Tử Tế và không Tử Tế

khuatdau

Gần đây, nhà đài VTV1 liên tục đưa lên sóng những điển hình người tốt việc tốt, gọi là việc tử tế. Rất nhiều việc làm cảm động. Như một anh công an dắt giùm xe cho nhiều người đi qua đoạn đường ngập nước vì triều cường. Rồi cũng một anh công an khác, đi gom các em nhỏ thất học, dạy cho chúng học chữ và chơi với chúng. Nhưng cũng có nhiều việc rất buồn cười. Như một ông nọ cho hàng xóm mượn heo đực giống, mà là heo đực rừng thứ thiệt, nhờ đó lai tạo ra hàng trăm con heo (nuôi gần) rừng, trong dịp tết ai cũng thu nhập đến cả trăm triệu.

Thực ra, những việc làm gọi là tử tế đó, ở các nước khác chỉ là việc bình thường, giúp nhau một chút có gì ghê gớm lắm đâu mà phải vinh danh trên TV. Ngay cả ngài tổng thống ở một nước nam Mỹ, tự lái xe cũ của mình đi đến dinh tổng thống, trên đường đi chở gúp một người không có xe phải cuốc bộ đến sở làm, đài quốc gia của họ cũng đâu có đưa lên.

Trong khi ở nước ta, chủ tịch nước đến thăm một bà mẹ anh hùng hay một đồn biên giới, liền có cả một đạo quân truyền hình tháp tùng để kịp thời đưa lên những cảnh ôm hôn, tặng quà. Nhất là phải cho cả nước và cả thế giới thấy được cái thùng quà vừa to vừa đẹp, tức là thấy được cái lòng tốt của ngài, cũng to và đẹp như thế. Tiếc rằng, tiền mua quà không phải tiền của ngài mà là tiền thuế của dân.

Thế còn những việc không tử tế? Nhà đài có cho kẹo cũng chẳng dám đưa lên, chỉ tìm thấy trên mạng. Như việc giải tán biểu tình, chẳng những ném lên xe chở tù mà còn thòng chân đạp vào mặt. Hay một bà dân oan tự lột truồng để chống lại những kẻ cướp đất nhà bà. Thay vì dùng một tấm vải (hay chăn, mền) quấn quanh như cách đối phó của nhân viên an ninh các sân bóng đá khi có một cô em hay một ông ngất ngưởng tồng ngồng chạy vào sân, thì người ta lại đè xuống để mặc quần cho bà trong khi hai chân bà chòi đạp lung tung. Có mà đến tết Maroc mới mặc lại được. Không phải người ta không biết rằng làm như vậy là quá khó. Chẳng qua người ta muốn câu giờ, ngầm cho thiên hạ và chính mình có dịp chiêm ngưỡng cái dung nhan rồng lộn.

Những chuyện không tử tế đó, ở nước khác, nếu có, không phải bình thường mà là bất bình thường. Báo đài làm ầm ĩ đã đành, mà tòa án cũng thực thi cái chức năng của tòa: bỏ tù những kẻ xúc phạm thân thể và danh dự của công dân. Ở ta thì ngược lại: bỏ tù những ai chống người thi hành công vụ. Như dám chửi lại công an hay cả gan lột huy hiệu trên áo mũ. Tức là bỏ tù những ai không tử tế với chính quyền.

Tôi cũng muốn một lần trong đời ra thăm đất ngàn năm văn vật (chứ không phải thăm lăng Bác vì đâu phải ai cũng được vào thăm), nhưng nghe đứa cháu kể câu chuyện sau đây, tôi hết muốn. Chuyện rằng: cháu đi ăn phở, bị tính tiền gấp đôi. Hỏi, sao người kia có ba chục mà tôi đến sáu chục, cũng một tô phở như nhau. Thì chú quán cười khẩy bảo: tại vì mày là người miền Lam! Kiểu như trước đây, Việt kiều phải trả tiền vé xe lửa gấp đôi, khách sạn cũng vậy. Đó là phở quát. Còn cháo chửi, bún mắng nữa. Chưa hết, các người đẹp chỉ cần chân dài chứ không cần đẹp nết, cứ mở miệng ra là đéo biết, đéo thấy, nghe mà phát run.

Có lẽ vì chuyện tử tế dưới thời xã hội chủ nghĩa nó cực kỳ hiếm nên nhà đài mới mở ra một chuyên mục hằng ngày. Cuối tuần, lại nhờ khán giả bình chọn để tặng quà và gắn huy hiệu cho những ai được khen là tử tế nhứt.

Tôi có anh bạn nhà văn ngoài luồng phủ sóng, sáng chủ nhật nào cũng được công an phường mời đi uống cà phê. Như thế là tử tế quá, chuyện này hiếm à nghen, đáng được bầu chọn. Nhưng anh thở dài, bảo, nó sợ mình đi biểu tình chống Trung Quốc, giam lỏng đấy thôi! Hóa ra, khi chính quyền cư xử với dân một cách tử tế thì còn đáng sợ hơn là không tử tế.Cái xứ mình nó là vậy đó.

Khuất Đẩu

20/3/2015

HẬN HOÀNG SA

khuatdau

Hoàng Sa! Hoàng Sa! Đây Hoàng Sa!
Một chùm đảo ngọc lắm phong ba
Sóng thét gió gào mây lớp lớp
Trời nghiêng nước đổ mịt mù xa
Soái hạm gầm gừ cưỡi lên sóng
Xé gió mà đi!
Ngụy Văn Thà!
Một thưở xứng danh là hạm trưởng
Hỏa tốc! lên đường cứu đảo xa
Vợ đành coi như hạt bụi
Con đành coi như cỏ hoa
Tóc ở trên đầu đều dựng ngược
Máu chảy tràn tim sắp vọt ra
Giận giặc Tàu ô quân cướp nước
Hận của nghìn năm quyết chẳng tha
Đạn đã lên nòng chờ khai hỏa
Đảo chìm đảo nổi của riêng ta
Bắn! Bắn!
Tàu địch nổ tung thành xác pháo
Một chiếc rồi hai chúng ngỡ ngàng
Nhưng chúng nhiều tàu và lắm đạn
Soái hạm của ta cũng vỡ toang
Ngực anh đạn xé không thấy máu
Chỉ thấy tim anh nhảy phập phồng
Anh vẫn ban ra khẩu lệnh cuối
Bỏ tàu! Bỏ tàu!
(Anh thì không).
Bao nhiêu chiến sĩ rơi nước mắt
Anh chết cùng tàu giữa biển Đông.

Bốn mốt năm rồi nằm đáy biển
Còn nghe sóng vỗ giữa mênh mông
Còn nghe tiếng khóc ba con nhỏ
Uất nghẹn trời cao vợ khóc chồng.
Uất nghẹn cùng anh bao chiến sĩ
Theo anh xuống tận hải mộ quan
Mà lũ ôm chân Tàu cộng đỏ
Vẫn kêu là ngụy rất sỗ sàng
Nhưng cả nước viết hoa chữ Ngụy
Những trang xanh lấp lánh sử vàng
Tất cả các anh cùng một họ
Ngụy Văn Thà, Ngụy Văn Việt Nam!

