NHỮNG NĂM THÁNG Ở CẦN THƠ ( hồi ức)

 

 

 

 

Sau biến cố Mậu Thân, tôi tự hiểu, rằng không thể nhởn nhơ mãi ở Văn Khoa như những anh chàng lãng du giữa mộng và thực; bởi rất có thể đến một ngày nào đó quân trường sẽ điểm tên như một số bạn bè tôi trước đó. Điều mà má tôi sẽ buồn không ít, bởi bà mẹ nào cũng sợ súng đạn, chết chóc. Và vì vậy tôi quyết định nộp đơn thi vào ĐHSP như một cách “trốn chạy” tốt nhất. Trước khi ra bến xe Pétrus Ký, tôi ghé 38 Phạm Ngũ Lão gửi cho Văn bản thảo truyện ngắn Đong Đưa Kỷ Niệm (sau đăng trên Văn số 114 ngày 15.9.1968). Ông Trần Phong Giao nói tình hình hiện nay bất ổn lắm, cậu liệu mà chọn đường đi. Tôi nói ý định của mình. Ông nói, vậy thì tốt, nếu đậu có thể hoãn dịch. Tôi chào ông, ra bến xe.

Lần đầu tiên về miền Tây, tôi thấy cái gì cũng lạ dọc theo QL4: Đồng ruộng mênh mông. Vườn trái cây xanh um. Sông rạch chằng chịt. Những chiếc phà xuôi ngược bên dòng sông Tiền, sông Hậu. Những giỏ trái cây mơn mởn hai đầu bắc Vĩnh Long, Cần Thơ… Những chiếc xe lôi đạp lạ mắt. Thành phố Cần Thơ êm đềm. Bến Ninh Kiều như một cô gái quê đằm thắm…

Lần đầu đặt chân đến vùng sông nước miền Tây, không có ai thân quen, đành tìm một khách sạn tuyềnh toàng, ăn cơm dĩa chờ ngày thi. Trong thời gian này tôi bắt xe lôi đi quanh quẩn một vài nơi. Chỗ nào cũng thấy các sắc lính lẫn vào đám “civil”. Chán, về nằm ì trong phòng, mở toang ô cửa nhỏ nhìn ra bến Ninh Kiều, nhìn ghe thuyền tấp nập. Sáng và chiều nghe tiếng đọc kinh của tín đồ Hoà Hảo bên kia sông, gieo vào lòng một cảm giác lạ.

Mấy ngày sau, tôi vào trường thi ở trung học Phan Thanh Giản. Sĩ tử tứ xứ. Tôi không hề biết ai là ai, lầm lũi ngồi vào bàn, ghi số báo danh lên giấy, chép đề. Mãi tận tới nay, tôi vẫn nhớ rõ đề thi của khoa SP ban Việt-Hán: “Anh chị hãy bàn về sự thật của nghệ thuật giữa Mai và Lộc ở đoạn cuối tác phẩm Nửa Chừng Xuân của Khái Hưng”. Tôi không nhớ mình đã viết những gì, nhưng chắc chắn những điều tôi “phịa” ra, được dẫn từ cấu trúc tiểu thuyết mới của Pháp rồi những A. R. Grillet, Camus, Clévi-Strauss … các trào lưu văn học phương tây, nhất là trường phái lãng mạn, ít nhiều ảnh hưởng đến nhóm TLVĐ cùng những nhận xét của cụ Vũ Ngọc Phan trong tập Nhà Văn Hiện Đại… choáng đầy 12 trang giấy thi trong 3 tiếng cắm cúi viết.

Chỉ có duy nhất một đề cho ban Việt-Hán! Tôi nộp quyển và không có khái niệm rõ ràng về lòng tự tin, nhẹ nhàng bước lên xe đò trở về SG, cũng như lúc ngồi xe xuống Cần Thơ, bỏ lại sau lưng những đường phố ngập bụi, bữa cơm dĩa, phòng ngủ ám mốc…

Nửa tháng sau, tôi nhận được điện tín báo đậu hạng thứ 3. Người mừng trước tiên là má tôi, mừng đến chảy nước mắt, sau đó là cha và hai em gái. Còn sự mừng của tôi là rút sâu vào đáy lòng, nhưng, trước hết tôi có thể yên ổn ba, bốn năm. Số đỏ!

Trước khi xuống Cần Thơ nhập học, tôi ghé lại 38 Phạm Ngũ Lão vừa báo tin vừa chào ông thư ký toà soạn. Ông vui ra mặt, hỏi tôi có quen ai dưới đó không? Tôi đáp không. Ông mở hộc bàn, lôi quyển sổ con hí hoáy viết cho tôi mấy địa chỉ, cả anh Viên Linh cũng cho tôi địa chỉ chị Phong Lan ở 105 Phan Đình Phùng. Tới nơi, đầu tiên tôi tìm đến nhà Lê Trúc Khanh trong con hẻm cuối đường Phan Thanh Giản. Từ đó gặp thêm Nguyễn Hoài Vọng rồi Phù Sa Lộc, Bùi Hữu Trạng… Tôi nhờ họ tìm giúp nhà trọ lâu dài. Và thật may mắn, trên căn gác gỗ số 2 cùng đường, còn bên dưới là quán cơm bình dân cho sinh viên, quân nhân, công chức… là chốn nương thân đầu tiên. Tiện lợi đủ bề.

Mọi thủ tục nhập học đều suôn sẻ, mặc dù trước đó, tôi phải ra sức “năn nỉ” cô Ngọc người phụ trách thu nhận hồ hồ sơ cho các tân sinh viên SP, bởi tôi trễ hạn đến 2 ngày. May mà nhờ có chị Yến ở Viện nói giúp, sau khi tôi lên tận phòng Khoa Trưởng ĐHSP Nguyễn Văn Vàng trình bày “sự cố”.

Chương trình năm thứ Nhất không có gì khó khăn. Có lẽ vì thế mà “máu văn nghệ” liền nổi dậy. Anh em viết văn làm thơ ở Cần Thơ thì đông đảo, nhưng một tờ báo văn nghệ kiểu các tỉnh Trung phần thì vắng bóng. Duy nhất chỉ có tờ nhật báo Tây Đô chuyên về thời sự, chính trị, xã hội… Tôi bàn với Bùi Hữu Trạng, Nguyễn Hoài Vọng và Trịnh Ngọc Thảo thực hiện chương trình Văn học Nghệ thuật trên đài Phát thanh Cần Thơ, theo cách tôi và Hoàng Đình Huy Quan đã làm ở Tuy Hoà những năm 1965-1966. Ý tưởng của tôi được anh em tán thành và ông Trưởng đài cũng dành sự dễ dãi, ưu ái. Thời lượng phát mỗi tuần một tiếng vào tối thứ Tư và tất cả đều do chúng tôi chịu trách nhiệm nội dung kể cả phát thanh viên, ca sĩ, người ngâm thơ…. Số đầu tiên có một bài “đinh” khá dao to búa lớn: Văn học Nghệ thuật và Tuổi trẻ trước thời cuộc. Nội dung chủ yếu là vai trò của VHNT phải đứng về về phía cái mới, trên căn bản nhiệt huyết tuổi trẻ, có trách nhiệm trước sự tồn vong của dân tộc, trước cuộc chiến.v.v. và .v.v. Cũng trong số đầu tiên này, chương trình cho ngâm những bài thơ của Quang Dũng, Hoàng Cầm, một số các nhà thơ trẻ cùng các ca khúc của Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Nguyễn Đức Quang. Đến số thứ 3, chúng tôi nhận được khá nhiều thư của thính giả: Góp ý có, khen có, chê có và rất nhiều bài vở cộng tác. Cả nhóm vừa phải học ở trường, vừa chọn lọc thư từ bài vở đưa vào chương trình, trả lời thư… Soạn chương trình thì dễ, nhưng thực hiện nó thì khó trăm bề (bởi chúng tôi là những tên “vác ngà voi hàng tổng” làm việc không công, nghĩa là không có một đồng công xá nào!): Ngày thu thì phát thanh viên bận thi, có người ngâm thơ thì không có anh thổi sáo, có người hát thì mất anh đệm đàn! Dẫu vậy, các bạn trong nhóm, nhất là Cỏ May, Thu Kiết, sau thêm chị Ngọc Mai đã rất nhiệt tình để chương trình không bị gián đoạn. Rồi Thái Khi, Nguyễn Thành Nghiệp cũng lao vào cuộc. Nhưng càng về sau thì chương trình xộc xệch hẳn đi. Xộc xệch bởi ai cũng phải lo “đèn sách”… Đến cuối năm 1968 thì tan đàn rã gánh! Mấy tháng sau, nhóm Về Nguồn của Lê Trúc Khanh “kế tục” chương trình này trên sóng đài Cần Thơ theo cách riêng của họ.

Cũng chính nhờ chương trình này, mà tôi được gặp lại những người bạn cùng xứ đang đóng quân ở Cần Thơ: Lê Đình Du, pháo binh đóng ở phi trường Trà Nóc, Lê Văn Hiệp, Không đoàn 4, Nguyễn Văn Phong, BĐQ, Lê Trọng Luật, SĐ 21… Nhưng hơn hết là được gặp gỡ các bạn văn mà trước đây chỉ “văn kỳ thinh bất kiến kỳ hình” là Hạc Thành Hoa, Hà Nghiêu Bích bên Sa Đéc, Yên Uyên Sa ở Long Xuyên, Lộc Vũ Cần Thơ, Nguyễn Bạch Dương Vĩnh Long… để bàn những chuyện “long trời lở đất” về văn chương, về một tờ báo cho những người viết trẻ…

Chấm dứt chương trình trên sóng đài Cần Thơ, Bùi Hữu Trạng, Thái Khi và tôi bàn ra một đặc san tết. Tôi chạy bài vở, Trạng và Thái Khi lo giấy má, quảng cáo và in ấn. Tôi liền viết thư đến các bạn văn xin bài, và được đáp ứng nhiệt tình kèm theo những lời khuyến khích. Tên tờ đặc san số xuân Kỷ Dậu 1969 tới giờ này không thể nhớ tên. Hỏi Bùi Hữu Trạng cũng không nhớ, nhưng bài vở thì phong phú: Võ Hồng, HĐHQ, Kinh Dương Vương, Trần Hoài Thư, Trương Cương Thanh, hạc Thành Hoa, Nguyễn Bạch Dương… và anh em trong nhóm rồi giao cho BHT, Thái Khi mang đi in ấn. Khi hai anh mang báo về, tôi vô cùng ngạc nhiên, bởi báo in trên giấy trắng láng, sang trọng, đến nỗi khi mang biếu, ông Trần Phong Giao hỏi: Các cậu tìm đâu ra giấy đẹp vậy? Tôi không biết giấy đâu ra. Ăn tết xong, hỏi lại Trạng, anh nói xin bên Usaid , tiền in thì do quảng cáo và mang in tận Vĩnh Long. Tôi nghe và chỉ biết vậy. Coi như nhóm chúng tôi đã làm được điều mình ôm ấp. Tiếc là chỉ ra được một số duy nhất!

Đầu mùa xuân 1969, Tôi có thêm nhiều bạn mới, anh Trương Cương Thanh, Nguyễn Văn Minh, Trần Văn Liêm bên Luật, Nguyễn Thành Nghiệp bên Nông Lâm… Và bàn với nhau cùng thực hiện chươg trình ca nhạc Những Tối Thứ Bảy ở giảng đường Viện ĐH Cần Thơ. Đơn xin phép viết lằng ngoằng năm ba chữ gửi lên Viện Trưởng Phạm Hoàng Hộ và được duyệt ký ngay. Có lẽ ông Viện trưởng nghĩ đây là sinh hoạt văn nghệ bổ ích cho SVHS Tây Đô. Cầm được giấy phép trong tay, mừng thì ít mà lo thì nhiều. Lo là tìm đâu ra người đàn, người hát? Rồi âm thanh, ánh sáng, phông màn? Ngồi bên quán cà phê bên hông Viện ĐH, tôi hỏi Trương Cương Thanh: Tính sao đây? Tao vẽ áp phích quảng cáo, Thanh nói. Còn micro, loa, tăng âm, dây nhợ? Tôi hỏi. Minh lo. Minh nó giỏi chuyện này. Phần mày lo các anh em ca hát và mấy tay đàn trống. Tôi lục lại trong đầu: Cỏ May, Lâm Hồng Phước, Nguyễn Thành Nghiệp và Lê Văn Hiệp. Cỏ May thì đang năm Đệ Nhị Đoàn Thị Điểm, Phước học cùng ban Việt-Hán với tôi, Nghiệp và Hiệp một Nông Nghiệp, một Luật… có thể coi như bộ xương sườn làm nòng cốt cho chương trình. Còn lại thì những người trong cuộc sẽ “phát hiện” thêm.

Chúng tôi lại bắt tay vào việc “ăn cơm nhà…vác ngà voi” lần thứ hai. Tự bỏ tiền túi ra để làm tất cả.

Trương Cương Thanh vẽ áp phích: Chương trình Thơ Nhạc Những Tối Thứ Bảy, bên dưới vẽ chân dung cô gái mỹ miều, dưới cùng là: Do nhóm SV ĐHCT thực hiện, mang treo lên ngay mặt tiền của Viện và các khoa ở Cái Răng, giảng đường lớn ở khu ĐH mới. Nhìn chân dung cô gái trong áp phích, tôi buộc miệng: Giống Nga người yêu của mày quá đỗi. Thanh cười thú nhận!

Tôi không nhớ là chương trình này kéo dài trong bao lâu, nửa năm hay một năm hay hơn thế? Chỉ nhớ phong cách sống hết mình của các “nghệ sĩ sinh viên”. Họ hát và đọc thơ với cả tấm lòng, với bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ: Giai điệu ngọt ngào của Cỏ May với ca khúc Ngọc Lan của Dương Thiệu Tước: “Ngọc lan dòng suối tơ vương mắt thu hồ dịu ánh vàng. Ngọc lan nhành liễu nghiêng nghiêng từ mấy cánh phong nắng thơm ngoài song…” , Nguyễn Thành Nghiệp say sưa với Bên Cầu Biên Giới của Phạm Duy, Lê Văn Hiệp với những bản tình ca của Từ Công Phụng, Hồng Phước sâu lắng với dòng nhạc trử tình của Đoàn Chuẩn Từ Linh… Những giọng ngâm, đọc thơ hào sảng của các bạn bên Đoàn Thị Điểm, Phan Thanh Giản và bên Khoa Học, Luật, Văn Khoa, Sư Phạm… Sân khấu duy nhất chỉ có tấm áp phích bằng giấy bồi ghép nhiều mảnh phía sau để thay thế cho tấm phông; đôi lúc “hết tiền” thì Thanh dùng phấn vẽ lên bảng đen khổ rộng.

Khán thính giả hầu hết là anh chị em SVHS, các công chức, quân nhân quanh thành phố Cần Thơ. Họ đến giảng đường rất đông, chật kín; có khi phải bám lên các bậu cửa sổ để lắng nghe; trong số đó có cả các giáo sư các trường trung học và đại học ở Cần Thơ.

Trong chương trình này, chúng tôi đã mời nhà thơ, nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển và các bạn (ĐHSP Sài Gòn) về Cần Thơ tổ chức đêm trình bày những ca khúc mới nhất của anh. Duy nhất một chiếc guitar gỗ, anh và bạn gái (quên tên) hát say sưa những tình khúc khói sương, phiêu du: Thu hát cho người, Thu Sài Gòn, Chiều trên đồi, Chiều Mơ… đã được khán thính giả Cần Thơ dành cho những tình cảm đặc biệt với anh chàng sinh viên nhạc sĩ. Đêm nhạc VĐSB có số lượng người đến nghe đông nhất kể từ khi chương trình này bắt đầu thực hiện.

Người luôn khuyến khích về mặt tinh thần cho chương trình không ai khác hơn là chị Nguyễn Ngọc Yến, nhân viên của Viện, sau này là “phu nhân” của nhà văn Trần Hoài Thư. Không một tối thứ Bảy nào là không có mặt chị. Những buổi khán giả đông đảo chị mừng với nỗi mừng vui của nhóm, khi vắng người chị lại chia sẻ. Chị hầu như là người chứng kiến trọn vẹn cho đến chương trình cuối cùng.

 

 

Do ảnh hưởng những việc chúng tôi thực hiện được trong những năm ở giảng đường Cần Thơ, Trần Văn Liêm “xúi” tôi đứng chung liên danh với anh để tranh cử vào Tổng hội SVCT. Từ chối thế nào cũng không xong, cuối cùng tôi gật đầu gọi là kéo gai lấp trổ, nhưng trong bụng tôi lại mong cho liên danh chúng tôi thất cử để lo việc học và nhảy múa chuyện văn nghệ. Trời có mắt. Chúng tôi thất cử với số phiếu chỉ kém 3 phiếu. Sự thất bại này là nỗi vui mừng không tả bịt kín mấy ngày liên trong lòng.

Đầu năm 1970, khoảng tháng 3, phong trào SVHS cả nước xuống đường biểu tình chống Lon Nol, Sisowath Sirik Matak đã ra lệnh “cáp duồn” Việt kiều trên đất Miên. ĐH CT qua lời kêu gọi xuống đường của Tổng Hội SVCT, anh em tập trung tại khu ĐH mới, giăng biểu ngữ hô to: “Đả đảo tên sát nhân Lon Nol, Sirik Matak!”, hát vang bài Nối vòng tay lớn… Và tất nhiên, chính quyền địa phương không để yên, huy động hàng trăm Cảnh sát dã chiến, An ninh quân đội, có cả xe vòi rồng đến bao vây. Ngay cổng ra vào, vòng rào kẽm gai bung ra, hai chiếc xe vòi rồng dàn hàng ngang hai bên. Bên ngoài cảnh sát bắc loa kêu gọi giải tán, bên trong SV vừa hô đả đảo vừa hát vang. Cảnh sát thắt chặt vòng vây. Những tấm biểu ngữ phản đối bị gỡ ném xuống đất. Một vài SV giật lại nhưng liền bị hai vòi rồng phun nước tới tấp. Trần Văn Liêm và Phạm Xuân Triển chạy tới dựng tấm bảng đen lên để chặn vòi nước, bị ngã nhào. Tôi và nhiều SV khác liền chạy tới vừa đỡ Liêm vừa dựng tấm bảng xông ra định phá vòng kẽm gai để thoát ra ngoài, kéo theo đoàn biểu tình xuống đường. Nhưng khí thế “sôi sục” ấy đã bị hai vòi nước phun mạnh đến nỗi không ai đứng lên được. Liền đó là những trái lựu đạn cay bắn vào khuôn viên trường. SV dạt vào trong, lẩn vào các phòng và giảng đường. Cảnh sát cứ thế tiến tới với vòi phun và hơi cay. SV chạy tán loạn! Tôi phóng lên lầu 1 kéo theo Lê Dung, Phạm Xuân Triển và Liêm. Bùi Hữu Trạng chìm trong đám “tàn quân”. Hơi cay nồng nặc như thể kéo ra ngoài hai lá phổi và con ngươi. Dung khuỵu xuống. Tôi đưa lưng cõng Lê Dung và từ lầu 1 nhắm mắt phóng ra cửa sổ, rơi xuống mái tôn nhà dân, phóng tiếp xuống con hẻm nhỏ, thoát vòng vây cõng chạy về nhà (nằm trên đại lộ Hoà Bình, đoạn nay là công viên Lưu Hữu Phước). Mãi tới giờ này, tôi cũng không hiểu tại sao mình có sức mạnh, liều lĩnh đến vậy?

Một tiếng sau tôi quay lại, đứng bên kia đường nhìn vào. Cảnh tượng hoang tàn như vừa trải qua trận bão lớn: Xe máy, xe đạp, giày dép, mũ nón ngổn ngang, la liệt trên sân. Những biểu ngữ lăn lóc đầy bùn đất. Cuộc biểu tình coi như thất bại cùng với vòng rào kẽm gai biến mất, xe vòi rồng biến mất, chỉ còn mươi cảnh sát nón sắt, hườm súng bên ngoài cổng. Tôi bước qua cổng trường, tìm chiếc PC của Lê Dung dắt ra và đụng mặt một CSDC. Anh ta ngó tôi cười mỉm. Tôi ngước mặt: Mấy anh đi bảo vệ cho lũ giết hại đồng bào ruột thịt, rồi đi thẳng.

Trả xe cho Lê Dung, tôi về nhà trọ. Lúc này trên đường đi, tôi mới kịp nghe mùi thối trên người, cái mùi thum thủm, tanh tanh mà tôi đoán là những xe chữa lửa kia đã hút nước từ các cầu cá công cộng, rồi ngồi xuống lề đường nôn thốc tháo theo phản xạ tự nhiên.

Hình như một tuần hay mươi ngày sau, Tổng Hội SV Cần Thơ tổ chức xuống Tịnh Biên (Châu Đốc) cứu trợ Việt kiều. 6 chiếc GMC của QĐ4 chở SV và hàng cứu trợ, xuất phát trước Viện ĐH CT, số 5 đại lộ Hoà Bình. Đoàn khởi hành từ sáng sớm, đến 10 giờ mới tới nơi. Anh chị em SV chia nhau xuống hàng, một nhóm khác phân phát. Công việc diễn ra khá nhanh. Nhưng đáng chú ý nhất là tình cảnh của đồng bào vừa thoát khỏi bàn tay dã man của đám kính Lon Nol. S. Matak, vượt qua biên giới VN. Họ không mang theo được gì ngoài bản thân. Nơi họ được địa phương đón tiếp là những tấm lều bạt tạm bợ. Đứng bên này có thể nhìn thấy nhà cửa còn nghi ngút khói bên kia. Có người ngồi ôm mặt khóc thầm: Vợ con bị giết cả! Hiếm có gia đình nào còn nguyên vẹn. Nỗi sợ hãi chừng như chưa chịu buông tha họ, bởi khi hỏi han, họ chỉ trả lời tiếng một hoặc lắc đầu hoặc bằng những giọt nước mắt lăn dài!

 

Sau khi phân phát hàng cứu trợ, uỷ lạo xong, chúng tôi chuẩn bị lên xe trở về, cũng vừa lúc nhìn thấy anh Dương Nghiễm Mậu bước tới. Anh nói là tôi đi với Tiểu khu Châu Đốc về vụ cáp duồn. Việc đã xong bây giờ thì về. Và anh lên xe cùng chúng tôi trở lại Cần Thơ, bỏ ngang sự mời mọc của Tiểu khu Châu Đốc (Năm trước đó, anh là người đầu tiên leo lên gác trọ thăm tôi, hỏi han chuyện ăn ở, học hành, người thứ hai là Lê Thị Cẩm Hoa bên VTX).

Cuối năm 1970, chúng tôi ra trường, tứ tán mỗi người một phương, hiếm khi gặp lại nhau. Sau tháng 4 đen, ít nhất 3 lần trở lại Cần Thơ và cố tìm lại những người bạn một thời bên nhau, nhưng cũng y như những gì Cần Thơ hiện khoác lên tấm áo mới. Tất cả đều xa lạ, dửng dưng. Bạn bè không tìm thấy một ai. Mãi đến năm 1993, bất ngờ gặp lại Nguyễn Thành Nghiệp ở Long An. Anh ở trong khu nhà tập thể của Chi cục BVTV tỉnh. Anh làm trưởng. Vẫn phong thái ngày xưa, lôi ra chai rượu Gò Đen và cây đàn, hát tặng tặng bài Chiều Qua Tuy Hoà của Nguyễn Đức Quang. Tôi và Nghiệp uống rượu, nhắc chuyện cũ và khóc. Hai năm sau nghe tin anh mất vì ung thư. Tôi đến Tân An đứng lặng trước tấm ảnh thờ, thắp nén nhang với tâm trạng bùi ngùi mà sao nước mắt lại ráo hoảnh chỉ thấy lòng trĩu nặng ? Ở SG, tình cờ gặp lại Lê Dung, ngồi quán cóc, mới biết một vài thông tin hiếm hoi về bạn cũ: Cỏ May làm ở Viện Văn Học bộ phận phía Nam (SG) đã nghỉ việc, La Thị Xinh đã chết, Lâm Hồng Phước có chồng ở Long Xuyên… Bùi Hữu Trạng vượt biển không biết trôi dạt xứ nào? Thái Khi thì biệt vô âm tín, cả Trần Văn Liêm và Nguyễn Văn Minh, Trương Cương Thanh?

Hơn nửa thế kỷ trôi qua nhưng trong đầu tôi vẫn luôn loá sáng hình ảnh những người bạn chân tình thuở 20. Tôi giữ những hình ảnh này với cả tấm lòng, trân trọng, như trân trọng một Cỏ May thời sương khói tình đầu và những dĩa bánh cống ở bền Ninh Kiều thơm ngát mùi bùn non, rau rừng mỗi khi con nước ròng rút xuống. Đó là mùi thơm lồng lộng của đất trời và tình người không thể nào phai.

