VIẾT NHƯ KINH KHA BUỒN

khuatdau

 

Cuối năm, ngồi đọc lại  những đoạn viết rời của Lữ Kiều, bỗng bàng hoàng nhớ lại một thời khói lửa nhiễu nhương suốt 30 năm. Thời mà anh gọi là lịch sử chọn chúng tôi, chứ chúng tôi không chọn. Hay nói như Nguyễn Gia Thiều, “cái quay búng sẵn trên trời/ mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm”. Còn hơn thế nữa, không phải đi mà bị lôi xềnh xệch trong đêm tối đen. Đó là số phận của những người nhỡ sinh ra trong khoảng 40, 50 thế kỷ trước.

Cho nên, cái tựa đề “Chàng nho sinh  dưới gốc tùng” cũng chỉ là một cảnh viễn mơ ngậm ngùi mà thôi!

Sự thực thì: “ngày-hai-mươi-tuổi, có-những đêm-chong-đèn-ngồi”.  Không phải “chong đèn ngồi nhớ lại”, mà  ngồi nhớ tới.

Nhớ nỗi khắc khoải của Trang tử: ta hóa thành bướm hay bướm hóa ra ta? Nhớ một tiếng “được” thều thào của Nguyễn Du trước khi nhắm mắt, như dấu chấm hết cho nỗi đoạn trường. Và nhớ những lúc nghe Beethoven với khúc giao hưởng số 9, ở đó anh đếm được đến những 24 lần cái nét nhạc bừng bừng thất thanh hạt lệ nóng trong cái hành âm cuối-cái choeur ấy-như  một âm thanh ma trơi, càng nghe càng rùng mình.

Anh cũng nhớ tới G.Nasser, người đã quyết liệt quốc hữu hóa kênh đào Suez trước sức ép nghẹt thở của Anh, Mỹ để phục sinh một Ai Cập  huy hoàng của 6000 năm trước; nhớ tới Che Guevara, nhà cách mạng latinh cực kỳ lãng mạn, đã chết một cái chết đẹp như bài thơ.

Anh còn nhớ tới  Hà Thúc Nhơn, một bác sĩ chống tham nhũng giống như chàng Don Kihôtê tự tin một cách ngây thơ, để rồi cuối cùng gục chết thảm thương ở quân y viện Nha Trang.

Và dù đau đớn đến xé lòng, anh vẫn không thể không nhớ tới những người điên nói cười ngô nghê trước cảnh chợ Đông Ba bị đốt cháy hôm mùng hai tết Mậu Thân và cầu Tràng Tiền bị Bắc quân giựt sập để chứng tỏ cho thế giới thấy được sự hiện hữu nghiệt ngã và tàn nhẫn của họ.

Anh cũng không quên những người tù không chịu trở về Bắc ở trại tù Phú Quốc, không phải ở lại để hồi chánh mà để khỏi bị loại khỏi cái bầy đàn gọi là “sinh Bắc tử Nam”.

Cũng không thể không nhớ tới hai cha con một anh địa phương quân hồn nhiên đi bắt cúm núm, cha tóc đen mũi tẹt còn con tóc vàng sợi nhỏ,  để rồi cảm phục cái cách anh ta biến nỗi đau của mình thành niềm vui sống,.

Và, đương nhiên rất nhớ tới Huế.

Anh gọi Huế là người tình cũ, một người tình có mái tóc dài đà đuột ngát hương, là Hương giang, cài chiếc lược ngà lóng lánh, là cầu Tràng Tiền. Người tình cũ ấy cực kỳ kiêu sa, đài các  nhưng cũng cực kỳ yếu đuối. Nàng đã hai lần bị tổn thương, hai lần bị làm nhục*. Nàng đáng yêu muôn phần, nhưng thật không dễ để cùng nàng đi trọn đường tình.

Anh, cũng như những trai Huế khác, Trịnh Công Sơn, Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư … đều tự nhận mình là người tình phụ. Tôi phụ em một thời bé dại chứ không phải em phụ tôi.

 

Ngày chàng 20 tuổi, những đêm chong đèn ngồi nhớ, để mà chi?

Thưa để viết!

Hóa ra đây là những ghi chép, những suy tư, những chiêm nghiệm, những thao thức của một người  muốn viết như một lần dấn thân.

Nhưng viết như thế nào?

Viết như Kinh Kha cầm cây chủy thủ, “Viết như Kinh Kha buồn!”

Kinh Kha buồn.

Không phải vì sông Dịch lạnh.

Không phải vì đất Tần lang sói.

Chàng buồn.

Vì phải lên đường cùng với Tần Vũ Dương to xác nhưng hèn yếu. Buồn vì thái tử Đan quá nôn nóng không đợi được Cao Tiệm Ly. Nghĩa là buồn vì cảm thấy việc lớn sẽ không thành. Buồn nhưng không sợ, dù biết rằng “ nhất khứ hề bất phục phản “. Ba ngàn tân khách tiễn đưa tóc dựng ngược khi nghe chàng cất tiếng hát. Trong cổ kim chưa có một cuộc lên đường nào bi tráng như thế.

Tần Thuỷ Hoàng chưa biết sợ ai ngoài chàng.

Chàng đã bị băm vằm, nhưng hơn 2000 năm qua chàng vẫn sống. Và chàng vẫn tiếp tục sống đến nhiều ngàn năm sau nữa. Chàng sống không phải vì đã vung con dao chuỷ thủ trước mặt Tần Thuỷ Hoàng. Chàng sống vì đã dám chứng tỏ sự bất khuất. Chàng sống bằng chính cái chết của chàng.

Viết như Kinh Kha buồn”

              “Viết như Kinh Kha cầm chuỷ thủ

Nghĩa là, biết chẳng đi tới đâu, biết là thất bại mà vẫn cứ viết. Phải viết. Vì đó là sứ mệnh của những nhà văn ở các nước nhược tiểu, những nước không chỉ có một Tần Thủy Hoàng ngất ngưởng trên ngai vàng đẫm máu, mà còn có rất nhiều bạo chúa ở khắp nơi, nhất là trong lĩnh vực văn chương và nghệ thuật.

 

Biết là thất bại nên “viết còn là một thú tội”

Vì, đã là nhà văn thì “không có sự thật nào là cấm kỵ”

Rồi chàng vẽ ra “một nền kiến trúc mới, tinh thần khí thế như tiền nhân những ngày xưa hào hùng…Phải giết con sâu bò trên giấy trắng. Sống hùng dũng và viết như chém đá”…Làm sao đừng ngụy tín. Bỡi vì tự hạ giá mình, chúng ta hạ giá văn chương”

Không ngụy tín, không tự hạ giá mình nên ngay từ tuổi 20, anh đã xác tín mình không thể nào và không bao giờ là nhà văn cọng sản.

Anh viết:”Người cọng sản không tin ở giá trị tự thân cô đơn của nhà văn…Y là đám đông. Y bị lãnh đạo một cách tự nguyện”

Viết như thế quả thực rất khó. Vậy nên, cho dù những gì anh đã sống, đã hạnh phúc, đã khổ đau, đủ để làm nên một cây chủy thủ, nhưng anh vẫn ngại ngùng chưa viết, dù rằng trong anh vẫn luôn giục giã:

“Kinh Kha thôi đừng bịn rịn, hãy lên đường!”

 

Thực ra, chẳng phải anh không đủ tự tin để cầm lấy bút như Kinh Kha cầm cây chủy thủ. Anh dùng dắng, đắn đo chỉ vì tự trọng. Cái cốt cách rạng rỡ nhất của một nhà văn chính là lòng tự trọng. Viết hay không viết, còn hơn Hamlet tự hỏi “to be or not to be”.

Bỡi vì, viết cho ai? Cho những em bé sơ sinh khi anh đang ở tuổi 20, hay viết cho thế hệ vừa bị cướp mất và vừa tự đánh mất cái “bản lai diện mục” của chính mình.

Viết làm sao, nếu không phải là khúc sinh ca của đồng lúa trỗ thì cũng đừng là bão giông, là hí luận để làm ngu dại cả một dân tộc. Theo anh, “nhà văn đích thực, là nhà văn bị đầy đọa, nhà văn của địa ngục”…Đó là nhà văn bị đóng đinh. Nhà văn bị trừng phạt: viết!

Vì vậy, những đoạn viết rời được bạn bè góp nhặt để in thành sách cách đây 10 năm chỉ được anh khiêm tốn gọi là:Thử Bút. Như thử test trước khi tiêm thuốc. Đó là tính cẩn trọng của một người vừa yêu vẻ đẹp ngất ngây của văn chương mà cũng vừa thấp thỏm ngại ngần trước uy lực phù thủy của ngôn ngữ.

Thử bút, nhưng có nhiều đoạn rất đẹp, gần như hoàn chỉnh. Như viết về Mẹ trong Sen. Viết về Huế trong Người tình cũ. Và, rất cá tính, rất đời trong Quán trên đồi.

 

Ngày đầu năm, lên chơi diền trang Thân Trọng, ngôi nhà gỗ cũ kỹ đối với anh, quý nhất vẫn là những bức phác thảo, những bức tranh của Đinh Cường, Lưu Công Nhân, Dương Cẩm Chương. Chỉ vào một bức tranh do chính anh vẽ, anh bảo: “Một bức tranh ai hiểu thế nào cũng được., Nhưng nếu cần giải thích thì cũng có thể. Như bức này. Những mảng màu trắng đục là những trang báo. Con cá thì mắt không bao giờ nhắm. Cây đèn dầu tuy bé nhỏ nhưng vẫn tỏa ra ánh sáng. Tức là, người viết phải luôn tỉnh thức và viết dưới ánh sáng của lương tri”.

Vậy đó! Viết hay vẽ, đối với anh tuy là một hình phạt, một định mệnh, thì vẫn là một dấn thân hết sức nghiêm cẩn. Bỡi thế, cho dù con đường anh đi chưa trọn, chỉ một tập truyện ngắn, 7 vở kịch, một tập thơ, đúng là thử viết, thử bước chứ chưa thực sự đi vào đất Tần bất trắc.

 

Nhưng chẳng phải vì thế mà tôi bớt kính trọng anh. Bỡi vì, tuy có ít nhiều hồ đồ, tôi đã thực sự xúc động khi nhìn thấy mình trong Thử Bút những năm anh 20, 30. Ở tuổi đó, tôi cũng có những đêm  thao thức: viết cái gì, viết cho ai, viết hay không viết ?

Cứ tưởng tuổi tam thập là vừa đủ vốn sống để có thể phóng lên giấy trắng những con chữ chứ không phải những con sâu, thì, hỡi ơi, cả đất trời bỗng dưng sụp đổ.

Tháng 4, 1975 Lữ Kiều bẻ bút!

Đành nghe trong im lặng khúc giao hưởng số 9 ai điếu cho chính mình.

 

Ở đâu đó, anh viết, tình yêu như là sự chết. Và chết chỉ một lần. Nhưng rồi anh lại bảo, tình yêu cũng có thể phục sinh. Và anh đã làm sống lại chàng Kinh Kha bằng cách cầm cọ vẽ. Những nhát vẽ từ năm 1982 đến nay như chém vào đá. Và những con cá không bao giờ nhắm mắt, dù đã chết. Những con cá vẫn tỉnh thức.

Nhà văn bị bức tử giờ thành họa sĩ. Thì cũng như Trang tử mơ thấy mình hóa bướm. Tuy hai mà một. Có sao đâu!

 

10/1/2017

Khuất Đẩu 

* Kinh thành Huế thất thủ lần thứ nhất 23/5/ Ất Dậu (1885) (Pháp chiếm)

* Lần thứ hai, tết Mậu Thân (1968). (CS chiếm)

Điền trang Thân Trọng

khuatdau

 

Khi chủ nhân gọi cái vạt đất nằm chênh vênh giữa lưng chừng đồi sau dinh hoàng đế Bảo Đại là điền trang chắc đã từng có lúc anh nghĩ đến vàng son một thưở. Nghĩ đến với một chút ngậm ngùi. Cái điền trang ấy nó bé nhỏ và khiêm nhường đến nỗi chỉ có non trăm gốc cà phê và chừng mươi cây hồng trụi lá. Tuy vậy, khi cà phê nở hoa bạn có thể nghe được mùi thơm rất mực quý phái lan tỏa trong làn sương lạnh và trong nắng thu vàng bạn sẽ ngất ngây với những cành hồng trĩu quả mọng đỏ.

Nhưng nếu chỉ có thế, tôi chẳng việc gì phải đánh thức những con chữ đang ngủ yên cùng với tuổi già mỏi mệt.

Thương ai về ngõ tối đêm nay thiếu ánh trăng. (TCS)

Cái ngõ tối trong cả ngàn ngõ tối ấy ở Sài Gòn trở nên đẹp xót xa trong lòng chàng trai mười bảy tuổi chỉ bởi vì có một Thanh Thúy với đôi vai gầy guộc nhỏ sớm tối đi về.

Cũng gần như thế, cái tiểu diền trang quạnh hiu ấy đáng nhớ và đáng nói vì ở đó có một căn nhà gỗ là nơi chốn đi về cho nhiều bằng hữu. Một Trịnh Công Sơn, một Đinh Cường, một Lưu Công Nhân, một Dương Nghiễm Mậu…giờ đã đi vào sương khói của hư vô. Và còn đó, những chàng niên thiếu thưở cắp sách đã vì mê say văn chương mà làm nên Gió Mai, rồi Ý Thức…những Nguyên Minh, Lữ Quỳnh, Lữ Kiều, Lê Ký Thương…giờ chân đã chồn gối đã mỏi vẫn vì bạn mà đi xuống đi lên cái con dốc sâu thẳm ấy. Chính nơi đây trong căn nhà gỗ với những ô cửa không chấn song, họa sĩ Thân Trọng Minh đã vẽ những cá, những mặt người với những nét vẽ như những người Tây nguyên ngồi đẽo tượng nhà mồ. Và Nguyên Minh, sau gần 30 năm không cầm bút ngồi nhìn bạn vẽ, bỗng dưng tìm lại được nguồn cảm hứng để viết nên tác phẩm Tưởng Chừng Đã Quên, rất Nguyên Minh và rất đáng yêu.

Một nơi chốn như thế, bảo rằng quên, làm sao mà quên cho được. Một nơi tưởng chừng hãy còn hơi hướng của những người mà lòng mình yêu dấu, hãy còn như vang vọng đâu đây tiếng đàn câu hát.

Quên sao được ngọn lửa được đốt bên hiên nhà với những người ngồi co ro, một tay cầm ly rượu một tay cầm củ khoai lùi.

Quên sao được bóng trăng thượng huyền sau mái nhà như một nét môi cười và sao hôm đẹp như hạt lệ của những người khóc lẻ loi một mình (TTT)

Quả là rất khó quên. Nên chi, khi nghe chủ nhân điền trang  sẽ thay   ngôi nhà này bằng một ngôi nhà mới, tôi đã rất bàng hoàng! Ngôi nhà đã hơn hai mươi năm, nắng mưa và mối mọt khiến nó già đi trước tuổi. Xây lại, cũng phải thôi.

Nhưng một ngôi nhà mới, tuy vẫn nằm nhỏ nhoi khiêm tốn bên đồi, liệu những người bạn cũ, hồn mộng lang thang đâu đó có còn  nhận biết mà theo gió đi về. Và chính chủ nhân, liệu anh có còn tìm được mùi sơn dầu mà anh pha trộn hãy còn vương vất trong từng nếp gỗ?!

Lên chơi đúng vào ngày đầu năm, được ăn một cái tết Tây rất tây, được uống rượu Chivas, được nghe piano ở La Palace… mà sao tôi vẫn cứ thấy ngậm ngùi.

Khuất Đẩu

4/1/2017

 

YÊU Ở TUỔI CHÍN MƯƠI

khuatdau

(Đọc Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi, G.Marquez)

Mới đây, trong thư từ biệt bạn bè, Marquez viết, nếu Thượng Đế cho sống thêm chỉ một giây, tôi sẽ nói yêu em, và rằng, mọi người quá sai lầm khi cho là đã già thì không còn yêu ai được nữa, mà không hề biết chính vì ngừng yêu thương nên họ mới già đi!

Tôi viết những dòng này khi tôi đang ở tuổi bảy mươi mà không sợ bị diễu cợt là một lão già mất nết. Bởi vì tôi đang đón nhận thông điệp của ông, một người yêu cuộc đời đắm đuối đến hơi thở cuối cùng, và đang sững sờ với trái tim để trên môi theo cách nói của ông, khi đọc tác phẩm kỳ dịMemoria de mis putas tristes, Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi.

Hồi ức chứ không phải hồi ký nên câu chuyện ngắn và mỏng như giấy vấn thuốc lại lan man khiến ta có cảm giác như đang đi lạc vào một vùng khói sương hư ảo.

Vào cái năm chín mươi tuổi, tôi muốn tự thưởng một đêm tình cuồng điên với một thiếu nữ còn trinh nguyên. Chỉ một câu mở đầu thôi mà trái tim nhiều người nếu là một địa chấn kế hẳn sẽ đo được 6,5 độ richter như Chí Phèo Bắc Hàn vừa mới thử bom nguyên tử. Rúng động thật. Nhưng chỉ rúng động với những ai bị gói kín trong lớp áo đạo đức, chứ với mụ chủ chứa Rosa Cabarcas, thì đó là tiếng lẻng xẻng của những đồng tiền sắp rơi vào túi. Hàng “gin” thì lúc nào chả có, nhưng mụ giả bộ than khó kiếm, nhất là phải có ngay trong đêm sinh nhật xưa nay hiếm của khách, cũng chỉ là để bắt nọn mà vòi thêm tiền.

Hàng là một cô bé vừa mới thôi thay tã lót chỉ 14 tuổi và chỉ đến nhà chứa đúng 10 giờ đêm vì phải lo cho các em ăn ngủ và đưa bà mẹ thấp khớp liệt tay chân lên giường.

Khoảng cách tuổi tác làm cho người đọc giật mình. Một ở đầu, một ở cuối thế kỷ. Không còn là đôi đũa lệch nữa mà là cây sào dài để nhảy từ bờ cõi sinh sang bờ cõi tử. Với khách, thì mụ Rosa quá hiểu là chẳng có vấn để gì, nhưng với cô bé, để xua nỗi sợ chết khiếp khi lần đầu phải làm cái việc mà mụ cho là nặng nhọc hơn đẽo đá ấy, mụ đã cho cô uống thuốc ngủ làm bằng hợp chất đồng và kim loại pha với cây nữ lang.

Với trái tim sắp nổ tung, khách bước vào phòng và thấy bé gái đang ngủ trần trụi trên chiếc giường rộng mênh mông như khi mới được sinh ra. Thật khác xa với lúc 12 tuổi, khách lúc ấy là một cậu bé tò mò mở cửa tầng lầu của các ả giang hồ. Giữa cảnh những mụ đàn bà suồng sã, giữa tiếng la hét tục tĩu, cậu đã bị một ả bế thốc lên giường dạy cho bài học đầu đời thô bạo. Từ đó,cậu tiêu pha tuổi trẻ và những đồng tiền kiếm được vào hai nơi: quán ăn và nhà thổ.

Khách là một người keo kiệt và ky bo. Có lẽ để thầm tính xem cả đời mình chi tiêu hết bao nhiêu về cái khoản ấy, nên đã tỉ mỉ ghi tên từng người qua đêm với mình. Chỉ từ năm hai mươi cho đến ngoài năm mươi, khách đã ngủ ít nhất một lần với 540 người. Như thế, khách chẳng lạ gì trước một người con gái đã được bóc sẵn như một món ăn fast food. Những lần trước, theo thói quen, khách chỉ việc tắt đèn và mọi sự diễn ra trong bóng tối như đã từng diễn ra trong suốt cuộc đời quá dài của mình. Nhưng lần này với tất cả cuồng điên của tuổi chín mươi, khách muốn mọi sự diễn ra khác hẳn tuy chưa biết khác như thế nào.

Mặc dù đã được mụ Rosa chăm chút cẩn thận, trét phấn dày cộp, đeo lông mi giả, xức nước hoa, nhưng cô bé vẫn chưa phải là điếm. Cô ngủ say vì thuốc, vì sợ và vì cô hãy còn quá bé bòng. Nhìn dáng nằm của cô với hai tay và chân khép chặt, với môi miệng lép nhép như đang ở trong mơ, khách cảm nhận cái mùi mồ hôi nồng nồng chua chua tỏa ra từ người nàng. Khách thử tách rời hai gối, nhưng trong gíấc ngù say, cô bé vẫn ra sức bảo vệ trinh tiết của mình. Nàng ngủ say, hay cố giả vờ ngủ say, thì cũng chẳng còn hứng thú gì nữa. Ông không buồn đánh thức nàng dậy vì chính bản thân ông cảm thấy xấu hổ, lạnh lẽo. Chẳng biết làm gì hơn, ông khẽ ru nàng ngủ và trong mùi hợp chất đồng cùng với cây nữ lang, ông cũng muốn ngủ sau khi nghe tiếng chuông đồng hồ gõ 12 tiếng nhắc cho ông biết rằng ông đang bước qua ngày sinh nhật thứ chín mươi của mình.

Ông ngủ một giấc dài đến tận 5 giờ sáng. Lần đầu tiên ông cảm thấy thích thú khi nằm bên cạnh một người khác giống mà không bị áp lực vì dục vọng hay bối rối vì ngượng ngùng. Không có gì xảy ra giữa hai người. Với dáng nằm của một bào thai trong bụng mẹ, cô bé vẫn hoàn toàn làm chù trinh tiết của mình. Đối với một ai khác, như các chú con Trời chằng hạn, coi việc chiếm đoạt trinh tiết của các thiếu nữ mới lớn là tột đỉnh của trời cho, thì đó là một đêm ngu xuẩn. Nhưng với khách, ông lại xúc động vì mình đã làm được một điều thiện. Ông để lại hết tiền bạc cho nàng cùng với nụ hôn vĩnh biệt lên trán và lời cầu chúc xin Chúa giữ hộ trinh tiết cho em!

Gọi là nụ hôn vĩnh biệt vì lúc ấy ông cảm thấy sức nặng khủng khiếp của gần một thế kỳ tuổi tác đang đè nặng lên đôi vai mỏi rụi của mình. Và cũng bỡi vì để trang trải cho một đêm phóng đãng ông đã tiêu hoang đến những 15 peso, hết cả tháng lương hưu ít ỏi của một nhà báo già, chứ không phài chì 2 peso như mọi khi. Câu chuyện nếu kết thúc ở đây, với một nhà văn tầm tầm thì coi như đã viêt được một truyện ngắn cũng không đến nỗi tệ. Nhưng với một bậc thầy kể chuyện như Marquez, ông không để cho ta có cảm giác lơ lửng nhạt phèo như khi nghe những gã thủy thủ về già ngồi kể chuyện trăng hoa. Ông sẽ còn đưa ta đến những cõi miền trù phú xa lạ không ngờ, những cõi miền mà ta tưởng như bát ngát ở trên mây nhưng thực ra là ở trên mặt đất, ờ chính ngay giữa lòng cuộc đời này.

Nhân vật chính không tên, nhưng ta có thể gọi ông là ông già thế kỷ. Ông trở về ngôi nhà cũ kỹ của mình dưới ánh nắng rực rỡ với tâm trạng yên bình của một người đã đi hết chứ không phải tận hưởng hết cuộc đời. Ông ngồi vào chiếc bàn quen thuộc viết một bài về sinh nhật thứ chín mươi trong mùi hương cây cỏ mà ông vẫn còn cảm thấy vương vất từ da thịt nàng. Không ngờ, đó là bài viết hay nhất của ông, nếu ta nhớ lại ông bước vào làng báo là nhờ những đồng tiền mà người mẹ gốc Ý rất chuộng hình thức đã kín đáo trà tiền cho tòa soạn.

Ông định trao bài báo cuối cùng rồi ra về, nhưng có người đem ra một chiếc bánh sinh nhật sáng rực với chín mươi ngọn nên đề cho ông thổi tắt. Ông đón nhận những lời chúc mừng và vô số quà tặng, trong đó có ba chiếc quần lót với nụ hôn môi đỏ chót cùa các nữ nhân viên trêu chọc. Như thế cũng đã quá đủ cho một ông già ở tuổi chín mươi. Từ đây ông có thề yên nghỉ với những đôi môi không còn trinh tiết nọ.

Nhưng ở bên kia đầu dây, mụ chủ chứa Rosa chuyên vắt kiệt các cô gái trẻ trước khi thải ra các nhà chứa rẻ tiền ở bến cảng, lại phẩn nộ gọi ông. Rằng sao ông không hề động đến cô bé, ông chê hàng họ của nhà bà à? Năm lần bảy lượt ông cố tìm cách chối từ, nhưng với đạo đức nhà chứa lạ lùng và với sự kiên trì của một con báo cái, mụ Rosa cuối cùng cũng thuyết phục được ông phải đến để cho cô bé khỏi phải xấu hổ vì mình là đồ bỏ và danh tiếng lẫy lừng của nhà bà không bị đem ra rêu rao cùng khắp.

Lần thứ hai, vẫn sau khi đưa bà mẹ tê liệt vào giường ngủ, cô bé đến lúc mười giờ, nằm sẵn chờ ông với tình trạng mà Chúa đã đưa cô đến cõi đời này. Nó vẫn phải uống hợp chất đồng pha với nước lá nữ lang đễ khỏi phải sợ cái cú sốc lớn nhất trong đời. Cô ngủ say đến nỗi ông không muốn đánh thức cô dậy và với tất cả vẻ dịu dàng có được ông lại hát ru cô bé. Ông lau mồ hôi chảy dầm dề trên người cô, rót vào tai cô, Dalgadina ơi, em hãy tỉnh dậy, mặc áo lụa vào đi em, rồi ông cũng ngủ bên cạnh cô với chiếc quần lót còn in hình đôi môi của các nữ nhân viên tòa soạn.

Ông trở về nhà trong cơn mưa tháng chín và lạ lùng làm sao, ông tưởng như đang nhìn thấy nàng đang cùng ông loay hoay dọn dẹp, giúp ông cất giữ sách báo cho khỏi ướt. Ông tưởng như đang sống cùng nàng, trong khi ông dọn bàn ăn thì nàng chuẩn bị bữa điểm tâm. Cứ y như một đôi vợ chồng mới cưới.

Nàng ngập tràn trong căn nhà buồn bã. Nàng thay đổi màu mắt, khi màu nước, khi màu mật và lúc màu lửa, tùy theo tâm trạng vui buồn của ông. Nàng cũng được ông thay đổi xiêm y: lộng lẫy áo cưới ở tuổi hai mươi, khiêu khích kiểu gái gọi ở tuổi bốn mươi, nữ hoàng Babilon ở tuổi bảy mươi và nữ thánh đường bệ ở tuỗi một trăm. Rồi ông song ca cùng nàng và cảm thấy hạnh phúc tuyệt vời khi được hát ca.

Tình trạng đó là gì nhĩ? Ta khỏi phải băn khoăn vì Ông già thế kỷ đã lần đầu tiên trong đời nhận ra đó không phải là ảo giác mà chính là điều huyền diệu của mối tình đầu ở tuổi chín mươi.

Trong khi ông đang chìm ngập trong tình yêu mà suốt một đời dài ông mới có được, thì mụ Rosa lại ầm ĩ gọi đến trách ông sao không động đến cô bé. Bà ta còn đòi đóng gói đưa đến nhà ông một cô gái khác lớn tuổi hơn nhưng vẫn còn trinh để ông khỏi phải áy náy vì tội lỗi. Nhưng ông quyết liệt từ chối. Ông chỉ muốn Delgadina ( tên do ông mượn trong bài hát) và ông sẽ đến với nàng như một người tình chứ không phải khách làng chơi. Ông mang theo tranh, cả đinh và búa để trang trí lại căn phòng, đem tới một cây quạt mới đẻ thay cây quạt rỉ sét. Ông bẻ trộm hoa vì đã quá muộn không còn ai bán. Ông nhìn ngắm nàng và đặt môi hôn kính cẩn lên từng phần thịt da. Ông nghe dòng máu lưu thông trong huyết quàn nàng như một bài ca lan tỏa đến mọi ngóc ngách thân thể rồi quay về tim sau khi đã để cho tình yêu lọc sạch. Sau cùng, ông nằm xuống bên cạnh như một con chó trung thành để canh giấc ngủ cho nàng.

Những đêm sau và nhiều đêm sau nữa, ông đọc sách cho nàng nghe vì ông đã biết cách điều khiển âm hưởng cao thấp để nàng có thể nghe được trong mơ. Từ truyện Hoàng tử bé, đến truyện cổ của Perault, truyện Ngàn lẻ một đêm… Tình yêu làm cho ông thơ trẻ và trở nên siêu việt khác thường. Những bài báo của ông cho dù với bất cứ đề tài nào cũng biến thành những bức thư tình hay đến nỗi được đọc cả trên đài phát thanh và được in ra nhiều bản ngay cả in bằng giấy than để bán chung với đồ tạp hóa. Thành phố phát cuồng vì ông. Ngay cả mụ Rosa chỉ biết có tiền cũng đọc bài ông viết. Đến cả những cô bé công nhân còm cõi suốt ngày phải thi hành cái án phạt kết hằng trăm hạt nút áo cũng biết đến ông.

Qua năm mới, khi biết nàng đã đến tuổi 15, theo gợi ý của Rosa, ông mua cho nàng chiếc xe đạp mới. Ông thử đạp xe vừa hát vừa vòng quanh khu phố như hồi còn bé và người ta thấy ông khỏe mạnh dẻo dai đến nỗi ai cũng khuyên ông dự thi tours Colombia. Còn bác sĩ thì bảo rất tiếc là không có việc gì để làm đối với sức khỏe của ông.

Mọi chuyện cứ như đang ở một cõi trời nào, trôi đi êm ả như trong mộng, bỗng loảng xoảng đổ vỡ khi có một khách sộp bị đâm chết ở ngay trong nhà chứa. Bà chủ lặn mất theo cách của bà còn Delgadina cũng biệt tăm. Ông xao xác đi tìm nàng khắp nơi trong thành phố. Ông đến xưởng của nàng, nhưng trong số hàng trăm cô gái ông không biết nàng là ai. Ngay cả một cô gái đi xe đạp bị xe cán nằm ở nhà thương, ông cũng không chắc có phài là nàng. Bỡi vì dưới cái mặt nạ bằng phấn ông đâu biết khuôn mặt thực của nàng ở ngoài đời.