28/02/2015
Khuất Đẩu

HUN VỚI HÍT !!!

khuatdau

Đầu năm dê (cụ), ngoài những 35000 vụ đánh nhau khiến 5000 người phải nhập viện và không ít kẻ đã phải ngủm cù đeo, còn có tin đại lão Khiêu Vũ hun một em hoa hậu tên Nguyễn Cao Kỳ Duyên (không phải Kỳ Duyên MC con phó tông tông Nguyễn Cao Kỳ) khiến dân mạng phát sốt (rét)!
Phải nói rằng cái tình thương mến thương của Khiêu (cụ) nó cũng ì xèo như hát sĩ Đàm Vĩnh Hưng hun một nhà sư dạo nào. Chỉ khác một điều, Đàm Vĩnh Hưng bị bộ Văn Hóa cảnh cáo, nhà sư nọ phải trả áo hoàn tục, còn Khiêu cụ lại được khen là nhân ái.
Khiêu cụ được khen là phải, vì được phong hàm Giáo (ráo) sư và anh hùng lao động thời kỳ đổi mới (vũ như cẩn) đến những hai lần. Cụ còn ẳm giải nhất (chẳng thèm nhường cho ai) giải thi viết văn bia, dù rằng khôn văn tế, dại văn bia. Cụ cũng còn là một thâm (độc) nho, từng giáng bút vung vít hàng trăm câu đối.
Trong đại lễ mừng đại thọ 100 năm, chẳng những cụ ban phúc cho Kỳ Duyên bằng cái hun phều phào của người sắp ngỏm mà còn đề tặng hai câu đối rực rỡ hơn cả giải băng hoa hậu.
Đối rằng:
Trí như bạch tuyết tâm như ngọc
Vân tưởng y thường hoa tưởng dung*

Khiến trích tiên Lý Bạch phải giật mình la toáng lên: “bớ thiên hạ, ăn cắp, ăn cắp!”
Chuyện ăn cắp (đạo văn) của Việt Nam ta nhỏ như con thỏ, nói làm gì. Điều đáng nói là cách hun của Khiêu cụ. Môi của một người sống đến trăm tuổi như Khiêu cụ chắc chắn là nó thâm xịt, khô nứt, cạ lên làn da mơn mởn của Kỳ Duyên dù nhìn dưới góc độ nào nó vẫn cứ kỳ cục (súc)! Còn mũĩ của Khiêu cụ thì đúng là đang hít cái mùi son phần trên má nàng. Ôi chao, cái tiếng Việt của mình nó sâu sắc gợi hình làm sao. Kiss của Anh Mỹ, baiser của Pháp sao bằng được hai tiếng hun hít của mình. Nhất là khi nó được thể hiện bởi một người lừng lẫy tiếng tăm như Khiêu cụ. Đúng là một cái hun đáng để đời (chửi).
Có nhiều kẻ cổ hũ bàn rằng, tuổi tác như Khiêu cụ, là bậc trí thức (ngủ) đáng kính, thì chỉ nên chạm môi nhẹ lên tóc hay lên trán nàng là vừa đủ, hun và cả hít như thế thì thòi ra cả cái tham, vừa tham danh mà vừa tham sắc.
Tôi thì giật mình nhớ tới truyện Bóng Đè của Đỗ Hoàng Diệu. Cụ tổ nhà nọ đã ngỏm từ tám hoánh đêm đêm vẫn tới “đè” cô con dâu. Cái kiểu hun và hít đó khiến tôi sợ rằng, khi quy tiên Khiêu cụ cũng dám trở thành con ma bóng đè.

Khuất Đẩu

• Câu thơ của Lý Bạch tả nàng Dương Quý Phi sau khi được vua Đường Minh Hoàng ân ái. Vũ Khiêu đem vào câu đối đầu Ngô mình Sở mà không hề bảo rằng mình ít chữ phải mượn đỡ của ai. Một bậc được tôn xưng là đại trí thức mà như thế, thì không cần phải bàn thêm về tình trạng đạo đức của VN dưới thời CS nữa.

HẬN BIÊN CƯƠNG

khuatdau

 

(Năm mới, gửi Tương Tri bài mới, thay lời chúc)

 

Ta ở miền Nam xa biên cương
Mà sao khí uất dày như sương
Cả vạn oan hồn đêm trăng lạnh
Sờ soạng trên đường qui cố hương
Ta thấy cha ta thờ thẫn bước
Giáo cùn rựa gãy không đao thương
Ta thấy mẹ ta nằm bên suối
Tóc dài bết máu vẫn còn hương
Ta thấy anh ta bụng rách toạt
Vẫn cười ngạo nghễ dưới trăng suông
Ta thấy em ta, ôi em gái
Má hồng môi thắm chết trần truồng

Tháng hai mười bảy năm bảy chín
Một sớm tràn qua lũ giặc cuồng
Một lũ đói cơm và khát máu
Bần cùng đạo tặc vệ binh hồng
Giặc Mao còn đói hơn giặc Tưởng*
Một lũ gầy còm chết chưa chôn
Mà dám bảo dạy ta bài học
Bài học gì toàn máu với xương.
Chẳng qua Tiểu Bình cay Lê Duẫn
Rắn mắt cứng đầu chẳng chịu ngoan
Bởi thế biên cương rền vó ngựa
Địa đầu sáu tỉnh hứng đạn bom
Địa đầu sáu tỉnh dân oan chết
Mà đảng của ta chẳng biết buồn.
Vẫn “sáu chữ vàng và bốn tốt”
Vẫn ca bài cũ “núi liền sông”!

Cho nên bốn vạn oan hồn ấy
Vẫn cứ vật vờ dưới bóng trăng
Vẫn cứ như là chưa chết hẳn
Bồn chồn xuân đến vợ con mong
Gió lạnh màn thưa xô lệch mãi
Giật mình cứ tưởng bóng người thân
Kìa mẹ gọi con hồn quốc quốc
Kìa cha một bóng suốt đêm suông
Kìa anh xuân đến không men rượu
Và em vẫn ước cánh thiệp hồng

Đảng sợ đàn anh như cầy cáo
Bịt mồm ai dám nói biên cương
Cũng bịt luôn mồm chiêng trống mõ
Cũng chẳng cầu siêu chẳng đàn tràng
Ba sáu năm rồi không hương lửa
Mồ hoang mả lạnh chẳng ai trông
Ba sáu năm rồi ôm nỗi hận
Chết sao không “vị quốc vong thân”
Mà vì đảng, Trời ơi là quốc nhục
Thì bảo sao chưa nguôi hận biên cương.
Ôi biên cương, đau đớn thay biên cương!

