Cuộc sống cô đơn buồn tủi của Donald Trump


David Brooks( New York Times).

14570354_1085194384929040_8391658753998922752_n

Mục đích của những cuộc tranh luận kiểu gặp gỡ hỏi đáp (town hall) là để cử tri thông thường cũng có thể đặt câu hỏi cho các ứng viên. Trong số các cuộc tranh luận kiểu này mà tôi từng theo dõi, ứng viên thường hướng về phía cử tri, chăm chú lắng nghe và giải đáp (dù chỉ một phần) cho người đặt câu hỏi.

Sở dĩ họ làm thế là bởi hành động ấy lịch sự, bởi hình ảnh trao đổi nghiêm túc với người khác là một hình ảnh đẹp và bởi theo bản năng, phần lớn chúng ta đều muốn kết nối với người mà mình đang trò chuyện.

Chưa phải một hình mẫu thân thiện nhưng Hillary Clinton cư xử khá ổn trong đêm Chủ nhật vừa qua. Donald Trump thì không. Ông ta coi người đặt câu hỏi như thể những cỗ máy tự động, không can hệ tới mình và buông những câu trả lời vào khoảng không, kể cả khi ông ta có cơ hội để bày tỏ sự đồng cảm với người phụ nữ Hồi giáo trẻ tuổi.

Điều đó làm nổi bật vẻ cô độc của Trump.

Chính trị là một nỗ lực để kết nối con người, nhưng có vẻ Trump không có khả năng đó. Cơ bản, ông ta không có bạn, bên cạnh cũng không có ai tâm phúc. Nhìn một cách lạc quan thì đội ngũ vận động tranh cử của ông ta gồm toàn những kẻ làm thuê lạnh lùng, còn nếu xét tới trường hợp tồi tệ nhất thì tất cả những gì Trump có là Roger Ailes (ông chủ của Fox News).

Đảng Cộng hòa coi Trump không khác nào vết nhơ mà mình không tẩy nổi.

Phần lớn quãng đời của mình, Trump sợ bẩn và tránh tiếp xúc với người khác. Tôi có thể tưởng tượng ra hình ảnh ông ta một mình lọ mọ giữa đêm khuya, hậm hực tweet những dòng bình luận.

Trump đã tự phá vỡ kỷ lục của chính mình khi tuần nào cũng khiến ai nấy đều phát hoảng, nhưng khi chiến dịch tranh cử của ông ta tụt hết dốc này đến dốc khác, tôi cảm thấy một sự đáng thương, một nỗi buồn sâu sắc.

Hãy tưởng tượng như thể một ngày qua đi mà bạn không thể chia sẻ một khoảnh khắc tử tế nhỏ nhoi nào với ai, người thân cũng như người lạ.

Hãy tưởng tượng như thể bạn phải sống trong một thế giới đầy thù hận suốt một tuần lễ, vây xung quanh là những kẻ thù tự tạo, những đối tượng để ghê sợ và nhạo báng.

Bạn cũng sẽ thay đổi, sẽ biến chất và có lẽ sẽ nổi đóa, tìm cách trả thù thế giới này một cách thật tàn nhẫn. Thế mà cuộc đời Trump lại chỉ rặt toàn những điều như vậy.

Trump liên tục cho thấy những dấu hiệu của hội chứng mất cảm nhận, mất khả năng hiểu hoặc bộc lộ cảm xúc của bản thân. Chính vì không hiểu, những người mắc chứng này không thể tìm được mối liên hệ hoặc gắn bó với người khác.

Để chứng minh sự tồn tại của mình, họ thèm khát sự chú ý không ngừng của người khác. Thiếu đi thước đo giá trị của bản thân, họ phụ thuộc vào bên ngoài, ngoại trừ những tiêu chuẩn không bền vững như sức khỏe, sắc đẹp, sự nổi tiếng và sự phục tùng của kẻ khác.

Dường như Trump không có được tất cả những vui thú thường thấy ở tình bạn và sự hợp tác. Phụ nữ là để yêu thương nhưng trong trạng thái rối loạn của mình, ông ta chỉ biết ghét bỏ và bôi xấu họ. Vẻ làm thân của Trump giả tạo kinh khủng và ông ta tấn công phụ nữ như thể họ chỉ là bị thịt.

Hầu hết chúng ta đều cảm thấy ấm lòng khi cuộc sống của mình song hành cùng những giá trị cơ bản. Nhưng Trump sống trong một hành tinh vô luân kiểu Howard Stern, nơi ông ta không thể tận hưởng sự ngọt ngào mà lòng vị tha và việc hỗ trợ cộng đồng mang lại.

Những kẻ bắt nạt chỉ có cảm giác bình yên khi họ trở nên tàn nhẫn. Huyết áp của họ tụt ngay khi đánh đập trẻ con giữa sân chơi.

Hãy tưởng tượng bạn là Trump. Bạn đang lừa bịp để chèo kéo qua cuộc tranh luận. Bạn đang ứng cử vào một vị trí mà bản thân không hề đủ tiêu chuẩn. Bạn đang đeo đuổi một tia hy vọng mong manh ngày càng mờ nhạt.

Bạn chỉ thấy yên lòng mỗi khi xúc phạm người khác, khi bạn đe dọa tống đối thủ của mình vào tù, khi bạn lù lù phía sau bà ấy một cách đầy hăm dọa như một tên mafia chuẩn bị ra tay, khi bạn gào lên rằng bà ấy “đầy thù hận trong tim” mà ai cũng thấy rõ là bạn chỉ đang nói lên tiếng lòng của mình.

Bản chất dễ xúc động của Trump cho thấy ông ta chỉ có thể bày ra vài trạng thái: tức giận và công kích. Theo một cách nào đó, màn tranh luận của ông ta trông như kiểu giống linh trưởng đang phô trương ưu thế – đấm ngực bình bịch và gầm gừ đầy đe dọa. Nhưng ít nhất linh trưởng còn có bầy, Trump thì chỉ có một mình. Ông ta có làm gì thì cũng không ai quan tâm.

Thật quá thảm.

Sau hôm tranh luận, một trong số những người có quan điểm chỉ trích Trump, Erick Erickson, đã đăng một bài xã luận cảm động có tựa “Nếu tôi chết trước khi bạn thức giấc…”. Erickson trở thành mục tiêu tấn công của người ủng hộ Trump.

Thực ra, Erickson và vợ ông đều mang bệnh. Họ có thể sẽ qua đời trước khi con cái kịp trưởng thành. Nhưng đúng như được nói trong bài xã luận, họ đang sống cuộc đời đầy yêu thương, tin tưởng và hết mình, tận tụy. Cả hai đều thực tâm đặt niềm tin vào sự tốt đẹp của tạo hóa.

Bạn có thể chia sẻ niềm tin ấy, có thể không, nhưng Erickson đang sống một cách gắn kết – về cảm xúc, về tinh thần, về đạo đức và đầy tính cộng đồng.

Ngược lại, đời Trump nhìn ngoài thì có vẻ thành công nhưng sâu thẳm thì khốn khổ vô cùng. Không ai trong chúng ta muốn sống trong cõi hoang vu điêu tàn cô độc ấy, dù xung quanh có được dát vàng.

Ngày 9/11, ngày mà Trump thua cuộc, sẽ chẳng còn sự cô độc, cũng không còn những tiếng gầm oán hận. Ai nấy đều sẽ bỏ đi.

Thi Anh

Vụ Án Hồ Con Rùa

Unknown-1Screen Shot 2016-08-06 at 11.23.59 PM

Đầu tiên tìm hiểu một chút về lai lịch của Hồ Con Rùa.

Hồ Con Rùa, tên chính thức là Công trường Quốc tế, là tên gọi dân gian của một vòng xoay giao thông có đài phun nước, nối ba đường: Võ Văn Tần, Phạm Ngọc Thạch và Trần Cao Vân, nằm quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Khu vực Hồ Con Rùa hiện nay là một trong những khu vực hoạt động ẩm thực gần như từ sáng đến đêm, với rất nhiều nhà hàng và các quán bar xung quanh.