NGUYỄN LỆ UYÊN

Ảnh trong bài :

  1. CM và ca khúc Ngọc Lan của Dương Thiệu Tước
  2. Khán giả ở giảng đường nghe chương thơ nhạc NTTB
  3. Cứu trợ Việt kiều ở Tịnh Biên, Châu Đốc, 1970

BUỔI SÁNG CUỐI NĂM

 

 

nguyenleuyen                                              

Thị trấn kéo dài từ những dãy đồi thấp, thoai thoải đổ dần ra phía bờ sông. Phố xá, cửa tiệm tập trung trên hai trục đường cắt chéo hình chữ thập. Chợ và bến xe ở cuối một rạp hát bỏ trống , chỉ còn lại mấy mảng tường bị ngã đổ từng đoạn, trơ vơ quanh đám cỏ mọc xanh um. Các tiệm ăn, quán giải khát xếp thành dãy dài phía bên này đường, đối diện các công sở là những căn nhà ngói cũ kỹ, ẩm thấp. Trên đầu thị trấn ngó xuống, những nóc nhà lô nhô nép bên những hàng cây cao dọc đường lù mù trong lớp sương đục và bầu trời đen đậm. Thị trấn lúc này giống như một bức ký họa của người họa sĩ phác thảo lúc anh ta đang chếch choáng hơi men, ẩn hiện không rõ ràng.

Những ngày giáp tết, thị trấn bổng ồn ào hơn. Thấp thoáng có chút màu sắc của bông hoa, màu sắc của áo quần trẻ con và hàng hóa chất đầy trong tiệm. Một vài căn nhà được làm mới bằng những mảng vôi quét màu sặc sỡ viền ở những đường hoa văn trước mặt tiền. Trời âm u liên miên, không thấy hé ra chút nắng khiến những phụ nữ, những người đàn ông có tuổi luôn thấy mập hơn, to và lụng thụng mỗi khi xuất hiện trên đường.

Căn nhà người thanh niên đang trú ngụ nằm ngay dưới chân vách núi đá, chỗ cao nhất trong thị trấn. Ở đây có thể nhìn bao quát khắp một vùng rộng lớn bao quanh. Mỗi sáng thức dậy, anh thường ra đứng trước khoảnh sân hẹp nhìn mặt trời từ dưới sông nhô lên rực rỡ. Anh nắng loá sáng con đường đất đỏ, ửng màu mây đỏ trên những mái ngói xuôi dọc hai bên đường; ở phía tây, tít đằng xa là nóc nhà thờ chỉ còn trông thấy tháp chuông nhấp nhô trong những đám ruộng mía xanh màu ngọc bích. Đó là con đường đất chính nối các buôn làng với thị trấn, với những chiếc gùi nhỏ xíu trên lưng những người miền núi, có thể trông thấy từ xa … Giờ đang cuối mùa mưa, nhưng bầu trời chưa lúc nào lộ nắng để anh phải khốn khổ lơ mơ, tơ tưởng một chút nắng để thấy những con đường đất đỏ, những mái nhà ẩm rêu rực rỡ những ngày trước kia bớt vẻ lạnh lẽo trong những ngày cuối năm. Cái lơ mơ đột ngột bị đẩy bay ra ngoài, khi bên tai anh nghe vang lên giọng nói rành rọt:

-Chú có bận gì không?

Người đàn ông mặc áo len màu chì nhô hẳn đầu qua khung cửa, hỏi bằng một giọng thân mật; theo sau ông là con chó rẫy có bộ lông xám màu đá núi. Ong ta là người hàng xóm, thỉnh thoảng tạt qua nói vài câu vu vơ về chuyện con cái, thời tiết, mưa nắng rồi đột ngột đứng dậy ra về, không mục đích rõ ràng.

-Không. Hình như không bận gì!

Hình như anh đang nói dối với người đàn ông đang ngồi trước mặt mình. Kỳ thực anh chẳng phải rờ đụng chân tay vào công việc nào trong lúc này, để gọi là bận. Nhưng con mắt và đầu óc anh thì bận thiệt. Vì khi người đàn ông bước chân qua cổng cũng là lúc trời hửng lên. Một chút nắng hiếm hoi kéo thành vệt dài, thình lình rớt xuống khoảnh vườn trước sân nhà làm ửng lên màu vàng rực rỡ. Cả khoảnh vườn như sáng hẳn, nổi lên những đường viền màu xanh khép nép, và bên trên, nhô lên cao lô xô là những búp vàng mượt của mấy luống vạn thọ. Hiếm khi có màu sắc tuyệt vời như thế giữa tháng Chạp âm u mưa, âm u những đụn mây đen áp sát đọt cây…

-Thằng Doãn gửi lời thăm chú.

-Dạ vâng, Doãn.

Màu nắng và những búp vạn thọ như đang thì thầm, rủ rê, giống hệt mấy đứa trẻ con nhà hàng xóm í ới hẹn hò xuống phố đứng dán mắt trước các cửa tiệm, nhìn chăm chăm những tấm áo mới đủ màu xanh đỏ…. Những đứa trẻ chạy lăng quăng có vẻ như có một liên hệ báo trước những ngày tết đang cận kề.

Bộ mặt ủ dột, lấm láp những ngày mưa sắp bắt đầu xoá nhoà dẫn sau những ngày dài làm tình làm tội những con đường đất lầy lội, những lùm cây úng vàng và cả mùi ẩm mốc bám đầy những bức tường vôi chung quanh nhà…

-Nó gửi về chai rượu quí, tôi…

-Vâng, chai rượu…

Chai rượu trong tay người đàn ông thình lình làm bầu trời đứng sựng. Nắng biến mất đột ngột. Chút nắng vàng hiếm hoi ấy biến mất, bay vụt ra khỏi tầm mắt, cũng đột ngột như khi nó thình lình rớt xuống trước sân nhà. Một tảng mây đen khổng lồ trôi qua chậm chạp, từ từ liếm sạch màu nắng vàng khiến anh có cảm giác như nó sắp sửa đè bẹp khoảnh vườn rực sáng khi nãy, đè bẹp anh và người đàn ông và Doãn và chai rượu. Anh thất vọng ngó người đàn ông, từ đỉnh đầu tới ngang bụng, phần dưới cơ thể ông ta bị chiếc bàn che khuất, như thể ông là thủ phạm bưng chút nắng quý hiếm của anh trút vào trong chai rượu, hay giấu trong bụng áo ấm lấp bên nửa bàn bên kia. Anh ngó sững vào chai màu trắng giả đá để tìm kiếm sự ấp áp hình như ông ta đang giữ trong đó. Người đàn ông nhóng lên, quơ chai rượu chực rót ra ly.

-Nó kêu Mao Đài Tửu. Nó đi Bắc Kinh về.

-Vâng Doãn đi Bắc Kinh…

Anh ngẩng mặt lên ngó chai rượu màu men sữa trắng đục. Nắng không thể bị nhốt vào trong ấy được. Vâng, có thể Doãn nào đó và cả Bắc Kinh của người đàn ông đang ngồi bên mép bàn bên kia đã mang đi chút nắng vừa mới nhìn thấy khi nãy. Anh nhìn vào chiếc chai giả đá và nghĩ không thể có giọt rượu nào để tìm kiếm chút nắng mong manh. Anh thẫn thờ đến đờ đẫn nỗi thất vọng, chán ngán. Những rạo rực ban đầu bị tắt ngấm bỡi chai rượu đang nằm gọn lỏn trong tay người đàn ông, ở phần cổ, lùn tịt.

Khoảnh vườn âm u, xám màu mây đen. Những búp vạn thọ lẻ loi, run rẩy trên những cành lá xanh, hết còn rực rỡ khiến lòng anh nguội lạnh chen lẫn nỗi hoang mang tột cùng.

-Ta chào nhau buổi sáng, chú hỉ?

Và không đợi anh trả lời, người đàn ông với tới phía trước, kéo hai chiếc ly thủy tinh màu hồng nhạt đặt trong chiếc kệ ngang với mặt bàn, về phía mình. Ông ta từ tốn rót ra ly, từ tốn đẩy một chiếc ly về phía anh rồi thong thả nâng ly lên.

-Một ngày bình yên chú hỉ?

-Dạ, một ngày bình yên – anh đáp.

-Nhưng mà điệu này kéo dài, mưa lập dập, nắng lập dập âm âm u u như kiểu trời chuẩn bị sập thì tết chẳng có bánh mà ăn. Thằng Doãn kêu tráng cho nó năm trăm để mang về trỏng, biếu xén, ăn tết. Thiệt mệt. Trời đất kiểu này biết sao được. Không có bánh tráng thì còn gì là tết? Bà vợ tôi nói không nắng thì xuống chợ mua. Nhưng mà chú ơi, bánh tráng hong lửa thì khác xa với bánh tráng phơi nắng…

-Dạ, nắng. Chỉ có nắng mới làm ấm lên mọi thứ. Tất cả mọi thứ đều trở nên đẹp – Anh nói vội vã, y như rằng trước mặt lúc này nắng ấm đang đổ xuống sân.

-Chú văn nghệ quá – người đàn ông kêu lên – Có nắng bánh tráng ngon hơn gấp bội phần!

-Dạ, đẹp và ngon cả hai đều như nhau. Hễ đẹp thì nhất định phải ngon, và ngon thì phải đẹp. nhưng mà chưa chắc… – anh bỏ lửng, sợ nói ra làm phật lòng người hàng xóm – cái gì hiếm đều trở nên quí giá cả – Anh đột nhiên hứng khởi.

Chiếc ly thủy tinh màu hồng nhạt nằm ghé trên đôi môi thâm đen của người đàn ông, hình như cũng ngạc nghiên vì những ý nghĩ bất ngờ của người thanh niên, cứ giữ nguyên vị trí như vậy một lúc lâu, trước khi ông ta dốc ngược ly vào miệng. Có tiếng “khà” kêu lên lẻ loi giữa buổi sáng lạnh giống buổi hoàng hôn, giống hệt tiếng thở dài tràn ứ nỗi thất vọng, vì không thể tìm thấy sự đồng cảm, đồng điệu mà ông mong đợi. Chiếc ly dành phần anh vẫn nằm nguyên trên mặt bàn, đầy rượu. Người đàn ông đẩy chiếc ly trống của mình tới, chạm nhẹ vào thành ly kêu đánh cốp một tiếng nhỏ khẽ khàng.

-Chú lại văn nghệ nữa rồi. Ai kêu mấy chiếc kiềng sắt, bình vôi giờ này không hiếm? Nhưng mà chú coi, có quý gì đâu?

-Dạ, có lẽ phải, đâu có gì kêu là quý.

Người đàn ông há hốc nhìn người thanh niên rồi bất ngờ ngửa cổ ra cười khà khà, một giọng cười biểu lộ chút ngạc nhiên  rất buồn cười về cách nói của anh, trong khi bàn tay phải ông ta vẫn giữ chặt chiếc cổ chai lùn tịt. Đến khi ông ngưng cười thì trên khoé mắt có chút nước ứa ra ngập ngừng. Ông đặt chiếc ly xuống bàn, dùng ngón tay trỏ quẹt chỗ nước mắt chảy ra đó, như cố giấu sự buồn cười có thể chảy ào ra lần nữa, mãnh liệt hơn.

-Chú thiệt “thắc cười”. Mới hồi nãy biểu đẹp là ngon, ngon là đẹp là quý, giờ kêu… Chú thiệt văn nghệ.

Ông lại cười hích hích trong cổ họng, cố kềm giữ sự khám phá bất ngờ của mình đối với chàng trai trẻ đang ngồi trước mặt, rồi tự rót đầy ly nữa và ngửa cổ uống ực. Tới giờ, ông mới chịu buông tay ra khỏi cổ chai rượu, chiếc ly trống nằm trên mặt bàn, cạnh chiếc ly còn đầy rượu của anh, móc túi lôi ra gói thuốc lá và chiếc bật lửa. Ông rút một điếu cắm lên môi, nhưng không quẹt lửa mồi mà tiếp tục nói. Điếu thuốc bị kẹp chặt giữa hai môi thâm đen rung lên nhè nhẹ mỗi khi ông nói. Cả hai có vẻ khổ sở như nhau. Người đàn ông cầm chiếc bật lửa, nhưng vẫn không chịu quẹt cháy.

-Nói thiệt chú đừng giận, mấy chú văn nghệ như chú không làm sao mà hiểu nổi. May mà thằng Doãn nhà tôi chữ nghĩa ít, nhảy đi buôn bán chớ không thì…

Ông kịp nhận ra hình như mình sắp lỡ lời, có vẻ như mình sắp lỡ lời thiệt nên người đàn ông kịp dừng lại, chuyển sang chuyện rượu chè. Còn điếu thuốc vẫn nhảy tưng tưng trên đôi môi thâm đen.

-Không biết chú sao, chớ tôi thì chúa ghét mấy cha rượu chè be bét, uống chi mà tới say đớ lưỡi, say quắt cần câu mà cứ kêu lai rai giải sầu? Rượu chè cũng có năm ba đường hả chú? Tôi nghe nói tiên tửu, tục tửu, ngưu tửu chi chi. Thiệt mệt. Cứ như anh em ta, lâu lâu có rượu ngon, ngồi cà kê vài ly rồi mạnh chuyện ai nấy làm. Cù nhằng, cù nhùng mất cả thì giờ. Mà chú chưa vợ con chưa biết. Nhiều khi uống, lỡ say “nhỏng phao câu”, mò về tới nhà con vợ tôi kêu trời. Say nhưng cũng biết được mình quá là sai, nên phệu phạo bào chữa “nam vô tửu như kỳ vô phong” , rồi câu gì bữa chú đọc cho tôi nghe đó. Á, à, nhớ ra rồi “mùa này thiếu rượu anh hùng nhát gan”, khiến bã nổi sùng bỏ tôi một bữa để muỗi và tôi cùng nằm say bên nhau.

Người đàn ông toan với chai rượu rót thêm một ly nữa để tự thưởng cho những lời nói ý nhị của mình, song nghĩ sao ông rụt tay về, ngó chằm chằm vào mắt anh thanh niên xa xôi ngoài khung cửa, hỏi:

-Mà tôi cũng lấy làm lạ. Chừng ấy tuổi, sao chú không chịu lấy vợ? Cỡ tuổi này, nếu có con gái đầu lòng thì đã sui gia rồi đó nhá?

Anh bật cười mà không thể nhìn thấy đó là nụ cười tròn hay méo mó dị dạng, tìm cách nói cho người đàn ông yên lòng:

-Không phải là không muốn có một cô vợ bên cạnh. Chỉ tội một điều, họ nhìn thấy đời sống tôi nhếch nhác quá nên ai cũng ngại, quay lưng bước thẳng.

-Chú nói sao ấy chớ? Thời buổi gái thừa trai thiếu. Làm vợ chú như thể làm bà hoàng ấy chớ? Đã đành chú có đời sống văn nghệ, nhưng mà văn nghệ thì có sao đâu? Tôi thấy các cô chú ngày nay sống sao sao ấy, không như chúng tôi ngày trước! Rồi lại khi không chú bỏ cái thành phố đẹp đẽ ấy để về khép kín ở chốn khỉ ho cò gáy này, thì chắc là chú phải có tâm trạng?

-Dạ không, không có tâm trạng gì đâu. Chẳng qua tôi muốn yên ổn, muốn sống trong không khí tĩnh lặng để làm việc.

-Tôi đâu thấy chú làm việc gì? – Người đàn ông ngạc nhiên.

-Dạ

-Thôi, bữa nào thằng Doãn về, tôi biểu nó mời chú làm cố vấn cho nó. Hai anh em tha hồ bay nhảy.

-Cảm ơn chú. Chuyện đó tôi càng mù tịt, chẳng biết gì đâu!

Người đàn ông phẩy tay.

-Ui, dễ ợt đó mà. Như thằng Doãn đó, có học hành con khỉ mốc gì đâu mà nó vẫn làm được.

-Dạ.

Người đàn ông chấp chới trong mớ hiểu biết lẫn lộn với niềm tự hào hỗn độn về sự thành đạt của con, bèn chỏ tay qua phía anh, cười lớn.

-Chú mà giấu nổi tôi! Chú đừng có hòng mà giấu nổi tôi nhé.

Nói và ông cười to vừa đứng dậy. Tiếng cười khậc khậc quấn quít bên những bước chân chệnh choạng khi ông bước xuống từng bậc cấp với niềm vui như vừa khám phá được chuyện lớn, thật lớn.

Anh không tiễn ông như mọi khi, chỉ thấy ông rất hài lòng với những gì ông có được quanh mình, trong buổi sáng này như ông đã từng hài lòng về chuyện vợ con, những bữa rượu lẻ cùng những tiện nghi vừa đủ để mang ra khoe với mọi người chung quanh.

Con chó đi theo người đàn ông, nãy giờ lim dim nằm ngủ dưới gậm bàn chắc là đang mơ thấy ngậm khúc xương trong miệng, nên kéo dài niềm hạnh phúc bé bỏng của loài vật, quên mất những bước chân loạng choạng của ông chủ, vội nhổm dậy, ủng ẳng chạy theo sau. Đuôi có chùm lông dài ngoắt qua ngoắt lại phía sau chân ông, y như rằng chủ tớ là những người vừa thắng trận, đang trên đường ca khúc khải hoàn.

Người đàn ông bước đi, nhưng không lôi theo bầu trời nặng trình trịch cùng cơn mưa lâm thâm và ngọn gió bấc thổi se sắc trên đọt cau nhìn rất rõ. Ông cắm cúi bước, người đổ dài dưới con dốc như sắp ngã, con chó chạy lăng quăng bên chân, bỏ lại tất cả cho anh.

 

 

 

Trên bàn, một ly rượu còn đầy và một ly trống trơn không cân xứng. Anh bưng cả hai ly đặt lại chỗ cũ trên kệ. Lúc đầu anh định hắt ly rượu ra sân, nhưng nghĩ sao lại xé tờ giấy lịch, gấp làm tư và đậy lại, nom chiếc ly như cây trụ đỡ những tảng đá khổng lồ thành Babylone, thu nhỏ lại.

Bên ngoài bầu trời trở nên sáng trắng. Những đụn mây đen giờ xé vụn ra lam nham khiến trông thấy bầu trời cao hơn chút đỉnh, bớt vẻ âm u. Có tiếng chân loạt xoạt ngoài hiên thềm. Người đàn bà mặc bà ba đen, tóc búi củ hành, miệng nhai trầu nhóc nhách chà chân lạch bạch, giũ đất ở bậc cấp rồi bước hẳn vào trong.

-Uở, chú có nhà đây mà. Mạnh giỏi chú?

-Dạ, mạnh. Chào chị!

-Buổi sáng mà chịu khó ngồi nhà, không ngồi quán cà phê sao?

-Bác sĩ cấm cà phê.

Người đàn bà ngó nghiêng lên tấm lịch treo tường, cao hơn tầm mắt chị ta vừa nói:

-Cái tụi nhỏ xóm này không hiểu sao sáng nào cũng tụ tập ngoài quán. Ba đứa uống chung một ly cà phê, hút chung điếu thuốc đến chủ quán cũng phải phát buồn mà không biết nói sao!

Người đàn bà ngừng nói, miệng nhóp nhép nhai trầu chờ phản ứng của anh. Mõi khi cử động, góc môi trên vêu lên như có cái mụt nhọt nấp trong ấy. Thấy người thanh niên không nói gì, người đàn bà tiếp lời:

-Hồi hôm cũng ở quán cà phê đó, tụi nó gây gỗ, sém đánh lộn. Thanh niên bây giờ hư quá chú ơi!

Anh không mấy hào hứng khi nghe những chuyện không đâu phát ra từ miệng người đàn bà đang ngó anh vừa nhai trầu. Chị dường như cũng đoán ra ý nghĩ của người ngồi trước mặt, nên ngập ngừng chuyển sang đề tài khác, “thời sự” hơn.

-Chú tính ăn tết ở đây hay về dưới đó?

-Dạ chưa biết sao!

-Trên hóc xó này có gì mà vui chớ? Dưới đó thành phố lớn, người đông, nhộn nhịp. Mà cũng phải thôi, chú thấy không?

Người đàn bà nói và tiếp tục nhai trầu. Anh không hiểu bà ta đưa ra câu hỏi để hỏi anh hay chỉ là những nhận xét vu vơ, chờ người khác tán đồng? Chị không phải là người thường hay ghé nhà anh hỏi han chuyện này, chuyện nọ. Là hàng xóm, cùng ngụ trong con phố nhỏ của thị trấn miền núi trước sau đều quen mặt nhau, họ hay dòm qua hàng rào cây xanh thưa thơt để thăm chừng đời sống của nhau một cách thận trọng. Trong trí nhớ , người đàn bà đang ngồi phía bên kia bàn, chỗ lúc nãy người đàn ông vừa ra về, là người hay ca cẩm về mọi sự khó khăn trong đời sống. Bà ta hay vu vơ về những khoản thiếu hụt của tất cả mọi người dân ở thị trấn miền núi nhỏ hẹp này, mà đáng ra phải khác hơn, phải giàu có như những người khác dưới thành phố.

-Bữa nay hăm hai rồi. Hễ đưa ông Táo về trời là coi như tết đến nơi. Mà này, chú một mình thế thì sống làm sao nhẻ? Ai lo ăn uống, giặt giũ cho chú, rồi còn tết nhứt nữa ?

-Dạ, cũng bình thường thôi mà – Anh trả lời ngập ngừng.

Người đàn bà nheo mắt, chun mũi nhìn anh vẻ chế giễu:

-Bình thường là thế nào? Phải có bàn tay phụ nữ. Cái sự lấy vợ là rất cần thiết để bảo tồn nòi giống. Với lại ở cái xứ heo hút trong những ngày lạnh lẽo này chú không cảm thấy lạnh lẽo sao chớ? Để hôm nào tôi giới thiệu chú một cô, xinh đẹp, hiền hậu. Tết chú còn ở lại đây tôi sẽ dẫn đến thăm chơi.

Anh không biết phải lựa lời ra sao để từ chối lòng nhiệt tình của người đàn bà kia cho phải lẽ, đành nói nước đôi.

-Dạ, cảm ơn chị.

-Trời không chút nắng, lạnh thiệt. Hôm qua tôi ra chợ thấy hàng tết về nhiều quá, đẹp, rẻ ngặt cái không đủ tiền để mua sắm cho đã đời. Mấy đứa nhỏ cứ eo óc đòi mua cho bằng được những tấm áo ấm màu. Chúng đâu biết cảnh “cám tháng giêng, tiền tháng chạp”. Thiệt bực!

Anh muốn bật cười khi nghe người đàn bà buông ra lời than “thiệt bực” y như người đàn ông lúc nãy kêu “thiệt mệt” khi trời không chịu bật nắng để vợ chồng ông tự tay tráng bánh, phơi dưới ánh nắng mặt trời gửi cho thằng con. “Thiệt mệt” và “thiệt bực” của hai người có con cái gia đình đề huề coi như những lời “gầm gừ” êm ái của những người ngay thẳng phải làm bổn phận bảo bọc mọi người thân chung quanh mình, như một niềm vui chưa thật trọn vẹn.

Có lẽ do người đàn bà nói quá thật, nên anh cũng cao giọng.

-Đó, chị thấy chưa. Có gia đình, con cái nó “thiệt bực” như vậy đó?

Người đàn bà chỉ cười, không trả lời những vặn vẹo tình nghĩa của người thanh niên ngồi trước mặt, có vẻ mặt đang thực buồn. Chị đưa tay lấy cục thuốc nằm vêu trong môi trên chà qua chà lại giữa hai hàm răng ám đen, định nói gì đó nhưng cục thuốc và bã trầu trong miệng đã giữ chặt lại.

Anh ngồi nghiêng ngó ra khoảnh vườn hẹp trước sân.

Một lát sau, giọng người đàn bà ngập ngừng:

-Nói thiệt với chú, vợ chồng tui kêu bán con bò, nhưng tụi lái biết mình cần tiền sắm tết nên trả giá rẻ mạt. Tụi nhỏ thì léo nhéo đòi cả ngày. Chú cho tôi vay một ít, bán được con bò tui trả chú liền. Mình hàng xóm, sớm tối có nhau.

Câu cuối cùng, giọng bà ta chùng xuống, buồn thật buồn y như bầu trời vẫn một màu mây đen chực sà thấp. Bộ mặt bà ta dần dần trở nên căng thẳng và thảm não. Cục thuốc chà răng được nhìn thấy bằng vệt vêu trong môi trên như chịu đựng sự u uẩn vì đám thương lái bắt chẹt bà ta trước những đòi hỏi hợp lẽ của lũ con. Một chút gì đó trên toàn bộ con người đàn bà lúc này, khiến anh hơi chạnh lòng.