Cả một tháng dài ông đau khổ trong tuyệt vọng, suốt ngày ngồi bên điện thoại chỉ để mong chờ tiếng gọi của mụ Rosa. Giờ mụ chính là cái phao cứu sinh của ông. Và rồi, dù không ưa gì con mụ, ông vẫn run lên khi như từ cõi chết mụ gọi đến cho ông. Sau một hồi vòng vo như để đo xem độ rạn vỡ của trái tim, mụ báo cho ông biết cô bé vẫn khỏe mạnh và đang chờ ông như thường lệ.
Đến đoạn này tôi phải mượn lời ông:

Mười giờ đêm, toàn thân run rẩy và môi mím chặt để khỏi bật ra tiếng khóc, tôi mang theo hộp sôcôla Thụy Sĩ, bánh mật hạnh nhân và kẹo cùng một giỏ hoa hồng cháy đỏ để phủ lên giường. Cánh cửa khép hờ, đèn sáng và Delgadina nằm trên giường rực rỡ và khác lạ khiến mãi tôi mới nhận ra. Cô bé đã lớn hơn nhưng không phải về kích thước mà về nét già dặn hơn hai hoặc ba tuổi và trông cũng lõa thể hơn bao giờ hết. Đôi gò má như cao hơn, làn da xạm nắng biển, đôi môi mỏng, mái tóc cắt ngắn và xoăn tít khiến bộ mặt em có nét rạng rỡ của tượng Apolo. Cặp vú của em cũng phổng phao hẳn lên không còn nằm gọn trong lòng bàn tay tôi được nữa. Vòng eo cũng đã định hình, khung xương đã trở nên rắn rỏi và hài hòa hơn hẳn. Tôi say sưa với những thành tựu của tự nhiên nhưng lại hốt hoảng trước những nét giả tạo: lông mi giả, móng tay và móng chân sơn màu sẩm xà cừ và một mùi nước hoa sực nức chẳng có vẻ gì là tình yêu cả. Tuy nhiên, điều làm tôi nổi giận chính là mớ tài sản cô bé mang trên người: khuyên tai khảm ngọc bích, vòng đeo cổ bằng ngọc tự nhiên, một vòng đeo tay lấp lánh kim cương và tất cả các ngón tay đều đeo nhẫn bằng đá quý. Vắt trên ghế là bộ đồ dạ hội đính vẩy lóng lánh và thêu khéo léo…
Với tất cả cuồng điên, ông đã ném hết thảy những gì vớ được trong phòng và đủ sức châm lửa đốt nhà nếu Rosa không xuất hiện. Lặng lẽ ước lượng mức độ tàn phá, yên chí thấy món hàng của mình dù đang co quắp vì sợ hãi vẫn không hề hấn gì, mụ ta bỗng cất lên tiếng kêu vừa thán phục vừa thèm thuồng:
– Trời ơi! Sao tôi không có một tình yêu như kiểu này!

Thế đấy, ông đã ghen như một người đàn ông thực sự. Ghen vì tưởng trong những ngày qua con mụ lọc lõi kia đã đem cái trinh tiết của nàng để chạy tội. Chắc chắn ông sẽ bóp cổ mụ ta đến chết nếu những ý tưởng làm ông sôi lên là sự thực dù chỉ một phần nghìn. Rất may không phải vậy. Con mụ chỉ muốn làm mới món hàng, đem những đồ trang sức giả của mụ để làm cho cô bé trở nên già dặn và quyến rủ hơn, những mong chiều được cái tính đỏng đảnh của ông.

Dù được giải thích tường tận như thế, nhưng làm sao tin được miệng lưỡi của các mụ chủ chứa. Ông vẫn cứ đau khổ, vẫn cứ âm thầm nghi ngờ nàng đã bị mụ biến thành một con điếm sành sõi. Nỗi đau ngấm vào tận xương cốt khiến đêm ngày ông không sao ngủ được. Ông sắp chết đến nơi nếu trên một tuyến xe buýt không gặp lại người bạn tình chăn gối mà trong suốt nửa thế kỷ qua đây là lần đầu tiên họ gặp nhau không phải ở trên giường. Ông đã được dịp trút hết nỗi lòng thầm kín và người điếm già may mắn cuối đời tìm được bến đỗ là làm vợ một người Hoa, đã nói môt câu mà ông nghe như một hồi còi cảnh báo. Rằng ông không được để mất cô bé. Không có gì bất hạnh bằng chết trong cô đơn.

Và đây là lời ông:

Chuẩn bị sẵn sàng cho đêm đó, tôi nằm ngửa chờ đợi kết cục đau buồn của những giây phút đầu tiên của tuổi chín mươi mốt. Tôi nghe tiếng chuông nhà thờ vọng lại từ nơi xa, cảm thấy hương thơm ngạt ngào của tâm hồn Delgadina ngủ say bên cạnh…tôi liền tắt đèn và với lòng can đảm cuối cùng, lồng các ngón tay mình với các ngón tay cô bé để dắt tay nhau cùng đi. Tôi đếm hai mươi tiếng chuông với hai mươi giọt lệ cuối cùng của mình cho đến khi gà bắt đầu gáy sáng, và sau đó là những hồi chuông vinh quang, những tràng pháo hoa ngày lễ hội phấn khởi chào mừng tôi đã khỏe mạnh an toàn vượt qua tuổi chín mươi…

Cuối cùng thì đó chính là đời thực, với trái tim khỏe mạnh nhưng đã bị tuyên án sẽ chết vì tình yêu đẹp đẽ trong cơn hấp hối hạnh phúc vào một ngày nào đó ở tuổi ngoài một trăm của tôi.

Với hạt lệ già rưng rưng ở khóe mắt, tôi cũng xin chúc mừng ông, ông già thế kỷ ạ. Thật tuyệt vời khi thấy ông dù đứng bên bờ huyệt vẫn còn tìm được tình yêu đầu tiên và cuối cùng của mình. Tôi không đi quá xa để ngợi ca rằng đây là mối tình thế kỳ. Cũng không phải là mối tình lãng mạn. Lại càng không phải là mối tình thánh thiện. Điều kỳ diệu làm tôi xúc động đó là mối tình quá đỗi chân thật, ai cũng có thể yêu như vậy nếu người ta còn biết yêu thương, biết đợi chờ và biết trân trọng.

Trở lại từ đầu, ta thấy từ cách gọi điện đặt hàng, chủ hàng, cho đến món hàng thật giống như trong một cửa hàng fast food. Các nhà thổ với những cuộc tình rẻ mạt được làm sẵn y như những miếng humburger hay gà chiên kentucky. Đó là thức ăn cho thịt da háu đói. Ăn bất cứ lúc nào, ăn bất cứ ở đâu. Ăn nhồm nhoàm và béo ục ịch. Nhân vật của chúng ta đã bị nhét vào mồm từ năm 12 tuổi. Và từ đó cho đến gần tám mươi năm, ông vẫn cứ phải ngốn một cách buồn chán cho dù đã ngán đến tận họng. Cái cách chơi ngông của ông thực ra chỉ là thử tìm một chút hương vị mới cho dục tình chứ đâu phải ái tình. Vậy mà kỳ diệu thay trên bãi rác đời ấy ông lại tìm được một bông hoa của tình ái.

Giả sử cô bé nọ không bị cho uống hợp chất đồng pha với nước lá cây nữ lang để ngủ say như chết và giả sử ông như một đại gia coi việc phá trinh như săn thú rừng quý hiếm thì câu chuyện có được một cái kết ngọt ngào ở tuổi chín mươi hay không? Tôi tin là chẳng có gì ngoài một cái xác xộc xệch đang nằm chờ chết và một cô điếm trẻ đã rất tinh ranh tuy mới tuổi 15. Cái nút của câu chuyện là cho dù thân xác đã bị bóc trần phơi bày ra đấy nhưng tâm hồn cô thì vẫn đóng kín. Từ đấy ta lờ mờ hiểu được tình yêu là một điều bí ẩn, nói theo nhân vật chính là duyên số.

Trong tất cả những lần gặp, cô bé chỉ ngủ và chỉ nói với ông một lần trong mơ. Chính sự im lặng tuyệt đối cọng với dáng nằm của bào thai trong bụng mẹ đã làm cho ông cảm thấy nàng cần được chở che bao bọc. Lúc đó, có thể ông là một người cha bên cạnh con gái đang ngủ mê man. Cũng có thể ông là một thiền sư bên cạnh một nữ thí chủ lâm nạn. Là ai cũng được nhưng không phải là người đàn ông đang đói khát dục tình. Và một khi dục tình ngủ yên thì tình yêu lại thức. Tình yêu thực ra là đứa em song sinh của tình dục. Một đứa em bé bỏng rất sợ tiếng ồn, rất lặng lẽ, trong khi thằng anh lúc nào cũng ầm ĩ, hành xử nhiều khi như kẻ cướp.

Tình yêu không phải là chiếm doạt. Tình yêu cũng không phải hiến dâng. Tình yêu là cuộc gặp gỡ của hai tâm hồn. Một ở đầu kia xa tít tắp và một ở đầu này cũng xa vạn dặm. Cả hai cùng lẻo đẻo đi một mình trên suốt dặm dài đơn độc cho đến khi gặp nhau. Bí mật nằm ở chỗ cả hai cùng khởi sự trên một con đường nhưng từ hai đầu xa cách.

Trong suốt cuộc đời dài những chín mươi năm, nhân vật chính cùa chúng ta rất cô đơn dù đã ngủ với hơn 500 người. Trong căn nhà của cha mẹ để lại, ông sống lặng lẽ một mình. Cũng có một người giúp việc, người đã yêu ông thầm lặng nhưng không dâng hiến. Lúc ấy với thói quen dục tình của kẻ cướp, ông đã tấn công nàng từ phía sau trong khi nàng đang giúp ông giặt đồ. Nàng không thù ông nhưng tiếc cho cơ hội mà ông đã bỏ phí để có được tình yêu. Một lần khác, một cô gái nóng bỏng dù mặc áo hay không mặc áo, háu trai đến nỗi trước mặt ông cứ cởi hết áo này đến áo nọ nên tình yêu cũng không đến được.

Từ khi biết yêu, chỉ trong vòng một năm ngắn ngủi của chín mươi năm, ông đã làm được khá nhiều việc. Ông biến căn phòng nhớp nháp ở nhà chứa thành một tổ ấm rồi ông sửa sang lại căn nhà mình dù nàng chưa một lần đến. Lo lắng cho nàng sẽ đói nghèo sau khi mình chêt đi, ông đã bàn với mụ Rosa cách thức để lại tài sản cho nàng. Cứ y như một ông chồng già hết lòng yêu vợ. Có một điều ông chưa hề làm ấy là biến nàng thành một người đàn bà thực sự. Không phải vì ông quá già, không phải cao thượng hảo, mà vì, trước hết ông thấy quá đủ, quá vui khi biết mình đang yêu, và sau nữa ông chỉ làm khi biết chắc nàng đồng thuận.

Thực ra ông biết nàng cũng đang yêu mình bỡi vì ông cảm nhận được mùi hương của tâm hồn nàng, cảm nhận được những luồng run rẫy mỗi khi ông đặt môi lên từng phân vuông da thịt. Ở mỗi nơi run mỗi cách tức là dù nàng ngủ hay giả vờ ngủ thì thịt da tươi trẻ nàng vẫn thức, vẫn nghe được tiếng gọi từ thịt da ông. Lúc này, tình yêu và tình dục đúng là hai anh em song sinh ngoan ngoản dễ thương, chúng nâng đỡ nhau và tiếp sức nhau để làm nên cái gọi là hạnh phúc lứa đôi. Chẳng cần mụ Rosa hay người bạn tình đã bảy mươi ba tuổi khuyên bảo, ông cũng sẽ làm điều đó với lòng biết ơn. Ông sẽ làm điều đó, nếu không tình yêu dù có mãnh liệt khỏe mạnh đến dường nào rồi cũng sẽ chết như cây thiếu nước.

Câu chuyện tình của ông thật đẹp, không phải vì đẹp đôi mà vì nó nẩy nở một cách mạnh mẽ, thuần khiết. Nó cũng hết sức kỳ ảo vì thời gian đè nặng lên lưng ông thêm một năm nhưng tâm hồn ông và cả trái tim ông lại bước lùi về quá khứ đến những bảy mươi lăm năm. Cái cách ông mơ tưởng về nàng, cách ông chăm sóc nâng niu, cách ông nhớ nhung đau khổ và cuồng điên vì thất vọng nào có khác gì một chàng trai mười lăm tuổi. Còn nàng trong khi ngủ hay giả vờ ngủ cũng âm thầm lớn lên cả tâm hồn và thể xác để được gặp ông trong một đêm nào đó mà tiếng chuông nhà thờ long lanh giục giã họ yêu nhau.

Tới đây, tôi muốn bày tỏ lòng ngưỡng mộ trước một bút lực nhà Trời của tác giả. Trước hết là cách dựng truyện. Mở đầu là một trái bom làm cho ta choáng váng. Cái ý muốn ngông cuồng của nhân vật chính mới nghe quả thật rất phi luân nếu không muốn nói là tội ác. Cho dù là xã hội Nam Mỹ đi chăng nữa cũng không dễ dàng chấp nhận. Cái tội khai thác tình dục trẻ em ở thời nào và bất cứ ở đâu cũng là một tội nặng. Mụ Rosa cũng biết quá rõ là sẽ phải ngồi tù 3 năm nếu chiều theo ý khách. Thế rồi tác giả nhẩn nha gỡ tội cho cả hai. Mụ Rosa thì như được các quan chức đầu tỉnh cho phép ngồi xổm trên pháp luật để đổi lấy những món hàng độc. Mụ cũng không hề chặt chém trong phi vụ bán trinh. Mụ chỉ tác nghiệp đúng với đạo đức và lương tâm nhà thổ là làm vui lòng khách cho dù có những đòi hỏi khó khăn đến mấy nếu biết chi tiền. Còn khách là một ông già gần đất xa trời, trong bao nhiêu năm chỉ biết có gái điếm, nghĩa là chỉ biết có tình dục mà không có tình yêu, thôi thì đề cụ qua đêm với một cô em chưa biết “vành ngoài bảy chữ vành trong tám nghề” coi như một chút ân huệ của cuộc đời.

Cái bẩy của câu chuyện là cô em hãy còn quá nhỏ. Quá nhỏ nên hãy còn quá trinh trắng. Và quá nghèo, nghèo đến nỗi khách tự hỏi là trên đời này còn có ai nghèo hơn em nữa không. Nhưng nếu vào một nhà chứa khác, gặp một khách khác chưa chắc cô bé thoát khỏi một cuộc hãm hiếp có trả tiền. Ở đây ta thấy mụ Rosa ít nhiều cũng lo lắng cho em khi cho nàng uống thuốc ngủ tự chế. Tránh cho nàng nỗi khiếp sợ buổi đầu nên dẫu sao mụ cũng còn có chút tình người. Còn khách, ông là người đã đậu Tú tài, đã dạy ngữ pháp và đang là nhà báo nghỉ hưu nên ông đã biết tự kiềm chế và biết động lòng trắc ẩn.

Câu chuyện vì thế`không còn sắc màu của tội lỗi nữa. Mọi chuyện sau đó chỉ là một câu chuyện tình ngồ ngộ nhưng không phải vui vui. Trái lại là một câu chuyện buồn vì tác giả dẫn dắt ta đi qua những truông dài rú thẳm cùa những tâm hồn cô đơn. Không ai ngờ những ngưòi sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Tràng Khanh như mụ Rosa, Casilda…lại là những người cô đơn nhất. Bất ngờ hơn nữa khi ta biết thêm chính những con người thừa mứa dục tình ấy lại chính là những người hiểu rõ và thèm khát tình yêu nhất. Mụ Rosa đã đắm đuối kêu lên khi thấy ông già thế kỷ của chúng ta đập phá điên cuồng vì ghen. Và Casilda cũng chỉ mong trong số cả ngàn người đàn ông đã nằm chung giường với mình, có một người yêu mình dù là người tệ hại nhất.
Một điều nữa tôi cũng nhận ra kỳ diệu không kém ấy là tác giả nói về các ả làng chơi với những thân xác bị lột trần nhưng không “bẩn”. Tác giả cũng mô tả chi tiết đến những nơi nhạy cảm trên thân thể đàn bà nhưng không phải để gợi dục.

Trong các tác giả hiện đại, chưa có ai kể cả Hemingway viết về tình yêu và tình dục kỳ ảo như ông.Từ một câu chuyện thường ngày trong nhà chứa, qua ngòi bút đồng cảm và nhân bản của ông, mọi sự đã hiện ra một cách dịu dàng êm ả như trong cổ tích. Cô bé nghèo, xấu xí, sau một năm ngủ say, cô bỗng đẹp hẳn lên và đáng yêu như cô công chúa ngủ trong rừng. Còn ông già, tuy mặt dài như mặt ngựa nhưng với tình yêu sôi nổi, ông cũng trở nên tao nhã như một hoàng tử cỡi con ngựa bạch đến để đánh thức nàng dậy.

Nhiều nhà phê bình xuất sắc đã nhận định toàn bộ tác phẩm của ông là chỉ viết về nỗi cô đơn và ca ngợi tình yêu. Tình yêu chứ không phải tình dục. Tôi xin mượn câu nói của ông già thế kỷ cũng là chủ ý của tác giả để kết.
Rằng, tình dục chỉ là liều thuốc an ủi khi người ta không có đủ tình yêu.

KHUẤT ĐẨU
Bài này được viết dựa theo bản dịch của Lê Xuân Quỳnh,2005 .

CHA CHUNG

khuatdau

Chúng tôi, hai mươi bốn đứa vừa trai vừa gái, lần đầu gặp nhau trong ngày giỗ đầu của người được gọi là cha nhưng chưa bao giờ thấy mặt. Chúng tôi đều là những đứa con tư sinh của những người đàn bà không có chồng mà chửa. Không có chồng, nhưng hai mươi bốn bà đều có có cùng một người tình.
Có thể một năm, một tháng, một ngày. Và cũng có thể chỉ trong một vài giờ. Điều bí mật ấy chỉ được sáng tỏ khi một vị luật sư theo sự ủy thác của người tình vĩ đại là cha chúng tôi, phải mất hơn 300 ngày để tìm ra tông tích của từng đứa một. Chúng tôi sống rải rác từ Nam chí Bắc, có nghĩa những hạt giống của cha tôi được rơi vãi khắp nơi: hạt ở tận cao nguyên, hạt ở đồng bằng, hạt ở phố thị phồn hoa, hạt ở miền quê heo hút. Đó là những hạt mầm mạnh khỏe cố sức bám chặt vào hai mươi bốn cái dạ con tăm tối, chờ đúng hai trăm tám mươi ngày để được thấy ánh sáng mặt trời. Còn có biết bao nhiêu hạt giống lép kẹp lặng lẽ rơi tuột thì khó mà ai biết được.
Cuốn sổ nhật ký ghi lại kết quả hai mươi bốn cuộc tình là tài sản chung và duy nhất của cha chúng tôi để lại. Đó là gia bảo và cũng có thể là kinh thánh của hai mươi bốn tông đồ. Mỗi đứa chúng tôi được quyền và có bổn phận gìn giữ trong một năm tùy theo tuổi tác.
Người đầu tiên được vinh dự lật từng trang nhật ký ướt đẫm mùi tình ái ấy gần như gấp đôi tuổi tôi. Đó là một người đàn ông có một cái đầu dài và dẹp, hai thái dương hóp lại như bị kẹp trong một cái ê tô. Cả người anh oằn oẹo, chỗ lồi chỗ lõm như một củ khoai mài bị chèn ép giữa bao nhiêu sỏi đá của núi rừng.
Sau này tôi được biết anh ấy có một hình dáng dị kỳ như vậy, vì mẹ anh phải nịt chặt bụng để giấu cái thai không mong đợi ấy. Suýt chút nữa tôi cũng bị như vậy! Và chẳng riêng gì tôi, hai mươi mấy đứa kia cũng sẽ trở thành những củ khoai mài, nếu mgười mẹ tội nghiệp của họ cứ phải dùng một tấm vải dài, một đầu buột vào cây cột nhà, một đầu quấn vào mình, nín thở để giữ cho cái bụng khỏi phình to ra.
Nhưng để cho những hạt mầm lớn lên một cách bình thường, mẹ tôi và nhiều bà khác nữa đã phải đội trên đầu một tảng đá ô nhục. Tảng đá của gia tộc và của cả xóm làng: chửa hoang! Trong khi đó, cha chúng tôi cứ như một hoàng tử cỡi một con ngựa trắng thoải mái rong chơi trên những con đường rải đầy hoa tình ái.
Chúng tôi là những đứa con của tội lỗi, mặc dù các bà mẹ chúng tôi trước khi sinh đều là những người con gái hoàn toàn trinh trắng. Nếu có thể ví von, thì đó là những đóa hoa quỳnh lặng nở giữa đêm khuya. Không có một con ong cái bướm nào lượn lờ, nhưng có một tao nhân âm thầm đang ngồi đợi. Giữa lúc những cánh hoa nuột nà e ấp nở ra dưới trời đêm tinh khiết, thì người mặc khách nọ đã thò tay ra bẻ lấy. Đóa hoa thảng thốt kêu lên một tiếng trước khi chảy dài những giọt lệ thầm.
Các bà mẹ chúng tôi đã sống những ngày dài đầy tủi nhục. Nếu không bị cha dùng gậy quất túi bụi lên lưng, thì cũng bị mẹ lôi xệch vào buồng riêng mà cấu véo vào hai bắp vế non cho đến khi tươm máu. Ngày xưa còn bị cạo đầu bôi vôi dẫn đi bêu rếu khắp làng sau khi đã phải nằm úp bụng lên một cái lỗ để cho tráng đinh nện xuống hàng chục hèo.
Trong bọn anh chị em chúng tôi còn có đứa câm, đứa ngọng, đứa mắt lác, đứa sứt môi. Dù không nói ra nhưng ai cũng hiểu đó là chén đắng đầu đời mà những đứa con vừa mới thành hình trong bụng mẹ phải uống lấy. Chúng đã phải vật vã chống chọi với những thứ giết người mà người ta muốn tộng vào để tống chúng ra ngoài. Chúng phải khốn đốn như thế vì người ta tin rằng đó là nghiệp báo oan gia. Rồi khi bất đắc dĩ phải để chúng sinh ra, người ta liền quẳng chúng đi cho khuất mắt. Vì vậy có đứa bị bỏ vào thùng rác, bỏ bên vệ đường. Khá hơn thì bỏ trước cổng chùa hay trước tu viện của các bà xơ.
Quả thật chúng tôi là đồ bỏ. Dù có may mắn sống trong một gia đình thì chúng tôi cũng chỉ là những đứa con hạng hai, thậm chí hạng ba. Như tôi, có bố mẹ, có em. Nhưng mẹ tôi chưa bao giờ dám coi tôi ngang hàng với những đứa sinh sau. Chưa bao giờ bà âu yếm tôi, lại càng không dám bênh vực tôi dù chỉ một lần trước cơn thịnh nộ của bố. Tôi như cái bớt xấu xí trên khuôn ngực của bà.
Còn với bố tôi (sau này tôi mới biết là bố dượng) thì ông coi tôi như một cái gai muốn nhổ đi mà không cách gì nhổ được. Ông chưa bao giờ đánh tôi, nhưng cái nhìn lạnh lẽo của ông lúc nào cũng làm cho tôi lạnh mình. Dưới mắt ông, tôi là một sự phỉ báng không lời, là cái cười vào mũi mà đi đâu đứng đâu ông cũng nghe thấy. “Sờ sờ ra đấy mà còn lấp lửng nữa à, ông gào lên. Khốn nạn nhất là có một thằng đàn ông không mời mà đến trong nhà này!” Rồi ông trút tất cả nỗi căm hận ấy lên người mẹ tôi trong đêm tối với những trận đấm đá tàn bạo đến nỗi mẹ tôi phải kêu lên: “anh giết tôi đi chứ đừng hành hạ tôi trước mặt các con như thế!”.
Mặc dù trước khi mất ông có xin lỗi mẹ tôi và ngay cả tôi, nhưng suốt mười sáu năm sống bên ông là mười sáu năm của địa ngục. Sự trả thù của một người đàn ông biết rằng mình bị dối lừa bỡi người đàn bà mình yêu là không bao giờ có giới hạn. Mẹ tôi được bố dượng theo đuổi suốt một năm ròng, nhưng lại trao thân cho một người chỉ mới quen nhau có một buổi tối. Và cái cay đắng, cái ô nhục của bố dượng tôi vì vậy mỗi lúc một to dần theo năm tháng. Cứ như ông vớ phải đồ thừa, đồ thải, đã lỡ nuốt vào muốn khạt ra mà khạt không được. Cái làm ông đau nhất là thấy mình thua cuộc, trong khi trước đó ông tưởng mình là người thắng cuộc.
Một người hơn tôi năm tuổi, đẹp nhất trong số hơn mười đứa con gái của cha tôi, sau này trong một lần ghé thăm tôi, chị đã khóc và kể cho tôi nghe cái số phận bi thảm đã được báo trước của chị. Gần 30 tuổi mà chị vẫn chưa dám yêu ai và đương nhiên cũng chưa có chồng. Cái trinh trắng của chị đã bị ông bố dượng cướp mất trong một buổi trưa hè, lúc chị mười bốn tuổi. Ông ta bảo, ông ta lấy lại cái lẽ ra ông ta được hưởng nếu không bị cha chúng tôi phổng tay trên. Mẹ làm mất thì con phải đền! Đó là cách phán xử mà ông ta gọi là lẽ công bằng! Không biết trong cuộc rong chơi trên cõi đời ngắn ngủi này, có khi nào cha tôi giật mình nghĩ tới số phận hẩm hiu của những đứa con không mong đợi ấy?
Hai mươi bốn đứa con, già nhất trên 40, trẻ nhất trên 20 tụ tập trong một sảnh lớn của khách sạn cha tôi thường trú. Cứ như một bộ sưu tập ngộ nghĩnh của một tay suốt đời ưa xê dịch. Chúng tôi ngỡ ngàng nhìn thấy nhau lần đầu. Không một đứa nào có thể tin rằng mình lại có một số anh chị em đông đến như vậy. Một bức ảnh chụp người cha chung lúc ông phong độ nhất, trông đĩnh đạc đường bệ cứ như chân dung của tổng thống hay thủ tướng. Cả bọn nhìn bức ảnh đăm đăm, bốn mươi tám con mắt cố lục tìm trên đó chút gì là của chính mình. Hơn một chục cái đầu gục gặc khi tìm thấy cái sống mũi cao cao. Một phần ba tin rằng mình giống cái miệng với hai cánh môi dày đã từng hôn ít nhất hai mươi bốn cái miệng đàn bà. Hơn một nửa, trong đó có tôi, tìm thấy trong đôi mắt đen thẳm sáng ngời kia có hình bóng của đôi mắt mình. Đôi mắt mà mẹ tôi sững sờ xao xuyến khi nhìn tôi và bố dượng tôi thì mắng là trai lơ, đĩ đực.
Ông hiện diện trước chúng tôi cứ như Chúa xuất hiện trước nhân dân trong một bức tranh thần thánh. Ông quá đỗi xa cách, không riêng gì khoảng cách thời gian mà chính là vì cái ý nghĩ kinh hoàng rằng, một người với hai mươi bốn bà vợ như thế, nếu sống cùng nhau chắc phải xây cả một ngôi nhà năm tầng như cái khách sạn này. Và mỗi bà theo thứ tự trước sau đánh số phòng từ 1 đến 24. Rồi trong những căn phòng đóng kín ấy, đêm đêm bốn mươi tám cái tai vểnh lên nghe ngóng và hồi hộp chờ đợi từng tiếng động. Tiếng bước chân gõ trên cầu thang, tiếng gõ nhịp của đồng hồ, sau cùng là tiếng gõ cữa khẽ thôi nhưng người bên trong nghe như gõ vào tim, vì sau đó là người đàn ông quyền lực bước vào như hoàng đế Trung Hoa để ban ơn mưa móc.
Vị luật sư thay mặt anh cả vì tiếng nói của anh từ lâu đã bị cái giải buột bụng làm cho méo mó ngọng nghịu khó nghe, tuyên bố chúng tôi là anh em cùng một cha chung, dĩ nhiên là khác mẹ. Sau buổi họp mặt kỳ lạ này, ông sẽ tiến hành làm các thủ tục để ghi tên cha vào khai sinh của chúng tôi, tất cả đều mang họ Trần. Ông cũng cho chúng tôi biết cái điều lo sợ duy nhất và cuối cùng của cha chúng tôi, là nếu không nhận ra nhau có thể lấy nhau. Có lẽ vì vậy mà ông đã âm thầm tìm hiểu chúng tôi từ lúc mới sinh ra: ngày tháng năm sinh, nơi sinh, cập nhật địa chỉ từng đứa, để đến lúc biết mình không thể sống lâu hơn được nữa vì bệnh ung thư, ông trao tất cả cho vị luật sư tín cẩn thay ông làm cái công việc thu nhặt từng đứa con rơi rớt của ông về cùng một mối.
Đám giỗ đầu của ông không có nhang đèn, không vàng mã, chỉ có hai mươi bốn đóa hoa hồng được nhân viên lễ tân khách sạn mang tới phát cho mỗi đứa một bông. Lần lượt chúng tôi lên cắm vào chiếc độc bình đặt trên bàn phủ khăn đỏ như các vị quan khách bỏ phong bì vào thùng cứu trợ bão lụt. Cũng có thể là bỏ phiếu công nhận ông là cha chung. Mùi hoa hồng ngọt ngào quyến rủ thay cho nhang trầm khiến cho linh hồn ông ở một cõi trời nào đó hẳn phải bồi hồi xúc động. Vị luật sự mỉm cười giải thích với chúng tôi rằng, suốt đời cha chúng tôi chỉ yêu mỗi hoa hồng và tuy không nói ra, nhưng trong cái cười ý nhị của ông ngụ ý rằng cha chúng tôi đã từng yêu xiết bao hai mươi bốn cánh hoa ngát hương trinh đã từng nở cánh đầu để cho con ong là ông sớm tỏ đường đi lối về.
Sau những phút đầu hơi ngỡ ngàng, chúng tôi bắt đầu nghĩ về ông một cách thân thiết. Chúng tôi cố hình dung ra những năm tháng tươi vui của ông và chúng tôi tuy có hơi chua xót nhưng cũng kịp nhận ra rằng, ông cũng đã đối xử chúng tôi không đến nỗi quá tệ. Dù sao ông cũng hơn những người chủ vô danh của những ống tinh trùng trong các phòng lạnh để dành cho những kẻ hiếm muộn hay những người đàn bà muốn có con mà không có chồng. Ông vẫn chịu trách nhiệm việc mình làm, dù rằng cái phần ông gánh chịu ấy quá bé nhỏ so với hậu quả ông để lại cho các bà.
Nỗi mong ước có một người cha như bao đứa trẻ khác trên đời này khiến cho cổ chúng tôi đứa nào cũng dài ra vì chờ đợi. Từ nay, chúng tôi không còn phải xấu hổ vì hai chữ vô danh ghi trong cột tên họ người cha, nhưng chúng tôi cũng hụt hẫng vì ngần ấy là quá ít đối với một đứa con. Chúng tôi không nói tới nhà cửa tiền bạc, nếu có cũng chỉ là những bù sớt muộn màng cho những nỗi chịu đựng của các bà mẹ trong lúc tuổi già. Chúng tôi muốn nói tới sự chông chênh như đi xiếc trên dây trong suốt thời thơ ấu. Chúng tôi đã trơ trọi và lo sợ xiết bao khi phải đi trên một sợi dây chăng qua những thác ghềnh, mà đầu bên kia co người đang đứng lắc. Chúng tôi thèm biết mấy hình ảnh đứa bé một tay trong tay cha, một tay trong tay mẹ bước đi núng nính trên những con phố đông vui chiều chủ nhật. Rồi trong quán kem, mẹ thì đưa muổng lên tận miệng, còn cha thì chực hờ chiếc khăn để lau. Chỉ cần ngã một chút là đã có bốn cánh tay vội vàng nâng đỡ. Chỉ cần khóc một tiếng là đã có hai cái miệng ngon ngọt dỗ dành. Chúng tôi không có gì cả. Chúng tôi tròn vo cứ như một viên bi thả trên đầu một con dốc, muốn lăn tới đâu thì lăn.
Cuộc họp mặt kết thúc bằng một bữa tiệc khá thịnh soạn. Có những món ăn vương giả mà lần đầu tiên chúng tôi được thưởng thức. Như món yến chưng đường phèn, nhiều đứa ngơ ngẩn chẳng biết ăn ra làm sao. Chỉ mới đưa lên miệng nó đã chạy tuột vào cổ họng lúc nào không biết. Vị luật sư còn cho chúng tôi biết, mỗi năm cứ đến ngày giỗ là sẽ có người lo tàu xe để anh chị em chúng tôi đến đây gặp nhau. Tôi không biết sự sắp đặt ấy là do chút tình phụ tử hay sự ân hận muộn màng của của một người đàn ông đã có cuộc sống vượt ra khỏi lề thói thường tình.
Cho đến cuối đời, trên danh nghĩa cha tôi vẫn là người độc thân. Ông không có một ngôi nhà đúng nghĩa, một gia đình trọn vẹn. Ông là nhà thầu lục lộ và trên suốt con đường nối liền ba miền, những nơi ông dừng chân là nơi ông trúng thầu. Tại đó, ông đã làm quen, đã yêu một hay nhiều cô gái trẻ. Và khi công trình cắt băng khánh thành, thì cũng là lúc ông cắt bỏ một cách lạnh lùng những sợi dây tình ái. Ông để lại những đoạn đường, những cây cầu và những đứa con như những cột mốc cây số.
Sau bữa tiệc ngon miệng, chúng tôi chụp hình kỷ niệm. Chụp chung một tấm hai hàng nhỏ trước lớn sau. Rồi chụp riêng những chị em gái và những anh em trai. Từ đây chúng tôi phải cố nhớ mặt nhau, để chẳng những chúng tôi mà con cháu không được lấy nhau vì có thể sẽ sinh ra những đứa trẻ có cái đuôi heo.
Phải chi có một ngôi mộ thì bức ảnh của chúng tôi không cần giải thích, ai cũng biết là con của một cha, dù rằng có hơi quá nhiều. Đằng này, nó lạnh lẽo và nghiêm trang quá cứ như một chính phủ vừa mới thành lập đứng chụp chung dưới chân dung lãnh tụ. Vị luật sư cho chúng tôi biết xác của ông đã được hỏa táng và tro đã được rải xuống biển. Tại sao ông không để lại một nấm mồ? Phải chăng ông sợ hai mươi bốn bà lúc này đã không còn trẻ trung gì nữa tới kêu gào đòi lại cái phần trinh trắng?
Sống như ông và chết như ông, quả thật anh em chúng tôi khó mà bắt chước được. Nhưng thôi, mỗi người tùy theo hoàn cảnh có cách sống riêng của mình. Là con, chúng tôi không có quyền phê phán. Chỉ biết rằng, trên đời này nếu không có một người đàn ông như thế thì đã không có chúng tôi.
Dù sao cũng xin cảm ơn ông, cảm ơn cuộc đời.

