiến trường, ông đã lặn lội đến tận nơi các đơn vị hành quân trên khắp 4 vùng chiến thuật, sống dưới đạn bom gào rú trong các trận đánh, những bãi chiến trường xác chết ngổn ngang.
Nhưng bi thảm nhất, đọng lại trong tâm trí ông là những cảnh tượng hãi hùng: Đó chính là những xác chết, những nấm mộ lấp vội ven đường, trong vườn nhà của những người dân vô tội, không có lấy một tấc sắt trong tay để tự vệ trong biến cố Mậu Thân ở Huế. Sự điên cuồng dã man đã đẩy hàng ngàn người dân vô tội chết tức tưởi, chết không nhắm mắt mà không hiểu tại sao mình phải chết! Trong bút ký Đi Trên Những Xác Chết đăng trên bán nguyệt san Văn số 104 phát hành ngày 15.4.1968, sau này in lại trong tập Địa Ngục Có Thật , có đoạn ông ghi lại: “Ở trong nhà mọi người vẫn sinh hoạt bỗng nghe tiếng nổ, rồi một người đàn bà kêu lên ở ngoài sân, chạy ra thấy bà ta ngã xuống chết. Hết sức kinh hoàng, cũng như phía sau nhà đó, bảy người cùng chết, những ngày đó chẳng ai chết mà có được quan tài. Người ta lo đào một cái huyệt vùi xuống cho xong. Tội nghiệp, một bà vợ ở xóm trên này, ông chồng bị bắt đi bị bắn chết, bắn chết trước mặt, rồi trận đánh tới, bà vợ chỉ còn đủ thì giờ kéo xác ông chồng về bỏ trong buồng, đóng cửa lại rồi dắt con chạy loạn…”
Một đoạn khác, cũng ở bài bút ký này: “Những ngày đầu tiên, ngay sau khi tiếng súng ngừng nổ, người ta đã đổ xô tới đó nhìn mặt những người chết đã nát, nhiều xác chết để bừa bãi, mặt che bằng những tàu lá chuối, bằng những tờ báo, những con chó quanh quẩn, những người bao khẩu nhìn ngó… Những cái xác nào bị đào lên dập xuống nhiều lần. Những đồng bạc được đếm trên những xác người sình thối… Hai ngàn, rồi năm ngàn… Những xác chết đã thành tiền cho những người nào đó…”.
Đó là những gì ông đã tận mắt nhìn thấy ở khu vực cầu Gia Hội, Huế trong những ngày Mậu Thân.
Vâng, Từ Gia Hội qua Phú Cam, lên Thừa Phủ, đến sân nhà thờ Chánh toà và cả sân trường Đồng Khánh… nơi nào cũng xác chết, cũng tan hoang, cũng thù hận và chém giết và máu và xương trắng và khăn tang… Chính từ những suy nghĩ và hành vi man rợ mang trong đầu cái học thuyết hoang tưởng đã đẩy cả ngàn người dân vộ tội vào tử lộ một cách thản nhiên, để “trừ như trừ những con rắn độc!”. Và, chúng ta hỏi, họ là ai? Không ai cả mà cũng chính là họ, những người trí thức, những kẻ mô phạm, những tên cuồng tín. Ông đã đưa ra hình ảnh một cô gái Huế mỹ miều, mấy năm liền thi rớt y khoa ở Sài Gòn, sau trở về Huế học văn khoa, bỗng dưng một ngày kinh hãi nổ ra, cô ta xuất hiện trên chiếc mobylette như một mụ phù thuỷ gớm ghiếc đu xiếc trên cán chổi… “Đến lúc biến cố mọi người thấy cô ta mặc quần jean đeo súng và chạy cùng khắp trong thành phố, nhiều người bị cô ta chỉ vào mặt và tất nhiên sau đó nhiều hậu quả đã xảy ra…”.
Không chỉ chừng đó cảnh tan hoang nheo nhóc. Ở tận cùng đất nước: Cà Mau rồi ngược ra Tây Nguyên, những Pleiku, Kontum, Nha Trang, Phan Rang… Quảng Ngãi, Đà Nẵng… đâu đâu, nơi nào cũng có “những anh em du kích lẻn về phá rối đời sống dân chúng”.
Không chỉ nghe. Không chỉ nhìn thấy, tận mắt chứng kiến mà, hơn hết, như ông nói là phải có trách nhiệm với ngòi bút, nên ông đã ghi lại một cách trọn vẹn. Đó cũng là trách nhiệm với bản thân ông, trách nhiệm với xã hội bằng giọng văn đặc hữu: Tỉnh táo đến độ khô khốc như những cơn gió Nam cồ Nam mái trên dãi đất miền Trung, xoáy tung những mái tranh nghèo xơ xác, nhấn chìm những phận người như bọt bèo, nhưng không thấy ở ông, những dòng chữ nơi ông sự bi thiết hay hằn học.
Có lẽ chính điều này đã giữ cho tâm hồn ông được thăng bằng, bởi trong bút kỹ đã dẫn, ông trích lại vài trường canh trong ca khúc của Phạm Duy ẩn hiện đâu đó trong ký ức ông. Đó là những ca từ và giai điệu đẹp để cuộc đời này đẹp hơn chút, trên đống hoang tàn đổ nát: “Buổi sáng nay thức dậy, nghe tin em gục ngã nơi chiến trường, nhưng trong vườn anh, đoá trà mi vẫn nở thêm một đoá, tôi vẫn sống tôi vẫn ăn và tôi vẫn thở… biết bao giờ…”.

Viết về Dương Nghiễm Mậu lúc này giống như đang ngồi trước tủ sách trống rỗng của ông: Một nỗi niềm xót xa cay đắng của một nhà văn luôn đặt trách nhiệm về thiên chức và nhân cách lên hàng đầu, như là điều xác tín: “Với riêng tôi, nhìn lại quá khứ từ 15 năm trở lại đây tôi có thể hài lòng để nghĩ rằng mình đã làm hết, đóng góp hết những gì có thể làm, có thể đóng góp. Lập trường dứt khoát của tôi đã hơn một lần được xác định trên những giòng chữ viết. Ở đó bao hàm một phấn đấu không cùng” (trả lời trên Thời Tập).
Tôi nhớ trên tuần báo Khởi Hành năm 1969, đã đặt câu hỏi về những suy nghĩ của nhà văn về tuổi 20, ông đã nói, đại ý: “Với lương tri… người trẻ tuổi nào cũng mong tìm thấy cho mình và cho mọi người một đời sống đáng sống. Bộ mặt thực của thế hệ 20 ở Việt Nam năm 1969 không phải do cái bề mặt giả hình của nó, mà nhiều người trẻ tuổi khoác lên mình hay người ngoài nhìn vào thấy. Có thể nói bộ mặt đó bi quan nhưng rất tin tưởng”.
Còn trên tuần báo Nghệ Thuật, khi đọc tác phẩm Đêm Tóc Rối, Viên Linh đã có nhận xét: “Nhân vật của Dương Nghiễm Mậu là những người trẻ tuổi bị đè nặng bởi quá khứ về mặt tinh thần, và bởi tương lai về mặt trách nhiệm… Nhân vật Dương Nghiễm Mậu là người tù giam lỏng”.
Khoảng năm 1972, trên tuần báo Khởi Hành có loạt bài thăm dò độc giả bây giờ thích nhà văn nào, tại sao? Và tôi nhớ có một độc giả viết như sau: “Về Dương Nghiễm Mậu, ta bắt gặp hình ảnh của những kẻ sĩ bó tay trong một xã hội băng rã. Phong thái nhân vật của ông nửa anh hùng, nửa ăn cướp. Dương Nghiễm Mậu hiểu được phần nào tâm trạng của những người trẻ tuổi ưa suy nghĩ, thích hành động nhưng sớm chán nản trước thời cuộc”.
Trước 1975, độc giả vẫn đón đợi ở ông những suy tư ray rứt từ những nhân vật. Và bây giờ cũng vậy, đó là lý do tại sao nxb Văn Nghệ (Sài Gòn) và công ty văn hoá Phương Nam cho tái bản 4 tập truyện ngắn của ông (Đôi Mắt Trên Trời, Cũng Đành, Nhan Sắc, Tiếng Sáo Người Em Út) đã khiến Vũ Hạnh phải dở giọng cay độc như đã từng, hồi đầu những năm 75,76: “Những tác phẩm này giá trị ra sao, đa số bạn đọc sống ở miền Nam trong thời chống Mỹ đều đã biết rõ. Bởi lẽ, những quyển sách này không chỉ là các sản phẩm văn hóa mà vốn là những vũ khí độc hại về mặt tinh thần…
…Hơn ba mươi năm trôi qua, những thứ sản phẩm, gọi rằng văn hóa, rất độc hại ấy đã được xếp xó cùng với bao khối bom, mìn, súng ống đủ loại từng gây chết chóc, thương tật cho những con người yêu nước và tưởng rằng sự yên nghỉ ngàn thu của các sản phẩm như thế là chuyện lịch sử đã an bài rồi. Và các tác giả – là Dương Nghiễm Mậu, Lê Xuyên – sống lại ở thành phố này vẫn được đối xử bình đẳng, không hề gặp phải bất cứ sự quấy phiền nào. Những nỗi khổ đau và những sai lầm đã được xếp vào dĩ vãng, được khuyên khép lại, quên đi để cùng nhìn vào thực tại, hướng về tương lai…
…Vì những lẽ đó, rất nhiều bức xúc, phẫn nộ của các bạn đọc khi thấy Công ty Phương Nam ấn hành sách của ông Dương Nghiễm Mậu. Các bạn đọc này gồm nhiều thành phần: vị tướng đã từng xông pha trên các chiến trường chống Mỹ, nhà giáo dạy văn, một cựu sĩ quan quân đội, nhà thơ, nhà báo… Đem những vũ khí độc hại ra sơn phết lại, rêu rao bày bán là một xúc phạm nặng nề đối với danh dự đất nước” (SGGP số ngày …/4/2007).

Đọc lại những truyện ngắn trong 4 tập này, không biết Vũ Hạnh tìm ở đâu ra những dòng chữ và các nhân vật lẫn lời thoại trong đó là những vũ khí độc hại về mặt tinh thần… rồi thì: là một xúc phạm nặng nề đối với danh dự đất nước.v.v. Vũ Hạnh chỉ nói vu vơ mà không chỉ ra được độc hại và xúc phạm danh dự đất nước nằm ở chỗ nào trong 4 tập truyện trên? Có phải vì trước đây, trên tuần báo Nghệ Thuật (hay Khởi Hành?) có loạt bài phỏng vấn Độc gải bây giờ thích nhà văn nào trên nhiều số báo? Và Vũ Hạnh thì không có tên trong những nhà văn được độc giả ưa thích nhất: Dương Nghiễm Mậu, Mai Thảo, Trùng Dương, Nguyễn Đình Toàn, Viên Linh, Nhã Ca, Thanh Tâm Tuyền… nên ông cay cú mãi tới tận ngày hôm nay? Hoá ra, như một nhà văn lão thành đã nhận xét, “ông ta chỉ là tay chạy chợ, một kẻ xum xoe theo lối chính trị hoá văn học giảo hoạt không hơn kém”!
Trong khi đó, một cách công tâm, nhà phê bình văn học miền Bắc Phạm Xuân Nguyên đã có cái nhìn sắc sảo của một nhà phê bình chính thống, không vị nể, kiêng kỵ: “Đọc văn Dương Nghiễm Mậu là đọc những trăn trở, hoài nghi, lo âu, dằn vặt trước những hoàn cảnh có thể biến con người thành chuột, hạ cấp nhân tính thành thú tính (“Những chuột”), trước sự bạo hành của cái ác có thể khiến con người dửng dưng với nỗi đau của đồng loại (“Lấy máu”). Tính biểu tượng của truyện “Những chuột” buộc người đọc từ hoảng sợ đến thức tỉnh.

Đọc văn Dương Nghiễm Mậu là đọc những day dứt lựa chọn của người trí thức, người sĩ phu trước một hiện tại lịch sử: xuất xử hay hành tàng, hành động hay không hành động, hành động vì cái gì, hành động theo hướng nào. Cả tập Nhan sắc gần như có thể nói là được viết cho đường hướng tư tưởng này, bằng những truyện dã sử và giả sử. Từ Hải, Kinh Kha, Hồ Quý Ly, Lê Quý Đôn, Nguyễn Huệ, Phạm Thái khi trở thành nhân vật của Dương Nghiễm Mậu đã được nhà văn đặt vào những tình thế lựa chọn, và họ đã phải lựa chọn theo cách của con người hiện đại muốn ở họ. Họ phải lựa chọn để không ngừng đi tìm ý nghĩa của cuộc sống. “Phải sống. Sống không phải là nương theo những điều đã được định sẵn. Sống là tìm kiếm, lựa chọn, đương đầu…”, do đó, mỗi người phải tự chịu trách nhiệm về những quyết định của mình

Đọc văn Dương Nghiễm Mậu là đọc những tình cảm bình thường, giản dị, mà chân thành, xúc động, đưa đến những đồng cảm, sẻ chia giữa những con người cùng ở trong một tình thế sống (“Lời chúc cho kẻ phản bội”). Văn đó không hề hạ thấp con người, ngược lại, nó buộc mỗi người phải bận tâm với chính mình trong tư cách con người.
(Phạm Xuân Nguyên, Truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu, Thể Thao & Văn Hoá, số ra ngày 13/4/2007)
Tạm bỏ qua chuyện Vũ Hạnh với 4 tác phẩm vừa tái bản của Dương Nghiễm Mậu, chúng ta hãy trở lại câu hỏi: Tại sao độc giả lại thích truyện Dương Nghiễm Mậu? Vì khoảng trước năm 1963, như lời kể của Mai Thảo trên tạp chí Văn, Caliornia số tháng 12 năm 1984 thì thiên truyện đầu tay của Dương Nghiễm Mậu gửi đến toà soạn (không nói rõ tạp chí nào) và bị vất bỏ. Mai Thảo nhặt được, đọc nó và cho đăng (trên Sáng Tạo?). Thiên truyện này được Võ Phiến nhắc lại trong bộ Văn Học Miền Nam có tựa Rượu Chưa Đủ: “Chuyện xảy ra ở một thành phố… Nhân vật chính thường ngày đến công viên, gặp người này người nọ, làm chuyện nọ chuyện kia .v.v., công viên nào vậy? Tác giả không thèm đặt cho những nơi chốn đó lấy một cái tên” (Võ Phiến, VHMN, trg 709).
Cũng theo những tiết lộ của Võ Phiến, trong những truyện ngắn đầu tay và những tập truyện xuất bản đầu tay như Cũng Đành, Gia Tài Người Mẹ… độc giả chừng như không mặn nồng đón đợi gì nhiều ở ông, có lẽ do cách viết “không giống ai” ở ông. Dương Nghiễm Mậu chấp nhận điều này, xem như một lối đi riêng của mình và buộc độc giả phải chấp nhận. Quả vậy, độc giả đã “đầu hàng” và dần hồi tìm thấy ở ngòi bút của ông một phong cách riêng, rất độc đáo, không lẫn với văn phong của ai khác; ngay chính trong nội dung và những vấn đề ông đặt ra cho từng nhân vật nhận lấy trách nhiệm, hành động cùng những suy tư cũng kiến độc giả phải “giật mình”. Nói giật mình, bởi ông đứng hẳn về phía cái mới, từ cấu trúc ngôn ngữ, xây dựng nhân vật để chuyển tải những nội dung ông đặt ra, thường là những câu hỏi “không hỏi”, để cho người đọc tự xoay xuể, tìm câu trả lời theo cách riêng của từng người. Ông chỉ đặt ra các vấn đề mà không giải quyết vấn đề? Về vấn đề này, trên Bách Khoa số 154 ngày 1.6.1963, Đặng Tiến có nhận xét: “Tất cả các nhân vật của Dương Nghiễm Mậu đều nghèo túng. Xã hội của Dương Nghiệm Mậu là xã hội bị chiến tranh tàn phá, ở đâu cũng còn vết tích của rạn vỡ: Trong thành phố, trên cơ thể, trong tâm hồn. Một xã hội con lạc cha, vợ lạc chồng, anh em hầm hè nhau như hổ đói, người với người xem nhau như súc vật. Nhưng truyện của Dương Nghiễm Mậu không phải là truyện xã hội…, Vấn đề đặt ra ở đây, không phải là làm thế nào mang lại cơm áo cho những người đói rách, nhưng vấn đề là tạo ta trong mỗi người đang đói rách một ý thức về những giá trị siêu việt trầm tích trong tâm hồn họ… Vấn đề ở đây là một vấn đề siêu hình, thuộc về định mệnh ” (Võ Phiến, sđd, trg 708).
Điều mà nhà phê bình Đặng Tiến nhìn thấy ở Dương Nghiễm Mậu cách đây non nửa thế kỷ có lẽ khá chính xác đối với toàn bộ tác phẩm của nhà văn Dương Nghiễm Mậu, bởi sau 1975, ngoài thời gian bị tù đày, làm sơn mài kiếm sống, hầu như ông không viết gì, hiếm khi tiếp xúc với những “kẻ lạ mặt”. Duy nhất độc giả chỉ mới được đọc tập truyện vừa ở dạng ebook trên mạng có tựa Lênh Đênh Trên Cửa Thần Phù và ở đó, trong truyện này, ông cũng đã tạo ra trong mỗi người đang đói rách một ý thức về những giá trị siêu việt trầm tích trong tâm hồn họ. Cũng lại là vấn đề siêu hình và thuộc về định mệnh!
Cái định mệnh khốc liệt ấy, không phải do ông tạo ra, ông không có quyền dựng lên. Nó chỉ là cái hiển nhiên của xã hội đã đẻ ra nó, để những đứa con xác xơ Chí Phèo bị quăng ra giữa đời, để những Xuân tóc đỏ, những chị Dậu… buộc phải hiện hữu trong thời hiện đại rất đỗi ma quỷ. Thời đại đang có sự lẫn lộn giữa thiện và ác, giữa quỷ và người. Và ông, với thiên chức của nhà văn đã ghi lại trung thực.
Điều đáng tiếc duy nhất ở phía người đọc trong nước bây giờ, giống như tủ sách trống không của ông, chúng ta không còn có quyền giữ lại một tác phẩm nào của các nhà văn miền Nam để nhẩn nha đọc lại, để có cái nhìn chính xác hơn về nhân vật, về nội dung sau bao nhiêu năm bị đóng kín sau “khung cửa hẹp”. Dẫu không còn tác phẩm trong tay, nhưng những gì chúng ta đã được đọc trong 21 tác phẩm ông để lại cho đời là những dự báo, là những cơn đau quặn thắt cho mỗi chúng ta, những người còn chút lương tri, dẫu ở trong hay ngoài nước, dẫu ở bên này hay bên kia của thắng thua, như blog Bút Chì đã viết, được Dân Luận trích đăng và dẫn sau đây:
“Em lớn lên, em nhìn xung quanh, em học và suy nghĩ, có bao giờ em nhìn thấy gì, nghe thấy gì ngoài những băng rôn khẩu hiệu khoa trương trống rỗng, những lời lẽ sáo mòn vô nghĩa, những bài học khô khan buồn ngủ? Em lớn lên, em xem ti-vi và đọc báo, em có bao giờ thấy những con người béo tốt đang tự giao cho mình trọng trách cầm lái cho đất nước dám đứng lên nói một cái gì không cần cầm mảnh giấy, nói một cái gì không làm em buồn ngủ, nói một cái gì mới trong suốt từng ấy năm? Và giả như có lúc nào họ nói không dùng giấy, hoặc thậm chí nói với sự chuẩn bị kĩ lưỡng trước khán giả nước ngoài, có phải em sẽ nhận ra ngay sự ngu dốt, ấu trĩ, độc ác và chết chóc trong từng hơi họ thở? Làm sao em có thể mơ đến việc họ có thể kể cho em nghe về những hy sinh mất mát của tiền nhân, về những khó khăn đau khổ của hiện tại, về việc tiếp nối một truyền thống nào và hướng đến một tương lai ở đâu. Không, họ không kể với em gì cả. Họ luôn xuất hiện chớp nhoáng sau những chiếc mặt nạ rồi nhanh chóng lủi đi mất”
(https://danluan.org/…/but-chi-ke-chuyen-em-nghe-tu-nuoc…).
Tôi không dám chắc chủ blog này đã có đọc Dương Nghiễm Mậu hay chưa? Nhưng hơn hết, có lẽ anh (chị) chủ blog này thuộc thế hệ trẻ, thế hệ có lương tri, có suy nghĩ, thao thức, dằn vặt về vận mệnh dân tộc. Những ray rứt trên kia, có phần nào giống với các nhân vật của Dương Nghiễm Mậu từng băn khoăn, ray rứt và bất lực?
Sau mấy chục năm, độc giả vẫn cứ ngỡ rằng ông đã gát bút. Nhưng không ông vẫn âm thầm làm việc, vẫn âm thầm viết, sau Qua Cửa Thần Phù, ông viết Từ Hải Ngoại Truyện và nghe đâu ông đang viết những dòng cuối cùng thiên truyện Tự Truyện Nguyễn Du…
Bốn năm trước đến nhà thăm ông, khi ra về ông đưa tặng tôi bản đánh máy Từ Hải Ngoại Truyện. Đọc xong, tôi mới thấy nhân vật Từ Hải ông từng khắc họa một cách trân trọng, nâng niu với tất cả những tình cảm gửi gắm qua những chi tiết ẩn dụ, thì Từ Hải trong ngoại truyện là một bộ mặt khác, như một thảo khấu rất đỗi anh hùng và ngược lại. Hình ảnh đó cũng vẫn là những day dứt, những trách nhiệm và các câu hỏi chẳng hỏi ai luôn được ông đặt ra: “Cụ già cầm lấy ngắm nghía rồi lật những trang sách nhìn trên nhìn dưới rồi gấp lại đưa trả thầy Khổng và nói: tôi không biết dùng cái này để làm gì. Có tiếng cười khả ố vang lên từ một người trung niên ở trần, đóng khố: sách chẳng có giá trị gì đối với những người không có cơm ăn và mù chữ. Ông hãy bước chân xuống ruộng, đi cày trồng lúa rồi lấy thóc mà cho họ thì có ích hơn”.
Và, ông Mậu bây giờ cũng có những chiếc mặt nạ ma quỷ, nhưng không phải để treo lên tường như một cách làm dáng thường thấy ở loại nhà văn rởm, cung đình, mà làm ngay trên mặt ghế đẩu, bằng sơn mài để ông ngày ngày kê đít lên, bạn bè tới thăm kê đít lên.
“Dù vũ trụ có đè bẹp con người, con người vẫn lớn hơn những gì đã huỷ diệt nó. Người ta nhớ lại câu nói đó của Pascal khi đọc Dương Nghiễm Mậu” (Đặng Tiến, Vị trí con người dưới mắt Dương Nghiễm Mậu, Bách Khoa số 154).
Những nhân vật của Dương Nghiễm Mậu, kể cả chúng ta đang bị “đè bẹp” và chúng ta “vẫn lớn hơn những gì đã và đang huỷ diệt nó”.
Đó là thái độ của kẻ sĩ.
Sống tự do hay là chết.
Đó là cách chọn lựa của kẻ sĩ bất lực!

