GHEN NGƯỢC!

nguyenhoangquy

Họp mặt kỷ niệm 20 năm ra trường lớp 12 của Vân vắng nhiều bạn và thầy cô mặc dầu ban liên lạc chuẩn bị từ mấy tháng trước. Chỉ có 5 thầy cô ở gần và hơn 20 bạn trên tổng số gần 50 khi vào lớp 10! Hai mươi năm, đây là lần mà Vân nghĩ sẽ đông, các lần kỷ niệm 10, 15 năm trước ai cũng hứa hẹn sẽ về, vậy mà ai cũng xin lỗi vì kẹt việc này việc khác!
Họp mặt vui và cảm động, kết thúc bữa tiệc, nhóm Vân ngày xưa, thân nhau từ ngày mới vào PTTH rủ nhau đi café tâm tình riêng, hỏi thăm nhau, hỏi thăm bạn bè và vài thầy cô cũ. Một bạn từ Ban Mê Thuộc về hỏi thăm vợ chồng thầy Quang mà họ chỉ biết là thầy cô đã về sống ở Sài Gòn từ 5 năm trước, thầy Quang dạy lớp năm 11, 12. Tuy dạy môn phụ và khó tính nhưng tình thương yêu và lo lắng của thầy cho học sinh các bạn đều trân trọng. Khi nói về thầy, một bạn khác hỏi Vân một chuyện rất tế nhị mà ngày ấy ai cũng thắc mắc và tin là hỏi Vân thì sẽ có câu trả lời vì nhà Vân đối diện với nhà thầy trên con đường lớn chạy qua thị trấn.

Chiều hai tám Tết năm ấy Vân đang ngồi phụ mẹ coi quán tạp hóa nhỏ của gia đình trong lúc cả nhà ai cũng lăng xăng việc này việc khác, kẻ lau dọn bàn thờ, người canh lửa nồi bánh chưng, Vân thấy vợ chồng thầy Quang khóa cổng lấy xe ra khỏi nhà, Vân nghĩ chắc là xuống thành phố mua sắm thêm những gì còn thiếu hoặc thăm viếng phải không vào dịp cuối năm. Không lâu sau thì thấy cô Lâm, cô giáo tiếng Anh dừng xe trước nhà và…leo qua cổng!. Tò mò, Vân nhìn qua, thấy trên tay cô cầm theo con dao chặt đá, đập bể toàn bộ kính cửa chính và phòng lồi ở mặt tiền. Gia đình thầy Quang vào ở nhà mới này, căn nhà được xem là đẹp và sang nhất xóm Vân ngày ấy, chỉ mới hơn một tuần trước đó, sau gần ½ năm xây dựng. Vân chạy qua, vài nhà kế bên thấy lạ cũng đến và không lâu sau, cổng nhà thầy có hàng vài chục người hiếu kỳ cả người lớn lẫn trẻ con đứng xem. Với vẻ mặt hằm hằm nhưng cô rất bình tĩnh leo qua cổng và câu trả lời của cô cho những thắc mắc của mọi người là “Vợ chồng này nợ tiền tôi đã lâu, hẹn trả nhiều lần mà đến cuối năm cũng không nói gì, tôi cảnh cáo!” rồi cô chạy xe về.

Điều làm mọi người thắc mắc là hai gia đình cô Lâm và thầy Quang thân thiết đã nhiều năm, hàng tuần các chiều thứ 2, 4, 6 người ta thấy cô Lâm đến nhà thầy Quang và họ chở nhau đi, chín mười giờ tối lại chở về. Nghe nói cô đi dạy lớp Anh ở trung tâm do thầy Quang tổ chức.
Năm ấy ngày 29 âm lịch là cuối năm nên rồi ai cũng lo Tết và quên chuyện xãy ra hôm trước nhưng sáng 29 Vân thấy chồng cô Lâm đến chở thầy Quang đi, khi về họ đem theo kính và hai ông loay hoay ráp, ba mẹ Vân nghĩ và nói trong nhà: vậy là lỗi ở phía cô Lâm! (vì không lý do gì có sự đền bù này!).

Ngày vợ chồng Quang về trường này là lúc “nhan sắc” Quang xuống cấp trầm trọng do anh phải chèo chống bao nhiêu khó khăn đến với gia đình, không biết có phải do ăn uống thiếu chất khi dạy ở miền núi và về đồng bằng trong thời bao cấp khó khăn nên lâu lâu bệnh sốt rét hành hạ, anh xanh xao, ốm yếu, vợ anh cũng không hơn gì mà cô Lâm sau này bảo với Quang: Hôm chào cờ đầu tuần thấy anh ngồi ở hàng ghế giáo viên lần đầu em cứ như thấy một sinh viên du học nào đó mới về. “Sinh viên du học hồi hương” mà thế thì hỏng thật và anh không biết đây có phải là câu trích trong sách cẩm nang dành cho các bà…tán tỉnh hay là câu nói thật lòng nhưng Quang còn nhớ khi nghe đến anh cũng thấy lòng hân hoan!.