Lịch sử

Nguyên thủy ban đầu, tại vị trí Hồ Con Rùa hiện nay, vào năm 1790 là vị trí cổng thành Khảm Khuyết của thành Bát Quái (còn gọi là thành Quy). Về sau Minh Mạng đổi tên thành cửa Vọng Khuyết. Tuy nhiên, sau cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi (1833-1835) thì vào năm 1837, Minh Mạng đã cho phá thành Bát Quái và xây dựng một ngôi thành nhỏ hơn mang tên là thành Phụng. Vị trị cửa Khảm Khuyết trở thành một điểm ở ngoài thành và nối thẳng con đường ngoài mặt tây thành xuống bến sông.

Sau khi người Pháp chiếm được thành Gia Định (là tên chính thức của thành Phụng), họ đã cho san phẳng ngôi thành này vào ngày 8 tháng 3 năm 1859. Sau khi chiếm được 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ, người Pháp bắt đầu xây dựng thành phố vào năm 1862. Dựa trên những còn đường có sẵn dọc ngang trong thành Quy cũ, người Pháp đã quy họach khu hành chính của mình. Vị trí Hồ Con Rùa hiện nay nằm ngay vị trí cuối con đường dẫn ra bến sông được đánh số 16. Trên con đường này, dinh Thống đốc đầu tiên được xây dựng vào năm 1863. Năm 1864, Nha Giám đốc Nội vụ (Direction de I’ Intérieur – người dân đương thời gọi là “Dinh Thượng thơ”), được xây dựng ở phía đối diện dinh Thống đốc. Vào ngày 1 tháng 2 năm 1865, Thống đốc Nam Kỳ, Phó đô đốc Hải quân Pháp Pierre-Paul de la Grandière (1807-1876) đã đặt tên con đường số 16 là đường Catinat.

Vào năm 1878, một tháp nước được xây tại vị trí Hồ Con Rùa ngay nay để phục vụ nhu cầu cung cấp nước uống cho cư dân trong vùng. Từ ngày 24 tháng 2 năm 1897, đoạn đường từ phía sau nhà thờ Đức Bà đến tháp nước đổi tên thành đường Blancsubé. Đến năm 1921 thì tháp nước bị phá bỏ do không còn đủ sức đáp ứng nhu cầu cung cấp nước nữa và con đường được mở rộng nối dài đến đường Mayer (nay là đường Võ Thị Sáu) và khúc cuối này có tên là đường Garcerie. Từ đó vị trí này trở thành giao lộ như ngày nay, với tên gọi là Công trường Maréchal Joffre (cắt giao lộ là đường Testard – nay là đường Võ Văn Tần – và đường Larclauze – nay là đường Trần Cao Vân). Tại vị trí này, người Pháp đã cho xây dựng một tượng đài ba binh sĩ Pháp bằng đồng với hồ nước nhỏ, để đánh dấu cuộc xâm chiếm và biểu tượng của việc người Pháp làm chủ Đông Dương. Do đó, người địa phương ở đây thường gọi nó là công trường ba hình. Các tượng đài này tồn tại đến năm 1956 thì bị người Việt phá bỏ, chỉ còn lại hồ nước nhỏ. Giao lộ cũng được đổi tên thành Công trường Chiến sĩ.

Thời điểm xây dựng Hồ Con Rùa chưa được xác định chính xác. Một số tài liệu cho là nó được xây dựng vào năm 1965, vài tài liệu khác thì cho là 1967.

Từ 1970 đến 1974, Hồ Con Rùa thực sự được trùng tu và chỉnh trang trong đó gồm việc dựng thêm và điều chỉnh 5 cột bê tông cao có dạng năm bàn tay xòe ra đón đỡ giống như các cánh hoa đón đỡ một nhụy hoa. Công trình mới này còn bao gồm một vòng xoay giao thông với đường kính khoảng gần 100 mét, được trang trí bởi cây xanh và hồ phun nước hình bát giác lớn với 4 đường đi bộ xoắn ốc đồng hướng đến khu vực trung tâm là đài tưởng niệm và hình tượng con rùa bằng hợp kim có đỡ trên lưng bia đá lớn với các dòng chữ ghi công những người đã hy sinh cho chế độ Việt Nam Cộng Hoà. Do đó mới có tên gọi dân gian là Hồ Con Rùa.

Sau khi xây dựng xong thì ban đầu khu giao lộ này được đặt tên là Công trường Chiến sĩ Tự do, đến năm 1972 thì đổi tên thành Công trường Quốc tế. Tuy nhiên, vào đầu năm 1976, tấm bia và con rùa bị phá hủy trong một vụ nổ, nhưng người dân vẫn quen gọi là Hồ Con Rùa, thay cho tên gọi chính thức.

Huyền thoại Hồ Con Rùa

Theo các giai thoại truyền miệng, thì vào năm 1967, khi tướng Nguyễn Văn Thiệu lên làm tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, đã mời một thầy phong thủy người Hoa nổi tiếng đến coi thế đất tại dinh Độc Lập. Người thầy phong thủy này khen vị trí của dinh là vị trí của long mạch, trấn yểm vị trí của đầu rồng[1]. Con rồng này đầu tại dinh Độc Lập và đuôi nằm tại vị trí Công trường Chiến sĩ, tuy phát hưng vượng, nhưng do đuôi rồng hay vùng vẫy nên sự nghiệp không bền. Vì vậy cần phải cúng yểm bùa bằng cách đúc một con rùa lớn để trấn đuôi rồng không vùng vẫy nữa thì mới giữ được ngôi vị tổng thống lâu dài. Theo một số người thì kiến trúc tháp cao giống như hình một thanh gươm (hoặc cây đinh/kim), đóng xuống hồ nước để giữ chặt đuôi rồng. Một số người khác thì lại cho rằng kiến trúc tháp lại giống hình đuôi rồng vươn cao, nhưng có con rùa đè chặt ở phần đầu ngọn. Số khác thì lại cho là nhìn từ trên cao xuống thì toàn thể kiến trúc trông giống như một con rùa.

Vụ án Hồ Con Rùa

Cũng xuất phát từ quan niệm phong thủy trên, vào năm 1978, một nhóm người phản đối chính quyền Việt Nam thống nhất, cũng mê tín dị đoan, đặt bom phá hủy với mục đích giải thoát cho đuôi rồng để nó phá chính quyền mới. Tuy nhiên, đã bị lực lượng an ninh Việt Nam bắt giữ và ngăn chặn trong vụ án mang tên “Vụ án Hồ con Rùa”.

Theo thông tin từ các trang báo chính thống của Việt Nam thời bấy giờ loan truyền là như thế nhưng sự thật là gì, sau vụ án Hồ Con Rùa này có những uẩn khúc gì nữa. Và sự thật là ngay sau ngày 30 tháng 4 1975, Chế Độ Mới Việt Nam đã nghĩ ngay đến kế hoạch triệt hạ tận gốc nền văn học miền Nam.Vì cho rằng đây là một nền văn học thiếu lý tưởng cách mạng, ủy mị, một nền văn học của bọn Ngụy Quân, ngụy quyền. Một nền văn học chỉ mới được xây dựng trong hơn hai mươi năm dưới hai chế độ: Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa. Hai mươi năm là khoảng thời gian thực sự không dài, nhưng vì được tự do sáng tác, tự do tư tưởng, nên nền văn học miền Nam đã sản sinh ra hàng trăm nhà văn, nhà thơ, nhà báo lừng lẫy với hàng ngàn tác phẩm đầy ắp tư tưởng nhân bản yêu thương với cách hành văn phơi phới, phiêu bồng.