NGUYỄN LỆ UYÊN
(Udon Thani)

CẢNH CỬU VÀ SỰ CÔ ĐƠN ĐẾN TẬN CÙNG

nguyenleuyen

“Tôi yêu anh yêu biết nhường nào
như quê hương yêu anh yêu mê mệt
mà anh dửng dưng, nguội lạnh.
Tôi buồn như những đám dương vùng Đại Lãnh.
Tôi khóc như mưa chiều về với núi Vọng Phu”
.
(Cảnh Cửu)

Trước đây, nhiều người vẫn nghĩ rằng, Cảnh Cửu chỉ có một truyện ngắn duy nhất là Thư từ Tuy Hòa, đăng trên tạp chí Văn số 45 chủ đề Françoise Sagan ra ngày 1.11.1965. Nhưng thật ra không phải vậy. Hơn một năm sau, truyện ngắn thứ hai Vòng đai học vấn (1) xuất hiện trên Văn số 72, ngày 1.11.1966; rồi 5 tháng sau là truyện Khởi hành vào mùa xuân tương lai (1) Văn số 79, ngày 1.4.1967; đây cũng chính là truyện cuối cùng ký tên Cảnh Cửu.
Như vậy, trước sau Cảnh Cửu có 3 truyện đều được đăng tải từ tạp chí Văn, một tạp chí văn chương nổi tiếng của miền Nam. Đây có thể coi là một trong số những truyện ngắn độc đáo trong dòng văn học nghệ thuật miền Nam (1954-1975).
Chỉ riêng việc Cảnh Cửu đến với văn chương không ồn ào, rồi lặng lẽ rút lui (không viết thêm một truyện nào khác trên bất kỳ tạp chí văn chương nào khác) đã khiến nhiều người đặt dấu hỏi tại sao, và Cảnh Cửu là ai?
Cảnh Cửu là ai? Không hề có một thông tin nhỏ nào. Ngay cả khi còn là thư ký tòa soạn Văn, chính ông Trần Phong Giao, lúc cho đăng truyện Thư Từ Tuy Hoà mà “không cần qua Ban tuyển đọc tác phẩm, chỉ vì truyện khá hay, lại là truyện ngắn đầu tay” – lời TPG. Ông viết thư khuyến khích Cảnh Cửu, gửi nhuận bút cho tác giả với hy vọng của một người luôn nặng lòng với văn chương, luôn để mắt khám phá những cây bút trẻ tài năng, sẽ có thêm một Cảnh Cửu chói sáng như một số nhà văn trẻ trước đó. Nhưng rồi hy vọng đã không thành và những gì ông nói về Cảnh Cửu trong những buổi “trà dư tửu hậu” chỉ là những từ “hình như” nối liền nhau: Lúc truyện ngắn đầu tiên được chọn đăng, hình như Cảnh Cửu đang theo học ngành Nông Lâm Súc tại Sài Gòn. Trước đó, hình như Cảnh Cửu theo gia đình di cư vào Nam năm 1954, nơi đến đầu tiên là Tuy Hòa, vùng đất nghèo nàn, khô cháy ở duyên hải miền Trung. Hình như Cảnh Cửu cũng học bậc trung học ở đấy (trường Nguyễn Huệ, Tuy Hòa – dẫn của người viết).
Mà đúng vậy. Ngoại trừ truyện Vòng đai học vấn, còn hai truyện kia, Cảnh Cửu đều lấy bối cảnh là Tuy Hòa – Nha Trang – Qui Nhơn, thông qua những lần lui tới trên những chuyến tàu lửa “hậm hực phun những tàn lửa và thét inh ỏi, vang động núi rừng”. Điều này chứng tỏ rằng, Cảnh Cửu đã từng sống, từng qua lại ba thành phố này nhiều lần và hiểu biết khá cặn kẽ miền đất ca dao duyên hải nam Trung bộ “anh về Bình Định thăm cha, Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hoà thăm em” hay “Bình Định tốt nhà, Phú Yên tốt lúa, Khánh Hòa tốt trâu”!
Với sự hiểu biết về nơi tạm cư như một khám phá mới mẻ cá nhân, ngay ở cửa ngõ ra vào Tuy Hòa, Cảnh Cửu giới thiệu: “Con sông Đà Rằng chảy qua cây cầu một ngàn hai mươi thước đó làm anh mê à. Mùa mưa nước lênh láng bao la thật. Cũng mùa mưa nước đổ dầm dề gió bấc cắt da chỉ còn con sông Đà và chỏm núi Nhạn là tương phùng như trong chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh. Cá ở ngoài biển dám chèo vào với bánh tráng trong thành phố đó…” (TTTH).
Còn Nha Trang thì: “Con đường Gia-Long với hai hàng me thẳng tắp trước cổng nhà thờ. Tôi không thể nói gì nhắn gì. Hàng me thì những lá nhỏ. Nhà thờ thì tháp chuông cao” (KHVMXTL) và: “Hương khói mùa xuân còn nghi ngút ở Tháp Bà. Tôi đứng trên những bậc cấp nhìn xuống Cầu Xóm Bóng cong cong, nước dưới cầu lặng lờ” (KHVMXTL).
Với Qui Nhơn: “Tàu chạy ngày càng sâu trên đất Bình Định. Tôi chỉ cho anh vài tên vùng đi qua: Vân Canh nhiều thượng. Diêu Trì ngã ba. Cầu Đôi nước đứng. Tháp Chàm gạch đỏ và núi Qui Nhơn lở lói. Nhưng chắc anh không thấy gì… Thành phố những miền này như thế cả. Nó chắp nối, vay mượn không ra cái thể thống gì. Chiến tranh giày vò, dẫm đạp nó quá nhiều làm sao nó giữ được một truyền thống. Nhưng Qui Nhơn còn hơn Tuy Hoà tôi nhiều” (TTTH).
Cái cách Cảnh Cửu miêu tả, nhận xét những cảnh vật, con người mà mình từng có dịp tận mắt nhìn thấy và từng sống với trong khoảng thời gian ít ỏi, tuy không óng ả, trau chuốt, đôi lúc có vẻ mộc mạc, thô kệch đến trần trụi… nhưng lại làm cho đoạn văn bỗng trở nên sáng đẹp và lộng lẫy như chút ráng chiều hửng lên những quầng sáng sặc sỡ phía đằng tây: “Anh có thấy Tuy Hòa là bãi cát mênh mông những gai lưỡi long và cỏ may lẫn lộn. Nắng nóng làm cát bỏng dưới chân. Gió nam quét mạnh làm bụi cát bay tứ tung. Những con đường phố, những đầu tàu, những mái nhà, những phu xe, những con người nghèo khó áo đen nón lá và cát bụi vò trộn quay cuồng thảm hại. Hãy tưởng tượng đến một thôn làng: Nhìn ngoài có vẻ phong phú dừa xanh lúa tốt. Nhưng bên trong, mùa gió cát bay như mây… Những đồi cao ngất lần lần tràn xuống xóm làng làm sự sống nhỏ nhoi vô nghĩa. Mà thật vậy sỏi cát đã chiếm hết những thỏi đất màu mỡ, cây cao lên không nổi, lá mỗi ngày một lụn tàn. Sự nghèo khó đến gõ cửa thường xuyên, cơm thì gạo ít mà ngô khoai nhiều. Đậu mè, đậu phụng trộn với muối rang là món ăn đắt giá. Chắc khi đọc thư này anh có ăn cục cơm và miếng thịt gà tôi gửi theo thì dù cho cơm đã thiu thiu, thịt gà đã dai nhách cắn không bể nhưng chắc cũng đỡ hơn cái sống ở đây nhiều. Nó là cái tinh hoa của xứ sở tôi đãi du khách đấy” (TTTH).
Đúng là, có sống ở Tuy Hòa lâu ngày, trong thập niên 50, 60 mới có thể nhìn thấu suốt cảnh sắc ở đây để miêu tả một cách chính xác đến như vậy. (Và hẳn nhiên, những con người từng sinh ra và lớn lên bên dòng sông Ba, ở độ tuổi trên dưới 70, khi đọc những dòng miêu tả trên kia, tôi chắc họ sẽ rất đỗi tự hào với chút ngậm ngùi khi hoài nhớ về xứ sở họ, với cả tấm lòng gửi đến nhà văn, vì chí ít, những đoạn miêu tả đó sẽ như tấm ảnh cũ nát để ta tưởng vọng về chốn xưa!).

Điều đáng lưu ý: truyện Thư từ Tuy Hòa được Văn ghi bên dưới là đoản tác của Cảnh Cửu đăng ngay trong số đặc biệt Françoise Sagan, một nhà văn nữ của Pháp (thuộc lớp nhà văn hiện sinh nổi tiếng được độc giả miền Nam ưa chuộng, bên cạnh A. Camus, J.P. Sartre… trong thập niên 60).