Dạo ấy là ½ sau thập niên 80, những năm cuối bao cấp, giáo viên ở xa chưa ai có nhà mà đều ở khu tập thể trong trường, cả độc thân lẫn có gia đình. Giáo viên có gia đình hơn chục cặp, họ hoặc là Bắc- Bắc, Nam-Bắc, thuần túy Nam-Nam chỉ có 5 cặp, dễ thân nhau. Vợ Quang và cô Lâm là đồng hương nên có nhiều chuyện để chia sẻ.

Là đồng nghiệp, xưng hô anh-em nhưng Quang hơn Lâm hàng chục tuổi, vai vế thầy trò.
Có lần, buổi tối gần nghỉ hè, trời nóng, Quang đi bộ ra ngoài sân, trên cửa sổ trước nhà, Lâm ôm đàn ngồi hát, anh nói đùa: “Thật tiếc cho ông Chương, có cô vợ hát hay, ôm đàn ngồi hát như thế mà không biết thưởng thức!”. Cô Lâm là “cây văn nghệ” trong trường, biết nhiều nhạc, nhất là nhạc xưa nhờ các anh cô đều là “dân văn nghệ”, cô hát hay, biết cả việc của một biên đạo múa nên trong các cuộc thi văn nghệ ở trường tổ chức nhân các ngày lễ, lớp cô bao giờ cũng chiếm nhiều giải.

Sau vài năm, nhìn cách cư xử của họ với nhau, lại nghe cư dân trong khu tập thể kể lại Quang mới biết rằng hôn nhân của vợ chồng Lâm không bắt đầu từ tình yêu mà chỉ là lấy cho có trong thời buổi khó khăn kinh tế và khủng hoảng tinh thần của từng con người do thời cuộc đem lại, Quang cũng biết tại sao Lâm vẫn hay có mặt trong những lần nhóm bạn nam của một cô giáo trẻ cũng đồng hương thỉnh thoảng từ thành phố đến chơi, đàn hát, đọc thơ như là bù đắp những phần thiếu trong tâm hồn cô giáo vừa hơn tuổi ba mươi này. Và sau cùng, biết tại sao Lâm có cảm tình với một chàng đã qua một đời vợ vì có lần cả hai rời nhóm đi dạo riêng hay đi đâu đó vào một đêm trăng sáng. Quang nghĩ, phải cứu cô này theo cách thừa trong nhà mới ra bề ngoài!

Ngày vợ chồng Quang làm được nửa sau ngôi nhà bây giờ, Quang đi làm về, nghe vợ kể rằng cô Lâm có đến thăm và mừng thật lòng khi thấy “vợ chồng anh chị có một nơi riêng tư, không phải đụng chạm với nhiều phức tạp trong khu tập thể”. Nghe chuyện, Quang rất vui và cảm động khi có một người bạn chia sẻ niềm vui của mình vì ngày ấy, việc có một nơi ở riêng trong khi mấy chục giáo viên từ nơi khác đến dạy trường này phải ở tập thể là chuyện không dễ!

Rồi việc gì đến, phải đến! Quang và Lâm trở nên thân thiết hơn xưa, khi Quang mở trung tâm Anh ngữ đêm thì Lâm là giáo viên nòng cốt, họ chở nhau đi đi về về trong các buổi tối, Lâm đi dạy, Quang lo quản lý và họ đến với nhau, không biết tự lúc nào?

Quan hệ của họ dưới mắt nhìn của ông Chương và vợ Quang cũng như đồng nghiệp, học trò đều chính danh, cả hai gia đình nhỏ đều êm ấm, hai gia đình đều thân nhau từ lâu thì việc hai người chở nhau đi chiều chiều tối tối là đi làm thêm, chính đáng quá đi chứ, có ai đó nghi ngờ thì rõ là người ghen ăn tức ở!

