BÀI GIẢNG CUỐI CÙNG

16650183_1239531019435602_1098938020_n

Tôi có nhiều kỉ niệm ở miền Tây, những năm vừa mới định cư. Xứ sở của các bộ lạc da đỏ và những người chăn bò đội mũ rộng vành, đồng cỏ xanh tận chân trời điểm cúc vàng, cẩm chướng đỏ mùa hè, mênh mang tuyết trắng mùa đông, xứ sở của những con chó sói, chồn hoang chạy lạc vào thành phố, bị xe cán nửa đêm trên đường. Như những người mới đến khác, sau bốn tuần nhận tiền trợ cấp của chính phủ, tôi lang thang kiếm việc làm, lê đôi ủng nặng năm ký lô do bộ di trú Canada tặng ở phi trường, khi ngoài trời nhiệt độ xuống âm 20 độ, nặng đến nỗi nhấc chân ra khỏi tuyết là một sự cố gắng. Sau vài năm vừa học vừa làm, tôi kết thúc chương trình đại học, chuẩn bị ghi danh học chuyên ngành. Trong một giảng đường mênh mông xây theo kiểu nhà hát, với các ghế từ thấp đến cao, từ trước ra sau, sinh viên đến nghe giảng cứ như những khán giả trả tiền mua vé vào cửa, không khí lạnh lùng nghiêm khắc, ít ai biết ai; chỉ trừ trong các giờ làm thí nghiệm của những nhóm nhỏ, với các giảng viên trẻ tuổi, chúng tôi mới có dịp trò chuyện cùng nhau. Tôi nhớ bà giáo sư tiến sĩ có khuôn mặt khắc khổ giảng bài đều đều như một cái máy, đôi khi nói nhanh như chớp, chưa bước lên bục giảng đã bắt đầu nói, kết thúc bài là vừa lúc bước ra cửa. Thời đó các trường đại học thi bằng cách chọn các câu hỏi có nhiều chọn lựa (multiple choice questions). Tôi vẫn nhớ một lần được nhìn tận mặt giáo sư James Watson, từ Mỹ đi tạt qua, ghé nói chuyện với sinh viên. Ông là cha đẻ của chuỗi xoắn kép double helix DNA nổi tiếng.
Một người quét nhà, làm vệ sinh, mặc đồng phục xanh dương, khuôn mặt rám nắng của một người da đen Phi châu, tóc bạc điểm sương, râu cũng trắng, thường đến vào cuối giờ học, rất đúng giờ, đi lau dọn phòng ốc, nhặt nhạnh các vỏ chai nước ngọt và rác để lại, lau phấn trắng trên bảng đen và lau mực đen trên bảng trắng. Phòng học có hai bảng để dùng cho hai mục đích khác nhau, một thứ vẫn dùng phấn trắng như ngày xưa, và một thứ dùng mực đen sau này phổ thông hơn. Bà giáo sư thường dùng mực đen viết bài giảng và dùng phấn trắng ghi những câu hỏi. Người làm công quét dọn làm việc lặng lẽ, với một cái chổi và giẻ lau, di chuyển như một cái bóng giữa các hàng ghế chật người ngồi. Không hiểu sao tôi tin đó là một người câm. Một người gầy, cao, khuôn mặt bình thản, phía túi quần sau bao giờ cũng nhét đầy các dụng cụ của người sửa chữa lặt vặt như sổ tay, bút chì, kìm và kéo. Ông ta có một cái xe đẩy nhỏ, trên ấy có giá để dụng cụ, nhưng có lẽ do thói quen thường nhét đồ vào túi.