Thư từ Tuy Hòa là một truyện ngắn độc đáo, bởi kết cấu của loại truyện không phải truyện; nội dung chỉ dồn về một phía nhân vật, như một truyện kể mà lại không phải lời kể lể; như một xâu chuỗi độc thoại rối nùi giữa quá khứ và hiện tại, giữa sau và trước, để phơi bày nội tâm của một cô gái đang hoang mang trong mớ tình cảm lùng nhùng, bởi đối tượng cô nhắm tới luôn ở trạng thái tĩnh, luôn cách xa lạnh lùng, dửng dưng đến nỗi ngay cả lúc yêu đương sôi nổi, cái sự lạnh lùng dửng dưng kia vẫn cứ sừng sững đeo bám bên người (!), khiến cho những cảm xúc, đôi khi như chen giữa hai nhân vật đối mặt nhau để thầm thì nhỏ to, rồi lại ẩn náu nơi góc khuất nào đó có vẻ hững hờ chừng mực, nồng nàn chừng mực, như một lời than trách. Tất cả được nguỵ trang dưới một bức thư.
Nhân vật “anh” luôn vắng mặt, nhưng cũng luôn hiện hữu trong tâm cảm cô gái là một “anh” nào đó, một đại từ danh xưng ngôi thứ hai. Nhân vật này được Cảnh Cửu tạo ra như cái vẫy cánh của con chim hải âu ngoài khơi. Nó thật gần trong tầm tay nhưng không thể nắm bắt được trong tay, rồi lại chấp chới đâu đó tít đường chân trời mà cũng thật gần trong từng cử chỉ, hơi thở lúc cô hồi tưởng, nhớ nhung… Đó là Hắn (tên gọi từ sự sắp đặt của tác giả). Nhưng hắn đã chết trước khi cầm trong tay nỗi khao khát, thương nhớ! “Hắn chết được vài ba hôm thì có một bức thư gửi cho hắn… mãi hăm mốt ngày sau mới được xé ra”. Và, cuối truyện: “Lá thư sau đó được đem đốt thành tro, những cánh tro mỏng manh men theo gió bay đi dọc con đường ngắn, không có gì nguy hiểm cả”. Lối viết theo cách mở và đóng này, trong thập niên 60 kể như là một lối hành văn mới lạ so với dòng văn chương lãng mạn của những năm 30 còn sót lại, đã gợi sự tò mò, đã lôi cuốn và không kém hấp dẫn đối với người đọc.
Nhưng cốt lõi vẫn là nội dung lá thư kia, trong đó ta được biết cô gái là một cô giáo quê ở Tuy Hòa, và “anh” gốc Qui Nhơn đã rời quê khá lâu, biết về nơi chôn nhau cắt rún khá lờ mờ, hời hợt.
Kết cấu của truyện là những hình ảnh, những lần gặp gỡ “lấn cấn”, những tình cảm dậy lên giữa quá khứ và hiện tại trộn lẫn với nhau, nhằm giãi bày tâm trạng, tình cảm của cô gái, khi thì hưng phấn nồng cháy, lúc chìm vào vùng xơ xác bất toàn. Những chuyến tàu xuôi ngược đưa hai người gần nhau trong giây lát rồi lại tách đôi giống như “hai khoảng đường ray tránh nhau rung lên hối hấp” (HTVMXTL). Cũng có thể ví “anh” là con chim thiên di quên lối về, đã biệt xứ; con chim đến rồi đi rất đỗi bất ngờ, trong khi cô gái thì như một con chim cắt đơn độc luôn dõi theo săn lùng, với tham vọng muốn mở banh lồng ngực của “anh” bằng bất cứ giá nào để coi trái tim “anh” đập theo nhịp ngân rung của bao nhiêu trường canh, bao nhiêu đoạn khúc của nhịp sênh phách? Đấy là khoảnh khắc hai người gặp nhau trên chuyến tàu lửa và tình cảm của cô gái vụt trỗi dậy một cách ồn ào (chỉ có một mình cô ta cảm nhận được): “Tôi biết anh cũng muốn vào nhưng muộn rồi. Tôi đứng chận đây. Đầu đằng kia là cuối con tàu. Anh chạy đằng trời nào. Tôi khoanh tay ra sau tì lưng vào thành tàu ưỡn người. Ngực tôi lồ lộ. Gió tung vạt áo trước tôi đi xa thấy rõ hàng nút xẻ dọc trên quần. Gió càng mạnh làm vải ở hai bên đùi tôi mỏng thêm và chiếc xì-líp dày cộm kinh khủng. Tôi biết nhưng cũng chẳng buồn sửa lại” (TTTH).
Đây là dấu hiệu khởi đầu cho sự khiêu khích thị dục. Sự khiêu khích đối phương trổi dậy từ bản năng gốc của cô gái, bởi từ những cảm xúc có thật, đã nảy sinh một thứ tình yêu chưa được xác định mức độ, rồi chuyển sang ước muốn đụng chạm lững lờ bên ngoài da thịt mang ít nhiều nhục cảm, không tiến xa hơn, nhưng vẫn để ngỏ: “Tôi biết nhưng cũng chẳng buồn sửa lại”. Những ham muốn luôn bị ức chế, dồn nén bởi ý thức không rõ ràng giữa một giống cái và một cô giáo buộc phải đạo mạo, đôi lúc chuyển thành liều lĩnh đến cẩu thả trong nhân cách? May mà nó chỉ tồn tại trong ý nghĩ, không được thể hiện bằng những hành động chính xác “đè bẹp… ngạt thở chết…”. Tất cả những hình ảnh được ghi lại chỉ có chi tiết “Tôi khoanh tay ra sau tì lưng vào thành tàu ưỡn người” là động tác có thật. Còn lại, tất cả những gì hiển lộ trên thân thể cô gái như “ngực tôi lồ lộ, vải ở hai bên đùi tôi mỏng thêm và chiếc xì-líp dày cộm kinh khủng…” chỉ là những cái cảm thấy từ một phía; chắc chi “anh” thấy ngực lồ lộ, vải mỏng trên đùi và chiếc xì-líp dày cộm như cô vừa cảm, đã thấy?
Đây cũng chỉ là dạng rung động dục tính, là sự rung động cô đơn từ một thân xác có sự kiểm soát chặt chẽ của lý trí, giống như một đốm sáng chợt lóe trong đêm và thong thả tắt, như một đe dọa ngọt ngào: “Tôi đâm ra chưng hửng khi đứng trước căn nhà ấy. Phải chi một căn nhà nào khác khó kiếm tôi sẽ chui anh vào một phòng ngủ nào đó đè bẹp anh ngạt thở chết cho rồi.” (TTTH)
Trong khi đó, nhân vật “anh” của Cảnh Cửu thì có vẻ như mang dáng dấp của một kẻ mộng du, luôn lầm lẫn về những sự vật đang tồn tại trước mắt anh ta. Đó là lúc tàu vào Qui Nhơn, là lúc hai người bước ra khỏi sân ga nhưng “anh” không có một chủ đích nào, thậm chí không có một khái niệm rõ ràng về không gian: “Tôi hỏi anh đi đâu. Anh nói vào ga chứ đi đâu nữa. Vào ga sao lại đi tuốt đằng này. Anh chỉ cái nhà cao có đèn nê-ông xanh đỏ: Không phải ga đó sao. Tôi rụng rời: Rạp xi-nê KK. Anh không thấy chữ đó sao. Anh nói tưởng đó là chữ quảng cáo li nhi quá. Tôi lại buồn nhà ga thì thấp hơn con tàu, tối om làm anh không biết đâu mà đến. Còn rạp xi-nê thì diêm dúa màu mè, cái điểm chính không hiện rõ làm người ta phải lầm tưởng” (TTTH). “Anh” lầm lũi bước đi để tự lẫn lộn, ngay cả không hề để ý đến cô gái đi bên cạnh. Và điều này khiến cô gái càng cảm thấy cô đơn hơn bao giờ, mủi lòng hơn bao giờ: “Tối đó đáng lẽ tôi thây kệ anh, mình về nhà tắm rửa, ngủ một giấc cho khỏe. Nhưng thấy anh lầm lũi tôi thương quá”.
Tiếp theo: “Anh đi bên tôi như một tín đồ ngoan đạo. Thành phố Qui Nhơn không có gì làm anh kinh ngạc. Tôi ức nghẹn cổ. Chốc lát con phố Gia Long đã cụt. Những phố khác không đèn. Biết đi đâu bây giờ. Tôi thương tiếc tôi. Tôi thương tiếc cái thành phố này. Chỉ còn cách dẫn anh xuống bến tàu trấn nước cho ngộp thở bõ ghét chứ đi đâu nữa.” (TTTH).
Có lẽ đây là đoạn văn cao trào nhất trong truyện khi cái nín lặng, lầm lũi của “anh” trở thành bức tường rêu ám lạnh lẽo ngăn cách tình cảm bắt đầu dậy men, ồn ào trong lòng cô gái. Cô lại thấy mình hoàn toàn cô độc đến nỗi muốn dẫn anh xuống bến tàu trấn nước cho ngộp thở bõ ghét chứ đi đâu nữa? Phải chăng đây là nỗi cô đơn song trùng trong buổi chiều trên tàu cô nhìn thấy: “Đám người đó khiêng một thây người trên cái võng máu me loang lổ trên áo trên mặt trên thân hình. Ruột thì lòng thòng thật dị hợm”?
Tàu lật ở Phan Thiết, một thây người máu me, ruột lòng thòng ở vùng Ninh Hòa – Vạn Giã, bị mắc lừa ở nhà ga Qui Nhơn và bóng người đi bên cạnh lầm lũi… hình như đã khơi gợi trong lòng cô sự xót xa mất mát, mất mát bên ngoài và mất mát cả trong tâm hồn cô? Những với chụp của cô luôn bị hẫng hụt đã trở thành nỗi khao khát mãnh liệt, lẻ loi tận cùng, khiến cô phải kêu lên: “Tôi ước ao có anh đến để anh hôn tôi dưới bóng cây này hay mình vào xi-nê hôn nhau trong bóng tối. Tôi thích như vậy… Sân ga vắng tanh. Đèn phố có chỗ không. Tôi cô đơn quá. Tôi khóc một mình”. Và: “Tôi yêu anh yêu biết nhường nào như quê hương yêu anh yêu mê mệt mà anh dửng dưng, nguội lạnh. Tôi buồn như những đám dương vùng Đại Lãnh. Tôi khóc như mưa chiều về với núi Vọng Phu”.
Liệu rằng những lời kêu than nức nở kia có cứu vãn những giây phút ngọt ngào khi “anh” bất ngờ lao tới, bất ngờ lôi cô ra khỏi nhà trong buổi sáng sớm. Hai người đưa nhau ra Ghềnh Ráng. Chỉ có hai người trong nắng sớm và biển xanh ngắt sâu thẳm dưới chân núi? Với một khoảng không gian bao la như vậy, đã khiến cô phải thú nhận: “Ý thức tôi mơ hồ về thời gian không gian”. Và cô gái phải cảm ơn về sự mơ hồ ấy từ ý thức bắt đầu lao ra khỏi thế giới đang mất dần trọng lực: “Và anh giằng hôn tôi dưới nắng chói chang. Tôi kinh ngạc. Tôi đâu dễ dàng để anh hành động như vậy. Tôi xô đẩy anh và bỏ chạy”.
Cuộc dạo chơi tình cảm đẩy lên thành cuộc đuổi bắt tình cảm, để cuối cùng cô trở thành những cuộn mây “đâm vào núi cao như con chim mù đâm vào ghềnh đá”. Đây cũng chính là sự chống chế cố hữu của tất cả mọi giống cái. “Tôi biết kêu ai” hóa thành sự thắng thế luôn âm ỉ nỗi khát khao đến khờ dại trước kia và ngay cả lúc này, trong người cô? Và hệ quả của mối tương tác kia là: “Tôi bủn rủn chân tay. Tôi sụm xuống sụm xuống cho đến khi mềm nhũn trong tay anh. Anh đã hôn tôi không sót một khoảng thịt da. Buổi sớm tôi còn mặc thêm một áo lót mà sao cái hôn anh vẫn thấu suốt. Chiều hôm qua tôi trông gió nâng vạt áo thật xa, thật cao và vải quần được ép thật sát vào da. Lằn chiếc xì-líp nổi kinh khủng mà tôi vẫn chưa thấy hài lòng. Sao bây giờ những thứ nghi trang của tôi tan biến đi đâu mất”.
Lá khi rụng thì rơi xuống mặt đất. Nước luôn tích tụ ở vùng trũng và chảy xuôi ra biển, không bao giờ trở ngược lên núi cao. Tất cả mọi vật trong vũ trụ đều bị lực hút của trái đất. Chúng rơi xuống và rơi theo chiều thẳng đứng. Cái định luật này cũng đã và đang xảy ra với hai người, “anh” và cô gái, trong trạng thái hưng phấn của hai mảnh ghép để cô kịp nhận thấy những thứ nghi trang đã biến mất là thuận chiều: “Anh đam mê buổi sáng. Tôi đam mê buổi chiều. Mỗi người đam mê ở một lúc khác nhau, phải chi nó trùng lại một thì đỡ khổ biết mấy”.
Giống cái luôn biết cách phòng thủ, và cô cũng đã mang ra niềm đam mê, hoan lạc để phòng thủ cho chút hạnh phúc như con chim mù đâm vào ghềnh đá. Cô, lúc này chính là những cuộn mây và con chim mù đó: “Tôi thấy ấm êm lạ thường. Anh siết chặt tôi đến nghẹt thở muốn gãy xương. Anh ôm giữ tôi chờ mặt trời lặn. Nhưng rồi mặt trời đã lặn và anh cũng không được gì. Tôi biết, tôi hiểu và tôi thương anh. Nhưng tôi cũng thương tôi chớ. Đó là cái quyền có ở mỗi con người”.
Với cô, niềm hạnh phúc êm ái luôn đến sát gần trong trạng thái gãy vụn, tan nát. Nó bất ngờ lao tới ôm siết cô và bất ngờ rời xa khiến cô càng lúc càng trở thành con chim nhỏ ướt mưa, run rẩy đến tội nghiệp. Cô luôn là kẻ đi chụp bắt cái bóng nhỏ ngọt ngào thật mong manh. Nhưng cuối cùng, nó chỉ là cái bóng của chính cô rớt xuống nền đất lạnh. Cô luôn bị đặt trong trạng thái đơn độc: “Tôi ước ao có anh đến để anh hôn tôi dưới bóng cây này hay mình vào xi-nê hôn nhau trong bóng tối. Tôi thích như vậy. Những chiếc phi cơ lên xuống ở phi trường đèn đỏ chớp chớp nhoè nhoè như những con bướm lửa. Bầu trời mênh mông và một màu đen khảm kín. Sân ga vắng tanh. Đèn phố có chỗ không. Tôi cô đơn quá. Tôi khóc một mình”.
Cuối cùng, cô gái vẫn rơi vào tình thế bị động, là kẻ không thể “tham dự vào một phần đời của anh” là một sự thất-bại-tình-cảm dẫn đến tình thế gần như tuyệt vọng và càng cô đơn hơn bao giờ, khác với buổi ban đầu, hai người, hoặc cách nhau một lối đi, hoặc xa trong tầm mắt đợi chờ, trông ngóng. Cô lại bắt đầu quay lại với khoảng trống mênh mông: “Tôi thì yêu anh mà sao không được dự vào một phần đời sống anh. Tại sao chúng ta bị đưa đẩy vào những nghịch lý như vậy để rồi đơn độc trong những cuộc hành trình không mấy chi đẹp đẽ: Quê hương đang đi dần vào cái đói khổ, điêu tàn. Tôi đang đi dần vào cái già nua, nhục nhã. Còn anh, anh đang đi dần vào cái gì? Tôi nghĩ là anh đang đến thăm tôi”.

Truyện ngắn thứ hai: Vòng đai học vấn không có gì đặc biệt. Đó là nỗi thất vọng, sự mất phương hướng của tuổi trẻ miền Nam trong bối cảnh chiến tranh bắt đầu nhìn thấy rõ ràng ngay trong thành phố được xem là bình yên nhất: “Bạt thức dậy khi chiếc máy bay phản lực đang rồ máy trên nóc nhà”. Sự học gần như bắt đầu lâm vào ngõ cụt: “Con đường đại học còn hun hút. Tôi chưa thay đổi xê dịch gì”. Những thông tin xấu về thời cuộc là nỗi ám ảnh đối với bọn họ. Những buổi hội thảo của sinh viên như phương cách mở ra những hướng đi mới cho tuổi trẻ, nhưng hóa ra là nó đi ngược lại, như buổi sáng đó có buổi hội thảo bên trường Dược. Không nghe thấy buổi hội thảo này đang đề cập, thảo luận những vấn đề gì, mà chỉ có hậu quả: “Đám đông ùa chạy dạt ra sân trường. Hai đám đuổi đánh nhau thì rõ rệt nhất. Đám chạy trước vượt qua trường được thì chạy biến. Đám kia đuổi theo rồi cũng mất. Còn lại mấy người bị thương được bao quanh săn sóc…”. Bạt loanh quanh trong thành phố rồi bỏ ra Vũng Tàu với những người bạn làm việc ở tòa hành chính để chứng kiến những chiếc xe Jeep lùn, một anh lính Mỹ chở một cô gái chạy vụt đi… Truyện được viết với tâm trạng rã rời, mệt mỏi. Các nhân vật và khung cảnh xuất hiện lộn xộn, rối rắm mà không nói lên được điều gì mới mẻ, chí ít là thái độ, sự lựa chọn của những người trẻ tuổi như Bạt, đang ở vào thời kỳ khốc liệt của chiến tranh Nam-Bắc như nhiều nhà văn trẻ cùng thời đã biểu tỏ? Tôi nghĩ, truyện này của Cảnh Cửu đã bộc lộ những lúng túng của tác giả trước ngòi bút khi đặt ra vấn đề không lấy gì làm to tát, nhưng không thể giải quyết được vấn đề ấy. Đây cũng chính là bi kịch cho không ít nhà văn có nhiều tham vọng!

Truyện sau cùng trên Văn, Khởi hành vào mùa xuân tương lai, cũng chỉ có nhân vật chính là cô gái đang lâm vào ngõ cụt của cuộc tình-yêu-kiếm-tìm, tiếp tục giãi bày những hy vọng và thất vọng, thắp lên ngọn đèn “leo lét” giữa hạnh phúc và đau khổ. Truyện này là sự lặp lại nội dung của Thư từ Tuy Hòa, ở đó Cảnh Cửu lại viết tiếp những hy vọng, thất vọng, đợi chờ, nắm chụp và mất đi và cô đơn mà Thư từ Tuy Hòa đã nói hết, viết hết? Khởi hành vào mùa xuân tương lai chỉ là cái bóng, là đứa em sinh đôi với Thư từ Tuy Hòa!
Ở hai truyện này, có nhiều đoạn, nhiều suy nghĩ, cảnh sắc được mô tả gần giống như nhau: “Tôi buồn như những đám dương vùng Đại Lãnh. Tôi khóc như mưa chiều về với núi Vọng Phu” (TTTH). Và: “Anh hãy cúi nhìn lại tôi đi – mướt xanh như những đám dương vùng Đại Lãnh… Tôi phát khóc như mưa chiều về với núi Vọng Phu” (KHVMXTL) cùng nhiều đoạn rải rác nữa trong hai truyện vừa dẫn.
Nhân vật chính cũng diễn lại một thứ tình cảm nảy lên từ một phía, từ những chuyến tàu, một chuyến đi và sự gặp gỡ không hẹn trước. Độc giả chỉ được Cảnh Cửu cho phép được nhìn từ một chiều về những suy nghĩ, tình cảm của cô gái như một con ốc tự thu mình vào chiếc vỏ dày. Cô khao khát rồi tự ngăn chặn chính mình, tự làm khổ chính mình. Đôi khi nhẩm đọc, ta có cảm tưởng như cô là nhân vật nữ trong dòng văn chương Tự Lực văn đoàn còn sót lại trong thập niên 60?: “Nhưng tôi thật ngạc nhiên thấy anh cũng xuống Nha-Trang. Suýt nữa tôi buông tay đánh rơi chiếc giỏ của chị. Nỗi hốt hoảng nào đã làm mình khốn đốn. Anh xuống đây hay anh đi đâu đó chỉ là phần việc của anh. Mỗi người khỏa mình trong một cử động. Cử động của anh khác cử động của tôi nào có liên hệ gì. Tôi cố trấn tĩnh đừng cho tình cảm thành hời hợt. Nhưng thật chưa lúc nào tôi lúng túng bằng: anh đã áp tới nhét vào tay tôi mảnh giấy con. May là chị tôi không để ý. Còn muốn nói gì nữa. Như thế tôi đã quá nhọc nhằn anh chưa hả sao. Anh còn có ý viết giấy đưa tận tay tôi giằng giật nữa cho hả. Tôi không muốn phải chịu đựng thêm một cái gì. Hai mươi mấy tuổi – hai mươi mấy năm – bây giờ tôi không muốn chịu thêm một cái gì nữa cả”.
Một cách khác, thì cô thật giống với hình ảnh con kiến bò quanh miệng chén với hai chiếc râu nhỏ bé luôn hướng về phía con mồi, trong khi những chiếc chân thì luôn hành động điều ngược lại, để cuối cùng phải tự dằn vặt, đau khổ, than oán: “Nhưng hai con mắt chỉ dõi trong và khô cứng như đôi mắt đã hóa đá như người mẹ bồng con đứng choi loi giữa Vũng, năm tháng nhìn ra biển khơi chờ đợi mỏi mòn mà không biết thời gian đi nhanh trên vai trên tóc… Sao anh không đọc hết niềm yêu thương trong ánh mắt tôi. Tôi yêu anh yêu biết nhường nào như quê hương yêu mê mệt mà anh lừng khừng ngớ ngẩn. Nơi ruộng lúa bao la miền Nam nào đó đã làm anh quên đi đập đồng khô cằn ở đây chăng”.
Cô giáo trong Thư từ Tuy Hòa và cô gái trong Khởi hành vào mùa xuân tương lai chung quy cũng chỉ là biểu tượng của sự thất bại ê chề trong thứ tình yêu bất hợp và bất toại. Ba thành phố liền kề nhau Nha Trang – Tuy Hoà – Qui Nhơn và những chuyến tàu lửa đeo mang một chuyện tình không lối ra. Những địa danh Cầu Đá, Hòn Chồng, Cầu Đà Rằng, Ghềnh Ráng, Tháp Bà… có mặt trong truyện như là những nhân chứng cho sự dãy dụa tình cảm của cô gái không hơn kém. Nếu dùng từ ngữ theo giáo sư Nguyễn Văn Trung thì cũng có thể coi sự dãy dụa tình cảm này như một bằng chứng vong thân khốc liệt nhất trong đời thiếu nữ 21 tuổi khi gặp “anh” luôn mải mê “trên bước đường phiêu bạt” , còn “em” thì “man dã trong tuổi đời ngơ ngác”.
Kết cục, dẫu cho cuộc tình phút chốc kia có được ghi lại, rồi có đốt thành tro hay kêu lên “nhục nhã” từ trong ý nghĩ, thì nó (cuộc tình) vẫn luôn sưng tấy lên mặc cảm phạm tội của người thua cuộc, tự nhận đang chìm trong “tuyệt vọng”. Con tàu, một phương tiện dịch chuyển nhưng lúc thì mang đến những háo hức đắm đuối trong ánh mắt, khi thì hất tung cô gái ra khỏi miền đam mê. Xem ra, con tàu cũng tích cực dự phần vào ngõ ngách tình cảm được mất của cô.
Về tình yêu, về nỗi cô đơn, giận hờn… luôn được các nhà văn xây dựng với những cách nhìn, thể hiện khác nhau: Nàng Janine (2) của A. Camus chỉ ý thức được mình cô đơn khi lặng lẽ rời khỏi giường Marcel, chồng nàng, và bỏ ra ngoài phòng khách sạn ở một thị trấn nhỏ trong sa mạc, bước qua những bậc cầu thang hẹp tối om trước khi đứng trên sân thượng, nhìn bầu trời đầy sao trong đêm tối sa mạc mênh mông! Còn người nữ của Cảnh Cửu thì luôn miệng kêu lên ầm ĩ: “Tôi cô đơn quá” trong sự chuyển động ầm ầm của những hồi còi thét dài, bánh sắt nghiến trên đường ray: “Con tàu cứ miệt mài mang tôi xa nữa. Từng bước rung rinh hì hục mang sự ngồi im của tôi bay vào sự tuyệt vọng… Tôi gục mặt để khỏi thấy ga Tuy-Hòa như một điều nhục nhã không thể tránh”.

Một dấu hỏi khác cũng được đặt ra: Cảnh Cửu là nhà văn nam hay nữ? Chẳng ai hay biết! Nhưng dẫu cho là gì đi nữa, thì những hiểu biết khá tường tận về tâm sinh lý người phụ nữ đã là sự thành công, khi Cảnh Cửu để cho các nhân vật nhập vai ở truyện đầu và truyện cuối, phải thừa nhận là rất hoàn hảo. Có lẽ, khi viết, Cảnh Cửu đã thả hết hồn mình vào tính cách, tâm lý nhân vật giống cái chính xác đến từng li mét. Ngay cả sự ham muốn tính dục và sự kềm nén thì cũng chỉ có một số ít nhà văn nữ, như Nguyễn Thị Thụy Vũ hay Trần Thị NgH. mới đạt được sự tinh tế trong ngôn ngữ miêu tả ở những thời khắc tế nhị nhất và cũng “trân tráo” nhất.
Cho tới lúc này, các tác giả nghiên cứu văn học miền Nam, các độc giả yêu mến hai truyện ngắn trên chưa một ai biết rõ về Cảnh Cửu. Còn hay mất? Đang ở đâu? Làm gì? Chỉ hy vọng những dòng chữ này đến được tay Cảnh Cửu hay người thân của Cảnh Cửu, để có thể giúp làm sáng tỏ những tồn nghi mà tác giả đã để lại trong một quãng lặng khá dài trong dòng văn học miền Nam.

(khởi đầu mùa gió Nam non 5/2013)
Nguyễn Lệ Uyên
________________________________________
(1) Truyện ngắn thứ hai do bạn của anh Trần Hoài Thư sao lục ở thư viện Hoa Kỳ, chụp ảnh, đánh máy gửi về.
(2) Nhân vật trong truyện La femme adutère trong tập l’Exil et le Royome của A. Camus.

tuổi trẻ, nước mắt, máu, và nụ cười ưu uất trong truyện trần hoài thư

nguyenleuyen

(Anh đang viết, cuống cuồng hối hả. Anh sợ sẽ không còn được dịp để viết thêm nữa. THT)

Trần Hoài Thư đến với văn chương rất sớm, sớm hơn truyện ngắn đầu tay Nước Mắt Tuổi Thơ đăng trên tạp chí Bách Khoa năm 1965. Và nếu phân chia các giai đoạn văn học miền Nam theo cách của Võ Phiến (xem Văn Học Miền Nam, tập tổng quan, nxb Văn Nghệ, Hoa Kỳ 2000) thì Trần Hoài Thư được xếp vào (Những Cây Bút Trẻ, theo cách gọi thời đó) giai đoạn 1964-1975; giai đoạn mà chiến cuộc bắt đầu bùng nổ dữ dội. “Tháng 8-64, sau vụ tàu Maddox bị tấn công, Mỹ oanh tạc miền Bắc, trực tiếp nhảy vào vòng chiến…Đầu năm 1968 miền Bắc mở cuộc tấn công nhân dịp tết, hi sinh ngót nửa quân số, đánh khắp các tỉnh lỵ và thành phố lớn để gây tiếng vang đến tận Mỹ. Sau vụ tết Mậu Thân, lại một vụ Mùa Hè Đỏ Lửa, quân miền Bắc vượt giới tuyến tràn vào…” (Võ Phiến, sđd, trg 255-256).