Cho đến một ngày… Quang ở trường về, vợ anh bảo khoan hãy thay áo quần mà chở giúp cô ấy đi công việc. Họ lên xe,vợ Quang bảo chạy về hướng thành phố, Quang hỏi đi đâu, cô trả lời cứ đến nơi sẽ biết, chưa đến 1/3 đoạn đường xuống phố, chừng hơn 3km thì vợ Quang yêu cầu dừng xe trước một quán café ven đường nhưng là quán café vườn, bên trong rộng mênh mông, loại quán đèn mờ, nơi những cặp tình nhân hẹn hò ít bị quấy rối! Quang hiểu ra vấn đề vì đó là nơi anh và Lâm vẫn thường ngồi với nhau sau khi hết giờ ở trung tâm ngoại ngữ. Quang bảo vợ: “Anh biết rồi! Có gì về nhà nói chuyện với nhau”, và hai vợ chồng quay về.
Tối hôm đó, ăn cơm xong, vợ Quang mời anh ra phòng khách nói chuyện, con họ đứa học bài trên lầu, đứa trọ học ở thành phố nên không biết gì, vợ anh rất tự chủ, bình tỉnh và thẳng thắn kể rằng một học trò cũ đi với người yêu vào đây, nhìn thấy đến 2 lần, vì thương cô nên em báo để cô biết để đề phòng! Rất ngắn gọn và lịch sự vợ anh tiếc là đã quá tin tưởng ở chồng và bạn nên không hề nghi ngờ gì và hỏi Quang muốn xử sự thế nào. Đến “nước” này Quang biết nói gì hơn ngoài việc xin lỗi vợ con và hứa sẽ cắt đứt mối quan hệ không tốt đẹp này với tư cách một người có học!

Kể lại cho Lâm nghe mọi chuyện, cô ấy có vẻ điềm nhiên chừng như biết trước rồi cũng sẽ có ngày này, lại còn động viên Quang và cũng (chừng như) định rút vào…bí mật trong khi từ sâu thẳm lòng mình, Quang muốn trở lại ngày xưa, ngày họ coi nhau như đồng nghiệp, như bạn bè và xa hơn, như anh em.

Quyết định như trên vì Quang xưa nay vốn sống đàng hoàng, coi trọng gia đình và thật sự, trong thời gian có Lâm, lắm lúc anh cảm thấy bị áp lực vì những yêu cầu (mà anh cho là) quá đáng của Lâm.
Nhớ lại những kỷ niệm từ ngày họ đến với nhau, tất cả không chỉ là màu hồng mà đôi lúc còn có màu xám khi Lâm buộc Quang chỉ được chở vợ trên xe Quang thường chở Lâm khi nào đi bệnh viện trong trường hợp cấp cứu! Sắm một chiếc divan hay giường riêng để ngủ nghĩa là… không chung giường với vợ! Lại có lần, Quang được nhờ điều hành chương trình lễ cưới em gái Lâm vì Quang quen biết cả họ nhà trai lẫn nhà gái, Lâm nói cô rất vui vì “anh cùng em đứng trước bàn thờ tổ tiên của em như một sự chứng giám của gia đình em cho tình yêu hai đứa!”. Nghe xong, Quang thấy sợ!
Sau này, Quang tâm sự với những người bạn biết chuyện và hỏi thăm một cách chân tình hơn là tọc mạch rằng anh chỉ muốn thử xem công lực mình còn được mấy thành sau bao lần bỉ cực và rằng anh vốn lãng đãng nhưng luôn tỉnh thức để lỡ đi lạc cũng còn biết lối quay về!.
Vốn tiếp xúc với văn hóa Âu Tây, nhiễm cách sống người Tây qua phim ảnh, sách báo, lại có thể do tính cách con người, Quang “biết gallant”, luôn luôn cư xử theo tinh thần “Lady first” bất kể “lady” đó là vợ, đồng nghiệp, học trò con gái, một người bà con ở xa ghé thăm nhà, kể cả một bà phụ huynh già đến nhà hỏi thăm chuyện con cái học hành qua việc ân cần, quay đầu xe, dắt xe khi tiễn khách ra cổng…và giúp đỡ phụ nữ khi có thể. Vì vậy, đôi lúc cũng gặp vài hiểu lầm nhưng về lâu dài, người ta hiểu rằng tính thầy trước sau đều thế!

Chuyện xãy ra chiều 28 Tết trước nhà thầy Vân không nghe ai nói đi nói lại gì, có thể vì người ta không nói chuyện cũ trong năm mới, cũng có thể vì người ta lo vui Tết hoặc là họ nễ vợ chồng thầy Quang nên âm thầm tìm hiểu rồi cứ thế đi vào lãng quên. Có điều hơn mười năm sau, tâm tình với vài anh chị lớp lớn hơn Vân biết chuyện và hỏi trong một dịp họ mời đi uống café, cô Lâm bảo rằng: Ông ấy mà yêu thương nỗi gì, không biết thế nào là tình yêu đích thực, chẳng qua là muốn tìm cảm xúc lạ, muốn biết cảm xúc của loại quan hệ ngoài hôn nhân thế nào chứ nếu không thì đã không bị cô xử như thế!

Nghe anh chị kể lại chuyện này, Vân tự nhủ, cô giáo mình kính trọng trước đây mà cư xử như côn đồ, đã ngoại tình mà còn ngụy biện, chắc chắn nếu còn học với cô, Vân chỉ học cô chữ nghĩa, riêng chuyện này thì không, còn mẹ Vân thì bảo rằng đó là…ghen ngược!