KHUẤT ĐẨU

1990

MẸ KHÔNG ANH HÙNG

khuatdau

Người Đàn Bà Trong Ang Lúa

1

Lần đầu thấy kinh nàng khóc suốt 3 ngày đêm. Nàng cứ tưởng mình sắp chết đến nơi. Không một ai nói cho nàng biết, đó là chuyện bình thường của một người con gái đã đến tuổi dậy thì. Người đầu tiên có thể nói là mẹ, nhưng từ khi bập bẹ cho đến lúc thấy kinh nàng chưa hề một lần được gọi cái tiếng mẹ như những đứa bé khác. Nàng chỉ thấy cha nàng hốt hoảng đuổi những người đàn bà lúc nào cũng cầm một cái mo cau mệt mỏi bước đi giữa đám ruồi nhặng muốn bước vào nhà. Ông gọi đó là những người “gãy cẳng”. Nó vừa dơ dáy vừa xui xẻo, có thể làm nổ tròng mắt của những người đang đau mắt.
Nàng nằm khóc trong cái buồng của mẹ. Nó tối đến nỗi nàng tưởng mình cũng đã tan ra thành bóng tối. Trên trần là một cái lẫm đựng lúa, nơi lũ chuột ngày đêm rúc rích hết cắn lúa lách tách lại cắn nhau chí choé. Bên phải nàng là cái vách bằng gỗ ngăn cách chỗ ở tối tăm của người đàn bà với cái giường của người đàn ông. Mỗi đêm nàng đều nghe tiếng cha trở mình, tiếng rên và tiếng ngáy.
Chỉ một tấm vách thôi, nhưng khoảng cách giữa cha và nàng trong đời sống sao mà xa cách quá. Cứ như một người họ hàng đã phai nhạt đến bao nhiêu đời. Nàng rất ít khi được gặp cha, hay nói đúng hơn là không dám gặp. Chẳng phải vì ông đánh mắng mà vì, cũng chẳng hiểu vì sao nữa, nàng thấy trống ngực đập thình thình mỗi khi ông từ nhà trên bước xuống. Đó là chưa nói tới lúc phải đến đứng trước mặt ông mỗi khi có lỗi hay nghe ông dặn dò điều gì. Như lúc này đây, thà giết chết nàng còn hơn bảo nàng mang cái quần ướt đẫm máu đến gặp cha.
Sự xa cách ấy không hẳn dành riêng cho nàng mà dành cho tất cả đàn bà con gái trong nhà. Ngay lúc còn sống mà mẹ nàng cũng chưa bao giờ dám bước qua cái ngạch cửa cao ngang đầu gối, là ranh giới bất khả xâm phạm giữa nơi thờ tự, ăn ngủ của đàn ông. Mỗi khi có khách, nếu phải ra chào, mẹ nàng cũng chỉ đứng bên này cái ngạch cửa, nghiêng một nửa người mà cúi chào rồi lặng lẽ lui xuống bếp. Ngày giỗ Tết, họ phải tắm gội sạch sẽ, phải mặc áo dài, phải ngồi bẹp xuống sàn nhà, xếp hai chân qua một bên, trải vạt áo trước ra che hai đùi, kéo vạt áo sau phủ kín mông rồi mới chắp tay kính cẩn vái lạy trước bàn thờ…Nếu lúng túng vụng về, trải vạt áo không ngay ngắn để hở đùi hở mông dù có mặc quần liền bị chê là không biết lễ phép.
Ông có biết đứa con gái út đã 3 ngày rồi không thấy mặt, nhưng ông không buồn lên tiếng hỏi nó đi đâu. Bởi vì cơm vẫn được dọn ra trên cái mâm bằng đồng được lau sạch bóng, đũa vẫn không bị so le, ngay cả bát nước để cho ông súc miệng trước khi ăn vẫn trong vắt. Đĩa rau luộc vẫn xanh và sắp ngọn theo ngọn, gốc theo gốc. Con cá liệt gần như vẫn không mất đi chút nào cái màu bạc óng ánh trên lưng. Nghĩa là vẫn như mọi ngày, vẫn có bàn tay của nó đụng vào hay ít ra cũng được nó để mắt tới.
Bảo rằng ông không biết thương con là nói quá cho ông. Cha sao lại không thương con. Vì thương con nên dù chỉ mới lọt lòng mà mẹ đã chết, ông vẫn không cho bà sơ đứa con gái đỏ hỏn vừa mới cắt rún. Ông phải vất vả tốn kém bao nhiêu mới nuôi được nó sống đến bây giờ. Nào phải kiếm cho ra chị vú, mà phải đến 3 chị thay nhau mới đủ sữa cho nó bú đến thôi nôi. Nào phải tìm đứa ở để bồng bế, phải lo sài đẹn ghẻ chóc. Gà trống nuôi con, mà lại là con mọn, cái khổ ấy ông cho trên đời không gì khổ bằng.
Đến ngày thứ tư, cái thứ nước lạ lùng ấy không còn âm ỉ chảy ra nữa và nàng thấy mình vẫn còn sống. Rồi những lần sau, những tháng sau, nàng vẫn tiếp tục sống như bao người con gái khác. Lúc ấy nàng mới biết hai tiếng “gãy cẳng” là gãy như thế nào. Cũng may, nhờ có chị dâu chỉ cho nàng biết cách giữ gìn để khỏi phải lúc nào cũng mang theo một cái mo cau như những người đàn bà mà cha nàng thường xua đuổi
Cuối năm ấy, sau 3 lần kinh nguyệt , nàng tròn 14 tuổi! Chị dâu may cho nàng một chiếc áo dài bằng lãnh đen. Nàng e thẹn bước qua cái ngạch cửa, lúng túng trải vạt áo ngồi lạy trước bàn thờ dưới cái nhìn nghiêm nghị của người cha. Sau đó, nàng lạy cha để mừng tuổi. Ông hơi mỉm cười, giọng nói cũng có vẻ ấm áp dịu dàng hơn thường ngày, nhưng nàng nghe như có một tiếng pháo nổ trong đầu. Nàng bàng hoàng lo sợ còn hơn cả lúc thấy mình “gãy cẳng”. Ông không nói với nàng mà bảo với chị dâu như ra lệnh:
“ Rán lo năm nay em nó đi lấy chồng!”
Có một người cha như thế nên dù chưa biết lấy chồng là sao và dù có biết cũng không muốn, nàng vẫn chỉ có hai lựa chọn: một là lấy, hai là chết. Chỉ có vậy thôi, không kêu ca, không than thở gì hết. Nhưng cả hai việc lấy chồng và chết nàng chưa biết là gì thì làm sao chọn lựa được! Chính vì vậy mà nàng khóc mãi đến nỗi thâm quầng như bị ai đánh. Chẳng có ai lau cho nàng một giọt nước mắt, chẳng có người chị nào an ủi nàng một câu. Chỉ có lũ chuột tinh quái trên lẫm lúa là cười rúc rích suốt đêm.
Vừa qua khỏi rằm tháng giêng, đã thấy một ông trạc năm mươi quần cháo lòng ống cao ống thấp, cặp nách một cây dù, theo sau là một chàng mặt đầy mụn bước vào ngõ. Cha nàng chừng như đã biết trước, nên dù là người lạ chưa từng gặp vẫn bước ra chào hỏi ân cần. Họ bước vào nhà, ngồi xếp bằng trên phản gõ. Chàng trai đứng ngoài hiên. Cha nàng bày khay đựng bốn cái tách quý và gọi nàng từ dưới bếp lên nấu nước pha trà. Nàng định đi lên nhưng chị dâu nàng cười bảo để chị đi cho, người ta đến coi mắt đấy, em vào trong buồng mà thay áo quần cho sạch sẽ.
Một lúc sau nước sôi, chị dâu châm nước vào bình trà. Nàng chỉ có mỗi một việc bưng lên nhưng nàng thấy sao mà khó quá. Người ta thường bảo khó như đường lên trời nhưng nàng thấy giờ đây đường lên trời còn có vẻ dễ đi hơn. Một tay nàng cầm cái quai bình một tay nàng đỡ bình, nước sôi mới rót nóng đến bỏng da nhưng nàng cảm thấy tay mình như đang lạnh cóng. Khi bước qua cái ngạch cửa, ngón chân cái va vào gỗ cứng làm nàng lao chao suýt ngã . Cũng may là nàng bước qua được nhưng để giữ cho bình trà khỏi đổ, nàng phải chịu đau để cái vòi rót nước vào ngực. Sau này chỗ lõm xuống giữa hai cái vú nhỏ phồng rộp, khi lành còn kín đáo để lại cái vết sẹo xấu xí như trâu bò bị đóng dấu. Đó là kỷ niệm thấm thía trước ngày đi lấy chồng.
Lúc ấy, chàng trai đã lén vào nhà từ lúc nào đang đứng dựa cây cột. Chàng tuy nhìn xuống nhưng vẫn thấy được khuôn mặt vừa ửng đỏ vừa tái xanh của cô gái. Như thế là chàng đang “coi mắt”. Dĩ nhiên với cái mặt đầy mụn mà so với làn da ửng hồng trên mặt nàng thì với chàng, nàng quả là xinh đẹp. Còn nàng, dù sợ muốn đứt hơi nhưng vẫn lén nhìn chàng nhưng chỉ có thể nhìn hai ống quần trắng thả xuống sát đất che hai chiếc dép da màu đen mà thôi. Chẳng biết chàng cao hay thấp, đẹp hay xấu.
Những việc sau đó diễn ra nhanh đến không ngờ. Cha nàng tưởng là khó nhưng thật ra rất dễ. Hay là ông chỉ khó với con cháu trong nhà còn người ngoài thì không? Ông đã bỏ qua hết năm lễ bảy lễ gì đó, chỉ duy nhất một lễ ăn hỏi và rước dâu mà thôi. Ngay cả chuyện chàng trai phải ở rể đến 3 năm cũng miễn luôn.
Ông Hai Nhẫn, người làm mai của họ nhà trai chưa phải uốn cái lưỡi dài bảy tấc của mình ra, đã được ông thủ bản bỏ qua hết mọi chuyện để việc cưới xin trơn tru khiến cho ông thấy mình đúng là được sinh ra chỉ để làm cái nghề phước đức này.
Thực ra ông gặp may. Mọi sự trở nên dễ dàng đến quá nửa cũng là nhờ bà thủ bản đã không còn sống ở trên đời này. Dù cho người cha có dễ như cho không, nhưng người mẹ vì mang nặng dẻ đau không dễ gì để người ta đem đứa con rứt ruột của mình về nhà họ như thể đi mua một con heo. Bà sẽ đòi nào là kiềng chạm, xuyến ngọc, quần lãnh áo lụa cho con, sẽ đòi “bạc nát” tuy không thấm với công của bà đã nuôi con trong bấy nhiêu năm nhưng cũng đủ làm cho họ nhà trai chóng mặt. Gả chồng, ấy là lúc cái nữ quyền của người mẹ to đến nỗi lấn át cả người cha, là lúc mà không có tôi thì lấy đâu ra con gái để cho ông muốn gả bán thế nào thì gả bán! Là lúc mà tiếng “hứ” của bà đanh gọn còn hơn cả tiếng pháo lệnh. Là lúc mà cái lưỡi của mai dong dù có dài đến ba thước cũng không dễ làm xiêu lòng bà!
Ông Hai Nhẫn mừng rơn khi nghe ông thủ bản nói, “Anh về nói với chị bên ấy lo sao cho phải thì thôi, mẹ nó mất sớm, tôi chẳng biết đòi hỏi gì cho nó.” Ông Hai nhẫn khúm núm, “Dạ, dạ,…” “Vậy thì cuối tháng ba này, ngày hai mươi mốt tôi đưa nó về làm dâu bên ấy.” “Dạ, dạ , hai mươi mốt tháng ba, dạ dạ…”
Hai ông vui vẻ uống hết bình trà. Chỉ có nàng đứng núp trong buồng nghe như đất sụt dưới chân mình. Hai mươi mốt tháng ba, chẳng biết ngày ấy mình có bị “gãy cẳng” hay không!
 

2

Tháng ba, lúa chín trĩu hạt. Ruộng vàng ươm như những nong kén. Đã nghe tiếng đập lúa và mùi cơm lúa mới thơm hương đất trời. Chưa bao giờ nhiều sao như những đêm tháng ba. Đêm của những giọng hò, đêm của hát bội. Đêm bình yên của đôi lứa bình yên.
Hai mươi mốt tháng ba, chắc là ngày đẹp nhất trong tháng và trong năm.
Chỉ còn hai hôm nữa là nàng sẽ về nhà chồng. Chỉ còn hai đêm nữa, nàng không còn được nằm trên giường của mẹ. Cái giường khô cứng, vạt đã gãy, chiếu đã sờn dù đã nhiều lần thay vẫn không hết rệp. Cái giường quen thuộc đến nỗi nàng quên mất nó đêm đêm vẫn nâng đỡ thân mình. Cái giường ấy, từ đây trong đời không còn là của nàng. Rồi cái bếp với ba ông táo bằng đất mà chỉ có ông táo chúa ở giữa là có rún. Tại sao là ông mà không là bà mặc dù truyện kể vì bà mà hai ông phải chết cháy. Rồi những gióng, những rế, cái đòn ngồi, cái que cời lửa, những chiếc đũa bếp, những chiếc đũa con, những trã những trách, những nồi đất nồi đồng, những sàng những nia, những thúng những rổ, cái dao phay nhọn mũi, cái thớt gỗ trũng sâu, những chén những bát… những thứ thân quen sẽ không còn gần gũi với nàng.
Hai ngày nữa, sao mà mau quá vậy hở Trời!
Không biết trên đời này có người con gái nào như tôi vừa mới sinh ra là mẹ đã bỏ tôi mà đi. Mẹ phải chết để cho con được sống. Mẹ đâu có phải con rắn lục trong bụi tre tự xé bụng của mình ra để cho lũ con bò đi. Tôi cũng đâu có phải hạt lúa tự nảy được mầm. Tôi lớn lên không có mẹ. Tôi sống bên cha như sống với người dưng. Tôi chưa hề được ve vuốt ẵm bồng. Tôi muốn yêu cha mà yêu không được. Cha tôi không phải là giếng nước trong để cho tôi thấy bóng mình in xuống. Cha tôi là cây cột cái đứng giữa nhà lúc nào cũng nhẵn bóng nhưng không phải để cho tôi đứng tựa đầu. Cha tôi như cái đòn dông cao tít trên nóc nhà với một lá bùa bát quái. Cha tôi chỉ để ngó từ xa chứ không để tới gần. Cha tôi có thể khom lưng xuống cho con trai đứng lên, nhưng không thể cúi xuống để nâng dậy một đứa con gái. Cha tôi là người của xóm làng, của đình miễu, của họ hàng giỗ chạp. Cha tôi tồn tại là để cho tôi khỏi mang tiếng con không cha như nhà không nóc. Và cái tình thương yêu lớn nhất mà ông có thể dành cho tôi, là gả tôi lấy chồng một cách đàng hoàng. Là để tôi làm dâu nhà con trai một. Là biến tôi thành một cái “toi” của cái “đó” giữa đồng. Cha tôi gần như biết tất cả. Biết ai sinh ai mất năm nào, biết ai đỗ ai đạt, ai làm quan, ai làm giặc, ai có vợ hiền ai có chồng dữ, ai nhà ngang dãy dọc, ai chòi tranh cột sậy… ai mồ cao mả đẹp, ai chết không có được chiếc chiếu mà đắp lên mình. Biết hết ngoại trừ biết một đứa con gái mới lớn nghĩ gì, muốn gì!
Vì nhà trai ở xa phải đón dâu trước giờ ngọ, nên mới giờ dần họ đã đến đầy trước ngõ. Một phong pháo nhỏ được đốt nổ đì đẹt để báo tin. Trong sân cũng đáp lại những tiếng nổ đì đẹt. Ông Hai Nhẫn mai dong quần không còn màu cháo lòng mà trắng như bông bưởi, cũng không xắn ống cao ống thấp mà thả xuống đề huề. Ông lấy đôi guốc gỗ móc ở cán dù ra đặt ngay ngắn, cẩn thận cạ chân nọ vào chân kia cho bớt lớp bụi đất trộn với sương đêm dính ướt nhẹp, rồi mới xỏ vào. Ông xăng xái đi vào nhà xin giờ. Được nhà gái thuận tình, họ nhà trai cứ sắp hàng một tiến vào. Đi đầu là trưởng họ Bùi bát phẩm mặc áo tía ngực đeo thẻ bài ngà đu đưa theo mỗi bước chân. Tiếp sau là hai cửu phẩm mặc áo thụng xanh, sau nữa là các ông biện ông câu mặc áo the đen, chú rể mặc áo gấm đỏ đội khăn đóng. Trịnh trọng như đi rước sắc thần.
Hai cây đèn tạ đăng giữa nhà được vặn bấc cao hết mức vẫn không đủ sáng để soi rõ từng khuôn mặt, nhất là chàng rể sau khi xuống ngựa cố tình nghiêng mặt để che những cái mụn đáng ghét. Đồ sính lễ đã được nạp trước gồm một quả sơn đỏ đựng nữ trang, một quả đựng khăn áo, một quả đựng “bạc nát” và một quả đựng trầu cau. Giờ chỉ có một con heo đựng trong cũi, một ché rượu được bốn người trịnh trọng khiêng đặt giữa sân. Chỉ tiềm tiệm thôi mà lo được như thế là quá tươm tất, ông nghĩ thầm. Điều làm ông vừa lòng nhất là những người đi họ bên ấy có cả bát phẩm cửu phẩm cũng tàm tạm ngồi nói chuyện được với ông nghè trưởng họTrần và ông tú em họ. Ông sợ nhất là hai bên không bằng vai phải lứa, một bên thì chữ nghĩa đầy mình còn một bên thì dốt đặc cán mai. Trò chuyện với nhau mà cứ như nói chuyện với đầu gối!
Sau khi trưởng họ nhà trai thưa gửi lễ phép, cụ nghè trưởng họ Trần liền khấn trước bàn thờ: Việt Nam quốc, Bình Định tỉnh, An Nhơn huyện, Thuận Thới thôn a… nhị thập nhứt nhựt…a, Trần gia…hiệp cùng Bùi gia…nhơn duyên ..a…Trong khi đó cô dâu đã được các bà cô bà chị họ dỗ ngon dỗ ngọt đã hết khóc, xúng xính trong hai lớp áo màu đỏ và vàng, tai đeo bông lủng lẳng, cổ đeo kiềng chạm, tay đeo xuyến, chân mang hài thêu đang được dìu đứng ở phía bên này ngạch cửa chờ ra lạy cùng chàng rể.
Rồi đó, chàng rể và cô dâu đứng trước bàn thờ thơm ngát hương trầm. Hai họ đứng hai bên, nét mặt người nào cũng lộ vẻ thành kính trang nghiêm đến độ tưởng chừng như có ông tơ bà nguyệt đang cỡi mây đáp xuống. Chưa bao giờ người ta thấy bốn chữ bách niên giai lão lại có sức mê hoặc đến thế. Cũng chưa bao giờ, con trai con gái lại được nâng niu chìu chuộng như lúc này. Chàng và nàng đã tập lạy và biết lạy từ nhỏ, nhưng vì chàng đứng lạy còn nàng thì ngồi nên dù đã dặn trước cả hai vẫn không thể nào cùng một lúc rập đầu xuống chiếu. Tuy vậy hai họ đều châm chước bỏ qua.
Vừng đông đã phơn phớt hồng, sao mai đã nhạt, giờ đưa dâu đã đến. Lúc này là cuối dần đầu mẹo. Phải đi làm sao cho kịp giờ tị. Cái giờ ngọ đứng bóng kia là giờ của những kẻ khuất mặt, giờ của quỷ ma trốn nắng trên những cây cao bóng cả. Nhập gia giờ ấy là đưa cả quỷ ma vào nhà. Ai cũng chộn rộn, ai cũng vội vội vàng vàng, chỉ có nàng ngồi yên không nhúc nhích. Các cô các chị đều hối nhưng không hiểu sao nàng thấy hai chân cứ nặng như chì. Lúc này mà kêu lên được một tiếng Mẹ ơi thì hay biết chừng nào. Mẹ ơi, mẹ ơi, nàng kêu thầm trong trí. Nhưng giả như Mẹ có linh thiêng trở về ngồi kia thì nàng cũng không biết mẹ là ai. Nàng đã bao giờ thấy được mặt mẹ đâu. Ngay cả một tấm hình cũng không.
Bất chợt nàng nghe tiếng của cha, “Bộ nó muốn làm giặc hả?” Tức thì nàng đứng bật dậy, tưởng chừng như được nhấc bổng lên.
Đoàn đưa dâu đều đi bộ, trừ nàng đi cáng và chàng đi ngựa. Nằm trên võng được bốn người thay nhau khiêng, nàng thấy mình như một khúc gỗ. Tệ hơn, có lúc nàng tưởng mình như đang nằm trong hòm để người ta khiêng ra nghĩa địa. Cùng đi với đoàn có lúc là những người ra đồng gặt lúa, có lúc là vài con trâu con bò đủng đỉnh. Con ngựa bị che hai bên mắt nên mặc trâu, trâu cứ đi, mặc bò, bò cứ chạy. Nó gõ những cái móng buồn bã xuống mặt đường. Dây cương buông thõng nên trông nó giống như một con nghẽo. Chàng cũng không được đẹp nên cả người và ngựa đều có vẻ lạc lõng khổ sở. Dù nắng chưa lên, các ông già vẫn giương dù lên che nắng, không quên móc đôi guốc hay đôi giày hạ lên chỗ cán uốn cong. Cứ thế, từng bước một, con đường dù khá xa vẫn cứ ngắn lại dần. Ngắn dần, ngắn dần trong khi quê mẹ thì xa tăm tắp.
Vừa tới đình Đại Hữu đã nghe tiếng pháo nổ vang. Nhà trai trải mấy đời độc đinh, nên cậu Hai cưới được vợ là cả làng đều mừng. Người ta đồn cô dâu đẹp, nên mới tới đầu làng đã thấy có rất đông người đứng xem. Bà Cửu theo tục lệ phải lánh đi, còn cô dâu thì xuống cáng vạch rào mà chui vô. Hai người đàn bà vội dìu cô dâu chạy tuốt vô buồng. Nàng ngồi gục đầu lấy tay che mặt y như một con cù lần bị bắt đem xuống núi.
Giờ đây cái giường này là giường của tôi? Căn nhà này là nhà của tôi? Cái làng này là làng tôi? Người đàn bà xa lạ đứng nép sau cánh cửa kia là mẹ tôi? Lấy chồng là đổi thay? Lấy chồng là đổi mẹ đổi cha? Lấy chồng đau xót như thế sao người ta vẫn cứ lấy? Ai cũng khóc mà vẫn cứ phải đi!
Hai cây đèn sáp ong được trịnh trọng thắp lên thơm phức. Sẽ phải cháy cho đến giọt sáp cuối cùng. Sẽ phải sống cho đến răng long đầu bạc. Nàng được dìu ra lạy chào tổ tiên nhà họ Bùi. Và dù ưng hay không ưng, muốn hay không muốn, nàng cũng đã là con dâu của họ Bùi. Sống cũng họ Bùi. Mà chết cũng họ Bùi. Nàng như một cái cây được ươm cho mọc lên, chăm bón ở Thuận Thới rồi đem trồng ở Đại Hữu. Nàng phải bám rễ ở nơi đây, hút chất màu ở nơi đây, thở khí trời ở nơi đây nếu nàng muốn sống.
Cả chục bàn tiệc đã được bày sẵn. Cả một cái rạp to bằng tranh vẫn không che được hết nắng. Người ta ăn uống, chúc tụng. Ai cũng thấy mình nghiêng ngửa. Khi người ta gọi nàng ra chào từ biệt họ nhà gái, nàng thấy mắt cha rưng rưng. Lần đầu tiên nàng nghe ông nói trong nước mắt, “Thôi cha về!” Ước gì nàng có thể nhào tới ôm chặt ông mà khóc. Ước gì nàng bật ra được hai tiếng “Cha ơi!” Nàng chỉ biết đứng cúi đầu, nghe hai vai mình rung rung như bị ai giật.
Vậy là xong một cuộc cưới xin. Vậy là tròn công cha như núi Thái Sơn. Vậy là yên nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Nàng biết mình đã sang một chuyến đò và đậu vào một trong mười hai cái bến. Chỉ có Trời mới biết nàng vào bến trong hay bến đục!
 

