NHẶT TÌM … CÁT BỤI HƯ NGÔN.

lesa

Bên ly rượu suông. Đình thổ lộ với tôi, rằng- Suốt bao năm trời bương bả. Những trì níu muộn phiền của cơm áo. Những hệ luỵ vừa đắng đau vừa ngọt ngào như từng nhát chém hư vô cứ cứa mãi qua phận đời. Tì vết thâm căn vẫn in hằn trên vai anh biết đến bao giờ hay sẽ là mãi mãi?!. Và biết đâu nhờ thế mà Đình được cái chân dung của chính mình. Niệm khúc bi tráng ấy có một ngày rồi cũng được thăng hoa. Đúng hơn là Đình đã tri nghiệm được tính chân giả của niềm yêu thương, sự bỉ tiện của đời người giữa khôn cùng hữu hạn.
Một tiếng chim hót lãnh trong chiều, môt chiếc lá vàng thu rơi hỏng hờ trên mặt nước đầu đông. những hình ảnh nhỏ vụn ấy cũng dể làm anh rơm rớm. Tính cách ấy dể làm bao kẻ ngộ nhận về Đình và họ cũng chỉ biết ngộ nhận trong đui mù quờ quạng. Đôi lần tôi nữa đùa nữa thật với anh:
– Anh Đình. Anh là nhà tiên tri thấu thị đấy.
. Vâng. Đã là nhà tiên tri thì không nên mềm lắm… ta dể bị lạc lỏng đến vô cùng. Thiền thượng trên tay anh có đó – tại sao, tại sao Đình lại không vung tay mà đập cho vụn vỡ mớ giăm sỏi đầy bỉ tiện, vô cùng sắt nhọn, luôn rình rập chực chờ cứa buốt chân anh.
Đình cười: – Vui là chính.
Trời ơi! Hoá ra cái đích của Đình chỉ vậy thôi sao! Ở thời này ta nên biết giã vờ một chút Đình ạ. Và nhất thiết cũng cần nịnh một chút Đình ơi – tại sao tại sao hở Đình, sao để thằng bé, con Đình ngày ngày dằm nắng dan mưa cõng nặng manh bằng cử nhân thạc sĩ hai vai đến vã mồ hôi mà kiếm sống!?… Nhìn thằng nhỏ tội nghiệp không. Đành rằng, không có nghề nào là Xấu cả nếu ta biết được cái chân đạo của một con người.
Sự cần mẩn, mẫu mực của Đình dể khiến bao kẻ thích danh xưng là sỉ này sỉ nọ… Tiến sỉ thi sỉ như trấu bay làm bẩn đục, nhiễu đục hồ trường… Hồ trường hồ trường đây hồ trưòng. Ôi! Bi tráng bi tráng quá.
Tôi rất coi thường và hải sợ những ai chỉ biết nhìn vào sách vở, kinh thư của thánh này thần nọ để nói về cái gọi là khuôn mẩu đạo người. Lịch sử vốn là một dòng chảy chu chuyễn – Quá khứ, tương lai, ta biết đâu mà niú giữ. Những gì có trong sách vở chỉ là hiện tượng. Thử hỏi rằng,họ có đủ khả năng tri nghiệm, dám trực tiếp đối mặt lề thói ấy mà tri giãi về bản chất – bản chất cấu thành của một viên sỏi một hạt cát hoang hoãi bên đường. Đâu là hiện tượng đâu là bản chất!.
Tôi tính từ chối Đình, rằng ngày mai tôi không thể theo anh, cùng anh đi rong một chuyến về phía núi. Đình gợi ý: Xung ơi! Tết kề cận, núi rừng sẽ thay mìmh trả lời Xung về những mắc mớ mà Xung luôn dằn vặt về mình về lủ con mình. Nếp tự tại của rừng của núi sẽ giúp ta nhiều điều. Chỉ cần nhìn một chiếc lá đang rơi, một viên sỏi lăn bên đường, ta cũng biết được chúng đang nghĩ gì nói gì. Đình chậm chậm khẻ khàng câu nói ngắn ngủn đầy dẩn dụ: – Nơi nào cũng là thiên đường nếu ta biết tồn tại với nó. Xoay xoay ly rượu trên tay. Tôi cười vui: – Ừ. Đi thì đi. Vui là chính. Tôi cười Đình cười.