Những người dân miền Bắc vào Sài Gòn thời gian từ 1975-1976 không những choáng ngợp với cảnh phố xá đông đúc, hàng hóa đầy ắp, mà còn bị mê hoặc bởi những khu phố chợ trời bán đầy sách báo cũ, một rừng tiểu thuyết, thi ca, tự điển cũ, sách giáo khoa cũ, truyện tranh thiếu nhi, và rồi còn vô số các loại sách giáo dục dành cho thanh thiếu niên theo từng lứa tuổi như: tủ sách hoa xanh, hoa đỏ, hoa tím. Họ tò mò mua, mang về đọc. Rồi họ say mê những tác phẩm của các nhà văn, thi sĩ miền Nam như Võ Phiến, Hồ Hữu Tường, Dương Nghiễm Mậu, Doãn Quốc Sĩ, Duyên Anh, Vũ Hoàng Chương, Hoàng Hải Thủy, Dương Hùng Cường, Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Mạnh Côn, Thanh Tâm Tuyền, Tô thùy Yên, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Dzung Sài Gòn… Rất mau chóng chỗ đứng của nhà thơ “vĩ đại nhất” HCM, và nhà thơ “vĩ đại nhì” Tố Hữu trong lòng người dân miền Bắc bị hạ thấp đến thảm hại. Chú bộ đội “bác Hồ” giấu tác phẩm “Cậu Chó” của Lê Xuyên trong đáy ba lô để đêm đêm mang ra đọc lén. Anh công an “nhân dân” nghiền ngẫm mê say truyện gián điệp “Z.28” của Người Thứ Tám. Chị cán bộ quên ăn quên ngủ với cuốn tiểu thuyết diễm tình “Nẽo về tình yêu” của Bà Tùng Long. Người dân miền Bắc quên hẳn những tác phẩm đặt mìn, pháo kích, ném lựu đạn, rèn mã tấu của Đảng. Họ chán ngấy nền văn học khuôn phép một chiều “one way ticket”, nền văn học AK, nón cối, dép râu. Nền văn học gầm gừ được viết theo sự định hướng hay nói một cách rõ ràng hơn là theo đơn đặt hàng của Đảng. Họ thẳng tay quăng “Sống như Anh”, “Người Mẹ Cầm Súng”, “Những mẩu chuyện về cuộc đời của Hồ chủ tịch’ vào thùng rác một cách không thương tiếc.

Thế thì sau 1975, nền văn học miền Nam đã chiến thắng vẻ vang, đã dìm nền văn học của Chế độ mới xuống hố sâu huyệt lạnh. Đảng điên lên vì tức. Đảng “hạ quyết tâm” phải xóa bỏ tận gốc rễ nền văn học miền Nam. Tháng 9 năm 1975, Đảng hô hào và phát động chiến dịch tận diệt nền “văn hóa đồi trụy”, “văn hóa phản động”.

Hàng ngày, những chiếc loa trong phường, trong xóm ong ỏng kêu gào, hò hét người dân đem nộp những văn hóa phẩm “tàn dư của Mỹ Ngụy”. Học sinh, sinh viên, viên chức nhà nước được học tập về chiến dịch tận diệt văn hóa phẩm phản động. Không khí nô nức lắm, hùng hổ lắm. Vài nhà văn và vài tác phẩm tiêu biểu của văn học miền Nam được Đảng chiếu cố cho vào chưng bày chung với xe tăng, đại pháo ở phòng “Triển Lãm Tội Ác Mỹ Ngụy”. Trên vô tuyến truyền thanh, ngày nào cũng phát đi lời kêu gọi cấm tàng trữ những văn hóa phẩm độc hại và hình ảnh cò mồi là những buổi đốt sách báo đồi trụy được chiếu đi chiếu lại trên ti vi để đập vào mắt dân Sài Gòn.

Nhưng Đảng đã thất vọng não nề. Càng ra sức tiêu diệt, sách báo cũ của miền Nam càng có giá. Người ta đem giấu, copy lại, truyền tay nhau đọc. Và rồi theo chân những người “chiến thắng”, sách báo “phản động” lại đi ngược Trường Sơn ra tận miền Bắc. Trong khi đó, những sách báo của Đảng mang vào miền Nam, “Thép đã tôi thế đấy”, “Dưới ngọn cờ quang vinh của Đảng”, “Liên Khu Năm anh dũng”, “Hồ chí Minh tuyển tập” nằm ế chỏng gọng, chờ bụi bám trên các giá sách ở các nhà sách quốc doanh. Đảng nhớ lại cuộc phản kháng “Nhân Văn Giai Phẩm” của các nhà văn, nhà thơ miền Bắc năm 1956 và rồi Đảng càng sợ hãi ảnh hưởng tư tưởng của các văn nghệ sĩ miền Nam. Những chuyên viên “tìm tội” cùng với những chuyên viên giết người của Đảng họp khẩn cấp. Cần phải có “thái độ quyết liệt” với bọn này càng sớm càng tốt. Thời gian này, “ngụy quân, ngụy quyền” miền Nam đã bị Đảng dụ khị cho vào tù hết rồi. Đảng đang rất rảnh tay để tiêu diệt đám văn nghệ sĩ Sài Gòn. Đây rồi, Đảng đã nghĩ ra một kế thần sầu quỷ khốc để có cớ đưa tất cả những bọn văn nghệ sĩ miền Nam, “bọn biệt kích cầm bút” vào tù. Đó là “gắp lửa bỏ tay người” mà ĐCS luôn áp dụng ở bất cứ nơi đâu, bất cứ ngõ ngách nào có sự thống trị của họ.

Đêm 1 tháng Tư năm 1976, cả Sài Gòn rung chuyển vì một tiếng nổ rất lớn ở ngay trung tâm thành phố. Người dân Sài Gòn ngơ ngác, họ chưa biết chuyện gì xảy ra. Kháng chiến quân VNCH về giải phóng Sài Gòn chăng? “Quân ta” đã về??? Nhiều người dân Sài Gòn suốt đêm mơ mộng như vậy!!! Không, không phải thế!!! Sáng sớm hôm sau đọc các “báo nhà nước” họ được biết bọn “phản động” đêm qua đã đặt mìn cho nổ tung con rùa làm bằng đồng đen dưới chân tượng đài kỷ niệm những nước đồng minh đã viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa. Đó là “Công Trường Quốc Tế” nằm ngay ở quận Nhất Sài Gòn. Báo chí nhà nước tường thuật chi tiết vụ phá hoại. Bình thường đó là nơi tụ tập hàng đêm để hóng mát của các anh công an, bộ đội đóng ở Dinh Độc Lập, Đài phát thanh, Bưu Điện, Tòa Đại Sứ Mỹ. Thế mà tối hôm đó công an và bộ đội đều vô sự!!!??? Chỉ có những người dân Sài Gòn đi hóng mát và ngồi chơi ở đó là… banh xác.

Lực lượng an ninh đã bắt được thủ phạm ngay lập tức. Liền sau đó một chiến dịch quy mô được Đảng tung ra. Tất cả các văn nghệ sĩ miền Nam có tên trong một bảng phong phần đều bị truy bắt trong chiến dịch từ ngày 2/4/76 đến ngày 28/4/76 với tội danh đặt mìn phá hủy “hồ con rùa”. Người dân Sài Gòn chưng hửng, hoang mang và lo sợ tột cùng.

Đến năm 1982, nhà xuất bản Tuổi Trẻ cho phát hành một cuốn sách dưới tựa đề “Vụ Án Hồ Con Rùa” của văn nghệ công an Huỳnh Bá Thành (tức Ba Trung). Trong cuốn sách, Đảng đã bịa đặt ra một câu chuyện thần thoại rằng thì là: Vào năm 1967, khi Nguyễn Văn Thiệu lên làm tổng thống đã mời một thầy phong thủy Tàu nổi tiếng đến coi thế đất tại dinh Độc Lập. Người thầy phong thủy này cho rằng vị trí của dinh là vị trí của long mạch trấn yểm vị trí của đầu rồng. Con rồng này đầu tại dinh Độc Lập và đuôi nằm tại vị trí của Công Trường Quốc Tế. Do đuôi rồng hay vùng vẫy nên sự nghiệp của người cầm đầu dinh Độc Lập sẽ không bền. Vì vậy, nghe theo lời ông thầy phong thủy, Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu đã yểm bùa bằng cách đúc một con rùa lớn để trấn đuôi rồng, không cho vùng vẫy được nữa để giữ được ngôi vị tổng thống lâu dài!? Trong cuốn sách gian dối bẩn thỉu này, Huỳnh Bá Thành đã cho các nhà văn miền Nam “trói gà không chặt” biến hết thành các “điệp viên tình báo” lão luyện, mưu mô, xảo trá. Họ cũng được biến thành các chuyên viên chất nổ được huấn luyện kỹ lưỡng, thành thục vv..và vv. Đảng vu cáo rằng các văn nghệ sĩ miền Nam đều là tay sai của CIA cài lại, do mê tín dị đoan, do ngu muội và tàn ác đã cho đặt mìn phá hoại “đuôi rồng” để “mong” chính quyền cách mạng sụp đổ! Nhưng cuối cùng, “bọn chúng – nghệ sĩ miền Nam” đều bị các lực lượng an ninh của Đảng phát hiện và tóm gọn.