3

Đêm tân hôn nàng ngủ trong ang đựng lúa!
Có lẽ đó là chuyện hi hữu cổ kim. Sau này mỗi khi nhớ lại nàng vẫn thấy hãi hùng.
Khi cha nàng cùng với họ nhà gái ra về, mẹ chồng bước vào buồng giúp nàng thay quần áo. Hai cái áo dài cặp đôi được xếp cất vào tủ. Kiềng chạm, xuyến vàng, bông tai vẫn còn đeo. Nàng được bà dẫn ra chào bà con trong họ. Ai cũng tươi cười chào nàng. Ai cũng thấy nàng xinh đẹp dễ thương. Nhưng trong mắt nhìn, ai cũng thấy ái ngại cho nàng. Mới mười lăm tuổi đầu mà phải đi làm dâu. Biết bao nhiêu nỗi khổ đang chờ đợi.
Bà Cửu lâu nay nổi tiếng là một người khó tính. Bà là người xứ Huế. Tuy không phải con nhà quyền quý, nhưng cung cách ăn ở vẫn phảng phất một chút gì đó của những nhà danh gia vọng tộc. Không chỉ riêng mình bà, dường như cái mùi vương giả ở chốn kinh thành nó lan toả ra khắp nơi khiến những cô gái Huế trở nên đài các, hay cố làm ra vẻ đài các, khác hẳn với những người thô lậu quê mùa ở thôn Đại Hữu.
Thực ra, trước kia bà chỉ là một cô hàng xén ở chợ Đông Ba. Chồng bà, một anh phó mộc khéo tay được tuyển vào làm thợ để chạm trổ những cột những kèo ở chốn cung đình. Những lúc rỗi việc anh thường lượn qua lượn lại trước các gian hàng xén. Chắc hẳn miệng anh khéo nói cũng như anh khéo tay đục đẽo nên đã làm xiêu lòng nàng, mặc dù phải theo anh về tận phía bên kia đèo Hải Vân xa tít. Xong việc, anh được bộ công thưởng cho cái tước cửu phẩm. Vì vậy, anh được gọi là anh Cửu và nàng được gọi là chị Cửu.
Được mấy năm, sau một trận thương hàn nhưng chữa trị bằng nước lã tàn nhang nên ông Cửu mất. Cũng may ông còn để lại cho bà một cậu con trai bốn tuổi. Cha mẹ gọi bà đem con về Huế, nhưng bà không chịu. Bà nói, lấy chồng thì phải gánh giang san nhà chồng, ra ngoài nớ thì cái gánh họ Bùi biết để cho ai. Bà ở vậy nuôi con cho đến tận bây giờ.
Như bao cô dâu khác, nàng không ăn uống được gì trong bữa cơm đầu tiên ở nhà chồng. Ăn làm sao được dưới cái nhìn săm soi của bao nhiêu con mắt. Nhưng làm thì nàng làm được và nàng cố sức làm nhiều hơn ở nhà mình. Bao nhiêu bát đĩa một mình nàng giành lấy rửa sạch. Mãi đến tối nàng vẫn còn loay hoay dọn dẹp trong bếp. Nàng muốn bận tay bận chân để khỏi phải nghĩ đến chuyện làm vợ. Chẳng ai nói cho nàng biết làm vợ là làm thế nào. Ai cũng giục nàng, “Mợ Hai nghỉ tay đi, mợ Hai tắm rửa còn gặp cậu Hai chớ.” Nghe nói gặp cậu Hai là nàng cảm thấy run.
Họ hàng nhà Bùi sau một ngày ăn uống nói cười đã chào bà chủ, ra về. Ngoài sân, nắng đã tắt. Bóng tối chẳng mấy chốc từ mấy lùm tre ùa ra ôm kín căn nhà. Văng vẳng có tiếng ếch nhái từ ruộng xa đưa vào. Thỉnh thoảng, một con cóc coọc ngồi đâu đó nghiến răng nghe thật buồn. Có tiếng mẹ chồng, “Con Hai đâu lên mạ bảo.” Nàng hồi hộp đi lên gặp bà. Vẫn giữ cung cách của một đứa bé trước mặt người lớn, nàng đứng vòng tay cúi đầu. “Con ngồi xuống đây đi. Mạ cho phép con không phải vòng tay nữa. Mạ biết là con mồ côi mẹ, tội lắm. Từ nay, mạ là mẹ của con, con cứ ăn uống đi đứng tự nhiên như khi còn ở bên nhà, không việc gì phải cáy náy e sợ. Mạ đã già rồi, con phải lần hồi học cách làm chủ ngôi nhà này, nghe rõ chưa. Thôi con vào buồng của con đi.”
Nàng ngơ ngác đi vào. Một ngọn đèn nhỏ soi không đủ sáng căn buồng. Nhưng nàng thấy nó ngăn nắp sạch sẽ hơn buồng của mẹ nàng. Một cái giường rộng, hai đầu có những thanh gỗ tiện giống chân đèn. Một chiếc chiếu mới còn thơm mùi lát. Hai cái gối màu hồng, một cái mền bông. Và trùm lên tất cả là một cái mùng phơn phớt hồng. Không có một chiếc ghế nào, nàng đành ngồi bên mép giường.
Một lúc sau, chồng nàng vào. Anh chàng cũng ngồi xuống bên mép giường. Nàng dịch sát một góc, cố sức thu mình thật nhỏ. Nàng nghe trống ngực đánh liên hồi. Nàng lặng im. Chàng cũng lặng im. Rất lâu, hai người ngồi như hai tượng gỗ. Bỗng nàng nghe, “Thôi nằm xuống đi, xê vào bên trong.” Nàng làm theo, nằm quay mặt vào trong vách. Nàng kẹp tay giữa hai đùi, co gối lên tận ngực, như một con cuốn chiếu.
Nàng nín thở khi chàng tắt đèn. Lần đầu tiên nàng biết có người đang nằm xuống cạnh mình. Người đó nằm im. Nàng nghe người đó thở dài. Rồi mấy ngón tay lạ đặt lên vai nàng. Những ngón tay lóng cóng, vụng về đang cố sức kéo cái vai để lật ngửa nàng ra. Nàng hít một hơi thật dài, sợ đến nỗi muốn hét lên. Có tiếng nói của mẹ chồng. Dường như bà hỏi cậu con trai đã đóng cửa ngõ lại chưa. Và cậu ta hơi bực mình đứng dậy ra khỏi buồng.
Đúng lúc ấy, nàng cũng vén mùng chui ra. Nàng nín thở chạy xuống bếp. Nàng ngồi co ro bên mấy ông táo hãy còn nóng. Nàng muốn được ngồi suốt đêm ở đây. Nàng muốn nấu cơm, nấu nước, muốn rửa bát rửa chén. Nàng muốn làm việc nhà chứ không muốn làm vợ.
Anh chồng đi ra ngõ. Con chó mực quắn quít chạy theo. Anh cài lại cửa, cùng con chó dạo quanh nhà. Khi biết chắc không có kẻ trộm nào đang rình, anh vào nhà, đóng chặt cửa. Anh lại chui vào giường, lại nằm xuống, lại thở dài, rồi đưa bàn tay một lần nữa tìm nàng. Trong bóng tối anh thấy cái giường như rộng hơn, rộng đến nỗi anh đã dịch mình vào cả thước mà vẫn không đụng đến vai nàng.
Ủa, sao mà lạ thế. Anh lăn mạnh một vòng, hai đầu gối đụng vách nghe cái cộp. Vẫn không đụng phải nàng. Anh xoay qua bốn góc, vẫn không đụng nàng. Anh loay hoay một lúc rồi ngồi dậy đi tìm đèn. Anh lấy cây đèn trên bàn thờ cha đi vào. Ánh đèn tuy mờ nhưng vẫn đủ soi cho anh thấy cái giường trống không, bốn góc buồng cũng không có nàng đứng hay ngồi. Chắc nàng đi xuống bếp. Anh để đèn lên tủ, ngồi chờ.
Chờ mãi không thấy nàng lên, anh cầm đèn đi xuống bếp. Vẫn không có nàng. Anh lại đi lên nhà trên. Vẫn không có nàng. Anh đi quanh vườn. Vẫn không có nàng. Vậy nàng đi đâu? Anh gọi nho nhỏ, sợ mẹ nghe, “Hai, Hai ơi!” Anh gọi một tiếng, hai tiếng, ba tiếng. Không nghe đáp lại. Anh gọi to hơn. Cũng không có tiếng ơi hỡi gì hết. Không còn sợ mẹ la nữa, anh gào lên, “Hai ơi, Hai ơi!” Chỉ nghe tiếng mẹ xô cửa tông ra, “Mi la cái gì vậy, không sợ xóm làng người ta cười cho à?” Anh nói như mếu, “Nó đi đâu không có trong buồng!” Chừng đó mẹ anh mới tá hỏa cùng anh đi tìm. Giọng mẹ anh nhỏ nhẹ hơn, “Hai đâu con, dại chi mà dại rựa!”
Một con người chứ đâu phải cây kim mà tìm hoài không thấy. Đến nước này đành dựng đầu ông mai dong dậy mà hỏi cho ra lẽ. Có chê chồng xấu thì đừng ưng, chứ sao ưng rồi lại trốn đi đâu mất. Cũng may, nhà ông Hai Nhẫn ở gần. Mắt nhắm mắt mở ông hỏi, “Có chuyện gì vậy chị Cửu?” Khi nghe anh kể, ông vỗ đùi đánh bép, “Tao biết rồi,” ông nói, “mày bộp chộp quá làm nó sợ chớ gì.” Nhưng anh cãi, “Đã làm gì đâu mà bộp chộp. Mới tắt đèn mà nó đã biến mất, cứ như ma.” “Đừng có nói bậy,” ông nói, “chắc là nó chạy về bển. Thôi để tao qua đó đưa nó về. Thiệt là cực. Cái nghề mai dong đã mấy lần định bỏ mà bỏ không được.” Rồi ông quay sang nói với bà Cửu, “Chị kêu giùm thằng Bồng đi với tôi, đêm hôm rắn rít làm sao một mình tôi đi được.” Bà Cửu thở ra một tiếng, “Ừ!’
Cô dâu bé bỏng của chúng ta, thực ra chỉ muốn được ngồi một lúc trong bếp, là nơi dẫu sao cũng không xa lạ gì lắm. Mùi khói vẫn như mùi bên nhà. Hơi lửa vẫn ấm áp. Giống như đi ngoài trời mưa lạnh, được ngồi bên bếp lửa, nàng không còn cảm thấy run sợ nữa. Nàng định, khi chồng ngủ rồi, sẽ lén chui vào một góc giường. Nàng sẽ nằm co quắp đợi sáng ra lại đi nấu nước pha trà như đã từng làm bao nhiêu năm với cha. Nhưng khi thấy chồng cầm đèn đi xuống bếp, nỗi lo sợ lại nổi lên. Nàng hốt hoảng chạy ra sau hè, đứng nép sau một cây cột. Khi chồng cầm đèn đi lên nhà, nàng cũng tưởng chàng sẽ tắt đèn đi ngủ. Không ngờ chàng lại đi tìm quanh vườn, rồi lại gọi, lại la lên, lại gào… khiến nàng quá khiếp phải chui vào trốn trong một cái ang đựng lúa bỏ không. Nàng hãy còn quá bé, ngồi lọt thỏm trong cái ang lạnh ngắt. Mấy con kiến nhỏ đang ngủ bị nàng đánh thức bò lung tung, leo cả lên mình nàng. Cũng may là kiến hôi nên nàng không bị cắn.
Ông Hai Nhẫn cùng thằng Bồng đến nhà ông lý đúng nửa đêm. Sau một ngày mệt mỏi ông ngủ say như chết. Tiếng ngáy của ông rồ rồ như xay lúa. Phải mấy lần nắm chân ông lay mới đánh thức được ông. Chuyện ông mai dong đến nhà ông vào giờ này là chuyện lạ. Chẳng lẽ tới mắng vốn nó không còn trinh à. Làm gì có chuyện đó. Mà dẫu có chăng nữa thì cũng phải đợi đến ngày nhị hỷ mới cắt cụt cái tai heo mà ném vào nhà chớ. Có đâu lại dựng đầu ông dậy lúc đang ngủ ngon. Mấy cái thằng cha mai dong thật đáng ghét. Ông không còn nhỏ nhẹ như ngày thường mà đâm ra gắt. Ông gằn giọng hỏi trống không, “Chuyện gì vậy?” Ông mai dong cũng dấm dẳng, “Con Thãi có về đây không?” “Nó đâu có về đây, mà ai cho nó về?” “Vậy chớ nó đi đâu?” Ông mai nói, “Chẳng lẽ nó bỏ theo thằng nào. Tôi chưa thấy đứa con gái nào hư như con gái ông.” “A, coi chừng tôi vả vào miệng ông bây giờ. Sao ông dám bảo con gái tôi hư?” “Không hư, sao lại bỏ chồng mà đi?” “Tôi đánh chết cha ông bây giờ, đừng có nói tầm bậy. Được rồi, tôi cũng đi sang bên đó ngay bây giờ đây. Làm mất con tôi là ở tù rục xương đó chớ không phải chuyện chơi đâu.” “Thì ông cứ qua mà tìm.”
Hai người không nói không rằng đi suốt đêm qua Đại Hữu. Sinh con gái thiệt là cực, ông nghĩ. Chẳng lẽ cứ nuôi báo cô mãi trong nhà. Gả chồng thì khóc lóc làm như thể đem đi cống Hồ. Rồi lại chê chồng không chịu ăn nằm. Đang đêm mà phải lặn lội như vầy thà đừng sinh nó ra còn hơn. Càng lúc ông càng giận con. Phải như còn ở nhà, tóm được ông sẽ quật cho một trận tơi bời.
Đến nơi, trời vẫn chưa sáng. Khi hỏi ra cớ sự ông cũng chỉ biết dậm cẳng kêu trời. Biết nó trốn núp ở đâu, hay là dại dột nhảy xuống sông xuống giếng. Lúc này ông lại thấy thương nó quá. Mới có mười lăm tuổi đã phải đi lấy chồng, ai mà không sợ. Ba bà vợ của ông, bà nào cũng sợ chết khiếp khi thấy ông lần đầu leo lên giường. Đàn bà mà, cái khó nhất là lần đầu. Phải như có mẹ nó còn được dặn dò chỉ bảo chút đỉnh. Đàn ông làm sao nói được với nó chuyện khó nói ấy. Ông thở dài, mong cho trời mau sáng.
Trong ang lúa nàng đã ngủ tự lúc nào. Nỗi sợ hãi của một đứa bé con dù to lớn đến đâu cũng không làm cho nó thức suốt đêm được. Vả lại, sau bao nhiêu ngày đêm mệt mỏi, nàng không thể nào chống chọi được với giấc ngủ. Chồng nàng cũng vậy, sau một hồi đập tay đập chân, thở vắn than dài rồi cũng nằm ngủ chèo queo ở một góc giường. Cái đêm tân hôn kỳ lạ này chắc chắn hai người nếu sống được đến đầu bạc răng long vẫn không thể nào quên.
Trời sáng. Mọi người lại quanh quất đi tìm. Có người ra tận bờ sông, có người leo xuống giếng. Vừa tức vừa sợ, ai cũng chỉ biết nhìn nhau thở dài. Đang lúc tuyệt vọng thì chính bà mẹ chồng tìm thấy nàng dâu ngồi ngủ trong ang lúa. Bao nhiêu tức giận trong người bà đều tiêu tan hết. Không còn than ạc chi mô rựa mà bà kêu lên tội nghiệp quạ con ơi. Bà vuốt tóc, xoa má nàng. Mọi người ai cũng mừng chảy nước mắt. Ông lý Bản và ông hai Nhẫn lại làm lành. Sẵn rượu cưới hãy còn, hai ông lại khề khà coi như không có chuyện gì vừa xảy ra..
Đêm thứ hai chính bà Cửu nằm cùng giường với nàng. Bà rủ rỉ kể chuyện ngoài nớ cho nàng nghe. Dù không hiểu gì mấy nhưng cái tiếng trọ trẹ đều đều như ru khiến nàng ngủ thiếp lúc nào không hay. Cứ như ru con mọn ngủ xong, bà nhẹ nhàng đi ra ngoài để con trai bà sẽ lén vào nằm bên vợ. Và mọi sự sẽ diễn ra êm thắm như lúa mọc trên đồng, như hoa nở trên cây.
Nhưng nàng đâu có ngủ. Nàng chỉ giả bộ ngủ thôi. Nằm bên cạnh bà nàng lại càng sợ và càng không sao ngủ được. Nàng biết bà sẽ đi ra khi nghe có tiếng ngáy. Nàng cũng biết người đó đang rón rén đặt lưng xuống bên cạnh. Dù có biết mình sắp chết, đêm nay nàng cũng không bỏ trốn đi đâu được. Nàng đã làm khổ bao nhiêu người, nhất là cha. Hơn bảy mươi tuổi mà giữa đêm khuya phải chống gậy sang tìm. Con gái như thế là bất hiếu. Nàng đâu có muốn làm đứa con bất hiếu. Thôi thì đành vậy, người ta chỉ muốn nằm bên nàng chứ có muốn giết nàng đâu.
Bây giờ nàng lại tò mò muốn biết làm vợ là làm như thế nào. Không như đêm qua, lần này nàng cảm thấy anh ta vuốt nhè nhẹ tóc, rồi lần xuống ngực, xuống bụng. Những ngón tay anh như chân rắn mối. Nó sục vào cái giải yếm rồi lần tới giải rút. Trời ơi, nàng muốn la lên, gào lên. Nhưng miệng nàng như bị ai khóa chặt, nàng đành trân mình ra mà chịu đựng. Đàn bà sinh ra là để chịu đựng. Nhỏ thì chịu đựng tính khí ngang trái của cha. Lấy chồng thì chịu đựng những trò kỳ cục của chồng. Mai sau có con chắc cũng phải chịu đựng con! Thế rồi cả thân nàng giống như bị xẻ ra làm đôi. Đau buốt tận óc. Nàng tê điếng rồi mê man trong giấc ngủ chập chờn với nhiều lần bị cưa xẻ. Sáng ra, bên người lạ đang ngủ say như chết, nàng thấy một vệt máu khô trên chiếc chiếu mới. Nàng bàng hoàng, còn khủng khiếp hơn là “gãy cẳng”.
 

4

Giữa lúc cái tấm thân bé nhỏ của nàng có những đổi thay xé lòng như thế thì cả thế giới cũng nát tan vì đại chiến. Những lò thiêu người của Đức quốc xã ngày đêm nhả những đám khói nghẹn uất lên bầu trời châu Âu. Máy bay Mỹ gầm thét trên biển Thái Bình. Hai chiến hạm Nhựt bị đánh đắm ở biển Qui Nhơn. Người ta kéo nhau ra biển vớt sáp nổi lều bều. Có cả những thùng đựng đầy đường của Nhựt. Đường cát trắng nén chặt đến cứng như đá. Người ta dùng búa đập cho vỡ để chia nhau ăn. Không ngờ đó là những thùng ướp đầu của lính Nhựt tử trận! Bao nhiêu người lỡ ăn đều phải móc họng mà nôn ra.
Không hiểu sao nàng cũng đang thèm đường. Đường tán mà nàng cứ bỏ vào miệng nhai cộp cộp vẫn chưa đã thèm. Suýt chút nữa, nàng cũng đã ăn phải một cục đường to của Nhựt. Chưa ăn, nhưng nàng đã ụa mửa suốt ngày. Nàng trốn mẹ chồng ra ngồi ngoài bụi chuối. Cứ nghĩ tới cái đầu trọc ấy là nàng rùng mình. Nàng mửa đến ói cả mật xanh mật vàng. Nhưng mẹ chồng lại rất vui vì nàng đã ốm nghén. Thường thì người ta thèm chua. Me sống, xoài xanh, cốc ổi, ăn suốt ngày thay cơm. Nhưng cũng có người thèm ăn đất sét, thèm hít mùi ống nhổ bã trầu, thèm những thứ lạ lùng mà khi còn con gái chẳng ai nghĩ sẽ thèm như thế.
Bà Cửu đem tất cả kinh nghiệm sinh đẻ của mình ra truyền lại cho con dâu. Bà dặn nàng không được bước qua võng, không được nhảy ào xuống tam cấp, không được ăn thịt bò đen, không được ngủ ngày, không được mang vác vật gì nặng, nói chung là phải hết sức cẩn thận nâng niu cái hạt mầm bé xíu trong bụng. Bà nói, con thèm ngọt chắc sẽ sinh con trai và bà đi mua hai cái trứng ngỗng to như hai quả đu đủ bắt nàng ăn để cháu trai bà sẽ được thông minh học giỏi.
Còn anh ta ư? Suốt ngày anh ta nói chuyện Mỹ Nhựt đánh nhau. Anh đi bộ lên tận Bình Định mua nhựt trình để theo dõi tin tức. Anh đang lưỡng lự không biết sẽ đặt tên con là Mỹ hay Nhựt. Mỹ thì mạnh hơn, nhưng Nhựt thì gan dạ. Nhiều người trong làng đặt tên Đức, tên Nga. Nghe cũng hay hay, nhưng anh có vẻ thích Mỹ hơn. Nó đang đổ bộ đâu đó trên đất Pháp.
Sáng ba mươi tháng chạp chưa kịp lo cúng rước ông bà, nàng đã đau bụng. Lúc đầu râm ran, đến trưa thì đau đến nỗi phải cắn cả một con găng võng để khỏi phải la lên. Một bà mụ già đến những bảy mươi tuổi được mời đến. Người ta nói bà mát tay, sinh cho ai cũng mẹ tròn con vuông. Bà lụm cụm đi vào nhà, cái túi đựng ống ngoáy và trầu cau buộc lủng lẳng trước bụng.
Đúng giao thừa nàng sinh một cái bọc màu đỏ. Bà mụ luýnh quýnh chưa biết làm sao thì mẹ chồng đã la lên, “Xé bọc ra, xé ra không nó ngộp.” Cái bọc như một cái bong bóng lợn, loay hoay một lúc bà mới xé được. Một đứa bé được lôi ra với cái dây nhau lòng thòng. Tuy mệt đứt hơi nhưng nàng vẫn nghe được tiếng reo mừng của hai người đàn bà, “Con trai! Đẻ bọc điều là khôn lắm đây!” Anh chồng ở bên ngoài cũng reo lên, “Con trai hả, sướng quá! Đặt tên cho nó là thằng Mỹ, Bùi Văn Mỹ!”
Nàng nằm trên chiếc chõng tre mà sau khi đầy tháng sẽ đem đi đốt. Tục lệ không cho phép nàng sinh trong nhà nên phải nằm ở hiên sau. Có người phải làm chòi ở bụi tre để sinh. Dù được che chắn cẩn thận, nhưng giun dế vẫn rên rỉ suốt đêm. Thỉnh thoảng con cắc kè núp đâu đó trên mái nhà buông những tiếng to và khô vào đêm tối sâu thẳm. Nàng được bôi nghệ đầy mình, mỗi sáng phải uống một bát nước đái của thằng bé hàng xóm. Một bà nuôi đẻ được thuê để săn sóc hai mẹ nàng. Bà nghèo, cũng già khú, mỗi buổi tối lại mang một chậu lửa hừng hực, cởi tuột quần áo nàng ra hơ háp như người ta nướng thịt.
Suốt một tháng, nghệ và mồ hôi trộn lại thành một lớp dày như mo, trông nàng như một mụ ăn mày giữa chợ, nhưng mẹ chồng bảo phải chịu đựng như thế sau này mới chống chọi được với nắng mưa, sương gió. Chồng nàng thì không thèm tới mà cũng không ai cho bén mảng tới. Đây là nơi ố trọc chỉ để dành cho những người nằm nơi. Một nhánh xương rồng được treo trước cửa buồng, chỉ khi nào khô thì chồng mới được gần vợ. Cái lệnh ngộ nghĩnh ấy nàng thấy thế mà hay, biết bao giờ cho nó khô. Nửa năm hay một năm, càng lâu càng tốt. Nàng đã có đứa con bên cạnh, chẳng còn cần ai nữa.
Khi thằng cu Mỹ biết bò lổm ngổm thì trống đình thôn Đại Hữu muốn vỡ tung vì Việt Nam đã giành được độc lập. Bà mẹ trẻ hơn mười lăm tuổi bồng con ra trước sân xem người ta rầm rập đi biểu tình. Chồng chị ta lăng xăng chạy tới chạy lui. Cây cờ đỏ trên tay anh quơ qua quơ lại như đang đuổi gà. Ba ngày sau anh nói khào khào trong cổ họng như vịt đực vì mãi hoan hô, đả đảo. Anh nói, “Độc lập rồi sướng quá!” Bà mẹ hỏi, “Có ăn được không mà sướng.” Anh nói, “Ăn được chớ. Lúa gạo từ đây không cho thằng Pháp đốt nữa. Ai đời nó tàn nhẫn quá sức. Ngoài Bắc không có gạo mà ăn, còn trong Nam thì nó đem đốt coi chơi!” Từ đó anh lăn vào diệt giặc đói và giặc dốt.
Nàng mặc kệ anh ta, có con là có tất cả. Nàng thường áp môi mình lên mặt con lay lay cho thằng bé cười. Mùi thịt da thơm ngọt của nó khiến nàng đê mê. Như con ong say mật, nàng uống từng chút, từng chút.
Tôi đang có một đứa con, ơn Trời. Tôi cũng rất biết ơn cha, biết ơn mẹ. Như người ta nói, đúng là có con rồi mới biết ơn cha mẹ. Còn ơn chồng ư? Tôi coi anh ta một kẻ chèo đò giúp tôi qua sông. Cái việc mà anh làm hằng đêm ấy là để cho anh chứ không phải cho tôi. Tôi chẳng thích thú gì trong chuyện ấy. Nỗi lo sợ lúc nào cũng như muốn làm tôi ngạt thở. Tôi không dám nói xấu anh, nhưng anh xộc vào tôi cứ như con heo đang đói xục vào cái máng đựng đầy cám. Tồng tộc, tồng tộc rồi nằm dảnh cẳng ra ngủ. Giờ đây anh có bỏ nhà đi theo ai cũng kệ anh. Tôi không theo ai hết. Tôi theo con tôi. Con tôi là tất cả.
Nhờ cái bằng yếu lược, nhờ hăng hái đi đầu trong mọi công tác nên anh được làm cán bộ xã. Anh liền mua một chiếc xe đạp cũ và với cái chuông kính coong, đạp từ làng này sang làng nọ. Một đôi khi anh lên huyện đóng ở Phù Cát. Có lần anh chở một nữ cán bộ xuống tận Cách Thử. Trời tối, đường còn xa, không dám chở về nhà, anh gửi tạm một nhà đầu xóm. Không ngờ có người mách lẻo, bà Cửu liền tốc thẳng đến tận nơi kêu mụ chủ nhà ra chửi bắt đuổi đi. Về nhà, bà lại lôi anh đang trốn trong bồ đựng lúa ra vừa chửi vừa phết vào mông anh cả chục cán chổi. Nàng nằm trên võng đưa con, biết hết cả nhưng chỉ mỉm cười.
Bà Cửu chẳng ưa gì cái cuộc cách mạng mà anh đang chìa lưng ra đỡ. Khi không nổi trống nổi mõ, khi không kéo nhau đi như giặc dậy ma dương, khi không phá đình phá miễu mà bảo là xây dựng đời sống mới. Đau xót nhất là anh đã đem hết cả bao nhiêu vòng vàng của vợ ra nộp để được khen là gương mẫu. Những hai lượng vàng Kim Thành có đến ba hòn núi chứ ít sao. Cả một gia tài mà đem cho không. Trong khi chẳng cách mạng nào cho đứa con anh được một cái áo chứ nói gì đến nhà cao cửa rộng. Khi nghe Bảo Đại bị xuống ngôi, anh đã định ném cái thẻ bài ngà trên bàn thờ cha ra ngoài bụi tre. Anh rất khó chịu vì đó là tàn tích của phong kiến. Anh không còn cho người ta kêu mẹ anh bằng bà Cửu mà phải kêu bằng bà Hai Bang. Chính vì mới cũ xung khắc nhau mà ít khi hai mẹ con ngồi ăn chung trong một mâm cơm. Anh lại còn rằng rực con mụ vợ vì nó có vẻ như theo mẹ anh. Cái trận đòn mười cán chổi cứ bị nó nhắc lại rồi tủm tỉm cười hoài. Bầu máu nóng cách mạng trong anh cứ sôi sùng sục trước bao nhiêu người, nhưng khi về đến nhà thì lại nguội lạnh vì gặp phải hai người đàn bà. Thật là xấu hổ. Cả nước cùng một lòng chỉ có nhà anh là hai, ba lòng!
Thằng cu Mỹ đã biết gọi ba. Nghe tiếng chuông leng keng nó đã biết chạy ra chờ ba về. Nó rất thích được anh ôm trước ngực chở đi lanh quanh. Nó có vẻ thông minh. Không thông minh sao biết đòi bấm chuông. Anh rất mong nó mau lớn để vào đoàn thiếu niên nhi đồng cứu quốc. Nó sẽ đội mũ ca lô, sẽ hát những bài ca cách mạng. Nó sẽ được anh dạy dỗ để trở thành một công dân mới. Nó sẽ không lạc hậu như bà nội thấy cách mạng làm được cái gì cũng chê. Nếu không có cách mạng thì anh cũng chỉ biết theo nghiệp cha mà cầm cái dùi đục vậy thôi, có đâu được vẻ vang như bây giờ.
 

5

Đã đến tuổi thằng bé đi học. Dĩ nhiên đó là một ngày trọng đại. Dù cha nó không tin thánh thần, nhưng bà Cửu nhất định phải cúng khai tâm. “Không cúng thì cái đầu mi có đựng được mấy chữ mà đỗ Yếu lược,” bà nói. Một ông đồ xưa mà tay run đến nỗi cầm đũa vẫn rơi, nói gì đến cầm bút lông, được mời đến. Dù gì ông cũng đã từng biết chữ thánh hiền. Chỉ có dạy chữ nho mới đáng được bà cung kính gọi bằng thầy, còn những người dạy bình dân học vụ thì bà hứ nghe cái cốc không thèm nói tới. Mâm cỗ gồm một con gà trống, một đĩa xôi, một cây bút và quyển vở. Thằng bé được húi carê nhẵn bóng. Thầy khấn lầm rầm xong bắt nó lạy hai lạy. Nó chưa biết lạy, suýt chút nữa làm đổ cả ly rượu. Lạy xong, nó cầm bút vẽ ngoằn ngoèo trên giấy. Sau đó, nó được ăn nguyên một cái đầu gà, mà là phải ăn hai con mắt để cho nó “sáng”.
Hôm sau tới trường. Bà và mẹ đã thức dậy từ sáng sớm. Vì sợ bị zêrô nên bà không cho nó ăn trứng gà mà ăn cháo nếp với mật ong. Nó được mặc áo sơ mi bằng đũi, chân mang giày, lưng đeo cặp của cha nó để lại từ xưa. Trông nó ra dáng một cậu công tử. Bà cửu dặn vói theo, “Học giỏi, trưa về bà cho bánh.” Mẹ nó dẫn con đi như chị dẫn em. Hai mẹ con líu ríu chuyện trò. Nhiều người trong làng hỏi, “Ủa, dẫn ai đó?” Nàng tươi cười, hãnh diện nói, “Con em đấy chứ ai.” “Dẫy na, mới đó mà đã đi học rồi.”
Nàng vừa đúng hai mươi tuổi, gái một con, đẹp đến nỗi cả trường ai cũng muốn nhìn. Lúc gặp hiệu trưởng, nàng bỗng mắc cỡ, lúng túng không biết thưa gửi làm sao. Thầy nói, “Con đồng chí Bang hả, dễ thương quá, chắc học giỏi lắm đây.” Thầy vui vẻ dẫn nó vào lớp vỡ lòng. Đến lúc ra về, nàng lại nhớ hồi còn bé, vòng tay cúi đầu khiến ai cũng bật cười.
Thằng bé học ê a nghe rất vui. Nó học rất mau, viết chữ đẹp. Không như nàng và các chị phụ nữ đi học bình dân. Học mãi cả tháng mà đánh vần không xong. Đọc không được thì tụi du kích chăng dây dừa không cho vào chợ. Đó là chưa kể lúc đọc được rồi nó vẫn bảo là chưa. Nó lại bày đặt để dấu lung tung. Nhiều đứa còn viết những chữ tục tĩu làm cho ai cũng mắc cỡ đỏ mặt. Khi tập viết thì chị nào cũng như nằm bẹp trên bàn. Mấy ngón tay cắm lúa xuống ruộng thoăn thoắt nhưng uốn cho cong một chữ U hay chữ O sao mà khó quá.
Nghỉ hè, nàng xin phép mẹ chồng đem con về thăm ông ngoại. Hai mẹ con đi đường tắt cho gần. Chỉ vòng qua khỏi núi Đất, qua Mương Đôi là đã tới chợ Rượu, quê cha.
Ông ngoại đón cháu với chòm râu bạc dài tới ngực. Những giọt nước mắt hiếm hoi của ông lăn tăn trên râu như những hạt sương. Cậu và mợ đã mấy lần sang thăm cháu nhưng không ngờ nó lớn mau và đẹp quá. Hai thằng anh con cậu liền lấy cần câu dẫn nó đi câu cá. Nàng bày ra trứng và cà chua tặng cha để ông ăn cho bổ. Ông cứ ngồi nhìn mãi nàng, không ngờ đứa con út bé bỏng tội nghiệp, mới đó mà nay đã thành một thiếu phụ đẹp. Chị dâu vội cắp rổ đi ra chợ Rượu. Nàng muốn đi theo nhưng cha bảo, “Mấy khi con về, ở nhà chơi với cha.” Lần đầu tiên nàng nghe mấy tiếng “chơi với cha” sao mà dịu ngọt quá. Nàng rưng rưng muốn khóc.
Chợ đã tan. Chị Thừa chỉ mua được một con cá tràu nhỏ của một bà già. Nhưng ngoài vườn có chuối mốc, măng tre và rau răm nên bát cá ám rất thơm và ngon. Cả nhà ai cũng muốn nhường cho nàng và thằng bé. Cha hỏi chị Thừa, “Làm mang kỹ chưa, coi chừng còn lưỡi câu trong đó. Mắc lưỡi câu là chết chứ không có chưn rái nào mà cào ra được.” Chị Thừa nói, “Dạ con làm kỹ rồi, cá tuy nhỏ nhưng có trứng, thằng Mỹ không được ăn đó nghe. Dượng Hai bên ấy chắc ăn trứng cá nên mặt nhiều mụn, may mà không bị cô Thãi chê.” Cả nhà ai cũng cười.
Đêm hôm đó thằng bé ngủ với ông ngoại. Nằm bên này nàng nghe nó ngậm đường phèn lộp cộp. Cái buồng của mẹ mấy năm không có ai nằm, ẩm mốc và lạnh lẽo, nhưng nàng cảm thấy rất thích. Nàng nhớ lại những đêm mưa, những lần có kinh nguyệt, những giấc mơ nho nhỏ, những tiếng ngáy của cha và cả tiếng con mèo đực tội nghiệp của nàng. Đã năm năm qua rồi vậy mà nàng tưởng như mới hôm qua. Những trăn trở, hoảng hốt lo sợ trước khi lấy chồng. Chưa khi nào nàng thấy mình hẩm hiu và đơn độc như lúc ấy. Nghĩ lại nàng thấy giật mình. Không hiểu sao mà nàng vượt qua được.
Năm hôm sau nàng khóc xin cha về. Thằng bé nghe về lại nhảy tưng tưng rất thích. Nó nghĩ tới những bông và trái dúi dẻ thơm vàng, những chùm chim chim đỏ như xâu chuỗi. Cả nhà đưa hai mẹ con ra bến chợ Rượu. Nàng cõng con qua sông, nước mắt nhỏ xuống sông long lanh. Nàng đâu ngờ đây là lần gặp cha cuối cùng. Năm tháng sau ông mất. Nàng thì không dễ gì quên cha, nhưng thằng bé sau này chỉ nhớ chòm râu bạc và những miếng đường phèn.
 