Cây mưa chiều qua. Núi rừng như được hồi sinh. Từng vạc nắng vàng cắt mỏng trôi thấp thểnh trên tàn cây xanh mướt. Gió êm đềm nhẹ tênh.
Quán nằm thoai thoãi trên đồi cỏ tranh, lấp ghép theo mẩu nhà rông bằng tre nứa. Tôi đưa mắt nhìn về phía thung lũng có dòng suối uốn qua. Hoa bươm bướm đơm trắng một màu sửa tươi chạy dài trên triền đá, khoã dâng một mùa hương linh khiết. Tôi thầm hỏi… Lạ thiệt. Hoa bươm bướm có bao giờ nở vào mùa này đâu. Chủng loại loài hoa mà tôi hằng mơ ước được nhìn thấy chỉ nở rộ giữa hè thu kia mà?… Mùa của dưa hồng trên gò đồi Mưcôi quê mẹ. Tôi rưng rức ngoáy tưởng ngọt ngào về dòng sông ký ức thuỡ lên bốn lên năm.
Chama Phước người bạn cố cựu của Đình. Phước luôn nhắc về Đình về những kỷ niệm xa cũ giữa Đình và ông.
Phước cầm tay tôi chỉ về phía thềm đá phẳng, thềm đá gối gờ theo mạn sườn con suối. Phước nói: – Anh Xung nhìn kìa… Mười bảy năm trước, chổ đó là “từ đường” của anh Đình và tôi đấy. Thường những hôm trèo đèo lội suối từ các bản xa về, tôi và Đình luôn nghỉ lưng tại đấy. Nói là bản là phum là sóc cho oai, thiệt ra chỉ lèo tèo dăm chiếc chòi lá khuất sâu dưới đại ngàn rừng dầu rừng tre, bắp không có mà ăn, khố không có mà ôm. Nghỉ lại, tôi thương ông Đình này quá chừng. Có túm muối nào, có con cá khô cá lẹp lên meo lên mốc nào ông Đình cũng tiện tặn chia cho bọn trẻ trần truồng kia.
Một thoáng im lặng. Chama Phước vừa nói vừa cười:
– Mà này. Đã lên rừng sao uống cà phê… Coi giống ai.
Đình cười ghé nhỏ vào tai tôi:
Thế đấy. Trên này thế đấy. Hơi thở của rừng, tiếng gọi đàn của chim muông, lời thì thầm của sương đêm và đá tảng, đã hun đúc tính cách của họ từ trong bụng mẹ, lúc hào phóng họ hào phóng đến tận cùng. Khi cần khép. Họ khép kín rịt như đinh đóng vào gổ mun gổ thị vậy. Cần khóc họ khóc hết cở, khi được cưòi họ cười hết cở, chã ngán thằng ma thằng “Quỷ” đại nào đâu. Họ mờ toang hết thảy chín phương trời mà hú gọi hồn non nước họ về, mà vui chơi mà nhảy nhót thâu đêm.
Phước đưa tay ôm choàng vai Đình, xoa nhẹ bụng Đình: – Ơ này!… Sao bụng Đình vẫn lép xẹp như mười bảy năm trước vậy?!. Không hiểu Phước giả vờ hay tò mò muốn biết. Chuyện tức cười: – Này anh Đình. Những người ở phố có vị thế như anh ông nào bụng cũng phình ra nun núc như bày cá Cháo có chửa, lội ì ục trong vũng hồ tù không một hạt nắng nào cáy vào được…
Thậm chí, có ông còn tập nín thở, hít một hơi thật sâu vào bụng rồi từ từ htở phì ra để cái bụng được trương sình lên òn ỉn như con cóc thúi ương thế mới khẳng định được vị trí quyền lực của họ hiện có. Sau tiếng thở dài đánh sượt, Phước tiếp:
– Các anh lên đây mùa này là đúng. Nhưng chỉ tiếc, rừng giờ thưa bóng quá. Làm sao ta tìm được cảm giác tê mê dưới bàn chân trần mỗi khi ta bước lên thãm lá ròn thơm lạ lẫm ấy của rừng. Bản làng mình được kêu là nông thôn mới gì đó nên rừng phải bị chém chết dần chăng.
Tôi gật gù. Chao ơi! – Quả đúng là thi sỉ đang đứng trước mặt tôi đây mà.
Rượu đã ngấm. Men lòng đã triũ. Đất trời kia đang chung cùng nhịp thở. Giọng hát Chama Phước nghe đến nao lòng “… Những khi chiều tối cần có một tiếng cười… để ngậm ngùi. Hảy nghiêng đời xuống theo lá bay… trong trái tim con chim còn đậu…” Mỗi lần chuyễn nhịp, giọng Phước rươm rướm. Tôi tưỏng lòng tôi cũng đang rã. Một vòm sáng cháy rực giữa hồn tôi lướt khướt. Tôi mụ mị trôi theo dòng nhạc cảm. Tôi lăn mãi, tôi mò mẫm, tôi khắc khoãi cố trèo qua vùng định mệnh. Tôi tìm thấy tôi rỡ ràng hơn, Đình bừng sáng như hạt mật rừng đến vô thuỷ vô chung.