Với một bối cảnh như vậy, hầu hết nguồn tài nguyên nhân lực ở cả hai miền đều đổ dồn vào cuộc tranh chấp dưới mỹ từ ý thức hệ. Hàng lớp lớp thanh niên lên đường. Lên đường và ngã xuống. Nước mắt và máu và khăn tang, lên đường và xương trắng tràn lan khắp núi rừng! để sau đó có một Hoàng Yên Trang tử trận ở vùng sình lầy Chương Thiện; một Nguyễn Phương Loan bỏ mình trên ĐăkTô, Kon Tum; một Y Uyên chết thảm ở đồi Nora dưới chân núi Tà Lơn, Phan Thiết… là những tiêu biểu của thế hệ nhà văn trẻ trong thời loạn ly 1964-1975.

Trong hàng hàng lớp lớp những bất hạnh, đau thương không cùng đó, có đầy đủ những thanh niên ở các lớp trước sau terminales, ở các giảng đường, là những công chức cùng hàng ngàn thanh niên nông dân, lao động khác. Những Phan Nhật Nam, Thảo Trường, Du Tử Lê, Trang Châu, Thế Uyên, Dương Kiền, Lê Văn Thiện, Hà Thúc Sinh, Lâm Chương, Hồ Minh Dũng, Lê Bá Lăng, Luân Hoán… không đếm xuể, không phải là những trường hợp riêng biệt. Nó là những tử số đông đảo quay cuồng trong mẫu số chung khổng lồ: Chiến Tranh! Những tử số ấy không phải để chung tay xây dựng đất nước mà bỗng chốc trở thành nguồn nhân lực quan trọng, cung cấp cho cỗ máy nghiền thịt xương một cách phi lý và dơ bẩn nhất trong lịch sử dân tộc.

Trần Hoài Thư nằm trong số đó. Từ một giáo sư toán ở trường trung học Trần Cao Vân, Tam Kỳ, ông đã phải từ giã đồng nghiệp, học trò, viên phấn, bảng đen, nhập ngũ khoá 24 SQTB Thủ Đức, để làm một cuộc góp phần đông đảo cho sứ mệnh thiêng liêng và đẹp đẽ kia, được sử dụng như những tấm đệm lót cho mưu đồ tranh giành quyền lực của hai miền Nam – Bắc.

Anh em miền Nam và anh em miền Bắc lên đường. Anh em trên núi và anh em dưới biển vung mã tấu súng đạn bắn nhau: Đó là những bất hạnh và bi thảm nhất của dân tộc mà chúng ta đã phải đưa vai gánh chịu. Nhưng, trong những bất hạnh và bi thương kia, các nhà văn trẻ miền Nam chưa hề nghĩ và viết những gì xảy ra quanh mình theo đường một chiều, mà ngược lại: “…cho đến khi lớn lên, đầu óc đã tạm đủ để suy xét thì khổ một nỗi, hệ thống tuyên truyền của VNCH lại có giá trị phản tuyên truyền nhiều hơn là tuyên truyền” (Cao Xuân Huy, tựa, Tháng ba gãy súng). Dẫn tự sự này của nhà văn quá cố Cao Xuân Huy để thấy rằng các nhà văn trẻ miền Nam khi cầm súng ra mặt trận không phải là không có ý thức về vị trí, hành động và trách nhiệm trong cuộc chiến không do mình chọn lựa, trước sự tồn vong của dân tộc và sự lừa mị của những kẻ cầm quyền!

Với những khả năng, sự tỉnh táo, mẫn tiệp và ý thức, về trách nhiệm như vậy, Trần Hoài Thư chấp nhận vị trí chiến đấu oan nghiệt nhất mà không kêu gào, phẫn nộ, bình thản bước tới, nhập cuộc với trò chơi súng đạn: Ông được phiên chế vào Đại đội 405 Thám kích Sư đoàn 22/BB với chức vụ Trung đội trưởng. Đây có lẽ là trường hợp kỳ cục nhất trong quân sử VNCH. Bởi vì với mức cận thị 7 độ thì ông có thể giải ngũ hoặc xếp loại 2, nghĩa là không phải tác chiến. Đằng này không những ông phải cầm súng như bao nhiêu chiến binh khác, mà còn cầm súng ở một đơn vị luôn đối mặt với sự sống và cái chết rất mong manh, chỉ trong đường tơ kẽ tóc (!?). Phải chăng đây là định mệnh vạch sẵn cho ông, cầm sẵn trong tay sự sống chết có thể nhìn thấy rất rõ ràng? Nói chuyện với Du Tử Lê, ông thản nhiên: “Không thể ngờ chỉ trong vòng hơn ba năm, tôi đã trải qua hai trào Đại đội trưởng ở đơn vị Thám kích. Xin giải thích rõ, chỉ vùng II, mới có Thám Kích. Nó được thành lập do sự đòi hỏi của chiến trường miền núi. Cần người có kinh nghiệm chẳng những về chiến trường, mà còn thông hiểu tiếng thiểu số. Đa số những người lính này, gốc Thượng và Nùng. Sau thêm những người Kinh được tuyển chọn từ các trung đoàn…” (dutule.com) . Đó là một đơn vị mà: “tính mệnh của mọi cấp trong Đại đội/Thám kích như “chỉ mành treo chuông” mỗi một khi được sử dụng. Ai vào thám kích mà ra khỏi được, không chết, ít nhất cũng mang theo vài chiếc thẹo trên mình.” như qua bài viết của Văn Nguyên Dưỡng nguyên cựu trưởng phòng 2/SĐ22BB. (Tạp chí Thư Quán Bản Thảo số 46 tháng 4-2011)

Nhưng chính trong thời gian đơn vị ông đóng quân ở cầu Bà Gi (Bình Định) lại là thời gian ông viết được nhiều nhất: Hàng chục truyện ngắn và thơ của ông đều đặn xuất hiện trên các tạp chí văn nghệ Sài Gòn. Ông viết dễ dàng còn hơn đưa ly rượu lên miệng: Viết dưới hầm; trùm poncho dưới giao thông hào, bật đèn pin để viết; viết trong lúc dừng quân, trong quán cà phê; viết khi chân, ngực băng kín trong quân y viện… nghĩa là ông thể thể viết trong bất kỳ tư thế, không gian và thời gian nào ông cảm thấy mạch văn đang có dấu hiệu chảy trào ra khỏi con người ông, trườn qua cây bút và mảnh giấy tựa như con suối màu xuân.

Tôi vẫn luôn tự hỏi và tự trả lời, rằng tại sao trong khoảng cách sống chết cận kề bên nhau mà ông vẫn tỉnh táo để viết truyện, làm thơ, không phải loại tầm tầm, mà luôn gây ấn tượng mạnh cho người đọc? Bút lực mạnh mẽ chăng? Là một con tằm theo đúng nghĩa rút ruột nhả tơ chăng? Hay hơn thế nữa, tài năng vượt giới hạn? Không, theo tôi, tất cả là một trong Trần Hoài Thư. Đọc lai Nỗi bơ vơ của bầy ngựa hoang xuất bản năm 1968, Những vì sao vĩnh biệt năm 1970 hay những truyện ông viết ở xứ người, vẫn một chất giọng, tâm cảm ẩn đầy những cảm xúc chân thật. Chính tâm hồn và trái tim nhạy cảm nơi ông khi chạm vào đời sống, như một khúc xạ sống động, giúp cho ông có cái nhìn lung linh đa chiều. Nôm na, là ông sống (theo nghĩa rộng) hết mình với ngoại cảnh và nhân vật của ông. Ông và chúng đã hoà tan vào nhau để tạo ra những khúc đồng vọng đầy ắp cả “thế giới ta bà” quanh mình. Thứ đến, trong một truyện ngắn của ông (quên mất tên), có một đoạn có thể giải thích tại sao ông viết, tỉnh tảo để viết: “Anh đang viết, cuống cuồng hối hả. Anh sợ sẽ không còn dịp để viết thêm được nữa”. Đó là cái chết như cái bóng chập chờn, lay lắt sát bên ông, rình rập bên cạnh ông!

Và, hơn hết, tuổi thơ của Trần Hoài Thư không suôn sẻ như bao đứa trẻ khác: gia đình ly tán, phải sống mấy năm trong trại mồ côi Nha Trang, có vẻ như khiến trái tim và tâm hồn ông trở nên nhạy cảm hơn khi nhìn ra thế giới bên ngoài. Điều này khiến người đọc dễ nhận ra trong hầu hết những truyện ngắn của ông, từ bối cảnh đến nhân vật, lời thoại luôn có chất giọng nghẹn ngào nhưng không rên rỉ, than oán, chỉ còn lại là sự hiện hữu cái bóng chông chênh của chính mình. Những sự vật, khung cảnh ông miêu tả, thường cô độc, trơ trọi; hoặc giữa sự thanh thoát tưởng như đang bước trên đường trăng thì liền sau đó người đọc chợt khám phá ra nỗi cô đơn chảy tràn, đau xoáy, như hai đoạn văn dẫn sau đây: “Tôi đã rót đầy cốc rượu mạ­nh. Chai rượu chơ vơ giữa bàn tiệc, không ai màng đến. Nhưng chỉ có một mình tôi. Tôi nốc vào. Cho say một chút. Cho ấm đời thêm một chút. Cho tuổi mình lai láng thêm một chút. Cho tôi can đảm thêm một chút…. Không có trăng sao thì tôi sẽ tưởng tượng một bầu trời trăng sao, để tôi còn nhớ về một đêm nào ở Huế” (“Người về trăm năm”).

“Người bạn nhỏ Péry. Người bạn nhỏ xa cách ngàn trùng. Mùa hoa muồng đã lại, mùa hoa cà phê đã nở, mùa hoa cúc rừng đã báo hiệu dưới ánh nắng tháng hè, nhưng đối với tôi, lúc này, những mùa ấy là những mùa kỷ niệm đau đớn nhất đời người” (“Thị trấn cà phê hoa,” Thời Tập số 23 ngày 15 tháng 4 năm 1975).

Đây là hai truyện ngắn viết trong khoảng thời gian cách xa nhau đến 20 năm, một hoài nhớ về mối tình lỡ, và truyện kia là bối cảnh vùng đất cao nguyên, tình cờ gặp cô gái Thượng. Cái đẹp đến bất ngờ với ông trộn lẫn vào thời điểm lửa đạn lan rộng, khiến giọng văn của ông luôn có chút tức tưởi, tấy lên nỗi đau xé lòng.

Thời thơ ấu, ông đã không có cái may mắn, hạnh phúc bé nhỏ, nhưng khi lớn lên, bước vào đời, ông cũng không tìm đâu ra chút thanh thản, bình yên. Đời đối với ông luôn là những xô đẩy vật vờ. Có thể ví thân phận ông như chiếc lá bị cuốn trôi, nhấn chìm trong dòng nước xoáy mùa lũ. Sự tàn khốc, khốn cùng kia như một định mệnh đã an bài, đã đóng đinh câu rút cuộc đời ông. May và rủi là hai khái niệm vô hình trên bình diện chữ nghĩa. Còn với cá nhân ông, nó đã cụ thể hoá bằng hình hài có tay có chân, mặt mũi; thậm chí cả đến gào thét, phẫn uất. “Nhưng ba không biết, con đang ở trong thế hệ trẻ tuổi mà ba đã kết án. Ba không biết tuổi trẻ của con đang nổi loạn, bất mãn, thao thức. Tuổi trẻ của con đầy những xâu xé, giành giựt từ ý thức. Ba đã chối bỏ ý thức. Nhưng còn con. Qua sách vở con đọc, qua lịch sử mà con đã sống và lớn lên, qua xứ Huế mà con đã cô đơn, qua tình yêu mà con đã vấp phải, qua mấy bức tường thành mà con bị giam hãm” (“Bên trời”)

Sau biến cố 75, những người như ông đều chịu chung số phận của “những kẻ trừng giới” nhưng không thong dong ca hát như khi Tô Đông Pha thuở xưa trên đường đi biếm trích (từ Lĩnh Nam qua Hoàng Châu, Quảng Châu, Lô Sơn), mà là những xiềng xích, gông cùm:
“- Nhưng còn anh, không ai săn sóc anh?
-Anh là tù nhân rồi, cần gì săn sóc. Có cảnh vệ quản giáo và cả trung đoàn bảo vệ cho anh rồi” (“Đà Nẵng quê em”).

Cảnh xiềng xích kia, qua lời thoại, người đọc không tìm đâu ra vẻ hằn học, than oán, đau thương, đổ lỗi. Cả 23 từ thốt ra từ cửa miệng nhân vật Anh một cách bình thản, như chân dung của gã lữ hành cô độc, lầm lũi bước về phía khốn luỵ. Và chỉ chừng đó thôi, cũng đủ vẽ ra trọn vẹn cảnh sống ở trại trừng giới rồi, người đọc dẫu khó tính đến đâu, theo tôi, không thể đòi hỏi gì hơn. Chỉ chừng đó. Đọc và tưởng tượng. Đọc và rợn người, đau xót cho thân phận những tù binh như ông. Câu nói của anh chàng tù nhân kia, đọc lướt có vẻ bình thường như bao câu nói bình thường khác. Nhưng ngừng một lát, nghỉ hơi một chút, lắng nghe những con chữ xộc xệch thấm vào trí não, tôi thấy có cái gì đó, sền sệt, nhão nhoét. Nó trần trụi một cách thê thảm. Mà con hơn cả thê thảm nữa, nó đụng gần đến sự nứt toát, tự huỷ như những chiếc hầm tự huỷ bốc mùi. Bốn năm trong trại tù giam, hẳn nhiên ông phải gánh chịu và chứng kiến lắm cảnh đau đớn, ê chề, và không ít những tủi nhục. Đó là một ông Giang hoá điên: “Người đàn ông, bây giờ, như một con thú quái dị, dù y vẫn có hai chân và bộ phận sinh dục. Y trần truồng, đầu tóc như thể một ổ rạ ổ rơm trên ấy chí rận, đất, cát làm đồn làm lũy. Đôi mắt sâu hun hút, hình như chẳng còn nhìn ra đôi võng mô. Cả thân thể y thì khô đét, trơ những khúc ba sườn. Y vẫn cố gắng la:
– Tại sao bọn mày lại bắt tao? Tao là Hoàng minh Giang, Trường Chinh ngày xưa còn sợ tao…
– Thôi đủ rồi, chúng tôi lạy ông. Bọn nó đến kia kìa…
– Tao là bạn của Hồ chí Minh, tại sao bọn mày không nể tao hả?” (“Người và Quỷ”)

Sau điên là bệnh tật, là đói khát, là những gì ngoài đời không ai tưởng tượng nổi. Chỉ có thể xảy ra trong thời điểm đó, ở khung cảnh đó, nơi chỉ có một thế giới duy nhất trên trần gian mới có: trại trừng giới! Ở đây, chất người tự hạ thấp xuống và miếng ăn được nâng lên cao. Nhân phẩm và đạo đức như cái pitton sút ốc: “Thịt. Ông liên tưởng đến miếng thịt nướng bốc mùi thơm ngậy mà nước miếng như chực tuôn trào. Lần đầu tiên nhai miếng thịt chuột cống, miệng ông vẫn còn lợm khi nhớ đến những mảnh da loét đỏ lòm hay sần sùi những vết ghẻ lở. Nhưng bây giờ, ông đã khám phá, bên trong lớp lông xám xịt và hôi thúi là cả một thức ăn tuyệt diệu. Khỏi cần nhổ lông, cứ thui từ từ, lớp da sẽ bốc ra, để lộ lớp mỡ trắng. Ông sẽ xé ra từng miếng nhỏ, vừa chấm muối vừa nhai thật chậm rãi. Lúc ấy hình như những bắp cơ của ông cũng chuyển động theo. Và máu trong người ông hình như cũng chảy mạnh” (“Người và quỷ”).

Đọc đoạn văn trên không khiến chúng ta buồn nôn mà gần như một thứ men rượu cồn lan toả rất nhanh trong cơ thể khiến ta say, không phải cái say cơ học mà say bởi dậy men chua xót, đau đớn đến bùi ngùi như có kẻ cầm lưỡi dao bén ngọt lóc từng mảnh da thịt trên người, từng lát, từng chút một!

Hầu hết những truyện ngắn của Trần Hoài Thư đều có loại men khác thường đó, chỉ riêng mình ông mới sở hữu một cách tài hoa, đến nỗi sau khi đọc bản thảo “Nhật ký hành quân”, từ quân y viện gửỉ về, thư ký toà soạn Văn quyết định làm một số đặc biệt về những cây bút trẻ, và dưới truyện ngắn này, ông Trần Phong Giao nhận xét: “Nhật ký trên được viết tại quân y viện, sau lần bị thương thứ hai. Mặc dù bị cận thị rất nặng, Trần Hoài Thư hiện vẫn đang chiến đấu trong một đơn vị thám sát miền duyên hải Trung phần. Trong văn có nghẹn ngào hơi rượu, nhưng người đọc tinh ý chắc sẽ còn bắt gặp nhiều hơn thế nữa…” (Văn, số 114).

Điều mà ông Trần Phong Giao gọi là “nghẹn ngào hơi rượu” chính là sự bất lực của con người trước một thực tế phi lý và phũ phàng nhất. Và ở bất kỳ truyện nào, những nhân vật của ông dường như cũng đều quay quắt trong cảnh khốn cùng đó: Tiếng nấc nghẹn ngào tiếc nuối trong mối tình đổ vỡ, cảnh lênh đênh giữa đại dương mênh mông mà tiếng sóng vỗ nghe như tiếng rên thảm của những người phụ nữa bị hãm hiếp trước mắt những người đàn ông bị bắt trói, đánh đập. Hay những xao xác nơi xứ người khi gặp lại đồng đội cũ, với cô bạn Trung Hoa vừa mới quen trong lớp học…

Truyện viết về chiến tranh cũng thế. Không hề thấy ông gắn những nụ cười lên môi các nhân vật ông tạo ra, nếu có cũng chỉ là nụ cười méo xệch như nhân vật Năm Râu, Ba Cận Thị, Y Đao, Nay Lát… như trong truyện Thư về người đồng đội cũ sau 25 năm thất lạc: “Lúc này, chúng ta có quyền thẩm định về giá trị của chiến tranh và lịch sử. Nhưng tôi không thể bình an khi cái cuồng điên kia đã trở thành thú tính. Họ rõ ràng hơn chúng ta. Bởi vì họ có cả một khối thép thành trì bên ngoài và khối thép căm thù bên trong đầu óc, và con tim họ. Còn chúng ta thì cô đơn. Qua xứ Mỹ anh đã hiểu về nỗi cô đơn ấy. Chúng ta đã chiến đấu trong nỗi cô đơn và quả cảm. Và chết cũng quả cảm và cô đơn. Như bao nhiêu đứa con của một đại đội bộ binh”. Thay vì những đồng đội cũ liên lạc được với nhau, ôm nhau mừng tủi, thì ông lại đẩy bút pháp của mình qua ngã hồi tưởng về những trận đánh năm xưa ở ĐăkTô, Buôn Ma Thuột, Gành Ráng… với những thây người cháy đen, cong queo… và tan hàng… và tù binh!