6

Khi thằng bé lên tám tuổi, bỗng dưng cha nó đổi tên trong khai sinh. Không còn Bùi Văn Mỹ nữa mà là Bùi Văn Liên Xô. Bà nội và mẹ đều chưng hửng. Nhưng ông bây giờ đã là cán bộ huyện nói, “Cả nước đang đả đảo can thiệp Mỹ, đặt tên như thế để người ta chửi vào mặt nó à. Lẽ ra đặt Sít ta lin nhưng không ai cho lấy tên lãnh tụ đặt tên con. Liên Xô là thành trì của cách mạng thế giới. Liên Xô sẽ đánh đế quốc Mỹ để giải phóng giai cấp vô sản!” Bà mẹ hứ nghe còn to hơn pháo nổ. Bà nói, Tau thì cứ gọi nó là Mỹ, nỏ thèm gọi Liên Xô mô. Tên của nó đã được ghi trong “phái” đeo trước ngực rồi. Tau cứ Mỹ là Mỹ, ai dám chửi tau!”
Nhưng trừ bà và mẹ nó, đúng là cả nước đang chửi Mỹ. Thằng bé mấy lần khóc với mẹ, “Cha đặt tên kỳ quá, con bị bạn chọc hoài.” Mẹ bảo, “Ông ngoại nói Mỹ là đẹp chứ không phải Mỹ là đế quốc.” Nhưng hơi đâu mà giải thích với đám học trò. Ngay cả thầy giáo cũng ngại khen nó giỏi, khác gì khen Mỹ giỏi, nên điểm chưa khi nào lên đến bảy chứ nói gì đến mười! Ngược lại, từ khi thay tên bỗng dưng nó tiến bộ nhanh như gió, lúc nào cũng chín cũng mười. Nó nhiều lần được khen dưới cờ, cái tên dài thòng Bùi Văn Liên Xô được thầy cô đọc lên một cách trịnh trọng, âu yếm. Thằng bé rất thích, nó bắt đầu cảm thấy yêu cha hơn yêu mẹ. Con chó mực già rụng lông, bắt chước cha, thằng bé kêu là chó mỹ. Hai cha con bây giờ cùng một lòng, ông Bùi Văn Bang rất hả hê!
Mấy tháng sau Sít ta lin chết, ông hú hồn.
Chiến tranh đang đến hồi khốc liệt. Đã thấy nhiều người cụt tay, cụt chân. Nhiều nhà bị đốt, đập nước bị phá. Máy bay gầm rú suốt ngày đêm. Pháp đổ bộ lên Qui Nhơn, nhảy dù xuống Sa Huỳnh. Nhưng khắp các mặt trận ta đều thắng. Điện Biên Phủ bị vây. Mấy mươi ngàn tên giặc đang khóc la xin đầu hàng.
Ông Bùi Văn Bang được gọi ra Bồng Sơn học lớp chính trị đặc biệt để chuẩn bị Cải cách ruộng đất. Thằng Bùi Văn Liên Xô được vào đội thiếu niên tiền phong, cũng bỏ mẹ và bà nội đi tập nhảy sôn đố mì.
Nhà vắng. Vườn chuối đã già cỗi rũ xuống. Trong đêm, những tàu lá phất phơ như những cánh tay khiến nàng nhớ tới một đêm kinh hoàng.
Đó là một buổi tối mùa hạ. Trời nóng đến chảy mỡ. Dỗ con ngủ xong, nàng đi ra giếng tắm. Như thường lệ, nàng mặc nguyên quần áo, xách nước từ giếng lên xối qua mình. Mặc dù trời tối nhưng nàng vẫn đứng nép vào bụi chuối. Nàng đang kỳ cọ, bất ngờ có hai cánh tay cứng như thép từ sau vòng ra ôm lấy nàng. Rồi cả một tấm thân to như cái phản áp sát vào lưng. Hai chân hắn cũng quắp chặt chân nàng. Một cái cằm râu lởm chởm cạ vào cổ vào má. Một tay hắn giựt đứt lưng quần. Nàng xấu hổ không dám la lên, chỉ cố vùng vẫy trong tuyệt vọng. Bỗng nàng nhớ tới mẹ chồng, bà đã từng dạy nàng cách dùng cây nhím cài tóc. Nàng liền rút nó ra, nghiến chặt răng đâm thật mạnh vào đùi hắn. Nàng đâm với tất cả sức mạnh và nỗi căm hờn. Hắn rú lên một tiếng như bị đâm vào tim, liền buông nàng ra.
Từ đó không bao giờ nàng ra giếng tắm nữa.
Và, những đêm vắng chồng, nàng cầm đèn run run đi soi khắp nhà. Mẹ bảo phải soi cả gậm giường, lấy chổi mà quơ vì trộm thường đu mình lên nép sát vào vạt giường, qua loa là chết với nó. Nhưng nhà đâu còn gì mà sợ trộm. Nàng sợ những thứ khác kia, sợ những thằng phải gió. Lúc này, ăn uống kham khổ, lại phải đi cấy, đi gặt, nên trông nàng khô đét, già háp. Nhưng với nhiều người, nàng vẫn còn đẹp. Các đồng chí vẫn thường đến hỏi thăm đồng chí Bang. Ai cũng lề mề, dây dưa, con cà con kê ngồi mãi không chịu về. Lấy cớ thằng Liên Xô học giỏi, kẻ cho cây bút máy Caolô, người cho cuốn vở giấy trắng trong vùng bị chiếm… Các bà vợ thấy thế tụm nhau lại nói xấu đủ điều. Ngày mới về làm dâu, bao nhiêu người đổ ra xem đều khen nàng đẹp, dễ thương. Giờ đây nàng là cái gai trong mắt họ, là con hồ ly tinh, mắt liếc mày la rủ rê chồng con họ. Đi tới đâu nàng cũng bị nguýt háy xa lánh.
Đêm nay, trời mưa rả rích. Đồng chí Thanh mang áo tơi đi vào nhà. Con chó già mỏi mệt cũng không thèm sủa. Đồng chí đập nhẹ cửa hỏi đồng chí Bang đi học đã về chưa. Nàng đứng bên trong nói chưa, nhưng đồng chí Thanh vẫn chưa chịu về. Đồng chí nói, “Mưa lạnh quá, cho vào nhà uống miếng nước.” Đồng chí cứ năn nỉ mãi, cực chẳng đã nàng mở cửa. Đồng chí Thanh liền ôm lấy nàng, giả bộ run nói, “Lạnh quá!” Nàng đẩy ra, gắt, “Ông làm cái trò gì thế? Tôi la lên bây giờ.” “Có gì đâu,” đồng chí nói, “lạnh quá mà.” Bất ngờ hai người đàn bà ập vô, một người nắm áo đồng chí Thanh, một người nắm tóc nàng cùng la lớn, “Sao mày dám lấy chồng tao?”
Bà Cửu thức dậy. Khi rõ mọi chuyện bà bảo, “Đêm hôm mà đàn ông tới nhà đàn bà là có ý dâm. Ngày xưa thế nào cũng bị quan căng nọc ra đánh đòn. Hai con mụ kia, khép cái mỏ lại mà về ngủ. Còn nếu muốn trị tội thì cứ đè cái thằng cán bộ kia ra mà cắn mà xé, cớ sao lại dám vào làm ầm ĩ nhà tau?” Vừa nói bà vừa cầm lấy cây chổi dựng bên cạnh quơ lên trước mặt vợ và con gái của đồng chí Thanh khiến hai người vội lôi chồng và cha ra khỏi nhà.
Bọn họ đi rồi, bà ngồi thịch xuống giường. Giận con dâu thì ít mà giận con trai thì nhiều. Cứ đi theo đảng mãi như thế này có ngày bị người ta lấy mất vợ như chơi. Suốt ngày nghe nó nói leo lẻo “Bảo vệ đảng như bảo vệ hai con ngươi của mắt mình”. Đảng là cái thằng cha, con mẹ nào mà gìn giữ hơn cả vợ con. Vợ bị làm nhục không lo lại đi lo nước nhục dân nhục. Khéo lo ba cái chuyện bao đồng. Chửi đã, như thường lệ bà hứ một tiếng rõ to rồi mới chịu đi nằm.
Nhưng bà cứ trằn trọc mãi không sao ngủ được. Lúc nhỏ nó là một đứa con ngoan, bảo đâu nghe đó. Giờ bị ma nhập hay sao mà phế bỏ cả nhà cửa vợ con để đi theo mấy cái ông râu xồm. Nghe nó hò hét mà bà thấy tức lộn ruột. Thà nó cầm súng ra mặt trận đi. Đánh nhau với Tây có bị giết thì cũng được cái tiếng chết vì nước vì vua, chứ làm cán bộ thì chỉ có nghe dân chửi hết làng trên xuống xóm dưới mà thôi. Nghĩ mà thương cho con vợ nó. Ngày trước, khi bỏ xứ Huế theo chồng về đây, bà ăn đứt đám đàn bà con gái trong làng. Biết bao con mắt thèm thuồng. Nhưng dẫu có thèm rỏ dãi nỏ có ai dám động đến bà một sợi tóc. Có mà cái dùi đục của ông Cửu nện cho vào đầu. Khi ông mất đi, cũng có nhiều người lảng vảng muốn ghẹo nguyệt thương hoa, nhưng cũng một vừa hai phải chứ có đâu càn ngang phả sét như bây giờ. Rõ đúng là thời loạn. Chỉ khổ cho đàn bà con gái mà thôi!
Nằm ôm con, nàng khóc ướt hết cả vai áo nó. Khóc vì thương mẹ chồng, thương thân mình, khóc vì nhục. Cái nhục của đàn bà không như của đàn ông. Không thể rút súng rút gươm ra mà trả. Nó như một vết chàm trên da thịt không cách gì rửa sạch được.
Sau ba tháng trở về, cùng với những đồng chí khác, đồng chí Bùi Văn Bang làm nổ tung xóm làng bằng những cuộc phóng tay phát động quần chúng để tiêu diệt địa chủ. Những đêm học tập, những đêm đấu tố đã xé nát làng quê yên tĩnh cả bao nhiêu đời thành nhiều mảnh. Bần cố nông được đẩy lên ngôi vị ngất ngưởng thay cho phú nông địa chủ bị vùi dập xuống tận bùn. Nhìn thấy cảnh những ông tổng, ông lý bị bắt quỳ giữa sân đình để bao nhiêu người hét hò mắng chửi, bà Cửu không chịu được. Bà cho rằng, ngày xưa, vua còn biết tha tội cho những người ăn năn hối cải, còn biết để họ lấy công chuộc tội, cớ sao bây giờ cách mạng lại hành hạ họ. Từ bao nhiêu năm nay họ đã đóng góp bao nhiêu của bao nhiêu công, đã quyên góp bao nhiêu vàng, ngã hàng chục con heo con bò cho dân quân, bộ đội ăn, lại đóng thuế nông nghiệp nhiều hơn ai hết sao lại đem ra sỉ nhục họ trước đám đông? Họ đáng cha đáng chú sao lại đá lại đạp họ? Đạo lý của con người để ở đâu? Bà rất đau xót, xấu hổ khi thấy con trai của dòng họ Bùi lại đi làm cái việc bất nhân đó, mà lại là kẻ hùng hổ nhất, tàn nhẫn nhất.
Từ đó, sự xung đột giữa mẹ và con trở nên gay gắt đến nỗi bà Cửu nói, “Tau coi như không đẻ mi ra. Ai đời mi dám bảo tau là phản động, là cản trở cách mạng.” “Chứ không phải à, người ta ai cũng mẹ cứu quốc, mẹ chiến sĩ, còn bà là mẹ gì? Mẹ mìn thì có! Bà không xứng đáng là mẹ tôi.” Đồng chí gào lên, “Chính vì bà mà tôi bị phê bình là thiếu năng lực. Người ta nói, không giác ngộ được mẹ và vợ thì giác ngộ được ai. May mà tôi còn có người cha là thợ mộc tức là công nhân nên vẫn còn được đứng trong hàng ngũ tiên phong. Nhưng có một bà mẹ như bà lúc nào cũng chửi cách mạng ra rả, một con vợ ù lỳ như con vợ tôi, cứng cổ cứng đầu không chịu tham gia công tác, nên cũng có ngày tôi sẽ bị đá văng ra ngoài như một con chó ghẻ.” “Thì mi đi đâu cho khuất mắt tau, đừng có mà về cái nhà này nữa.” “Chính bà phải đi ra cái xứ Huế phong kiến của bà chứ không phải tôi.” “Mi câm cái họng thối tha của mi lại, không tau cắn lưỡi chết bây chừ!” Rồi bà bù lu bù loa, “Ông ơi là ông ơi, ông chết sớm làm gì để thằng con trời đánh nó chửi tui như thế này!” Bà nằm vật ra giữa nhà, khóc suốt mấy ngày đêm. Năn nỉ dỗ dành bao nhiêu bà cũng không chịu ăn, chỉ có mỗi một việc đòi chết. Thằng bé lại càng làm cho bà bứt đầu bứt tóc kêu gào thảm thiết hơn. Nó nói, “Bà không chịu tiến bộ, chỉ làm khổ cha.” Nàng lấy tay bịt miệng con, nhưng nó vùng vằng đứng dậy, đá văng mâm cơm bỏ đi. Nàng thở dài, “Đúng là cha nào con nấy!”
Chiến thắng Điện Biên cũng đem lại thắng lợi trên bàn hội nghị. Hiệp định Giơ ne vơ được ký kết. Một nửa nước đã được giải phóng. Bao nhiêu cán bộ, bộ đội tập kết ra miền Bắc. Cả hai cha con Bùi Văn Bang đều được đi.
Cái tin Bùi Văn Liên Xô được tập kết theo cha khiến hai người đàn bà, một già một trẻ không họ hàng gì với nhau, ôm nhau khóc suốt. Còn lờ mờ gì nữa, đi tập kết là mất con mất cháu rồi. Hai năm trở về, ai biết được là hai năm hay hai mươi năm. Mà dẫu cho chỉ hai ngày hay hai tháng cũng đã không thấy yên bụng rồi. Có bao giờ nó xa hai người nửa bước đâu. Giờ đây ai lo cho nó ăn nó mặc. Ai buổi tối đưa nó vào giường ôm ấp cho nó ngủ. Ai thức dậy sớm nấu cháo luộc trứng gà cho nó. Ai hái cho nó cả nón dúi dẻ chim chim. Ai kể chuyện đời xưa cho nó nghe. Ai thức suốt đêm bên cạnh khi nó đau. Ai lo cho nó từng cái mụt ghẻ. Ai gãi lưng cho nó khi nó kêu gãi gãi. Ai? Buồn như nhà có tang. Nhưng thằng bé thì vui như Tết.
Nó hí hửng vì được đưa ra Bồng Sơn, được học tập vui chơi với hàng ngàn trẻ em khác của liên khu 5. Lần đầu tiên được đi camnhông ray nó cảm thấy như được bay lên trời. Khi xe qua hầm nó sung sướng tung mũ lên, cái mũ bay mất. Nhưng không sao, nó sẽ được phát mũ calô đội lệch rất chi là oai vệ. Ngoài những bước nhảy sôn đố mì, nó còn được học nhảy sạp, được xem bao nhiêu là phim của Liên Xô và Trung Quốc, được phát huy hiệu có ảnh Bác Hồ. Nó được các “mẹ” các “chị” may cho những cái túi dết, những chiếc khăn mùi soa có thêu chim bồ câu hoà bình. Nó cùng với các bạn như đang ở trên thiên đường. Nó quên mất hẳn bà và mẹ.
Một tháng sau nó về thăm nhà, trông nó khác hẳn. Nó như cao hơn, rắn chắc hơn. Nó đòi mẹ đan cho chiếc áo len và thương làm sao, nó muốn mẹ chụp với nó một tấm hình. Hai mẹ con đi bộ vào tận Đập Đá. Nó đứng cao gần bằng mẹ, một tay chống nạnh, một tay vịn lưng mẹ, trông đĩnh đạc cứ như một cậu con trai đã lớn.
Rồi đến lúc nó theo đoàn xuống Qui Nhơn để lên tàu ra bắc. Bà nội quá già, chỉ một mình nàng đưa tiễn. Lần đầu tiên nàng đi một quãng đường rất xa, những bốn mươi cây số. Con đường trải nhựa đen từ thời Pháp bị đào xới trong kháng chiến trông như một cái xương cá khổng lồ, bị ngắt ra nhiều khúc vì những cây cầu sập và những hố bom chưa lấp lại.
Không có tàu bay, không có súng đạn nên người ta đổ ra đường đi khơi khơi như để hít thở không khí của tự do và hoà bình. Suốt chín năm, giờ mới có được những ngày bình yên. Ai cũng vui, mặc dù người nào cũng hốc hác teo tóp. Nàng tưởng ai cũng như mình, đi tiễn chồng con đi tập kết. Thực ra họ đi gỡ dây thép gai, lượm lon đồ hộp của Pháp để lại. Ngược chiều với nàng là những người hai vai nặng quằng những khoanh dây kẽm, những đứa bé kéo cả chùm lon loảng xoảng trên đường. Đó là những thứ có thể làm ra gạo ra khoai.
Thành phố Qui Nhơn trong những câu chuyện mở đầu bằng “hồi xưa” của cha nàng với những phố lầu, những ngựa xe giờ chỉ là một đống gạch vụn mênh mông. Chỉ còn sót lại cái nhà thờ họ đạo với tháp chuông cao ngất và nhọn hoắc. Hết bị đập phá để tiêu thổ kháng chiến lại bị Pháp san bằng để chống lại du kích, cái thành phố nguy nga trong trí nhớ của cha nàng cũng đã theo ông đi xuống mồ. Nhưng hai mẹ con rất thích vì lần đầu tiên được thấy máy bay của uỷ hội quốc tế. Nó nằm phơi mình dưới ánh nắng, sáng loáng như một con thuyền sơn màu bạc. Không biết nó to và nặng như thế làm sao lại có thể bay lượn trên bầu trời như chim chèo bẻo. Không dùng để bắn giết, trông nó hiền lành như một con trâu đang nằm nhai cỏ.
Tại bến cảng, một con tàu Ba Lan to như hòn núi Đất đang há cái mồm rộng để nuốt những khẩu đại bác nòng dài thòng, những xe tăng nặng chình chịch. Sau cùng, nuốt những đứa bé sắp hàng một trong đó có con nàng! Bọn nhỏ tuy hơi sờ sợ, nhưng khi được đưa lên boong, chúng lại thích thú dùng khăn tay đưa ra vẩy. Đáp lại là những giòng nước mắt, những tiếng gọi “con ơi” thống thiết.
Rồi con tàu ngậm cái miệng đen ngòm lại, rúc lên những hồi còi xé ruột. Nó nhả những cuộn khói xám xịt lên trời, lừng lửng tiến ra khơi.
Nàng và bao người mẹ khác đứng chôn chân rất lâu trên bến cảng. Họ nhìn theo con tàu cho đến khi nó trở thành một cái chấm nhỏ rồi tan biến ở đường chân trời.
Đó là chuyến đầu tiên chở những mầm non ưu tú nhất của cách mạng ra bắc. Bùi Văn Bang phải ở lại lo thu giấu tài liệu, chôn vũ khí, sắp đặt bố trí ai đi, ai ở, ai đổi vùng… Cả núi công việc. Mãi đến chuyến cuối cùng tức là mười tháng sau, ông mới đi. Dù cho hờn giận đến đâu thì tình mẫu tử và nghĩa vợ chồng vẫn khiến cho ba người ruột thịt của Bùi Văn Liên Xô không khỏi ngậm ngùi trước lúc chia ly. Bà Cửu nước mắt lưng tròng nắm chặt tay con và anh ta đã cúi xuống ôm ngang lưng mẹ rất lâu. Vợ anh dặn phải nhớ chăm sóc con. Anh hứa hẹn, “Không sao đâu, mười bốn tháng nữa thôi, cha con anh sẽ về.” Lần đầu tiên ông xưng anh với nàng và cũng lần đầu tiên nàng nghe lòng mình tan ra trong nước mắt.

Bùi Văn Liên Xô

1

Chẳng có tổng tuyển cử. Chẳng có thống nhất. Sông Bến Hải như một nhát chém cắt đôi đất nước ra làm hai miền thù địch. Miền Bắc thề đốt cả dãy Trường Sơn để giải phóng. Miền Nam cũng đòi lấp sông Bến Hải để giải phóng. Những cái “giải phóng” ấy đụng nhau nảy lửa ở khắp các mặt trận.
Như cá trong chậu, những người có chồng con đi tập kết bị gọi lên xã, lên huyện cứ như cơm bữa. Người ta hỏi có biết chồng con ở đâu không, đã nhận bao nhiêu lá thư gửi từ Pháp về, nhận những công tác gì, có gặp bọn nằm vùng hay không …Bọn họ tối đến còn phải đi ngủ tập trung, giống như trâu bò sau một ngày đi cày lại vào trong chuồng mà ngủ. Nhưng trâu bò còn được thả rơm cho mà nằm nhai lại suốt đêm. Bọn họ thì cứ bị dựng dậy bất cứ lúc nào. Nhất là những người có chút nhan sắc như nàng. Những cái nhìn như xé toang quần áo nàng ra, những câu nói tục tĩu, những tiếng cười dâm ô của bọn lính gác, của quan chức lớn bé làm cho nàng cảm thấy những năm tháng không có chồng con ở nhà thật là ô nhục.
Dù nàng chưa bị lột truồng ra, nhưng cuộc đời của nàng đã trần truồng như nhộng. Chẳng có một bàn tay đàn ông nào che chắn bảo bọc. Những người khác, mong đợi một ngày được chồng con trả thù rửa nhục, chứ nàng thì chẳng mong đợi gì hết. Nàng sống mà không một chút hy vọng. Sống như một lưu đày ngay chính quê hương mình. Sống như đốt cháy mọi niềm tin. Sống như tự mài mòn đi để trở thành đá cuội trong lòng thác. Nói như mẹ chồng: sống mà như đã chết rồi.
Bà Cửu tuy không phải đi ngủ tập trung, không phải bị gọi lên gọi xuống, nhưng với một đứa con ngỗ ngược, một đứa cháu hót những điều trái tai như sáo khiến bà còn chán nản tuyệt vọng hơn cả nàng. Lấy chồng xa, mấy mươi năm chưa một lần về thăm quê, cha chết rồi mẹ chết cũng chỉ biết khóc sưng mắt mà thôi. Chồng chết, bao nhiêu năm ở vậy nuôi con, những tưởng lớn lên nó đã có thể thay cha đưa mẹ về thăm nhà. Nào ngờ chiến tranh, rồi tập kết và nhất là nó coi bà như kẻ thù giai cấp, thì chắc đến lúc nhắm mắt bà cũng không thể trèo qua đèo Hải Vân mà thắp cho cha mẹ một nén nhang của đứa con bất hiếu.
Đã hơn mười năm, bà đã sống những tháng ngày nhạt nhẽo nhất trong đời. Sống với con dâu thì mặn nồng làm sao được. Cho dù nàng dâu của bà cũng đã làm tròn, có khi là hơn, bổn phận của mình với mẹ chồng, nhưng khác máu tanh lòng, sao bằng đứa con đứa cháu ruột rà. Nhiều đêm bà nghĩ thương cho phần số của cả hai người. Giống như hai cái cây bị róc hết cành nhánh, hai người sống cạnh nhau như hai cay cau bị gió bão làm cho trốc gốc, nằm vật lên nhau cũng chỉ đợi người ta cưa xẻ mà thôi.
Những tưởng bà sẽ phải chết dí ở cái nơi xa xôi này, không ngờ một ngày tháng năm, người em trai út của bà tìm đến thăm. Hôm đó, một người đàn ông trọ trẹ mới tới đầu đình đã làm cho mọi người tin chắc là ông ta đi tìm họ hàng. Những đứa bé nhanh chân đã chạy nhong nhong đến báo tin cho bà. Chúng nó nói, bà Huế ơi, cái ông mô mô tê tê gì kia có phải bà con của bà không? Trống ngực đánh thình thình, bà không tin vào đôi tai đã bắt đầu nằng nặng cho đến khi người em trai lúc bà đi theo chồng mới có 5 tuổi đứng trước mặt bà.
Khỏi phải nói là họ đã ôm nhau khóc một bữa đã đời. Khóc và tranh nhau nói. Những tê, những mô, những răng, những rứa, những hỷ, những tề, những tiếng lâu nay chưa có dịp tuôn ra giờ chảy ào ào như mưa nguồn thác lũ. Bọn trẻ con há hốc mồm ra nhìn cuộc trùng phùng sau hơn 40 năm. Bà cho chúng quà, nào kẹo gầng nào mè mè xững, những thứ lâu nay chúng chưa hề thấy bao giờ.
Bà Cửu cũng cảm thấy mình như được trẻ lại đến mấy chục tuổi. Bà nhớ lại hơn 40 năm trước đã từng bồng ẵm cậu em út, đã từng nựng nịu tưng tiu nó và thầm mong khi lấy chồng cũng sinh một đứa con xinh như thế. Bà hỏi han đủ thứ chuyện và mặc dù cậu lặn lội đường xa, bà vẫn muốn được chuyện trò suốt đêm. Cậu em đã nói cho bà nghe chuyện cha mẹ, chuyện các anh chị thương nhớ bà như thế nào, nhất là trong chín năm không biết bà sống chết ra sao. Khi nghe đình chiến đã muốn vào thăm, nhưng tang cha, tang mẹ, rồi bận lo con cái học hành đi lính đi tráng mãi đến nay mới vào được. Cậu tha thiết muốn được đưa bà về thăm quê.
Về thăm quê, còn gì vui hơn nữa. Mà lại về bằng máy bay thì đúng là dẫu có nằm mơ cũng không thấy!
Ở Huế hai tháng bà nhận ra được một điều: Chiến tranh dù đã xảy ra trên 20 năm nhưng ở tận đâu đâu chứ không ở thành phố. Bảo Đại dù xuống ngôi nhưng kinh thành Huế vẫn nguy nga đường bệ. Vẫn còn đó cửa Ngọ Môn, điện Thái Hoà. Vẫn còn đó cầu Tràng Tiền, chợ Đông Ba. Phố xá ngày càng tấp nập hơn. Những người bán hàng xén ngày trước như bà giờ là chủ những cửa hàng đồ sộ. Họ giàu ngất trong khi bà còm cõi dưới luỹ tre, hết chín năm kháng chiến đấu tố lại đến mười năm tố cộng.
Ở đây đâu có ai đi tập kết, đâu có ai phải đi ngủ tập trung. Giữa thành phố và làng mạc cách xa một trời một vực. Ở đây đèn điện sáng choang, còn ở làng quê đèn dầu leo lét. Ở đây, những người cỡ tuổi bà vấn khăn nhung, đeo chuỗi ngọc đi chùa, cỡ con trai bà mặc áo vét đi giày tây, cỡ con dâu bà áo dài màu tha thướt, cỡ cháu trai bà đi xe đạp sáng choang… Chiến tranh đâu có trùm lên tất cả.
Sao không bỏ nơi thù hằn, nơi ô nhục mà đi tìm nơi ánh sáng, nơi đồng tiền sẽ đẻ ra tiền. Việc gì phải chui rúc trong gian nhà mà cứ tối đến là phải thắp đèn đi soi từng hang hốc, việc gì phải còng lưng gánh từng gánh khoai gánh lúa chỉ để đổi lấy một đôi dép mới mang ba bữa đã đứt quai, một cái áo mới giặt vài nước đã tã ra, việc gì phải run sợ trước những thằng cha con mẹ còn thua bọn khuân vác hay đạp xích lô mà lên giọng này giọng nọ, việc gì phải cúi đầu chịu khổ khi trong tay mình có cả chục lạng vàng.
Đó là tài sản của cha mẹ để lại được anh em chia cho bà. Bọn họ còn đưa bà ra chợ Đông Ba để xem người ta mua bán, nhất là xem hàng vải của đứa cháu dâu. Bọn họ nói nếu không về Huế thì cũng phải bỏ cái xứ Đại Hữu tối tăm, cái xứ mà đêm đêm thường nghe cộng sản đánh trống khua chiêng ở phía bên kia sông, cái xứ mà con dâu bà không trước thì sau cũng bị làm nhục. Với ngần ấy vốn hai mẹ con dư sức mở một cái sạp nhỏ. Nếu buôn may bán đắt thì chẳng mấy chốc sẽ phất lên.
Bà nghe bùi tai quá và với cái nhìn và suy nghĩ còn hơn cả làm cách mạng, bà quyết định giao căn nhà họ Bùi cho người cháu họ. Cùng lúc ấy những ấp tân sinh ở gần núi đã bị đốt. Không đắn đo gì nữa, bà và con dâu chỉ mang theo những thứ cần thiết nhất lặng lẽ đi xuống Qui Nhơn.