NGUYỄN HOÀNG QUÍ

YÊU?

nguyenhoangquy

Những năm gần đây, mẹ và anh chị tôi ngày càng già, tôi cũng đã về hưu, sống xa hơn nhưng lại về thăm nhiều hơn: ba bốn lần mỗi năm. Lần nào về lòng cũng nhớ về một nơi, nghĩ và mong tìm thăm một người con gái đã xa hàng nửa thế kỷ.

Thời chiến tranh Việt Pháp, khoảng năm 1946 – 47, từ Đà Nẵng, gia đình anh Ngoạn tản cư về Quế Sơn, lúc đầu ở dưới Mỹ Thứ một thời gian ngắn rồi lên làng tôi, thuộc hàng “sơn cùng thủy tận” của huyện, xa thành phố chừng 60 cây số. Cha mẹ tôi cho gia đình anh ở trong “nhà trường” ngay trong sân nhà, một căn nhà tranh rộng lớn và làm nơi cho xã mượn dạy BTVH thời Việt minh (nên mới gọi là “nhà trường”). Sau anh làm nhà trên đất nhà o Lầu sát vườn nhà tôi và sống ở đây đến ngày đình chiến mới hồi cư.

Tiếp tục đọc

NGÀY XUÂN GẶP …TƯƠNG TRI.

Nguyễn Hoàng Quý

1619227_730588336961029_1671523566_n[1]
Tôi về đến nhà mẹ ở Đà Nẵng trưa mùng 5 Tết. Mệt mỏi sau một đêm trên tàu, buổi chiều ở nhà nghỉ ngơi. Sáng mùng 6, xuống nhà ông anh Cả thắp nhang bàn thờ tổ tiên, đang ngồi chuyện trò với anh chị thì Trúc Hạ gọi: “Anh rãnh thì mời anh ghé uống café với anh em Tương Tri Đà Nẵng”. Tôi hỏi ngay, ông bà Tạ Chí Thân ở Hà Nội quay vào lại sao? Hạ bảo chỉ có anh em ở đây, kể tên những người có mặt, nói địa chỉ con hẽm đi vào quán và bảo đến đầu hẽm gọi Hạ ra đón.
Mấy ngày trước, đọc Tương tri về Hà Nội của Quỳnh Đỏ, tôi đã viết comment chúc mừng em, lại nhớ đọc Tương tri trở về của Trúc Hạ, vừa cảm động về tình cảm của các bạn với một trang thơ văn mình thường đọc và góp bài, vừa mừng cho sự phát triển của trang này nhưng vẫn len lỏi đâu đó trong hồn chút ganh tỵ với các bạn khi mình không được “tận mục sở thị” số Tương Tri Xuân, không “kiến kỳ hình” vợ chồng ông già tóc bạc Tạ Chí Thân mà hai tác giả nữ đã ca ngợi chân thành nhất là khi không thể uống ly rượu đầu Xuân “mừng Tương Tri hai tuổi” ở cả hai nơi, Bình Định và Sài Gòn vì không trùng thời gian tôi ở Sài Gòn khi về đến và ra đi trở lại.
Hẹn với anh chị sẽ quay lại lần sau, tôi lấy xe ra hỏi đường gần nhất để đến quán café nhanh nhất. Không hiểu có phải vì mừng cho gặp gỡ này, đầu óc lan man nghĩ về cuộc gặp, vừa không rành đường, tôi đi lạc đến gần đường Trưng Nữ Vương trên Chợ mới, thấy số nhà ngày càng lớn mới quay lại và tự tìm vào quán, ở đó có Trúc Hạ, chị Dao Lam, anh Bùi Thanh Xuân và anh Trần Thiên Thị, những người tôi đã đọc qua thơ văn của họ, riêng anh Xuân, có bài thích chí quá tôi đã comment đến hai lần!
Lạ, trừ Trúc Hạ, quen biết nhau qua bài Nước mắt chảy xuống, lần gặp đầu tiên với Hạ và được dành những tiếp đãi chân tình trong lần tôi về Đà Nẵng hồi tháng 9 năm ngoái, ba anh chị còn lại tôi gặp lần đầu nhưng cứ ngỡ như đã quen nhau từ lâu lắm và hình như không ai trong chúng tôi thấy lạ, thấy ngỡ ngàng để giữ kẽ với nhau trong sơ giao mà chuyện về Tương Tri, chuyện đời, chuyện người, chuyện thơ văn, chuyện các tác giả góp mặt với Tương Tri cứ nổ ran như pháo trong cái quán café có tên là…Lặng lẽ!
Cám ơn Tương Tri, Tôn Nữ Thu Dung (răng mà lại cảm ơn Dung hè, anh Quý  ???), các anh chị trong nhóm chủ biên đã gián tiếp tạo cho chúng tôi cơ hội gặp gỡ đầu Xuân hiếm hoi này và cám ơn các anh chị ở Đà Nẵng đã dành cho người ở xa về những tiếp đãi thân tình và bởi đó, tôi mạnh dạn nói ở quán café  “…lời tâm phúc ruột rà” của mình rằng cuộc gặp gỡ hôm nay với tôi chắc sẽ khó quên vì trùng đúng vào kỷ niệm ba mươi sáu năm ngày cưới của vợ chồng tôi 05.02.1978 – 05.02.2014. Hihi.
          Nguyễn Hoàng Quý
PS: trong hình từ trái sang phải: Nguyễn Hoàng Quý, TrầnThiên Thị, Bùi Thanh Xuân, Dao Lam, Trần Thị Trúc Hạ