-Nói thiệt với chị, tôi cũng còn một ít, chị có thể cầm tạm. Tôi chắc thể nào tuần này cũng có khoản nhỏ của mấy tờ báo gửi ra. Chị yên tâm – Nói và anh lôi chiếc bóp nhàu nát móc hết khoản tiền trong ngăn, không rõ được bao nhiêu, đưa cho người đàn bà. Bà ta thôi nhai trầu, cầm lấy tiền nhét vào túi áo và cũng không đếm là được bao nhiêu. Giọng ấm lên:

-Cảm ơn chú. Tụi nó mừng lắm đây!

Người đàn bà nói vừa sững sờ nhìn chàng thanh niên với một chút ngỡ ngàng, một chút cảm thương với những băn khoăn được khoả lấp khi kịp cất mớ tiền vào túi áo bà ba đen.

Cuối cùng người đàn bà cũng đứng dậy chào anh, ra về với cái bóng đen nhỏ thó đổ dài xuống con dốc, với dáng hấp tấp của những niềm vui mới mẻ bà vừa cầm chắc trong tay.

 

Bầu trời bên ngoài vẫn xám đục. Gió  cuối năm run rẩy lạnh, kéo thành vệt trên hàng cây co ro hai bên đường, chạy từ phía đồi cao xoãi ra bờ sông. Buổi sáng rung rinh nhè nhè trên luống vạn thọ sắp bật khóc vì bầu trời đùn đen cứ lê thê kéo dài. Người thanh niên xô ghế đứng lên, cắp phích vào ổ điện định bụng pha một ly trà thật nóng, thì bên ngoài tiếng còi xe toe toe vang lên. Người bưu tá gầy, cao dựng xe trước hàng rào chè tiêu, cầm xấp thư và mấy tờ báo bước vào nhà. Ông ta hỏi:

-Không định đi đâu sao?

-Trời lạnh thế này… – Anh  trả lời.

-Ừ, trời cữ này mà có dưa hành củ kiệu và rượu ngon thì thật tuyệt.

Người thanh niên với tay qua kệ, nhấc ly rượu đưa cho người bưu tá.

-Rượu cha Doãn mang tới hồi nãy.

Ông bưu tá nhấp nhấp từng ngụm nhỏ, thong thả:

-Rượu này chắc là ai biếu chi đây. Không phải rượu thường, mùi lạ lắm, như mùi trái nhàu chín?

-Tôi cũng không rõ

-Cậu chưa uống.

-Chưa.

-Một ly thôi sao?

-Dạ, một ly. Ông cụ qua kêu tôi uống, nhưng mới sáng bảnh mắt!

-Ờ, cũng phải, nhưng giá có thêm vài ly nữa thì ấm bụng.

Ong ta có vẻ ngẩn ngơ như tiếc rẻ mùi rượu ngon quá ít, dòm vào chiếc ly không rồi đứng lên:

-Chừng nào cậu về?

-Chưa biết ngày.

-Thôi tôi đi.

Người bưu tá nổ máy, chạy đi xuống cuối con dốc rồi quành ra phía bờ sông.Cái  dáng cao khều mất hút cuối dãy nhà ngói cũ kỹ, mái lợp  âm dương.

Người thanh niên thong thả lật coi địa chỉ gửi đi của từng lá thư, theo thói quen rồi để sang bên. Cái mà anh mong đợi hiện ra, dưới bức thư của một toà báo. Nét chữ mỏng manh, gầy như bộ ngực quen thuộc của người gửi bức thư cho anh, như những ngón tay thon dài nắm chặt tay anh cùng ánh mắt xa xăm trên số nhà quen thuộc bên góc trái. Anh nghe thật gần bước chân nàng, hơi thở nàng và đôi mắt ngấn nước của nàng khi anh lầm lũi bước ngược trên con đường trước mặt nhà. Những dấu nhật ấn trên bao thư như tự nó có một hơi thở dồn dập của hai người ở một khoảng cách xa. Ngày gửi và ngày nhận chỉ cách nhau ba ngày. Ba ngày để vượt hơn sáu trăm cây số sẽ mang đến cho anh niềm vui ấm áp trong buổi sáng cuối năm này. Phích nước sôi kêu thành tiếng như lời thúc giục, khiến anh không thể để những cảm giác tha hồ bay nhảy tự do. Bao thư bóc ra. Sáu tờ giấy chi chít một kiểu chữ mỏng manh gầy ốm. Anh lôi chiếc ghế xích đu đặt ngang cửa ra vào hứng chút ánh sáng mờ đục bên ngoài, nằm ườn ra ghế và bắt đầu đọc:

 

Anh,

Sự chờ đợi quá lâu, xa như chỗ anh ở nối tới đây  bằng sợi chỉ dài, rất dài. Nhiều bữa trời đang nắng, chợt đổ mưa ầm ầm, rồi đột ngột chấm dứt, làm như không hề có chuyện gì xảy ra làm em không thể không nghĩ đến anh, liên tưởng về những hành động kỳ quặc của anh. Nhiều khi em tự hỏi, cái thành phố này có điều gì khiến anh không vui? Hay anh không vui vì em? Hay anh muốn thử thách em như một chuyện đùa bỡn? Giờ, cứ mỗi ngày qua đi, em càng ít hiểu về anh hơn. Anh như người xa lạ vậy !

Hôm kia, trong bữa cơm tối, tía má em có hỏi sao lâu không thấy nó tới chơi? Nó tức là anh đó, là một thành viên đang được chấp nhận từ từ, chậm rãi một cách e dè, dò xét. Em chống đũa tìm câu nói dối hợp lý nhất, nhưng sao nó cứ như sợi dây thun bị kéo căng để cuối cùng em nói bừa: hình như ảnh nhận thêm những công việc gì đó, bận bịu lắm. Tía má em tiếp tục dùng bữa, không hỏi gì thêm. Riêng em “những công việc gì đó” của anh giống như sự trông đợi một cách thờ ơ. Ai cũng trông nhau mà chẳng dám “liều mạng”(chữ anh nói hôm hai  đứa mình ở đầu mỏm sông, chỗ vườn mận đó, nhớ ra chưa?). Liều mạng làm sao mà trên sáu trăm cây số hun hút là dài? Thư trước anh biểu tết ra ăn tết với anh. Một ý tưởng thật vĩ đại. Còn nếu như em nói: tết anh về ăn tết với em thì anh nghĩ sao? Em đâu phải là những nhân vật của nhà văn Hector Malot, là con bé “vô gia đình” để anh ra tay cứu vớt rồi biến thành nhân vật của anh?

Thư này đến tay anh chắc là còn kịp để về đón ông Táo. Trong dân gian, ông Táo là một người không có mặt mũi rõ ràng, nhưng lại đầy ắp trong tâm thức của mọi người. Ai cũng hiểu rằng, ông Táo là người duy nhất giữ lửa, hơi ấm cho mọi gia đình sum họp. Vậy thì tại sao anh không mang chút lửa ấy về, lửa trong người anh để sưởi ấm cho em? Hoá ra, anh chỉ muốn giữ lửa cho riêng mình anh thôi sao? Còn em? Câu hỏi này cứ dằn vặt em mãi, nó loay hoay trong đầu như thể con dế hồi nhỏ em bỏ trong chiếc hộp giấy. Nó bò tới bò lui, lăng quăng tìm lối ra mà nào có ra cho được? Rồi em lại chợt nhớ đêm giao thừa ở dưới quê, ngồi thức canh nồi bánh tét, lửa nhảy nhót đỏ đít nồi; còn bên trong thì nước cứ sôi ùng ục. Bà nội ngồi gần bên nói: ông Táo đang cỡi con ngựa mang về với chúng ta kịp đón giao thừa. Tiếng ùng ục đó là vó ngựa gõ trên lớp mây. Em không thấy, nhưng tin lời bà, nghĩ ông Táo đang cỡi ngựa trở về thật và em mong làm sao để được gặp mặt ông, coi dung nhan có giống với những bức tranh vẽ thằng em em sưu tầm đâu đó dán la liệt trên vách. Em sẽ nói những điều ao ước của mình để ông hoá phép. Chờ đợi đến mỏi mòn, để hai mí mắt sụp xuống lúc nào không hay, ông Táo trở về lúc nào không hay. Mãi mãi điều ao ước không thành sự thật. Như giờ này, em ước chi anh có bên em đã không thành sự thật vậy !?

 

Mà cũng thiệt lạ, anh thích thú, say mê nỗi gì ở miền đất heo hút đó? Lúc anh mới ra, anh kêu nhà anh ở dưới chân vách núi đá. Từ đó có thể nhìn xuống thị trấn nhỏ như bàn tay xoè, phía dưới bị con sông chặn ngang, có những ngôi nhà cổ xưa cũ kỹ, có những con đường đất đỏ ngắn hơn một hơi thở dài cùng với những người dân hiền lành, nhẫn nại… Và anh nói: mỗi sáng có thể nhìn mặt trời từ lòng sông nhô lên, đỏ ối như quả cầu lửa rực rỡ. Nếu vậy, chắc quả cầu lửa đó có bà tiên anh mơ tưởng, chứ không phải trên đầu mõm sông lúc hai đứa ngó những dề lục bình trôi dập dềnh những chỏm bông tím? Những bà tiên bé bỏng xinh đẹp kia đã níu giữ chân anh rồi?

Thư này em viết trong buổi sáng thực yên tĩnh. Có một chút gió heo heo rất lạ, không ngừng thôi thúc sự nhớ nhung bâng quơ, cái xao xuyến đón đợi, ngóng trông. Chỗ anh ở có loại gió này không? Em chắc là không. Vì nếu có thì anh đã lên tàu rồi. Em biết anh còn ngóng đợi bà tiên trong quả cầu lửa rực rỡ mỗi sáng, bước ra và nhẹ nhàng đến bên anh? Còn em thì đang ở rất xa anh để không thể chia sẻ niềm hoan lạc cùng anh. Tiếc thật.

Em muốn viết thêm nữa, thiệt dài; dài bằng với đoạn đường từ ô cửa nhỏ này tới ngôi nhà bên vách núi đá, từ chiếc bàn gỗ quen thuộc này đến quả cầu rực lửa của anh… Nhưng phỏng có ích chi? Anh đâu còn mùa xuân bên em. Anh chỉ còn những buổi sáng của riêng anh  thôi.

Nói vậy, chớ em vẫn nhớ anh luôn, vẫn chờ anh.

Gửi anh nụ hôn gió xa xôi đến anh, biết anh có cảm được?

Em của anh, Nga.

 

Người thanh niên xếp lá thư, cho vào bì. Lúc này, anh không thấy khoảnh sân phía bên ngoài, không thấy thị trấn mờ đục phía dưới kia cùng chỏm tháp chuông nhà thờ nhấp nhô khuất trong những ruộng mía âm u… Anh nằm trên chiếc ghế quay vào gian thờ, chỉ thấy lờ mờ những chân đèn thau, lư bát cắm nhang và tấm nghi treo trên cao bị chuột cắn lủng vài chỗ. Những sợi chỉ lòng thòng không đủ dài để nối căn nhà dưới vách núi đến tận ô cửa trong xa kia để anh níu theo bay về phương nam ngay lập tức.

Nguyễn Lệ Uyên

 

 

 

ĐÀ LẠT

nguyenleuyen
Mỗi lần trở lại Đà Lạt, lại thấy có sự thay đổi rất bệnh hoạn. Bầu trời Đà Lạt trên đầu vẫn là bầu trời muôn thuở, vẫn mây, vẫn khói, vẫn một chút lạnh đủ để các thiếu nữ làm duyên; nhưng dưới nó, trên mặt đất lại có một Đà Lạt thoi thóp, ngắc ngoải. Bạn đồng hành than thở: “Con người đã giết chết Đà Lạt!”. Tôi lắc đầu: “Không, chính xác thì, chủ nghĩa xã hội thổ tả kia đã và đang liên tục hãm hiếp Đà Lạt”. Một Đà Lạt đẹp như nàng tiên đang ngủ trong rừng thông bị những tên bạo chúa lật ngửa, đè ra hãm hiếp đến toe máu đầm đìa. Đó là những vồng đất, gốc thông, những căn biệt thự cổ bị lật tung lên theo đủ cách khác nhau. Chúng cứ từng ngày từng giờ, biến thành phố “mộng mơ” thành khu Ngã năm chuồng chó, Ngã ba chú Ía thời đệ nhị Cộng hòa, khác chăng, một bên mưu sinh bằng xác thịt; một bên câu kết thành bè nhóm, cướp giật tài nguyên môi trường, để Đà Lạt ngày một xơ xác hơn, thành một cái xác bị chứng giang mai, lở loét cùng mình!

Cả một không gian thoáng rộng ngày trước với những tòa biệt thự, những cây thông, hồ nước nay bị lũ người khốn nạn, những tên mafia đè ngửa ra, bóp nát những bộ ngực trinh trắng: Thông đồi Cù bị chặt cho sân golf, quanh hồ Tuyền Lâm máy ủi, máy xúc cạo sạch lông những thảm cỏ, đồi thông để xây biệt thự cao cấp…

Đứng ở đầu dốc phía nhà thờ con Gà nhìn ngang, khu Hòa Bình lúc này vừa là khu ổ chuột vừa là những hộp bê tông chen chúc nhau đứng ngồi lộn xộn, cào nát không gian đẹp, khiến tôi liên tưởng ngay đến những đám đất cày mùa tháng Ba. Không, như thế vẫn còn thơ mộng. Không. Đà Lạt bây giờ giống như một bãi rác điện tử thì đúng hơn.

Lúc này, nếu như nhạc Sĩ Hoàng Nguyên (1932-1973) nhìn thấy Đà Lạt, tôi nghĩ ông sẽ buồn không ít về những gì ông đã thả hồn mình đến tận cùng trong ca khúc Ai lên xứ hoa đào năm nào, giờ vẫn giữ nguyên giá trị nhân văn, tính lãng mạn trong giai đoạn “tang thương ngẫu lục” này.

May mà Đà Lạt còn có tình người. Những người bạn muôn năm cũ vẫn cam chịu những đè nén ngột ngạt nhưng không hề thỏa hiệp, đầu hàng; họ không quay lưng lại với bè bạn xưa vì cái danh, cái lợi đã từng làm nhiều người biến thành những con sói hung dữ. Nguyễn Dương Quang và Nguyễn Sông Ba ra tận bến xe đón tôi, lại còn cho nằm nguyên một gian phòng rộng ấm áp, vốn dĩ xưa kia là phòng của hai vợ chồng trẻ Võ Hồng sau khi cưới nhau. Quang chỉ cho tôi sàn gỗ bị cháy sém một mảng lớn, nói: “Hai ông bà Võ Hồng kê ông táo nấu nướng, sức nóng làm cho sàn gỗ bị cháy áp”. Âu cũng là duyên may để hình dung thời trai trẻ của một nhà văn từng có những tháng ngày hạnh phúc trong căn phòng này, cách đây gần 60 năm.

Trước khi đi, tôi gọi điện hỏi Đỗ Hồng Ngọc, anh có lên không? Ảnh nói: “Trời ơi, các bạn ùn ùn lên Đà Lạt làm mình nôn nao quá!… Mình kẹt các buổi giao lưu về tập thơ Thư cho bé sơ sinh và tập Thiền & Sức khỏe ở Phương Nam Book và Đại học KHXH và NV… Tiếc lắm!”.
Nghe kể lại, xem những tấm ảnh và vài đoạn clip, ĐHN tiếc hùi hụi. Vắng anh, nhưng nhóm Ý Thức vẫn đông đủ, có cả vợ chồng anh KĐ.

Điều mà ĐHN tiếc hùi hụi bởi hiện tượng “các bạn ùn ùn lên Đà Lạt”, chỉ vì hai nguyên nhân: Anh Đinh Cường từ Virginia (HK) mang tranh về triển lãm tại Gallery Đào Nguyên từ 29.11 đến 3.12 với chủ đề Đà Lạt nỗi nhớ. Tôi chẳng hiểu mấy về hội họa. Song nhìn những bức tranh của Đinh Cường, Thân Trọng Minh có chút gì đó rất ấm áp giữa cảnh đời xô bồ, bợt nhạt. Nói ấm áp bởi Đà Lạt được vẽ trong trí nhớ, từ một góc trời xa thổn thức, với những thiếu nữ bên nhà thờ, những ngôi biệt thự ẩn mình bên quả đồi quả đồi xanh lơ, những con đường nhỏ, những khuôn mặt bạn bè nồng ấm thời trai trẻ…

Một chút khói sương, một chút lãng đãng pha đậm trong sắc màu trí nhớ bạc trên đầu và nhòe trong đôi mắt. Nhìn những bức tranh được treo trang trọng trên tường, nỗi niềm đầu tiên là bùi ngùi tiếc nuối một thời đã qua vừa được nối lại bởi màu sắc và đường nét. Hội hoạ dễ kéo xích gần tâm hồn con người như cái cầm tay lần đầu với cô thiếu nữ!

Trong Gallery Đào Nguyên nhỏ nhưng ấm cúng này, khách đến với các họa sĩ khá đông. Đến để thưởng ngoạn và chia sẻ. Những Bửu Ý, Nguyễn Quốc Thái (TK tạp chí Trình Bày), Khuất Đẩu, Huyền Chiêu, Dân & Elena, Lữ Quỳnh, Lê Ký Thương & Kim Qui, Châu Văn Thuận, Nguyên Minh & Lan… hầu hết tóc điểm sương, nhưng đôi mắt và tâm hồn như những chàng trai trẻ yêu đời. Bắt tay nhau, ôm chặt nhau. Không cần đại ngôn, chẳng hề có đẳng cấp kiểu đấm bốc, nhưng tình cảm thì chan hòa.

Buổi tối, tất cả đều kéo nhau đến “biệt thự” của chàng nho sĩ Lữ Kiều. Kinh khủng. Từ mặt lộ xuống nhà là một con dốc dựng đứng, đến nỗi Nguyên Minh phát sợ. Nguyễn Dương Quang giữ tay Đinh Cường, tôi một bên Lữ Quỳnh chầm chậm sên bò. Đến sân mồ hôi tứa ra vì sợ. Đúng là một nơi ở bão táp “ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”. Chưa tới, nhưng ít lắm cũng gần 300 mét. 300 mét cho một đời thơ, hội họa, một đời văn chương tiếp nối.

Thức ăn bày biện sẵn, có cả chai Chivas Regal 18 và chai Johnnie Walker Bửu Ý mang từ Huế vào. Ăn uống thoải mái, chuyện tuôn ra như người nhà lưu lạc lâu ngày gặp nhau. Trùng phùng.

Cuối bữa, Lữ Kiều mời mọi người ra sân đốt lửa. Những cành thông khô ẩm nước bốc khói mù mịt. Tất cả vây quanh đống lửa và anh tuyên bố hôm nay là ngày sinh nhật thứ 70 của mình. Hóa ra Lữ Kiều một công hai việc, vừa triển lãm tranh, vừa tổ chức sinh nhật. Chắc sẽ là một ngày sinh nhật đáng nhớ trong đời bởi có mặt đông đủ bạn bè từ khắp nơi, trong và ngoài nước.

Vẫn còn một góc Đà Lạt như thế ẩn sâu trong lòng mỗi người. Ấm áp. Rất ấm áp.

Hôm sau đoàn xuống Bảo Lộc thăm Sơn núi (Nguyễn Đức Sơn). Tôi quay về để kịp cày cuốc. Và, giữ mãi những hình ảnh đẹp tuyệt vời này.

NGUYỄN LỆ UYÊN

BUỔI TỐI TRÊN CỒN CÁT

nguyenleuyen

Buổi Tối

-A lô, anh ăn tối chưa?

-Cảm ơn em. Rồi. Mọi chuyện đều ổn. Còn em?

-Dạ, cũng vừa xong bữa. Mà… không phải với mì tôm nữa đó chứ?

-Hẳn nhiên. Chiều nay anh tự nấu món canh chua cá lóc, sườn ram và rau muống xào tỏi theo cách vào bếp trên Google.

-Ồ, vậy thì ngon quá.

-Rất ngon, nhưng chỉ một nửa, nửa kia là dở, thậm dở.

-Anh nói sao?

-Một nửa ngon và một nửa dở.

-Em hiểu rồi. Anh đang thiếu sự chia sẻ. Nhớ ai đó đã nói “yêu một tác phẩm nghệ thuật ta muốn chia cái đẹp ấy cho nhiều người…”.  Nấu nướng cũng là nghệ thuật mà anh. Chị Diệu nói chừng nào về?

-Còn mệnh đề thứ hai sao em không nói hết? “Còn khi yêu một người ta chỉ muốn giữ người đó cho riêng mình”.

-Thôi đi. Em hỏi chị Diệu chừng nào về?

-Anh đâu rõ, khoảng trên dưới một tháng nữa, là anh đoán vậy, không hỏi. Cứ để bà ấy thoải mái. Hỏi chỉ tổ làm bồn chồn.

-Nhưng gì đi nữa, trong lúc chị đi vắng thì anh cũng phải cố gắng ăn uống tử tế, đừng có suốt tuần mì tôm với cơm hộp với bia rượu. Em chỉ nhắc chừng vậy, anh biết phải làm gì mà, phải không? Bữa lên nhà, em liếc thấy trong giỏ rác toàn vỏ mì, trong khi đồ ăn trong tủ thì chất đầy. Tự dưng em cảm thấy buồn buồn. Đàn ông các anh mười người thì có đến mười một người y như nhau khi vợ đi vắng dài ngày: Trường kỳ kháng chiến với mì tôm, lại ôm bia rượu làm bằng hữu chi giao nữa. Chẳng bổ béo gì mà thêm bệnh.

-Anh biết, đâu phải con nít. Anh chưa bỏ bữa ngày nào. Cuối tuần còn được vợ chồng cô em đánh xe lên tận nơi, chở xuống bồi dưỡng như ông hoàng ấy chứ. Em đừng lo lắng vẩn vơ, mệt trí. Anh nghĩ, em để đầu óc thanh thản sẽ tốt hơn ba cái vụ ăn uống quăn queo này.

-Xem ra anh thừa thông minh, nhưng rất kém hiểu biết về y học phổ thông trong vấn đề dinh dưỡng!

-Phải, cái gì cũng biết hết thì đi giành với thiên hạ làm thiên tài sao. Anh thấy thời đại bây giờ chẳng cần phải  biết một thứ gì, hiểu một tí gì nhưng khi được đặt lên ghế thì mọi chuyện đều trơn tru.

-Lại xiên xẹo.

-Thôi, đừng có lo lắng vớ vẩn nữa, được không?

-Không. Không lo cho ai cả, nhưng vẫn phải dòm chừng.

-Là em nói ra đó nhé, không tin thì chạy xe lên kiểm tra ngay coi anh nói có đúng không?

-Đừng giỡn anh, tới vào giờ này để thiên hạ xé xác em sao?

-Anh không xé em thì ai dám vào xé cơ chứ?

-Đừng đùa dai, mà bạn anh tới chơi nhà hay sao nghe nói chuyện như bắp nổ vậy?

-Mấy người ngồi trên truyền hình nói chuyện gì đó, anh không rõ, đâu có nghe họ nói gì!

-Thôi, anh xem TV đi, em đi tắm đây.

-Bonne nuit!

-Au revoir!

Màn hình điện thoại sáng lên màu mây trắng, trôi bềnh bồng vài giây rồi tắt ngấm. Anh bỏ máy xuống bàn, ngẩn ngơ về cuộc nói chuyện vừa chấm dứt, có vẻ như một màn kịch ngắn đang tới hồi cao trào thì bị sự cố mất điện. Và, rồi trong đầu anh lập tức vòng vèo tưởng tượng dài ngắn: Bắt đầu là cô em mở nụ cười đắc thắng, đủng đỉnh bước vào phòng tắm, cửa khóa trái, tiếng nước chảy ào ào, mát mẻ. Anh tự cười với bản mặt hụt trân của mình. Đúng rồi, nước sẽ xoa mềm và xối trôi tất cả, anh tự nhủ thầm khi quay ra, bỏ mặc kệ đám người bé xíu đang lao xao trên màn hình, vác ghế ra sân ngồi nhìn vườn cây nhập nhoạng trong ánh điện, cao thấp, vung vẩy cành lá theo cơn gió nhẹ mỗi khi tràn tới. Bóng tối và ánh sáng trộn lẫn khiến những lùm bụi như những hình nhân đang chạy nhảy lẫn cẫn, duỗi dài trên mặt đất.

Điện thoại lại reo. Chùng chình một lúc mới đứng dậy, bước lên bậc cấp, bụng dạ hoang mang. Anh không mong Phương đã tắm xong và lại nhớ tới chuyện mì tôm, bia rượu để tra gạn lần cuối trước khi ngồi vào bàn trang điểm.

Đúng. Không phải cô em mà là Diệu.

-Anh nghe đây.

-Anh ăn tối chưa?

-Xong tám hoánh rồi. Em khỏe không? Chuyến đi vui vẻ chứ?

-Rất vui và rất khỏe. Chuyến đi thú vị lắm, về em kể cho nghe. Ủa đang nhậu hay sao mà em nghe tiếng ồn?

-Khổ. Một đám trên TV xí xô xí xào gì đó. Nhậu nhẹt gì đâu.