Những truyện ngắn trước kia, ngay ngoài mặt trận cũng vậy, ông viết y như những thước phim hành động rất thật, rất sống động: Nhân vật Tôi chính là ông, người chỉ huy Trung đội Thám Kích, trong tình thế cả Trung đội bị phục kích, bị chết và bị thương gần hết, kể cả ông. Ông đã chiến đấu bên cạnh những người lính của mình, trong hoàn cảnh, đến sỏi đá cũng nát nhừ như cám ở Trung đội ông, để cuối cùng phải thốt lên những lời tuyệt vọng, đau đớn, phi lý nhất: “Quá hèn!”:

“… Ngồi nghe họ nói nhiều về anh, nhớ anh rưng rưng nước mắt. Làm sao tôi quên, anh mặc bộ đồ rằn, vác trên vai thằng lính bị thương, chạy như bay… nhìn rõ ràng anh té xuống, hai tay buông ra và nằm sấp. Thiếu uý Chấn chết… một vợ năm con. Tôi thì quá hèn. Hèn. Đến thằng truyền tin, bị thương ở chân và tay, không lết nữa, tôi cũng chả khiêng được, như lời kêu cứu của nó vào buổi trưa địa ngục. Tôi khóc… Hường ơi, rán bò sau bụi, lết đi… Tao cũng bị thương, xích ra bị bắn… Mày xem, xung quanh đâu có ai. Luông bị thương, Phong bị thương, tao nữa… Tao ra thì bị bắn. Nó canh sẵn…

-Đ.m. Thiếu uý !

Tôi úp mặt vào đất sỏi, khóc như đứa trẻ” (“Nhật ký hành quân,” Văn, số 114).

Biết làm sao hơn trong tình cảnh bi thảm như vậy. Sự bất lực đã trở thành hèn nhát. Nhưng chính cái hèn nhát đang bao phủ khắp người, có được lôi ra, thừa nhận rằng tôi hèn nhát hay cố tình cất giấu, biện minh để giũ bỏ trách nhiệm trước đồng đội? Đâu là sự hy sinh cao cả và đâu là trốn chạy chính là nỗi dằn xé tâm can đến “nghẹn ngào hơi rượu” như ông Trần Phong Giao nhận xét ở trên.

Trở lại với trốn chạy và hy sinh, hèn nhát và can đảm cùng trách nhiệm của người chỉ huy ngoài mặt trận khi “Tôi úp mặt vào đất sỏi, khóc như một đứa trẻ” sau khi nghe thuộc cấp ngắc ngoải la lên: “Đ.m. Thiếu uý!” tôi chắc đã có hàng ngàn trường hợp như vậy ngoài chiến trường, như nhân vật Trần Viết Gián của Lê Văn Thiện trong truyện ngắn Trong lớp khói màu: Nhân vật ấy bị thương, ngã xuống chỉ cách đồng đội mấy bước chạy từ lề đường, nhưng không cứu được. Lớp khói màu bắn ra muộn màng, chỉ có thể vây bọc lấy thi thể đồng đội, để sau đó anh ta không bị bắn bồi đến nát ngứu ra thôi. Trách ai?

Có đọc Tháng ba gãy súng và phần tựa tập hồi ký này của Cao Xuân Huy, mới thấy hết nỗi đau đớn của Trần Hoài Thư “khóc như một đứa trẻ con”. Ông viết: “Chúng ta thua không phải vì kẻ địch mạnh mà vì trong hàng ngũ chúng ta có quá nhiều kẻ phản bội và hèn nhát. Chính vì lòng thù hận sự hèn nhát và vô trách nhiệm của cấp chỉ huy nên hình ảnh và diễn tiến những ngày cuối cùng trước khi cả Lữ đoàn tan rã và bị bắt bởi hơn một Đại đội du kích VC…” (Cao Xuân Huy, Tháng ba gãy súng).

Sự vô trách nhiệm và hèn nhát của những ông tướng chỉ huy của Cao Xuân Huy và nhân vật Tôi của Trần Hoài Thư khác nhau xa. Vì vậy, khi dẫn ra, không cố ý so sánh, mà trên hết là để nhìn lại một cách rõ ràng bộ mặt nhếch nhác của cuộc chiến tương tàn từ nhiều góc độ khác nhau, lón nhỏ khác nhau… ở đó có một Đại đội quái dị Thám kích 405 với một nhiệm vụ cũng quái dị là đẩy các binh lính vào tử lộ?

Đã đành, có rất nhiều nhà văn miền Nam viết về chiến tranh, nhưng mỗi người mỗi vẻ. Bộ mặt chiến tranh trong những tác phẩm của Phan Nhật Nam mang đậm tính chiến đấu, của Thế Uyên có chút bi hài chua xót, của Trang Châu thì chừng mực, Y Uyên thì lạnh lùng… Với riêng Trần Hoài Thư, cái mạch văn ngắn, dồn dập khiến người đọc phải nín thở, giống những thước phim quay nhanh để người xem luôn phải dán mắt vào màn ảnh, bởi diễn biến luôn thay đổi: “Tiếng đạn trọng pháo vẫn tiếp tục câu đi dưới bầu trời nắng lửa. Chiếc cầu Nam Ổ quằn quại dưới bánh xích chiến xa. Những chiếc xe quân đội tiếp tục chuyển quân về hướng Bắc. Không gian mịt mù khói và bụi. Mặt trận vẫn miệt mài. Không dám nhớ nhưng vẫn nhớ. Không dám nghĩ nhưng vẫn nghĩ. Nghĩ gì, nhớ gì. Những tín hiệu cứ đánh về. Binh đoàn Bắc quân xe tăng đại pháo. Những đoàn xe Nga sô theo đường mòn HCM tiếp tục chuyển quân về miền Nam. Những tin tình báo cho biết có một cuộc tập trung tại ngả ba biên giới. Nghĩ gì nhớ gì. Trực thăng không còn ưu tiên, phản lực mõi mòn chờ đợi, pháo binh bắn yểm trợ cầm chừng… Thế giới đã quay lưng. Mùa mưa và mặt trận. Vòng kiểm soát thu hẹp. Làng xóm cũng thu hẹp. Thành phố vẫn ăn chơi. Đài Hà Nội vẫn gào vẫn thét. Quân đội ta trung với đảng hiếu với dân… Hay là thời điểm cuối cùng của một trận chiến. Hay là người khôn còn sống, người dại ra đi. Hay là bắt đầu cho một cơn đại hồng thủy để Thượng Đế động lòng bảo ông Noah đóng tàu cứu độ. Bởi vậy, anh phải về chờ chiếc tàu của ông Noah. Rồi anh sẽ dẫn em đi, bến bờ sẽ bỏ lại, sống thêm trăm năm như người tiền sử” (“Đà Nẵng quê em”).

Ông quan sát thật kỹ, suy ngẫm thật kỹ bộ mặt gớm ghiếc và tàn nhẫn của chiến tranh, nên đôi khi, có vẻ như ông vừa là người trực tiếp tham dự, vừa là kẻ bàng quang đứng bên lề ngắm nhìn một cách sắc gọn: “Như con chó tật nguyền của đại đội này. Nó cũng tự biết dù phải sống ở một nơi khác – bình an cách mấy – nhưng làm sao nó thấy được những người chủ đã để dành cho nó từng miếng bánh, miếng cơm, đã dẫn nó xuống đồi săn thỏ săn chồn. Bởi vì, ít ra nó đã tìm được mái nhà” (“Đà Nẵng quê em”).

Trong chiến tranh luôn có sự phi lý và điên rồ. Nhưng càng phi lý và điên rồ hơn khi mà cấp chỉ huy ngồi ở những nơi an toàn, có máy điều hoà, một tay bưng ly rượu champagne, tay kia cầm chiếc que inox chỉ lên sa bàn, điều khiển trận đánh cách xa họ đến hàng chục, thậm chí hàng trăm cây số. Sự thật ngoài mặt trận và cái giả tưởng trên sa bàn được họ đánh đồng rồi ra lệnh; cấp dưới phải tuân lệnh: “Rõ ràng đây là một cuộc thí quân. Họ ra lệnh chúng tôi phải chiếm đồi với M16, và lựu đạn, trong khi địch ẩn núp trong những hang kiên cố, với lợi thế là thấy rõ chúng tôi, còn chúng tôi thì như những kẻ đui mù. Họ không hiểu chiến trường chó má này vì họ ở trên trời hay ở đàng sau. Họ làm sao hiểu chúng tôi làm sao có đủ khứu giác của lũ chó săn để có thể đánh hơi địch hay có đôi mắt thần để biết địch đang làm gì. Chúng tôi chỉ biết tuân lệnh, không cần biết địch đã dọn sẵn mâm, chờ chúng tôi có mặt là đại liên hai bên sườn nả xuống như mưa để cả bọn ngã nhào lăn lộn đủ kiểu mà bị thương mà chết. Tư ơi! Thế nào cũng có quân tiếp viện. Tôi đã cố an ủi thằng bạn trung đội trưởng trung đội bốn. Nhưng Tư cứ một chặp lại rên rỉ. Cả hai chân tao,bụng tao bị trúng đạn. Trời ơi, tao đau quá. Tao chịu không nổi. Cho tao một viên đạn. Tao van mày hãy bắn tao đi. Nó van tôi, van một thằng bạn” (“Chiến tranh”).

Kết quả của cái gọi là chiến tranh, là đánh nhau ấy là gì? Chết. Những cái chết vô duyên, tức tưởi cùng nỗi đau nát ruột của những người sống sót: “Thiếu úy ơi, thiếu úy tại sao không giữ gìn chồng em để ảnh phải chết thảm như vầy hả thiếu úy. Anh ơi, sao anh lại bỏ mẹ con em. Anh chết gì mà thảm quá hở anh”.Chị rống lên. Thằng bé cũng khóc thét. Tôi mất hết bình tĩnh. Bây giờ tôi có ý nghĩ là làm loạn. Tôi điên khùng chụp súng chạy ra ngoài, nhắm phía ngọn đồi chó đẻ và bắn cuồng điên…” (“Chiến tranh”).

Trong hồi ký Tháng ba gãy súng của Cao Xuân Huy, ông đã phẫn nộ với cấp chỉ huy ở đâu đó vì cái kiểu điều động di tản chiến thuật một cách ngớ ngẩn, khiến cả Lữ đoàn TQLC bị vây đánh tơi tả, tự chết nước (tranh nhau ra tàu, lộn vào bờ), tổn thất gần hết ở cửa biển Thuận An trong những ngày cuối cùng, thì ở Chiến Tranh của Trần Hoài Thư cũng có cái không khí từa tựa như vậy. Một đằng là toàn cảnh một đằng là cận cảnh nhưng đều có kết cục bi thảm vì “họ không hiểu chiến trường chó má này”!

“Chiến trường chó má” của Trần Hoài Thư thật phức tạp: Ta, địch, đồng bào ruột thịt đều lẫn vào nhau, gần gũi nhau. Chỉ mới hôm qua thôi còn gặp nhau, thân mật, thì hôm sau đã là phía bên kia, chết banh ruột như Lài trong Nhật ký hành quân. Đến thiên tài quân sự cỡ Napoléon có sống dậy điều khiển cuộc chiến này hẳn ông cũng giơ tay bất lực: Bởi họ là đồng bào của ta, mũi không cao, mắt không xanh, tóc không vàng, cùng một giọng nói, làm sao phân biệt, như sự mô tả đến trần trụi sau đây: “Lính bắt một nhóm người gồm ông già, bà già, đàn bà và trẻ con từ dưới hầm lên. Nhóm người khốn khổ đang ngồi trên nền gạch khóc lóc. Bên họ là những gói vải lớn hay va li thiếc. Tôi bảo lính khám đồ đạc của họ. Mụ đàn bà có chiếc va li thiếc, run rẩy không cho lính mở. Hắn tức mình đá và chửi: Đến đâu, đàn ông thanh niên không có, sao mụ lại có bầu. Chồng mụ nhảy núi phải không? Tôi nhìn suốt các gương mặt. Các gương mặt đang vươn lên từ những đống tro tàn, đang co ro nhăn nhúm cùng những đôi mắt van lơn sợ hãi” (“Nhật ký hành quân”).

Và từ sự bất lực, chuyển đến trạng thái giận dữ: “Vâng, tôi không thể hiểu. Tôi hét, giận dữ: Tại sao đồng bào lại ở đây, hở hở. Đồng bào không biết đây là vùng oanh kích tự do hay sao?”.

Chính những người dân vô tội kia, trong thời điểm đó, hoặc chấp nhận bên này hoặc bên kia, không có sự chọn lựa thứ hai. Nhưng ở bên nào thì cũng đụng mặt những bất toàn, để sau đó là những cô đơn, ưu uất vây chặt lấy cuộc sống trước mặt, như ông già Tư chèo đò: “Trong khi bom đạn đuổi đàn con cháu của ông ra những cánh đồng lúa để giết nhau, thì ông vẫn còn ngồi lại để mỗi ngày ra bờ sông nghe tiếng gọi đò” (“Khu chiến,” Văn số 181, năm 1971).

Tất cả chỉ vì nguyên cớ: “Núi đã vô tình quyến rũ một lớp người. Sông cũng đã mang đi một lớp người, về bên kia sông, về thành phố. Anh đi lính. Dì Quít thì làm gái bán bar, và chị Thanh thì lạc loài đâu đó sau khi người chồng tử trận.”(“Sông Cái,” Văn, 1971)

Mệt mỏi, tuyệt vọng đan xen giữa những niềm hy vọng, mơ ước nhỏ bé đều là tâm trạng chung cho tất cả mọi người trong thời điểm khắc nghiệt nhất của lửa đạn trùng trùng, không phân biệt là thường dân, binh lính bên này hay bên kia, ngoại trừ những kẻ cầm đầu luôn miệng hô hào “Bình Long anh dũng, KonTum kiên cường, Bình Định… đốt cháy cả dãy Trường Sơn…”. Nhưng những ước mơ nhỏ bé long lanh sáng như hạt sương ban mai liệu “có về được không?” Câu hỏi có vẻ tầm thường này, dường như ông đặt ra vấn đề lương tâm cho những người cao nhất: “Con sông Gò bồi vẫn yên chảy. Anh bỏ súng xuống, nhìn con đường mà anh bảo vệ hằng ngày, mà nghĩ đến một buổi mai nào đó, anh có thể trở về bình yên nơi chốn cũ bằng một chuyến xe lam, để thăm lại ngôi giáo đường có cần an ten cao vút, có những nhánh sứ, khô tróc vỏ nỗi lên trên nền trời mây trắng. Không biết anh có về được không?” (“Gò Bồi bên kia sông”).

Như viết ở trên, hiếm khi bắt gặp những nụ cười trong truyện Trần Hoài Thư; có chăng cũng chỉ là những nụ cười bợt nhạt, móp méo. Đó là những nụ cười không hình dạng, chới với, chập chờn như từ tầng sâu địa ngục trồi lên, thọc tay kéo nhếch môi ra: cười như mếu! Duy nhất, tôi đọc được trong truyện Viễn Thám và khám phá ra ông có một nụ cười thật trọn vẹn, nụ cười của hạnh phúc vô bờ, mà ngay từ thuở ấu thơ đến giờ ông mới hé lộ ra, như thể một loài hoa hiếm quí trăm năm mới nở một lần. Một nụ cười đẹp tựa bức tranh La Joconde, như đôi môi thuần khiết của Đức mẹ Đồng trinh, mang đầy chất nhân văn. Đọc kỹ đoạn văn này, tôi tự hỏi, nếu tất cả Trăm con trên Núi dưới Biển đều “có những con tim của tuổi trẻ Việt Nam” trong thời điểm kinh hoàng lửa đạn đó, liệu tất cả có đồng loạt bỏ súng xuống, ôm chầm lấy nhau mà khóc, mà tủi thẹn với tổ tông, hối hận để dẹp tắt đống lửa hận thù cao ngút tầng xanh kia?: “Trung đội thám kích đang săn tin về một đơn vị Bắc quân mới xâm nhập vùng Trường sơn, đã không ngờ gặp một cặp bộ đội đang hát bên bờ suối. Quân thù đó nhưng người lính đã không bắn. “Tôi không thể chơi cái trò dã man như vậy. Tôi muốn người thanh niên kia, ít ra, có một giờ phút vĩnh cửu (…) Tiếng hát như nói lên những điều câm nín từ những con tim của tuổi trẻ Việt Nam…. Tiếng hát như dậy khỏi mồ, bạt cả gió, khiến rừng như thể im phăng phắc lá như thể thôi lay động trên cành. Và ít ra, tôi vẫn còn hiểu rằng, mỗi người đều có trái tim. Và trái tim thì lúc nào cũng sống vĩnh cửu” (“Viễn thám”). Đó cũng là một lý do tại sao, góp một phần nhỏ, khiến sau thời gian không lâu, ông bỏ ngũ. Nhưng lý do gần nhất, như trong lá thư ông gởi về cho Mai Thảo, và tạp chí Vấn Đề đăng lên khoảng đầu năm 1971, giải thích tại sao ông lại bỏ ngũ cũng như quyết định của ông trở lại quân ngũ: « Từ Nha Trang,… Tôi đã bỏ đơn vị. Tôi muốn có một thái độ, nhất là trong lúc này : tham nhũng, bất công, thối nát, tranh giành. Đại đội tôi chỉ 50 người. Lính một số biệt phái nhà mấy quan lớn. Tôi bỏ ra đi khi nghe tin Hà Thúc Nhơn chết. Tôi mong các anh để ý đến những người viết miền Trung. Tôi mong Vấn Đề nói lên được nỗi khốn khổ của chúng tôi.
…Bây giờ tôi chỉ còn chờ ngày ra tòa. Có điều chắc chắn là tôi sẽ trở lại quân ngũ: tôi muốn như vậy.
T.
18.11.70 (Tạp chí Vấn Đề, 1971). (*)

Dẫn ra đoạn này để thấy thái độ và trách nhiệm của Trần Hoài Thư, với sự chọn lựa duy nhất lúc đó : Đào tẩu khỏi ĐĐ 405 tử thần! Chấp nhận quân lao, giáng cấp; để sau đó ông thực hiện đúng điều ông tự hứa « chắc chắn tôi sẽ trở lại quân ngũ ». Chưa đầy tháng sau kể từ khi nằm trong quân lao, ông lại bị tống ra SĐ23/BB và tiếp tục hành quân ở đâu đó trên DăkTo.

Ngày ông quyết định rời bỏ ĐĐ 405 Thám kích, “Đại Bàng” đã dùng xe jeep đơn vị Quân y đưa ông qua bên kia đèo Cù Mông, vĩnh biệt chảo lửa Bình Định. Sự chọn lựa của ông cũng xuất phát từ « những con tim của tuổi trẻ Việt Nam ». Ông có cái lý của mình. (Và dẫu sao, nhân đây tôi cũng xin cảm ơn, dù muộn màng, đến anh bạn « Đại Bàng » thân thiết đã cứu sống được một nhà văn, vì nếu không, với tình hình chiến trường sôi bỏng lúc đó, biết đâu lại không xảy ra một Y Uyên, Hoàng Yên Trang… thứ hai?) : “Tôi nói với Cầm: Anh nghĩ rồi đây chiến tranh sẽ chấm dứt. Miền Nam và miền Bắc sẽ sum họp. Mọi người sẽ ngồi lại và tha thứ lẫn nhau. Rồi em về Nha Trang. Anh cũng trở lại cùng Nha Trang. Anh sẽ xin dạy trở lại. Rồi anh sẽ xin cưới em…” (Nha Trang).

Ông sẽ và đã không cưới được nhân vật trong truyện, nhưng có một nhân vật khác thế chỗ, trở thành nhân vật chính cho truyện dài đời ông, nâng ông đứng dậy suốt quãng thời gian còn lại, sau ngày bi thảm của dân tộc!