Luôn luôn, Đảng rất yêu và quý trọng tài năng của con người vì bác đã dạy “con người là vốn quý”. Đảng không bao giờ bắt bớ các nhà văn, nhà báo vì tư tưởng hay chính kiến của họ. Đảng chỉ bắt những đứa “đặt mìn sát hại dân lành”. Đảng chỉ bắt những đứa “đưa tin xuyên tạc sự thật”. Đảng chỉ bắt những đứa “tiết lộ bí mật quốc gia”. Đảng chỉ bắt những đứa “vu cáo, nói xấu lãnh đạo”. Đảng chỉ bắt những đứa “trốn thuế” mà thôi. Nếu ai còn không tin, cứ cho biết, Đảng sẵn sàng chưng bày hết “bằng chứng tội ác” của chúng nó.

Thế là, theo chân các “ngụy quân, ngụy quyền mang nợ máu” với nhân dân, gần 50 văn nghệ sĩ miền Nam thuộc “thành phần nguy hiểm” lại lần lượt theo chân nhau vào tù với cái gọi là “Vụ Án Hồ Con Rùa” do Đảng tự dựng nên. Từ đó, một thế hệ tinh hoa của dân tộc lại bị thủ tiêu và nền văn học của dân tộc lại bị kìm hãm, không được tự do phát triển.

(nguồn tạp chí cải bẹ)

Lịch sử ngày độc lập nước Mỹ

ve-may-bay-gia-re-di-my-du-quoc-khanh-4-72

Tại Hoa Kỳ, Ngày Độc Lập, còn gọi là 4 tháng 7 (the 4th of July), là một ngày lễ liên bang để kỷ niệm Tuyên ngôn Độc lập được ký năm 1776.
Ngày lễ này thường được đi kèm với những cuộc diễu hành, liên hoan ngoài trời, và nhiều buổi lễ công cộng. Từ năm 1777, pháo hoa đã được đốt để đón mừng ngày lễ. Ngày Độc lập được chào đón với những biểu hiện yêu nước. Nhiều nhà chính trị thường đọc diễn văn ca ngợi các di sản và người dân của Hoa Kỳ. Các gia đình thường làm cuộc liên hoan ngoài trời, thường tụ họp với những người bà con ở xa, vì được nghỉ nhiều ngày cuối tuần hơn. Các cuộc diễu hành được diễn ra sáng ngày 4, vào buổi tối thường có pháo hoa ngoạn mục. Trong dịp lễ thì nhiều gia đình treo cờ Hoa Kỳ ở trước nhà để mừng.

Ngày 4 tháng 7 năm 1777 là ngày Hoa kỳ giành độc lập và trở thành một quốc gia. Tính chất thiêng liêng của ngày này được thể hiện qua câu văn trong báo Virginia ra ngày 18/07/1777: “Ngày 4 tháng 7 là ngày vinh quang và đáng nhớ nhất, từ rày về sau sẽ được tổ chức cho toàn nước Mỹ từ năm này đến năm khác cho đến khi nào thời gian không còn nữa. Amen và Amen”
Hai nơi làm lễ lớn nhất là Philadelphia (Pennsylvania) và Boston (Massachusetts). Năm 1777, người dân Phidalelphia tưởng nhớ ngày 4 tháng 7: chuông ngân, súng nổ, đèn cầy thắp sáng, pháo đốt, nhưng chính thật ngày 4 tháng 7 năm 1777 là một ngày rất giản dị bình thường. Ngày nay, người dân Philadelphia làm lễ trong Independence Hall, nơi những hoạt cảnh lịch sử đã được dựng lại và bản Tuyên ngôn Độc lập được đọc.

Khi chiến tranh chấm dứt năm 1783, ngày 4 tháng 7 trở thành ngày nghỉ trong vài nơi. Tại Boston, ngày lễ Độc lập đã thay thế ngày 5 tháng 3, ngày thảm sát cuả Boston (Boston Massacre), và được xem như ngày lễ tổ quốc chính. Có diễn văn, sự kiện quân sự, diễn hành và pháo bông. Năm 1941, quốc hội Mỹ tuyên bố ngày 4 tháng 7 là ngày lễ chính thức của USA

Lịch sử

Christopher Columbus khám phá ra châu Mỹ vào năm 1492. Nhiều dân thuộc địa đến Mỹ để tìm tự do tín ngưỡng: Espagne, Portugal, Anh, Pháp, Hòa Lan đến thuộc địa xứ này . Dân hành hương (pilgrims) là nhóm dân tị nạn đầu tiên tại Mỹ: nhóm Puritans đến cư ngụ tại Massachusetts, nhóm Quakers đến vùng Pennsylvania và người Công Giáo định cư tại Maryland.

Dân thuộc địa Hoà Lan và Pháp đến Mỹ để mua bán. Dân Pháp định cư tại Canada, dân Espagne đến Florida, dân Hòa Lan đến New York
Năm 1763 Anh Quốc thắng quân Pháp và chiếm Canada.

13 tiểu bang đầu tiên của Hoa kỳ: Connecticut, New Hampshire, New York, New Jersey, Massachusetts, Pennsylvania, Delaware , Virginia, North Carolina, South Carolina, Georgia, Rhode Island, Maryland

Lúc ký kết, Hoa Kỳ gồm 13 thuộc địa dưới quyền cai trị của vua George III (1738-1820, Windsor). Lúc bấy giờ các thuộc địa Anh ở Mỹ phải trả thuế cho mẫu quốc quá cao nhưng lại không có đại biểu trong Quốc Hội Anh (Taxation without Representation), nên nổi dậy đòi quyền tự do và độc lập.

Năm 1774 đại biểu của 13 thuộc địa họp lần đầu tiên tại Philadelphia, Pennsylvania. Cuộc họp này gọi là Quốc Hội Lục Ðịa (Continental Congress) và do Tướng George Washington thống lãnh quân đội chống lại Anh Quốc.

Các thuộc địa này sau này trở thành 13 Tiểu bang đầu tiên của Mỹ khi Mỹ trở thành độc lập với Anh Quốc.

Tiến trình độc lập

1774: 13 thuộc địa gởi đại diện đến Philadelphia, Pennsylnania để thành lập Quốc Hội Lục địa thứ Nhất (First Continental Congress). Họ nôn nóng chuẩn bị nhưng vẫn còn lâu mới tuyên chìến.

4/1775: Quân đội của vua George tiến về Concord, Massachusetts. Tiếp theo là trận chiến tại Concord, là tiếng súng (tại đây) vang vọng đến khắp thế giới, đánh dấu bước đầu cuộc cách mạng Mỹ

5/1776: Sau gần một năm cố gắng giải quyết sự khác biệt với mẫu quốc Anh, các thuộc địa gởi một lần nữa các đại diện cho Quốc Hội Lục địa thứ Nhì.

6/1776: Sự quyết tâm được khởi đầu bởi Richard Henry Lee , Virginia. Nhận thấy rằng những cố gắng của họ vô vọng, một ủy ban được thành lập để soạn thảo bản Tuyên Ngôn Độc Lập công khai. Đứng đầu là Thomas Jefferson, ủy ban còn có John Adams, Ben Benjamin Franklin, Philip Livingston và Roger Sherman.

6/7/1776: Pennsylvania Evening Post là tờ báo đầu tiên đăng bản Tuyên Ngôn Độc Lập.