Trăng lãng mạn ươm vàng trên vai chúng tôi, kéo lê từng vệt nhờ nhợ dưới lòng thung. Tôi muốn hú lên một tiếng thật to thật rỡ ràng để tin rằng – Hạnh phúc nào cũng được sắp định, từ muôn vàng kiếp trước.
(Chiều Ma Nương cùng Tư Rết.)

LÊ SA

NÍU BÓNG TRĂM NĂM

lesa

Rằng ai mua cái truân chuyên
Mà ngồi bán mãi lệ nguyền phong phơi
Chợ chiều rát mặt mẹ tôi
Chắt từng ngụm gió giữa trời ưu dung
Tiếng chim hót lãnh bên rừng
Mẹ ngồi bán suốt những truân chuyên buồn!

LÊ SA

TRĂM NĂM BÓNG ĐỔ

lesa

 

– Ông Tám! Thế ông có nghỉ là mình hoang tưởng quá không?
– Không.
– Dị mộng?
– Cũng không.
Đôi mắt trầm sâu. Ông vói nhìn đám mây đang trôi lãng qua đầu, rồi chìm mất vào hai lòng vực sâu thăm thẳm ấy. Tôi lắc đầu nhìn ông cười:
– Thế ông Tám cứ nhập vào cuộc trình ma quỷ thánh thần của ông Tám đi.