Tháng 2/2015
Khuất Đẩu

*Năm 1945, quân Tưởng Giới Thạch sang tước vũ khí Nhật, đói rách đến nỗi dân đã hát nhạo: Đoàn quân Tàu Ô đi, sao mà ốm thế? (nhại bài Tiến quân ca)

NGỌC HÂN CÔNG CHÚA

khuatdau

Với tấm lòng của một nhà văn, một người con Bình Định , tác giả đã phả vào từng chữ viết những niềm kiêu hãnh lẫn các nỗi đau…( Tương Tri)

1

Hơn hai trăm năm trước, cái bóng đồ sộ huy hoàng của nhà Lê sau ba trăm năm, chỉ còn là những vệt mờ trong bóng hoàng hôn. Không có một vị vua nào lại nghèo như vua Lê Hiển Tông và cũng không có một nàng công chúa nào lại nghèo như Ngọc Hân công chúa! Tất cả kho tàng đều nằm trong tay chúa Trịnh. Mà Trịnh Sâm lại yêu nàng Đặng Thị Huệ tai quái nên bao nhiêu ngọc ngà châu báu đều dồn hết vào một nhà họ Đặng. Là công chúa, nhưng Ngọc Hân còn thua cả một nữ tỳ của thị Huệ.
Nàng nghèo. Vua cha lại quá già yếu và ốm đau liên miên, nên suốt ngày nàng ở bên cha. Niềm vui lặng lẽ và bé nhỏ của nàng là được học chữ, học làm thơ và đọc sách. Chỉ những lúc gần gũi với thơ phú nàng mới cảm thấy bớt tủi thân và nhờ vậy, nàng thấy mình cũng không đến nỗi quá nghèo hèn.
Thế rồi, một Trịnh Sâm ngu muội và dâm đãng để lại cái ngôi chúa đẫm máu cho đứa con oặt ẹo của thị Huệ, gây nên một cuộc tàn sát kinh hoàng. Cả nhà họ Đặng và Trịnh Cán bị giết, Thế tử Trịnh Khải được tôn lên ngôi chúa. Nhưng quyền hành lại ở trong tay bọn lính kiêu binh bạo ngược. Chúng đốt nhà quan tham tụng, giam lỏng Trịnh Khải, suốt ngày đi lùng sục cướp phá. Rồi chúng kéo tới cung thất ọp ẹp của vua Lê. Chúng xin bệ kiến, thực ra là xem ông vua già sống chết thế nào. Chúng dựng vua dậy, hỗn láo sờ nắn khắp người. Thấy Ngọc Hân run sợ đứng nép sau màn, chúng liền ỡm ờ trêu chọc: “Bệ hạ ơi, gả công chúa cho chúng tớ đi! Tiếp tục đọc

CHÀO CỤ DÊ

khuatdau

Trời đã bớt lạnh. Nắng đã ấm. Cụ dê đã lại gõ móng đứng trước thềm năm mới. Trông cụ vẫn cứ sung như 12 năm trước. Bộ râu dê của cụ không cần vuốt vẫn cứ quặp vào một cách kiêu hãnh.
Lénin cũng có một bộ râu nổi tiếng như cụ, cũng được thần tượng một thời, nhưng nay xác thì nằm lạnh lẽo trong lăng, còn tượng thì bị dân Mông Cổ và Ucraina kéo đổ.
Nghiêng trời lệch đất như Hitler, ăn ảnh với bộ râu “cứt mũi”, cuối cùng cũng tự sát với người tình già. Còn bộ râu đã từng làm nhột một cô cháu họ Nông xem ra còn tệ hơn nữa.
Ngẫm ra làm chính trị không bằng làm tình. Làm chính trị gieo rắc lầm than cho trăm họ, để tiếng xấu muôn đời. Còn làm tình, chăm chỉ và bền bĩ như cụ là cứ được các đấng mày râu Tàu và Việt Nam thần tượng mãi.
Khi cụ chết, người ta không xây lăng, mà trước hết lấy máu cụ hòa với rượu làm ra “dâm dương tửu”, tin rằng còn hiệu nghiệm hơn cả Viagra. Ngoại trừ lông và cứt, xác cụ được chế biến thành ra tái dê, lẫu dê, dê hon, dê nướng…để rồi được an táng một cách thơ thới trong các nhà mồ kêu óc ách.
Còn cái bửu bối làm nên danh tiếng cụ, tức là bộ tam chim dái, gọi văn vẻ là ngọc dương, gọi nôm na là “hộp số” thì được chưng cất đặc biệt cùng với thuốc Tàu (thế nào cũng phải có dâm dương hoắc). Và rồi, người được trọng vọng nhất, quyền lực nhất, giống như Tổng bí thư thay vì đọc diễn văn ai điếu, được nịnh nọt mời dùng trước. Tin rằng khi cuộc chơi đến màn cuối cùng là Z thì hiệu nghiệm trông thấy.
Trâu chết để da, còn dê ta chết để tiếng là vậy đó. Cái mà bên Tây gọi là quấy rối tình dục, thì ở ta được gọi một cách hình tượng là thả dê. Màn thả dê nổi tiếng nhất là của tổng thống Bill Clinton. Chính vì thả dê chứ không thả bom, nên ông được yêu mến hơn tổng thống Bush, cả cha và con.
Các nhà chính trị của ta cái máu dê thì ít mà máu tham thì nhiều. Báo chí trong luồng và ngoài luồng chỉ phanh phui những kẻ lương thì chẳng bao nhiêu mà giàu hơn cả Thạch Sùng. Chưa thấy đồng chí X., đồng chí Y. nào thả dê bậy bạ ngoài anh Nguyễn Trường Tô tép riu. Mà nếu có mó dái dê thì cũng không đến nỗi bị đá hậu hộc máu như mó dái ngựa. Kim Quốc Hoa, báo Người Cao Tuổi, trong năm ngựa lại mó dái ngựa, chẳng những bị đá văng khỏi chức chủ bút, còn bị truy tố ra tòa.
Vậy thì, cụ dê ơi, Chúa ban cái sức sung mãn cho cụ, nếu không làm cho đời sướng hơn thì cũng không làm cho đời khổ hơn. Cụ rất xứng đáng được học tập. Các nhà chính trị Việt Nam, nên noi gương cụ, làm tình chứ không làm tiền.
Làm tình thì có chết thằng Tây đen nào đâu, chứ làm tiền thì chết dân nhiều lắm đó.
 
KHUẤT ĐẨU
Đầu năm con dê (xồm)

MỘT NƯỚC VIỆT BUỒN

khuatdau

Một ngàn năm đô hộ giặc Tàu
Một trăm năm đô hộ giặc Tây
Năm mươi năm cộng sản đọa đày[*]
Gia tài của Mẹ để lại cho con
Gia tài của Mẹ: một nước Việt buồn

Nước Việt mà tôi được sinh ra (không do tôi chọn) đã biết buồn từ lâu. Một nỗi buồn sâu dài còn hơn cả nỗi buồn của dân Do Thái hay dân Hời.