8/7/1776: Lần đầu tiên bản tuyên ngôn được đọc trước công chúng tại Independence Square của Philadelphia. Cái chuông trong Independence Hall được biết dưới tên “Province Bell” sau này được đổi tên là Liberty Bell.

8/1776: Việc ký Bản Tuyên Ngôn Độc Lập bắt đầu ngày 4 tháng 7 nhưng phải đến tháng 8 mới hoàn tất. Và ngày 4 tháng bảy được chấp nhận như ngày kỷ niệm chính thức cho sự độc lập Hoa Kỳ khỏi nước Anh

4/7/1777: Lễ Independence Day được cử hành lần đầu tiên.

Bản Tuyên Ngôn Độc Lập

Bản Tuyên Ngôn độc Lâp trở thành một tài liệu chính trị được ca tụng nhất và thời nào cũng được chép ra. Thomas Jefferson soạn ra bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập là sau ngày được bầu làm Tổng Thống thứ 3 của Hoa Kỳ. Bản Tuyên ngôn Độc Lập được xét duyệt bởi John Adams, Benjamen Franklin và Jefferson, rồi được 56 hội viên ký tên và xác nhận không còn là thuộc địa của Anh Quốc nữa.

John Hancock, chủ tịch Second Continental Congress (Đại hội Lục Địa lần II), là người đầu tiên ký bản Tuyên Ngôn. Viết hoa, chữ ký của ông nổi bật trải rộng trên tài liệu này. Từ đó khi nào người ta hỏi bạn “John Hancock” tức là người ta có ý muốn bạn ký tên đó. Cuối cùng có tất cả 56 người ký bản Tuyên Ngôn, chứng tỏ sự anh hùng của họ vì tuyên bố đòi độc lập với Anh Quốc là một hành động phản bội, có thể bị tội tử hình. Họ can đảm hy sinh mọi thứ bởi họ phải bỏ nhà và ẩn náu nơi khác.

Bản tuyên Ngôn Độc Lập là bằng chứng của Cách Mạng Hoa Kỳ, nói lên những bất bình với vua George III. Đó cũng là một bài tuyên bố về lãnh thổ và triết lý, chiếu theo những bài viết của các triết gia John Locke và Jean Jacques Rousseau. Nó khẳng định rằng mọi người đều do Thượng Đế tạo ra, từ thiên nhiên mà ra, vậy phải có những quyền lợi tự nhiên nào đó, không được xâm phạm quyền tự do của họ.

Từ đó, Bản Tuyên Ngôn và Cách Mạng Hoa Kỳ là cảm hứng cho mọi người tìm tự do trên khắp thế giới.

Nguồn Internet

Món quà của cha

chuc-mung-ngay-cua-cha-happy-fathers-day-3-1024x705

Một chàng trai sắp tốt nghiệp Đại học. Đã từ lâu anh mơ ước một chiếc xe thể thao tuyệt đẹp được trưng bày ở cửa hiệu. Và anh đã nói với cha điều ước muốn đó. Ngày tốt nghiệp đến, anh háo hức chờ đợi… Buổi sáng, người cha gọi anh vào phòng riêng. “Con trai, ta rất tự hào về con” – ánh mắt ông nhìn anh thật trìu mến. Rồi ông trao cho anh một hộp quà được gói rất sang trọng. Ngạc nhiên, chàng trai mở hộp quà và thấy một quyển sách được bọc bằng vải da, có tên chàng trai được mạ vàng. Tức giận, anh ta lớn tiếng với cha: “Với tất cả tiền bạc cha có, mà chỉ có thể tặng con một quyển sách này thôi sao?”. Rồi anh chạy vụt ra khỏi nhà và vứt quyển sách vào góc phòng.

… Nhiều năm trôi qua, chàng trai giờ đã trở thành một nhà kinh doanh thành đạt. Anh có một ngôi nhà khang trang và một gia đình hạnh phúc. Nhưng người cha đã già và một hôm anh nghĩ mình cần phải đi gặp cha. Anh đã không gặp ông ấy kể từ ngày tốt nghiệp. Trước lúc lên đường, anh nhận được một bức điện tín báo rằng người cha đã qua đời và ông trao toàn bộ quyền sở hữu cho con trai. Anh cần phải trở về ngay lập tức để chuẩn bị mọi việc. Khi bước vào ngôi nhà của cha, bỗng nhiên anh thấy một nỗi buồn và ân hận khó tả xâm chiếm tâm hồn anh. Đứng trong căn phòng ngày xưa, nhưng kí ức trong anh ùa về… Và bất chợt, anh nhìn thấy quyển sách khi xưa nằm lẫn trong mớ giấy tờ quan trọng của cha ở trên bàn, nó vẫn còn mới nguyên như lần đầu anh nhìn thấy cách đây nhiều năm.

Nước mắt lăn dài trên má, anh lần giở từng trang, bỗng có một vật gì đó rơi ra… Một chiếc chìa khóa!!! Kèm theo đó là tấm danh thiếp ghi tên người chủ cửa hiệu, nơi có bán chiếc xe thể thao mà anh từng mơ ước. Trên tấm danh thiếp còn ghi ngày tốt nghiệp của anh và dòng chữ “Đã trả đủ”.

(Nguồn Internet)

Memorial Day ( tác giả: Phu Tho Nguyen)

11351124_783694588412356_4637500700545705783_n (1)

Cuối tuần này ở Mỹ là ngày lễ , một ngày lễ lớn, cả nước chính thức được nghỉ. Ý nghĩa chính của ngày lễ Memorial là tưởng niệm những người đã ngã xuống cho đất nước. Khái niệm anh hùng của người Mỹ đơn giản và vị tha. Những người hy sinh để bảo vệ đất nước, bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ người khác, hoặc vì mệnh lệnh tổ quốc mà hy sinh, đều được coi là anh hùng.
Nước Mỹ trải qua nhiều đời tổng thống, nhiều cuộc chiến, dân chúng đồng tình cũng có, phản đối cũng có, nhưng người ngã xuống đều được trân trọng, vì họ đã hy sinh cho đất nước.
Người Mỹ có Civil War, cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn. Họ vẫn nhắc nhở về cuộc chiến này, tri ân những người đã hy sinh, giảng dạy kinh nghiệm, nhưng họ không tự hào về cuộc chiến Bắc Nam đó. Ngược lại, họ dùng cuộc nội chiến để nhắc nhở những kinh nghiệm qúy giá, và kêu gọi sự đoàn kết đất nước để tránh chia rẽ .
United We Stand – Đoàn kết chúng ta tồn tại ! Một đất nước non trẻ như Mỹ, không hề có bề dày lịch sử ngàn năm văn hiến như các nước phương Đông hoặc châu Âu, lại hiểu ra và thực hiện cái nguyên tắc bó đũa hay như vậy. Do vậy, đất nước họ mạnh.
Nghĩ lại, đất nước Việt Nam có bốn ngàn năm văn hiến nhưng chưa có một ngày Memorial Day chung cho cả dân tộc. Bao nhiêu anh hùng liệt sĩ Việt nam đã ngã xuống, anh dũng hy sinh vì quê hương đất nước. Nhưng cái nhìn của người VN có khác, mỗi chế độ có ngày liệt sĩ riêng để tưởng niệm cho chính thể của mình.
Đất nước thì trường tồn, còn chế độ thay đổi theo thời gian . Tính ra, từ thời các vua Hùng dựng nước, trãi qua bao giai đọan lịch sử … chống Tàu, chống Pháp, chống Mỹ … từ Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê … rồi Quốc gia, Cộng sản… Đất nước Việt Nam thì vẫn còn đó, nhưng bao nhiêu triều đại đã đổi thay.
Bao nhiêu cuôc nội chiến đã xảy ra … triều Trịnh thì xử Lê, Nguyễn thì xử Trịnh, Gia Long thì xử Nguyễn Huệ ….cứ chế độ sau thì phải xử chế độ trước, thậm chí còn không đội trời chung !!!
Có lẽ vì sự thù hận và những ngộ nhận giữa thể chế chính trị và quốc gia, mà người ta không chấp nhận sự hy sinh của người khác cũng là vì tổ quốc chăng? Có nhiều quan niệm cho rằng yêu chế độ, yêu đảng cầm quyền, mới là điều kiện cần và đủ để yêu nước.
Thậm chí nhiều người còn đồng hoá giữa việc yêu tổ quốc và đồng quan điểm chính trị. Ví dụ như chỉ có ông Nguyễn Huệ yêu nước thôi, còn ông Hàm Nghi thì không, vì ông Hàm Nghi là con cháu ông Gia Long? Đại loại như thế rồi cùng nhau cãi cho qua ngày tháng !
Thiết nghĩ, tất cả những người con của đất nước Việt Nam đã hy sinh cho tổ quốc từ thời dựng nước đến nay đều xứng đáng được chúng ta tri ân.
Nhiều nước trên thế giới, các đảng phái có quan niệm chính trị khác nhau, tranh cãi rất mãnh liệt, nhưng khi đụng đến quyền lợi tổ quốc họ lại chung tay nhau. (Đảng cọng hoà & dân chủ của Mỹ là một ví dụ, và cũng có hàng triệu người đã hy sinh đóng góp cho đất nước Mỹ mà chẳng theo đảng phái nào cả.)
Thời đại ngày nay, thế giới văn minh và dân trí cao. Hầu hết, ai cũng phân biệt được đâu là cái chung, đâu là cái riêng. Nước mất thì nhà tan ! Một quốc gia mạnh là quốc gia luôn đặt quyền lợi của tổ quốc và nguyện vọng người dân trên cao nhất. Có vậy mới tạo được sức mạnh đại cuộc. Mình nghĩ vậy.