-Anh dùng hết thực phẩm trong tủ chưa? Để em gọi Nhi nó mua mang về.

-Cũng sắp hết, đừng gọi. Để coi thích món gì anh bảo nó mua. Có những món anh không biết phải nấu thế nào. Mà đoàn của em lên chùa gì đó trên núi Tà Cú chưa?

-Chưa anh. Đang ở khách sạn. Mấy bà bạn đang dạo phố, dòm coi sông Cà Ty có đẹp như trong thơ anh Hoài Khanh không. Em định bụng qua thắp nhang cho anh Tư Đình.

-Phải đấy. Gọi xe sang thắp cho anh ấy cây nhang. Dẫu gì cũng chỗ bạn bè thân thiết một thời.

– Dạ, em đi ngay. Mà này, đoàn sẽ đi miền Tây khoảng một tuần. Lượt về Sài Gòn, em ghé nhà các con chơi với chúng chừng nửa tháng, sau đó ra Vũng Tàu với con Trang bạn em. Anh biết nó mà, Trang dạy Vạn Vật ở Đồng Sơn đấy. Dễ chừng gần hai chục năm không gặp nhau. Chắc cũng mất một tuần nữa nó mới thả ra, rồi quay về Mỹ Tho thăm nhà, coi phụ với mấy anh làm mộ cho ba má. Hồi sáng Út Hiền kêu chị Năm phải lên nhà nó chơi một tháng, chị em ruột thịt gì mà ba bốn năm trời không thấy mặt nhau… Anh thấy đó, không đi thì thôi, hễ bước chân ra khỏi nhà thì chỗ này ới, chỗ kia gọi, sao bỏ được, anh!

-Ừ, em cứ thoái mái đi. Nhưng đừng có kiểu: “… Nghe tiếng cơm sôi chợt nhớ nhà” đó nghe. Anh nhắc lại, cứ rong chơi thoải mái, đừng bận tâm về anh.

-Nhưng em lo.

-Lo với lắng, anh đâu phải trẻ con để trông chừng vấp ngã.

-Anh sẽ vấp cái khác. Mà mấy tuần nay Phương có lên không. Em gửi anh cho nó nhắc chừng chuyện sinh hoạt đó.

-Cảm ơn bà vợ tốt bụng. Anh đi tắm đây.

Anh tự động tắt máy. Quanh đi quẩn lại cũng ngần ấy chuyện. Đúng là đàn bà – anh lẩm bẩm và ngồi phịch xuống ghế đẩu và chợt nhớ đến mấy câu thơ của Sơn khùng: Đàn bà người nào cũng như người nấy/ Nên dặn lòng thôi hãy cố quên Em/ Nhưng đàn bà đâu phải người nào cũng như người nấy/ Nên suốt đười cứ nhớ nhớ quên quên. Diệu đã đi hết một quãng đường dài sướng khổ với anh. Rồi bây giờ lại Phương. Hai người hai thế hệ. Nhưng xem ra họ rất giống nhau. Bởi cả hai đều là đàn bà!

 

Ngó qua phía hòn non bộ, anh giật thót người khi thấy đôi đũa gát ngang miệng tô còn nằm trơ khấc trên thành bể khiến anh suýt nẩy bật lên kiểu điện giật, vì chứng cứ nói dối ngọt lừ vừa rồi vẫn đang phơi ì ra đấy, trần truồng. Xét về mối quan hệ thì giữa tô mì đã sạch nhẵn, thêm đôi đũa gát ngang vẻ thỏa mãn, đắc chí một cách đáng ghét… là hiện thực chua lòm so với canh chua cá lóc, sườn ram, rau xào do những bày đặt từ ngóc ngách sâu hoắm của sự tưởng tượng “phong phú”… Giữa chúng, hình như không họ hàng thân thích gì với nhau trong đời sống, chí ít là trước và sau khi có cú điện thoại tra vấn của cô em, nhưng rồi cái không tồn tại vẫn thắng cái đang “ngồi” thù lù ở thành bể kia, mà từ một khoảng cách xa, không có sự kiểm chứng thì nó giống như tên tội phạm đã thoát khỏi lưới luật pháp. Nó lại còn ngang nhiên có mặt trong lời thoại như sự che giấu cho tội phạm một cách quang minh. Cuộc nói dối trơn chùi đã làm cho Phương và ngay đến Diệu cũng tin rằng anh là người rất thật thà, ngay thẳng

Trên cồn cát

Quán Romance nằm cuối con đường dẫn từ đầu thành phố xuống giáp biển, trên một cồn cát cao, dân địa phương vẫn quen gọi quán Cồn Cát thay cho Romance. Phía trước mặt là một rừng dương xanh ngút, chắn những đụn cát cao chỉ chực có cơ hội là sóng biển xô bổ vào.

Anh và Diệu và Phương thích ngồi ở cái quán này, không phải thức ăn rẻ và ngon gì cho cam. Đơn giản là quán có những phòng ăn nhỏ vừa cho sáu người trên tầng ba. Mọi người vừa ăn vừa có thể nhìn ra màu biển xanh mênh mông ở dưới kia. Diệu chỉ thỉnh thoảng tham gia. Nhưng với Phương thì thường hơn. Bởi cô em cũng tâm trạng, cũng thích ngắm biển xanh và yên lặng lắng nghe tiếng lá dương reo vi vu hòa với sóng đập lao xao lên kè đá.

Tôi đề nghị:

-Tối nay mình đi ăn ở Cồn Cát, em nhé. 7 giờ được không?

-Sớm một chút, 6 giờ đi.

-D`accord! Em sửa soạn, anh tới trước. Nhớ mặc áo màu lá cây. Anh thích.

-Còn nhiều chiếc đẹp hơn.

-Anh thích chiếc này, chiếc lai cua màu lá cây ấy. Nó để lộ vẻ thanh thoát của em từ viền cổ, từ cánh tay trần. Nó sang trọng một cách dân dã như thể em đang ngồi quay tơ vậy. Cánh tay trắng muốt, chiếc cổ trắng muốt, những búp tay thon nổi lên giữa cuộn tơ vàng óng và, chiếc áo xanh làm nền. Nếu em biến chiếc áo ấy như một chiếc yếm thì em sẽ đẹp gấp bội trong mắt anh.

-Khéo tưởng tượng… Bày vẽ.

Quán thưa khách. Còn nhiều dãy bàn trống. Khi dượm chân bước lên cầu thang, chủ quán từ bếp lên chào và nói bữa nay có món cua lột. Tôi nói vâng cua lột. Ba người ăn chứ, chủ quán hỏi. Không, hai. Nhưng để người ta tới đã, coi có thích không. Chủ quán gục gật chiếc mũ trắng trên đầu cùng với câu nói, chúc vui vẻ, ngon miệng. Tôi nói cảm ơn và giơ tay vẫy vẫy.

Căn phòng chúng tôi thích ngồi, may chưa có người. Tôi mở toang các cửa lớn nhỏ. Phụ bàn giúp bật đèn và mở quạt rồi quay sang đặt quyển thực đơn dày cộp lên bàn. Chú đi một mình, phụ bàn hỏi. Không, hai, tôi trả lời, cháu chờ chút xíu nhé, chú sẽ gọi khi bạn đến. Cô bé dạ và quay ra.

Gió từ biển thổi vào, mát rười rợi. Tôi đứng lên tắt quạt và nhìn ra phía biển bắt đầu thẫm lại. Sóng vỗ rì rào và lá dương reo. Có vẻ như Phương có lý khi đưa ra nhận xét, rằng ngồi ở căn phòng này giống như ngồi trên ô riêng, ở nhà hát lớn, dành cho các quý ông quý bà nghe hòa nhạc giao hưởng. Cô nàng thêm, có những lúc em nghe như đó là bản giao hưởng số 5 cung Đô thứ Định Mệnh, đôi khi lại là khúc số 7 cung La trưởng Niềm vui hay các khúc Sonata. Em cảm ơn ông Beethoven thiên tài. Tôi hỏi, có khi nào em nghe giống như khúc Appasionata không? Nàng cười, để lộ chiếc răng khểnh cao ngạo giữa hai hàm răng trắng đều.

Phương bước vào. Nàng đúng là cô Tấm đã tìm thấy chiếc giày. Tôi đứng lên ôm nàng trong giây lát thay lời chào. Phương áp chặt. Cơ hồ như tôi nghe các thớ thịt, mạch máu, chân lông đều nhổm lên chực chảy ra ngoài.

Phương đẩy tôi ra và ngồi xuống, đẩy lọ hoa hồng ra đầu bàn.

-Mình ăn gì, em? – Tôi nói và đẩy quyển thực đơn về phía nàng – Ông chủ kêu có ghẹ, cua lột gì đó, quảng cáo rất ngon.

Phương xoáy vào mắt tôi.

-Anh quên hôm nay là ngày gì rồi sao. Rằm tháng bảy, lễ Vu Lan.

-A, xin lỗi – Tôi kêu lên – Vậy thì rau củ quả cho nó chay tịnh. Nhưng em phải cho anh một ly rượu. Vang Đà Lạt thôi. Đúng một ly.

-Được, một ly thôi nghe.

Khi cô bé phụ bàn bước ra, tôi cầm tay nàng nói bữa nay em đẹp quá. Nàng ngó cành hồng vàng nói, nịnh. Thiệt mà, tôi nói khẽ..

Chúng tôi nhẩn nha ngồi ăn, nói những chuyện không ăn nhập vào đâu, bởi ai cũng chăm chăm về hướng biển, như thể nơi đó đang lưu giữ những riêng tư của mỗi người. Thực tế lúc này. biển sẫm đen. Những cột đèn dọc bãi cát không đủ sáng để nhìn rõ mép nước và bờ cát. Tít tận ngoài xa những ánh đèn câu, giăng kín một khoảng không gian rộng. Hình như mọi chiếc thuyền đều đứng nguyên tại chỗ. Ánh đèn đứng nguyên tại chỗ.

-Em có bao giờ ngồi thuyền ra biển chưa?

-Chưa, em sợ say sóng.

-Em chỉ yêu mỗi dư âm của sóng biển, phải không?

-Cứ mỗi lần ngồi đây, nghe tiếng sóng, tiếng lá dương reo trong khoảng nhập nhoạng sáng tối là em nghĩ ngay đến những khúc giao hưởng cổ điển dành cho dương cầm. Ước gì giũ bỏ hết mọi phiền lụy trần gian và đến một nơi nào đó thật khuất vắng, thanh tịnh…

-Ước mơ bao giờ cũng đẹp và thực tế thì xù xì. Ta chỉ nên tận hưởng mỗi khi có dịp…

-Dạ, thực tế xù xì… – Nàng nói với nụ cười thật buồn bã, với đôi mắt u uẩn xa xăm khiến tôi nhớ ngay mấy câu của Bùi Giáng:

Em có nụ cười buồn buồn môi mọng

Em có làn mi khép lá cây rung

Em có đôi mắt như sầu xanh soi bóng

Hồ gương ơi! Sao sóng lạc vô chừng.

Tiếng lá dương, tiếng sóng trộn lẫn mơ hồ vọng lại. Chúng tôi yên lặng tiếp tục nhìn ra biển. Những quầng sáng nổi bật lên giữa màu đen thẫm. Tất cả đều đứng nguyên, không chuyển động. Đột ngột Phương quay sang tôi.

-Anh biết không, em yêu chị Diệu vô cùng, bởi chị đối xử với em như ruột thịt. Khi nào em bằng tuổi chị ấy, chắc chắn em sẽ đi theo con đường chị đang đi. Em thấy chị thanh thản, cởi bỏ. Ước chi lúc này em được phần mười của chị.

Tôi loay hoay, lúng túng không biết phải trả lời sao. Nhưng thực tế, chí ít là trong khoảng thời gian dài, cả ba chúng tôi đã gắn chặt vào nhau như kiếp tiền định. Những khi chúng tôi ngồi chung bàn ở căn phòng này, hình như ai cũng đọc được những ý nghĩ của người kia, bởi chúng tôi đều có những bất hạnh riêng. Cả ba đều hiểu nhau và cùng chia sẻ… Tận đáy lòng họ cũng run rẩy leng keng niềm hy vọng, lục cục nỗi thất vọng ê hề của số phận…

Trong ánh mắt của Diệu khi nhìn tôi và Phương, nàng như muốn nói: Anh đau khổ và mệt mỏi quá nhiều bởi những kỳ vọng dành cho thằng út đã sụp đổ, cộng với xã hội bên ngoài làm anh ray rức, tuyệt vọng. Em là vợ, nhưng không giúp được gì cho anh, bởi cả em và anh cùng bất lực, cùng đau đớn đến tột cùng về một niềm tin duy nhất bị đánh mất. Em biết ơn anh đã hiểu em, cho em đến với kinh pháp và đã được gội rửa. Còn anh, cả đời bi lụy vì chữ nghĩa, anh bay bổng với những giấc mơ đẹp, rồi bị xô đẩy, rơi đùng xuống đáy vực. Và rồi Phương là chiếc phao, là chiếc thang dây đã kéo anh lên khỏi vũng tối. Em cảm ơn Phương đã thay em làm được điều em không thể, dù cố gắng biết bao. Em tin anh. Đừng làm gì cho Phương buồn, bởi em nó cũng đang mang nỗi đau không kém cựa gì ai…

Phương thì, anh và chị Diệu đã xoa dịu vết nứt trong em như bàn tay êm ái của một bà mẹ yêu thương con hết mực, đồng cảm và chia sẻ cùng em, vực em đứng lên…

Còn tôi khi nhìn vào đáy mắt hai người, những người phụ nữ bao dung, mở lòng… tôi nghĩ nếu có kiếp khác, tôi cũng sẽ đi cùng trời cuối đất để tìm cho ra Diệu, và trái tim tôi sẽ vẫn dành một ngăn lớn cho Phương dẫu biết rằng “tôi không còn trẻ để cầm tay em nữa…”.

-Thôi về anh. Em về coi chừng mấy nhóc học bài.

Tôi đứng lên. Chúng tôi cùng nhìn về phía biển một lúc rồi hôn nhau. Nụ hôn mang theo mùi rau củ quả trong bữa ăn. Nó ngọt ngào và chay tịnh đến vô cùng vô tận.

NGUYỄN LỆ UYÊN

 

 

GIẤC MƠ

nguyenleuyen

Ba bức thư điện tử cách nhau ba ngày, cùng một nội dung là những lời thăm hỏi vu vơ không khiến ông phải bận tâm. Nhưng đến thư thứ tư cách thư trước khoảng một tuần thì nội dung giống chiếc đuôi con thằn lằn ngoay ngoáy trên vách tường rình mồi. Cái đuôi ấy lúc cong lên lúc lắc qua lắc lại, vừa xa mà cũng vừa như tóm được con mồi trong chiếc lưỡi dài: “Chào ông, ông có nghĩ rằng thời gian sẽ đẩy con người tới chốn âm u để quên đi tất cả. Trí nhớ sẽ không còn nhạy bén như hồi trẻ. Đi đứng khó khăn. Một vài thứ bệnh xuất hiện… Hẳn nhiên người ta sẽ phải loay hoay với những thứ đó, bận rộn suốt ngày với nó để không còn thời gian mà nhớ…?”.

Ông phì cười. Có lẽ cô nàng nào đó đã nhầm ông với một người nào khác. Rõ ràng cái địa chỉ này ông chưa hề quen, chưa một lần tiếp xúc qua bàn phím, nói chi đến chuyện nhớ quên? Nhưng mười ngày sau, trong inbox lại xuất hiện cái địa chỉ xa lạ kia. Cố nén bực bội nhưng cũng vừa tò mò, ông mở ra: “In life, there are moments when you miss someone so much that you feel like you could only fulfill your dreams by holding that person tight in your arms. Ngộ chưa? Nhớ đến ai, tương tư ai đến nỗi phải ôm chặt người ta trong giấc mơ? Một mối tình tan vỡ chăng? Hay là hoài nhớ lại những ngày xuân xanh? Ông muốn gõ vài chữ trả lời rằng, xin lỗi cô (bà) đã nhầm địa chỉ, nhưng ông không đụng vào ô reply, nghĩ bụng một cô bé theo kiểu nhân vật trong các feuilletons trước kia thì cứ để mặc cho cô chìm đắm trong những giấc mơ đẹp, không mất gì! Ông bỏ qua, mở các thư khác và trả lời, và không còn nhớ gì đến những giấc mơ của cô hay bà nào đó. Những giấc mơ bay mờ dần, tan dần trước màn hình kín đặc những con chữ màu đen.

Ông lại chúi mũi vào công việc. Bàn phím lại lóc cóc vang lên những âm thanh quen thuộc. Viết được nửa trang thứ ba có chuông điện thoại reo. Lại ngưng công việc, lại phải nhấc ống nghe áp lên lỗ tai:

-Tôi là Bằng, xin nghe.

-Thưa ông tôi muốn nói chuyện với ông một chút, có phiền lắm không ạ?

-Vâng, chị cứ nói, tôi nghe.

-Tôi là Mai, Ngọc Mai, ông còn nhớ không ạ?

-Mai thì rất nhiều, nhưng Ngọc Mai thì cũng có vài người thân sơ. Chị có thể nói rõ hơn chút được không? – Ông lúng túng với trí nhớ bắt đầu lãng đãng của mình.

Đầu dây bên kia ngập ngừng một lát rồi nhỏ nhẹ vang lên. Chất giọng mềm mượt tựa thảm cỏ tỉa tót cẩn thận trước sân vườn nhà ông.

-Đáng lẽ ra không nên làm ông bận rộn vì một việc không đâu, nhưng hôm qua, trong bữa họp mặt đồng hương, có người nhắc đến tên thầy làm em nhớ những ngày còn ở trường Lê Ngọc Hân.

Ông giật mình. Trong số các nữ giáo sư cùng trường thời xưa, hình như chỉ có Thanh Mai và Lê Thị Mai một dạy pháp văn, một dạy triết. Ngoài ra không còn Mai nào khác. Ông cố lục tung mọi ngõ ngách trong đầu. Một loạt các đồng nghiệp cũ hiện ra, nhưng cái tên Ngọc Mai thì chịu. Chẳng lẽ ông bắt đầu bước vào vũng còm cõi đến vậy sao. Hay cô ta dạy ở trường tư thục nào đó cùng thành phố. Mà tư thục thì có đến năm sáu trường, ông có quen ai đâu.

Ông nói với giọng không mấy tin tưởng:

-Tôi dạy ở Lê Ngọc Hân chỉ có hai năm, sau đó chuyển đi trường khác. Không rõ cô có dạy cùng thời gian với tôi ở đó không?

-Không thầy ơi. Em là học trò thầy lớp 11B3, phòng học ở cuối dãy hành lang lầu 1, xế hành lang có cây bằng lăng vượt cao hơn balcon. Giờ ra chơi tụi em hay vói tay níu hái những búp hoa tím, có lần bị thầy bắt gặp và nhắc nhở một câu nhớ đời: “Hoa thì đẹp đấy. Nhưng các em thì còn đẹp hơn gấp ngàn lần. Từ balcon tới mặt đất có đến 4 mét. Phía dưới không êm ái như tấm nệm trong phòng ngủ có máy điều hoà đâu”. Thầy chỉ nói có vậy rồi bỏ đi không thèm ngoái nhìn lại coi coi lũ học trò có thôi đi trò nghịch ngợm nguy hiểm kia không hay vẫn tiếp tục vói tay ra tận những cành xa. Hôm qua chị bạn nhắc lại, chị Lan làm thơ hay nhất lớp đấy, chắc thầy nhớ?

-Vâng, tôi nhớ cô Lan, tôi nhớ những năm Lan và các bạn say mê làm tờ đặc san cuối năm cho trường.

-Dạ, giờ chị Lan không thành nhà thơ mà là một doanh nhân tầm cỡ trong cộng đồng ở nơi đất khách quê người này.

-Tôi cầu mong tất cả mọi người đều thành đạt. Niềm hạnh phúc riêng tư của mỗi người là nắm giữ được những mơ ước có thật trong tay.

-Thầy có khoẻ không và hiện đang làm gì?

-Cảm ơn, có lúc khoẻ lúc không bởi tuổi già cứ rập rình ngoài khung cửa, giống như khạp nước bị nứt. Bữa nay nước rỉ ra một chút, mai một chút cho tới khi cạn đáy coi như chấm dứt mọi món nợ trần gian.

-Thầy luôn có lối ví von gây sự chú ý. Tụi em nhớ thầy chính vì điểm này. Thầy luôn có sự khác biệt đối với những thầy khác, khó nói, khó tả chính xác. Xin lỗi thầy, giờ em có hẹn, em sẽ gặp lại thầy. Chúc thầy…

Ông gác máy, ngã người ra thành ghế, nhắm mắt làm một cuộc thanh lọc và tái hiện lần hồi, bắt đầu từ buổi sáng cầm sự vụ lệnh đến trình diện với bà hiệu trưởng. Giờ phút đầu tiên cầm viên phấn và đám nữ sinh xì xào bên dưới… Một khối trắng bềnh bồng trôi trong phòng học, không phải là những con thiên nga giang đôi cánh trên trời cao mà là những chùm bông gòn kết dính, rối nùi bay lả tả trong không gian hẹp đến khó chịu. Sự khó chịu kia có lần ông buộc miệng với bà hiệu trưởng: “Tôi không thể nào hiểu nổi ai đó ở bộ Giáo dục lại đưa ra ý tưởng lập một trường trung học toàn nữ. Sự mất thăng bằng về giới tính trong nhà trường dễ dẫn đến những hậu quả tai hại về học tập, sinh hoạt về vấn đề tâm sinh lý…”. Câu tổng kết kinh nghiệm mới mẻ kia được phát đi từ miệng anh thầy giáo non choẹt mặt mũi, non choẹt tuổi nghề, được đón nhận bằng những ánh mắt trái ngược nhau và đều có ngầm ý cho rằng ông đang nói trên vị trí của anh đồ gàn của nhiều thế kỷ trước còn sót lại. Nhưng với ông, lúc đó hoàn toàn chính xác đến từng ly mét. Một thầy giáo mới ra trường, tuổi tác so với học trò chỉ cách nhau năm ba tuổi, có thể gọi là cùng thế hệ đã dẫn tới nhiều hệ luỵ rất trẻ con.

Chất trẻ con đầu tiên ông đụng mặt là những câu tấn công tình cảm vu vơ trên bảng, đánh lừa người khác bằng cách viết tay trái. Thỉnh thoảng lại nhìn thấy một cánh hoa dại bứt vội đâu đó trên đường tới trường đặt trên bàn kèm theo mảnh giấy “gửi đến thầy với trái tim tan nát”, một tờ giấy pelure màu hồng sực nức nước hoa và những vệt nước nhoè trên mặt giấy mà ông đoán chắc là những giọt nước từ chiếc vòi ngoài sân cỏ. Nhưng khủng khiếp hơn cả là khi ông giảng về phong trào thơ mới ở Việt Nam. Hàng chục cánh tay giơ lên, nhao nhao tranh luận, đặt những câu hỏi phản biện như đùa như thật:

-Thưa thầy, tại sao yêu là chết trong lòng một ít? Vô lý, không yêu nhau thì thôi chớ chết chi cho uổng? Sao ông Phan Khôi tự dưng đặt tên bài thơ là tình già, tình già khác tình trẻ chỗ nào, thầy? Lại còn liếc nhau con mắt còn có đuôi, bộ như đuôi chim đuôi gà hay kiểu tóc đuôi ngựa tụi con gái thời nay? Ông Nguyễn Bính so sánh khập khiễng: Nắng mưa là bệnh của trời/tương tư là bệnh của tôi yêu nàng. Dạ, cứ cho là bệnh đi, nhưng so sánh với mưa nắng thì nhà thơ dở ẹt… Dạ, thưa… có bao giờ thầy tương tư, thầy chê…ết… chưa ạ? Tiếng cười ồ đồng loạt nổi lên. Tôi lúng túng thật sự. Lúc đó tôi không còn là ông thầy nghiêm trang nữa, mà quay lại đúng vị trí anh thanh niên vừa tròn 23 tuổi mụ, đang bị bao vây bởi một bầy thiên nga lông trắng, nhao nhao bên dưới. Rất khó khăn tôi mới lập lại được trật tự. Và, cũng chừng ấy khó khăn, tôi bình tĩnh giải thích, cắt nghĩa rành rẽ về cấu trúc ngôn ngữ thơ ca, về tứ trong một bài thơ… đến khi chấm dứt giờ học, thay vì những tiếng cười ồ trước đây là những tiếng vỗ tay bôm bốp, kèm theo: “Ôi, thật tuyệt vời, thầy đáng yêu quá… Chúng em yêu thầy…”.

Chuông đổ, tôi thu gom tài liệu trên bàn, vụt ra cửa như một chiến binh bị địch truy đuổi phía sau. Những tiếng la í ới, tiếng đập bàn như thể những phát đạn bắn với theo.