Hai phần ba thế kỷ tôi sống, là hai phần ba của một trăm năm đầy bóng tối. Gần hai triệu người chết đói năm Ất Dậu.

Hàng trăm vạn người chết trong Mậu Thân, trong Mùa Hè đỏ lửa.

Hàng triệu người chết ở cả hai miền trong cuộc giành giựt quyền làm chủ đất nước.

Rồi hàng chục vạn chết vì vượt biên, vì kinh tế mới, vì cải tạo…

Và bao nhiêu người khác nữa mà cụ Nguyễn Du có sống dậy cũng không dám chấp bút làm một bài văn tế cho họ.

Linh hồn những người chết xao xác, lượn lờ trên rừng sâu núi thẳm, trên biển rộng sông dài. Nếu mỗi linh hồn biết nhấp nháy như những con đom đóm, thì đêm tối quê hương sẽ như một nền trời đầy sao trong một đêm nguyệt tận.

Giá như tôi có được uy quyền tuyệt đối, tôi sẽ cho xây một tượng đài cao vút như lưỡi kiếm đâm thẳng vào trời xanh. Bao nhiêu linh hồn của những kẻ chết vì đói, vì đấu tố, vì vượt biên, vì chiến tranh sẽ quy tụ về đây thắp sáng để cho hậu thế thấy được cái giá của lòng hận thù.

Đó cũng còn là hình tượng một dấu chấm than dài như một lời tạ tội.

Nhưng với những người sống, ôi chao, có cho tôi một ngàn ngày tôi cũng chẳng làm gì được.

Tôi sẽ làm được gì với những người nông dân mất đất đi lang thang trên những phố phường bụi bặm?

Tôi sẽ làm được gì với những em bé còm cõi phải cõng trên lưng hàng trăm viên gạch, những em đu dây qua sông, hay chống bè chuối đến trường?

Tôi sẽ làm được gì với những em bé một tuổi, hai tuổi được cha đèo ngồi trước xe trong gió lạnh mưa phùn, tới nơi thì em đã chết cóng?

Tôi sẽ làm được gì với những bà mẹ sụp hầm trên đường phố để con bị nước cuốn trôi?

Tôi sẽ làm được gì với những cơn mưa lũ khiến dân miền Trung ngoi ngóp trong đói khát, chết chóc trong lạnh lẽo?

Tôi sẽ làm được gì với những con “tàu lạ” vào biển nước ta bắt thuyền nhân đem về hang ổ rồi đòi tiền chuộc?

Tôi sẽ làm được gì với chương trình học nhồi nhét vô bổ ở các cấp học?

Làm được gì với nạn tham nhũng ngay cả trong trường học và trong bệnh viện?

Làm được gì với sách báo trong luồng đầy khiêu dâm và nịnh hót?

Làm được gì chỉ trong 24 giờ? Có chăng là ký lệnh tha những người ngồi tù vì khiếu kiện, vì bất đồng chính kiến.

Nhưng, chỉ sau 24 giờ hơn lại có quyết định (không phải của tôi) bắt bọn họ trở lại nhà tù.

Đó là chưa nói tới cái nhà tù vĩ đại không chấn song, không kẽm gai nhưng cứ như những người tị nạn kinh tế Trung Quốc bị lèn chặt trong những chiếc xe bít bùng, là nước Việt của thế kỷ 21 này. Tôi làm sao phá được những bức tường vô hình, để mọi người thở hít được chút khí trời của Tự Do?

Tôi buồn quá, mười năm hay hai mươi năm nữa, tôi e cũng vậy thôi hay là ngột ngạt hơn nữa, khốn khổ hơn nữa, khi mà nền độc tài toàn trị cứ mỗi năm năm lại tu bổ nền móng, ra sức học tập “mười sáu chữ vàng” càng ngày càng trí trá, càng phình to với sức nặng của vàng ròng, và sức mạnh của đồng nguyên.

Liệu đến bao giờ thì mọi nghịch lý bị cơn bão cách mạng quét sạch?

Có lẽ nên hỏi bạch tuộc Paul. Nhưng mà bạch tuộc Paul cũng sắp bị đem ra xào chua ngọt rồi, biết hỏi ai!

Chỉ còn biết than dài: đúng là làm dân một nước Việt buồn!

Khuất Đẩu

[*] Trên vỉa hè, tôi đã nghe câu hát của Trịnh Công Sơn được cải biên như thế.

NHỚ MÓN ĂN XƯA

khuatdau

Nhớ món ăn xưa nhớ ly trà quen
Trịnh Công Sơn
1.