Huế và KT

Nguyễn Hoàng Quý

huekt

Sau năm đầu học MPC ở Đà Lạt thất bại, tôi về Huế, đầu năm học 1969-70.

Thật khó quên buổi chiều đầu tiên ra Huế chuẩn bị ghi danh nhập học Văn Khoa khi lòng không còn muốn và cũng không thể học MPC được vì Đại học Khoa học đã bắt đầu trước đó khá lâu.
Từ Đà Nẵng, các anh gửi người quen cho tôi đi nhờ một xe quân sự ra Huế, mưa suốt từ chân đèo Hải Vân ra và ra càng gần Huế càng nặng hạt, tới chợ Đông Ba đã hơn 5g chiều, mưa vẫn mù mịt, tôi vào chợ ăn tạm dĩa cơm rồi đi cyclo về 127 Huỳnh Thúc Kháng dưới mưa lướt thướt tìm người quen đang sống ở cư xá sinh viên này để nhờ xin giúp việc trọ học.

Cư xá lúc đó đang giờ cơm, người ăn xong, kẻ sắp sửa, đông đúc, lố nhố không ra thể thống gì nhưng thật sự mình mong được là thành viên của cái đông đúc đó! Rất may, mọi chuyện ổn, tôi ghi danh học Văn khoa và được ở một phòng 3 giường sau phòng khách, khỏi phải dính dáng 4 dãy giường trên và dưới lầu, đông đúc, ồn ào quá!.

Sinh viên học năm tư ở đây khoảng 5-7 người nhưng gần gũi nhất với tôi là anh Phong, học Việt Hán và anh Châu học Luật. Các anh đối xử với tôi thẳng thắn, chân tình, thường tâm sự, sẵn sàng chỉ bảo, nhắc nhỡ cho tôi nhiều chuyện như đối với một đứa em.

Bận rộn cho năm cuối ra trường, tôi vào ở không lâu thì anh Châu không đi dạy kèm nữa, anh hỏi tôi thích thì anh giới thiệu, thích quá đi chứ, anh đưa tôi đến giới thiệu với gia đình nơi anh đã dạy trước đó mấy năm, không lâu sau tôi thay anh Tiếp tục đọc

Chuyện ở một phòng Vật lý trị liệu.

Nguyễn Hoàng Quý

bv quatai

Lúc đầu chỉ là chở vợ đến điều trị cột sống, gửi xe xong, vợ vào trong, mình thì lấy Kindle ra ngồi đọc. Thời gian sau thì tay phải đau hơn trước,  phải qua BV An Sinh khám và tôi cũng thành bệnh nhân khoa Vật lý trị liệu tại phòng khám này, phòng khám đa khoa Hạnh Phúc, sau lưng BV Nhi 1, gần siêu thị Sài Gòn trên đường Ba tháng Hai.

Những lần chở vợ đến đây cũng thấy vui vui vì ngồi ngay trong phòng reception, máy lạnh, ồn ào chỉ có đâu đó ngòai đường, bá tánh rủ nhau vào khám, ít thấy khuôn mặt nào vui, nhất là những khuôn mặt đang chờ kết quả xét nghiệm, siêu âm, X quang . . . thỉnh thỏang lại được nghe ba, bốn “bà tám” ngồi buôn dưa lê, họ là cô reception, cô thâu ngân, chị bán thuốc tây dãy bên kia, chị lau phòng, thỉnh thỏang có vài bác sĩ rãnh vì không có bệnh nhân khám, nghe họ tán đủ chuyện trời ơi trên đời, từ chuyện vật giá đến hỏi ý kiến nhau chiều nay đi ăn cưới mặc gì nhưng nổi nhất trong các đề tài là vụ Dìn Ký, lý do là người thì đọc báo in, người báo mạng với rất nhiều trang khác nhau, người coi TV, người thì nghe lóm mà quan trọng là ai cũng chứng tỏ mình biết nhiều, vụ này lại có sức thu hút lớn đối với dư luận nữa nên âm thanh cứ lớn dần lên trong khi tôi thì lại cần tương đối yên lặng để đọc Tiếp tục đọc

Nhớ Huế

Nguyễn Hoàng Quý

6373375129_23c66231d5_z

Tôi thuộc lứa sinh viên “tú tài Mậu Thân, cử nhân Nhâm Tý”, nhưng chỉ được vế đầu, còn đỗ cử nhân thì phải đợi đến. …Giáp Dần (1974) !