PHU THO NGUYEN

10981511_783777455070736_1503159941267841214_n

Một cựu chiến binh trong chiến tranh Iraq, (người đã yêu cầu giấu tên) ngồi và uống một ly bia bên cạnh các ngôi mộ của những người bạn đơn vị cũ của mình. Trung sĩ Eric Snell và Pfc Michael Pittman, cả hai đều là sư đoàn 1 bộ binh, tại nghĩa trangArlington West Memorial vào ngày Memorial Day tại Santa Monica, California vào ngày 30 tháng 5 năm 2011. ( Hình ảnh của Getty Images)

Những ngày cuối cùng ở Việt Nam

Để chúng ta nhớ lại những ngày tàn cuộc chiến.
Để các bạn sinh sau 75 biết những gì đã diễn ra trong chiến tranh Nam Bắc
Để mọi người chiêm nghiệm vì sao dân miền Nam lại bất chấp tính mạng để vượt biển
Và để trả lời một câu hỏi : Tại sao nước Thái Bình Dương lại có độ mặn nhất trong các đại dương?
Món quà bé nhỏ này TUONGTRI.COM thân ái gởi đến các độc giả yêu quý

poster_1440.bece13a4771b

Bạn đọc có thể xem phim này ở đây .
Với phụ đề Việt Ngữ
http://phimvang.com/phim/ngay-tan-cuoc-chien-nhung-ngay-cuoi-cung-o-viet-nam-last-days-in-vietnam.html

20 câu nói không thể quên của Martin Luther King

20-cau-noi-khong-the-quen-cua-martin-luther-king

1. Tự do không bao giờ được ban phát từ những kẻ cai trị, nó phải được đòi hỏi bởi những người bị cai trị.

2. Bạn không thể điều khiển hướng gió, chỉ có thể điều khiển cánh buồm. Bạn không cần phải thấy hết các bậc thang mà chỉ cần đi bước đầu tiên với một niềm tin.

3. Bóng tối không thể xua đi bóng tối, chỉ có ánh sáng mới làm được điều đó. Hận thù không thể xua đi hận thù, chỉ có tình yêu mới có thể làm được điều đó.

4. Sự khác biệt giữa một người mơ mộng và một người có tầm nhìn là người mơ tưởng luôn nhắm mắt còn người có tầm nhìn thì luôn mở mắt.

5. Thử thách lớn nhất của một người không phải khi anh ta đang ở trong sự thoải mái và tiện nghi, mà là khi anh ta đang ở trong sự thách thức và tranh cãi.

6. Không ai biết tại sao họ lại sống cho đến khi họ biết được họ sẽ chết vì điều gì.

7. Tôi đã chọn tình yêu. Hận thù là một gánh nặng quá lớn.

8. Niềm tin là bước chân đầu tiên, cho dù bạn không thể nhìn thấy hết cả cầu thang.

9. Một quốc gia hay nền văn minh tiếp tục sinh ra những người đàn ông nhu nhược đang tự sinh ra cho mình một cái chết tinh thần trong tương lai.

10. Trong giây phút cuối cùng, chúng ta sẽ không nhớ lời nói của địch thủ, mà là sự im lặng của bạn bè.

11. Chúng ta phải biết sống chung với nhau như anh em hoặc tiêu tan cùng nhau như những kẻ ngốc.

12. Chúng ta phải nhớ rằng trí thông minh thôi thì chưa đủ. Trí thông minh cộng với đức tính – đó mới là mục đích của nền giáo dục thật sự.
Sự giáo dục hoàn chỉnh không chỉ cho con người sức mạnh của sự tập trung, mà phải có những mục đích chính đáng để tập trung nữa.

13. Đừng quên rằng những gì Hitler đã làm ở nước Đức đều hợp pháp.

14. Tha thứ không phải là một hành động thỉnh thoảng. Đó là một thái độ vĩnh viễn.

15. Sự thay đổi không đến một cách tự nhiên, mà nó đến từ sự phấn đấu không ngừng.

16. Tình yêu là thể lực duy nhất có thể biến một địch thủ thành một người bạn.

17. Sẽ có một ngày nào đó một cá nhân phải đứng về một phía, không nhất thiết là an toàn, cũng không phải là chính trị, hoặc phổ biến, mà anh ta phải đứng về phía đó vì lương tâm anh ta cho rằng đó là điều đúng.

18. Thời điểm luôn đúng để làm một việc đúng.

19. Câu hỏi liên tục và khẩn cấp nhất trong cuộc đời là: “Bạn đang làm gì cho người khác?”.

20. Một người luôn có một trách nhiệm đạo đức để phản đối những luật bất công.

images (10)

10 SỰ THẬT THÚ VỊ VỀ NGÀY GIÁNG SINH

anh giang sinh dep 01

Lễ Giáng sinh là dịp để mọi người quây quần, trao quà và thể hiện tình yêu thương. Mặc dù ngày càng phổ biến ở nhiều quốc gia, nhưng không phải ai cũng biết tất cả về ngày lễ đặc biệt này. Dưới đây là 10 sự thật thú vị về ngày Giáng sinh.

1. Không phải lúc nào cũng là ngày 25/12
images (3)

Mặc dù Lễ Giáng sinh là ngày kỷ niệm thời khắc Chúa Jesus ra đời, nhưng ngày 25/12 chưa từng được đề cập đến trong Kinh Thánh. Hầu hết các sử gia đều tin rằng Chúa Jesus sinh vào mùa xuân. Mãi đến thế kỷ thứ 3, ngày này mới được chọn làm ngày lễ chính thức. Nhiều nghiên cứu cho rằng nó được chọn vì trùng với lễ hội của Saturnalia – ngày lễ thần nông Saturn, với những buổi tiệc kéo dài và mọi người thường tặng quà cho nhau.
Hầu hết các sử gia đều tin rằng Chúa Jesus sinh vào mùa xuân.

2. Sự ra đời của cây Giáng sinh
images (6)

Một truyền thống khác cũng bắt nguồn từ lễ hội Saturnalia là cây Giáng sinh. Trong ngày Đông chí, những cành cây được phân phát như một lời nhắc nhở về mùa xuân, và đó chính là nguồn gốc đầu tiên của cây Giáng sinh. Người Đức là những người đầu tiên mang cây xanh vào nhà và trang trí cho chúng. Những năm 1830, chúng bắt đầu du nhập vào Hoa Kỳ, nhưng phải đến năm 1848, khi Hoàng tử nước Đức Albert tự trang trí một cây thông cho các con và vợ của ông – Nữ hoàng Anh Victoria – thì việc trang trí cây Giáng sinh mới thực sự trở thành một nghi thức truyền thống.
Hoàng tử nước Đức Albert, Nữ hoàng Anh Victoria và các con hân hoan bên cây Giáng sinh rực rỡ.