Bầy thiên nga lông trắng ngày xưa với giấc mơ lỏng lẻo từ trời cao rớt xuống, cách một đại dương mênh mông, nếu dừng lại ở đấy thôi cũng đủ làm ông nhồn nhột, huống chi ba ngày sau cuộc nói chuyện bất ngờ trên điện thoại, lại có một bức thư khác ở một địa chỉ e-mail khác, viết rằng: Thầy có biết thầy là người vô tình không? Con Mai yêu thầy đến phát cuồng. Nó yêu thầy ngay từ ngày đầu thầy nhận lớp. Đã chồng con đề huề, nhưng mỗi khi nhắc trường xưa bạn cũ nó lại khóc ròng nói nhớ thầy. Nếu hồi đó mà thầy biết sự tình, giờ này chắc tròn trịa. Thầy có tưởng tượng ra nó chưa? Con Mai đẹp nhất trường, kiêu kỳ nhất, đa cảm nhất… và yêu thầy nhất… Ông tắt cả hộp thư, shut down máy. Đầu óc váng vất, mệt muốn đứt hơi với mớ chữ vừa đọc.

Ông xô ghế, rót cốc nước lọc, uống từng hớp nhỏ. Thần kinh dịu xuống đôi chút. Lúc sau ông thừ người ngồi nhìn chiếc laptop mỏng dính im lìm trên bàn: lẻ loi, cô độc bởi ông không đụng đến nó; im lìm như người có lỗi bị xua đuổi. Trong đầu bổng dưng lóe lên một ý nghĩ không mấy bình thường: nếu như ông biết sự thể kia, nếu như ông chấp nhận mối tình của cô bé học trò, nếu như hai người lấy nhau… thì giờ này ra sao nhỉ?

Những chữ “nếu” kéo dài và dính cục lại, bồng bềnh như cánh những con chim thiên ngay lông trắng muốt trên trời cao vẫy những giấc mơ đẹp bay theo. Ông nhắm mắt lại và ngỡ như mình đang bay đuổi theo những cánh thiên nga trắng muốt kia.

NGUYỄN LỆ UYÊN

ĐÀ LẠT

nguyenleuyen

Mỗi lần trở lại Đà Lạt, lại thấy có sự thay đổi rất bệnh hoạn. Bầu trời Đà Lạt trên đầu vẫn là bầu trời muôn thuở, vẫn mây, vẫn khói, vẫn một chút lạnh đủ để các thiếu nữ làm duyên; nhưng dưới nó, trên mặt đất lại có một Đà Lạt thoi thóp, ngắc ngoải. Bạn đồng hành than thở: “Con người đã giết chết Đà Lạt!”. Tôi lắc đầu: “Không, chính xác thì, chủ nghĩa xã hội thổ tả kia đã và đang liên tục hãm hiếp Đà Lạt”. Một Đà Lạt đẹp như nàng tiên đang ngủ trong rừng thông bị những tên bạo chúa lật ngửa, đè ra hãm hiếp đến toe máu đầm đìa. Đó là những vồng đất, gốc thông, những căn biệt thự cổ bị lật tung lên theo đủ cách khác nhau. Chúng cứ từng ngày từng giờ, biến thành phố “mộng mơ” thành khu Ngã năm chuồng chó, Ngã ba chú Ía thời đệ nhị Cộng hòa, khác chăng, một bên mưu sinh bằng xác thịt; một bên câu kết thành bè nhóm, cướp giật tài nguyên môi trường, để Đà Lạt ngày một xơ xác hơn, thành một cái xác bị chứng giang mai, lở loét cùng mình!

Cả một không gian thoáng rộng ngày trước với những tòa biệt thự, những cây thông, hồ nước nay bị lũ người khốn nạn, những tên mafia đè ngửa ra, bóp nát những bộ ngực trinh trắng: Thông đồi Cù bị chặt cho sân golf, quanh hồ Tuyền Lâm máy ủi, máy xúc cạo sạch lông những thảm cỏ, đồi thông để xây biệt thự cao cấp…

Đứng ở đầu dốc phía nhà thờ con Gà nhìn ngang, khu Hòa Bình lúc này vừa là khu ổ chuột vừa là những hộp bê tông chen chúc nhau đứng ngồi lộn xộn, cào nát không gian đẹp, khiến tôi liên tưởng ngay đến những đám đất cày mùa tháng Ba. Không, như thế vẫn còn thơ mộng. Không. Đà Lạt bây giờ giống như một bãi rác điện tử thì đúng hơn.

Lúc này, nếu như nhạc Sĩ Hoàng Nguyên (1932-1973) nhìn thấy Đà Lạt, tôi nghĩ ông sẽ buồn không ít về những gì ông đã thả hồn mình đến tận cùng trong ca khúc Ai lên xứ hoa đào năm nào, giờ vẫn giữ nguyên giá trị nhân văn, tính lãng mạn trong giai đoạn “tang thương ngẫu lục” này.

May mà Đà Lạt còn có tình người. Những người bạn muôn năm cũ vẫn cam chịu những đè nén ngột ngạt nhưng không hề thỏa hiệp, đầu hàng; họ không quay lưng lại với bè bạn xưa vì cái danh, cái lợi đã từng làm nhiều người biến thành những con sói hung dữ. Nguyễn Dương Quang và Nguyễn Sông Ba ra tận bến xe đón tôi, lại còn cho nằm nguyên một gian phòng rộng ấm áp, vốn dĩ xưa kia là phòng của hai vợ chồng trẻ Võ Hồng sau khi cưới nhau. Quang chỉ cho tôi sàn gỗ bị cháy sém một mảng lớn, nói: “Hai ông bà Võ Hồng kê ông táo nấu nướng, sức nóng làm cho sàn gỗ bị cháy áp”. Âu cũng là duyên may để hình dung thời trai trẻ của một nhà văn từng có những tháng ngày hạnh phúc trong căn phòng này, cách đây gần 60 năm.

Trước khi đi, tôi gọi điện hỏi Đỗ Hồng Ngọc, anh có lên không? Ảnh nói: “Trời ơi, các bạn ùn ùn lên Đà Lạt làm mình nôn nao quá!… Mình kẹt các buổi giao lưu về tập thơ Thư cho bé sơ sinh và tập Thiền & Sức khỏe ở Phương Nam Book và Đại học KHXH và NV… Tiếc lắm!”.
Nghe kể lại, xem những tấm ảnh và vài đoạn clip, ĐHN tiếc hùi hụi. Vắng anh, nhưng nhóm Ý Thức vẫn đông đủ, có cả vợ chồng anh KĐ.

Điều mà ĐHN tiếc hùi hụi bởi hiện tượng “các bạn ùn ùn lên Đà Lạt”, chỉ vì hai nguyên nhân: Anh Đinh Cường từ Virginia (HK) mang tranh về triển lãm tại Gallery Đào Nguyên từ 29.11 đến 3.12 với chủ đề Đà Lạt nỗi nhớ. Tôi chẳng hiểu mấy về hội họa. Song nhìn những bức tranh của Đinh Cường, Thân Trọng Minh có chút gì đó rất ấm áp giữa cảnh đời xô bồ, bợt nhạt. Nói ấm áp bởi Đà Lạt được vẽ trong trí nhớ, từ một góc trời xa thổn thức, với những thiếu nữ bên nhà thờ, những ngôi biệt thự ẩn mình bên quả đồi quả đồi xanh lơ, những con đường nhỏ, những khuôn mặt bạn bè nồng ấm thời trai trẻ…

Một chút khói sương, một chút lãng đãng pha đậm trong sắc màu trí nhớ bạc trên đầu và nhòe trong đôi mắt. Nhìn những bức tranh được treo trang trọng trên tường, nỗi niềm đầu tiên là bùi ngùi tiếc nuối một thời đã qua vừa được nối lại bởi màu sắc và đường nét. Hội hoạ dễ kéo xích gần tâm hồn con người như cái cầm tay lần đầu với cô thiếu nữ!

Trong Gallery Đào Nguyên nhỏ nhưng ấm cúng này, khách đến với các họa sĩ khá đông. Đến để thưởng ngoạn và chia sẻ. Những Bửu Ý, Nguyễn Quốc Thái (TK tạp chí Trình Bày), Khuất Đẩu, Huyền Chiêu, Dân & Elena, Lữ Quỳnh, Lê Ký Thương & Kim Qui, Châu Văn Thuận, Nguyên Minh & Lan… hầu hết tóc điểm sương, nhưng đôi mắt và tâm hồn như những chàng trai trẻ yêu đời. Bắt tay nhau, ôm chặt nhau. Không cần đại ngôn, chẳng hề có đẳng cấp kiểu đấm bốc, nhưng tình cảm thì chan hòa.

Buổi tối, tất cả đều kéo nhau đến “biệt thự” của chàng nho sĩ Lữ Kiều. Kinh khủng. Từ mặt lộ xuống nhà là một con dốc dựng đứng, đến nỗi Nguyên Minh phát sợ. Nguyễn Dương Quang giữ tay Đinh Cường, tôi một bên Lữ Quỳnh chầm chậm sên bò. Đến sân mồ hôi tứa ra vì sợ. Đúng là một nơi ở bão táp “ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”. Chưa tới, nhưng ít lắm cũng gần 300 mét. 300 mét cho một đời thơ, hội họa, một đời văn chương tiếp nối.

Thức ăn bày biện sẵn, có cả chai Chivas Regal 18 và chai Johnnie Walker Bửu Ý mang từ Huế vào. Ăn uống thoải mái, chuyện tuôn ra như người nhà lưu lạc lâu ngày gặp nhau. Trùng phùng.

Cuối bữa, Lữ Kiều mời mọi người ra sân đốt lửa. Những cành thông khô ẩm nước bốc khói mù mịt. Tất cả vây quanh đống lửa và anh tuyên bố hôm nay là ngày sinh nhật thứ 70 của mình. Hóa ra Lữ Kiều một công hai việc, vừa triển lãm tranh, vừa tổ chức sinh nhật. Chắc sẽ là một ngày sinh nhật đáng nhớ trong đời bởi có mặt đông đủ bạn bè từ khắp nơi, trong và ngoài nước.

Vẫn còn một góc Đà Lạt như thế ẩn sâu trong lòng mỗi người. Ấm áp. Rất ấm áp.

Hôm sau đoàn xuống Bảo Lộc thăm Sơn núi (Nguyễn Đức Sơn). Tôi quay về để kịp cày cuốc. Và, giữ mãi những hình ảnh đẹp tuyệt vời này.

NGUYỄN LỆ UYÊN

GIẤC MƠ

nguyenleuyen

Ba bức thư điện tử cách nhau ba ngày, cùng một nội dung là những lời thăm hỏi vu vơ không khiến ông phải bận tâm. Nhưng đến thư thứ tư cách thư trước khoảng một tuần thì nội dung giống chiếc đuôi con thằn lằn ngoay ngoáy trên vách tường rình mồi. Cái đuôi ấy lúc cong lên lúc lắc qua lắc lại, vừa xa mà cũng vừa như tóm được con mồi trong chiếc lưỡi dài: “Chào ông, ông có nghĩ rằng thời gian sẽ đẩy con người tới chốn âm u để quên đi tất cả. Trí nhớ sẽ không còn nhạy bén như hồi trẻ. Đi đứng khó khăn. Một vài thứ bệnh xuất hiện… Hẳn nhiên người ta sẽ phải loay hoay với những thứ đó, bận rộn suốt ngày với nó để không còn thời gian mà nhớ…?”.
Ông phì cười. Có lẽ cô nàng nào đó đã nhầm ông với một người nào khác. Rõ ràng cái địa chỉ này ông chưa hề quen, chưa một lần tiếp xúc qua bàn phím, nói chi đến chuyện nhớ quên? Nhưng mười ngày sau, trong inbox lại xuất hiện cái địa chỉ xa lạ kia. Cố nén bực bội nhưng cũng vừa tò mò, ông mở ra: “In life, there are moments when you miss someone so much that you feel like you could only fulfill your dreams by holding that person tight in your arms. Ngộ chưa? Nhớ đến ai, tương tư ai đến nỗi phải ôm chặt người ta trong giấc mơ? Một mối tình tan vỡ chăng? Hay là hoài nhớ lại những ngày xuân xanh? Ông muốn gõ vài chữ trả lời rằng, xin lỗi cô (bà) đã nhầm địa chỉ, nhưng ông không đụng vào ô reply, nghĩ bụng một cô bé theo kiểu nhân vật trong các feuilletons trước kia thì cứ để mặc cho cô chìm đắm trong những giấc mơ đẹp, không mất gì! Ông bỏ qua, mở các thư khác và trả lời, và không còn nhớ gì đến những giấc mơ của cô hay bà nào đó. Những giấc mơ bay mờ dần, tan dần trước màn hình kín đặc những con chữ màu đen.
Ông lại chúi mũi vào công việc. Bàn phím lại lóc cóc vang lên những âm thanh quen thuộc. Viết được nửa trang thứ ba có chuông điện thoại reo. Lại ngưng công việc, lại phải nhấc ống nghe áp lên lỗ tai:
-Tôi là Bằng, xin nghe.
-Thưa ông tôi muốn nói chuyện với ông một chút, có phiền lắm không ạ?
-Vâng, chị cứ nói, tôi nghe.
-Tôi là Mai, Ngọc Mai, ông còn nhớ không ạ?
-Mai thì rất nhiều, nhưng Ngọc Mai thì cũng có vài người thân sơ. Chị có thể nói rõ hơn chút được không? – Ông lúng túng với trí nhớ bắt đầu lãng đãng của mình.
Đầu dây bên kia ngập ngừng một lát rồi nhỏ nhẹ vang lên. Chất giọng mềm mượt tựa thảm cỏ tỉa tót cẩn thận trước sân vườn nhà ông.
-Đáng lẽ ra không nên làm ông bận rộn vì một việc không đâu, nhưng hôm qua, trong bữa họp mặt đồng hương, có người nhắc đến tên thầy làm em nhớ những ngày còn ở trường Lê Ngọc Hân.
Ông giật mình. Trong số các nữ giáo sư cùng trường thời xưa, hình như chỉ có Thanh Mai và Lê Thị Mai một dạy pháp văn, một dạy triết. Ngoài ra không còn Mai nào khác. Ông cố lục tung mọi ngõ ngách trong đầu. Một loạt các đồng nghiệp cũ hiện ra, nhưng cái tên Ngọc Mai thì chịu. Chẳng lẽ ông bắt đầu bước vào vũng còm cõi đến vậy sao. Hay cô ta dạy ở trường tư thục nào đó cùng thành phố. Mà tư thục thì có đến năm sáu trường, ông có quen ai đâu.
Ông nói với giọng không mấy tin tưởng:
-Tôi dạy ở Lê Ngọc Hân chỉ có hai năm, sau đó chuyển đi trường khác. Không rõ cô có dạy cùng thời gian với tôi ở đó không?
-Không thầy ơi. Em là học trò thầy lớp 11B3, phòng học ở cuối dãy hành lang lầu 1, xế hành lang có cây bằng lăng vượt cao hơn balcon. Giờ ra chơi tụi em hay vói tay níu hái những búp hoa tím, có lần bị thầy bắt gặp và nhắc nhở một câu nhớ đời: “Hoa thì đẹp đấy. Nhưng các em thì còn đẹp hơn gấp ngàn lần. Từ balcon tới mặt đất có đến 4 mét. Phía dưới không êm ái như tấm nệm trong phòng ngủ có máy điều hoà đâu”. Thầy chỉ nói có vậy rồi bỏ đi không thèm ngoái nhìn lại coi coi lũ học trò có thôi đi trò nghịch ngợm nguy hiểm kia không hay vẫn tiếp tục vói tay ra tận những cành xa. Hôm qua chị bạn nhắc lại, chị Lan làm thơ hay nhất lớp đấy, chắc thầy nhớ?
-Vâng, tôi nhớ cô Lan, tôi nhớ những năm Lan và các bạn say mê làm tờ đặc san cuối năm cho trường.
-Dạ, giờ chị Lan không thành nhà thơ mà là một doanh nhân tầm cỡ trong cộng đồng ở nơi đất khách quê người này.
-Tôi cầu mong tất cả mọi người đều thành đạt. Niềm hạnh phúc riêng tư của mỗi người là nắm giữ được những mơ ước có thật trong tay.
-Thầy có khoẻ không và hiện đang làm gì?
-Cảm ơn, có lúc khoẻ lúc không bởi tuổi già cứ rập rình ngoài khung cửa, giống như khạp nước bị nứt. Bữa nay nước rỉ ra một chút, mai một chút cho tới khi cạn đáy coi như chấm dứt mọi món nợ trần gian.
-Thầy luôn có lối ví von gây sự chú ý. Tụi em nhớ thầy chính vì điểm này. Thầy luôn có sự khác biệt đối với những thầy khác, khó nói, khó tả chính xác. Xin lỗi thầy, giờ em có hẹn, em sẽ gặp lại thầy. Chúc thầy…
Ông gác máy, ngã người ra thành ghế, nhắm mắt làm một cuộc thanh lọc và tái hiện lần hồi, bắt đầu từ buổi sáng cầm sự vụ lệnh đến trình diện với bà hiệu trưởng. Giờ phút đầu tiên cầm viên phấn và đám nữ sinh xì xào bên dưới… Một khối trắng bềnh bồng trôi trong phòng học, không phải là những con thiên nga giang đôi cánh trên trời cao mà là những chùm bông gòn kết dính, rối nùi bay lả tả trong không gian hẹp đến khó chịu. Sự khó chịu kia có lần ông buộc miệng với bà hiệu trưởng: “Tôi không thể nào hiểu nổi ai đó ở bộ Giáo dục lại đưa ra ý tưởng lập một trường trung học toàn nữ. Sự mất thăng bằng về giới tính trong nhà trường dễ dẫn đến những hậu quả tai hại về học tập, sinh hoạt về vấn đề tâm sinh lý…”. Câu tổng kết kinh nghiệm mới mẻ kia được phát đi từ miệng anh thầy giáo non choẹt mặt mũi, non choẹt tuổi nghề, được đón nhận bằng những ánh mắt trái ngược nhau và đều có ngầm ý cho rằng ông đang nói trên vị trí của anh đồ gàn của nhiều thế kỷ trước còn sót lại. Nhưng với ông, lúc đó hoàn toàn chính xác đến từng ly mét. Một thầy giáo mới ra trường, tuổi tác so với học trò chỉ cách nhau năm ba tuổi, có thể gọi là cùng thế hệ đã dẫn tới nhiều hệ luỵ rất trẻ con.
Chất trẻ con đầu tiên ông đụng mặt là những câu tấn công tình cảm vu vơ trên bảng, đánh lừa người khác bằng cách viết tay trái. Thỉnh thoảng lại nhìn thấy một cánh hoa dại bứt vội đâu đó trên đường tới trường đặt trên bàn kèm theo mảnh giấy “gửi đến thầy với trái tim tan nát”, một tờ giấy pelure màu hồng sực nức nước hoa và những vệt nước nhoè trên mặt giấy mà ông đoán chắc là những giọt nước từ chiếc vòi ngoài sân cỏ. Nhưng khủng khiếp hơn cả là khi ông giảng về phong trào thơ mới ở Việt Nam. Hàng chục cánh tay giơ lên, nhao nhao tranh luận, đặt những câu hỏi phản biện như đùa như thật:
-Thưa thầy, tại sao yêu là chết trong lòng một ít? Vô lý, không yêu nhau thì thôi chớ chết chi cho uổng? Sao ông Phan Khôi tự dưng đặt tên bài thơ là tình già, tình già khác tình trẻ chỗ nào, thầy? Lại còn liếc nhau con mắt còn có đuôi, bộ như đuôi chim đuôi gà hay kiểu tóc đuôi ngựa tụi con gái thời nay? Ông Nguyễn Bính so sánh khập khiễng: Nắng mưa là bệnh của trời/tương tư là bệnh của tôi yêu nàng. Dạ, cứ cho là bệnh đi, nhưng so sánh với mưa nắng thì nhà thơ dở ẹt… Dạ, thưa… có bao giờ thầy tương tư, thầy chê…ết… chưa ạ? Tiếng cười ồ đồng loạt nổi lên. Tôi lúng túng thật sự. Lúc đó tôi không còn là ông thầy nghiêm trang nữa, mà quay lại đúng vị trí anh thanh niên vừa tròn 23 tuổi mụ, đang bị bao vây bởi một bầy thiên nga lông trắng, nhao nhao bên dưới. Rất khó khăn tôi mới lập lại được trật tự. Và, cũng chừng ấy khó khăn, tôi bình tĩnh giải thích, cắt nghĩa rành rẽ về cấu trúc ngôn ngữ thơ ca, về tứ trong một bài thơ… đến khi chấm dứt giờ học, thay vì những tiếng cười ồ trước đây là những tiếng vỗ tay bôm bốp, kèm theo: “Ôi, thật tuyệt vời, thầy đáng yêu quá… Chúng em yêu thầy…”.
Chuông đổ, tôi thu gom tài liệu trên bàn, vụt ra cửa như một chiến binh bị địch truy đuổi phía sau. Những tiếng la í ới, tiếng đập bàn như thể những phát đạn bắn với theo.
*
Bầy thiên nga lông trắng ngày xưa với giấc mơ lỏng lẻo từ trời cao rớt xuống, cách một đại dương mênh mông, nếu dừng lại ở đấy thôi cũng đủ làm ông nhồn nhột, huống chi ba ngày sau cuộc nói chuyện bất ngờ trên điện thoại, lại có một bức thư khác ở một địa chỉ e-mail khác, viết rằng: Thầy có biết thầy là người vô tình không? Con Mai yêu thầy đến phát cuồng. Nó yêu thầy ngay từ ngày đầu thầy nhận lớp. Đã chồng con đề huề, nhưng mỗi khi nhắc trường xưa bạn cũ nó lại khóc ròng nói nhớ thầy. Nếu hồi đó mà thầy biết sự tình, giờ này chắc tròn trịa. Thầy có tưởng tượng ra nó chưa? Con Mai đẹp nhất trường, kiêu kỳ nhất, đa cảm nhất… và yêu thầy nhất… Ông tắt cả hộp thư, shut down máy. Đầu óc váng vất, mệt muốn đứt hơi với mớ chữ vừa đọc.
Ông xô ghế, rót cốc nước lọc, uống từng hớp nhỏ. Thần kinh dịu xuống đôi chút. Lúc sau ông thừ người ngồi nhìn chiếc laptop mỏng dính im lìm trên bàn: lẻ loi, cô độc bởi ông không đụng đến nó; im lìm như người có lỗi bị xua đuổi. Trong đầu bổng dưng lóe lên một ý nghĩ không mấy bình thường: nếu như ông biết sự thể kia, nếu như ông chấp nhận mối tình của cô bé học trò, nếu như hai người lấy nhau… thì giờ này ra sao nhỉ?
Những chữ “nếu” kéo dài và dính cục lại, bồng bềnh như cánh những con chim thiên nga lông trắng muốt trên trời cao vẫy những giấc mơ đẹp bay theo. Ông nhắm mắt lại và ngỡ như mình đang bay đuổi theo những cánh thiên nga trắng muốt kia.