Có lẽ số tôi lận đận trong học hành, thi cử! Đó là nói vui hoặc là an ủi, sự thực là đậu tú tài ban B hạng bình thứ, nhưng đậu không nổi vào Nông Lâm Súc Sài Gòn bèn phải ghi danh học MPC Đà Lạt. Học cả năm không đậu đành hát bài “quy cố hương”.

Anh chị trong gia đình vẫn muốn tôi tiếp tục ghi danh vào Đại học Khoa học nhưng phần vì khiếp tóan lý hoá, phần vì hồi ở Đà Lạt thỉnh thoảng hay theo số sinh viên sử địa đi du khảo nơi này nơi khác nên thích học địa lý, phần khác là vì mê môn sử từ những thầy dạy hồi trung học, nên chàng ta bèn “dũng cảm” ghi danh học Sử Địa Đại học Văn khoa (Huế). Niên khóa 1968-69, Đại học Văn khoa bắt đầu theo chương trình “niên chế” và tôi vào năm thứ nhất chương trình này.

Là dân Quảng, cha tôi và một anh, một chị đã từng học và làm việc ở Huế nhờ đó tôi cũng đã có vài lần đến Huế lúc còn nhỏ nên vẫn có cảm tưởng thân thiết, hơn nữa khi ra đó lại ở tại Cư xá sinh viên Huỳnh Thúc Kháng của hội Ái hữu đồng châu Quảng Nam, toà soạn cũ của báo Tiếng Dân.

Nhờ những thuận lợi đầu tiên đó, cùng với việc ở cư xá chỉ biết lo học, tôi học hỏi được nhiều thứ, từ cách sống tập thể đến cách tìm tòi tra cứu, cách trình bày một bài làm ở những người anh em học năm cuối Việt Hán, Luật nên ngay năm đầu tiên, kết quả học tập tương đối khả quan.

Hè năm ấy, học quân sự học đường ở Phú Bài một tháng, vì đã có 5 tuần học ở Trung tâm huấn luyện Lam Sơn Ninh Hoà do đại học Đà lạt gửi xuống, tôi học với những sinh viên năm 2 của tất cả các phân khoa Tiếp tục đọc

Những địa chỉ khó quên ở Nha Trang

 Nguyễn Hoàng Quý

6586_373798486054571_979645294_n

Tôi đến Nha Trang lần đầu tiên vào Giáng sinh 1968 khi từ Đà Lạt chạy Honda xuống với đứa em họ, đi công việc và chỉ ở lại một đêm rồi quay về nhưng thành phố này đã tồn tại trong tôi từ năm lên sáu qua những chuyện kể, những tấm hình anh Hai tôi làm việc ở đây giữa thập niên 50 của thế kỷ trước đem về.

Nhà ga, chùa Hải Đức, nhà thờ Đá, cầu Xóm Bóng… in đậm trong tâm trí tôi từ những tháng ngày xa xưa ấy với những tự hào trẻ con, làm gì mà lũ bạn cùng xóm  hay cùng lớp nghe nói đến những nơi này? Tôi nhớ những tối mùa hè sáng trăng, đem chiếc chõng tre  ra trước sân nhà ngồi hóng mát, mẹ tôi vẫn thường đọc “Trăng rằm mười sáu trăng treo/ Anh đóng giường lèo cưới vợ Nha Trang”, mỗi lần nghe thế, tôi nghĩ đến anh Hai và mong mau đến ngày anh về.

Ra trường, vào Cam Ranh dạy học tôi đi máy bay, khoảng 4g chiều thì máy bay lượn vài vòng, hạ độ cao để xuống phi trường Nha Trang. Ra khỏi đồng rưộng phía Nam, từ trên máy bay nhìn xuống là biển xanh ngan ngát, những con sóng ngoài khơi lăn tăn và xa xa là vài chiếc thuyền đánh cá, biển và bờ biển trong nắng nhạt buổi chiều đẹp như vẽ, là nhiều căn nhà màu trắng của thành phố và hình ảnh đó đọng lại trong tôi mãi đến bây giờ khi tôi gắn bó với nơi này đã bốn mươi năm.