2

Đầu tiên hai mẹ con thuê một căn nhà nhỏ ở gần kho xăng ông Tề. Phía sau là đầm Thị Nại, trước mặt là núi đá vôi với những con dê thả rong suốt ngày kêu be be trên những gộp đá. Hàng xóm cũng là những người đã sớm rời bỏ làng quê, những Trung Lý, Trung Định, những An Đông, An Ngãi, An Nhơn. Vẫn chỉ có một mình bà nói trọ trẹ mô tê giữa những âm thanh dẫy na chói tai ngộ nghĩnh. Tuy tiếng nói có đôi chút âm sắc khác nhau, nhưng tim họ như cùng đập một nhịp khi nghe nói tới hai tiếng cộng sản. Chẳng còn ai lạ gì những tiếng đấu tố, địa chủ, khả năng. Chín năm đủ cho họ dù không ruột rà thân thích hay bè bạn, chỉ một cái liếc nhìn cũng hiểu nhau những nỗi niềm lo sợ còn dội mãi trong lòng.
Cô cháu dâu nằn nì, “O vào trong nớ cố mà sang một cái sạp vải dù trong chợ nhỏ cũng được. O và chị Hai nghe nói dễ thương lắm thế nào cũng bán được mà. Cháu sẽ giới thiệu o với các đại lý ở Sàigòn, thấy bán được người ta sẽ cho o gối đầu lo gì mà không đủ vốn.” Mặc dù đã có người bày cho đi buôn, nhưng bà vẫn chưa dám. “Thôi hãy thư thả rồi sẽ liệu,” bà nói với cô con dâu, “giờ mình bày ra bán bánh canh cua hay bánh bèo kiếm sống qua ngày đã.” Cô con dâu dĩ nhiên là thuận theo ý bà. Nàng tất tả đi mua những thứ vật dụng cần thiết. Bà đi chợ xem cách người ta mua bán cua, học cách chọn cua gạch và tìm người thuận bỏ mối cho bà.
Với sự khéo tay của bà, cộng với sự ngăn nắp sạch sẽ của con dâu, chỉ dăm bữa là cái gánh bánh canh cua của hai mẹ con bà đã được cả xóm cây xăng ông Tề biết tiếng. Người ta khen sợi bánh canh mềm mà lại dai, thịt cua chắc và nhất là gạch cua đỏ như son chen lẫn với hành ngò xanh trông rất bắt mắt. Một bát chỉ hai đồng bằng giá một ổ bánh mì thịt, mà ăn tới đâu ngọt lịm tới đó.
“Cũng chẳng có bí quyết chi mô,” bà nói, “cái khó là phải lựa cho được cua gạch. Bánh canh cua mà không có cua gạch cũng như một cô gái thiếu phấn son. Đẹp thì có đẹp nhưng chưa chắc đã giữ được ai lâu dài.” Tuy không nói ra, nhưng bà tin sở dĩ đắt hàng, một phần cũng nhờ cô con dâu có con mắt đen ướt khiến bà cũng phải xiêu lòng huống hồ là đàn ông. “Ngu chi mà ngu lạ rựa,” bà nói, khi nghĩ tới cậu con trai đi theo đảng không biết đói no thế nào trên đất Bắc. Vợ đẹp như rựa mà bỏ đi đành đoạn!
Sống được với gánh bánh canh, hai mẹ con cũng quên luôn cái sạp vải trong dự tính. Thực ra họ có nghĩ tới. Bán vải thì nhàn hơn, chỉ ngồi trong mát khỏi phải kĩu kịt gánh từ xóm nọ sang xóm kia, khỏi phải lặn lội dưới mưa nắng và bà, nhất là, bà khỏi phải thức khuya dậy sớm trong khi tuổi già làm cho lưng cổ lúc nào cũng đau nhức. Nhưng bán vải thì to thuyền lớn sóng, lỡ trộm cướp hay cháy chợ cháy nhà thì tiêu ma cả vốn liếng. Sống cái nhà, thác cái mồ, chi bằng mua một căn nhà, dẫu có bị pháo kích cháy cũng hãy còn lại cái nền đất. Ở thành phố, một tấc đất là tấc vàng, giữ vàng trong mình đâu bằng giữ đất. Thế là một năm sau họ mua được một căn nhà bề ngang bốn thước, bề dài mười hai thước cũng ở trong xóm cây xăng ông Tề.
Vậy là an cư lạc nghiệp.
Và, nàng trở thành cô hàng quà.
Chẳng còn bị ai gọi tới gọi lui, chẳng còn ai lăm le làm nhục. Nàng thấy cuộc đời bỗng dưng trở nên dễ sống, đáng yêu. Và còn đáng yêu, còn đẹp hơn nữa nếu bên cạnh nàng có Bùi Văn Mỹ. Nàng chi xiết nhớ con. Mặc dù lúc này nó đã 20 tuổi nhưng trong tâm trí nàng nó hãy còn là một đứa bé. Nàng nhớ xiết bao cái tiếng gọi mẹ ơi, mẹ ơi. Nàng nhớ hai bàn tay bé bé xinh xinh với những ngón đỏ hồng của nó xoè ra nâng niu những bông dúi dẻ, nhớ hàm răng lòi xỉ khi nó cắn những trái chim chim đỏ mọng, nhớ cái đầu hơi méo của nó tựa trên đùi nàng khi hai mẹ con ngồi nghỉ ở tảng đá đen trên núi Đất. Nhớ quá chừng, quá đỗi, mẹ nhớ quá con ơi! Không đêm nào là nàng không khóc khi nghĩ tới nó.
Giờ nó đang ở đâu trên đất Bắc xa xôi? Nó đang đi học hay đi lao động ở các nông trường. Nó ở Liên Xô, Trung Quốc xa tít tắp hay đang lẩn trốn ở núi rừng Trường Sơn đầy ma thiêng nước độc. Làm sao tôi lại để nó đi được nhỉ? Sao tôi không đu lên tàu mà kéo nó xuống, sao tôi cứ lặng lẽ khóc mà không biết đấu tranh cho sự sống còn của chính nó và của tôi?
Đằng đẵng hơn mười năm trời, chồng nàng gần như chưa bao giờ hiện diện trong tâm trí. Có những cặp vợ chồng, nàng thấy, họ mắng chửi nhau thậm tệ, nhưng sau đó dường như người nào cũng thấy mình có ít nhiều lầm lỗi, nên lại thấy người kia tội nghiệp, lại thấy thương, lại làm lành, lại chăm sóc nhau như lúc ban đầu. Nàng thì chưa bị chồng tát cho một bạt tai nào chứ đừng nói tới chuyện nắm tóc cột vào chân giường, xé đốt quần áo. Nhưng mà sao cứ thấy nhạt như nước ốc. .
Nghĩ lại, nàng thấy mình cũng còn may. Có một bà mẹ chồng biết phải biết trái, không hà khắc con dâu là xưa nay rất hiếm. Ngày trước nghe bà nổi tiếng khó tính nàng rất lo sợ, nhưng có ở với nhau nàng thấy bà cũng đâu có khác gì mẹ ruột dù nàng chưa biết mặt mẹ. Cái lần nàng ngủ trong ang lúa, cứ tưởng bà sẽ chì chiết suốt đời, không ngờ bà nói như nói với con gái, “Dại chi mà dại rựa!” Đến bây giờ nàng vẫn thấy mấy tiếng dại chi mà dại rựa nó dịu ngọt làm sao. Một lời nói như vậy, dẫu có chết vẫn còn muốn mang theo xuống mồ cho nó ấm áp.
Hai mươi năm.
Không như ngày trước, chiến tranh không chỉ là bom rơi đạn nổ ở làng quê, mà bây giờ còn là đạn pháo kích vào thành phố,là lựu đạn nổ trong bar, là cầu bị gài mìn, là truyền đơn trong rạp hát, là xe hụ còi inh ỏi, là máy bay trực thăng bay lên bay xuống mệt nhoài để tải thương, là bồng bế gồng gánh, cả người và trâu bò chen chúc nhau vào thành phố. Cái bộ mặt chiến tranh trở nên đểu cáng hết chỗ nói. Thả bom cho nát bét ra rồi hội này hội nọ tới cứu trợ. Đốt làng đuổi dân chạy như chuột rồi dựng lều dựng trại tiếp cư. Đùn đẩy đàn bà trẻ con đi biểu tình chửi mắng để cho lính bắn rồi lu loa lên là tàn ác dã man. Chiến tranh quy ước, chiến tranh nhân dân, chiến tranh chính trị, chiến tranh kinh tế… đủ thứ chiến tranh trút xuống như mưa trên đầu những người dân vô tội.
Một sáng nọ có một người đàn bà ăn bánh canh xong lại lẽo đẽo đi theo nàng. Đến một chỗ vắng người, bà ta dúi vào gánh nàng một xấp truyền đơn. Bà bảo bà biết rõ chị là ai và vừa khuyên vừa doạ chị hãy tỏ ra xứng đáng với chồng và con. Nàng sợ đến nỗi không dám đi bán nữa mà gánh chạy tuốt về nhà. Mẹ chồng hỏi, “Sao về sớm,” nàng bảo, “Con thấy chóng mặt nhức đầu quá.” Bà bảo, “Thôi còn bao nhiêu để lại ăn khỏi nấu cơm. Ngã bệnh thì khổ.” Nàng dạ, rồi vội vàng xuống bếp ném thẳng vào lửa. Mãi đến khi tất cả đã thành tro, nàng vẫn còn run.
Hai hôm sau, cũng người đàn bà đó cố ý bỏ quên một cái xách tay trong một tiệm ăn. Đến trưa thì nó phát nổ.
Thế là người ta bắt đầu chú ý đến những gánh hàng rong, những thúng xôi, những rổ bắp. Những gã đàn ông không ăn quà chỉ đứng xa xa hút thuốc. Là công an chìm, là mật vụ. Những con mắt cú vọ theo đuổi nàng như những con ruồi bay theo nồi bánh canh. Cả trong giấc ngủ nàng cũng mơ thấy những tờ truyền đơn bay chấp chới và những trái lựu đạn nằm lăn lóc.
Nàng sợ tưởng sắp phát điên, đành nói thật với mẹ chồng. Bà cụ thở dài. “Đồ vô hậu,” bà nói, “thôi để mạ sang cho một sạp bán quần áo cũ. Mạ chỉ còn chút ít để dành lo đau bệnh. Cũng đành dốc hết ra mà làm ăn chớ biết sao! Loạn chi mà loạn rựa tề!”

3

Sạp bán quần áo cũ sang lại ở chợ nhỏ khu Năm. Mỗi bề rộng một thước rưỡi chỉ đủ đặt một cái thùng gỗ cao hơn nửa thước. Có đến nửa thùng là đồ viện trợ gồm những cái váy to như bồ lúa, những chiếc quần kaki rộng thùng thình mà dân tản cư thường chọn mua lấy vải để may cho chồng con. Nó vừa rẻ vừa chắc. Nhiều bà, trời lạnh, cả mấy mẹ con cùng chui vào một cái váy là đủ ấm, khỏi cần phải chăn nệm. Các bác xích lô, bốc vác lại thích quần áo lính ta, trong khi thanh niên, công chức thích vải gabacdin của Mỹ. Ngoài ra còn có giày bố, giày bốt đờ sô… Cửa hàng tầm tầm nhưng cũng đã vét của bà Cửu đến những lạng vàng cuối cùng.
Được ngồi suốt ngày trong mát, được ăn mặc sạch sẽ dễ coi, nên dù không phấn son như mấy cô bán hàng khác, nàng vẫn có một nét đẹp mặn mà. Không ai nghĩ là nàng đã quá ba mươi. Trái lại người ta cứ tưởng là nàng kén chồng hơi kỹ nên tận bây giờ vẫn chưa có ai.
Trong số những người để mắt đến nàng có một anh công chức làm ở toà hành chánh. Anh đã mua của nàng cả chục bộ quần áo treo đầy tủ nhưng không mặc bao giờ. Cứ mỗi lần ghé lại là anh mua một bộ. Anh chỉ chọn lựa, trả tiền rồi đi, không nói với nàng tiếng nào. Chừng như, mối tình của anh tính theo quần áo, đã đến lúc chạm nóc tủ, anh liền mua tặng nàng một chiếc nhẫn.
Nàng ngạc nhiên bảo là nàng có chồng rồi nhưng anh không tin, anh bảo là anh sẽ cưới nàng làm vợ và nàng sẽ chỉ ở nhà lo cơm nước khỏi phải buôn bán chi cho khổ cực. Nàng hơi bối rối, nhưng cái ý nghĩ lấy chồng một lần nữa làm cho nàng cười thầm.
Ừ nhỉ, sao không bỏ quách mà đi lấy chồng khác như nhiều người vợ có chồng tập kết mỏi mòn không chờ đợi được. Có chồng, còn là một cách vứt bỏ cái mũ thân cộng đang đội trên đầu, là xoá sạch quá khứ tối tăm hướng đến một tương lại sáng sủa. Có chồng, được quá đi chớ. Nàng đâu đã già.
Nhưng, dù anh Bùi Văn Bang yêu đảng hơn yêu vợ, và Bùi Văn Mỹ dù đã được đổi thành Bùi Văn Liên Xô cũng vẫn là con nàng, cho nên dẫu có phải đội hàng chục cái mũ thân cộng trên đầu thì nàng cũng không thể nào hất xuống mà đi lấy chồng được.
Chỉ khổ một điều, trong bóng tối người ta vẫn tưởng là nàng chung thuỷ với chồng và trung thành với đảng nên vẫn tìm cách liên lạc để xin được tiếp tế hay mua thuốc tây. Những lần như thế, nàng phải lén lút mua gửi lên núi mà xong việc rồi đến cả tháng vẫn còn sợ. Nếu mật vụ biết được thì chẳng những nàng bị đi tù mà sạp hàng, cơ nghiệp của mẹ chồng cũng bị tịch thu sạch!
Đồng tiền trong chiến tranh như nước chảy vào chỗ trũng. Dân càng chạy loạn nhiều thì túi càng rổng, trong khi những người phố thị túi lại cứ càng ngày càng đầy lên. Nàng tuy chẳng thấm vào đâu so với những nhà buôn lớn, nhưng cứ thêm nhiều làng bị đốt là nàng lại bán thêm được nhiều hàng. Ngoài chuyện đủ ăn đủ mặc, nàng còn dành dụm gửi mẹ chồng mua vàng. Giờ đây, nàng đẹp hơn, tươi tắn hơn, áo hoa quần lụa chứ không phải thô nhám, xấu xí và đã biết lén thoa một chút phấn, bôi một chút son mỗi khi ra chợ. Có người rủ nàng phi dê nhưng nàng lắc đầu không chịu. Ai lại để cái đầu như tổ quạ. Nhưng nàng cũng biết để cho thợ hớt bỏ cái búi tóc và kẹp bằng một cái kẹp đồi mồi. Những người quê cũ gặp lại nàng đã phải kêu lên, “Chu cha sao bữa nay đẹp dử dẫy?”
Mặc dù nàng không chịu nghiến răng cắt đứt quá khứ, nhưng cái tuổi xuân hơ hớ cứ như gọi như mời, hết anh thư ký tỉnh lại đến một anh thượng sĩ.
Đó là một người cũng ngoài ba mươi như nàng. Một người Bắc di cư ăn nói từ tốn nhỏ nhẹ. Anh không tán tỉnh, không chọc ghẹo nàng. Anh chỉ làm như tình cờ một bữa trưa ghé qua hàng của nàng không mua mà xin đổi một đôi bốt đờ sô vừa chân, bù bao nhiêu cũng được. Sau một hồi xỏ chân thử hết đôi này đến đôi khác, anh chọn được một đôi giày Mỹ mới toanh. Anh hỏi nếu bán thì giá bao nhiêu. Theo lời mẹ chồng dặn, nàng nhìn mặt anh một lúc rồi nói năm trăm. Anh rút bóp đếm tiền trả đủ, không cò kè thêm bớt. Anh lại để đôi giày của mình nói, tôi không cần đến nó nữa, rồi anh đi. Tuy được món lời kha khá, nhưng nàng cũng thấy bình thường, chẳng một chút gì để ý đến anh ngoài cái ý nghĩ là anh ta làm ra bộ bảnh.
Nàng quên mất anh ta cho đến một hôm trời mưa như trút, nước trong chợ dâng lên đến chân sạp. Nàng loay hoay lo dọn dẹp. Đúng lúc ấy anh ta xuất hiện và giúp nàng che chắn cho khỏi dột. Để cảm ơn anh, nàng kéo mấy chồng quần áo vào trong cho anh ngồi ghé lên sạp.
Anh đem kẹo lạc ra mời, nàng lắc đầu. Nàng lờ mờ cảm thấy anh ta cười cái tiếng nẫu, nên nàng chỉ ngồi im nghe anh nói. Không ngờ cũng giống như trời mưa, anh tuôn ra hàng bao nhiêu chuyện. Anh nói tới những miền quê xa xôi của anh, những con đê cao vút, những mái chùa xanh rêu, những cổng làng với cây đa, rồi tới những ngọn tháp Chàm ở Bình Định…
Với một giọng ấm áp, thân tình anh đưa nàng đi từ chùa này đến tháp nọ. Nàng trố mắt ra nhìn anh như một cô bé ngây thơ mười lăm tuổi. Mãi đến khi anh đi rồi nàng vẫn còn ngẩn ngơ vì lần đầu tiên nàng được nghe một người đàn ông ăn nói dịu dàng đến thế. Không như chồng nàng lúc nào cũng dấm dẳng nếu không muốn nói là như dùi đục chấm mắm nêm!
Rồi sau đó, thỉnh thoảng những buổi trưa chợ vắng khách anh lại tới.
Vẫn những câu chuyện thương nhớ quê hương xa xôi, vẫn những nỗi buồn trầm trầm lành lạnh. Dường như tất cả những thứ ấy đang ẩm mốc trong lòng anh cần phải đem ra phơi nắng và nàng chính là thứ nắng mới ấm áp mà anh cần. Lạ lùng làm sao, là chính nàng cũng có những thứ cần đem ra phơi dưới ánh nắng của anh. Không còn sợ anh cười cái tiếng xứ nẫu nữa, nàng cũng nói về con sông chảy qua làng, những cánh đồng lúa chín, những trái chim chim dúi dẻ ở núi Đất, về bộ râu dài và trắng như bông lau của cha, về tiếng gọi mẹ ơi nũng nịu của con trai.
Dĩ nhiên nàng không nói về chồng. Nhưng anh nói về vợ anh. Cô ấy đẹp, thích chưng diện, thích phiêu lưu tình ái, nên không chịu bay về cái tổ nghèo nàn không được ấm của anh.
Thế rồi người nọ thấy nhơ nhớ người kia và người kia thấy thinh thích được gặp người nọ.
Một ngày đẹp trời mùa hạ, bỗng nàng bằng lòng chịu để anh đưa đi chơi. Anh đã đưa nàng lên tháp Đôi sờ những viên gạch đỏ thắm dù đã ngàn năm, đưa xuống Gành Ráng thăm mộ Hàn Mặc Tử, rồi đi ăn cao lâu ở tiệm người Tàu.
Lần đầu tiên nàng được một người đàn ông gắp bỏ vào chén những con tôm bóc vỏ, những miếng mực trắng bong, rót nước ngọt cho nàng uống.
Lần đầu tiên nàng thấy mình được chìu chuộng cứ như một khách quý.
Suốt một ngày, nàng như một con nhộng được anh ta trói buộc bằng những sợi tơ mềm. Cho nên khi anh nằm xuống bên nàng nhẹ nhàng cởi cúc áo, nàng đã không bỏ chạy trốn vào ang lúa! Nàng cũng không cảm thấy mình bị cưa xẻ ra làm đôi và dường như nàng có kêu lên nhưng không phải là tiếng thét hãi hùng.
K.B.C của anh là…
Số quân của anh là…
Đơn vị của anh là …
Nơi đóng quân của anh: Phú Tài.
Nhiệm vụ của anh: giữ kho đạn.
Anh hứa tháng tới anh sẽ cưới nàng cho dù nàng là vợ của cán bộ đi tập kết. Anh nói, “anh không đủ sức giải phóng miền Bắc. Anh chỉ đủ sức giải phóng em”.
Và họ tạm xa nhau.
Anh về kho đạn, nàng về sạp hàng.

4

Một tháng sau không thấy anh.
Hai tháng sau không thấy anh.
Ba tháng sau cũng không thấy anh.
Nhưng nàng thấy mất kinh đã hai lần!
Một hôm, đang ngồi ăn cơm, mẹ chồng bỗng hỏi, sau khi nhìn sững vào cổ nàng, “Mi có mang rồi hỉ?”
– …Ơ mà…!
– Có mang mà không biết à?
– Dạ… Con chỉ thấy tắt kinh!
– Rựa là có mang rồi! Ai? Chẳng lẽ thằng Bang mò về?
– Dạ không…!
– Với người khác hả? To gan chưa tề! Thế hắn ở mô?
– Dạ ở Phú Tài.
– Làm chi?
– Dạ lính.
– Rứa là tiêu đời mi rồi. Lính tráng làm sao tin được. Nay chỗ này mai chỗ khác, hắn quất ngựa thì biết tìm mô!
– Ảnh hứa sẽ cưới con.
– Ai cho hắn cưới mà cưới. Nói sướng chưa. Vậy mà mi tin hắn?
– Dạ con lỡ dại!
– Đã ba lăm tuổi đầu mà dại à?
– Dạ, thưa mạ tha tội cho con.
– Tội lệ chi mi. Chỉ có tội con gái già này thôi. Cả tiền oan nghiệp chướng của cả nhà họ Bùi chỉ trút lên đầu tau mà thôi!
Bà buông đũa đứng lên. Ngay cả những lần bị gọi lên quận để tra hỏi về tung tích của chồng con cũng không làm cho nàng sợ như vừa rồi.
Đêm hôm đó nàng khóc ướt cả gối.
Chẳng lẽ anh ta quất ngựa như mạ nói. Nhiều người trong chợ bảo chớ tin những cái miệng người Bắc. Nàng cũng đã phát khùng với những cái miệng như thế. Nhưng với anh, không hiểu sao nàng lại tin. Tin hơn cả cha, hơn cả mẹ (nếu còn mẹ). Anh đâu có nói nhiều, cũng không trao nhẫn. Anh chỉ đón nhận một cách trân trọng những gì nàng đã trao và nói như đinh đóng cột, “Coi như chúng mình đã là vợ chồng.”
Không thể chờ đợi được nữa, nàng nghỉ một ngày chợ, đi xe lên Phú Tài. Có phải ra Bắc đâu mà không thể tìm tới.
Người sĩ quan trực sau khi nghe nàng nói là vợ chưa cưới, liền chỉ tay về phía những bức tường ám khói, những miếng tôn vặn vẹo, cháy đen. “Đấy là cái kho đạn vừa mới bị pháo kích,” ông ta nói, “Chẳng tìm được chút gì của anh ta. Thành thật chia buồn. Phải chi đã cưới nhau thì đơn vị sẽ làm hồ sơ để cô nhận chút ít tiền tử.”
Nghe chưa xong, nàng đã ngất xỉu tại chỗ.
Phần số của tôi như thế này sao? Tôi biết mình sinh ra là để chịu đựng, nhưng cũng một vừa hai phải thôi, chứ cay nghiệt như thế này làm sao tôi chịu đựng nổi! Tôi có tội tình gì? Anh có tội tình gì? Chẳng lẽ thương nhau là một cái tội. Hay là tôi ngu dại quá. Phải chi tôi lấy một anh thư ký hành chánh thì tôi đã được yên thân rồi. Còn anh, sao không chọn làm lính văn phòng mà lại đi giữ những thứ giết người để nó làm cho anh tan xác. Ai chết đi cũng có một nấm mồ. Còn với anh như thế, tôi biết tìm đâu mà thắp cho anh một nén nhang.
Trở về nhà, nàng nằm suốt ba ngày không ăn uống. Mẹ chồng cũng hơi lo. Bà vào buồng, ngồi xuống bên cạnh nàng. Bà nói trong tiếng thở dài, “Dại chi mà dại rựa! Hắn trốn mất rồi phải không?” Nàng bỗng ngồi dậy ôm chầm lấy bà khóc nức nở, “Anh ấy chết rồi mạ ơi!” “Ủa, răng mà chết,” bà hỏi dồn. “Dạ bị pháo kích.” “Trời, ạc chi mà ạc rựa!” Bà lại kêu lên câu nói quen thuộc. Một lúc sau bà nói, “Thôi đừng khóc nữa. Cũng may còn được giọt máu của hắn, đừng có dại dột mà đi phá. Mạ sẽ giúp cho con sinh nở đàng hoàng.” Rồi bà lại nói tiếp một cách ngậm ngùi, “Cũng hay đấy, vậy là mạ sẽ có cháu bồng!”
Năm ấy, trời bỗng mưa suốt hai tháng. Bà Cửu nói, “Chắc Diêm vương đi lấy gỗ về xây cung điện. Hà bá phải dâng nước lên mới đem đi được.” Ngọn núi trước mặt sạt một mảng lớn. Chợ lúc nào cũng ngập. Nàng lội nước mãi, chân trắng bệch, sưng phù lên. Bà Cửu bảo ở nhà nhưng nàng nghĩ sắp đẻ chửa, kiếm được đồng nào hay đồng nấy. Ngồi không mà ăn, dù của núi cũng lở huống hồ là cái sạp đồ cũ bé nhỏ của nàng.
Lúc này, VC áp sát thành phố. Chỗ nào cũng bị gài chất mổ, ném lựu đạn. Liên gia đại biểu lập danh sách đen những gia đình thân cộng. Nhà nàng đứng đầu sổ. Đây có thể là đầu mối giao liên, là cơ sở. Sạp hàng của nàng bị dòm ngó rất kỹ.
Một hôm, trên đường ra chợ, không có một cớ gì hết, nàng vẫn bị bắt đưa về đồn. Một nữ an ninh hỏi nàng:
– Chửa ai đó? Nàng lặng im.
– Câm à? Mụ đập bàn quát.
– Tôi chửa ai thì việc gì đến bà!
– Chồng đi tập kết, không chửa chồng thì chửa ai?
– Không chửa chồng bà là được rồi.
– A, mày dám láo với bà hả. Bà sẽ cho mày tù rục xương. Chồng mày ở đâu, nói mau!
– Tôi không biết!
– Chỉ biết chửa thôi à?
Mụ nguýt nàng một cái rõ dài rồi tống giam. Mãi ngày hôm sau bà Cửu mới tìm được chỗ giam nàng. Như một con gà mái xù lông để che chở đàn con trước diều hâu, bà cũng xù lông ra trước bọn an ninh. Bà lớn tiếng:
– Răng mà nhốt con tui?
– Con gái bà ?
– Con dâu.
– Vậy bà là mẹ Việt Cộng?
– Thì đã sao!
– Có chứ. Bà phải nói con bà trốn ở đâu. Nếu không cũng bị giam đấy!
– Thì cứ giam tau đi!
Nói thế chứ không ai muốn giam bà.
Buổi chiều bà lại đến. Rất bất ngờ, bà lôi từ trong bụng ra một chai xăng, “Tau tự thiêu như Thích Quảng Đức cho mà coi.” Người ta vội vàng ôm chặt lấy bà. Và cũng vội thả nàng ra. Từ đó, cả xóm cây xăng ông Tề đều gọi bà là bà Huế lựu đạn.
Cuối năm, nàng sinh một đứa bé trai, tính ra thiếu mất một tháng. Nó được ghi trong khai sinh là con tư sinh. Và vì sinh ở Qui Nhơn nên nàng dặt tên nó là Trần Văn Qui Nhơn. Nó èo uột khóc ngằn ngặt suốt cả ngày lẫn đêm. Cả nàng và mẹ chồng đều phải khổ vì nó. Mặc dù chẳng phải máu mủ ruột rà, nhưng bà Cửu lại rất thương thằng bé. Bà nói, “Chẳng đứa mô tội nghiệp như nó. Mới tượng hình trong bụng mẹ mà đã mồ côi cha. Chết chi mà chết oan chết ức. Từ nay lấy ngày kho đạn nổ mà cúng kỵ.”
Thật hiếm có người mẹ chồng nào như bà. Chỉ cần thấy con dâu vác cái bụng chang bang về nhà là đã nổi xung thiên lên rồi. Không tống cổ ra khỏi nhà đã là may. Lại còn cho phép giỗ thằng chồng mới trong nhà, lại xưng bà ngoại với thằng bé. Vậy thì có khác gì là mẹ đẻ. Nàng xúc động nói, “Con xin cảm ơn mạ. Không có mạ, con chẳng biết day trở ra làm sao!” Bà nói, “Ừ, nghiệp chướng chẳng phải riêng gì tau mà còn cả mi cũng phải chịu. Thôi rán mà ăn uống giữ gìn. Nghĩ mà thương cho thằng Mỹ, chẳng biết lúc nào nó về! Còn thằng cha nó nữa, dại chi mà dại rựa”!
Nghe nhắc đến hai cha con, nàng ngồi ôm mặt khóc nức nở.
Đúng là khôn ba năm dại một giờ. Dù sao tôi cũng có lỗi với anh. Có khác gì tôi đi ngoại tình. Nhưng anh cũng biết đấy, sống với anh tôi héo hắt biết chừng nào. Chỉ đến khi gặp anh ta, tôi mới biết cuộc đời tôi có thể tươi lên đôi chút. Tôi chẳng ham gì chuyện ân ái, nhưng buổi chiều hôm đó, dưới bóng nắng lưa thưa, tôi thấy mọi sự tự nhiên như nước sông là phải chảy, giọt mưa là phải rơi. Tôi lại càng có lỗi với con tôi. Chính mẹ mới phải xấu hổ vì con, chính mẹ mới bị con mắng té tát vào mặt. Nhưng mà con ơi, suốt bao nhiêu năm không thấy mặt con, lòng mẹ lạnh lẽo quá. Mẹ là đàn bà, mẹ cũng cần có tiếng khóc tiếng cười để sưởi ấm cho mình. Dù cho thế nào thì nó vẫn là em con, vẫn trong bụng mẹ mà chui ra, vẫn cùng bú sữa của mẹ. Vả lại, anh ta đã không còn trên đời này nữa thì nó chính là giọt máu linh thiêng mà tôi phải thờ phụng. Tôi phải nuôi nó thành người. Tôi sẽ không để cho ai cướp đoạt con tôi một lần nữa.