Nguyễn Lệ Uyên
Tháng 5/2010

Hạc Thành Hoa: những ám ảnh trăng vàng nguyệt.

nguyenleuyen

Đến nay, Hạc Thành Hoa đã có 4 tập thơ được công chúng đón nhận: 2 trước năm 75 (Trong Nỗi Buồn Vàng, Một Mình Như Cánh Lá), và 2 sau 75 (Khói Tóc, Phía Sau Một Vầng Trăng).
Ở 2 tập trước do Văn và Giao Điểm ấn hành là những bài thơ viết về tình yêu, về thân phận con người luôn cô đơn trong nhịp sống ồn ào phố phường và bụi phấn, về những thấp thỏm trước cuộc chiến đang hồi lan rộng cùng nỗi ám ảnh về cây súng, quân trường, ba lô, giày trận…
Thời kỳ sau là sự thay ngôi đổi chủ đột ngột, phũ phàng, cứ ngỡ ông sẽ có những vần thơ véo von chim hót một bầy trước cung đình tráng lệ như một số (không nhiều) nhà thơ khác, nên tôi cố công đọc 2 tập sau, cố công “bới lông tìm vết” vì đầu óc luôn nghĩ đã là nhà giáo ưu tú được phong tặng, hẳn nhiên giọng điệu thơ sẽ có khác đi.
Đọc mãi, tìm mãi cũng chỉ có những rung động tơi tả trước sau, luôn tự nhìn chính mặt mình với cô đơn bất khả, luôn chất chứa những ưu uất trong lòng. Những cô đơn và ưu uất kia thánh thiện và thuần khiết như những giọt sương long lanh buổi sớm mai được dẫn dắt bởi nguyệt, trăng cùng với màu vàng buồn thê thiết.
Có thể nói, cả 4 tập thơ đã ấn hành của ông luôn thấp thoáng Trăng là Nguyệt là màu vàng rụng xuống hồn ông. Có cả hàng chục tựa bài thơ và hàng trăm câu thơ dát bóng trăng lạnh xa gần chiếu dọi như là những nỗi niềm trải dài, che kín cả một màu chia ly ở đôi bờ khắc khoải, nhớ nhung. Chừng như với ông, Trăng là nỗi ám ảnh một kiếp lưu đày, là nguyệt vàng nhuốm màu thời gian trước và sau của những mất mát, tìm kiếm, khao khát… vây phủ cả đời cuộc ông vậy. Trăng với ông là mối tình câm lạnh. Nguyệt vàng trăng là tâm cảm triền miên những con sóng vỗ vào bờ đá “tình người”:
Tình người bờ đá trăm năm
Sóng tình tôi cuộn trên dòng nước trôi
.
(Trên bờ đá tình người)
Bờ đá không còn là ẩn ngữ với ông, trong thơ ca, mà chính là hiện hữu phận người. Đó cũng là nỗi cô đơn của thời gian không thể đo đếm bằng những con số hữu cơ và phải chăng “tình” trong uẩn khúc nguyệt vàng trăng cứ mãi mê trườn cuộn trên phận người “trăm năm cô đơn” kia?
Nếu như những ngày lang bạt ở sông nước miền Tây, không gặp ông, không ăn đậu ngủ nhờ ở căn gác trọ của ông thì tôi không thể tin nổi ông là một con người đa cảm, đa đoan đến vậy. Mà căn gác ấy, căn nhà bên con rạch Cái Sơn, Sa Đéc đâu chỉ riêng mình tôi, còn có cả Vũ Hữu Định, Nguyễn Tôn Nhan, Hà Nghiêu Bích, Yên Bằng… kẻ trước người sau đến với ông như chút ấm áp của những que củi nhỏ buổi tàn đông, như hơi thở nguội sau những đêm dài đông cứng những cốc rượu tràn. Căn phòng nhỏ nhìn ra con rạch êm đềm, đầy bóng râm mát, đầy tiếng tiếng ve trên những tàn cây cổ thụ và tiếng đàn và thơ. Thơ như khí trời bám khắp bốn bức vách loang lổ, đổ xuống nền gạch tàu, treo lủng lẳng trên xà ngang, ám vào mái ngói âm dương rêu phong. Thơ quấn quít bên kệ sách, ngập ngừng chao lượn trên sàn gạch màu lá bàng bay lơ lửng trong không. Tiếng mái chèo quẫy nhẹ như chiếc vây bơi con cá chẽm bên dưới dòng Cái Sơn. Xa hơn chút, tiếng máy đuôi tôm khua động mặt sóng sông Tiền. Và nữa, tiếng đạn pháo ngoài lung xa, vũng sáng nhơm nhớp hỏa châu che khuất ánh trăng… đã đẩy ông vào góc tường tróc lở từng mảng vôi. Ông rưng rưng sợi dây đàn căng. Ông ngậm ngùi lưng tròng nhìn qua dòng sông đang với tay níu choàng con rạch nhỏ đặc sệt một dòng trăng vàng thấu đáy (nhưng cái đám bằng hữu “nhìn thấy cơm sôi chợt nhớ nhà” kẻ trước người sau, lần lượt quay về xó cũ bỏ ông lại một mình với cảnh “Gã giang hồ vẫn gác trọ cô đơn…Thân ta đôi lúc cơn gió lạnh/Thổi tạt mùa đông xuống đáy mồ”!).
Khoảng thời gian ấy, không bao giờ những vò rượu Lai Vung, Lấp Vò nhấn lút được những câu thơ từ chốn sâu thẳm tâm hồn ông tha thướt bước ra như một thiếu nữ khuê các. Nàng đẹp đến não nùng. Nàng Lục Bát của ông khoác áo màu hoàng yến tắm trăng. Mảnh xiêm y rơi nhẹ. Trăng ướt đẫm nàng, ve vuốt nàng rồi trần truồng phơi ra những thiên hà ngập ngừng bên cạnh con nước sông Tiền lên xuống.
Bên kia con rạch là Trăng vàng và bên này là nhà thơ, để trăng chụp úp lên thơ, quấn quít nhau hơi thở dồn dập của đôi tình nhân.
Một đời con suối lang thang
Mây thu cánh mộng trong khoang thuyền tình

(Vàng đôi cánh biếc)
Màu trăng lạnh huyễn hoặc kia chừng như không bao giờ rời xa ông, chỉ vì nó thật gần, cách nhau bằng tiếng thở của con sóng nhỏ lăn tăn, cách nhau chỉ mấy bước chân ngập ngừng, nửa quen nửa lạ. Lúc trăng xa, ông ngỡ như gần. Lúc trăng ẩn nấp đâu đó trong khoảng lặng của thời gian thì ông tưởng như Trăng đã Vàng Nguyệt rời xa ông mãi mãi, khiến ông sợ hãi cái thời khắc kinh khủng kia, thời khắc của mộng mị và những ảo giác mệt nhoài trong cơn mê lú, để, khi tỉnh lại, nỗi trống vắng càng lồ lộ như cảnh “người đàn bà ngoại tình” của Alberrt Camus trên terrasse quán trọ vùng sa mạc cận Alger, một mình, hoàn toàn cô độc. Nếu như người đàn bà của Camus cô đơn giữa bầu trời đầy sao trong đêm sâu thăm thẳm, thì ông, Hạc Thành Hoa bị người tình là Trăng vàng Nguyệt kia quay gót, bỏ lại cái hình hài thực giữa muôn trùng giun dế về đêm.
Hồn từ giã biệt cơn mê
Trăng đi bỏ lại bốn bề quạnh hiu
Đèn lu lòng ngại không khêu
Sợ trăng lên cánh rừng treo áo vàng

(Trong cánh rừng thiên thu)
Trăng vàng Nguyệt cũng giống như cái ảo giác mộng mị chìm lún trong cõi chiêm bao khiến ông cứ rơi mãi rơi hoài vào chiếc hố đen ngòm chuyển hóa từ cái màu vàng đậm đặc và huyễn hoặc kia.
Mù mưa trắng xóa chiêm bao
Mây qua biển rộng non cao tiếp trời
Áo em vàng nửa hồn tôi
Ngồi ru nắng mỏng trên đồi cây khô

(Mù khuya tiếng vạc lưng trời)
Câu thơ sang trọng, đẹp khiến tôi cứ ngỡ như bên tai vang lên điệu slow ngập ngừng, buồn man mác cùng mảng màu vàng muôn thuở trong những bức tranh của Van Gogh.
Không rõ Trăng đã nói gì, hẹn hò gì với ông mà ánh mắt và cõi lòng luôn ném về chốn xa xăm đến nỗi ông bị mất thăng bằng, từ hẹn hò mộng tưởng chuyển thành nỗi tuyệt vọng như thể Trăng đã phụ tình ông.
Tìm em sau giấc mơ tàn
Mùa thu nếp áo nguyệt vàng trong mây

Đêm đêm gió chở trăng đầy
Rơi theo nước mắt từng bầy sao khuya

(Trong tà huy bay)
Ông chưa hề phụ mảnh tình thoi thóp Trăng vàng Nguyệt, mà chỉ có trăng vàng nguyệt lạnh hờ hững với ông, từ cõi nào xa tít ông phải mãi kiếm tìm, như thể kẻ bị sa lầy. Đã một lần ông sa lầy khi chọn nghề dạy học ( nghề giáo là một nghề sa lầy – Camus), ngày hai buổi rút hết kiến thức phơi ra trên bảng đen; rồi lại phải làm kiếp “con tằm nhả tơ” khiến sự sa lầy nơi ông càng quay quắt, khốn đốn hơn.
Nay còn lại trong tay nùi giẻ rách
Đời mòn theo từng viên phấn ngu ngơ
Hồn ta rộng mà chỗ ngồi quá chật
Suốt một đời không vẽ nổi ước mơ…
…Chiều hôm nay không dưng buồn quá đỗi
Ta hôn mê đầu gục trước bảng đen
Khu trường rộng một bãi lầy quá lớn
Ta thấy mình ngày một lún sâu thêm

(Bậc thang thứ nhất)
Hay:
Mười năm bụi phấn hòa nước mắt
Đem đắp thành pho tượng thạch cao

(Pho tượng thạch cao)
Có thể tạm mượn tựa những “Điêu tàn, Mê hồn ca…” để làm nền lý giải cho một giai đoạn sáng tác trước 75 của Hạc Thành Hoa, giai đoạn của những u uẩn vì thất vọng, vì hoài nghi, vì những âu lo hoảng loạn màu hỏa châu che lấp nguyệt vàng, nên trong hồn ông, hình như chỉ còn khoảng không hẹp của sự thoi thóp, dãy dụa: “Trăng úa vàng hấp hối giữa cô đơn” hay “Từng đêm trăng múa trên đầu sóng/Trăng cười khiêu vũ với yêu ma/Men nhạt không mờ đôi mắt héo…Nghe trời tê dại nhớ thương em”.
Những yêu ma, men nhạt, mắt héo…có thể không còn là những mảnh vỡ lăn tăn nhạt nhòa mà là những mảnh vỡ quặn đau, tê điếng thẩm nhập tận cùng nơi sâu thẳm tôm hồn ông: Vì bên kia sông Trăng vẫn vàng Nguyệt còn bên này sông thì Nguyệt bắt đầu che khuất ánh trăng vàng! Một bên vẫn rực rỡ tung tăng một khoảng không vô tình đến trống rỗng, còn một bên thì vỡ tung những khối u lạnh câm. Kiêu sa hay hờ hững dáng cao sang?
Nàng Trăng luôn ám hồn ông là ai để đến nỗi thành những ám ảnh nặng nề trong suốt quãng dài thời dài rộng đến mênh mông, đến vô cùng tận? Trăng là Nguyệt là Trăng viễn mộng chăng?
Ông yêu tha thiết cái màu vàng trăng là nguyệt kia đến độ gần như phát cuồng
Có con rắn lục nằm trong lá
Rít một hơi dài lạnh buốt xuân…
Trăng bỏ người đi đêm nguyệt tận
Ly rượu hề môi chạm tảng băng…
Ai mang áo lụa vàng năm ấy
Mỗi cánh mai giờ một nỗi đau

(Đêm nguyệt tận)
Ông viết bài này năm 1990 bằng những hồi tưởng về một nỗi đau, mất mát đã ám suốt cuộc đời như lớp bồ hóng đen bóng trên gác bếp. Ông như một người chiến binh ngoài mặt trận, đang ngã ngựa. Bóng trăng đã xô ông té nhào đến thê thảm:
Ta chẳng còn là mây mùa thu trước
Em không còn là trăng của thu xưa

(Lại một mùa mưa sắp đến)
Không, rõ ràng ông không là một Hàn Mặc Tử thứ hai để say trăng, để điên vì trăng. Bởi màu trăng của Hàn Mặc Tử là màu trăng huyết, nhuốm đỏ cả khung trời, trước mắt nhà thơ. Đó là những cơn đau đớn vật vã đến cuồng loạn. Còn trăng của Hạc Thành Hoa là màu trăng của “Áo lụa Hà Đông, là trăng hoàng yến, là cánh mai vàng… Nó có đó, thật gần trong cái với tay nhưng lại vô cùng xa cách để cuối cùng, màu Nguyệt vàng Trăng ấy biến những khoảng cách nồng nàn kia trở thành những cơn mộng huyễn. Ông đuổi bắt, tìm kiếm hình bóng lay lắt có không kia đến mỏi mòn…
Ông đi tìm bóng, mỏi mòn tìm bống đến hụt hơi.
Ông say mộng chỉ vì say nhan sắc màu trăng, theo ngày tháng đã tẩm liệm hồn mình.
Ông say trăng trong cõi mộng mị ta bà suốt những năm tháng dài.
Cuối cùng ông say thực:
Thức ăn và rượu đều ra hết
Còn lại trong ta một nỗi buồn
Nỗi buồn lớn quá xô ta ngã
Nằm dài như xác chết chưa chôn

(Cơn say tuyệt vời)

Sau năm 75, cũng như bao nhiêu nhà văn khác, Hạc Thành Hoa bị rơi vào vùng hẫng hụt của những nghị quyết, bo bo, sắn mì… Cả bối cảnh xã hội và hoàn cảnh cá nhân đã đặt ông vào tình cảnh trì trệ, đầu óc khô cứng. Dẫu vậy ông vẫn cầm bút và tiếp tục viết, để cuối cùng cũng cho ra mắt độc giả 2 tập Phía Sau Một Vầng Trăng và Khói Tóc. Song thú thật, khi đọc tôi có cảm giác như thơ ông đã sắp ngừng hơi thở những cơn mộng mị đẹp, đối mặt với thực tế có phần khắc nghiệt hơn nhiều, bởi hoàn cảnh xã hội đã chọn chúng ta chứ chúng ta không có quyền chọn lựa gì cả. Cái quyền thiêng liêng bất khả kia giống như ngọn đèn cạn dầu, leo lét.
Thơ ông như mất đi một phần của nàng thơ mà ông đắm đuối một thời, chỉ còn một chút tròng trành trước mắt, chia sẻ với bạn bè đồng cảnh; chút đìu hiu về một nỗi nhớ xa gần hay ghi lại những cảm xúc trong những chuyến đi xa: Sơn Trà, Hội An… rồi lộn vòng về cố xứ đồng bằng sông nước mênh mông. Thỉnh thoảng ông vẫn nhớ đến Trăng, nhưng Trăng lúc này, với ông bắt đầu sứt sẹo, mất đi một nửa Trăng vàng Nguyệt.
Ở đây trăng chỉ còn một nửa
Nửa kia ở mãi tận phương nào

Tỉnh dậy chỉ còn trăng một nửa
Nửa còn lại bỗng hóa phù vân

(Trăng một nửa)
Rồi ông phải tự kêu với chính mình, trong cơn mưa, ở một ngóc ngách nào đó trên đường phố Sài Gòn rất quen mà hóa lạ!
Em biết không
Ở đâu anh cũng là người khách lạ
Ở đâu cũng không phải quê hương
Em ơi! Làm sao em biết được
Một gã ưu du
Cứ đi cứ đi như kim đồng hồ chạy ngược

(Nói với mình trong khi trú mưa)
Ở một đoạn khác:
Chỉ còn con cù lần biết lấy tay che mặt
Những con két đến đây từ một nơi rất xa trên trái đất
Đang gửi hồn về xứ sở quê hương

(Buổi trưa ở thảo cầm viên)
Đó là tâm trạng chung ta thường thấy trên các trang viết sau này của nhiều nhà văn chân thật
Và cuối cùng đành bất lực, phải thú nhận:
Suốt đời đuổi bắt một vầng trăng
Chưa có được một lời ngợi ca người vợ trẻ
(…)
Bên anh có một nàng tiên dịu dàng là thế
Mà cứ miệt mài đuổi bắt một vầng trăng

(Tạ lỗi cùng người vợ trẻ)
Như vậy là chấm dứt một chặng đường mộng mị bên cạnh những tân toan mà trước đây có lần ông thốt lên đầy đau đớn.
Mai tôi chết nhưng vầng trăng còn đó
Vẫn dịu dàng trông xuống nấm mồ tôi

(Vẫn còn vầng trăng…).
Đúng là cái hồn cái phách trong thơ ông vẫn vậy, ở hai tập sau, nhưng chất sâu lắng của nó thì tan ra thành lớp khói mỏng, không phải màn sương đêm dát trăng vàng nguyệt như trước. Có lẽ cũng tại “vì ai gây dựng cho nên nỗi này”. Phải vậy không?

NGUYỄN LỆ UYÊN
( Trang Sách Và Những Giấc Mơ Bay, Thư Ấn Quán XB 2012)

Hạc Thành Hoa tên thật: Nguyễn Đường Thai Sinh quán tại Xuân Phổ, Thọ Xuân, Thanh Hóa. Giáo sư Việt văn Trung học Sa Đéc, Lương Văn Can Quận 8, Thị xã Cao Lãnh. Ông làm thơ từ năm 1961, đã đăng nhiều thơ trên các báo, tạp chí văn học miền Nam trước năm 1975 .
Tác phẩm đã xuất bản:
+ Trong nỗi buồn vàng (Nguyễn Đình Vượng, tạp chí Văn Sài Gòn – XB – 1971).
+ Một mình như cánh lá (Giao điểm Sài Gòn xuất bản – 1973), tái bản (Thư ấn quán Hoa Kỳ xuất bản) 2006.
+ Phía sau một vầng trăng (NXB Thanh niên – Hà Nội – 1995).
+ Khói tóc (NXB Lao động – Hà Nội – 1996).