Cam Ranh cách Nha Trang 60 cây số, hồi ấy chỉ đi xe đò, tôi lại không có người thân ở đó nên thời gian đầu thấy xa lạ dầu rằng ngay từ 1968, khi chạy xe về lại Đà Lạt, trên đường Nha Trang-Thành, nhìn khung cảnh hiền hòa hai bên đường, tôi đã mơ sẽ được định cư lâu dài ở xứ này. Cuối tuần, những đồng nghiệp có nhà ở đây về nhà, người khác có bạn bè, người thân thì ra chơi, nghỉ cuối tuần, khi vào lại kháo nhau nào là đi uống bia dưới Duy Tân, nào là coi phim “Meurtre au soleil” ở Nha Trang Ciné đường Hoàng tử Cảnh mà mình chưa có cách nào vì vài tháng đầu tôi chưa có bạn để đi cùng.

Nhưng rồi, “Que sera, sera!”, dạy ở Cam Ranh đúng 4 tháng thì quân giải phóng đánh BMT rồi miền Nam mất, di tản, quay về, xin dạy lại, làm quen với nền giáo dục mới…và trong bối cảnh đó, tôi có KN, một “đàn chị” sinh trước tôi vài tháng, ra trường trước tôi hai năm nhưng cùng lứa “tú tài Mậu thân” và cùng học ở Huế với nhau.

1.

KN có một người cô ruột (em bố) làm việc ở bệnh viện tỉnh có chồng là đại úy pháo binh VNCH, nhà ở đường Phương Sài, khi chúng tôi có nhau, nàng đưa tôi về giới thiệu rồi từ đó, thỉnh thoảng chúng tôi ra nhà hoặc mỗi dịp hè về sở giáo dục học chính trị – nghiệp vụ tôi đều ghé nhà Phương Sài, nhà của O trở thành địa chỉ đầu tiên gắn bó với tôi với khá nhiều kỷ niệm vui buồn nhất là khi tôi thành cháu rễ của O, Chú đầu năm 1978.

Tháng 10 năm đó, khi chúng tôi chuyển lên dạy ở trường miền núi Phú Yên thì nhà O trở thành chốn đợi về, chốn nương thân của chúng tôi khi về thành phố, nơi chú cháu ngồi khề khà tâm tình, đàm đạo chuyện thời thế bên ly rượu thuốc, nơi O tôi, bằng đồng lương ít ỏi của mình vẫn sắm chút gì cho anh chị ăn chứ ở núi mấy tháng rồi! Sau này khi vợ tôi sinh con gái đầu và khi cu Út bệnh chuyển từ Tuy Hòa về Nha Trang điều trị dài ngày đều về ở đây và có sự giúp đỡ của O Chú và các em..

Khi chúng tôi về hẵn Diên Khánh, nhà O vẫn là nơi chúng tôi tá túc trước khi có chổ ở ở trường, vẫn thường xuyên lên xuống nhưng khi chúng tôi ổn định ở nhà riêng của mình không lâu thì tôi đi làm xa, vợ tôi cũng bận rộn, xuống Nha Trang thì dành thì giờ ghé ông bà ngoại các cháu từ Huế vào sống sau này, chúng tôi ít ghé thăm, mỗi năm chỉ ghé vào mùng một Tết và ngày giổ bà nội nhưng từ sâu thẳm lòng mình vẫn luôn nhớ ơn O Chú Tiếp tục đọc

Giao, bạn tôi

Nguyễn Hoàng Quý

b189033217

Tôi gặp Giao lần đầu, trong buổi nói chuyện thơ của Phùng Quán, theo lời mời của bệnh viện Diên Phước, Diên Khánh. Cùng với thơ Phùng Quán đọc, tôi được nghe độc tấu guitar classic do một người trẻ hơn, nghe nói cùng đi với nhà thơ, biểu diễn. Mặc dầu không khí hội trường, chất lượng âm thanh còn nhiều chỗ chưa đạt nhưng đã lâu lắm rồi tôi mới được thưởng thức một chương trình đậm tính văn nghệ như thế!

Giải lao, tôi trò chuyện với tay guitarist, và biết anh là Vũ Ngọc Giao, người đã đưa Phùng Quán từ Hà Nội vào. Anh đùa: “Phùng Phật sát Phật, phùng tổ sát tổ, Phùng Quán sát Quán!”. Câu nói như khởi đầu một định mệnh, xui tôi gắn bó thân thiết với người bạn mới quen này.

Cuộc thơ nhạc này được tiếp tục tại Vườn Tịnh Tâm – một trại ấp có từ 1941, cách đó chừng 3km – do hai vợ chồng giáo viên rất “văn nghệ” làm chủ.