5

Nhờ được chăm chút, nâng niu, thằng bé rồi cũng qua khỏi cái “đốt” khó nuôi. Nó đã biết chạy biết chơi như những đứa trẻ khác. Trong căn nhà nhỏ lúc nào cũng rộn vang tiếng nói tiếng cười. Giữa hai người đàn bà bao nhiêu năm khô mục héo hắt, nó vươn lên như một mầm xanh tươi mới. Tết này nó được ba tuổi. Nó đã có thể nắm áo theo bà đi lễ chùa.
Hàng họ khá đắt, nàng định năm nay sẽ ăn một cái Tết to. Sẽ mua một nhành mai để giữa nhà, sẽ đốt pháo, sẽ mua cho con quần áo đẹp, giày trắng và mũ kết đỏ. Tuy chưa dám nói ra nhưng nàng dự tính sẽ thuê xích lô để hai mẹ con lên thăm tháp Đôi. Rồi lớn thêm một chút nữa, nàng sẽ đưa nó đi ăn ở tiệm cao lâu, sẽ đi thăm Gành Ráng, nơi mà từ đó như hương hoa của đất trời, nó đã được sinh ra. Nó càng lớn, nàng càng nhớ người cha tội nghiệp của nó, nhớ cái phút giây kỳ lạ như một ánh sao băng bay qua giữa trời.
Dù vẫn không ngớt bị pháo kích, dù cái vòng đai an ninh đã bị thu hẹp lại dần, nhưng dân thành phố vẫn rộn ràng chuẩn bị một cái Tết có lẽ là sẽ to hơn mọi năm. Dường như chiến tranh kéo dài lâu quá khiến người ta chai lỳ. Biết đến bao giờ có hoà bình mà chờ. Biết chết nay sống mai đâu mà đợi. Thôi thì sống được ngày nào hãy cứ sống. Vả lại, tết năm nào chẳng có hưu chiến. Hai bên cũng phải nghỉ xả hơi chứ. Thế là rượu cứ chảy tràn, bia cứ việc rót tới, áo quần là lượt cứ đem ra mà mặc, xe cứ chạy như bay…
Pháo đã nổ ran từ hăm ba tháng chạp để đưa ông táo về chầu trời cho nhanh. Pháo lại nổ suốt chiều ba mươi để đón rước ông bà tổ tiên. Rồi pháo lại rền vang hơn lúc nào hết trong đêm giao thừa. Cái phút giờ huyền bí linh thiêng ấy đã mở ra trong lòng mọi người cánh cửa của bình minh. Người ta chúc mừng nhau đã sống thêm được một tuổi, đã tai qua nạn khỏi, đã tránh được hòn tên mũi đạn… Tủi tủi, mừng mừng, những người lính xa nhà thay tiếng pháo bằng tiếng súng. Bắn cho đỡ nhớ người yêu, bắn cho tan nỗi buồn “Xuân này con không về thăm mẹ.”  Súng to, súng nhỏ đều ngửa nòng lên trời mà bắn.
Nào ai có ngờ, cộng sản cũng muốn ăn một cái tết to bằng… súng đạn! Súng của họ không chỉa lên trời mà chỉa vào những đồn bót “ngọn cờ ngơ ngác trống canh trễ tràng”! Từ sông Bến Hải đến mũi Cà Mau, đạn của lính miền Nam xé nát bầu trời, còn đạn của lính miền Bắc xé tan những lồng ngực. Những người lính đang nhớ mẹ, nhớ người yêu, ai ngã xuống thì cứ ngã, ai tỉnh giấc mơ thì cứ đều quay ngang đầu súng mà thi nhau vãi đạn về phía những người anh em lật kèo. Đạn đan nhau còn dày hơn lưới một. Mọi người đều nằm rạp xuống sàn nhà.
Bỗng một tiếng nổ to: kho xăng ông Tề đã bốc cháy.
Bà Cửu và nàng ngồi ôm thằng bé nép sát vào một góc nhà. Ánh sáng của ngọn lửa kho xăng soi rõ như ban ngày. Nó nhắm mắt, rúc sâu vào ngực mẹ.
Vậy là hết Tết, hết mặc quần áo đẹp, hết đi lên tháp Đôi. Chưa bao giờ nàng thấy buồn như lúc này.
 
Ba ngày sau phía bên kia rút. Bên nào cũng nói chiến thắng. Chỉ có cửa nhà đổ nát, người chết và bị thương là thất bại hoàn toàn. Mặc dù rất bàng hoàng, lo sợ, nhưng mọi người cũng phải lao vào cuộc sống. Chợ vẫn nhóm và tại đây người ta kháo nhau đủ thứ chuyện mà ai cũng bảo là chính mắt mình trông thấy. Cảnh bắn nhau, cảnh rượt đuổi trên đường phố. Và nhất là những xác VC được đem ra phơi nắng như những chiến công. Có người rủ nàng đi xem. Nàng rùng mình lắc đầu.
Buổi chiều, đang lay hoay dọn dẹp, có một người ngó trước nhìn sau, lén đưa nàng một tấm hình.
Đó là tấm hình đen trắng đã ố vàng. Nàng cũng có một tấm hình như thế, chụp hai mẹ con ở Đập Đá. Nàng muốn hỏi xem ở đâu mà có được. Người ấy nháy mắt ra dấu bảo dọn hàng. Nàng liền tộng tất cả vào thùng, khoá lại rồi đi theo.
Quanh co một hồi ở khu Sáu, hai người đến một căn nhà không số. Cửa hé mở cho nàng vào nhà, người ấy ở lại bên ngoài cảnh giác. Chủ nhà là một cơ sở đưa nàng ra sau. Trong gian buồng tối tăm chật chội, một người bị thương nhuộm đầy máu đang nằm thở thoi thóp. Đó là chủ nhân của tấm hình.
Đây là con tôi, đứa con bé bỏng tội nghiệp đã xa mẹ gần mười lăm năm.
Đây là con tôi, là con của tôi, cho dù nó có là Việt Cộng.
Con ơi, sao lại về với mẹ trong tấm thân rách nát như thế này?
Sao con không đi Liên Xô Trung Quốc như cha con bảo?
Còn cha con sao không bảo bọc che chở, sao để con Tết đến không được một chiếc áo mà mặc, trên người chỉ có mỗi một chiếc quần cụt!
Sao con về mà không đi thăm mẹ, sao không để mẹ mua quần áo mới cho con, sao không để mẹ dọn cơm ngon canh nóng cho con, sao không nằm ngủ bên cạnh mẹ một đêm, sao con không mừng tuổi bà nội?
Trời hỡi, tôi biết kêu ai, biết gọi ai! Ai cũng lặng câm, những người chỉ biết đứng sau lưng đàn bà và trẻ con mà hò hét, mà xúi dại như xịt chó vào bụi.
Nàng gục đầu lên ngực con muốn gào khóc thật to. Nàng nghe tiếng thì thào, “Mẹ ơi, mẹ đấy hả mẹ?”
Nàng vừa khóc tấm tức, vừa bế con lên. Người ta hỏi, “Làm gì vậy?” “Đi nhà thương,” nàng nói thảng thốt. “Không được đâu. Đem đi là lính bắt ngay!”
“Dù có bị bắt, dù có tù đày, tôi cũng phải cứu được con tôi.”
“Đã bảo là không được. Đưa bà tới đây là để cho đồng chí ấy được nhìn mẹ lần cuối, chứ cứu chữa được gì!”
“Vậy sao? Không ai cứu được con tôi sao. Thì bom đạn hãy rơi xuống đây cho mẹ con tôi cùng chết.” Nàng không giữ gìn gì nữa, gào to lên.
Người chủ nhà hốt hoảng bịt miệng nàng, “Lộ ra là chết cả đám!”
Trong tay mẹ, Bùi Văn Liên Xô bỗng rùng mình như một con gà vừa bị cắt tiết, rồi tắt thở.
Phải khó khăn lắm nàng mới đưa được xác con ra khỏi thành phố. Nhiều chốt kiểm soát được dựng lên để ngăn không cho VC thoát ra ngoài. Người ta nghĩ rằng VC nhiều mưu mẹo có thể chui vào hòm giả người chết để trốn đi. Vì vậy, ngang qua chốt nào cũng bị bắt mở nắp. Người ta lật khăn liệm, sờ nắn, xem đã chết thật chưa.
Xe đến Đập Đá, chủ xe không chịu đi tiếp xuống làng vì sợ mìn. Phải mướn tám người thay nhau khiêng mới đến được chân núi Mồ Cu, là nơi thằng bé từng hỏi mẹ sao con chim nhỏ mà mồ lại to thế. Người ta chôn vội chôn vàng để kịp về khi trời tối.
Thôi con hãy nằm lại đây, còn hơn là phơi xác trên rừng Trường Sơn hay làm mồi cho cá mập ở dưới biển. Chim cúc cu sẽ gù cho con nghe, bông dúi dẻ sẽ toả hương cho con ngửi. Ông ngoại sẽ chống gậy đến thăm con, sẽ cho con đường phèn để con nhai lộp cộp. Mai mốt hoà bình, mẹ sẽ xây cho con ngôi mộ to và đẹp. Mẹ sẽ đặt bia đề tên là Bùi Văn Mỹ chứ không phải Bùi Văn Liên Xô. Giờ con là con của mẹ, không ai rù quyến phỉnh gạt con được nữa. Con vẫn trong trắng ngây thơ như ngày nào. Con sẽ gọi mẹ ơi mẹ ơi khi mẹ đến thăm con.
Giữa cây cỏ hoang vu, nấm mồ trông bé xíu như những cái mả chuồn chuồn mà lúc nhỏ hai mẹ con thường chơi trò đám tang. Những sợi khói mong manh, khói của nhang và của trấu tan nhanh trong bóng hoàng hôn.
Năm ấy là năm Mậu Thân, hãy nhớ lấy!

Trần Văn Qui Nhơn

1

“Nó là đứa nào?” Người đàn ông hỏi.
“Là con tôi”, người đàn bà nói.
“À ra là vậy. Thảo nào thằng Bùi Văn Liên Xô chết!”
“Ông đừng nói với tôi cái giọng như vậy.”
“Thế thì giọng nào. Con bị thương mà rửng mở với thằng lính Ngụy, bảo sao nó không chết”.
“Ông câm cái họng lại. Nó chết là do ông và cái đảng đáng nguyền rủa của ông. Sao ông không đi giải phóng mà bắt nó đi?”
“Tôi cấm bà nói thế. Tôi cũng cấm bà và cái dòng giống Mỹ Ngụy kia không được ở trong nhà này nữa.”
“Ông không cần phải đuổi. Cái nhà này là của mẹ ông mua mặc dù đã làm giấy cho tôi. Khi thằng Bùi Văn Mỹ chết rồi thì tôi và ông chẳng còn là gì với nhau nữa”.
Đó là những lời đối đáp của những người đã xa nhau trên hai mươi năm, giờ gặp lại.
Đó cũng là buổi tối mà cái quạt máy trên trần nhà quay 360 độ, cứ nghiêng qua nghiêng lại như máy bay sắp thả bom, khiến hai mẹ con của một người đàn bà khác cứ nép vào nhau, sợ sợ làm sao ấy!
“Đồ của tụi Mỹ, cái gì cũng như muốn giết người”, người đàn bà thầm thì với chồng.
Hai người rù rì với nhau, ước tính giá trị của những vật dụng đang bày biện trong nhà: cái TV, cái radô, cái máy hát đĩa, cái tủ lạnh, bộ xa lông trắc cẩm lai… dù đã cũ, vẫn là một tài sản khổng lồ, cứ như trong nhà của bộ trưởng.
Người đàn bà, lặng lẽ xếp áo quần bỏ vào trong túi xách. Đến trước bàn thờ bà lấy khung ảnh của một người đàn bà tóc bạc trắng, bọc giấy báo, buộc dây thun, nói với người đàn ông:
“Đây là ảnh của mẹ ông. Cũng là mẹ tôi. Tôi xin giữ lấy để thờ. Ngoài ra không lấy thứ gì khác.”
Bà bước ra khỏi nhà, dắt con theo.
Đằng sau vọng lại những tiếng nói, tiếng cười của người đàn bà giọng Bắc, vui còn hơn khi nghe miền Nam được giải phóng.
 

2

Đạn bom trong những ngày tháng tư tăm tối thực ra không tàn phá bằng những bàn tay của con người. Bọn hôi của làm chủ thành phố khi quân miền Nam rút đi trong khi quân miền Bắc chưa kịp tới. Bọn chúng bắn vào các ổ khóa, mở toang các cửa sắt những căn phố mà chủ nhân đã di tản, khuân hết gạo thóc, bột mì, nước ngọt, bia rượu, vải vóc, tủ giường, chăn nệm… Chúng cũng mở toang các sạp hàng ở chợ, vơ vét hết hàng hóa rồi châm lửa đốt chơi.
Cái sạp quần áo cũ của bà cũng giống như xương thịt của người chồng thượng sĩ, không còn lại một chút gì.
Hai mẹ con lầm lũi đi về phía ngoại ô. Nơi đây không có được cái ang lúa như ngày nào. Cũng không có được cái giường ngập trong bóng tối của mẹ. Nhưng có hai cái tháp đứng cạnh nhau gọi là tháp Đôi. Họ chui vào đó, ở chung với dơi, chuột.
Thế cũng xong.
Bà trở lại nghề cũ: bán bánh canh. Nhưng là bánh canh giả cua, vì người bán không mua nổi cua và người mua cũng không đủ tiền mua. Dù vậy, cái gánh hàng rong chỉ bán trong buổi sáng sớm cũng đủ tạm nuôi sống hai mẹ con.
Chiến tranh đã qua đi nhưng những người chiến thắng vẫn chưa thôi đánh những người chiến bại. Hết đánh tư sản mại bản đến đánh những tàn dư của Mỹ Ngụy. Lại khám nhà, lại kìn kìn từng đoàn xe chở hàng bị tịch biên. Lại đốt sách, phá những miếu âm hồn trên khắp nẻo đường quốc lộ.
Đánh xong đến xây.
Xây dựng đời sống mới. Từng đoàn thanh niên xung phong (thực ra là bắt buộc) đi đào kênh, đắp đập không công. Từng đoàn tù không mặc áo tù đi vào chốn rừng thiêng nước độc, gọi là học tập cải tạo. Và cũng từng ấy đoàn trẻ già trai gái lếch thếch bồng bế nhau lên núi, gọi là xây dựng kinh tế mới.
Trôi đi, trôi giùm cho mau những tháng năm dài không biết sống để làm gì!
Và mười năm trôi mau để cho con bà trở thành một thanh niên.
Giờ là lúc những người chiến thắng cao giọng. Mỹ còn đánh được thì Campuchia và Thái Lan là cái thá gì. Đặng Tiểu Bình bênh đàn em Pôn Pốt thì chơi luôn.
Chiến tranh lại nổ ra.
Con bà tuy không đi thi vẫn trúng tuyển nghĩa vụ quân sự.
Buổi tiễn đưa rộn ràng cờ xí, khẩu hiệu. Một màu đỏ nặng nề đang cố sức thổi bùng ngọn lửa cách mạng mùa thu đã tắt ngúm từ lâu. Hàng chục cái loa phóng thanh đang mở hết công suất để át đi những tiếng gào tiếng khóc. Của mẹ, của cha, của anh, của chị.
 

3

Thư viết vội của Trần văn Qui Nhơn:
Mẹ ơi, con đang ở trên đất giặc. Trời rất nóng. Chúng con thiếu nước uống. Thiếu cả lương thực. Thiếu cả đạn. Bọn giặc cởi truồng bôi lọ nghẹ, đợi đến đêm bò vào trại, gặp ai có áo quần là cắt cổ. Con sợ lắm. Lén viết mấy dòng gửi mẹ.
Thư được giấu trong một cái tượng con cóc nặn bằng đất sét.
Người đàn bà ngửa cổ nhìn lên đỉnh tháp. Ở đó có một khoảng trống hình vuông. Một chút da trời xanh thẳm.
Trời hỡi, làm sao cứu được con tôi, hỡi Trời!
Tiếng thét của bà vọt thẳng lên như một ngọn lao. Một bầy dơi bay qua, rải phân xuống đỏ như máu.
 

4

Lời kể của một người sau hai năm làm nghĩa vụ, cụt một tay, trở về:
“Bạn ấy chết thật rồi, thưa bác. Bọn cháu bị bao vây, nhưng chúng rất khôn, không tràn vào trại mà cố tình để ngỏ một đường rút. Chúng cháu trốn ra, bị chúng giết gần hết.”
“Thế cậu có giữ được chút gì của em nó không?”
“Chỉ có một tấm hình hai đứa chụp chung, cháu xin tặng bác.”
Người đàn bà nâng tấm hình trên hai tay. Hình đã cũ, nước thuốc ố mờ. Một tấm hình rất giống với hình của thằng anh đã chết. Hai đứa cùng một kiểu chống nạnh, rất chi là nhà quê. Nhưng đẹp xiết bao, quý xiết bao!
“Tôi xin cắn cỏ cắn rơm cảm ơn cậu.”
Năm ấy là năm 1990, hãy nhớ lấy!
 

5

Lại mười năm sau.
Tháp Đôi đã trở thành di tích lịch sử. Và là điểm tham quan du lịch của thành phố. Những người tá túc vật vạ như bà, tuy thần không đuổi nhưng người đuổi, phải tìm chỗ khác. Trên lưng chừng một ngọn núi đối diện, bên cạnh những người thợ làm nghề đá chẻ, bà dựng một căn lều bằng những thứ nhặt nhạnh được trong các kho đồng nát.
Có hai con đều chết trong hai cuộc chiến tranh, nhưng bà không được cấp nhà “tình nghĩa”. Dĩ nhiên cũng không được phong tặng “bà mẹ Việt Nam anh hùng”.
Bà lại sống trong tăm tối và cô đơn như hơn sáu mươi năm trước đây trong căn buồng của mẹ. Chỉ còn một chút an ủi, là từ đây, sáng trưa chiều tối, ngay cả những đêm không trăng, lúc nào bà cũng nhìn thấy hai ngọn tháp đứng cạnh nhau như hai anh em.
Bà nghĩ, chúng là con của bà. Chúng đỏ rực một màu khi nắng lên và vàng óng khi chiều xuống. Chúng đẹp xiết bao, rực rỡ xiết bao, cho dù một ngàn năm nữa sẽ trôi qua.

Khuất Đẩu
Viết lần 1, 2008
Viết lần 2, 2013

MẸ KHÔNG ANH HÙNG

khuatdau

Người đàn bà trong ang lúa

1
Lần đầu thấy kinh nàng khóc suốt 3 ngày đêm. Nàng cứ tưởng mình sắp chết đến nơi. Không một ai nói cho nàng biết, đó là chuyện bình thường của một người con gái đã đến tuổi dậy thì. Người đầu tiên có thể nói là mẹ, nhưng từ khi bập bẹ cho đến lúc thấy kinh nàng chưa hề một lần được gọi cái tiếng mẹ như những đứa bé khác. Nàng chỉ thấy cha nàng hốt hoảng đuổi những người đàn bà lúc nào cũng cầm một cái mo cau mệt mỏi bước đi giữa đám ruồi nhặng muốn bước vào nhà. Ông gọi đó là những người “gãy cẳng”. Nó vừa dơ dáy vừa xui xẻo, có thể làm nổ tròng mắt của những người đang đau mắt.
Nàng nằm khóc trong cái buồng của mẹ. Nó tối đến nỗi nàng tưởng mình cũng đã tan ra thành bóng tối. Trên trần là một cái lẫm đựng lúa, nơi lũ chuột ngày đêm rúc rích hết cắn lúa lách tách lại cắn nhau chí choé. Bên phải nàng là cái vách bằng gỗ ngăn cách chỗ ở tối tăm của người đàn bà với cái giường của người đàn ông. Mỗi đêm nàng đều nghe tiếng cha trở mình, tiếng rên và tiếng ngáy.
Chỉ một tấm vách thôi, nhưng khoảng cách giữa cha và nàng trong đời sống sao mà xa cách quá. Cứ như một người họ hàng đã phai nhạt đến bao nhiêu đời. Nàng rất ít khi được gặp cha, hay nói đúng hơn là không dám gặp. Chẳng phải vì ông đánh mắng mà vì, cũng chẳng hiểu vì sao nữa, nàng thấy trống ngực đập thình thình mỗi khi ông từ nhà trên bước xuống. Đó là chưa nói tới lúc phải đến đứng trước mặt ông mỗi khi có lỗi hay nghe ông dặn dò điều gì. Như lúc này đây, thà giết chết nàng còn hơn bảo nàng mang cái quần ướt đẫm máu đến gặp cha.
Sự xa cách ấy không hẳn dành riêng cho nàng mà dành cho tất cả đàn bà con gái trong nhà. Ngay lúc còn sống mà mẹ nàng cũng chưa bao giờ dám bước qua cái ngạch cửa cao ngang đầu gối, là ranh giới bất khả xâm phạm giữa nơi thờ tự, ăn ngủ của đàn ông. Mỗi khi có khách, nếu phải ra chào, mẹ nàng cũng chỉ đứng bên này cái ngạch cửa, nghiêng một nửa người mà cúi chào rồi lặng lẽ lui xuống bếp. Ngày giỗ tết, họ phải tắm gội sạch sẽ, phải mặc áo dài, phải ngồi bẹp xuống sàn nhà, xếp hai chân qua một bên, trải vạt áo trước ra che hai đùi, kéo vạt áo sau phủ kín mông rồi mới chắp tay kính cẩn vái lạy trước bàn thờ…Nếu lúng túng vụng về, trải vạt áo không ngay ngắn để hở đùi hở mông dù có mặc quần liền bị chê là không biết lễ phép.
Ông có biết đứa con gái út đã 3 ngày rồi không thấy mặt, nhưng ông không buồn lên tiếng hỏi nó đi đâu. Bởi vì cơm vẫn được dọn ra trên cái mâm bằng đồng được lau sạch bóng, đũa vẫn không bị so le, ngay cả bát nước để cho ông súc miệng trước khi ăn vẫn trong vắt. Đĩa rau luộc vẫn xanh và sắp ngọn theo ngọn, gốc theo gốc. Con cá liệt gần như vẫn không mất đi chút nào cái màu bạc óng ánh trên lưng. Nghĩa là vẫn như mọi ngày, vẫn có bàn tay của nó đụng vào hay ít ra cũng được nó để mắt tới.
Bảo rằng ông không biết thương con là nói quá cho ông. Cha sao lại không thương con. Vì thương con nên dù chỉ mới lọt lòng mà mẹ đã chết, ông vẫn không cho bà sơ đứa con gái đỏ hỏn vừa mới cắt rún. Ông phải vất vả tốn kém bao nhiêu mới nuôi được nó sống đến bây giờ. Nào phải kiếm cho ra chị vú, mà phải đến 3 chị thay nhau mới đủ sữa cho nó bú đến thôi nôi. Nào phải tìm đứa ở để bồng bế, phải lo sài đẹn ghẻ chóc. Gà trống nuôi con, mà lại là con mọn, cái khổ ấy ông cho trên đời không gì khổ bằng.
Đến ngày thứ tư, cái thứ nước lạ lùng ấy không còn âm ỉ chảy ra nữa và nàng thấy mình vẫn còn sống. Rồi những lần sau, những tháng sau, nàng vẫn tiếp tục sống như bao người con gái khác. Lúc ấy nàng mới biết hai tiếng “gãy cẳng” là gãy như thế nào. Cũng may, nhờ có chị dâu chỉ cho nàng biết cách giữ gìn để khỏi phải lúc nào cũng mang theo một cái mo cau như những người đàn bà mà cha nàng thường xua đuổi
Cuối năm ấy, sau 3 lần kinh nguyệt , nàng tròn 14 tuổi! Chị dâu may cho nàng một chiếc áo dài bằng lãnh đen. Nàng e thẹn bước qua cái ngạch cửa, lúng túng trải vạt áo ngồi lạy trước bàn thờ dưới cái nhìn nghiêm nghị của người cha. Sau đó, nàng lạy cha để mừng tuổi. Ông hơi mỉm cười, giọng nói cũng có vẻ ấm áp dịu dàng hơn thường ngày, nhưng nàng nghe như có một tiếng pháo nổ trong đầu. Nàng bàng hoàng lo sợ còn hơn cả lúc thấy mình “gãy cẳng”. Ông không nói với nàng mà bảo với chị dâu như ra lệnh:
“ Ráng lo năm nay em nó đi lấy chồng!”
Có một người cha như thế nên dù chưa biết lấy chồng là sao và dù có biết cũng không muốn, nàng vẫn chỉ có hai lựa chọn: một là lấy, hai là chết. Chỉ có vậy thôi, không kêu ca, không than thở gì hết. Nhưng cả hai việc lấy chồng và chết nàng chưa biết là gì thì làm sao chọn lựa được! Chính vì vậy mà nàng khóc mãi đến nỗi thâm quầng như bị ai đánh. Chẳng có ai lau cho nàng một giọt nước mắt, chẳng có người chị nào an ủi nàng một câu. Chỉ có lũ chuột tinh quái trên lẫm lúa là cười rúc rích suốt đêm.
Vừa qua khỏi rằm tháng giêng, đã thấy một ông trạc năm mươi quần cháo lòng ống cao ống thấp, cặp nách một cây dù, theo sau là một chàng mặt đầy mụn bước vào ngõ. Cha nàng chừng như đã biết trước, nên dù là người lạ chưa từng gặp vẫn bước ra chào hỏi ân cần. Họ bước vào nhà, ngồi xếp bằng trên phản gõ. Chàng trai đứng ngoài hiên. Cha nàng bày khay đựng bốn cái tách quý và gọi nàng từ dưới bếp lên nấu nước pha trà. Nàng định đi lên nhưng chị dâu nàng cười bảo để chị đi cho, người ta đến coi mắt đấy, em vào trong buồng mà thay áo quần cho sạch sẽ.
Một lúc sau nước sôi, chị dâu châm nước vào bình trà. Nàng chỉ có mỗi một việc bưng lên nhưng nàng thấy sao mà khó quá. Người ta thường bảo khó như đường lên trời nhưng nàng thấy giờ đây đường lên trời còn có vẻ dễ đi hơn. Một tay nàng cầm cái quai bình một tay nàng đỡ bình, nước sôi mới rót nóng đến bỏng da nhưng nàng cảm thấy tay mình như đang lạnh cóng. Khi bước qua cái ngạch cửa, ngón chân cái va vào gỗ cứng làm nàng lao chao suýt ngã . Cũng may là nàng bước qua được nhưng để giữ cho bình trà khỏi đổ, nàng phải chịu đau để cái vòi rót nước vào ngực. Sau này chỗ lõm xuống giữa hai cái vú nhỏ phồng rộp, khi lành còn kín đáo để lại cái vết sẹo xấu xí như trâu bò bị đóng dấu. Đó là kỷ niệm thấm thía trước ngày đi lấy chồng.
Lúc ấy, chàng trai đã lén vào nhà từ lúc nào đang đứng dựa cây cột. Chàng tuy nhìn xuống nhưng vẫn thấy được khuôn mặt vừa ửng đỏ vừa tái xanh của cô gái. Như thế là chàng đang “coi mắt”. Dĩ nhiên với cái mặt đầy mụn mà so với làn da ửng hồng trên mặt nàng thì với chàng, nàng quả là xinh đẹp. Còn nàng, dù sợ muốn đứt hơi nhưng vẫn lén nhìn chàng nhưng chỉ có thể nhìn hai ống quần trắng thả xuống sát đất che hai chiếc dép da màu đen mà thôi. Chẳng biết chàng cao hay thấp, đẹp hay xấu.
Những việc sau đó diễn ra nhanh đến không ngờ. Cha nàng tưởng là khó nhưng thật ra rất dễ. Hay là ông chỉ khó với con cháu trong nhà còn người ngoài thì không? Ông đã bỏ qua hết năm lễ bảy lễ gì đó, chỉ duy nhất một lễ ăn hỏi và rước dâu mà thôi. Ngay cả chuyện chàng trai phải ở rể đến 3 năm cũng miễn luôn.
Ông Hai Nhẫn, người làm mai của họ nhà trai chưa phải uốn cái lưỡi dài bảy tấc của mình ra, đã được ông thủ bản bỏ qua hết mọi chuyện để việc cưới xin trơn tru khiến cho ông thấy mình đúng là được sinh ra chỉ để làm cái nghề phước đức này.
Thực ra ông gặp may. Mọi sự trở nên dễ dàng đến quá nửa cũng là nhờ bà thủ bản đã không còn sống ở trên đời này. Dù cho người cha có dễ như cho không, nhưng người mẹ vì mang nặng dẻ đau không dễ gì để người ta đem đứa con rứt ruột của mình về nhà họ như thể đi mua một con heo. Bà sẽ đòi nào là kiềng chạm, xuyến ngọc, quần lãnh áo lụa cho con, sẽ đòi “bạc nát” tuy không thấm với công của bà đã nuôi con trong bấy nhiêu năm nhưng cũng đủ làm cho họ nhà trai chóng mặt. Gả chồng, ấy là lúc cái nữ quyền của người mẹ to đến nỗi lấn át cả người cha, là lúc màkhông có tôi thì lấy đâu ra con gái để cho ông muốn gả bán thế nào thì gả bán! Là lúc mà tiếng “hứ”của bà đanh gọn còn hơn cả tiếng pháo lệnh. Là lúc mà cái lưỡi của mai dong dù có dài đến ba thước cũng không dễ làm xiêu lòng bà!
Ông Hai Nhẫn mừng rơn khi nghe ông thủ bản nói,” anh về nói với chị bên ấy lo sao cho phải thì thôi, mẹ nó mất sớm, tôi chẳng biết đòi hỏi gì cho nó”. Ông Hai nhẫn khúm núm: “dạ, dạ” “Vậy thì cuối tháng ba này, ngày hai mươi mốt tôi đưa nó về làm dâu bên ấy”. “Dạ, dạ , hai mươi mốt tháng ba, dạ dạ…”
Hai ông vui vẻ uống hết bình trà. Chỉ có nàng đứng núp trong buồng nghe như đất sụt dưới chân mình. Hai mươi mốt tháng ba, chẳng biết ngày ấy mình có bị “gãy cẳng” hay không!