Cưới vợ ăn Tết

nguyenleuyen

Trước ngày giỗ cha, chị Đông giở máy, thong thả gọi cho từng người: các em phải về trước một ngày để phụ với má, không được đứa nào vắng mặt. Tám cuộc gọi được phân đều chừng ấy từ không hơn kém Có lẽ không phải do chị tiếc tiền khi phải nói nhiều mà, chỉ vì ngắn gọn thì quyền uy được khẳng định một cách rõ ràng hơn? Và dù là gái đã xuất giá nhưng là chị cả nên cái sự quyền huynh thế phụ được chị thâu tóm và phát huy đến mức tối đa trong gia đình có tới tám cô con gái nắm bím tóc nhau, kẻ trước người sau lần lượt ra đời để reo vui, bổ sung thêm quân số cho bà Trưng bà Triệu. Còn tôi là đứa con trai duy nhất được chắt mót như anh dân nghiện ngửa cổ, dốc đít chai cho rớt vào họng giọt cuối cùng của bữa rượu tàn. Tuổi tôi chỉ nhỉnh hơn đứa con gái đầu chị Đông có sáu bảy năm. Đó cũng là lý do để đôi lúc chị giả tảng không coi tôi là đứa em út ét mà đối đãi ở hàng con cháu!
Lệnh điều động của chị được mọi người răm rắp thực hiện giống như một cuộc dạo chơi tình cảm. Chị Ty về trước tiên trên chiếc Civic bóng loáng với những bánh trái chật cốp sau. Trong khi chồng kệ nệ bưng những túi nặng thì chị ngó nghiêng, miệng hát nghêu ngao bài Back to Sorento, như thể hai ông bà vừa lái xe từ vạn dặm về chốn quê nhà? Sau đó chừng nửa tiếng, chị Khảnh bước xuống taxi với chiếc bụng vượt quá mặt, lặc lè ôm bụng và ôm bó hoa ly to tướng khó nhọc bước vào sân. Chị Nam đi xe máy đèo theo chị Sâm lủng lẳng giỏ trái cây. Ba bà còn lại có lẽ đang ở trong cái spa nào đó để ủi mặt, duỗi tóc trước khi về sì sụp lễ cha, và câu nói cửa miệng của ba bà này sẽ là:cuối năm, công chuyện cơ quan ngập đầu. Câu nói sẽ bay xẹt qua lỗ tai các ông chồng mang bộ mặt thoả hiệp và đồng cảm với công chuyện bộn bề giả hiệu của vợ trước khi lọt vào lỗ tai má tôi. Chị Minh áp út, đẹp nhất nhà dắt tay ông anh rể vừa mới cưới nhau cách không lâu, như thể nếu chị không cầm tay anh dẫn đường thì rất có thể anh sẽ nhầm chị Minh với ai đó trong nhà, giả hoặc anh không biết lối nào vào nhà mà không lộn qua nhà hàng xóm? Cách thể hiện tình yêu của anh chị Minh, chính yếu là chị Minh, có hơi vẻ sên sến, cải lương một chút nhưng lại thích hợp với khung cảnh trời mây ở đất quê đồng nội nếu chỉ duy nhất có hai người trong khoảng không gian này.
Thường ngày căn nhà vắng teo, đã rộng càng thênh thang hơn khi chỉ có má và tôi; còn giờ này thì ồn ào, náo nhiệt cứ như đám đông người đang chen lấn nhau xem hát áng. Mỗi năm chỉ duy nhất có hai lần được làm ồn là dịp giỗ cha và ngày tết. Nhưng hai cái ồn cũng hơi khang khác tí đỉnh. Cái ồn trước có chút ngùi ngùi vì mùi nhang, mùi khói đốt vàng mã, thỉnh thoảng vài giọt nước mắt bị dồn nén trước kia nay được dịp rịn ra tựa như nước lỗ mọi rỉ ra từ bờ ruộng cao làm đậm thêm màu đỏ đôi đèn sáp nhểu giọt ngập ngừng trên bàn thờ. Còn cái ồn sau là tiếng cười của ba thế hệ cộng lại thành niềm vui cùng những hạnh phúc riêng tư khoe mẽ, theo thông lệ muôn thuở: đầu năm mới chỉ có vui cười. Có buồn cũng phải giấu kỹ dưới đít giường chờ ra giêng!
Lúc tôi bưng nia lá gói bánh ngang qua chỗ chị Đông ngồi xào nhưn trên bếp lò, chị liếc tôi buông thõng một câu kiểu anh chận vịt ném cây sào cắm sâu sau đít bầy vịt đang lội qua ranh giới hạn: “Mày thì liệu cái thần hồn”. Tôi giả bộ như không nghe chị nói gì, quay ngoắt lại định bụng kéo anh Minh ra quán đầu ngõ.
– Này không nghe thiệt hả?
– Chị bảo gì ạ?
– Giỏi, giống cha in đúc, chỉ khéo cái giả lơ. Nói cho mà biết, kỳ giỗ này tao mời chị tư Lam và cái con bé đó sang ăn giỗ cha. Nghiêm túc một chút đừng có trẻ con nữa.
– Chị mời ai thì ảnh hưởng gì tới em? Bộ chị tưởng em tiếc đôi đũa, cái chén sao?
Chị Đông gõ đôi đũa xào nhưn đang cầm trong tay lên vành chảo kêu rừng rực như người mắc cụt:
– Sao? Nói vậy mà nghe được à? Hăm tám hăm chín rồi, nhỏ nhít gì nữa. Có nghe nói tam thập nhi lập không? Đâu còn là đứa trẻ con? Cũng phải vợ con rồi lo làm ăn chớ bắt ai nuôi mãi.
-Thì em làm việc em nuôi em chứ ai nuôi em?
-Còn má?
-Má sao?
-Ai chăm sóc?
-Chớ ai vô. Tám bà cộng lại thì được mấy ngày trong ba trăm sáu lăm…
-Á, à dám trả treo, lại bày thói phân bì chứ gì? Em lôi đâu ra cái kiểu ấy về nhà này, hả?
-Thì rõ vậy chớ còn gì nữa.
-Không đôi co. Các chị và má đã quyết rồi.
-Quyết cái gì?
-Mời chị Tư và con bé đó qua chơi nhà, tiện dịp mấy chị mày coi mắt luôn – Chị Đông xuống giọng – Hiền, đẹp, nết na, tốt nghiệp khoa Văn loại khá. Hợp, chị nghĩ rất xứng đôi. Chỉ ngặt nỗi chị Tư hơi nhỏ hơn má tới hơn hai chục tuổi, nhưng không sao. Má nghe nói đã ưng rồi –
Tôi cười thầm sao chị không nói bằng tuổi chị có dễ hình dung không, nhưng sợ chị giận, bèn nói ngang:
-Thích thì chị lấy cái con nhỏ gì đó đi, can dự gì đến em? – Nói và tôi bỏ đi.
Chị Đông há hốc miệng nhìn theo như thể tôi đang hoá kiếp từ con người bình thường sang loài động vật khác một cách từ từ, thong thả nhẩn nha, thong thả hoá kiếp. Dưới mắt chị lúc này, có lẽ tôi là con tắc kè trên ngọn cây, đổi màu và lẩn nhanh đâu đó ngay trước mắt không thể nhìn thấy?
Anh Minh thấy bộ mặt nhăn nhó của tôi ngoài thềm giếng, bèn lên tiếng:
-Kỳ này em bị khủng bố nặng rồi.
Tôi không phản ứng, bỏ ngay ý định rủ anh ra ngồi quán.
2. Má tôi đứng trước bàn thờ lâm râm khấn vái những gì đó thật lâu. Khói nhang quyện đặc gian thờ. Những chân nhang trong bát hương đỏ thẫm, hai cây nến đỏ thẫm, màu sáng cây đèn hột vịt phải nhờ đến ngọn néon mới nhìn rõ ảnh thờ cha tôi treo trên cao, phía dưới giá đỡ tượng Phật bà Quan Âm. Vẻ đẹp trai, phong lưu vẫn rung rinh đâu đó trên khuôn mặt chữ điền, đôi mày rậm, miệng như nở nụ cười từ bộ râu vểnh ngược, nom giống một quí ông ở thời kỳ Phục hưng. Khổ nỗi, hình ảnh bộ râu quí tộc bị chiếc khăn xếp và áo dài hoa văn chữ Thọ trên bức chân dung đã phá cách vẻ đẹp mã một cách khó coi, không hợp với khuôn mặt luôn nhìn thấy điều gì cũng dung dị, đẹp; đời cứ như bông hoa không bao giờ tàn vậy. Bức chân dung ấy còn mang cả đôi mắt sáng ngó thẳng về phía con, rể đứng sắp hàng kẻ trước người sau, như muốn nói: Cha rất hài lòng vì các con. Đôi mắt ấy cũng ngó về phía má tôi và nói thật to: Dù anh đang ngồi trong khung kính nhưng tim anh vẫn dành trọn cho em. Tôi nghĩ, rất có thể má có nhìn thấy và nghe được những điều này qua linh cảm, vì thỉnh thoảng má đưa tay lên mắt, thỉnh thoảng sụt sịt. Có thể là do khói nhang nghi ngút, có thể là má nhớ thực lòng. Không nhớ, không thương yêu nhau sao lại khóc, lại lắm con thế?
Tiếng nói nhỏ nhưng vang như tiếng chuông khiến ngọn nến đang cháy thẳng đứng bỗng lay nghiêng, chao qua trái qua phải chực rụng xuống bàn: Mẹ ơi, khói ngợp thở quá mẹ ơi! Tiếng chị Sâm quát khẽ: Im, ráng thêm chút nữa, đừng ồn. Lại một giọng nữa cất lên, giọng con gái: Đói quá mẹ ơi, cúng gì lâu thế?
Khối đám đông con cháu trước bàn thờ cha tôi từ tư thế nghiêm trang bổng rục rịch, chuyển động tại chỗ, chỉ thấy phần trên. Vậy chắc cũng đủ để cha tôi thấy được sự ấm cúng hạnh phúc của gia đình nếu ông còn có thể nhìn thấy từ bức ảnh lồng kính, treo trên cao?
(…) Lễ cúng trôi qua chậm chạp như khúc bi ca lỗi nhịp và kết thúc bằng những cái vái lạy, vàng mã đốt khói um đầy nhà, muối gạo ném vãi trắng sân. Khách khứa đã tới gần đủ. Các chú bác, những người thân trong gia tộc đâu hơn mươi người được chị Đông sắp ngồi ở chiếc bàn tròn lớn ngay đầu hồi tây, nơi trước kia cha tôi và các chú bác hay ngồi nhâm nhi ly rượu, tách trà nói chuyện đông tây. Anh Đông và anh Ty thay mặt gia đình ngồi tiếp. Gian phòng khách ở dưới bày một bàn khác có má tôi, cô Sáu, các anh chị và hai mẹ con bà bạn chị Đông.
Thừa lúc mọi người không chú ý, tôi vẫy Khôi, con chị Sâm ra chỗ để xe. Thích quá, nó hét to: dạ để con tìm chiếc mũ. Tiếng la của nó khiến mọi người chú ý. Và vì tôi là nhân vật đang được canh giữ cẩn mật, nên khi tiếng thằng bé vừa dứt, chị Đông đã đứng sát cạnh như bà nữ cảnh sát hình sự đang tác nghiệp: Mày làm cái trò gì vậy, thằng khỉ? Tôi nghe hai hàm răng chị riết lại thành tiếng: vào nhà ngay. Khôi chưng hửng, nhùng nhằng kéo quần tôi, còn chị Đông thì ép sát người níu dây thắt lưng đẩy tôi vào nhà như đẩy tên tử tù lên xe cây. Thôi đành lòng vậy, tôi thầm nhủ.
Chị ấn tôi ngồi xuống chiếc ghế trống, giữa chị Khảnh và chị Quế, đối diện với mẹ con bà Tư, cố ý để hai phía “đối tác” có thể nhìn rõ mặt mũi,cử chỉ của nhau. Chị Đông mào đầu bằng những câu nghi thức vòng vèo từ thời ông Bành Tổ, Khổng Tử rồi mới vào phần chính là trước ăn giỗ sau để quen biết, thân tình nhau hơn. Tôi xoay xoay cái chén trống trơn ước chi chị biến ngay thành đàn ông thì cái nhà này đỡ đi nhiều việc, ít nhất là không phức tạp hoá mọi chuyện.
Bình thường, những khi cả nhà họp mặt đông đủ thì đến cả chén đũa, ghế đẩu cũng rung rinh cười theo tiếng cười của tất cả mọi người, đến cả má cũng hào phóng tham gia. Còn bữa nay, phần bắt đầu theo nghi thức ngoại giao khiến không khí nặng nề; tiếu lâm như chị Quế, chị Sâm cũng ngồi cắm đũa giữ lễ.
Thấy chị Đông to nhỏ gì với bà Tư, tôi chợt nghĩ và đứng dậy cầm ly bia:
-Con mời má, mời chị Tư, mời cô và các anh chị…
Chị Đông giật thót người, thiếu chút nữa là đánh rơi đôi đũa xuống đất. Chị há hốc miệng nhìn tôi rồi ngó lên trần nhà. Tôi thấy mặt chị tái đi đến tội nghiệp. Chị Quế huých khuỷu tay vào hông tôi, nói nhỏ “điên”. Tôi đá vào chân chị có vẻ hơi mạnh, chị đau suýt bật thành tiếng la, trong khi những ly bia cứ lưng lửng trên tay một cách khó hiểu.
Thật lòng, tôi không có thành kiến gì với mẹ con bà bạn chị, nhưng do cung cách thái quá của người chị kiêm bảo mẫu khiến tôi trở thành thằng nhỏ thật sự. Giây phút đăng đắng trôi qua như những ngụm bia đang ngắt ngứ trôi lọt xuống bao tử.
Không khí vui vẻ được nối trở lại. Mọi người xúm vào vừa hỏi thăm mẹ con bà Tư vừa gắp thức ăn chăm chút cho hai người như cố xoá lấp phần lỗi không đáng có do tôi gây ra lúc nãy.
Giờ tôi mới để ý quan sát hai mẹ con bà bạn chị Đông. Bà ta trạc tuổi chị, lưỡng quyền hơi cao, đôi mày được chăm sóc quá kỹ khiến mỗi khi bà cười, các nếp nhăm dưới khoé mắt dính sát vào đuôi chân mày một cách khó coi. Có lúc tôi tưởng tượng phía đuôi mày là phần ngọn của chiếc cần trúc đang lòng thòng với dây nhợ lưỡi câu bên dưới. Tuy vậy bà có duyên nhờ chiếc miệng lúc nào cũng muốn cười với tất cả những ai đang đối diện với nó. Cô con gái chắc bằng tuổi hoặc hơn Hà My – con gái đầu anh chị Đông – chút đỉnh; nước da màu bông bầu, mũi cao, mắt sáng, khuôn mặt trái xoan, phúc hậu; nhưng hình như phía dưới khoé mắt có nốt ruồi nhỏ bị cố tình che lấp bỡi lớp phấn dày. Nếu quả thật đây là nốt ruồi thì cô ta bị liệt vào hàng ngũ của đám phụ nữ có số trích lệ khấp phu, theo như quyển sách tướng số phụ nữ mà tôi đã đọc ở đâu đó ? Loại phụ nữ này, ngày xưa ông bà rất kiêng kỵ, còn thời nay có thể sẽ khác đi. Nhưng đó sẽ là cái cớ để thoái thác, để nói với mọi người rằng: tôi là con độc đinh, thuộc loại quý hiếm của gia đình cần bảo vệ, không thể biến tôi thành vật hiến tế dưới bàn tay cô ta được. Tóm lại là không thể vợ con.
Thật lòng mà nói, tôi không ác cảm gì với cô ta và cũng không thấy có điều gì làm xốn xang cõi lòng, chỉ thấy cô lẻ loi, tội nghiệp, khép nép trong không khí không bình thường.
Thấy tôi chú ý quan sát hai nhân vật đặc biệt trong bàn ăn, hết chị Quế rồi chị Khảnh quay sang khuyến khích: Chị thấy đám này được đấy, chỉ cần tìm hiểu thêm tính tình… Chị cho 8/10. Tôi trả lời nếu 10/10 thì thành hoa hậu thế giới rồi. Chị Khảnh: chị thấy má có vẻ hài lòng. Thì đó là cặp mắt xanh hay mắt hồng của má, tôi trả lời. Chị Khảnh: bậy, chị cũng thấy con bé có vể hiền, em tìm hiểu từ từ. Mẹ đang mong có cháu nội đó, em biết không?
Cách nói của chị Khảnh se sẽ, ngùi ngùi giống anh thợ cày cầm chiếc dùi nướng đỏ trên lửa dùi từ từ vào ống tre tươi, kêu xèo xèo làm hoang mang cõi lòng. Tôi sờ chỗ bụng nhô cao của chị: ước chi chị là anh trai em nhỉ?
Cuối buổi tiệc, lúc người nhà dọn lên dĩa trái cây tráng miệng, tôi chồm người bóc múi bưới chìa về phía bà bạn chị Đông, nói trổng: xin mời; một múi khác về phía cô gái, người mà chị Đông muốn mang về làm em dâu, nói: mời chị. Các chị cười ồ. Tôi là kẻ đỏ mặt trước tiên chớ không phải cô gái và lúng túng làm đổ phần bia thừa trong ly vãi ra bàn, bỡi tiếng cười đồng loạt cất lên chỉa về hướng tôi giống như những mũi tên của các chiến binh thời Trung cổ xông trận vậy.
Tôi rút êm bằng cách giả bộ đỡ ly bia ngã mang xuống bếp, đi vòng ra sau vườn. Liếp vạn thọ non đang đâm nhánh chẳng mấy chốc sẽ nở xoè những bông vàng rực. Vậy mà tôi không làm được điều mà má và các chị mong đợi. Sao vậy?

NGUYỄN LỆ UYÊN

THẾ HỆ NHÀ VĂN TRẺ: CHIẾN TRƯỜNG, TIẾNG CHIM HÓT VÀ HOA

nguyenleuyen

Trên thế giới này, bất kỳ thời đại nào, chiến tranh luôn là tai họa đối với loài người. Kẻ gây chiến luôn gieo rắc tội ác đổ xuống nhân gian, là bọn khốn nạn, vô luân nhất trần gian… cùng vô vàn tính từ ghê tởm gắn cho chúng.
Hai mươi năm nội chiến Nam-Bắc là cuộc chiến vô đạo, phi nhân đến từ một học thuyết xuẩn động và man rợ nhất, gieo rắc bao nỗi kinh hoàng, những cái chết phi lý, không đáng có.
Hàng triệu tấn bom đạn vãi ra, bằng con số ấy nhà cửa ruộng vườn nát tan, và với con số ấy những lương dân đã gục chết thê thảm, cũng chỉ bởi một dúm người không tim, chẳng có óc (!) đến nỗi một người dân bình thường phải thảng thốt kêu lên “Chiến tranh con mẹ gì mà lâu thế” (Y Uyên, Mùa xuân qua đèo) hay một người lính tham dự vào cuộc chiến cũng đã phẫn nộ “Chiến tranh hả? Chiến tranh là cái c… chó gì!” (Thảo Trường, Cánh đồng đã mất).
Nhưng đâu phải chỉ riêng Thảo Trường và nhân vật của ông mới lớn tiếng thóa mạ chiến tranh bằng cụm từ “tục tĩu”, mà gần như tất cả mọi chiến binh trên các chảo lửa chiến trường đều xem chiến tranh như thứ “tai trời ách nước”. Chưa nói đến sứ mệnh cao cả là chiến đấu để bảo vệ nền dân chủ, tự do cho 17 triệu đồng bào miền Nam (thập niên 60), thì hầu như thế hệ thanh niên lúc này không có một sự chọn lựa nào khác. Hoặc nhảy vô bưng với những suy nghĩ lãng mạn hoang tưởng, hoặc tham dự vào đời sống quân ngũ bảo vệ nền cộng hòa, tự do, dân chủ. Đó là lựa chọn duy nhất, mà đa phần đều từ ý thức, số ít là buông xuôi. Để có được tự do, không phải là điều dễ dàng gì, mà cũng không là của cho không. Và, nhân vật của Thảo Trường đã nói thay tiếng nói tận đáy lòng của thế hệ thanh niên thời đó: “Tao nhìn nhận tự do là một cực hình. Tao tự do nhưng tao không biết quyết định ra sao cả. Tao muốn gia nhập vào bất cứ đám đông nào để được xác định là tao có mặt. Nhưng đám đông nào cũng bỏ rơi tao, cũng hất tao ra bên ngoài. Vì thế tao vẫn là kẻ không có chỗ đứng. Nhiều lúc tao phát khóc lên vì cái bất lực của mình. Bơ vơ sống để nhìn đất nước mình lụn bại. Bơ vơ sống để nhìn ngày tháng trôi xuôi. Tao thèm gia nhập như tao thèm sống. Tao thèm có mặt ở khắp nơi… Để được nói một câu rằng “tôi có mặt”. Chúng mày có biết không. Thế nên tao nhập ngũ” (Thảo Trường, Bên trong lô cốt, Văn Nghệ số 24 tháng 6 &7 – 63).
Nhắc lại: cái đám đông mà Thảo Trường đưa ra và nhắc đến là một ý thức lên đường. Nó không hề là đám đông được dựng lên, được hô hào, dựng vẽ bằng những hình nhân để tung hê vào cõi chết vì một ý thức hệ phi đạo đức, phi nhân tính, một thứ triết lý mộng mị lỗi thời, phá vỡ mọi giá trị truyền thống của xã hội chói sáng tính nhân văn từ hàng nghìn năm, mà tổ tiên đã dày công gầy dựng!
Những lời tung hê, cổ vũ quá máu me quá đỗi bi thảm kia, khi cầm bút, các nhà văn nhà thơ miền Bắc đã có lắng lòng để nghe trái tim mình, cái đầu minh mẫn hay u tối của mình khi đặt bút viết ra những câu thơ, đoạn văn để tránh phải ân hận, đau khổ, dằn vặt lương tâm như sau này nhà thơ Chế Lan Viên viết “Ai? Tôi?”:

Mậu Thân 2.000 người xuống đồng bằng
Chỉ một đêm, còn sống có 30
Ai chịu trách nhiệm về cái chết của 2.000 người đó?
Tôi!
Tôi – người viết những câu thơ cổ võ
Ca tụng người không tiếc mạng mình
Trong mọi cuộc xung phong
Một trong ba mươi người kia ở mặt trận
Về sau mười năm
Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con nhỏ
Quán treo huy chương đầy, mọi cỡ,
Chả huy chương nào nuôi được người lính cũ!
Ai chịu trách nhiệm vậy?
Lại chính là tôi!
Người lính cần một câu thơ
Giải đáp về đời
Tôi ú ớ,
Người ấy nhắc những câu thơ tôi làm người ấy xung phong
Mà tôi xấu hổ,
Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay
Gíup người ấy nuôi đàn con nhỏ
Giữa buồn tủi chua cay vẫn có thể cười

Những trang văn ở miền Nam thời chiến mà tôi từng đọc, và sau này cũng chưa thấy nhà văn nào lên tiếng về những ân hận từ các trang viết của mình?

Ở đây, bản năng con người, dẫu được trui rèn qua binh lửa thì vẫn có những giây phút nỗi sợ hãi phập phù tấy lên, nỗi cô đơn la đà trỗi dậy: “Tôi thấy tôi cô đơn quá. Biết tôi sẽ ra sao sau khi lát nữa đây tôi buông mình xuống cái vùng tối đen lạnh buốt. Tôi cũng nhớ khi đến không phận vùng hoạt động, kiểm soát lần cuối cùng chiếc dù của tôi xong, tôi đứng nhìn những người sẽ cùng nhảy với tôi, tôi mỉm cười với họ” (truyện dẫn trên), khác hẳn với những trái tim và cái đầu lạnh của những kẻ điều khiển, cầm đầu bên kia.
Nhưng, ngay đến cả nhà văn thiên tả Thế Vũ, trong tình thế không thể lẩn tránh, đôi khi ông vẫn phải tự hỏi rằng tuổi trẻ đang trôi về đâu, về hướng nào một cách bình thản, không chút hằn học, dù rằng trong sâu thẳm đáy lòng ông, qua những trang viết của ông, chiến tranh gây tang tóc cho quê hương chính là những tên tay sai đế quốc! Vậy nhưng trong truyện ngắn Bữa tiệc dưới hầm, nhân vật tôi thản nhiên chấp nhận “cuộc chơi” bằng ngôn ngữ phản kháng rất tinh tế: Nhân vật của Thế Vũ bắt đầu cuộc chơi đầm đìa máu me kia từ “giam cầm, bị vây bủa, bị đẩy…”, và có cả “kẻ thù” từng là chỗ quen biết: “Tôi chợt nhận ra giữa những thứ đó, mình bắt đầu bị giam cầm một cách thật nhẹ nhàng, mình bắt đầu những ngày bị bủa vây, bị đẩy đi quá xa, một nơi mình chưa hề chọn lựa. Hình như, tôi cũng cảm thấy rơi vào một cơn lốc hay một giòng nước xoáy nào đó mà tôi chưa nhìn ra được. Trong những ngày sẽ đến sau đây, cơn lốc nào, giòng nước cuốn nào cuồn cuộn trôi về cuốn phăng đi những người chung quanh, cả tôi, cuốn phăng ra biển khơi tất cả… Có gì lạ đâu, có lần toán kích của mình bắt được một tên đang hò reo mình ra hàng, khi đem về đồn, sau một đêm nhốt ngoài lô cốt, sáng hôm sau chúng tôi nhận ra đó là một khuôn mặt quen thuộc mà nhiều lần mình đã cho lên đồn ngủ nhờ…
Con biết con bắt đầu vào trận rồi đó. Con biết con không dừng lại được nữa. Chiếc xe cọc cạch đời con vừa bắt được dốc, con không ngừng dừng lại nổi nữa, con bắt đầu lao đi trong cuộc phiêụ lưu này, con bắt đầu làm quen hết tất cả, tất cả… (Thế Vũ, Bữa tiệc dưới hầm,Vấn Đề số 24 tháng 7-1969).
Đọc đoạn trích này, hẳn bạn đọc sẽ thấy sự khác biệt trong cách suy nghĩ, giữa một nhà văn miền Nam có khuynh hướng cộng sản với một nhà văn miền Bắc được tôi rèn bên trong bức màn sắt!

Hầu hết các tác phẩm của các nhà văn miền Nam, lăn lộn nơi chiến trường đều phản ánh trung thực những gì đã và đang xảy ra trước mắt họ và trong ý nghĩ của họ, không né tránh, không che lấp, lên gân đánh bóng. Ở đâu lại có những suy nghĩ, những phát ngôn nửa vời biểu thị nỗi hoang mang lẫn lộn giữa trách nhiệm và tiêu cực như nhân vật Tiến của Thảo Trường, trong tình cảnh bị địch vây khốn, đang lúc bị thương: “Thật ý nghĩa và cũng thật vô nghĩa hai tiếng chiến đấu”. Liệu những chiến binh như Tiến có được xã hội toàn trị chấp nhận trong lúc địch quân vây chặt bốn bề? Vậy thì tại sao các nhà văn miền Nam lại đưa những suy nghĩ của nhân vật vào truyện như một công khai bày tỏ thái độ, suy nghĩ cá nhân. Liệu sự bày tỏ tự do sáng tạo có được hệ thống chính trị phía bên kia chấp nhận cho các nhà văn của họ? Nhớ lại hai người lính trẻ của E.M. Remarque trong truyện dài “Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh”, đêm ra bờ sông “đi đồng ”, họ hỏi nhau: “Không biết Quốc trưởng có đi ỉa như tụi mình không nhỉ?”. Thời Quốc xã kinh hoàng là vậy, kỷ luật thép là vậy nhưng có ai ngăn cấm kiểu đặt ra những câu hỏi như trên? Hay như Lê Văn Thiện trong truyện Du lịch bằng trực thăng trên Bách Khoa (không nhớ số mấy) viết về những cuộc hành quân sâu vào bên trong Cambodge ở Snoul đã để cho hai người lính than thở về nỗi cơ cực khi phải chiến đấu ngoài biên giới, và nói đại ý “muốn tranh giành quyền lực thì lãnh tụ của hai phe tham chiến chọn một gò đất cao và hai người đánh nhau phân định thắng thua, chớ sao lại bắt dân lành phải gánh chịu?”
Có tòa án binh, có Sở Phối hợp nghệ thuật, họ sẵn sàng cắt đục, trọng cấm, truy tố… nhưng rõ ràng, những rào cản trên không thể và không hề làm cho nhà văn ngừng bày tỏ những suy nghĩ trong tác phẩm của mình. Thực tế thì các tạp chí miền Nam đã từng bị đục trắng, bị dập đen nhiều trang, nhiều đoạn, bị tịch thu, truy tố ra tòa án như trường hợp Ngô Thế Vinh bị tòa tiểu hình Sài Gòn truy tố xét xử (ngày 18.5.1972 gồm chủ nhiệm Thế Nguyên, chánh phạm. Hai tòng phạm là Ngô Thế Vinh với bài Mặt trận ở SG, ký giả Lạc Giao, bài Những biện pháp kinh tế mới, một cuộc cách mạng đi ngược đường, đăng trên tạp chí Trình Bày số 34, có nội dung làm nhụt ý chí chiến đấu của quân dân VNCH, làm lợi cho CS…, mỗi bị cáo bị tòa Tiểu hình tuyên phạt 100.000đ và bồi thường 1 đồng danh dự cho Bộ Nội Vụ!).
Những vụ xét xử tuyên phạt như vậy không hiếm đối các nhà văn, nhà báo miền Nam, nhưng đó lại là sự tự do tuyệt đối của người cầm bút. Đó là chất nhân văn trong văn chương miền Nam.
Các nhà phê bình văn học sẽ nghĩ sao, phê phán thế nào khi những người lính đi hành quân lại mang phong thái của những kẻ nhàn du, như một cuộc đi dạo trên những thảm cỏ xanh mượt, vàng ruộm sắc hoa và chim hót trên cao, như thể trên đất nước này chưa hề có tiếng bom đạn gầm réo?:

Nắng sớm mai long lanh
Xanh lá rừng che chắn
Gió đồng ca loanh quanh
Không chút gì lo lắng

Bước giày chợt bâng khuâng
Tìm thơ hay tìm giặc
Tảng đá chạm mũi chân
Giật mình tim co thắt

… loại giấy phép quí này
Được ký bằng đầu đạn
Từ chủ nghĩa bầy nhầy
Nếu may không bỏ mạng

(Luân Hoán)
Hay như Lâm Hảo Dũng:
Anh ở miền Nam lạc đến đây
Còn quân phương Bắc ngủ xuôi tay
Chiến tranh như thể trò tiêu khiển
Của lũ con buôn xác chết này
Và cả nhà thơ bác sĩ chiến trường Trang Châu:
Trong cuộc chiến hôm nay
Cho tôi xin chiến đấu không hận thù
Xin những vết thương bình đẳng
Cho tôi đổi một trăm chiến thắng
Lấy một giọt nước mắt kẻ thù

“Lạ. Không thể tin nổi…” Đó là những lời nói chân thật của một vài trí thức chân chính miền Bắc đã đọc những câu thơ loại như thế này trong buổi trà dư tửu hậu mạn đàm chuyện văn chương thời chiến, mà kẻ viết bài này ngồi tiếp chuyện cách đây khá lâu ở Pleiku, một thành phố cao nguyên Trung phần. Phải. Trong một xã hội mà nền giáo dục đã bị chính trị hóa toàn diện, được tuyên truyền từ chân lên đầu, họ kinh ngạc khi lần đầu tiếp xúc với văn chương miền Nam thì không có gì khó hiểu, nhất là khi họ nghe toàn văn bản bài Uống rượu với người lính Bắc phương của Phan Xuân Sinh:

Hãy rót cho ta thêm cốc nữa đi
Ngồi với bạn hôm nay làm ta hứng chí
Chuyện ngày mai có chi đáng kể
Dẹp nó đi cho khỏi bận tâm
Thằng lính nào mà không rét lúc ra quân
Khi xung trận mà không té đái
Ta cũng có người yêu nhỏ dại
Mỏi mắt trông chờ song cửa quê nhà …
Chuyện sống chết căn bệnh trầm kha
Đâu dễ gì thoát vòng sinh mệnh
Những thằng lính thời nay không mang thù hận
Bạn hay thù chẳng một lằn ranh
Thôi hãy uống. Mọi chuyện bỏ lại sau
Nếu có thể ta gầy thêm cuộc nhậu
Bày làm chi trò chơi xương máu
Để đôi bên nuôi mầm mống hận thù
Ta chán lắm rồi ba chuyện ruồi bu
Chỉ có bạn, có ta là thua cuộc
Người yêu của bạn ở ngoài phương Bắc
Giờ này đang hối hả tránh bom
Hay thẩn thờ dõi mắt vào Nam
Để chờ người yêu mình trở thành liệt sĩ
Rồi cũng sẽ quên, như bao điều suy nghĩ
Tình yêu như một thứ điểm trang?
Che đi chút dối lòng
Uống với bạn đêm nay ta phải uống thật say
Để không phải còn nhìn nhau hận thù ngun ngút

(những ngày đầu xuân 1972)