Chiều xuống ở Tịnh Tâm thật chậm. Ngồi dưới tán cây ngoài vườn, tôi được nghe nhà thơ Phùng Quán kể lại những tháng ngày gian truân, những câu chuyện sáng tác và cuộc sống hiện tại của ông và gia đình, lại được nghe Vũ Ngọc Giao kể cơ duyên nào đã dẫn đến việc anh đưa nhà thơ xuôi Nam. Và tôi biết, giữa anh và tôi đã có một số “mẫu số chung” để có thể nói với nhau được nhiều điều ngoài công việc chuyên môn của từng người. Tối hôm đó, rất tiếc, tôi đã không thể ở lại hoặc về trễ hơn. Nhưng cũng không hề gì vì sau đó, tôi và Giao lại hội ngộ ở nhà tôi, một lần có bác sĩ Thuần, lần khác với Long Thành (chồng nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy), và sau buổi nói chuyện thơ thứ hai ở Đồng Đế, thì có Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Giao là một trong 3 người tiên phong trong việc gầy dựng lại phong trào guitare cổ điển ở Sài Gòn qua việc lập CLB Guitare Phú Nhuận. Một tên du tử có những hiểu biết cùng tầm, một nghệ sĩ lang thang như không tên tuổi. Anh có làm thơ, phần lớn là lục bát ngắt hàng. Thơ hay, đầy nỗi buồn và ẩn chứa nhiều tâm sự. Giao có chép lại cho tôi một số bài, trước khi về, và ghi lại địa chỉ ở Sài Gòn để có thể liên lạc bằng thư hoặc thăm nhau khi tôi vào đó.

Lần đầu vào Sài Gòn tìm Giao thật vất vả, tôi phải cùng đứa cháu – người dẫn đường sang tận bến Bình Đông. Gặp được nhau, thật là mừng. Giao kể đêm qua thấy “trăng huyết”, nên hôm nay tính rời khỏi nhà nhưng cứ nấn ná vì linh cảm sẽ có khách phương xa đến thăm. Chúng tôi đi uống với nhau, kể nhau nghe chuyện Sài Gòn, Nha Trang. và tôi biết, lúc này Giao thật sự khó khăn cả về cuộc sống, công việc lẫn những bức bối về tinh thần…

Lần khác, mùa hè, theo một chiếc xe tải của đứa em vào Sài Gòn, tôi lại đến thăm Giao và mời anh cùng làm dế mèn ra Nha Trang. Hôm xe ra, anh đến đúng giờ hẹn nhưng trên tay chỉ cầm một tờ báo, ngỡ bạn không đi, tôi vội hỏi, anh trả lời tỉnh bơ là vẫn đi đấy chứ ! Một chuyến đi xa ít nhất trên một tuần mà “mình trần thân trụi”! Tôi cũng đã từng giang hồ, lang thang bụi đời, cơm hàng cháo chợ, ăn bến xe ngủ bến tàu nhưng “bụi” kiểu này thì cái kiểu “một bộ ăn chơi quá thú” của tôi cũng chỉ đáng hàng hai, ba túi còn Giao chắc đã lên hàng sáu, bảy túi Tiếp tục đọc

Những ý nghĩ rời nhân tháng tư

Nguyễn Hoàng Quý

15823752-md

Anabela Sequeira, Forgotten Hero of the Tides

“Tháng Ba đã qua rồi và mùa hè sắp đến. Mỗi ngày với em đang là một kì diệu được trông đợi anh à.” (Trích thư của một bạn nhỏ, ba mươi tám tuổi)

1.

Tháng tư, những bài viết về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nhân kỷ niệm 12 năm ngày mất của ông trên blog, trên FB, trên internet, những chương trình ca nhạc tưởng niệm ở các thành phố lớn, hát nhạc TCS ở các quán café tỉnh lẻ cho thấy rằng công chúng yêu nhạc vẫn còn nhớ ông, nói cách khác, ông vẫn tồn tại đâu đó bên đời của nhiều thế hệ.

Cho hay, đàng sau mọi đồn đoán, mọi tị hiềm, mọi âm mưu, định kiến…bài viết của Trịnh Cung, Liên Thành… cả những bài ca ngợi, xưng tụng ông rồi cũng sẽ theo thời gian phai nhạt dần, chỉ còn lại nghệ thuật âm nhạc của ông trong lòng công chúng như của nhạc Phạm Duy, như thơ Bùi Giáng, như những tiểu luận về các vấn đề triết học của Phạm Công Thiện…

Tưởng nhớ TCS với tôi trong những ngày này, không hiểu sao tôi cứ nhìn thấy lại hình ảnh Khánh Ly trong một chương trình ca nhạc của đài THVN trước 1975 phát ở Sài Gòn khi Khánh Ly ở độ tuổi 30 giới thiệu bài “Để gió cuốn đi” trước khi hát. Tôi còn nhớ (gần như) nguyên văn lời giới thiệu này. Và tôi cứ lẩm nhẩm hoài để rồi viết comment cho một người bạn: “Sống trong đời sống, cần có một tấm lòng”. Ôi, cần biết bao, đáng quý và trân trọng biết bao …những tấm lòng bè bạn! Tiếp tục đọc