3. Ông già Noel là ai?
mallsanta_9838

Chắc không nhiều người biết rằng ông già Noel được xây dựng dựa trên hình tượng của St. Nicholas – một giám mục Thiên chúa giáo sống trong thế kỷ thứ tư. Thánh Nicholas đã sử dụng toàn bộ tài sản thừa kế của mình để giúp đỡ người nghèo. Ông cũng là người đứng ra giải cứu những người phụ nữ thoát khỏi kiếp hành nghề mại dâm. Truyền thuyết về ông ngày càng lan rộng, ông được biết đến với cái tên Sinter Klaas tại Hà Lan và dần bị biến thể thành Santa Claus. Ngày nay, ông già Noel bụng bự đã trở thành biểu tượng của người bảo vệ trẻ em, một người hiền lành, nhân hậu và luôn phân phát niềm vui (những món quà) cho những đứa trẻ ngoan.
Ông già Noel được xây dựng dựa trên hình tượng của St. Nicholas – một giám mục Thiên chúa giáo sống trong thế kỷ thứ tư.

4. Bộ đồ đỏ của ông già Noel và Coca Cola
10-su-that-thu-vi-ve-giang-sinh-3-490x301

Santa Claus từng mặc những bộ đồ có màu sắc khác nhau trong nhiều năm, bao gồm đỏ, xanh dương, trắng và xanh lá. Nhưng hình ảnh của ông già huyền thoại chỉ trở nên phổ biến khi ông mặc bộ đồ màu đỏ trong quảng cáo của Coca Cola những năm 1930

5. Câu chuyện đáng yêu của những chiếc tất
images (5)
Những chiếc tất treo bên cạnh lò sưởi là hình ảnh không thể thiếu trong ngày lễ Giáng sinh, và chúng xuất hiện đầu tiên ở Hà Lan. Trong ngày lễ thánh Nicholas (được tổ chức vào ngày 6/12), những đứa trẻ thường treo tất của mình trước khi đi ngủ và sẽ tìm thấy những món quà nhỏ từ thánh Nicholas vào sáng hôm sau. Việc treo tất này bắt nguồn từ một câu chuyện rất đáng yêu: Có một người đàn ông nghèo không thể sắm của hồi môn khi 3 cô con gái đi lấy chồng. Thánh Nicholas muốn gây bất ngờ nên đã thả một túi vàng xuống ống khói của gia đình, nhưng nó lại rơi vào một chiếc tất đang được hong khô bên lò sưởi. Và đó là một món quà tràn đầy tình yêu thương!
Những chiếc tất treo bên cạnh lò sưởi là hình ảnh không thể thiếu trong ngày lễ Giáng sinh, và đằng sau chúng là một câu chuyện về tình yêu thương.

6. Jingle Bells là bài hát của lễ Tạ ơn
10-su-that-thu-vi-ve-giang-sinh-10-490x634

Lames Lord Pierpont, một người chơi đàn organ đến từ Savannah, Georgia, lần đầu tiên trình diễn bài hát do anh sáng tác “The One Horse Open Sleigh” tại buổi hòa nhạc của lễ Tạ ơn ở nhà thờ. Bài hát được tái bản vào năm 1857 và có tên là Jingle Bells. Đây cũng là bài hát đầu tiên được phát trong không gian bởi phi hành đoàn Gemini 6 vào ngày 16/12/1965.
Bài hát Jingle Bells lần đầu tiên được biểu diễn trong một buổi hòa nhạc của lễ Tạ ơn

7. Washington Irving là người tạo ra cỗ xe ngọt ngào của Santa
santaclaus1
Washington Irving là nhà văn Mỹ đầu thế kỷ 19. Ông nổi tiếng với tác phẩm The Legend of Sleepy Hollow, và cũng là người có ý tưởng về cỗ xe trượt tuyết biết bay của ông già Noel. Trong The Sketch Book of Geoffrey Crayon tập hợp 1.819 truyện ngắn, Irving kể lại giấc mơ nhìn thấy Thánh Nicholas bay ngang bầu trời trong một toa xe. Câu chuyện của ông trở nên phổ biến ở Mỹ và Anh, đến mức ngay cả Charles Dickens cũng thừa nhận lấy cảm hứng từ Irving khi tạo nên tác phẩm kinh điển A Christmas Carol.
Nhà văn Washington Irving là người đầu tiên mô tả hình ảnh cỗ xe bay của Santa.

8. Ông già Noel có mã bưu điện riêng
565f9e5b-7ab8487a8f

Hàng năm, thư gửi cho Santa Claus chất cao như núi ở các bưu điện trên khắp thế giới. Một số nhân viên bưu điện người Canada thậm chí còn cố gắng trả lời, nhưng ngày càng có nhiều thư chuyển tới. Họ đã tạo nên một mã thư tín riêng cho ông già Noel như một phần của “Chương trình viết thư cho Santa” – một chương trình xóa mù chữ cho trẻ em. Mã thư tín của Santa là: H0H 0H0.

9. Vì sao “Xmas” là từ viết tắt của “Christmas”
images (4)

Theo cuốn sách “From Adam’s Apple to Xmas: An Essential Vocabulary Guide for the Politicaly Correct”, từ “Christianity” được phát âm như “Xianity” trong khoảng năm 1100. Chữ “X”, hay “Chi”, trong tiếng Hy Lạp là chữ cái đầu tiên của “Christ” và được xem như một biểu tượng độc lập. Trong năm 1551, ngày lễ là “Xtemmas” nhưng cuối cùng được rút ngắn thành “Xmas”.
Từ lâu, “Xmas” được xem là từ viết tắt của “Christmas”

10. Thịt xông khói được yêu thích hơn cả gà Tây
images (7)

Mặc dù gà Tây là món ăn truyền thống trong các dịp lễ cuối năm, nhưng thịt xông khói lại là lựa chọn phổ biến hơn cả. Trong năm 2013, người Mỹ mua khoảng 318 triệu pound thịt xông khói trong tháng 11 và tháng 12, bằng một nửa lượng tiêu thụ của họ trong cả năm.
Mặc dù gà Tây là món ăn truyền thống trong các dịp lễ cuối năm, nhưng thịt xông khói lại là lựa chọn phổ biến hơn cả.

Tương Tri ST

Cô bé bán diêm

ngonnenlogo2

Đêm giáng sinh năm ấy trời thật lạnh. Đã mấy ngày liền tuyết rơi liên miên, như hối hả điểm trang cho thành phố vẻ thánh khiết để đón mừng ngày kỷ niệm Chúa Cứu Thế ra đời… Em bé tay ôm bao giấy đầy những hộp diêm, vừa đi vừa cất giọng rao mời. Lạnh thế mà bé phải lê đôi chân trần trên hè phố. Đôi dép cũ rích của bé sáng nay bị lũ nhóc ngoài phố nghịch ngợm dấu đi mất. Trời lạnh như cắt. Hai bàn chân của bé sưng tím cả lên. Bé cố lê từng bước sát dưới mái hiên cho đỡ lạnh, thỉnh thoảng đôi mắt ngây thơ ngước nhìn đám đông hờ hững qua lại, nửa van xin, nửa ngại ngùng. Không hiểu sao bé chỉ bán có một xu một hộp diêm như mọi ngày mà đêm nay không ai thèm hỏi đến.
Càng về đêm, trời càng lạnh. Tuyết vẫn cứ rơi đều trên hè phố. Bé bán diêm thấy người mệt lả. Đôi bàn chân bây giờ tê cứng, không còn chút cảm giác. Bé thèm được về nhà nằm cuộn mình trên chiếc giường tồi tàn trong góc để ngủ một giấc cho quên đói, quên lạnh. Nhưng nghĩ đến những lời đay nghiến, những lằn roi vun vút của người mẹ ghẻ, bé rùng mình hối hả bước mau. Được một lát, bé bắt đầu dán mắt vào những ngôi nhà hai bên đường. Nhà nào cũng vui vẻ, ấm cúng và trang hoàng rực rỡ. Chỗ thì đèn màu nhấp nháy, chỗ có cây giáng sinh với những quà bánh đầy mầu. Có nhà dọn lên bàn gà tây, rượu, bánh trái trông thật ngon lành. Bất giác bé nuốt nước miếng, mắt hoa lên, tay chân run bần bật, bé thấy mình lạnh và đói hơn bao giờ hết. Đưa tay lên ôm mặt, bé thất thểu bước đi trong tiếng nhạc giáng sinh văng vẳng khắp nơi và mọi người thản nhiên, vui vẻ, sung sướng mừng Chúa ra đời…