Tiết lập đông mưa dầm gió bấc, ấy là lúc cái đói cọng thêm cái rét, hai tiếng mà người dân quê miền Trung nào cũng sợ. Bạn hãy tưởng tượng một đứa bé chừng mười tuổi, chân đất, áo vải phong phanh, bụng đói meo, run lẩy bẩy trên dường đi học về.
Đứa bé ấy là tôi, sung sướng biết chừng nào khi được mẹ cời từ trong tro nóng ra một củ khoai lang hay khoai mì. Phạm Duy bảo khoai lùi bếp nóng ngon hơn là vàng. Có lẽ ông dùng chữ vàng để cho hợp vần, chứ vàng lúc đó đâu có ăn được. Mà dẫu cho ăn được thì vàng cũng đâu có cái mùi ngòn ngọt, nong nóng, ăn tới đâu là ấm tới đó.
Rồi bữa cơm được dọn ra, chỉ độc một món mắm cua chua. Mắm cua chua chứ không phải canh chua, lại càng không phải nem chua. Một món ăn “của không ngon nhà khó vẫn ngon”, dường như chỉ có ở những làng quê Bình Định. Món mắm ấy mua không ai bán, chỉ có thể do mẹ hay bà tự tay làm lấy.
Đó là những con cua đồng nhỏ như con rạm, con cái màu vàng đất, con đực màu tim tím. Cái giống ấy sinh sôi nẩy nở nhiều như quân Nguyên trong những thủa ruộng vừa gặt xong, nước lụt lênh láng tràn bờ. Cha tôi ra đồng đem theo một cái rổ lớn gọi là rổ xúc, hình nửa mặt trăng, có cán bằng tre như cán cuốc. Ông vục cái rổ xuống cạnh bờ ruộng, chân giậm lỏm bỏm, giở lên là đã tóm được vài ba anh chị béo tròn. Nghe tiếng động, chúng rời bờ cỏ lặn xuống nước, tưởng đâu đã thoát thân, không ngờ có cái rổ của cha tôi đang chờ sẵn. Cứ thế, hết bờ này đến bờ nọ, chưa tới nửa buổi đã có một đụt cua đầy nhóc.
Cua được đổ vào rổ sảo, xối nước vài ba bận cho trôi hết mùi bùn. Rồi một cuộc tàn sát tập thể diễn ra mà Lên hiệp quốc không thèm lên tiếng cảnh cáo, khi mẹ tôi lần lượt cho cua vào cối, còn cha thì cầm chày đứng giã.
Những con cua với vũ khí tự vệ là hai cái càng bé nhỏ, làm sao chống nổi sức nặng của cả cái chày do một người đàn ông khỏe mạnh giáng xuống. Chỉ vài mươi chày, chúng đã bầm dập tơi tả rồi nát nghếu.
Mẹ liền cho nước lã vào cối, trộn đều, dùng chén múc ra, đổ cả lên mặt giừng. Nước hòa thịt cua, vừa giống màu ovantin, vừa giống màu cà phê sữa chảy xuống thau nghe tong tong.
Mẹ thêm chừng nửa nắm muối hột, trút vào một cái hũ sành, lấy lá chuối khô bịt lại, rồi đem ủ bên cạnh ba ông táo. Ba bữa sau, không biết ba ông có phù phép gì không mà cái thứ nước đùng đục ấy khi đun sôi trở thành một thứ nước chua chua, mằn mặn, gọi là mắm cua chua. Ăn cái món hãy còn phảng phất mùi rạ mục, mùi bùn non, với cơm gạo hẩm còn nghe mùi cám, đạm bạc thế mà sao vẫn thấy ngon chi lạ.
Còn mắm cua tươi thì mẹ bắc trã lên bếp đun ngay, trong khi cha đội mưa ra vườn, chặt một cây chuối non, ngồi thái mỏng. Thịt và gạch cua kết lại thành giề vàng rực, thơm lựng. Nêm một ít lá gừng là thành một thứ nước chan ngon đáo để.
Lũ bé con mê mẩn với riêu cua, còn người lớn thì nhai rào rào với chuối non trắng như giá sống. Phải chi, có cải non, cúc, ngò, thêm ít rau răm nữa thì đúng là ngon hết sẩy. Nhưng mưa lụt, chỉ ước vậy thôi, chứ có cây rau nào sống nổi.
Giờ, phân hóa học, thuốc trù sâu, chẳng còn cua cá, chỉ có những con ốc bươu vàng lỡ dại nhập vào, nhớt nhợt, tanh tưởi sao mà làm mắm được!

2.

Rồi mùa đông rét mướt cũng qua đi. Trong cái nắng tháng chạp hanh vàng, những rò hành rò tỏi lên xanh như mạ. Lũ bướm nhỏ từ đâu đã kéo tới tìm mật trên những luống cải đang nở hoa. Đã thấy bà và mẹ mua kiệu về làm dưa, mua gừng về làm mứt. Mùi mứt gừng thơm dìu dịu, biết là cay đó, nhưng sáng sớm được nhai vài miếng trên đường đi học, vẫn thấy ấm cái bụng.
Cuối tháng chạp nhà nào cũng làm bánh khô, để đón Tết. Bánh được làm bằng bột nếp và đường. Không gì thích bằng ngồi xem bà dện bánh. Bột trộn đường được đổ vào khuôn, bỏ nhưn mè, rồi nện chặt bằng tay. Khi cảm thấy đủ chặt, bà dùng một con dao, cạo một lượt cho phẳng rồi lật khuôn gỗ trở cán gõ gõ. Thế là những chiếc bánh hình vuông, hình lục giác, hình tròn với những trái đào, những chữ thọ nổi vồng lên, rơi xuống thành hàng trên cái nia đã lót sẵn giấy.
Đó là bánh đẹp để đãi khách. Còn bánh in đơn giản không cầu kỳ, vừa nằm gọn trong lòng bàn tay một đứa trẻ lên ba, được dện hàng trăm cái trong những cái khuôn bằng đồng thau. Chỉ một màu bột trắng tinh, thơm mùi nếp mùi đường, ngoài ra không một mùi nào khác.
Nhưng bánh thuẫn thì lại lắm mùi. Mùi của bột huỳnh tinh thứ thiệt, mùi của nghệ cho thêm màu vàng, mùi của tiêu cho trứng khỏi tanh, mùi của quế cho thơm và ấm bụng. Cái tên bánh tuy quê mùa, nhưng khi chín nở ra trông giống như hoa nở.
Bánh được cho vào thạp phơi nắng để không còn hơi ẩm, khi ăn nghe rộp rộp tưởng là cứng lắm, thật ra là dòn tan trong miệng. Nuốt cái chất vừa bùi, vừa ngọt, vừa beo béo, thơm thơm ấy vào bụng rồi chiêu một tách trà ướp hoa nhài, thì đúng là đang thưởng xuân.
Giờ, bánh làm bằng máy, đựng trong bao trong hộp cực kỳ đẹp đẽ, nhưng ai dám bảo là trong đó không có những hóa chất độc hại. Nhất là cái mùi thơm của nó, nghi nghi làm sao ấy. Như mùi sầu riêng. Có khi hôi đến nỗi không được mang lên phi cơ. Lại có lúc thơm đến mê mẩn. Có vị chua, vị mặn, vị cay, ngay cả vị béo. Rắc rối là thế mà người ta vẫn dùng hóa chất để tạo ra được. Sầu rất riêng mà còn như vậy, thì nhằm nhò gì ba cái mùi lẻ tẻ vani va niếc. Giờ chỉ còn một mùi là mùi sầu chung!
Thì thôi, đành ngồi uống chén trà suông mà nhớ tới những chiếc bánh của bà làm.

3.