Chuyện cách đây gần bốn mươi năm rồi. Hai mái đầu, một xanh một sương rướm. Trời càng về khuya, chỉ tôi và ông. Mỗi người đều có một tỉnh táo riêng, một nội thức riêng, cảm ngộ qua từng hơi thở của nhau…. Để rồi suốt đời cứ phải nhớ nhớ thương thương. Ông thao thiết nói tôi nghe về chuyện của một dòng sông.
Dòng sông mang hai dòng nước chảy, nửa đục nửa trong, dòng này hân hởi thì dòng kia bi lụy và ngược lại. Cả hai dòng đều đẹp như nhau. Trong tâm ức chúng đều có sự hào phóng và tráng liệt như nhau. Đời người cũng vậy – Như ta và cháu đây – một tóc còn xanh, một đầu đã bạc. Tại sao cháu chỉ biết và nghỉ về cái đẹp của loài hoa khi nó ở độ mãn khai. Nó còn có cả cái đẹp khẳn khiu khôn cùng của nó… đang tàn và đang rữa.
Ông chí thú nói tôi nghe về những loại côn trùng vặt vạnh mà ông thường gặp trên cánh đồng quê mỗi sớm mỗi chiều. Ống nhắc về loài Mối nhiều nhất, như có mối tương hiệp nào đó trong tiềm ức ông?!. Sự phân định quyền lực của chúng, tập tính quần cư của chúng… Giọng ông trầm xuống đến thương:
– Cháu biết đấy. Tất cả mọi loài đều có một chân bản riêng, một cảm thụ riêng để mà đuổi kịp mọi chuyển biến của mùa, tiếp nhận nết đất nết trời mà xiễn dương cho cả hai chiều… THIỆN VÀ ÁC. Mà này, cháu là nhà báo đi nhiều, ngẳm nhiều. cháu giúp ta – Mỗi loài, nhất thiết đều có đều có một ĐẠO riêng cho mình phải không?! Như loài Mối chả hạn.
Quả thực. Hơn mười năm ở nghiệp báo. Những hiểu biết, những chiêm nghiệm, cả trong cảm thức của tôi, niềm xúc động của tôi khi đứng trước một bi huống nào đó, lòng tôi vẫn lạnh… Thế nên, bút của tôi mực của tôi có phần xa xỉ, vô tích sự. Làm sao tôi giúp được gì cho nội Tám đây. Tôi nhắm mắt nghỉ về dòng sông, nghỉ về bầu trời, một đám mây phiêu dạt, một vực thẳm không đáy. Và không hiểu sao. Tôi kể ông nghe về lủ Khỉ vớt trăng dưới vực giếng ở Gia Thị trong kinh Pháp Uyển – Rằng, trăm con khỉ vừa đực vừa cái ngoéo đuôi nhau. Con cuối cùng vọc tay khua khoắng mặt nước hòng cứu trăng. Ngụ ý đấy chỉ là chuyện hoang tưởng.
Nội Tám ngước nhìn tôi cười hân hả. Cái cười ròn tan không gãy:
– Này nhóc nhà báo. Ngươi hiểu nhầm ông Tử rồi. Thầy Tử thầy Mạnh đâu phải là kẻ xu thời nịnh thế, ai chết mặc ai đâu, đầu cắm đất đít chổng trời đâu. Ông có dạy ta ngồi không mà ăn bát vàng đâu. Ông chỉ mong khuyến hịch ta, khi nhìn về một đám mây, một hạn sương sớm, một vết đi lang thang của gió… ta phải suy và biết vịn theo nó, nhận rõ cái chân nguyên của nó mà biết mình biết ta. Qua những cuộc binh lửa của loài người chúng ta cũng thế… Một ông tướng tài, phải biết lúc nào tiến lúc nào lùi, lúc nào giã chết lúc nào chết thiệt. Đấy là chiến pháp. kẻ thắng không cần thiết phải nhể nhại, quá tự mãn bằng cách vinh danh theo kiểu đao to búa lớn… đi đâu ta cũng gặp “anh hùng” đến trong tận cùng hốc hẻm nào ta cũng phải trượt chân té chỉ vì hai từ “Vĩ đại”… “cực kỳ vĩ đại”. Như vậy ta đã vô tình bón tưới thêm cái gốc hận thù, kích thích họ thêm dũng khí để họ cứ âm ỉ hoặc thực sự lao vào cuộc rửa thù dai dẳng hơn. Máu lửa khó mà ngừng dứt được.
Còn với người thua cũng vậy. Cớ gì ta phải sầu phải hận cho mệt – Nếu là trái ngọt ta cùng ăn. Nước lành ta cùng tắm cùng uống… hà cớ gì phải ỉu rĩu cho rừng thu trút lá đến trăm năm. Phải không.
– Thế thì Ông cứ dựa vào lủ Mối mà tìm cho mình một thứ ĐẠO riêng đi.