Nụ cười trên môi ông hiếm hoi, bởi máu ông đã đổ ra nhiều lần thế chỗ. Còn nước mắt thì trải dài suốt cả cuộc đời, từ khi xa “người cha mặc áo lương đen”, mẹ đưa ông vào trại mồ côi cho đến khi ra chiến trường, chứng kiến ngày tan hàng nhão nhoẹt cộng với 4 năm tù giam, vượt biển, định cư… Nhân thân ông giống như kẻ tội đồ Chúa bắt phải hứng chịu mọi tai ách. Ông có vẻ như những nhân vật “dân Do Thái” trước năm 1948, là gã hành khất của đời suốt tuổi ấu thơ đến lúc trưởng thành, là cái bóng chập chờn, tiếng hát ma quái trên nóc tháp Hời hoang phế!

Thân phận ông là thân phận của kẻ lưu đày. Ra khỏi trại tù, ông lại mang một tư thế lưu đày khác, bị xô ra khỏi lề xã hội mới, xã hội mà ở đó luôn luôn đố kỵ, ngờ vực như thể chính những con người bị đố kỵ kia không phải là đồng bào, máu mủ.

Đó là những công chức, quân nhân bên này mà người anh em bên kia gán cho cái tên mỹ miều Nguỵ quân, Nguỵ quyền, may mắn được sống sót trở về từ trại giam. Hầu hết trong số họ đều phải bắt đầu lại từ đầu một cách khó khăn, tất nhiên không phải là những vị trí cũ, dẫu bọt bèo, mà đa phần là “chạy chợ”, làm bất cứ nghề lương thiện nào, ngoại trừ những tên giả trá, trơ trẽn. “Nhân vật” của Trần Hoài Thư trong truyện Người về trăm năm cũng vậy: Bán cà rem dạo. Trong bối cảnh xã hội ngày đó, ai cũng thông cảm chia sẻ nhau về chuyện mưu sinh. Bán cà rem vẫn là một nghề kiếm sống, không ăn giựt ai, không chiếm đoạt tài sản, ruộng vườn của ai, không trá hình xua đuổi người dân ra khỏi nơi chôn nhau cắt rún đi đến “thiên đường kinh tế mới” như một ngục tù thứ hai: “Chiếc xe đạp. Thùng cà rem. Chiếc chuông đồng. Chiếc mũ rơm. Và chiếc áo lính cũ. Đó là gia tài của một kẻ trở về. Tôi sẽ mặc lại chiếc áo của một thời mà may mắn còn sót lại trong xó tủ nào” (“Người bán cà rem dạo”).

Nhưng, điều kỳ lạ, thay vì những que cà rem kia là một phần ngàn từng hạt gạo kiếm được trong ngày để nuôi sống vợ con, thì ông lại coi đó như là những món quà kỳ diệu cho các em bé Cần Thơ, là những phiên ảnh của tuổi thơ có quá nhiều mất mát nơi ông. Những hình ảnh và suy nghĩ ở đoạn dẫn sau không hề hư cấu. Nó thật đến hơn trăm phần trăm, khi Hạc Thành Hoa tình cờ nhìn thấy ông ở Cần Thơ trong tình cảnh này. Và lại những giọt nước mắt, nghẹn ngào, đau xót tuôn trào…: “Tôi sẽ tặng em một cây. Một cây đâu có nghĩa lý gì. Bởi vì tôi biết người cha của em cũng như tôi, cũng mang chiếc áo lính này. Còn nữa. Còn những em bé mà tôi gặp từ Bình Minh về Phụng Hiệp, từ Tân Quới về Phong Điền, hai chân em khẳng khiu, đôi mắt nai ngơ ngác, trong manh áo vá, mà đời của em bị mang thêm cái ách làm con ngụy, các em cứ đến bên thùng cà rem của tôi, cứ lựa cây nào em ưa thích, cà rem đường chảy, kem chuối, kem màu… Cứ chạy theo xe tôi, cứ la hò: Ông bán cà rem cho không bọn bây ơi” (“Người bán cà rem dạo”).

Thân phận của tên bán cà rem hình như cũng không yên ổn: bị gọi lên một cơ quan văn nghệ nghe thuyết giảng, phỉnh dụ và đe nẹt: “Ngày xưa tuổi trẻ của tôi chỉ dệt bằng mơ ước. Yêu thương và tha thứ. Tôi gọi tôi gào người ta, bên này và bên kia, hãy trả lại tuổi trẻ cho chúng tôi, nhưng bây giờ chẳng có yêu thương tha thứ, mà trái lại là căm thù” (“Người bán cà rem dạo”).

Đứng trước thực trạng xã hội sau ngày “giải phóng,” có quá nhiều chệch choạc ở cả hai miền, mâu thuẫn nảy sinh âm ỉ từ việc nhà cầm quyền không thực hiện đúng lời hứa “hoà giải hoà hợp” mà trước đó đã trương trong 10 Điểm… của Măt Trận DTGPMNVN, khiến hàng triệu người phải bỏ nước ra đi, hàng ngàn người chìm sâu dưới “Thuỷ mộ quan”, bị hãm hiếp… Điều này giải thích tại sao nhiều trí thức, thân hào nhân sĩ phải lên tiếng. Người trong cuộc, đã bỏ hơn nửa đời người theo lý tưởng cộng sản, là bộ đội tập kết năm 1954 phải kêu lên: “Thảm kịch của đảng cộng sản thực ra đã bắt đầu ngay từ ngày 30-4-1975. Sự bẽ bàng còn lớn hơn vinh quang chiến thắng. Hòa bình và thống nhất đã chỉ phơi bày một miền Bắc xã hội chủ nghĩa thua kém miền Nam, xô bồ và thối nát, về mọi mặt. “Tính hơn hẳn” của chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành một trò cười. Sự tồi dở của nó được phơi bày rõ rệt cùng với sự nghèo khổ cùng cực của đồng bào miền Bắc.(Châu Hiển Lý, Bộ đội tập kết năm 1954 – nguồn: nhungsukien/blog).

Sau đó ông đặt ra nhiều câu hỏi tại sao. Và đây là một trong những “tại sao” kia: “Tại sao sau khi được “giải phóng” khỏi gông cùm của Mỹ-Ngụy, hàng triệu người phải vượt biên tìm tự do trong cái chết gần kề, ngoài biển cả mênh mông?” (“Châu Hải Lý”).

Trần Hoài Thư cũng như bao nhiêu người khác, có điều kiện (hoặc không) đều tìm cách trốn ra nước ngoài, bằng thuyền nan, vượt rừng qua Cambodge tới Thái Lan… Nghĩa là bằng mọi cách để không phải chịu cảnh trả thù, dằn xóc, mặc dù họ biết mọi bất trắc đang nằm sẵn trong lòng tay: “Bao nhiêu người đã không may. Bao nhiêu người đã nằm dưới lòng biển. Bao nhiêu người con gái đã bị hãm hiếp và bị bắt cóc. Mắt tôi thấy chúng thay phiên, lưng trần đen bóng mồ hôi, và có người con gái tóc dài tung tóe, nhảy ào xuống biển”(“Những ngày ở đảo”).

Sau những tháng ngày khổ nạn, cuối cùng những người ra đi và may măn cũng tìm được bến bờ tự do như mong đợi. Nhưng thực tế không phải là thiên đường dẫu tự do thì dư thừa như rác thải. Mọi người rất vất vả để hoà nhập vào xã hội mới. Họ hối hả leo lên metro, bus, hối hả lái xe trên đường cao tốc; chúi đầu làm việc, làm overtime, làm như con quay, bất cứ trời giá lạnh hay tuyết phủ trắng đường: “Đời sống Mỹ là thế đấy. Bằng mồ hôi và cả tủi nhục. Nhưng mình có thể nhận được phần thưởng từ những giọt mồ hôi của mình” (“Ngày đầu ở xứ người”).

Đó mới chỉ là cái riêng tư, còn xã hội, đời sống bên ngoài thì sao? Lại thêm một bi kịch thứ hai: “Đôi khi anh bắt gặp một vài người mà anh biết chắc là đồng hương, nhưng anh không dám mở miệng. Hình như họ không muốn tiếp xúc. Đó là bản chất của người Việt Nam hay là vì chúng ta đang sống trong một thời đại nghi kỵ, chia rẽ và tị hiềm” (“Ngày đầu ở xứ người”).

Và: “Bỗng dưng có một tên Việt Nam ngồi thu mình trong toa tàu vào một ngày đầu năm ở xứ người. Hắn câm, điếc. Hắn có nhà nhưng không có nhà. Hắn có vợ con nhưng không có vợ con. Hắn trở về, nhưng không biết đâu là mái nhà của hắn” (“Ngày đầu ở xứ người”).

Bức tranh toàn cảnh này, ông vẽ ra với một giọng văn thổn thức, hoài nhớ đến nao lòng. Và hình như đây chính là phong cách của ông, văn phong của chính riêng ông. Dù sau đó ông có gặp một Chi Ming Wang, hay một cô gái Việt trong lớp học …. ông luôn mơ ngóng về khung trời viễn xứ, nơi xa xôi đó đang bầu trời xanh thẳm, tầng mây trắng bay, là mùa xuân, cành mai, nồi bánh chưng, hay hình ảnh người vợ bên thềm giếng ngày nào. Nhưng tất cả đều xa lắc. Mộng tan thì còn lại nỗi bất hạnh chổng chơ trên mặt đất trắng tuyết: “Tôi ngần ngại. Hình như có một khoảng cách vô hình ngăn chia giữa tôi và nàng. Có lẽ đầu óc tôi vẫn còn bị ám ảnh bởi lịch sử. Nhưng nàng đã nói một câu mà tôi không thể tin nổi:
– Việt Nam và Trung Quốc đều có nỗi bất hạnh chung.
Tôi thật sự xúc động. Thì ra chúng tôi cũng vẫn có cùng chung cảnh ngộ. Việt Nam, Trung Quốc, Liên Sô, Cao Miên, Cuba, và các nước Đông Âu.
Tôi nhìn thẳng mắt nàng rồi nói:
– Vâng. Cả hai” (“Chi Ming Wang”).

Đoạn cuối: Vâng, thế hệ chúng tôi là thế hệ bất hạnh nhất, bi thảm nhất. Tuổi trẻ chúng tôi đã hứng đủ mọi lằn roi đến từ nhiều phía khác nhau. Những khuôn mặt và thân người phải oằn lưng gánh đỡ. Trong ngục tù hay bên ngoài, nơi được xưng tụng bằng nhiều mỹ từ nhất trên thế gian này và cả sự cô đơn của kẻ lạc loài xa xứ, thảy đều có “nỗi bơ vơ của bầy ngựa hoang.” Cắm đầu chạy. Miệt mài chạy mà đường đi thì không đến!

Đoạn kết của thế hệ này sẽ vẫn phải còn thở hồng hộc như trâu cày đồng, thở bằng mũi, miệng, tai; thở bằng mông đít và các đầu ngón tay chân, trên từng sợi tóc mặn đắng mồ hôi của tủi nhục, không phân biệt đó là những kẻ đang ngụ tạm quê người, hay còn ở quê nhà thở khói chiều vi vu bên anh Cuội dưới gốc da, ru ta những mộng mị hoang tưởng trên đời, rung bã, mệt mỏi, ê chề.

Trần Hoài Thư bên bờ đại dương chắc cũng vậy. Nhưng có điều may mắn hơn là bên cạnh còn có nhân vật chính của ông, lái xe đi về hơn 10 tiếng trong mưa tuyết đến thư viện Cornell để ông ngồi sau tranh thủ khâu từng tay sách. Có lúc ông tự lái, xe choài trên tuyết trơn, lật ngang đường chắc ông cũng không hay? Vợ vào shopping còn ông thì ngồi ngoài parking, tiếp tục đưa mũi kim luồn qua từng trang sách mà ông nâng niu quí trọng. Cảm ơn người chị một thời cưu mang tôi những năm tháng long đong ở Cần Thơ (trong tâm khảm, tôi luôn coi chị như người chị ruột của mình). Món bún bò Huế tôi đãi chị ở quán ông Ba Bụng, Bình Thuỷ khi nhận được nhuận bút, lúc đó chị kêu cay, nước mắt chị chảy. Vị cay và một chút nước mắt ngày nào như một định mệnh báo trước khi chị hỏi tôi về Trần Hoài Thư: “Em thân với ông nhà văn này, hỏi thật, ngoài đời ổng có dữ dội như những nhân vật trong truyện của ổng không?” Tôi không nhớ đã trả lời chị ra sao, nhưng giữa năm 1971, bất ngờ chị gửi thư vào quân trường Thủ Đức “…ráng kiếm cái phép về ăn cưới chị và anh Thư”. Thật trọn vẹn, thật ngọt ngào. Định mệnh đã trói chị vào nước mắt và nụ cười cùng cay đắng của Trần Hoài Thư, là thềm giếng, cành mai, và mùi thơm bánh chưng sôi ùng ục trong nồi chiều giao thừa. Như vậy có nghĩa rằng, Trần Hoài Thư sẽ còn có những tác phẩm văn học để đời, mà công lớn thuộc về chị.

NGUYỄN LỆ UYÊN

Đọc lại “Kỷ Vật Cho Em” của thi sĩ Linh Phương.

Leave_Me_Alone_by_SDJR

Trước và sau thập niên 70, chiến tranh Việt Nam bùng phát dữ dội và đó cũng là hệ quả tất yếu khiến hàng hàng lớp lớp thanh niên, sinh viên học sinh đến tuổi phải từ giã sự nghiệp, sách vở, giảng đường để tham gia cuộc chiến với nhiều cách khác nhau. Đó cũng là thời gian xã hội Miền Nam có nhiều biến động nhất: chiến tranh lan rộng sâu tận thành phố, những cuộc biểu tình lớn nhỏ dưới nhiều chiêu bài, khuynh hướng hỗn tạp, đã ít nhiều làm cho thanh niên tỏ vẻ hoài nghi về những hoài bão, lựa chọn của mình. Và chính sự khủng hoảng chính trị, xã hội dẫn tới một hiện tượng không thể phủ nhận: văn đàn Miền Nam xuất hiện những khuôn mặt trẻ đầy bất ngờ, mới mẻ, phần nào làm mới sinh khí văn chương vốn dĩ bị che mù bởi dòng văn học hiện sinh, bị lấn át bởi những đàn anh tên tuổi. Đó là những Phạm Thiên Thư, Nguyễn Tất Nhiên, Nguyễn Bắc Sơn, Trần Hoài Thư, Hoàng Ngọc Tuấn, Y Uyên, Vũ Hữu Định, Trần Thị Ngh… Công chúng, nhất là giới trẻ đã đón nhận họ như đón nhận một luồng gió mới, một sinh khí mới trong dòng văn học Miền Nam.

Thật ra luồng gió hay sinh khí mới kia cũng chẳng có gì lạ. Họ, những người trẻ viết văn, làm thơ không mang kiểu cách buồn nôn, chán nãn xa lạ mà, họ viết bởi cảm xúc chân thật bắt nguồn từ những gì xảy ra chung quanh, gắn liền với tình cảm, đời sống: một chút nhớ nhung về mối tình thời trai trẻ “anh theo Ngọ về/đường mưa nho nhỏ” hay một chút giận dỗi “nghe nói em vừa thi rớt Luật/môi trâm anh tàn héo nụ xa vời…rớt đi Duyên, rớt để thương người”. Và lắm khi là ngông nghênh, ngang tàn của người “lính thư sinh” sau những lần hành quân “mai ta đụng trận ta còn sống/về ghé sông Mao phá phách chơi/chia sớt nỗi sầu cùng gái điếm/đốt tiền mua vội một ngày vui” và “xin cảm ơn một mái tóc mềm/mai xa lắm trên đồn biên giới/còn một chút gì để nhớ để quên”. Và một tiếng kêu não lòng, xé ruột của Y Uyên: “chiến tranh mẹ gì mà lâu dữ vậy?”…

Những tâm tình bùi ngùi như thế lại được âm nhạc tiếp sức, đẩy lên một bậc khiến giới công chúng càng yêu thích luồng gió mới kia nhiều hơn.

Rồi theo trào lưu thơ phổ nhạc ngày càng thịnh hành, bất ngờ công chúng lại được nghe trên đài phát thanh Sài Gòn, trong các phòng trà đô thành, các quán cà phê: “em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại…xin trả lời mai mốt anh về… anh trở về có khi là hòm gỗ cài hoa…” khiến mọi người ngơ ngác hỏi: Linh Phương, tác giả bài thơ, là ai vậy? Hắn trong bưng làm thơ địch vận hay trong nhóm phản chiến? Thần hồn và tứ trong bài thơ cứ bình-thản-nức-nở, bình-thản-nghẹn-ngào, coi như không có gì ghê gớm. Rồi khi cái tứ đó đi qua những cung bậc cao thấp của nhạc sĩ Phạm Duy, cộng với chất giọng của Thái Thanh lại càng run rẩy, thê thiết hơn. Những năm tháng ấy, kẻ viết bài này chỉ mới là anh sinh viên trong giảng đường, tình cờ đọc trên tờ nhật báo Độc Lập đã thoáng giật mình! Càng giật mình hơn khi được biết Linh Phương viết bài Kỷ vật cho em trong lúc đang hành quân ở Chương Thiện khoảng đầu năm 1970! Trong khi đó, những người bạn tôi đang có mặt trên khắp bốn vùng chiến thuật lại cười ha hả từ những kbc có con tem anh chiến binh bồng súng xông tới, phong bì lấm lem bùn đất, sờn rách: “… mình chắc mẩm hắn cũng là lính. Hắn mô tả tâm trạng, hoàn cảnh sao đúng hoàn cảnh tụi mình quá trời. Mai mốt tụi mình có về trên đôi nạng gỗ có về hòm gỗ cài hoa hay trên trực thăng sơn màu tang trắng… thì các cậu chớ có ngạc nhiên, chớ có buồn! Đời trai chinh chiến mấy thằng sống sót trở về?”. Mấy câu ngắn ngủn kia mãi ám ảnh tôi. Ám ảnh bởi vẻ lạc quan, coi sống chết như chuyện có không của người bạn. Mà hắn đâu để mắt tới Ngũ uẩn giai không, hắn đâu biết gì về tâm kinh đâu ảnh hưởng gì về triết học Phật giáo? Chẳng qua khi đối mặt quá nhiều với cái chết, luôn rình rập bên cạnh, không báo trước thì con người ta chẳng còn buồn để ý đến nó? Cứ chờ đón nó một cách thản nhiên như trong bài thơ Kỷ vật cho em của Linh Phương.

Vào độ tuổi ra trận mạc ấy, hẳn ai cũng có người yêu, ít ra cũng em gái hậu phương, thản hoặc một Dạ Lan từ trời cao thầm thì, chia sẻ với các anh mỗi đêm. Ấy vậy nhưng khi em của Linh Phương hỏi: Em hỏi anh bao giờ trở lại thì nhà thơ cứ thẳng đuột trả lời mai mốt anh về, có thể bằng nhiều cách về khác nhau:

…Anh trở về hòm gỗ cài hoa
Anh trở về bằng chiếc băng ca…
…Mai trở về bờ tóc em xanh
Vội vã chít khăn sô vĩnh biệt…
…Mai anh về trên đôi nạng gỗ
Bại tướng về làm gã cụt chân…

Về bằng con đường nào thì thân thể thế hệ các anh không còn nguyên vẹn như lúc ra đi. Họ đã chắc chắn như vậy, nên chi cứ tạo một tâm thế trong những tình huống khắc nghiệt để em chuẩn bị đón nhận những bất toại trong cuộc sống chỉ có khói lửa trước mặt!

Những tình huống Linh Phương đặt ra trong bài thơ là sự thường tình, vì tự cổ kim các tình huống đó đã đến với mọi chiến binh, như trong Lương Châu Từ của Vương Hàn:

…Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?

Nhưng sự “không trở về” của người xưa có vẻ nhẹ nhàng, thanh thản còn với Linh Phương thì lại ưu uất, dằn xé tâm can:

Thì thôi! Hãy nhìn nhau xa lạ
Em nhìn anh ánh mắt chưa quen
Anh nhìn em anh sẽ cố quên
Tình nghĩa cũ một lần trăn trối.