Muốn ăn bánh ít lá gai
Lấy chồng Bình Định cho dài đường đi.
Cái xứ nẫu bị cười cợt quê mùa, không ngờ lại được ca dao khen một câu mát ruột đến như vậy.
Cây gai thực ra không trồng để lấy lá làm bánh mà lấy vỏ xe sợi đan lưới trước khi có nilon. Chẳng biết người đàn bà nào đầu tiên bày ra cách lấy cái thứ lá nhám sàm ấy, trộn với bột nếp khiến nó bớt dẻo mà trở nên bùi bùi. Khi giã, lá vẫn giữ màu xanh, nhưng khi đem hấp, nó ngã màu đen trông láng lẫy như tóc vừa mới xức dầu.
Bánh ngon, bóc ra không dính tay, bột thơm mùi lá, nhưn thơm mùi đậu, nói theo kiểu Huế là phải “ngậm mà nghe” chứ chưa nuốt vội
Câu ca dao trên theo luật bằng trắc mà phải đổi chữ vợ thành chồng, vì khen các cô, chứ đâu phải khen các chàng. Các cô gái Bình Định được mẹ dạy làm bánh từ khi chưa biết yêu. Học ăn, học nói, học gói, học mở. Trong bốn cái phải học đó thì học gói bánh ít là khó nhất.
Khó bỡi vì chỉ với hai miếng lá chuối cô phải gói làm sao cho bốn mặt là những tam giác đều cùng một đỉnh nhọn. Cái bánh ít được khen là gói đẹp phải trông như một kim tự tháp Ai Cập thu nhỏ!
Ngày giỗ chạp là những ngày thực tập, để đến lúc về nhà chồng, sau ba bữa tân hôn là ngày nhị hỷ, ngày vui thứ hai của đời con gái, cô phải tự mình làm những chiếc bánh ít lá gai, để khoe tài nội trợ với nhà chồng trước khi mang về mừng cha mẹ đẻ. Bánh gói vụng, bột bị chê nhão là sau này khó ở với mẹ chồng và các cô em chồng!
Bây giờ, người ta trộn màu cho đen đen chứ không trộn lá gai. Cũng không thèm gói chi cho mất thì giờ (để còn xem phim bộ), chỉ hấp rồi rắc lên một vài hạt mè. Bánh ít trần (cũng may là không truồng) nghe sao mà thô tục đến hết muốn ăn.
Tuổi già nhớ nhớ quên quên. Nhưng quên gì thì quên, ngay cả quên nước quên non, nhưng không thể quên chiếc bánh tro. Cũng lại một người đàn bà nào đó cắc cớ đem tro hòa với nước, để lắng xuống rồi ngâm với nếp làm thành một thứ bánh không nhưn, có màu vàng như mật và một mùi tro hăng hắc. Những lát bánh nhỏ bằng đồng xu xếp quanh một một khoanh lá chuối đựng đường cát, bày ra trên đĩa sứ trắng xanh, đem mời khách trông cũng rất tao nhã thanh lịch.
Giờ cũng thứ bánh ấy, nhưng người ta trộn màu vàng thay cho màu tro, trông nhạt phèo, ăn chán ngắt!

4.

Tháng ba, chẳng những lúa chín trên các cánh đồng, mà bắp trên nương cũng héo râu, già quắt. Bắp để thật khô bẻ đem về nhà, bóc trần ra cột lại từng chùm, treo trên gác bếp cho khỏi mọt. Những lúc thóc cao gạo kém, đem xuống lảy thành hạt, dùng hai hòn đá vừa tròn vừa dẹp đập cho vỡ ra để trộn với gạo. Bắp nghệ, nên cơm lốm đốm vàng rất đẹp, nhưng ăn chỉ lấy no chứ không ngon.
Món bắp ngon phải là cốm. Cạnh nhà tôi, có một nhà sống bằng nghề làm cốm. Hai vợ chồng đã già, chồng làm vợ bán, rất nhịp nhàng hòa thuận.
Giữa nhà, bác trai đắp một cái lò bằng đất trộn rơm. Bắp được rang trong một cái chảo to. Cát nóng làm cho bắp nổ dòn như pháo Tết. Những hạt bắp vàng giờ nở trắng bung, to gấp đôi gấp ba. Rồi mật mía được đun sôi, khi sền sệt là đường “đã tới” khiến cả xóm nghe thơm nghẹt mũi.
Bác đổ bắp đã rang vào chảo mật, dùng chiếc đũa cái to như mái chèo trộn cho thật đều, rồi đổ tất cả lên một cái bàn dài, có những thanh gỗ làm thành khuôn. Bắp được trải đều, cán chặt bằng một con lăn to như cột nhà, trước khi được cắt ngang cắt dọc để thành nhiều miếng.
Bác gái chỉ việc xếp vào đôi bầu to như cái chum, rồi thong thả gánh ra chợ. Bác không cần sạp, chỉ lật ngửa nắp bầu ra, bày những miếng cốm vừa dòn vừa thơm lên, không cần mời mọc vẫn có các bà chợ quê bu lại mua về làm quà.
Những buổi không có chợ phiên bác đi bán dạo. Bán ở các xóm núi, xóm biển. Mùa cấy, gặt, bác bán trên đồng. Cả chủ và thợ liền nghỉ tay, ăn một miếng cốm rồi cầm ấm đất lên ngửa cổ tu một hơi, khà một tiếng, phải nói là đã đời.
Ngoài cốm bắp còn có cốm nếp và cốm gạo. Nếp cũng rang như bắp, trộn đường rồi vắt từng viên tròn bằng nắm tay. Cốm nếp dẻo và mềm, không ngon lắm, chỉ hợp với những người già móm mém không răng.
Cốm gạo công phu hơn nhiều. Lúa phải nấu chín rồi đổ ra nong phơi cho thật khô, xong lại phải giã để lấy trấu ra. Rồi lại trộn với cát mà rang, sau cùng mới thắng mật mà làm thành cốm như bắp. Cốm gạo có màu vàng, từng hạt căng bóng đầy mật. Khi ăn không nghe lốp bốp như cốm bắp, mà rào rạo rất êm tai. Ăn một vài miếng, uống một bát nước chè tươi, trong các quán bên đường, khách bộ hành cũng quên bớt đường xa và mệt nhọc.
Phía bên kia sông, có cả một làng chuyên nghề làm cốm. Mùa bắp họ mua cả ghe đầy chở về. Trong làng lúc nào cũng thơm mùi đường, mùi bắp nổ, mùi gạo rang. Các cô gái gánh đôi bầu xuống Quy Nhơn, ra Tam Quan, có khi theo xe lửa vào tận Nha Trang, Sài Gòn.
Giờ, người ta dùng bắp Mỹ trắng như tuyết, có thêm mùi bơ, bỏ trong những chiếc túi xinh xinh. Trước khi bước vào rạp hát, khách mua một vài bịch với giá cắt cổ, vừa xem vừa nhai nhóc nhách, tự cho là văn minh thơ thới!
Đó là những món ăn xưa đã mất, hay cũng lác đác còn đâu đấy nhưng cái mùi vị năm xưa đã không còn, nên coi như cũng mất rồi. Cái sự đời lăn theo bánh xe tiến hóa (hay lùi hóa?)nên nó phải vậy thôi. Có nhớ cũng chỉ đành tiếc. Dù cho tiếc ngẩn tiếc ngơ, thì lần này cũng không đứt ruột!

Khuất Đẩu

NƠI PHÍA NAM DÃY NÚI MỜ…

khuatdau

Nơi ấy là quê ngoại của các con tôi. Hay chính xác hơn là gần dãy núi mờ, nơi sừng sững hai khối đá một to một nhỏ đứng bên nhau mà ông cha chúng ta, khi vào đến đất Khánh Hòa đã đặt tên là hòn Vọng Phu. Nếu Quang Dũng sinh ra ở đất này, trong bài thơ Tây Tiến xé ruột xé gan làm khổ cả một đời ông, có hai câu thơ đã phải viết:

Tôi nhớ Khánh Hòa mây trắng lắm
Chiều xanh không thấy bóng Vọng Phu!