Thực tình. Nhiều đêm nằm một mình gát tay lên trán. Tôi thường tự hỏi – Quê hương là gì? Cố hương là đâu! Hai từ có đồng nghĩa không… Và cả ta nữa. Ta là ai, ta từ đâu đến. Những lúc như vậy ta nhớ đến vụn lòng. Nhớ sợi khói xanh từ mái rạ nghèo giữa trưa hè lặng gió.
Biền biệt những ba mươi năm bỏ xứ ra đi.
Không một sắp xếp với vợ con. Tôi lặng lẽ về.
Điều tôi muốn biết trước tiên là ông nội Tám.
Tôi hỏi chị Hà:
– Giờ nội Tám ra sao rồi chị.
– Ôi! Thì ông cũng biệt, giống như cậu, biệt cùng với lúc cậu đi… Người thì nói ông bay suốt một lèo tận xứ sông nước nào đó với người bạn cùng ĐẠO THƠ với ông. Chắc là ông muốn tìm lại hơi hướm chuyện tình mà thời trai trẻ ông đã vụn tay làm lạc mất.
Đến cuối đời, người đàn ông đã già đã mõi, ngồi một mình thường ngớ ra mà gật đầu – Ừ. Tình yêu là có thật là chốn đi về. Chốn về ấy rất đỗi thanh bình. Gần đây hơn cũng có người lại nói – Những đêm trăng sáng, ai như ông Tám đứng chấp chới trên một gò Mối cao nhất trong cụm gò Mối ở đồng Mưcôi . không hiểu đấy là bóng của ma hời ma Kust, hay là bóng của Nữ hoàng Mối chúa bỡn trăng?.. Giờ thì chưa ai dám quyết. Chợt nhớ ra điều gì như cần kíp lắm. Chị Hà bước vội vào kệ thở tổ tiên, vừa cung kính vừa cẩn trọng run tay mở chiếc họp gỗ cẩn xa cừ. Chị Hà trao tôi rẻo giấy nhỏ – Này câu! Cậu coi thử đây là giấy gì. Sao tự dưng chị thấy quý nó kể từ chị nhặt được, chị nhặt được giữa trời đêm lỉu thỉu mưa vì chị phải ra đồng để cân lại nước cho luống mạ vừa đúc chiều qua. Vừa ngang qua gò Mối, một vệt sáng cắt qua mặt chị, rồi dán chặc xuống vai chị rẻo giấy. Rẻo giấy này đây. Cầm rẻo giấy trên tay. Tim tôi thắt lại. Chị Hà không hiểu chuyện gì.

Vâng. Chuyện cách đây đã ba mươi năm rồi. Vào một đêm họp dân ở Đình làng. Cọc tiêu chính là cái Đình làng Ông chủ tịch thôn dõng dạt: – Đình ta… Qua đạn bom giờ coi cũng còn bề thế lắm. Thế thì với cơ ngơi này, bà con ta nghỉ thế nào? Ta phải biết biến nó thành lợi ích “cụ thể” chứ. Chả lẻ ta cứ để nó đó mà thắp nhan thắp đèn cúi lạy… những lục cục đất sét đất bùn, đồng thau đồng tạp, lôm côm kia. Ích gì. Một là ta cho nó thành nhà kho chứa lúa thuế, bảo giữ tài sản cho dân, tiện thể kết hợp cái chuồng cho trâu cho bò. Trâu được khoẻ ra bò được khoẻ ra mà cật lực cùng ta cày cáy. Đấy là điểm vững bền nhất để tiến đến “vĩ mô”. Ông chủ tịch vỗ tay trước. Bà con dân quê làng tôi vỗ tay bè theo nhịp sau. Điếu thuốc rê quấn dài ngoòng trên môi ông đã tắt, tắt là do bả nước miếng của ông ứa ra tự dập nó, ông nhổ phụt xuống thềm đình, tay gãi gãi vào man tai.
Cuộc họp vừa tan. Nội Tám tò mò cúi nhặt mấy lóng thuốc, cùng cả những chiếc que nho nhỏ mà ông Chủ tịch đã se lại từ mảnh giấy khổ lớn xé ra, để ông ráy tai. Miệng nội Tám lực ực kêu lên: – Trời ơi!… ‘Sắc Thần họ Lê ta đây mà. Nước mắt tôi nghẽn lịm vào trong. Chính bản giấy này đây. Nội Tám đã ngập ngùi cho tôi được chạm vào nó một lần lâu rồi – Liệu tôi có nên nói thực với chị Hà những gì muốn nói.

Chiều xuống sậm. Nhưng trên cao, trời vẫn xanh một màu xanh rừng rựn. Tôi xoè rộng hai bàn tay mình. Một làn khói mỏng bay bay lên cao mãi như có như không cùng với mảnh “Sắc phong” rã vụ ấy./.

Ma nương. Mùa cạn gió cùng Tư Rết

LÊ SA

TA TỰ HỎI

lesa

Sáu mươi năm
… tỏ mặt đời
Trăm năm
…còn một chỗ ngồi đâu đây
Bàn tay vói
…lạnh bàn tay
Thắt thiu vẫn cụm cỏ gầy thế sao
Biết mai về dưới cội đào
Có không
… giọt nước lịm vào môi em!?