Một sự chia cắt bi thảm, không phải lỗi ở nơi hai người, anh và em gây ra, mà chỉ vì một viên đạn màu đồng và hàng triệu viên đạn vô tình hay cố ý như thế trong giai đoạn máu lửa kinh hoàng bất ngờ găm thẳng vào ngực, từ những tranh chấp về chủ nghĩa và quyền lực điên cuồng!

Những bài khác trong tập Kỷ Vật Cho Em, giọng điệu thì bớt đi vẻ đau xót, bi thương nhưng những cách nhà thơ đưa hiện tượng cuộc sống vào thi ca, thì bức tranh nguệch ngoạc kia lại có vẻ tàn nhẫn hơn nhiều, dưới những góc cạnh khác nhau trong xã hội chiến tranh. Chất thơ bớt đi vẻ nồng nàn sâu lắng, nhường chỗ cho loại ngôn ngữ kể sắp lớp, như thể buổi sáng thức dậy đi ngang qua quảng trường, bỗng thấy người ta trưng bày xác quân địch cụt đầu, mất chân, ruột gan phơi tràn ra ngoài… với một cảm giác buồn nôn, ớn lạnh:

Có người vợ nào không tủi thân
Trước giờ sinh đẻ
Được tin chồng nằm xuống
Trận Đakto-Đồng Xoài-Bình Giã
Đức Cơ-Phù Cũ-Tam Quan
Có người mẹ nào không tủi thân
Khi đứa con đầu lòng mở mắt
Đã để tang cho bố.

(Làm vợ người cầm súng)

Càng kinh khủng hơn nữa, khi nàng góa phụ đã chấp nhận mọi cái giá phải trả, thì sợi dây cuối cùng còn lại của tình yêu giữa chàng và nàng là đứa con trai đầu lòng. Hẳn rằng đứa con trai ấy còn rất nhỏ, chưa biết giận hờn, chưa biết yêu ghét, đầu óc sáng trưng như tờ giấy trắng. Vậy nhưng, vì những tai trời ách nước giáng xuống, khiến nàng mất tất cả, đến nỗi ngày sinh nhật con nàng phải tặng:

Mẹ cho con viên đạn AK còn ngời sáng
Mẹ cho con quả lựu đạn M.26 còn thơm mùi thép mới tinh
Mẹ cho con mảnh mìn Claymore nằm trong lồng ngực bố
vừa chết trận U Minh
Con ơi con!

(Cho đứa con trai đầu lòng)

Trên đời này hiếm có người mẹ nào hành động như vậy. Rất có thể người mẹ giữ được tất cả các vật dụng vũ khí gây chết chóc kia, nhưng hành động và thái độ tặng cho con những thứ giết người dã man ấy, nhân ngày sinh nhật, thì không hẳn là hận thù chồng chất lên mãi. Nó mang tính chất tố cáo nhiều hơn. Cách dàn trải ngôn ngữ liệt kê như trên, nhà thơ chỉ muốn phơi bày bộ mặt thật, tàn nhẫn của hậu quả chiến tranh. Đó là tiếng gào bi thống, là sự phản kháng không cân sức giữa một góa phụ hay nhiều góa phụ với chiến tranh. Họ biết rõ họ không thể ngăn được cuộc chiến dừng lại, họ cũng không đủ sức trả thù. Và sự trả thù ngọt ngào nhất là sự phản kháng bằng những hành động tưởng chừng phi nhân bản, nhưng kỳ thực đó là tiếng kêu bi thương của loài người đang đứng bên bờ vực hủy diệt, tàn sát phi nhân.

Tâm trạng não nề, chán ngán của tầng lớp thanh niên, trí thức thời kỳ ấy như một đám mây u ám, cứ vần vũ mãi trên bầu trời, che lấp khoảng không gian không xanh, không hồng. Họ chán ngán bởi cuộc chiến kéo dài khủng khiếp, tranh chấp triền miên. Họ tuyệt vọng bởi ngày nối tiếp năm là bom rơi đạn nổ, sự bình yên, niềm hạnh phúc như một miền mơ ước không bao giờ có thực: “Đại bác đêm đêm dội về thành phố, người phu quét đường dừng chổi đứng nghe…”.

Hệ lụy của những tháng năm khói lửa triên miên là thái độ buông thả, thất vọng. Họ hối hả sống, hối hả yêu, hối hả bấu víu mỗi sáng thấy thân thể còn nguyên vẹn:

Tuổi trẻ tôi biết yêu và yêu rất vội
Sợ không kịp yêu đến ngày mai
Sợ chiến tranh còn dài
Đời người thì quá ngắn

(Giấc mơ màu đỏ)

Ngày xưa một mình chàng Kinh Kha qua sông Dịch với con chủy thủ trên tay và vĩnh viễn không quay lại điểm xuất phát! Ngày nay, hàng ngàn Kinh Kha qua hàng trăm sông Dịch như thế với nỗi băn khoăn ồn ào, hy vọng và thất vọng trộn lẫn. Thoắt một cái đời thư sinh chuyển thành đời chiến binh, rồi phế binh: buổi sớm mai anh thay áo học trò/buổi sớm mai anh mặc đồ nhà binh, chỉ một tích tắc, một chớp mắt chuyển dịch! Vậy là:

Thôi trước ngày anh vào lính
Hãy ngủ cùng em đêm nay lần cuối cùng
Hãy dã man trên thân thể con gái còn đẹp

(Trước ngày anh vào lính)

Chuyện dã man trên thân thể con gái còn đẹp giữa em và anh trước ngày anh vào lính không phải là vấn đề tình dục, không phải là sự trao đổi thân xác thông thường hay tệ hơn là bán buôn, mà chính là vội vã tranh cướp lấy đời sống ngắn ngủi bởi cảnh ngộ đẩy đưa, bởi sống-chết khó lường/chỉ cần tích tắc.

Phải sống mãi trong những hoài nghi, thất vọng… cũng có lúc lóe lên chút niềm tin, hy vọng. Họ tin ngày mai sẽ có hòa bình, ngày mai tiếng súng sẽ im, sẽ mở ra những viễn tượng tươi sáng trên quê hương. Họ, những chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt sẽ nghĩ gì, làm gì trong những ngày tươi đẹp mai sau?

Một ngày mìn định hướng không đặt
Lựu đạn không gài
Máy bay không bỏ bom
…Tôi vui mừng như lần cắp sách đến trường.

Nhưng đó mới chỉ là một ngày tạm yên tiếng súng. Còn mai kia, nếu hòa bình sẽ đến trên quê hương khốn khổ này thì sao? Và Linh Phương đã vẽ ra:

Ngày với chuyến tàu suốt từ Sài Gòn ra Hà Nội
…Ngày em hân hoan mặc áo dài dạo phố
Ngày em hân hoan ngồi trong rạp Rex xem phim lãng mạn ái tình…
…Ngày tôi không còn mặc đồ quân nhân ở nhà nuôi vợ đẻ.

(Trong ngày hòa bình)

Câu thơ như câu nói giữa hai người với nhau. Chất thơ mất đi và thay bằng ngôn ngữ đời thường để tỏ bày một ước vọng nhỏ nhoi, như thể tiếng kêu cứu của những kẻ bị đắm tàu giữa biển khơi mênh mông, trùng trùng sóng dập!

Đó cũng là khuynh hướng chung của những người làm thơ trẻ thuộc thế hệ anh. Những Nguyễn Bắc Sơn, Vũ Hữu Định hay Đinh Trầm Ca, Nguyễn Dương Quang… đều có cùng một tâm trạng như vậy, và bày tỏ niềm hy vọng, mơ ước mong manh như vậy, để cuối cùng chút ánh sáng ở cuối đường hầm vẫn cứ lùi xa tít và tắt ngấm đâu đó trong các trận chiến ngày càng tàn khốc hơn.

Hỡi hòa bình lạ mặt yêu dấu
Sao người cứ kiêu hãnh như giai nhân
Hoài hoài lỗi hẹn
Khi tuổi xuân chúng tôi chỉ có một lần
Làm sao chờ được trăm năm
Mà đến trăm năm còn gì xương máu anh em

(Hà Thúc Sinh – Xin hãy đến Hòa Bình)

Cảnh chiến tranh tàn khốc đã biến các nhà thơ trẻ thành những người cà khịa, ngông nghênh, bất cần đời nhuốm chút ngang tàng dễ thương, trở thành những bài thơ khẩu khí, ví như Nguyễn Bắc Sơn:

Bốn chuyến di hành một ngày mệt ngất
Dừng quân đây nói chuyện tiếu lâm chơi
Hãy dựa gốc cây hãy ngắm mây trời
Hãy tưởng tượng mình đi picnic
Kẻ thù ta ơi các ngài du kích
Hãy tránh xa ra đừng chơi bắn nheo
…Lúc này đây ta không thèm đánh giặc.

(Nguyễn Bắc Sơn – Chiến tranh Việt Nam và tôi, nxb Đồng Dao, SG 1971)

Họ ăn nói, sử dụng ngôn ngữ thơ một cách thoải mái tự do, như giỡn như đùa, không vì chính kiến, không lý tưởng này nọ mà nếu như ở một thể chế khác, các nhà thơ không thể có gan trời như thế!

Còn một Phan Xuân Sinh thì:

Hãy rót cho ta thêm cốc nữa đi
Ngồi với bạn hôm nay làm ta hứng chí
Chuyện ngày mai có chi đáng kể
Dẹp nó đi cho khỏi bận tâm
Thằng lính nào mà không rét lúc ra quân
Khi xung trận mà không té đái
…Uống với bạn hôm nay ta phải uống thật say
Để không phải còn nhìn nhau hận thù ngun ngút

(Phan Xuân Sinh – Uống rượu với người lính Bắc phương)

Có trời mới giải thích tại sao người lính Bắc phương lại dám ngồi “đối ẩm” với người lính phương Nam? Họ đã nhận ra điều gì trong những ngày điên cuồng bắn nhau? Họ đã nhận ra điều gì trong câu khẩu hiệu: “Nhắm thẳng đầu thù mà bắn”. Là anh em với nhau rồi sao? Là máu mủ ruột thịt rồi sao? Hay là chiến tranh làm họ mệt mỏi, buông xuôi là hệ lụy của một thái độ, một chọn lựa từ ý thức trong sạch?

Có thể đó là thái độ bất cần. Nhưng thái độ bất cần đó đâu hẳn là tính vô kỷ luật trong quân đội? Cũng chưa phải là tinh thần phản chiến đang bắt đầu nhẩn nha, đậm đặc trong đầu óc họ? Mà chỉ là sự bày tỏ cách nhìn, cách nghĩ của tuổi trẻ về cuộc chiến tranh quái gở phi lý kia. Tuổi trẻ Bắc Nam can cớ chi mà thù hận nhau? Tôi nhớ rất rõ một truyện ngắn của Lê Văn Thiện trên tạp chí Bách Khoa trước 75, có tựa “Xuất ngoại bằng trực thăng võ trang” có đoạn viết đại ý: Không biết Quốc Vương Shihanouk có ngồi ỉa như tụi mình?… Sao cứ bắt ra trận đánh nhau hoài? Muốn tranh bá đồ vương thì lãnh tụ hai bên chọn bãi đất đẹp, hai người tha hồ quần thảo, kẻ thắng thì được, ai thua thì mất hết. Sao lại bắt dân đen phải hứng chịu?

Nếu chỉ có vậy thì đâu có E.M. Remarque, đâu có E. Hemingway hay một P. Gallico với những tác phẩm viết về chiến tranh hay đến vậy? Và nếu như thế thì làm gì có một Phan Nhật Nam với Mùa Hè Đỏ Lửa, Thế Uyên với Tiền Đồn, Y Uyên với Bão Khô, Bảo Ninh với Nỗi Buồn Chiến Tranh hay một Kiều Mỹ Duyên với Chinh Chiến Điêu Linh…?

Chiến tranh thật quái gở, bởi không do nhân dân chọn lựa, không phát khởi từ ý thức của nhân dân, mà từ những chủ nghĩa quái gở, từ những quyền lợi của kẻ cả khống chế.

Nhìn nhận được chỗ phi lý kia, lớp người trẻ tuổi bị bắt buộc tham chiến bắt đầu chửi đổng. Chỉ là chửi đổng sau những cuộc hành quân, chửi đổng trong mấy ngày phép được về thành phố… và rồi bật ra những câu “không thể tha thứ” đối với quân kỷ, chủ nghĩa…

Dăm thằng đánh trận. Dăm thằng chết
Chỉ sót mình ta cứ sống nhăn
Đù má nhiều khi buồn hết biết
Lo mãi sau này cụt mất chân


Mấy tháng hành quân chưa ngơi nghỉ
Tóc tai dài thượt giống người rừng
Kinh Kha vác súng qua Dịch thủy
Thề chẳng trở về với tay không


Chiến hữu ta toàn dân thứ dữ
Uống rượu say chửi đổng dài dài
Bồ bỏ. Tức mình xâm bốn chữ
“Hận kẻ bạc tình” trên cánh tay


Chiều qua sém chết vì viên đạn
Du kích bên sông bắn tỉa hù
Cũng may gặp phải thằng cà chớn
Thấy mặt ta ngầu bắn đéo vô


Nhớ hôm bắt được em Việt Cộng
Xinh đẹp như con gái Sài Gòn
Ta nổi máu giang hồ hảo hán
Gật đầu ra lệnh thả mỹ nhân


Mai mốt này đây ra trận tuyến
Gặp ta em bắn chớ ngại ngùng
Cuộc chiến đâu dành cho nhân nghĩa
Đời nào đạo lý với bao dung

(Hành quân)

Trích trọn bài, bởi tôi nghĩ, đây là bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của Linh Phương, và có thể là tiêu biểu cho cả thế hệ anh trong cuộc chiến tranh không có lối thoát. Hẳn nhiên sẽ có người không đồng tình theo cách nghĩ của tôi, vì trong hàng ngàn bài thơ của hàng trăm nhà thơ thời kỳ đó cũng hay, cũng tiêu biểu? Đồng ý. Tuy nhiên cái hay cái tiêu biểu của những bài thơ kia là những cảm xúc, những phơi bày ở khía cạnh khác; trong khi hành quân, Linh Phương đã phác họa thành công khuôn mặt méo mó của thế hệ anh, đầu óc méo mó với cái nhìn cũng méo mó và chân thực không kém của hàng triệu người hai bờ Nam Bắc phải cúi đầu, nén lòng cầm súng.

Nơi xứ người giá rét, đọc được tập thơ này, bỗng nhói đau một thời kỳ đen tối hiển hiện trước mặt và không thể dằn lòng, bèn thốt lên vài tiếng, vẽ vời vài dòng về Linh Phương về tuổi trẻ và chiến tranh Việt Nam kéo dài, tàn phá mọi nhân phẩm đạo đức, đảo lộn mọi trật tự xã hội suốt hai mươi năm trời: Hai mươi năm nội chiến từng ngày. Và để lại một gia tài “di căn mụt nhọt” cho nhiều thế hệ tiếp theo!

Nguyễn Lệ Uyên
(Seattle, đầu đông tuyết phủ mịt mù)

Trích Trang sách và những giấc mơ bay – tập I (Thư Ấn Quán, 2010)

THẰNG CHẢ

 

nguyenleuyen
(A Madame Phuong Thao, avec la chanson Aimer à perdre la raison)

“Nè, tao hỏi thiệt. Mày chết dưới bàn tay lão ấy rồi hả…?”.
Chị Nhân kéo chữ “hả” dài thậm thượt, rất giống với âm thanh lưỡi sóng trườn vào mép cát đang đuối sức. Lại thêm cái mặt dài đuỗng, miệng há rộng, hai đồng tử mở hết cỡ; trông chị cứ như vừa thấy xác người lạ trên vệ đường, khiến nàng muốn cười thật to, dẫu cho giọng cười lúc đó có thể ướt nhẹp, khai khai mùi nước tiểu trẻ con đái dầm.
Tại sao người lớn, ý nàng muốn nói là người có vai vế, tuổi tác thường hay nhìn kẻ dưới với đôi mắt kẻ cả, bộ tịch bề trên.
Giọng điệu của chị Nhân nghe y chang giọng mẹ. Cũng xẳng lét. Chua lòm, cũng bới tận gốc ngọn, thiếu điều bứt trụi cả lá mà không cần động tới tay chân. Thiệt buồn cười. Người lớn bao giờ cũng cho rằng mình đúng. Người càng có nhiều quyền thì càng chứng tỏ mình là đấng toàn năng, luôn luôn chính xác hơn kẻ dưới từng ly mét, mặc dù những suy nghĩ và hành động thì sai ngoắt, trật lất.
Độc đoán, cố chấp, bảo thủ, nàng lẩm bẩm.
Mà mẹ mình nói gì nhỉ? Phải, nhớ rồi. Mày điên hay sao mà phải ra chỗ ấy, một khu mồ mả vừa san lấp. Oan hồn nằm dưới nền đất sẽ bóp họng tụi bay. Đâu có mẹ, nàng ôm hai vai xương xẩu bà cụ. Đâu có đụng chạm gì, bóp là bóp tụi móc ngoặc làm dự án, thẩm định rồi giao cho lũ đầu tư. Con chỉ mua thôi, đâu có phá phách, xua đuối người chết đi chỗ khác để giành đất, nàng dông dài. Mẹ nhướng cặp mắt hom hem nhìn nàng như kẻ lạ. Nhưng tại sao nhà cửa rộng thênh thang không ở, lại mò ra chỗ mồ mả ấy, hay có thằng nào rù quến? Mẹ day day dấu hỏi như thể bà cụ đang ngoáy trầu. Nàng chụp lấy tay mẹ. Ai rù được con, mẹ khéo lo. Chẳng ai có thể quến được con đâu. Mẹ giật tay lại. Ăn nói kiểu đó đó, con với cái. Tao nói để coi, một mẹ một con thể nào “đi đêm cũng có ngày gặp ma”, làm sao mà cái bọn đàn ông như lũ sói ấy, thấy đàn bà cô thân đơn độc lại không rắp tâm rình nhử này nọ. Cục mỡ tránh sao nổi miệng mèo, hả con?
Thêm một cú hạ giọng nữa của mẹ, lúc đó giống sao giống lạ giống lùng giọng anh kép tuồng đóng vai tướng xuống xề bi ai với người đẹp từ chối mối tình đầy nặng như trái núi của mình khiến nàng bật cười lớn. Mẹ nàng kêu: Con điên!