Không ai chú ý đến ông ta, trừ một người, là tôi. Có lẽ vì quá tự tin, thuộc bài, hay có lẽ vì chẳng hiểu gì cả, tôi có thói quen ngồi trong lớp mà không mấy chú ý nghe bài giảng, một nửa thời gian lơ đễnh nhìn trời nhìn đất. Vì vậy tôi nhận ra rằng bà giáo sư lúc nào cũng đi một đôi giày cũ, xấu, mặc dù áo quần thường thay đổi. Tôi thích đàn bà đi giày đẹp.
Ngoài môn học chính, chúng tôi cũng còn nhiều môn phụ khác. Sau này nhớ lại, tôi ngạc nhiên thấy mình hình như không học được bao nhiêu trong mùa hè đó, trừ một lần. Lần đó vị giáo sư vật lý chuẩn bị kết thúc nửa năm học, dành nhiều thời gian hơn để kiểm tra bài và rà lại các chương đã học trong năm. Tôi mất ngủ nhiều đêm vì lúc nào cũng hồi hộp và hào hứng bám chặt màn vô tuyến truyền hình. Tình hình Ba Lan và các nước Đông Âu thay đổi từng ngày. Giờ học đã qua lâu mà bài giảng vẫn còn, cả cô giáo và sinh viên không ai chú ý. Một chuyện bất ngờ xảy ra.
Người quét dọn vệ sinh đến đúng giờ như thường lệ, thản nhiên lặng lẽ làm hết những công việc của mình trong giảng đường và tiến đến phía bục giảng, đi qua trước mặt giáo sư rồi đi vòng lại phía sau bà. Giáo sư đang giảng bài, trả lời các câu hỏi, dừng lại một giây ngắn, liếc nhìn ông ta rồi quay lại với chúng tôi ngay. Trên bảng lúc đó có một bài giảng và những câu hỏi với nhiều chọn lựa.
A. Câu thứ nhất đúng
B. Câu thứ hai đúng
C. Câu thứ ba đúng
D. Tất cả đều đúng
E. Tất cả đều sai
Ông già từ từ tiến lại gần bảng đen, dùng tấm vải lau đi lau lại các hàng chữ một, từ góc thấp nhất đến chỗ cao nhất, chậm đến nỗi thấy được từng chữ lần lượt biến mất dần. Lúc ấy mọi người mới bắt đầu nhìn ông ngạc nhiên. Đó là một bài giảng quan trọng gợi ý rất nhiều cho kì thi sắp tới.
Tôi nhìn đồng hồ và biết là lớp học đã chấm dứt mười phút trước đó. Không ai nói gì, kể cả vị giáo sư. Mọi người đều yên lặng như tờ. Ông già lau tất cả bảng đen, lau sạch, chỉ chừa một câu, câu D. Mới đầu tôi tưởng ông không để ý, nhưng một lát sau khi ông bỏ đi rồi, câu ấy vẫn còn nguyên vẹn trên bảng.
Mùa hè ấy tôi còn học ở đại học thêm một vài tuần nữa trước khi dời đến một thành phố khác. Lao vào học hành thi cử, tôi không để ý đến người quét dọn cho đến khi tan trường. Sau này nhiều năm, có việc trở lại thành phố cũ, vào đại học để rút học bạ, tôi có để ý xem người dọn vệ sinh có còn ở đó không, nhưng tuyệt nhiên không gặp ông ấy nữa.
Mỗi lần nghĩ đến bài giảng, những khúc quanh, các phán đoán vội vàng quyết định nhầm lẫn, mỗi năm đến mùa tựu trường, tôi đều nhớ chuyện cũ và tự hỏi câu nào là đúng, câu nào là sai, hay tất cả đều đúng, hay tất cả đều sai, tôi thật không biết chính xác. Có thể có một người biết hơn tôi về một chuyện, về nhiều chuyện. Một người bí ẩn.