LÊ SA

Níu bóng trăm năm

lesa

Níu bóng trăm năm
Rằng ai mua cái truân chuyên
Mà ngồi bán mãi lệ nguyền phong phơi
Chợ chiều rát mặt mẹ tôi
Chắt từng ngụm gió giữa trời ưu dung
Tiếng chim hót lãnh bên rừng
Mẹ ngồi bán suốt những truân chuyên buồn!

Ta tự hỏi
Sáu mươi năm tỏ mặt đời
Trăm năm còn một chỗ ngồi đâu đây
Bàn tay vói lạnh bàn tay
Thắt thiu vẫn cụm cỏ gầy thế sao
Biết mai về dưới cội đào
Có không giọt nước lịm vào môi em!?…
(Ta thầm nói với em…BH em)

LÊ SA

CHÌM DƯỚI CƠN MƠ

Lê Sa

file5431294601771

Trước mặt tôi là cánh đồng, cánh đồng xah ngút mắt , cánh đồng vẫy gọi tôi…
Và đàn cò trắng kia nữa, đàn cò vẫn còn đó, vẫn mãi miết soãi mù đôi cánh theo về trong chiều muộn. Chúng mang theo những hạt nắng vàng côi cút thả xuống mặt nước lặng lờ trôi. Trôi hoài trong tịnh mộng. Tôi bước đi rất nhẹ, rất thầm về phía dòng sông.
Không hiểu bằng cách nào. Sông thì rộng, nước lại sâu nhưng tôi vẫn qua được phía bờ bên kia hãn hữu. Chiếc cầu ván ngày xưa đâu rồi!. Chỉ còn lại mỗi vết tàn tro vắt hỏng hờ trên mặt nước. Gần bờ, một lá đò nang úp mặt, chiếc dầm chèo cắm sâu vào lòng cát chãi, trông như một thập giá cụt đầu xô nghiêng. Chiếc cầu xưa, mẹ đã từng cõng tôi đi đi về về suốt bao ngày thơ ấu. Cũng như tôi đã từng cõng em sau những giờ em tan dạy. Hơi thở em đẳm hương mùi thánh khiết, phiêu du trên má tôi môi tôi. Một chúm môi thơm, một làn cỏ rối… Liệu tôi giúp được gì cho em khi phải qua bên kia dòng sông. Nơi mà em đã khẩn khoãn đã van nài tôi – Anh ạ! Giúp em đi. Dẫu là trong hơi thở cạn của một kiếp người… Anh thăm lại giùm em đi anh Tiếp tục đọc

Mùa Lệch

Lê Sa

the-rice-field-victoria-rhodehouse

Tôi về thăm anh giữa chiều tháng tư âm lịch.

Lâu rồi. Tôi có thói quen, chỉ biết dùng ngày tháng âm để sắp định, để dự toán cho một công việc nào đó. Thói quen chăng. Tại sao vậy nhỉ?!. Thực ra, tôi vẫn biết – Thói quen thường khi có lắm điều phiền lụy. Phiền lụy cho chính mình và cho cả người khác nữa như một đánh đố. Đôi lúc tôi lăm băm tự hỏi – Rằng… muốn sửa bỏ đi một thói quen, có khó lắm không. Ta có dám phủi đi một thói quen, một quá khứ một kỷ niệm. Dẫu quá khứ ấy, kỷ niệm ấy thuộc dạng lành tính hay ác tính, là những vụn vã được ghép lại trong cuộc đời hạn hẹp và mông muội của ta ơi!. Một quá khứ dày bụi nhện, dễ dẫn ta lạc vào hoang tưởng, đui mù quờ quạng, không thể định danh định hướng nổi cho một tương lai nào nhất định. Nhất là mặt đạo đức. Thói quen lập ngôn để xúi ta lạc lỏng bơ vơ – Không phân định được, đâu là bộ tộc người, đâu là bộ tộc của loài chồn loài cáo, của kên kên quà quạ Tiếp tục đọc