Trong truyện ngắn Kẻ đào ngũ của Kinh Dương Vương đăng trên tạp chí Văn số 153 ngày 1-5-1970, mô tả một đơn vị TQLC hành quân giải tỏa Huế hồi tết Mậu Thân, nhân vật Công: “… nghe rõ hơn, như ở gần bên tai anh, nhưng dầu đã chú tâm lắng nghe, anh cũng không thể nhận được tiếng kêu phát ra từ hướng nào. Nó vẳng đến lúc to lúc nhỏ. Khi liên tiếp từng hồi, rồi lại ngắt ra từng quãng một. Hình như những âm thanh thảm não anh nghe được chỉ là những vọng âm đã bị những cơn gió xoay chiều làm tan vỡ. Anh nghe ở khắp mọi nơi. Từ trên trời xuống, từ dưới đất lên, từ bốn phương tám hướng. Nó bay cao trên thượng tầng, nó là là trên mặt đất, thoát ra từ các hố bom sâu, chìm vào trong hơi mưa giá buốt, dật dờ không định hướng, như tiếng than ai oán của các oan hồn trên chiến địa. Giọng thê lương đó như gởi lời réo gọi, van nài khẩn thiết đến cái thế giới vô cảm tàn ác ở chung quanh. Nó cất lên thật cao bằng tất cả nỗi nghẹn ngào rồi đột ngột chùng hẳn xuống trong niềm tuyệt vọng, dàn trải ra lây lất, mỏng manh và mệt mỏi đuối hơi”.
Và khi Công nhận ra những âm thanh thảm não… Giọng thê lương đó như gởi lời réo gọi, van nài khẩn thiết đến cái thế giới vô cảm tàn ác ở chung quanh chính là giọng của một sinh linh bé nhỏ, thay vì cùng đồng đội tấn công, xóa sổ ổ đại liên của địch trên thượng đài theo lệnh, thì Công đã lao về hướng phát ra tiếng gào đó, dưới làn mưa đạn của địch quân: “Đúng vào lúc ấy, tiếng khóc bỗng cất lên, giọng the thé làm Công giật mình. Nó phát ra ngay dưới chân anh. Trong một hầm núp đào vội vã dưới bộ ván ngựa của một ngôi nhà gạch đã đổ nát, Công tìm ra đứa bé chưa quá tuổi thôi nôi, trong lúc nó đang vục đầu lên ngực, nhai núm vú của một người đàn bà đã chết. Toàn thể mình mẩy nó nhuộm máu đỏ lòm trông khủng khiếp. Máu khô quánh đặc se mớ tóc dày của nó thành từng lọn. Dưới ánh đèn soi thấy Công nó không ngạc nhiên. Miệng nó vẫn ngậm vú để phát ra những tiếng ư ứ hờn dỗi như một con heo con nhai phải chiếc vú không có sữa. Nó ngước đôi mắt sáng ngời của một con thú nhỏ nhìn Công, tự nhiên và thân thiện. Nhưng khi Công vừa đưa tay ra, nó vội nhả vú mẹ, hốt hoảng bò quanh hầm, miệng phát ra những tiếng khóc đặc biệt mà Công đã nghe. Nó bò ngang qua tử thi của một người đàn ông và dừng lại bên thi hài của một bà lão. Như tìm được người che chở, nó tự tín quay lại nhìn Công. “Thế là cả một gia đình… “, anh nói thầm…”.
Và Công đã cứu được đứa bé bằng chính sinh mạng của mình. Cái chết đến với Công nhẹ như một lọn mây trắng xốp và đẹp tựa một cánh chim chao nghiêng trên bầu trời rực nắng, bên dưới là cánh đồng cỏ xanh mượt và hoa vàng và tiếng suối reo: “Tiếp theo có những tiếng nổ giòn giã. Công thấy mình như một cánh chim đang say sưa nhẹ lướt trong khoảng trời cao rộng bỗng nhiên đôi cánh mỏi liệt. Khoảng không gian dao động và cánh chim lảo đảo. Mắt anh hoa lên, chan hòa một màu xanh của nghìn trùng lá non, màu xanh mênh mông của một đại dương lặng sóng lấp lánh nắng mai. Anh chìm xuống, chìm vào trong một màu xanh an lành bát ngát, xôn xao những mắt sáng trẻ thơ reo cười”.
Người lính VNCH đâu chỉ có đánh giặc, đâu chỉ biết cầm súng chiến đấu? Họ cũng chỉ là những con người bình thường như hàng trăm ngàn chiến binh khác, nhưng ở họ có trái tim, có lòng nhân từ; khác chăng là khác với những giòng chữ ngập ngụa “máu lạnh” dưới ngòi bút một nhà văn, nhằm kích thích sự hận thù, chém giết một cách bệnh hoạn: Quân ta ào lên, bắt giết, đâm, giẫm đạp. Một mụ nguỵ cái, ngực để trần, miệng há ra ú ớ. Niềm căm thù kẻ hạnh phúc hơn mình bốc lên ngùn ngụt trong ngực mình. Mình găm vào ngực mụ cả loạt khiến ngực mụ vỡ toác mà mặt mụ vẫn chưa tắt hy vọng. Giết người lúc ấy sao thấy sướng thế!”. Một đoạn khác: “chúng quay thằng Thiết như quay một con lợn rồi róc thịt uống rượu trả thù cho đồng đội” (Tạ Duy Anh, Đi tìm nhân vật).
Nguyên mẫu bệnh lý cuồng sát từ các trang văn của các nhà văn miền Bắc đã được “giáo dục” từ triết lý dựng lên nỗi “căm hờn” đốt chảy cả dãy Trường Sơn ở truyện ngắn Giấc ngủ mười năm của Trần Lực như một chuẩn mực khi cầm bút: “Người ta nói dân ở gần mặt trận ai cũng hăng. Có gì lạ đâu. Tây nó ác quá. Chúng bắt được đàn bà con gái, thì 7 tuổi đến 70 nó chẳng từ ai. Năm bảy thằng tranh nhau hiếp. Hiếp không chết, thì nó chặt đầu, móc mắt, mổ bụng, rạch trôn. Có khi chúng bắt con trai hiếp mẹ, cha hiếp con gái, cho chúng nó coi và cười. Không nghe thì chúng giết cả nhà”. Một đoạn khác: “Trẻ con thì chúng nó bắt bỏ trong chum, nấu nước sôi giội vào. Hoặc trói 2, 3 em lại một bó, quấn rơm và giẻ chung quanh, rồi chúng nó tưới dầu xăng đốt…. Tây ác như vậy, cho nên dân ta ai cũng hăng máu lên. Họ nói thà đánh Tây mà chết còn hơn để nó hành hạ mà chết”.
(http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=0&cn_id=223316).
Cũng thật dễ hiểu, sau bao nhiêu năm dài, dưới thể chế chính trị của miền Bắc XHCN, đã để lại những sản phẩm văn nghệ mang màu sắc xám xịt, đến nỗi những người trong cuộc như nhà văn Nguyễn Minh Châu phải cay đắng thốt lên trong một bài viết có tựa: Lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa: “…mấy chục năm qua, tự do sáng tác chỉ có đối với lối viết minh họa, văn học minh họa, với những cây bút chỉ quen với công việc cài hoa, kết lá, vờn mây cho những khuôn khổ đã có sẵn mà chúng ta quy cho đấy đã là tất cả hiện thực đời sống đa dạng và rộng lớn. Nhà văn chỉ được giao phó công việc như một cán bộ truyền đạt đường lối chính sách bằng hình tượng văn học sinh động… Thất thiệt to lớn nhất của văn nghệ minh họa của ta là từ đấy những nhà văn đánh mất cái đầu và những tác phẩm văn học đánh mất tính tư tưởng, – nghĩa là những tư tưởng mới và độc đáo mang tính khái quát cuộc đời của riêng từng nhà văn. Như một người đánh mất phần hồn chỉ còn phần xác, hoặc chỉ còn cái phần hồn do nhà nước bao cấp… Văn chương gì mà muốn viết một câu trung thì phải viết một câu nịnh? Hèn, hèn chứ?” (Văn nghệ, Hà Nội, số 49 & 50 (5-12-1987).
Hẳn nhiên, lịch sử văn học Việt Nam sớm muộn gì cũng sẽ có những đánh giá khách quan về vấn đề vừa nêu…
Kẻ viết bài này vốn mê sách báo, đã từng ngốn không biết bao tiền bạc vào sách, đọc gần như trọn vẹn các tác phẩm văn chương miền Nam, từ Bình Nguyên Lộc, Võ Phiến, đến những nhà văn trẻ thuộc thế hệ chúng tôi và cả những nhà văn “phản kháng, lẫn thân cộng” có mặt trên Hành Trình, Đất Nước, Tự Quyết, Đối Diện… cũng chưa hề có ai đặt bút viết những giòng miêu tả đến mức đánh mất cả nhân tính, như những lưỡi dao xoáy ngập vào thân người như dẫn trên (!); ngược lại, cách hành xử ngoài đời thường và trong trang văn của thế hệ nhà văn trẻ cầm súng miền Nam vẫn thấm đẫm chất nhân văn, bởi họ là con người, những con người chân chính, phân biệt được cái đẹp cái xấu, không đánh lẫn giữa thiện và ác. Tại sao như vậy, bởi văn học đàng ngoài là loại văn học nguyên khối, một chiều nhằm ca tụng, tô vẽ và bảo vệ chế độ, còn đàng trong là muôn hình vạn trạng tự do trong sáng tạo, không ràng buộc, câu thúc, không uốn cong, khom lưng, không để não trạng bị đóng băng…
Với Phan Xuân Sinh: Bày làm chi trò chơi xương máu/ Để đôi bên nuôi mầm mống hận thù, là những lời thủ thỉ tâm tình giữa người lính phương Nam và phương Bắc trong giờ hưu chiến. Nhưng với Trần Hoài Thư, đang trên chiến trường, lúc hành quân, bỗng nghe tiếng hát cất lên bên bờ suối, thay vì nổ súng, tấn công, “diệt gọn” thì ông ngăn người lính, để yên cho cặp đôi bộ đội cất tiếng hát vang và lắng nghe. Thời khắc đó, giữa ta và địch không còn lằn ranh. Tất cả hòa vào không gian lung linh sắc giọng, đến nỗi khiến rừng như thể im phăng phắc, lá như thể thôi lay động trên cành. Đó mới chính là cái đẹp, là tính người. Đó mới chính là tính nhân bản trong văn chương miền Nam, của những người lính miền Nam cầm súng và cầm bút.
“Trung đội thám kích đang săn tin về một đơn vị Bắc quân mới xâm nhập vùng Trường sơn, đã không ngờ gặp một cặp bộ đội đang hát bên bờ suối. Quân thù đó nhưng người lính đã không bắn. “Tôi không thể chơi cái trò dã man như vậy. Tôi muốn người thanh niên kia, ít ra, có một giờ phút vĩnh cửu (…) Tiếng hát như nói lên những điều câm nín từ những con tim của tuổi trẻ Việt Nam…. Tiếng hát như dậy khỏi mồ, bạt cả gió, khiến rừng như thể im phăng phắc, lá như thể thôi lay động trên cành. Và ít ra, tôi vẫn còn hiểu rằng, mỗi người đều có trái tim. Và trái tim thì lúc nào cũng sống vĩnh cửu” (Trần Hoài Thư, trích từ Ban Mê Thuộc ngày đầu ngày cuối, Thư Ấn Quán xb 1997).
Vâng, những người cầm súng và cầm bút miền Nam chỉ cần: Cho tôi đổi một trăm chiến thắng/Lấy một giọt nước mắt kẻ thù mà nhà văn Trang Châu đã thốt lên tận đáy lòng như một tiêu biểu cho hành động và suy nghĩ của thế hệ “bị ném vãi ra chiến trường như trấu”.

Họ, các nhà văn miền Nam vẫn thường có tiếng chửi thề trong một vài đoạn văn, và nhiều hơn thế trong một tác phẩm văn học, nhưng không phải với giọng điệu thảo khấu, giang hồ mà chỉ để giải tỏa những cơn bực tức, bức bối thông thường: “Ông thầy cho em miếng nước. – Đụ mẹ, tao là lính chứ đâu phải sĩ quan mà kêu tao ông thầy… – Thì đàn anh cho đệ tử một hớp. – Hớp cái con cặc, bộ mày không có bình toong à!” (Cao Xuân Huy, Tháng Ba gãy súng).
Người lính miền Nam đôi khi cũng có những cái trân tráo, ba trợn và cũng có những lúc phải táo tợn (như ta thường nghe trong các chuyện kể dân gian), như thể họ đang ở một thôn làng bình yên nào đó, không hề là nơi chiến trường mịt mờ khói lửa, không hề là những tù binh lúc khốn cùng: “Cứ như vậy cho đến khi nước uống được hai ả du kích cái mang ra. Nhiều người bu lại uống nước, lúc đầu còn uống tử tế, đến thùng thứ ba được mang ra, cũng vẫn nhiều người bu lại, nhưng chỉ một số người uống nước, số khác giả vờ chen lấn giành nước để bóp vú hai ả du kích…
Khi thùng nước kế tiếp được mang ra, màn bóp vú lại tái diễn, và khi hai nữ đồng chí được đề nghị mang thêm nước lần nữa thì trốn luôn. Không còn nước, không còn đàn bà, mọi người ngồi trở lại trong hàng. Một người lính vừa ngồi xuống bên cạnh quay sang nhìn tôi cười. – Đụ mẹ, bị bắt mà còn được bóp vú Việt cộng, đã quá! (CXH, dẫn trên).
Những hoạt cảnh đời thường ấy được các nhà văn đưa vào truyện, không có ý bôi xấu, cũng chẳng phải vấn đề tình dục hay ẩn ức tình dục mà chỉ là một chút bỡn cợt trong hoàn cảnh không thể đừng, từ một hiện thực sống động trong bối cảnh chiến trường hoặc đã tan vỡ, hoặc đang đối mặt với những điều khủng khiếp sắp xảy ra cho họ và cho các chiến hữu trong những vòng đai phòng thủ, hay ngoài mặt trận súng đạn gào thét. Đó là những đóa hoa ngạt ngào hương sắc giữa lằn ranh của sự sống và cái chết chết.
Họ chiến đấu, nhưng không thể dửng dưng “đang làm con người, được làm người” như bao con người bình thường khác trên thế gian này chưa mất bản năng gốc.
Trong truyện dài Chạy trốn, Thảo Trường đã lồng vào một đoạn ngắn vô cùng sinh động, như trong một xã hội thu nhỏ ngoài đời, mà ở đây là một doanh trại: “Một lát sau người vợ hốt hoảng kêu khe khẽ: “Đừng. Anh. Để đến đêm”. Người chồng không nói gì. Tôi vẫn ôm vợ tôi nằm yên nhắm mắt. Bên kia tiếng chõng tre kêu răng rắc dồn dập. Tiếng thở đàn ông lại càng dồn dập hơn. Tiếng thằng nhỏ ở ngoài gọi vào. “Ba ơi”. Người đàn ông quát: “Ở ngoài đó.”
Tôi vẫn nằm yên, vợ tôi mở mắt nằm yên. Tôi nhắm mắt lại, lúc mở ra thì vợ tôi cũng đã nhắm mắt lại. Vợ tôi nằm nguyên một dáng điệu duỗi xoải, đầu gối trên cánh tay. Nó nói nhỏ với tôi nhưng vẫn nhắm mắt: “Đến tối anh nhé!” Tôi không nói gì. Vẫn nhắm mắt. Bên kia tiếng thở đàn ông vẫn dồn dập, tiếng chõng tre cũng vẫn răng rắc. Chợt người gác ở trên chóp tháp canh gọi đổi gác. Một người khác ở tầng dưới nói vọng: “Tao lên bây giờ.” Người chồng nói vội:”Thong thả đã nhé” nhưng người vợ đã đẩy chồng xuống chõng đánh rầm. Hắn càu nhàu một lát rồi bước tới cầu thang nói lớn: “Rồi đó”. (Thảo Trường, Chạy trốn).
Người lính không phải gỗ đá, tính cách đời thường vẫn luôn luôn gắn chặt với người lính ngoài chiến trường, mỗi khi có dịp. Rượu và nhà thổ đã vượt ra ngoại phạm vi luân lý, đạo đức phong kiến phương Đông.
Họ hành xử như một con người đúng nghĩa, bởi sống và chết chỉ cách nhau một sợi tóc nhỏ, kéo theo vô khối những hệ lụy với mọi con người mà dấu hiệu đầu tiên là vẻ mặt “ngơ ngác” mà Hoàng Ngọc Hiển đã kịp nhận ra. Những ẩn nhẫn chịu đựng của người dân luôn là dấu hỏi cho các nhà văn trẻ nơi chiến trường. Lương tâm, trách nhiệm và bổn phận trộn vào thực tế đắng cay luôn làm trái tim họ co thắt, đau đến tận cùng nỗi đau trước các chiến hữu, đồng bào họ, kẻ thù của họ: “Nước dột đã tràn lên gần hết diện tích sàn hầm, mầu nước đỏ ngầu, lều bều rác rưởi, đồ mửa,… ngó phát lợm giọng. Đây là một trường hợp chiến tranh trên quê hương nghèo khổ, lắm tàn tích, lắm chủ nghĩa, lắm người ngoại quốc. Hơn lúc nào hết, bây giờ chúng tôi phải chiến đấu anh dũng trong những điều kiện eo hẹp. Đôi khi làm chúng tôi chán nản, vùi đầu vào những cơn say vô vị… Khi chúng tôi tiến vào Sóc Xoài, trời đã xế trưa, và chúng tôi không gặp một lực lượng chống cự nào cả. Dân ở đó gồm một nhóm người Thượng ngơ ngác nhìn chúng tôi, có lẽ họ cũng ngơ ngác như vậy khi nhìn Việt cộng vào sóc đêm qua? Lục soát kỹ, chúng tôi chỉ thấy những dấu vết chứng tỏ địch đã có mặt ở đó, và chúng mới di chuyển đi không lâu” (Hoàng Ngọc Hiển, Cơn say, Khởi Hành số 73, ngày 1.10.1970).
Thực tế cay nghiệt luôn theo đuổi người lính ngoài mặt trận. Mới sáng còn ngồi trách móc nhau, hút thuốc, uống rượu thì đến tối đã biến mất, tan loãng vào cát bụi. Có mặt ở chiến trường, mới cảm hết nỗi đau thắt lòng với Lê Bá Lăng trong đoạn văn này: “Tôi gạt thằng Nuôi qua một bên, châm cho người đàn ông điếu thuốc, nâng cằm hắn lên, nhìn và bảo: Trong “tăng-xê” thằng Nam vẫn đốt đèn ngồi cùng bọn thằng Hải, thằng Đắc. Trên một tấm ván thông vừa mới dựng, thằng Nam đã đặt cái cốc bằng nhựa đựng đầy gạo Mỹ, cắm mấy chân hương. Chỗ ngồi của mày đó Nuôi. Chỗ ngồi không bao giờ mày còn thấy, còn nhìn tao, còn say rượu nói tao mới ra trường chưa kinh nghiệm, chưa biết lấy tiền Việt-cộng đem xài” (Lê Bá Lăng, Buổi dừng quân, Văn số 121, năm 1970)
Cung cách của các chiến hữu đối với nhân vật Nuôi khiến người đọc cảm thấy như những người còn sống bị chặt đứt một cánh tay, bàn chân… vượt lên trên tình ruột thịt máu mủ.
Trong khi đó, ở truyện ngắn Giờ hưu chiến của Vương Thanh viết vào tháng 11 năm 1967, đăng trên Văn Học (bìa rách không tìm ra số ngày tháng phát hành) có đoạn viết về cái chết của hai nữ chiến binh VC trong hầm, qua một bức thư gửi về người yêu của một sĩ quan VNCH: “Vũ khí vô tội nhưng chúng ta có tội. Đáng ra quê hương này, đồi núi này phải là những đất đai êm ái cho cuộc sống của chúng ta. Từng làng xóm thân yêu, từng ruộng nương nuôi sống chúng ta đã chối bỏ. Trong một cuộc hành quân khác, anh khai một hầm trú ẩn và đã gặp ba người thanh niên, hai thiếu nữ với những vũ khí. Tất cả đều còn trẻ, thật trẻ, trên dưới hai mươi tuổi trời. Năm người ấy chung nhau một căn hầm chừng hai thước vuông. Họ đã vĩnh viễn ở lại trong đó, với đất của chính quê hương mình? Một trái phá được đặt giữa những người ngồi, đứng vây quanh. Tất cả họ đã tự sát. Hai thiếu nữ nửa phần dưới thân thể đã bị lột trần truồng, nửa phần trên được che bằng một mảnh yếm vải xanh. Tự nhiên, anh hiểu ngay họ là người đồng bào miền Bắc, có thể cùng làng xã chúng ta, họ hàng chúng ta, biết đâu, hai thể xác ấy không mang một tấm thông hành quê ở Hà Đông hay Phủ Lý. Đọc đến đây chắc em nghĩ ngay đến một cảnh tượng dâm ô nào đó trên phim ảnh, một cuộc hãm hiếp chẳng hạn. Không phải chuyện giản dị như vậy. Hai thiếu nữ, có thể với bản năng sinh tồn nào đó, họ đã muốn sống, đã muốn thoát lên khỏi miệng hầm theo lời dọa nạt và kêu gọi của bọn anh vẫn làm khi tìm ra một căn hầm bí mật. Nhưng ba người thanh niên chắc không muốn thế. Chắc họ muốn tụi anh lầm tưởng gian hầm đã được bỏ hoang và dưới đó chả có một chiến công nào đó với tụi anh. Họ đã cưỡng bức hai thiếu nữ ở lại với họ để giấu kín sự bí mật. Tính e thẹn của phụ nữ đã được dùng đến, hai mảnh quần đã được lột ra bằng vũ lực để hai thiếu nữ không còn tính chuyện đến trước một đám đông bọn anh mà họ đã từng được tuyên truyền là tàn bạo và dâm ô. Họ đã ở lại với các chiến hữu của họ cho sự bí mật được an toàn”.
Cái chết quá thê thảm này, lỗi không do bọn họ, cũng không do trời đất, số mệnh… mà từ một chủ thuyết hoang cuồng: cũng chết nhưng bên này thì đặt cái cốc bằng nhựa đựng đầy gạo, cắm mấy chân hương. Còn bên kia là sự khủng khiếp, man rợ không khác gì đám ôm bom tự sát ngày nay, mà còn hơn thế, bởi ba chiến binh nam đã lột truồng hai cô gái để họ phải xấu hổ ở lại với chúng trong căn hầm, khỏi lộ tung tích (!): Một trái phá được đặt giữa những người ngồi, đứng vây quanh. Tất cả họ đã tự sát. Hai thiếu nữ nửa phần dưới thân thể đã bị lột trần truồng, nửa phần trên được che bằng một mảnh yếm vải xanh.
Có những cái chết ngọt ngào, những cái chết tức tưởi, những cái chết anh hùng và những cái chết cuồng điên… trong văn chương chí đến xã hội. Trách ai?
Để kết thúc bài viết này, xin dẫn một đoạn trong tham luận Tính“văn học” trong văn học miền Nam của nhà văn Trần Doãn Nho đọc tại hội thảo Hai mươi năm văn học miền Nam, tổ chức tại nhật báo Người Việt, Hoa Kỳ ngày 6/12/2014 : “Văn học miền Nam nói chung, trong quá trình phát triển của nó, đề cập đến con người như một hiện sinh, một thân phận chứ không chỉ như một hữu thể chính trị và cũng không chỉ như một hữu thể đạo đức, hiều theo nghĩa cổ điển. Do đó, ngoài những tác phẩm đề cao tình người, đề cao tình gia đình, một số tác phẩm cũng đề cập đến những ám ảnh tình dục, những ray rứt về phận người hay những vấn nạn triết lý về đời người và người đời…
Trong những tác phẩm viết về chiến tranh, tác giả không đề cập đến người lính như những kẻ chỉ biết “nhắm thẳng quân thù mà bắn”. Ngược lại, hầu hết đều viết về những gian khổ của người lính và những ray rứt của họ khi phải cầm súng bắn vào những người cùng máu mủ. Dù chống Cộng, không có một tác phẩm văn chương nào kêu gào giết cho đến người Cộng Sản cuối cùng.
Có thể nói, không giai đoạn nào mà văn học mang đầy đủ tính cách “người” như hai mươi năm văn học Miền Nam. Có khóc, có cười, có đau thương, có thống khổ, có vui mừng, phấn khởi, có lo âu, dằn vặt, thậm chí có dâm, có loạn. Một nền văn học thể hiện con người trong tất cả cái phức tạp của kiếp nhân sinh. Thay vì chỉ đề cập đến cái thiện, cái đẹp, người ta đề cập đến cả cái ác, cái xấu. Thay vì dùng văn chương chỉ để “tải đạo”, người ta dùng văn chương để lột trần những bề trái, những khía cạnh giấu ẩn, tăm tối, xấu xa của con người.

NGUYỄN LỆ UYÊN
tháng 12/2015