Nghe không được xuôi tai mấy, nhưng chỉ giả dụ thôi, tôi nào phải công an mà dám cắt hộ khẩu của ông!

Ở chính nơi này, chiều không xanh cũng không thấy được bóng Vọng Phu. Phải là chiều rất xanh, khi những đám mây hãy còn lang thang trên biển chưa chịu bay về núi, mới có cơ may thấy được bóng ai bế con mãi đứng chờ.

Cơ may đó cũng ít nhất một lần có được trong đời nhạc sĩ Lê Thương, và cũng từ chiều rất xanh ấy in mãi trong hồn ông hình bóng người chinh phụ chờ chồng. Sau bà Đoàn Thị Điểm, không ai khác ngoài ông chuyển được hồn Chinh phụ của Đặng Trần Côn vào âm nhạc tài tình đến như vậy.

Đấy mới thực là nỗi buồn sâu thẳm của chiến tranh.

Chưa có nước nào mà chiến tranh nhiều như ở nước Việt Nam, một kỷ lục kinh hoàng!

Chiến tranh chống ngoại xâm, đã đành một nhẽ.

Chiến tranh để mở rộng biên cương, thì thôi cũng lại đành một nhẽ nữa.

Chiến tranh giữa mười hai sứ quân, giữa họ Lê họ Mạc, giữa Lý Trần, giữa chúa Trịnh chúa Nguyễn, giữa anh em nhà Tây Sơn và Gia Long, giữa cộng sản và không cộng sản, có nghĩa rằng những đứa con cùng một cha Lạc Long Quân và một mẹ Âu Cơ, tức là nội chiến. Đây mới là kỷ lục đắng cay đáng xấu hổ.

Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh cũng chưa thật là buồn vì trong cuộc chiến đáng xấu hổ vừa qua, khi có triệu người buồn thì cũng có triệu người vui.

Mẹ vỗ tay reo mừng chiến tranh!
Mẹ vỗ tay hoan hô hòa bình! (TCS)

Mẹ của những đứa con thắng cuộc vỗ tay reo mừng vì xong cuộc chém giết chúng sẽ được gần như tất cả.

Còn mẹ của những đứa con thua cuộc cũng vỗ tay hoan hô vì xong cuộc rồi, tuy gần như mất tất cả nhưng ít ra cũng còn được cái mạng sống.

Có triệu bà mẹ vui ra mặt nhưng cũng có triệu bà mẹ buồn giấu mặt.

Ngay cả những đứa chết rồi, những bà mẹ của bên thắng cuộc cũng vui vì được nhà nước phong tặng danh hiệu bà mẹ việt nam* anh hùng.

Ngày xưa, nhất tướng công thành vạn cốt khô. Ngày nay các bà chỉ cần vài mảnh xương trâu bò đưa vào các ngôi mộ liệt sĩ là đã được tiếng anh hùng. Nhiều đến mười cái mộ thì mẹ được dựng tượng!

Một triệu đứa con bên thắng cuộc chết trận, thì cũng có gần một triệu bà mẹ việt nam* anh hùng. Cho nên không cần ra ngõ, chỉ bước xuống bếp là đã thấy anh hùng đang bó gối ngồi đó.

Có thực các bà vui ra mặt?!

Bảo rằng vui là gieo tiếng dữ cho các bà.

Có bà mẹ nào từ ngàn xưa đến ngàn sau lại vui vì con mình bị giết! Có chăng là những kẻ suốt ngày tự tung hô mình là người thắng cuộc. Chính họ đã giật đứa con trong tay của các bà ném ra chiến trận, nơi người ta ném binh như vãi đậu**. Thế rồi họ bảo cười lên đi, vỗ tay reo mừng vì đã hoàn thành sứ mạng lịch sử.

Để mần chi? Thưa để át tiếng khóc.

Cũng như hát để át tiếng bom.

Ác và đểu cáng đến thế là cùng!

Giờ các bà như con mèo ướt ngồi trong xó bếp, không phải cần hơi ấm dù trời đang lạnh, mà là để giấu cái mặt xấu hổ của mình đi, vì không bằng một con gà mái dám xù lông ra trước con diều hâu để bảo vệ đàn con của mình.

Còn các bà mẹ của những đứa con thua cuộc, buồn giấu mặt là lẽ đương nhiên. Buồn vì áo rách tả tơi, bo bo bát vơi bát đầy. Buồn vì nhà bị tịch thu, ruộng đồng bị lấy mất. Buồn vì đứa chết không tìm ra xác, đứa đi cải tạo không biết bao giờ về, đứa trốn đi vượt biên giữa trùng khơi bão tố, biết có đến được bến bờ nào hay nằm trong bụng cá!

Cuộc chiến tranh đáng nguyền rủa vừa qua khủng khiếp quá. Cả hai miền đều có đến hàng triệu những bà mẹ mất con và sắp mất con. Nỗi đau của các bà to và cao hơn cả núi Vọng Phu.

Lại giả dụ, nếu có một ngày đẹp trời nào đó, không còn bên thắng cuộc và bên thua cuộc, cả nước cùng đồng lòng canh giữ biển đông nơi đã có những đứa con của cả hai bên cùng hy sinh anh dũng ở Trường Sa và Hoàng Sa, thì xin được đặt lại tên hai khối đá khổng lồ ấy là Mẹ và Con bất khuất, gọi tắt là hòn Bất Khuất. Chừng đó sẽ chung một bóng cờ, không cờ vàng sọc đỏ, cũng không cờ đỏ sao vàng. Mà là cờ với màu xanh của rừng biển, màu vàng của vựa lúa hai miền, màu nâu của mồ hôi và máu đã khô.

Tin giùm tôi đi, không còn giả dụ nữa, ngày ấy đang tới, cờ ba màu vàng-nâu-xanh sẽ tung bay nơi phía Nam dãy núi mờ… Hòn Vọng Phu cũng sẽ còn mãi, nhưng là trong trường ca bất tử của Lê Thương.

Khuất Đẩu
_____________________

*phong tặng ẩu nên không viết hoa.
**Thơ của Phạm Ngọc Lư trong Biên cương hành

ÁO TRẮNG

khuatdau


Áo trắng đơn sơ mộng trắng trong
.
Huy Cận

Chếc áo tôi muốn nói, nhìn xa tưởng đâu em gói mây trong áo, tới gần mới biết là hai phần gió thổi một phần mây.
Một phần mây thôi, nhưng cũng đủ làm choáng váng vì áo em trắng quá nhìn không ra.
Đó là chiếc áo đồng phục của nữ sinh. Người ký cái lệnh xinh tươi đó, trước khi là nhà mô phạm cũng đã là một nhà thơ. Không chừng còn là một họa sĩ nữa. Nhờ vậy, từ những ruộng đồng xa xôi đến những phố phường rộn rã, ngập tràn những làn mây trắng đẹp.
Nhà thơ Hoàng Trúc Ly một lần nằm mộng thấy nữ sinh đã phải buột miệng:
Ô hay con gái bay nhiều quá
Những cánh tay mềm như cánh chim!