Suốt ngày em chẳng bán được gì cả và chẳng ai bố thí cho em chút đỉnh. Em bé đáng thương, vừa đói vừa lạnh, vẫn lang thang trên đường. Bông tuyết bám đầy trên mái tóc dài xõa thành từng búp trên lưng em, em cũng không để ý.
Cửa sổ mọi nhà đều sáng rực ánh đèn và trong phố sực nức mùi ngỗng quay. Chả là đêm giao thừa mà! Em tưởng nhớ lại năm xưa, khi bà nội của em còn sống, em cũng được đón giao thừa ở nhà. Nhưng thần chết đã đến cướp bà em đi mất, gia sản tiêu tán và gia đình em đã phải lìa ngôi nhà xinh xắn có dây trường xuân leo quanh, nơi em đã sống những ngày đầm ấm, để đến chui rúc trong một xó tối tăm, luôn luôn nghe những lời mắc nhiếc, chửi rủa.
Em ngồi nép trong một góc tường, giữa hai ngôi nhà, một cái xây lùi lại một chút.
Em thu đôi chân vào người, nhưng mỗi lúc em càng thấy rét buốt hơn.
Tuy nhiên em không thể nào về nhà nếu không bán được ít bao diêm, hay không ai bố thí cho một đồng xu nào đem về; nhất định là cha em sẽ đánh em. Vả lại ở nhà cũng rét thế thôi. Cha con em ở trên gác, sát mái nhà và, mặc dầu đã nhét giẻ rách vào các kẽ hở trên vách, gió vẫn thổi rít vào trong nhà. Lúc này đôi bàn tay em đã cứng đờ ra.
Chà! Giá quẹt một que diêm lên mà sưởi cho đỡ rét một chút nhỉ? Giá em có thể rút một que diêm ra quẹt vào tường mà hơ ngón tay nhỉ? Cuối cùng em đánh liều quẹt một que diêm. Diêm bén lửa thật là nhạy. Ngọn lửa lúc đầu xanh lam, dần dần biếc đi, trắng ra, rực hồng lên quanh que gỗ, sáng chói trông đến vui mắt.
Em hơ đôi tay trên que diêm sáng rực như than hồng. Chà! Ánh sáng kỳ diệu làm sao! Em tưởng chừng như đang ngồi trước một lò sưởi bằng sắt có những hình nổi bằng đồng bóng nhoáng. Trong lò, lửa cháy nom đến vui mắt và tỏa ra hơi nóng dịu dàng. Thật là dễ chịu!
Đôi bàn tay em hơ trên ngọn lửa; bên tay cầm diêm, cái ngón cái nóng bỏng lên. Chà! Khi tuyết phủ kín mặt đất, gió bấc thổi vun vút mà được ngồi hàng giờ như thế, trong đêm đông rét buốt, trước một lò sưởi, thì khoái biết bao!
Em vừa duỗi chân ra sưởi thì lửa vụt tắt, lò sưởi biến mất. Em ngồi đó, tay cầm que diêm đã tàn hẳn. Em bần thần cả người và chợt nghĩ ra rằng cha em đã giao cho em đi bán diêm; đêm nay, về nhà thế nào cũng bị cha mắng.
Em quẹt que diêm thứ hai, diêm cháy và sáng rực lên. Bức tường như biến thành một tấm rèm bằng vải màn. Em nhìn thấu tận trong nhà. Bàn ăn đã dọn, khăn trải trắng tinh, trên bàn bày toàn bát đĩa bằng sứ quý giá, và có cả một con ngỗng quay. Nhưng điều kỳ diệu nhất là ngỗng ta nhảy ra khỏi dĩa và mang cả dao, nĩa… cắm trên lưng, tiến về phía em bé.

Rồi… que diêm vụt tắt; trước mặt em chỉ còn là những bức tường dầy đặc và lạnh lẽo. Chẳng có bàn ăn thịnh soạn nào cả, mà chỉ có phố xá vắng teo, lạnh buốt, tuyết phủ trắng xoá, gió bấc vi vu và những người khách qua đường quần áo ấm áp vội vã đi đến những nơi hẹn hò, hoàn toàn lãnh đạm với cảnh nghèo khổ của em bé bán diêm. Em quẹt que diêm thứ ba. Bỗng em thấy hiện ra một cây thông Noel. Cây này lớn và trang trí lộng lẫy hơn cây mà em đã được thấy năm ngoái qua cửa kính một nhà buôn giàu có. Hàng ngàn ngọn nến sáng rực, lấp lánh trên cành lá xanh tươi và rất nhiều bức tranh màu sắc rực rỡ như những bức bày trong các cửa hàng hiện ra trước mắt em bé. Em với đôi tay về phía cây… nhưng diêm tắt. Tất cả những ngọn nến bay lên, bay lên mãi rồi biến thành những ngôi sao trên trời.
– Chắc hẳn có ai vừa chết, em bé tự nhủ, vì bà em, người hiền hậu độc nhất đối với em, đã chết từ lâu, trước đây thường nói rằng: “Khi có một vì sao đổi ngôi là có một linh hồn bay lên trời với thượng đế”. Em quẹt một que diêm nữa vào tường, một ánh sáng xanh tỏa ra xung quanh và em bé nhìn thấy rõ ràng là bà em đang mỉm cười với em.
– Bà ơi ! Em bé reo lên, cho cháu đi với ! Cháu biết rằng diêm tắt thì bà cũng biến đi mất như lò sưởi, ngỗng quay và cây Noel ban nãy, nhưng xin bà đừng bỏ cháu ở nơi này; trước kia, khi bà chưa về với thượng đế chí nhân, bà cháu ta đã từng sung sướng biết bao! Dạo ấy bà đã từng nhủ cháu rằng nếu cháu ngoan ngoãn cháu sẽ được gặp lại bà; bà ơi! cháu van bà, bà xin với Thượng Đế chí nhân cho cháu về với bà. Chắc Người không từ chối đâu.
Que diêm tắt phụt và ảo ảnh rực sáng trên khuôn mặt em bé cũng biết mất.
Thế là em quẹt tất cả những que diêm còn lại trong bao. Em muốn níu bà em lại! Diêm nối nhau chiếu sáng như giữa ban ngày. Chưa bao giờ em thấy bà em to lớn và đẹp lão như thế này. Bà cụ cầm lấy tay em, rồi hai bà cháu bay vụt lên cao, cao mãi, chẳng còn đói rét, đau buồn nào đe dọa họ nữa. Họ đã về với Thuợng đế.
Sáng hôm sau, tuyết vẫn phủ kín mặt đất, nhưng mặt trời lên, trong sáng, chói chang trên bầu trời xanh nhợt. Mọi người vui vẻ ra khỏi nhà.
Trong buổi sáng lạnh lẽo ấy, ở một xó tường người ta thấy một em gái có đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười. Em đã chết vì giá rét trong đêm giáng sinh… em bé ngồi giữa những bao diêm, trong đó có một bao đã đốt hết. Mọi người bảo nhau: “Chắc nó muốn sưởi cho ấm!” Nhưng chẳng ai biết những điều kỳ diệu em đã trông thấy trước khi em hóa thân thành một thiên thần bé bỏng.

Hans Christian Andersen (1805-1875)