Bóng Chiều Trong Bóng Mẹ

Mây với gió muôn đời vẫn thế
Đuổi tìm nhau trong suốt cõi đi về
Ta tìm hoài một nữa mảnh trăng quê
Tưởng như lạc bên góc trời tơ nhện!
Những cuộc hẹn chỉ toàn mây trắng đến
Ta như mười năm vẫn chiếc áo phong hàn
Thương mẹ già bạc trắng tóc đầu non
Ngồi vá mãi mảnh chăn đời đơn thoại
Chiều sương khói dột lòng ta sương khói
Một tiếng chim rớt lạc cuối lưng trời
Con nhìn về thương mẹ quá mẹ ơi
Phải áo gấm mà con hoài lạc xứ
Giá cuộc đời là dòng sông vô lự
Để mỗi chiều con neo gió buông câu
Để mỗi chiều ngồi ngấm bóng chân cầu
Nghe nước vỗ khúc hoài ca trầm ấm
Trời vào đông thoảng khai mùi rạ ẩm
Khói đồng xa ai đốt giữa giêng buồn
Con muốn về nhưng ngại chuyến đò sương
Mãi miết chở một trăng tờ đã rách
Một vì sao rớt chìm trong giếng lạnh
Con lừa con như có cả bầu trời
Mắt nhìn về thương mẹ lắm mẹ ơi
Không áo gấm con vẫn hoài lạc xứ?!

Lê Sa

HUẾ VÀ NGƯỜI TÌNH XA

(Gửi Kim Đ.California)

Vẫn trong tiếng hát nao lòng
Khúc Nam ai lạnh một dòng Hương Giang
Đò chiều khua nước man man
Tôi ngồi buộc sợi tơ vàng Vân Lâu
Em ở đâu!… Em về đâu
Ca Li thăm thẳm nỗi sầu đa đoan?
Đành như nước chảy đá mòn
Lời thề hôm trước có còn nguyên xưa
Em về chưa!…
Em đã về chưa?
Lòng ta quặn thắt đến giờ em ơi
Nằm nghe mưa gió bời bời
Tiếng chuông Thiên Mụ tím trời giêng hai.

Lê Sa

Những Hạt Mầm Trên Cát

Lê Sa

Александр Перов, Sand Storm

Александр Перов, Sand Storm

(Tác phẩm được chỉnh sửa từ Trại sáng tác Vũng Tàu)

1.

Ngôi trường tiểu học hai tầng mười phòng nơi tôi đang dạy được xây dựng từ hai năm trước, giờ vẫn cứ lèo nhèo với đám học trò đầu trần chân đất, tóc tai khét lẹt mùi nắng rơm, một phòng cho Thầy Thoại hiệu trưởng, một phòng cho tôi trú ngụ, một phòng cho lũ đầu trần chân đất ê a. Vị chi còn thừa những sáu phòng. Ông Hiến vận động mượn được một phòng cho chị Lèo làm việc.

Chị Lèo. Ngay từ hôm đầu gặp chị, chị đã cho tôi ấn tượng mạnh. Mái tóc bồng bềnh lòn lọn, thả rợp xuống chiếc vai bè của chị. Thấy tôi cứ nhìn trân trân lên mái tóc chị, chị hân hả cười:

– Nè em. Ông Thoại hiệu trưởng cứ chặc lưỡi khen chị có bờ tóc đẹp như Merin… môrong bên tây đó nghen.

Tôi tính giúp chị lấy lại đúng tên người nữ diễn viên một thời tài sắc ấy, nhưng kịp nghĩ có nên không!.

Mỗi sáng chị Lèo đến chỗ làm. Chị thường cẩn mẩn đưa hai ngón tay se se hai lọn tóc mai của chị, tôi thấy tận da đầu chị lòi ra bao chân tóc bạc ngà. Tôi đếm đủ trên mười ngón tay nun núc của chị chèn đúng tám chiếc nhẫn vàng (Vàng thật), chỉ chừa lại hai ngón cái là còn chút tự do ngọ nguậy. Chị Lèo xoa xoa bàn tay áp vào má tôi. Những chiếc móng dài lấp dầy lớp kim nhủ, trông cứ nhấp nhoá nhấp nhoá dội lên một màu tím rịm. Chị nghiêng đầu hỏi tôi:

– Đố em. Nghe chị có mùi gì?.

Đố tôi nhưng chị lại trả lời luôn:

– Nước hoa Hàn đấy. Đứa em gái ở bển gởi về cả chục ống lựng đó Tiếp tục đọc