Tưởng không còn hình ảnh nào bay bổng đẹp hơn được nữa.
Không chừng những khách du lịch, cả những chính khách ưa cái đẹp (và gái đẹp) như Clinton cũng nằm mộng như thế giữa ban ngày, khi thấy các em tan trường về.
Một chiếc áo đơn sơ, không cứ gì phải lụa Hà Đông để nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát, cũng không lòe loẹt kiểu cọ, chỉ thuần một màu trắng tinh khôi, cùng với quần trắng, nón trắng. Nó bay bổng lên được, đương nhiên nhờ hai phần gió thổi, nhưng nhẹ đến thế, mềm đến thế vì nó được mặc bỡi những nàng con gái.
Tôi không chối cãi rằng, có một thời ngồi ở bến Thừa Phủ chỉ để nhìn những nữ sinh trong thành nội, đúng là mềm như cánh chim, ríu rít như chim, rủ nhau xuống đò cho kịp giờ vào lớp ở trường Đồng Khánh.
Thưở nọ, tôi là một anh học trò cả ngố chín năm kháng chiến ở đất Bình Định, được nhắc nhở rằng màu trắng là màu có lý lịch xấu. Địch đã từng dùng những mảnh gương soi ra hiệu cho máy bay bắn phá kho thóc, trường học. Các cô gái chỉ có một cái kẹp tóc thôi để làm dáng, cũng phải che cái lấp lánh đi, nếu không muốn bị kết tội là Việt gian! Còn nón trắng thì quét lọ nghẹ hay bùn! Nên chi tôi cứ đứng ngẩn ngơ suốt cả buổi mà trông vời, tuy rằng ở thành nội, đâu phải ai cũng là tiểu thư.
Với một làn áo trắng như mây đó, trông ai cũng đẹp, cũng thơm tho tinh khiết, là nét xinh rất chung của tuổi em tuy mới mười lăm mà đã lắm người thăm.
Thăm thì mặc họ, em vẫn cứ mộng bình thường. Em chưa mộng nhà lầu xe hơi, chưa mộng lấy chồng bác sĩ kỹ sư hay làm người yêu của sĩ quan trẻ tuổi đẹp giai.
Em chỉ mộng, mà mộng gì em cũng không biết nữa, có thể là bay lên như chim, có thể là lạc vào một hoang đảo, hay mộng thấy mình bất ngờ thành con giai để xem bọn họ nghĩ gì về con gái. Nói chung là mộng trắng trong như nhà thơ Huy Cận đã nói quá hay và quá đủ.
Chính vì mộng trắng trong nên em nào cũng hồn nhiên trong sáng. Hồn em như tủ mới, các ngăn đều trống thênh thang, chưa phải xếp đầy những lo toan chất chồng khi phải nghiêng vai gánh nặng tuổi đời. Các em bay lên là phải.
Nói về cái bay bổng, cái thướt tha, cái tinh khôi của chiếc áo nữ sinh, có lẽ một ngàn năm sau cũng vẫn có người còn nói. Tôi có nói thêm nữa cũng bằng thừa. Tôi muốn dành những dòng này để nói về một thoáng buồn.
Một thoáng là so với một ngàn năm sau, chứ với những ngày sau tháng tư đáng nguyền rủa, cũng khá là dài, nhất là với các cô bé mười lăm hay mười bảy.
Các cô được “rải phóng”, không còn phải mặc áo dài. Kẻ thắng cuộc “ní nuận” rằng, đi học chứ đâu phải đi ở tù mà phải mặc đồng phục!
“Thế thì cho chúng em xin mặc một ngày thứ hai thôi!”
“Đó là pháp lệnh! Mặc là để học và lao động chứ không phải để làm đẹp”
Không phải chỉ một vài em nài nĩ xin với thầy cô như thế, mà ít ra cũng đến cả triệu nữ sinh của bên thua cuộc, nếu cho các em khóc xả láng chắc cũng đủ nước để làm thủy điện!
Chưa bao giờ các em buồn như hôm chiếc áo trắng bị tuyên án tử. Nhiều em bỏ học nằm miết trên giường. Buổi sáng đầu tiên không đồng phục, các em thấy ngỡ ngàng xấu hổ, như thể vừa bị lột mất áo.
Cái lệnh đó cũng giống như vua Minh Mạng cấm quần không đáy!
Sau này, các em mới hiểu ra, chỉ có bốn tấc vải một năm, vừa đủ che những chỗ cần che, cấm là phải. Lúc đầu cất kỹ, lâu lâu lại đem ra ướm thử cho đỡ nhớ. Nhưng bao nhiêu áo mặc thường ngày, cứ mòn dần rồi rách te tua. Thì đành mua thuốc nhuộm, cắt hai tà may thêm được một chiếc. Rồi cũng thành giẻ rách!
Từ đó, các em không còn mộng trắng trong, mà đục ngầu vì bị đẩy lên kinh tế mới hay lênh đênh giữa trùng khơi vô định.
Đến nay, các nữ sinh ấy nếu không vùi thây trong rừng sâu hay nằm trong bụng cá, cũng đều ngấp nghé ở tuổi sáu mươi. Cũng đã là bà nội bà ngoại, nhưng kỷ niệm một thời áo trắng vừa đẹp vừa buồn ấy, không một ai quên được.

Giờ, dẫu sao cũng có cái ăn cái mặc, người ta lại ra pháp lệnh mới, đồng phục nữ sinh. Thế là chiếc áo trắng tưởng bị chôn vùi cùng chế độ cũ nay đội mồ sống dậy.
Nhưng nó không còn là mây dù màu cũng trắng. Nó chỉ có xác chứ không hồn, khi người mặc nó dù trời nóng hay lạnh cũng đều khoác thêm một chiếc áo lụng thụng có mũ trùm đầu, chân mang giày và mặt thì che khẩu trang kín mít. Ăn mặc như thế, còn tệ hơn là chim cánh cụt.
Đâu còn cảnh tung tăng, nói cười nhí nhảnh. Đâu còn tiếng guốc khua trên hè phố nghe động tận tim ai. Và đâu còn cảnh nữ sinh bay nhiều quá/ những cánh tay mềm như cánh chim.
Áo đã như thế nên mộng cũng không còn trắng trong. Chiếc tủ hồn em chật ních những ước mơ làm người mẫu chân dài, làm ca sĩ, lấy chồng đại gia, có tệ lắm cũng phải là một anh Đại Hàn nhà quê.
Thế thì áo trắng ơi, sống lại mà làm gì. Đã là mây thì xin mây cứ bay đi. Bạch vân thiên tải không du du!*
________________________________

Những chữ in nghiêng: tác giả thiếu chữ phải mượn đỡ các nhà thơ, chứ không phải cố ý cầm nhầm.