Nguyễn Đức Tùng

 

CÂY KEM

16650183_1239531019435602_1098938020_n

 

Tôi mê ăn kem nhưng không được phép.
Đúng ra, mẹ tôi chỉ cho tiền một hai tuần một cây. Không thấm tháp gì, nhất là vào mùa hè. Vừa hết năm học, bọn trẻ thám hiểm đồng quê, suốt ngày luồn trong những bụi rậm. Chơi bi, bẫy chim, bắt cào cào cho chim ăn, chia phe đánh nhau. Thời tiết mát, mùi hương lan đầy không khí, trong túi áo sơ mi của tôi bông cúc dại đã khô từ lâu. Khi tôi băng qua sân đình làng, thằng Hiển, ngồi đó từ bao giờ, đưa tay vẫy. Xung quanh nó, năm đứa khác. Hiển học trên tôi một lớp, nhưng lớn hơn nhiều tuổi, thường nghỉ học chăn trâu, cao lớn, ngăm đen, điểm đặc biệt: hàm răng dưới có hai hàm, do răng mọc không đều, khi cười mới lộ ra.
Vừa lúc đó trên đường làng, một đứa trẻ bán cà rem (kem) mang trên lưng cái thùng màu xanh lá cây, vừa đi vừa rao. Nó đi khuất rồi, chúng tôi vẫn cố nhìn theo, không đứa nào có tiền trong túi. Kem hồi đó một cây năm đồng, đồng tiền kẽm có hình cây trúc: số tiền khá lớn.
Phép lạ xảy ra. Hiển ngúc ngắc đầu bảo: đứa nào chạy theo kêu nó lại. Một đứa đuổi theo. Thằng bé bán kem quay lại, nhanh nhẹn nhưng khép nép tiến gần chúng tôi. Hiển ra dấu, thằng bé mở cái nắp thùng. Sáu đứa chụm đầu nhìn vào. Làn khói trắng bốc lên thơm lựng. Trong đời, tôi chưa gặp mùi hương nào quyến rũ thế. Thùng đựng kem chia nhiều ngăn, những màu khác nhau. Xanh mùi bạc hà, nâu mùi sô-cô-la, vàng có rắc những hột đậu phụng lấm tấm, đỏ hồng mùi dâu.
– Một cây cà rem bự, một thằng hô lớn. Ý nó gọi cho thằng Hiển.
– Thưa anh, loại gì? Thằng bé bán kem ngước nhìn Hiển, hỏi.
– Tao có tiền, đãi mỗi đứa một cây, cho bọn nó tự chọn, Hiển hất hàm.
Chúng tôi nhảy cẫng hò reo. Sáu đứa tất cả.
– Em cây xanh.
– Tao cây vàng.
– Có đậu phụng.
– Có bạc hà.
Nghe tiếng hô đã chảy nước bọt. Thấy tôi chưa kịp nói gì, thằng bé bán kem quay về phía tôi, ý hỏi. Tôi phân vân, mới đầu chọn cây xanh có mùi bạc hà, về sau đổi ý, thích cây vàng có rắc hột đậu phụng.
Cả bọn nín thở chờ đợi.
– Một cây sô-cô-la. Như chuyện thường xảy ra ở đời, khi người ta phân vân lưỡng lự quá lâu, phút cuối bao giờ cũng quyết định một cách đầy kinh ngạc, mà về sau sẽ hối hận. Tôi chưa kịp hối hận nhưng trong bụng đã bắt đầu tiếc mùi bạc hà.
Mỗi đứa một cây đứng mút giữa trưa trời nắng, chỉ Hiển là ngồi, vì nó là đàn anh, im lặng. Chúng tôi đi đi lại lại thưởng thức lạc thú giữa cơn khát. Một con chim cu về gù trên bụi tre trước sân đình. Trời nóng quá, ăn nhanh thì tiếc, ăn chậm thì kem chảy ra thành nước. Tôi cắn từng miếng nhỏ, chất ngọt, mùi thơm thấm vào kẽ răng; dịu dàng, gượng nhẹ dùng một cái lá chuối sạch hứng những giọt kem chảy xuống. Do kinh nghiệm, tôi học được cách thưởng thức trong lá chuối dư vị của thú vui êm ả. Khi những đứa kia vừa chén sạch, tôi đang ăn được hơn một nửa cây kem của mình, Hiển lại hô: mỗi đứa được kêu thêm một cây nữa.
Lần thứ hai, tôi chắc chắn chọn cây kem có mùi bạc hà.
Đến lần này thì hộp kem vừa hết sạch, chỉ còn một cây dư ra, phần của Hiển. Như vậy nó ăn ba cây. Thằng bé đóng nắp hộp kem trống trơn, rụt rè tiến lại gần, bảo: anh cho em xin tiền.
Hiển từ từ đưa mắt nhìn thằng bé một lúc, rồi ngoảnh mặt đi thật lâu.
Mùi kem bạc hà bay phảng phất trong không gian.
Thằng bé nhắc nhiều lần. Hiển quay mặt lại, nhìn nó như mới gặp lần đầu, hỏi: tiền gì hả mày? Tôi không bao giờ quên được ánh mắt của Hiển vào lúc ấy. Hàm răng nó lộ rõ.
Tôi đang mút gần xong cây kem của mình liền nhả ra, đứng ngẩn người.
Thằng bé sợ quá, van xin: anh trả tiền cho em. Hiển đứng lên, phủi quần, bảo: mày có giỏi thì đòi tiền đi. Bọn tôi đều đứng im. Giọt kem cuối cùng trong miệng tôi đắng ngắt. Tôi lùi lại một bước.
Thằng bé nhìn trước nhìn sau, biết không làm gì được, liền xốc thùng đựng kem lên, dây vải xám to bản bị rách xơ một chỗ quàng ngang lưng nó, siết thật chặt giữa hai xương bả vai nhô ra, lủi thủi bỏ đi. Nó vừa đi vừa khóc. Thùng đựng kem rung lên theo nhịp bước.
Trong sáu đứa chúng tôi: hai đứa nhảy lên sung sướng hò reo, tôn vinh thằng Hiển làm lãnh tụ; một đứa nhổ toẹt một bãi nước miếng, không biết nó nghĩ gì; hai đứa khác len lén bỏ đi. Chỉ còn tôi đứng đó một mình giữa trưa nắng gắt.
Tôi đứng đó rất lâu, phân vân không biết phải làm gì. Con chim cu trên ngọn tre trước sân đình gáy một hồi nữa rồi đổi ý, thất vọng, vụt bay đi, biến mất sau chân trời.
Nguyễn Đức Tùng