Lúc dọn đến nhà mới, việc đầu tiên là nàng đến chùa xin thầy trụ trì, trì chú cho tấm gương bát quái. Nàng không tin lắm, nhưng cả khu phố mới ai ai cũng “thỉnh” về, treo lủng lẳng trước hiên tấm kính bát quái trừ tà ma đuổi quỷ khiến nàng không thể dửng dưng.
Kệ. Treo lên chẳng chết ai, đôi khi buồn ngước dòm hẳn cũng sẽ thấy vui mắt. Mà cũng rất có thể, nếu có ma quỉ thật, chúng sẽ phải lộn vòng vòng trong lưỡng cực không thể chạy ra phá phách? Ủa, mà sao lưỡng cực lại có hai cái hột nhỏ xíu y như tinh trùng và trứng tưng tửng nhìn nhau, chực chập lại? Ý nghĩ này bất ngờ nhảy xộc vô đầu khi nàng thấy thầy, cũng trạc tuổi nàng, vừa gõ mõ, điểm chuông, đọc trì chú vừa liếc nhìn vào chỗ hõm trên cổ áo khoét rộng. Nàng kéo cổ áo lên, giữ chỗ ngực bằng hai tay chắp lại, mà nghe như mùi nhang khói dậy lên từ nịt áo muốn bứt tung ra.
Khi cầm tấm kính “chiếu yêu” bước lui khỏi chánh điện, thầy dặn với:
-Con cần gì cứ tới thầy giúp.
-Mô phật, con cảm ơn thầy – Nàng đáp. Thầy ngó xoắn chỗ vết cong trên ngực. Hai con mắt cha này dâm vô độ. Không rõ kinh kệ có làm xẹp xuống phần nào chăng, nàng tự hỏi khi bước gần tới cổng tam quan.
Có xẹp xuống hay phồng lên là việc của thầy. Nàng không phải quan tâm, bởi từ bữa hôm đó, nàng không quay lại cổng chùa lần nữa, mặc dù tấm kính bát quái chỉ bốn tháng sau, bị gió bão đập cho rơi xuống nền gạch hoa, răn nứt nhiều mảnh.
Phải công nhận, những đêm đầu tiên ngủ trong căn nhà mới, thiệt sợ. Hai mẹ con nàng ôm cứng lấy nhau khi nghe tiếng rú rít trong hàng dương phía bên kia đường. Tiếng rít nghe như tiếng mài gươm trên tảng đá, như âm thanh luyện đao của Bát Lê (*) sau vườn chuối dinh quan Tổng Đốc. Lạnh cả gáy.
Kinh khủng hơn, khi quán mở, độ hai tuần sau, đêm, hai mẹ con nàng lại phải ôm nhau, kéo mền trùm kín, vì lũ chuột xộc vào nhà chí chóe suốt đêm. Ban đầu là những cảm giác sợ đến són đái. Hết sợ chuyển sang bực bội rồi quen dần thời gian không lâu sau đó, nhưng chẳng dễ chịu chút nào. Đôi lúc nàng nghĩ vẩn vơ, hay ta kiếm quách một tay vệ sĩ. Chí ít nó cũng linh nghiệm hơn tấm kính bát quái răn nứt kia?

Chị Nhân tới thăm, lại ồ ồ lớn giọng: “Tao thấy nhiều thằng xứng đáng hơn, mắc chứng ôn dịch gì lại nhào vô thằng chả”?
Nàng xâu chuỗi lại cấp thứ của nhân vật có gai nhọn hoắc này. Lúc đầu là “lão”, nay chuyển sang “thằng chả”, có nghĩa rằng trong mắt chị Nhân, nhân vật làm cho nàng “chết” và “nhào” đang nhích gần hơn, thu hẹp dần khoảng cách tuổi tác. Mà có khi nào chị hạ thấp hơn nữa không nhỉ, như “nó” hay “anh ta” chẳng hạn? Vì ít ra, theo suy nghĩ của nàng, chị không còn coi trọng chuyện cách biệt tuổi tác quá lớn đến độ dị hợm; nhưng đằng nào, lớn nhỏ gì cũng vẫn là nguyên nhân gây ra sự không hài lòng đối với những người lớn, trải đời như chị; lại nữa có rất nhiều nguy cơ làm cho em gái chị phải biến thành “cục mỡ” như mẹ đã cảnh báo.
Nhiều khi đứng trước gương soi, nàng xoay qua bên này, ẹo chút bên kia, đưa tay véo vào hông, nắn ngực, xoa xoa lên mặt, nắn chóp mũi… Đẹp. Nàng cười rung rinh và thừa nhận mình đẹp từ đầu đến chân ngay tại thời điểm “gái một con” (nàng thầm cảm ơn tạo hóa đã tặng cho nàng chút nhan sắc, và rồi tự hỏi tại sao Tùng lại bỏ mẹ con nàng để chạy theo cô nàng ca sĩ cà tong cà teo gần giống que nhang?). Tự nhiên cái xộc xệch, vớ vẩn lại chun vô đầu. Gái một con. Ờ thì một. Hơi đúng đúng, dù rằng trước đó nàng không mấy tin tưởng nhan sắc tùy thuộc vào vấn đề sinh học cùng dắt tay đi theo chiều dọc thời gian, tồn tại ở thời điểm “một con”. Hai, ba… hay một bầy lúc nhúc của mẹ Âu Cơ thì sao nào? Mấy ngàn năm rồi, mẹ vẫn đẹp trong mắt dân Việt kia mà?
Hay mẹ hoặc chị Nhân thử đứng ra giả bộ tổ chức kén chồng lần nữa cho nàng, dám chắc rằng không chỉ có hai anh Sơn Tinh và Thủy Tinh, mà sẽ có nhiều chàng sắp hàng từ đại lộ vua Hùng chạy vào đích là cái quán này. Kẻ chiến thắng sẽ bế xốc nàng lên giống như mấy tay coureur về đích ôm bó hoa tươi trước bục. Rồi sau đó… Hoang tưởng. Bậy bạ.
Ý tưởng về chuyện đua xe đạp, đua marathon dậy lên trong đầu như khói chiều vương vất trên đọt cau. Nàng nghĩ vụ này sẽ hấp dẫn như một tuồng cải lương mùi và liền sắp xếp mọi diễn biến của từng nhân vật, theo thứ tự thời gian các anh chàng tới quán cà phê buổi sáng và bia bọt buổi chiều.

Đầu tiên là anh chàng sĩ quan mang quân hàm cấp tá, đang còn tại vị, vợ chết ba năm, có đứa con gái duy nhất lên bốn, tính theo tuổi bà mụ. Anh chàng đến quán uống cà phê tám lần. Lần thứ chín, quán vắng, chàng nhìn nàng đắm đuối, mở lời. Chàng khai vắn tắt lí lịch rồi nói tôi yêu em. Nếu em đồng ý, tôi sẽ cưới em và chỉ cần sinh cho tôi đứa con trai. Lương hiện tại của tôi mười mấy triệu. Nhà cửa vật chất đầy đủ. Chỉ cần em sinh cho tôi đứa con trai, em sẽ không thiếu thứ gì trên đời này. Giọng chàng diễn tả thiếu chút gia vị mùi mẫn, nhưng mang nhiều cân đong đo đếm như đang đối mặt với đối phương ngoài chiến trường. Dòm bộ dạng, chàng có vẻ là một kịch sĩ hơn là một chiến binh, bởi chàng đang tập diễn hài kịch trên sân khấu nhỏ!
Nàng áp tay mình lên mu bàn tay chàng, như thầy lang vườn mới học nghề, bắt mạch cho bệnh nhân. Nàng nhỏ nhẹ: Em cảm ơn anh. Nhưng em sợ cái “không thiếu thứ gì trên đời này”. Bộ anh tính thụt két hay ăn chặn của lính sao? Không. Em sợ cảnh tù tội. Thứ đến vụ “sinh cho tôi đứa con trai”. Lại tra ổ khóa, điều khiển tôi như cái máy đẻ sao? Cảm ơn anh. Tôi không thể đẻ được. Chắc chắn tôi không đẻ được nữa đâu.
Chàng chết lặng. Sau đó biến mất. Không bao giờ thấy tới quán nữa. Ồ, giặc đến chàng đánh đấm ra sao nhỉ? Nàng mất đi một khách hàng nhưng bù lại, những lúc buồn buồn, nhớ chuyện cũ, nàng bật cười đến nước mắt chảy ràn rụa.
Chàng thứ hai là một giảng viên khoa tiểu học. Chàng tầm thước. Bụng to hơn ngực, thuộc loại “mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao”. Giọng nói thì luôn dính cục như những viên kẹo ướt phơi ngoài nắng, có biệt tài nói bất cứ đề tài gì, từ thượng vàng đến hạ cám theo kiểu suy diễn của “giai cấp bần cố nông” làm nên lịch sử, đang ở tầm cao thời đại. Chàng khai trước “tòa” rằng vợ sắp hưu, bị bệnh gì đó bằng tiếng tây, nàng không nhớ, không còn chức năng đàn bà. Chàng nói tôi thương em. Chúng ta hãy đến với nhau. Nhà ai nấy ở. Anh sẽ lo chu đáo cho mẹ con em.
Lần này nàng không xem mạch vì tay đang bận ghi hóa đơn tính tiền cho khách nhậu. Đến khi chàng hỏi lại: Em đồng ý chứ? Nàng giật mình, hỏi cái gì đồng ý. Chàng nhắc lại đúng lúc ông khách bước tới xìa hóa đơn kêu ghi nợ. Tâm trạng nàng đang như vừa bị con kiến cắn, tiếp liền sau đó là con ong đốt, đau ngứa rát tạt, khiến nàng xẵng giọng: Bộ anh tưởng tôi là gái gọi sao? Ông khách cầm hóa đơn khất nợ la lên: Thì ghi nợ một lần, cuối tháng lãnh lương trả. Làm gì ầm ĩ gái gọi ở trỏng. Này, cầm cái này vậy. Vừa nói khách vừa tháo chiếc nhẫn trên ngón áp út đặt xuống bàn, hầm hầm quay ra. Tai họa. Mồ hôi nhiểu lộp độp và hơi thở hắt lên đè cứng ngực bay vọt ra cả miệng cả mũi, thiếu điều nhấc bổng mấy cái ly trên bàn lên không trung. Nàng vội vã cùng với mồ hôi, hơi thở gắt, nhổm dậy cầm chiếc nhẫn lao ra cửa đuổi theo ông khách…
Chàng thứ ba là anh nhà báo tỉnh, có mái tóc nghệ sĩ, kính mát luôn gắn lên mắt dù đang ngồi trong nhà. Vợ chàng là đốc tờ tại chức, trưởng khoa sinh đẻ bệnh viện địa phương. Chị bác sĩ bốn bảy này chưa một lần sinh nở, không biết lỗi do ai bởi cả hai đều khăng khăng đối phương mới là thủ phạm chính. Chén đũa rổn rảng, lọc cọc suốt. Chàng buồn tình chè chén và quán nàng là địa điểm lý tưởng để trút bầu tâm sự. Nàng chia sẻ nỗi đau và cảm thông hoàn cảnh. Bà bác sĩ được điệp báo cung cấp thông tin, bỏ sở, phóng xe máy tới xách tai chồng như xách con thú cưng và buông tuồng những ngôn ngữ chưa hề ghi trong từ điển, dẫu là từ điển.bách khoa toàn thư do các viện sĩ, giáo sư tiến sĩ lỗi lạc ở nước ta biên soạn!
Nàng thở dốc. Đếm ra chắc còn dài ngoằng. Tựu trung là chàng nào cũng có cặp mắt và ý nghĩ và một vài hành vi rất kém vệ sinh.
Nàng gạt tất qua một bên.
Và như vậy, nàng chưa là cục mỡ, chưa kẻ nào rù quến được nàng như mẹ nghĩ.

Vậy mà mấy tháng sau, sau những “cuộc tấn công thần tốc” lớn nhỏ, thân cây chỉ một người ôm lỏng là nàng đang bắt đầu có dấu hiệu rung rinh run rẩy; không vì bão tố, không vì sấm sét mưa giông, mà chỉ là những cơn gió thoảng, hiu hiu nhẹ.
Nàng cố xua đuổi hình ảnh “những ngọn gió” bằng nhiều cách khác nhau trong mọi sinh hoạt hàng ngày: Băm dao xuống thớt mạnh hơn. Những con mực ống bị nhồi thịt băm quá mức, đến nỗi con mực phình chướng như thằng chết trôi, rồi tưởng tượng thằng đó đã chết thật, chí ít đang sặc nước, đang ngáp ngáp gần chết. Nàng lại hả hê khi miết đầu bút vào các chữ số tờ hóa đơn, xé cái roẹt, dứt khoát như thể đang xé nát thằng chả ra làm nhiều mảnh. Lại hả hê. Nàng bắt đầu cự nự, đốp chát tay đôi với khách, trái với bản tính dịu dàng, đôi khi phải đóng kịch trước mặt các thượng đế. Thói xấu này rõ ràng có duyên cớ, duyên cớ tù mù rối như nùi rơm quấn quanh nọc!
Cả hai tháng nay thằng chả lặn đâu mất tăm, trong khi nàng vẫn tiếp tục miết mạnh đầu bút bi vào các chữ số; tiếp tục xé roẹt những tờ hóa đơn mỗi lúc nghe chừng to hơn, nhưng không biết để làm gì.
Ủa, liên quan gì vậy cà?
Mắc mớ chi vậy cà? Thật thảm hại!

Nàng không nhớ thằng chả đến quán vào lúc nào, nhưng thường có nhiều người, ít nhất bốn người cùng đến quán. Hai người là công chức địa phương. Người thứ ba là thầu khoán. Người cuối nghề tự do, hình như có trang trại cà phê đâu đó trên Lâm Đồng. Không biết thằng chả nghề ngỗng gì. Mù tịt. Nhưng xem ra, trong lúc chuyện trò, cả bốn người đều tỏ ra kính trọng rất mực. Trong quán ồn ào, những người bạn ồn ào thì thằng chả ngồi im, góp chuyện bằng những nụ cười, hiếm khi nghe tiếng tranh biện. Thằng chả chỉ có cười, nụ cười như đứa con nít còn ẵm ngửa. Đẹp lạ.
Nàng ra tay khai thác bạn đi cùng thằng chả: Ổng sống độc thân một mình trong ngôi nhà cổ cách phố chừng mười phút chạy xe máy. Đó là lời anh công chức. Anh thầu khoán thì thêm: Suốt ngày giam mình trong nhà, vẽ và chép tranh thuê cho người khác. Mấy cha đầu nậu lợi dụng chả mang tranh qua bên kia kiếm bộn xu.
Té ra thằng chả là thợ vẽ, họa sĩ vườn. Nàng khoái trá khi tưởng tượng thằng chả là tay thợ vẽ đang trong trạng thái đứt dây, bị chạm, tàng tàng các thứ…
Mà thằng chả đứt dây thiệt. Thử tưởng tượng, trong tiết trời tháng Chạp. Lạnh cắt da. Gió bấc từ biển thổi ào ạt, lạnh đến ngứa rần rần mang tai, ngón tay… thì thằng chả bất ngờ đề nghị với đám bạn bốn tên: Mang tất ra bãi ngồi nghe biển và hàng dương hát. Cả bọn hào hứng lên đồng với chả, bước ra khỏi quán với vẻ mặt lũ trẻ con chính hiệu. Tất nhiên nàng phải tò mò, bám theo như công an theo dõi bọn tội phạm hoặc chuẩn bị thành tội phạm.
Thùng bia lật úp làm bàn. Món nhậu trong túi nylon. Bia trên tay mỗi người. Cả bọn cười nói gì đó vang động một góc bãi vắng. Mây vần vũ tối xầm trên đầu. Biển đập ầm ầm, bọt sóng tung tóe lên gần sát chỗ thùng bia lật úp. Những đọt dương như muốn ngã chúi vào đường lớn. Gió quật nghiêng ngã. Nàng tựa người khuất vào gốc dương lẩm bẩm: Đấy mà gọi là biển hát, dương hát. Đồ khùng! Nàng muốn chạy lại và gào lớn lên. Nhưng nàng không chạy, bước chậm về phía chiếc thùng giấy lật ngược, vây quanh bởi năm con người như cây cau cảnh che chắn chiếc thùng không để gió đuổi bay đi. Cát ướt miết trong lòng bàn chân. Gió thổi dạt mái tóc nàng ra sau, tốc vạt áo choàng đen, muốn bứt tung hàng cúc cài kín. Mọi người cùng ồ lên: Em ra chi đây, gió lạnh lắm. Riêng chả không hề mở miệng, cho đến khi nàng đứng tựa vào thân cây dương trụi lá, chả mới ngước lên, nói với gió gào: Nhin cô chủ nhỏ như đang bay. Mái tóc ngược gió và hát kìa. Tuyệt vời…

Thằng chả lại mất tăm đến bốn tháng trước và sau tết. Một bữa chả đột ngột xuất hiện, tóc tai rối nùi, áo quần xộc xệch. Chả chào nàng bằng nụ cười nửa miệng, từ tốn kéo ghế ngồi xuống, từ tốn rút máy gọi bạn. Không đủ, nhưng cũng có anh công chức trốn sở và anh chủ trang trại cùng mấy người khác nàng chưa gặp bao giờ.
Thằng chả nói: Bữa nay tôi đãi mấy chú, nhưng không phải ngồi đây. Mang tất lên tôi, mừng bức tranh vừa xong? Hai người kia kêu ô kê. Khi mọi thứ đã đặt vào túi nylon, vào thùng. Thằng chả ngước cặp mắt như thỏi nam châm quay về phía nàng: Mời cô. Cô sẽ ngạc nhiên vì nó đó. Nàng tỉnh queo: Cảm ơn, tôi bận khách. Thằng chả cười cười: Cô sẽ hối tiếc giây phút đấy đấy. Giây phút nào, hối tiếc cái gì? Nàng bĩu môi thầm trong đầu. Nhưng sau đó, khi mọi người chuẩn bị ra xe, nàng đổi ý. Có lẽ thằng chả nói không quá. Có điều gì đó mà linh cảm đàn bà trong nàng chỗi dậy gây chút bứt rứt, chút háo hức, tò mò… không thể hiểu, không thể giải thích.

Căn nhà cổ kính nằm sâu trong khu vườn cây um tùm. Mái ngói âm dương rêu mốc. Hàng hiên rộng, kê chiếc bàn nước và nhiều ghế đẩu kiểu cổ. Gian thờ chính giữa với câu đối, hoành phi, tủ cẩn xà cừ, bộ trường kỷ. Bên phải là phòng ngủ, bên trái la liệt vải toan, ống màu, giá vẽ. Tranh dựng vào tường, treo trên vách, lộn xộn như gánh hàng xén ở chợ quê…
Nàng tò mò bước vào, xán lại gần những bức tranh đầy sắc màu mà không mấy hiểu. Một bức khác nằm trên giá, phủ tấm voan màu xanh nhạt. Trong khi mấy người bạn bày biện lên bàn, chả xộc vô miệng nói mời cô, tay đưa ra phía hàng hiên. Chà, có đâu kiểu mời mọc trịch thượng, kém lịch sự như vậy? Tự ái lăn tăn trong đầu, phập phều trong bụng. Nàng chưa chịu nhúc nhích. Còn thằng chả thì đưa đôi cánh tay rắn chắc bê nguyên giá vẽ phủ tấm voan xanh…bước đi với điệu bộ của một kẻ hãnh tiến, phách lối, chẳng coi ai ra gì!
Nàng còn lớ ngớ ngó cái hóc xó lộn xộn thì bên ngoài, mọi người cùng ồ lên một lượt. Nghe động, nàng quay ra cũng một cách bước tới như hồi ở dưới bãi bước nhẹ về phía chiếc thùng giấy lật ngược.
Bức tranh hiện ra trước mắt. Thiếu nữ bước trên cồn cát. Gió thổi lật mái tóc ra sau chẻ thành trăm, ngàn sợi bay rối cọ vào nhau và phát ra âm thanh. Chiếc khăn choàng và vạt áo cũng bay ngược. Cả khối hình chính trên khung vải như đang bay lên không trung, bên dưới là bãi cát mịn, là gốc dương trụi lá, sóng biển vồng cuộn xa xa. Nàng há hốc mồm nhìn chăm chăm. Người thiếu nữ trong tranh là nàng, cả mái tóc, khăn choàng kẽ ô vuông đen trắng và tấm áo màu xanh lá cây. Tất cả như đang cùng với sóng cuộn, với hàng dương ngân lên những khúc nhạc bất tận của đại dương…
Thằng chả cầm lon bia trong tay trái, nói tôi vẽ bức này để tặng cô chủ nhỏ hôm ra bãi với chúng ta.
Cái đẹp chỉ xuất hiện bất thần trong tích tắc, chả thêm.
Cảm ơn cô. Bức tranh tên Giấc Mơ Bay.
Nàng đứng chết trân. Tâm thần bấn loạn.

NGUYỄN LỆ UYÊN

(*) Bát Lê: nhân vật trong truyện Chém Treo Ngành (Vang Bóng Một Thời – Nguyễn Tuân)