2
Tháng ba, lúa chín trĩu hạt. Ruộng vàng ươm như những nong kén. Đã nghe tiếng đập lúa và mùi cơm lúa mới thơm hương đất trời. Chưa bao giờ nhiều sao như những đêm tháng ba. Đêm của những giọng hò, đêm của hát bội. Đêm bình yên của đôi lứa bình yên.
Hai mươi mốt tháng ba, chắc là ngày đẹp nhất trong tháng và trong năm.
Chỉ còn hai hôm nữa là nàng sẽ về nhà chồng. Chỉ còn hai đêm nữa, nàng không còn được nằm trên giường của mẹ. Cái giường khô cứng, vạt đã gãy, chiếu đã sờn dù đã nhiều lần thay vẫn không hết rệp. Cái giường quen thuộc đến nỗi nàng quên mất nó đêm đêm vẫn nâng đỡ thân mình. Cái giường ấy, từ đây trong đời không còn là của nàng. Rồi cái bếp với ba ông táo bằng đất mà chỉ có ông táo chúa ở giữa là có rún. Tại sao là ông mà không là bà mặc dù truyện kể vì bà mà hai ông phải chết cháy. Rồi những gióng, những rế, cái đòn ngồi, cái que cời lửa, những chiếc đũa bếp, những chiếc đũa con, những trã những trách, những nồi đất nồi đồng, những sàng những nia, những thúng những rổ, cái dao phay nhọn mũi, cái thớt gỗ trũng sâu, những chén những bát… những thứ thân quen sẽ không còn gần gũi với nàng.
Hai ngày nữa, sao mà mau quá vậy hở Trời!
Không biết trên đời này có người con gái nào như tôi vừa mới sinh ra là mẹ đã bỏ tôi mà đi. Mẹ phải chết để cho con được sống. Mẹ đâu có phải con rắn lục trong bụi tre tự xé bụng của mình ra để cho lũ con bò đi. Tôi cũng đâu có phải hạt lúa tự nảy được mầm. Tôi lớn lên không có mẹ. Tôi sống bên cha như sống với người dưng. Tôi chưa hề được ve vuốt ẵm bồng. Tôi muốn yêu cha mà yêu không được. Cha tôi không phải là giếng nước trong để cho tôi thấy bóng mình in xuống. Cha tôi là cây cột cái đứng giữa nhà lúc nào cũng nhẵn bóng nhưng không phải để cho tôi đứng tựa đầu. Cha tôi như cái đòn dông cao tít trên nóc nhà với một lá bùa bát quái. Cha tôi chỉ để ngó từ xa chứ không để tới gần. Cha tôi có thể khom lưng xuống cho con trai đứng lên, nhưng không thể cúi xuống để nâng dậy một đứa con gái. Cha tôi là người của xóm làng, của đình miễu, của họ hàng giỗ chạp. Cha tôi tồn tại là để cho tôi khỏi mang tiếng con không cha như nhà không nóc. Và cái tình thương yêu lớn nhất mà ông có thể dành cho tôi, là gả tôi lấy chồng một cách đàng hoàng. Là để tôi làm dâu nhà con trai một. Là biến tôi thành một cái “toi” của cái “đó” giữa đồng. Cha tôi gần như biết tất cả. Biết ai sinh ai mất năm nào, biết ai đỗ ai đạt, ai làm quan, ai làm giặc, ai có vợ hiền ai có chồng dữ, ai nhà ngang dãy dọc, ai chòi tranh cột sậy…ai mồ cao mả đẹp, ai chết không có được chiếc chiếu mà đắp lên mình. Biết hết ngoại trừ biết một đứa con gái mới lớn nghĩ gì, muốn gì!
Vì nhà trai ở xa phải đón dâu trước giờ ngọ, nên mới giờ dần họ đã đến đầy trước ngõ. Một phong pháo nhỏ được đốt nổ đì đẹt để báo tin. Trong sân cũng đáp lại những tiếng nổ đì đẹt. Ông Hai Nhẫn mai dong quần không còn màu cháo lòng mà trắng như bông bưởi, cũng không xắn ống cao ống thấp mà thả xuống đề huề. Ông lấy đôi guốc gỗ móc ở cán dù ra đặt ngay ngắn, cẩn thận cạ chân nọ vào chân kia cho bớt lớp bụi đất trộn với sương đêm dính ướt nhẹp, rồi mới xỏ vào. Ông xăng xái đi vào nhà xin giờ. Được nhà gái thuận tình, họ nhà trai cứ sắp hàng một tiến vào. Đi đầu là trưởng họ Bùi bát phẩm mặc áo tía ngực đeo thẻ bài ngà đu đưa theo mỗi bước chân. Tiếp sau là hai cửu phẩm mặc áo thụng xanh, sau nữa là các ông biện ông câu mặc áo the đen, chú rể mặc áo gấm đỏ đội khăn đóng. Trịnh trọng như đi rước sắc thần.
Hai cây đèn tạ đăng giữa nhà được vặn bấc cao hết mức vẫn không đủ sáng để soi rõ từng khuôn mặt, nhất là chàng rể sau khi xuống ngựa cố tình nghiêng mặt để che những cái mụn đáng ghét. Đồ sính lễ đã được nạp trước gồm một quả sơn đỏ đựng nữ trang, một quả đựng khăn áo, một quả đựng “bạc nát” và một quả đựng trầu cau. Giờ chỉ có một con heo đựng trong cũi, một ché rượu được bốn người trịnh trọng khiêng đặt giữa sân. Chỉ tiềm tiệm thôi mà lo được như thế là quá tươm tất, ông nghĩ thầm. Điều làm ông vừa lòng nhất là những người đi họ bên ấy có cả bát phẩm cửu phẩm cũng tàm tạm ngồi nói chuyện được với ông nghè trưởng họTrần và ông tú em họ. Ông sợ nhất là hai bên không bằng vai phải lứa, một bên thì chữ nghĩa đầy mình còn một bên thì dốt đặc cán mai. Trò chuyện với nhau mà cứ như nói chuyện với đầu gối!
Sau khi trưởng họ nhà trai thưa gửi lễ phép, cụ nghè trưởng họ Trần liền khấn trước bàn thờ: Việt Nam quốc, Bình Định tỉnh, An Nhơn huyện, Thuận Thới thôn a… nhị thập nhứt nhựt…a, Trần gia…hiệp cùng Bùi gia…nhơn duyên ..a…Trong khi đó cô dâu đã được các bà cô bà chị họ dỗ ngon dỗ ngọt đã hết khóc, xúng xính trong hai lớp áo màu đỏ và vàng, tai đeo bông lủng lẳng, cổ đeo kiềng chạm, tay đeo xuyến, chân mang hài thêu đang được dìu đứng ở phía bên này ngạch cửa chờ ra lạy cùng chàng rể.
Rồi đó, chàng rể và cô dâu đứng trước bàn thờ thơm ngát hương trầm. Hai họ đứng hai bên, nét mặt người nào cũng lộ vẻ thành kính trang nghiêm đến độ tưởng chừng như có ông tơ bà nguyệt đang cỡi mây đáp xuống. Chưa bao giờ người ta thấy bốn chữ bách niên giai lão lại có sức mê hoặc đến thế. Cũng chưa bao giờ, con trai con gái lại được nâng niu chìu chuộng như lúc này. Chàng và nàng đã tập lạy và biết lạy từ nhỏ, nhưng vì chàng đứng lạy còn nàng thì ngồi nên dù đã dặn trước cả hai vẫn không thể nào cùng một lúc rập đầu xuống chiếu. Tuy vậy hai họ đều châm chước bỏ qua.
Vừng đông đã phơn phớt hồng, sao mai đã nhạt, giờ đưa dâu đã đến. Lúc này là cuối dần đầu mẹo. Phải đi làm sao cho kịp giờ tị. Cái giờ ngọ đứng bóng kia là giờ của những kẻ khuất mặt, giờ của quỷ ma trốn nắng trên những cây cao bóng cả. Nhập gia giờ ấy là đưa cả quỷ ma vào nhà. Ai cũng chộn rộn, ai cũng vội vội vàng vàng, chỉ có nàng ngồi yên không nhúc nhích. Các cô các chị đều hối nhưng không hiểu sao nàng thấy hai chân cứ nặng như chì. Lúc này mà kêu lên được một tiếng Mẹ ơi thì hay biết chừng nào. Mẹ ơi, mẹ ơi, nàng kêu thầm trong trí. Nhưng giả như Mẹ có linh thiêng trở về ngồi kia thì nàng cũng không biết mẹ là ai. Nàng đã bao giờ thấy được mặt mẹ đâu. Ngay cả một tấm hình cũng không.
Bất chợt nàng nghe tiếng của cha:”bộ nó muốn làm giặc hả?” Tức thì nàng đứng bật dậy, tưởng chừng như được nhấc bổng lên.
Đoàn đưa dâu đều đi bộ, trừ nàng đi cáng và chàng đi ngựa. Nằm trên võng được bốn người thay nhau khiêng, nàng thấy mình như một khúc gỗ. Tệ hơn, có lúc nàng tưởng mình như đang nằm trong hòm để người ta khiêng ra nghĩa địa. Cùng đi với đoàn có lúc là những người ra đồng gặt lúa, có lúc là vài con trâu con bò đủng đỉnh. Con ngựa bị che hai bên mắt nên mặc trâu, trâu cứ đi, mặc bò, bò cứ chạy. Nó gõ những cái móng buồn bã xuống mặt đường. Dây cương buông thõng nên trông nó giống như một con nghẽo. Chàng cũng không được đẹp nên cả người và ngựa đều có vẻ lạc lõng khổ sở. Dù nắng chưa lên, các ông già vẫn giương dù lên che nắng, không quên móc đôi guốc hay đôi giày hạ lên chỗ cán uốn cong. Cứ thế, từng bước một, con đường dù khá xa vẫn cứ ngắn lại dần. Ngắn dần, ngắn dần trong khi quê mẹ thì xa tăm tắp.
Vừa tới đình Đại Hữu đã nghe tiếng pháo nổ vang. Nhà trai trải mấy đời độc đinh, nên cậu Hai cưới được vợ là cả làng đều mừng. Người ta đồn cô dâu đẹp, nên mới tới đầu làng đã thấy có rất đông người đứng xem. Bà Cửu theo tục lệ phải lánh đi, còn cô dâu thì xuống cáng vạch rào mà chui vô. Hai người đàn bà vội dìu cô dâu chạy tuốt vô buồng. Nàng ngồi gục đầu lấy tay che mặt y như một con cù lần bị bắt đem xuống núi.
Giờ đây cái giường này là giường của tôi? Căn nhà này là nhà của tôi? Cái làng này là làng tôi? Người đàn bà xa lạ đứng nép sau cánh cửa kia là mẹ tôi? Lấy chồng là đổi thay? Lấy chồng là đổi mẹ đổi cha? Lấy chồng đau xót như thế sao người ta vẫn cứ lấy? Ai cũng khóc mà vẫn cứ phải đi!
Hai cây đèn sáp ong được trịnh trọng thắp lên thơm phức. Sẽ phải cháy cho đến giọt sáp cuối cùng. Sẽ phải sống cho đến răng long đầu bạc. Nàng được dìu ra lạy chào tổ tiên nhà họ Bùi. Và dù ưng hay không ưng, muốn hay không muốn, nàng cũng đã là con dâu của họ Bùi. Sống cũng họ Bùi. Mà chết cũng họ Bùi. Nàng như một cái cây được ươm cho mọc lên, chăm bón ở Thuận Thới rồi đem trồng ở Đại Hữu. Nàng phải bám rễ ở nơi đây, hút chất màu ở nơi đây, thở khí trời ở nơi đây nếu nàng muốn sống.
Cả chục bàn tiệc đã được bày sẵn. Cả một cái rạp to bằng tranh vẫn không che được hết nắng. Người ta ăn uống, chúc tụng. Ai cũng thấy mình nghiêng ngửa. Khi người ta gọi nàng ra chào từ biệt họ nhà gái, nàng thấy mắt cha rưng rưng. Lần đầu tiên nàng nghe ông nói trong nước mắt:”Thôi cha về!” Ước gì nàng có thể nhào tới ôm chặt ông mà khóc. Ước gì nàng bật ra được hai tiếng Cha ơi! Nàng chỉ biết đứng cúi đầu, nghe hai vai mình rung rung như bị ai giật.
Vậy là xong một cuộc cưới xin. Vậy là tròn công cha như núi Thái Sơn. Vậy là yên nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Nàng biết mình đã sang một chuyến đò và đậu vào một trong mười hai cái bến. Chỉ có Trời mới biết nàng vào bến trong hay bến đục!

3
Đêm tân hôn nàng ngủ trong ang đựng lúa!
Có lẽ đó là chuyện hi hữu cổ kim. Sau này mỗi khi nhớ lại nàng vẫn thấy hãi hùng.
Khi cha nàng cùng với họ nhà gái ra về, mẹ chồng bước vào buồng giúp nàng thay quần áo. Hai cái áo dài cặp đôi được xếp cất vào tủ. Kiềng chạm, xuyến vàng, bông tai vẫn còn đeo. Nàng được bà dẫn ra chào bà con trong họ. Ai cũng tươi cười chào nàng. Ai cũng thấy nàng xinh đẹp dễ thương. Nhưng trong mắt nhìn, ai cũng thấy ái ngại cho nàng. Mới mười lăm tuổi đầu mà phải đi làm dâu. Biết bao nhiêu nỗi khổ đang chờ đợi.
Bà Cửu lâu nay nổi tiếng là một người khó tính. Bà là người xứ Huế. Tuy không phải con nhà quyền quý, nhưng cung cách ăn ở vẫn phảng phất một chút gì đó của những nhà danh gia vọng tộc. Không chỉ riêng mình bà, dường như cái mùi vương giả ở chốn kinh thành nó lan toả ra khắp nơi khiến những cô gái Huế trở nên đài các, hay cố làm ra vẻ đài các, khác hẳn với những người thô lậu quê mùa ở thôn Đại Hữu.
Thực ra, trước kia bà chỉ là một cô hàng xén ở chợ Đông Ba. Chồng bà, một anh phó mộc khéo tay được tuyển vào làm thợ để chạm trổ những cột những kèo ở chốn cung đình. Những lúc rỗi việc anh thường lượn qua lượn lại trước các gian hàng xén. Chắc hẳn miệng anh khéo nói cũng như anh khéo tay đục đẽo nên đã làm xiêu lòng nàng, mặc dù phải theo anh về tận phía bên kia đèo Hải Vân xa tít. Xong việc, anh được bộ công thưởng cho cái tước cửu phẩm. Vì vậy, anh được gọi là anh Cửu và nàng được gọi là chị Cửu.
Được mấy năm, sau một trận thương hàn nhưng chữa trị bằng nước lã tàn nhang nên ông Cửu mất. Cũng may ông còn để lại cho bà một cậu con trai bốn tuổi. Cha mẹ gọi bà đem con về Huế, nhưng bà không chịu. Bà nói, lấy chồng thì phải gánh giang san nhà chồng, ra ngoài nớ thì cái gánh họ Bùi biết để cho ai. Bà ở vậy nuôi con cho đến tận bây giờ.
Như bao cô dâu khác, nàng không ăn uống được gì trong bữa cơm đầu tiên ở nhà chồng. Ăn làm sao được dưới cái nhìn săm soi của bao nhiêu con mắt. Nhưng làm thì nàng làm được và nàng cố sức làm nhiều hơn ở nhà mình. Bao nhiêu bát đĩa một mình nàng giành lấy rửa sạch. Mãi đến tối nàng vẫn còn loay hoay dọn dẹp trong bếp. Nàng muốn bận tay bận chân để khỏi phải nghĩ đến chuyện làm vợ. Chẳng ai nói cho nàng biết làm vợ là làm thế nào. Ai cũng giục nàng: mợ Hai nghỉ tay đi, mợ Hai tắm rửa còn gặp cậu Hai chớ. Nghe nói gặp cậu Hai là nàng cảm thấy run.
Họ hàng nhà Bùi sau một ngày ăn uống nói cười đã chào bà chủ, ra về. Ngoài sân, nắng đã tắt. Bóng tối chẳng mấy chốc từ mấy lùm tre ùa ra ôm kín căn nhà. Văng vẳng có tiếng ếch nhái từ ruộng xa đưa vào. Thỉnh thoảng, một con cóc coọc ngồi đâu đó nghiến răng nghe thật buồn. Có tiếng mẹ chồng: “con Hai đâu lên mạ bảo”. Nàng hồi hộp đi lên gặp bà. Vẫn giữ cung cách của một đứa bé trước mặt người lớn, nàng đứng vòng tay cúi đầu.” Con ngồi xuống đây đi. Mạ cho phép con không phải vòng tay nữa. Mạ biết là con mồ côi mẹ, tội lắm. Từ nay, mạ là mẹ của con, con cứ ăn uống đi đứng tự nhiên như khi còn ở bên nhà, không việc gì phải cáy náy e sợ. Mạ đã già rồi, con phải lần hồi học cách làm chủ ngôi nhà này, nghe rõ chưa. Thôi con vào buồng của con đi.”
Nàng ngơ ngác đi vào. Một ngọn đèn nhỏ soi không đủ sáng căn buồng. Nhưng nàng thấy nó ngăn nắp sạch sẽ hơn buồng của mẹ nàng. Một cái giường rộng, hai đầu có những thanh gỗ tiện giống chân đèn. Một chiếc chiếu mới còn thơm mùi lát. Hai cái gối màu hồng, một cái mền bông. Và trùm lên tất cả là một cái mùng phơn phớt hồng. Không có một chiếc ghế nào, nàng đành ngồi bên mép giường.
Một lúc sau, chồng nàng vào. Anh chàng cũng ngồi xuống bên mép giường. Nàng dịch sát một góc, cố sức thu mình thật nhỏ. Nàng nghe trống ngực đánh liên hồi. Nàng lặng im. Chàng cũng lặng im. Rất lâu, hai người ngồi như hai tượng gỗ. Bỗng nàng nghe:”thôi nằm xuống đi, xê vào bên trong.” Nàng làm theo, nằm quay mặt vào trong vách. Nàng kẹp tay giữa hai đùi, co gối lên tận ngực, như một con cuốn chiếu.
Nàng nín thở khi chàng tắt đèn. Lần đầu tiên nàng biết có người đang nằm xuống cạnh mình. Người đó nằm im. Nàng nghe người đó thở dài. Rồi mấy ngón tay lạ đặt lên vai nàng. Những ngón tay lóng cóng, vụng về đang cố sức kéo cái vai để lật ngửa nàng ra. Nàng hít một hơi thật dài, sợ đến nỗi muốn hét lên. Có tiếng nói của mẹ chồng. Dường như bà hỏi cậu con trai đã đóng cửa ngõ lại chưa. Và cậu ta hơi bực mình đứng dậy ra khỏi buồng.
Đúng lúc ấy, nàng cũng vén mùng chui ra. Nàng nín thở chạy xuống bếp. Nàng ngồi co ro bên mấy ông táo hãy còn nóng. Nàng muốn được ngồi suốt đêm ở đây. Nàng muốn nấu cơm, nấu nước, muốn rửa bát rửa chén. Nàng muốn làm việc nhà chứ không muốn làm vợ.
Anh chồng đi ra ngõ. Con chó mực quắn quít chạy theo. Anh cài lại cửa, cùng con chó dạo quanh nhà. Khi biết chắc không có kẻ trộm nào đang rình, anh vào nhà, đóng chặt cửa. Anh lại chui vào giường, lại nằm xuống, lại thở dài, rồi đưa bàn tay một lần nữa tìm nàng. Trong bóng tối anh thấy cái giường như rộng hơn, rộng đến nỗi anh đã dịch mình vào cả thước mà vẫn không đụng đến vai nàng.
Ủa, sao mà lạ thế. Anh lăn mạnh một vòng, hai đầu gối đụng vách nghe cái cộp. Vẫn không đụng phải nàng. Anh xoay qua bốn góc, vẫn không đụng nàng. Anh loay hoay một lúc rồi ngồi dậy đi tìm đèn. Anh lấy cây đèn trên bàn thờ cha đi vào. Ánh đèn tuy mờ nhưng vẫn đủ soi cho anh thấy cái giường trống không, bốn góc buồng cũng không có nàng đứng hay ngồi. Chắc nàng đi xuống bếp. Anh để đèn lên tủ, ngồi chờ.
Chờ mãi không thấy nàng lên, anh cầm đèn đi xuống bếp. Vẫn không có nàng. Anh lại đi lên nhà trên. Vẫn không có nàng. Anh đi quanh vườn. Vẫn không có nàng. Vậy nàng đi đâu? Anh gọi nho nhỏ, sợ mẹ nghe:” Hai, Hai ơi”! Anh gọi một tiếng, hai tiếng, ba tiếng. Không nghe đáp lại. Anh gọi to hơn. Cũng không có tiếng ơi hỡi gì hết. Không còn sợ mẹ la nữa, anh gào lên: “Hai ơi, Hai ơi!” Chỉ nghe tiếng mẹ xô cửa tông ra:” Mi la cái gì vậy, không sợ xóm làng người ta cười cho à?” Anh nói như mếu:”nó đi đâu không có trong buồng!” Chừng đó mẹ anh mới tá hỏa cùng anh đi tìm. Giọng mẹ anh nhỏ nhẹ hơn: “Hai đâu con, dại chi mà dại rựa” !
Một con người chứ đâu phải cây kim mà tìm hoài không thấy. Đến nước này đành dựng đầu ông mai dong dậy mà hỏi cho ra lẽ. Có chê chồng xấu thì đừng ưng, chứ sao ưng rồi lại trốn đi đâu mất. Cũng may, nhà ông Hai Nhẫn ở gần. Mắt nhắm mắt mở ông hỏi:” có chuyện gì vậy chị Cửu”? Khi nghe anh kể, ông vỗ đùi đánh bép.”Tao biết rồi, ông nói, mày bộp chộp quá làm nó sợ chớ gì.” Nhưng anh cãi: “đã làm gì đâu mà bộp chộp. Mới tắt đèn mà nó đã biến mất, cứ như ma.” “ Đừng có nói bậy, ông nói, chắc là nó chạy về bển. Thôi để tao qua đó đưa nó về. Thiệt là cực. Cái nghề mai dong đã mấy lần định bỏ mà bỏ không được”. Rồi ông quay sang nói với bà Cửu: “chị kêu giùm thằng Bồng đi với tôi, đêm hôm rắn rít làm sao một mình tôi đi được”. Bà Cửu thở ra một tiếng: ừ!
Cô dâu bé bỏng của chúng ta, thực ra chỉ muốn được ngồi một lúc trong bếp, là nơi dẫu sao cũng không xa lạ gì lắm. Mùi khói vẫn như mùi bên nhà. Hơi lửa vẫn ấm áp. Giống như đi ngoài trời mưa lạnh, được ngồi bên bếp lửa, nàng không còn cảm thấy run sợ nữa. Nàng định, khi chồng ngủ rồi, sẽ lén chui vào một góc giường. Nàng sẽ nằm co quắp đợi sáng ra lại đi nấu nước pha trà như đã từng làm bao nhiêu năm với cha. Nhưng khi thấy chồng cầm đèn đi xuống bếp, nỗi lo sợ lại nổi lên. Nàng hốt hoảng chạy ra sau hè, đứng nép sau một cây cột. Khi chồng cầm đèn đi lên nhà, nàng cũng tưởng chàng sẽ tắt đèn đi ngủ. Không ngờ chàng lại đi tìm quanh vườn, rồi lại gọi, lại la lên, lại gào… khiến nàng quá khiếp phải chui vào trốn trong một cái ang đựng lúa bỏ không. Nàng hãy còn quá bé, ngồi lọt thỏm trong cái ang lạnh ngắt. Mấy con kiến nhỏ đang ngủ bị nàng đánh thức bò lung tung, leo cả lên mình nàng. Cũng may là kiến hôi nên nàng không bị cắn.
Ông Hai Nhẫn cùng thằng Bồng đến nhà ông lý đúng nửa đêm. Sau một ngày mệt mỏi ông ngủ say như chết. Tiếng ngáy của ông rồ rồ như xay lúa. Phải mấy lần nắm chân ông lay mới đánh thức được ông. Chuyện ông mai dong đến nhà ông vào giờ này là chuyện lạ. Chẳng lẽ tới mắng vốn nó không còn trinh à. Làm gì có chuyện đó. Mà dẫu có chăng nữa thì cũng phải đợi đến ngày nhị hỷmới cắt cụt cái tai heo mà ném vào nhà chớ. Có đâu lại dựng đầu ông dậy lúc đang ngủ ngon. Mấy cái thằng cha mai dong thật đáng ghét. Ông không còn nhỏ nhẹ như ngày thường mà đâm ra gắt. Ông gằn giọng hỏi trống không: “Chuyện gì vây?” Ông mai dong cũng dấm dẳng:” con Thãi có về đây không?” “ Nó đâu có về đây, mà ai cho nó về?” “ Vậy chớ nó đi đâu?, ông mai nói, chẳng lẽ nó bỏ theo thằng nào. Tôi chưa thấy đứa con gái nào hư như con gái ông.” “ A, coi chừng tôi vả vào miệng ông bây giờ. Sao ông dám bảo con gái tôi hư?” “Không hư, sao lại bỏ chồng mà đi?” “ Tôi đánh chết cha ông bây giờ, đừng có nói tầm bậy. Được rồi, tôi cũng đi sang bên đó ngay bây giờ đây. Làm mất con tôi là ở tù rục xương đó chớ không phải chuyện chơi đâu”. “ Thì ông cứ qua mà tìm”.
Hai người không nói không rằng đi suốt đêm qua Đại Hữu. Sinh con gái thiệt là cực, ông nghĩ. Chẳng lẽ cứ nuôi báo cô mãi trong nhà. Gả chồng thì khóc lóc làm như thể đem đi cống Hồ. Rồi lại chê chồng không chịu ăn nằm. Đang đêm mà phải lặn lội như vầy thà đừng sinh nó ra còn hơn. Càng lúc ông càng giận con. Phải như còn ở nhà, tóm được ông sẽ quật cho một trận tơi bời.
Đến nơi, trời vẫn chưa sáng. Khi hỏi ra cớ sự ông cũng chỉ biết dậm cẳng kêu trời. Biết nó trốn núp ở đâu, hay là dại dột nhảy xuống sông xuống giếng. Lúc này ông lại thấy thương nó quá. Mới có mười lăm tuổi đã phải đi lấy chồng, ai mà không sợ. Ba bà vợ của ông, bà nào cũng sợ chết khiếp khi thấy ông lần đầu leo lên giường. Đàn bà mà, cái khó nhất là lần đầu. Phải như có mẹ nó còn được dặn dò chỉ bảo chút đỉnh. Đàn ông làm sao nói được với nó chuyện khó nói ấy. Ông thở dài, mong cho trời mau sáng.
Trong ang lúa nàng đã ngủ tự lúc nào. Nỗi sợ hãi của một đứa bé con dù to lớn đến đâu cũng không làm cho nó thức suốt đêm được. Vả lại, sau bao nhiêu ngày đêm mệt mỏi, nàng không thể nào chống chọi được với giấc ngủ. Chồng nàng cũng vậy, sau một hồi đập tay đập chân, thở vắn than dài rồi cũng nằm ngủ chèo queo ở một góc giường. Cái đêm tân hôn kỳ lạ này chắc chắn hai người nếu sống được đến đầu bạc răng long vẫn không thể nào quên.
Trời sáng. Mọi người lại quanh quất đi tìm. Có người ra tận bờ sông, có người leo xuống giếng. Vừa tức vừa sợ, ai cũng chỉ biết nhìn nhau thở dài. Đang lúc tuyệt vọng thì chính bà mẹ chồng tìm thấy nàng dâu ngồi ngủ trong ang lúa. Bao nhiêu tức giận trong người bà đều tiêu tan hết. Không còn than ạc chi mô rựa mà bà kêu lên tội nghiệp quạ con ơi. Bà vuốt tóc, xoa má nàng. Mọi người ai cũng mừng chảy nước mắt. Ông lý Bản và ông hai Nhẫn lại làm lành. Sẵn rượu cưới hãy còn, hai ông lại khề khà coi như không có chuyện gì vừa xảy ra..
Đêm thứ hai chính bà Cửu nằm cùng giường với nàng. Bà rủ rỉ kể chuyện ngoài nớ cho nàng nghe. Dù không hiểu gì mấy nhưng cái tiếng trọ trẹ đều đều như ru khiến nàng ngủ thiếp lúc nào không hay. Cứ như ru con mọn ngủ xong, bà nhẹ nhàng đi ra ngoài để con trai bà sẽ lén vào nằm bên vợ. Và mọi sự sẽ diễn ra êm thắm như lúa mọc trên đồng, như hoa nở trên cây.
Nhưng nàng đâu có ngủ. Nàng chỉ giả bộ ngủ thôi. Nằm bên cạnh bà nàng lại càng sợ và càng không sao ngủ được. Nàng biết bà sẽ đi ra khi nghe có tiếng ngáy. Nàng cũng biết người đó đang rón rén đặt lưng xuống bên cạnh. Dù có biết mình sắp chết, đêm nay nàng cũng không bỏ trốn đi đâu được. Nàng đã làm khổ bao nhiêu người, nhất là cha. Hơn bảy mươi tuổi mà giữa đêm khuya phải chống gậy sang tìm. Con gái như thế là bất hiếu. Nàng đâu có muốn làm đứa con bất hiếu. Thôi thì đành vậy, người ta chỉ muốn nằm bên nàng chứ có muốn giết nàng đâu.
Bây giờ nàng lại tò mò muốn biết làm vợ là làm như thế nào. Không như đêm qua, lần này nàng cảm thấy anh ta vuốt nhè nhẹ tóc, rồi lần xuống ngực, xuống bụng. Những ngón tay anh như chân rắn mối. Nó sục vào cái giải yếm rồi lần tới giải rút. Trời ơi, nàng muốn la lên, gào lên. Nhưng miệng nàng như bị ai khóa chặt, nàng đành trân mình ra mà chịu đưng. Đàn bà sinh ra là để chịu đựng. Nhỏ thì chịu đựng tính khí ngang trái của cha. Lấy chồng thì chịu đựng những trò kỳ cục của chồng. Mai sau có con chắc cũng phải chịu đựng con! Thế rồi cả thân nàng giống như bị xẻ ra làm đôi. Đau buốt tận óc. Nàng tê điếng rồi mê man trong giấc ngủ chập chờn với nhiều lần bị cưa xẻ. Sáng ra, bên người lạ đang ngủ say như chết, nàng thấy một vệt máu khô trên chiếc chiếu mới. Nàng bàng hoàng, còn khủng khiếp hơn là “gãy cẳng”.

4
Giữa lúc cái tấm thân bé nhỏ của nàng có những đổi thay xé lòng như thế thì cả thế giới cũng nát tan vì đại chiến. Những lò thiêu người của Đức quốc xã ngày đêm nhả những đám khói nghẹn uất lên bầu trời châu Âu. Máy bay Mỹ gầm thét trên biển Thái Bình. Hai chiến hạm Nhựt bị đánh đắm ở biển Quy Nhơn. Người ta kéo nhau ra biển vớt sáp nổi lều bều. Có cả những thùng đựng đầy đường của Nhựt. Đường cát trắng nén chặt đến cứng như đá. Người ta dùng búa đập cho vỡ để chia nhau ăn. Không ngờ đó là những thùng ướp đầu của lính Nhựt tử trận! Bao nhiêu người lỡ ăn đều phải móc họng mà nôn ra.
Không hiểu sao nàng cũng đang thèm đường. Đường tán mà nàng cứ bỏ vào miệng nhai cộp cộp vẫn chưa đã thèm. Suýt chút nữa, nàng cũng đã ăn phải một cục đường to của Nhựt. Chưa ăn, nhưng nàng đã ụa mửa suốt ngày. Nàng trốn mẹ chồng ra ngồi ngoài bụi chuối. Cứ nghĩ tới cái đầu trọc ấy là nàng rùng mình. Nàng mửa đến ói cả mật xanh mật vàng. Nhưng mẹ chồng lại rất vui vì nàng đã ốm nghén. Thường thì người ta thèm chua. Me sống, xoài xanh, cốc ổi, ăn suốt ngày thay cơm. Nhưng cũng có người thèm ăn đất sét, thèm hít mùi ống nhổ bã trầu, thèm những thứ lạ lùng mà khi còn con gái chẳng ai nghĩ sẽ thèm như thế.
Bà Cửu đem tất cả kinh nghiệm sinh đẻ của mình ra truyền lại cho con dâu. Bà dặn nàng không được bước qua võng, không được nhảy ào xuống tam cấp, không được ăn thịt bò đen, không được ngủ ngày, không được mang vác vật gì nặng, nói chung là phải hết sức cẩn thận nâng niu cái hạt mầm bé xíu trong bụng. Bà nói, con thèm ngọt chắc sẽ sinh con trai và bà đi mua hai cái trứng ngỗng to như hai quả đu đủ bắt nàng ăn để cháu trai bà sẽ được thông minh học giỏi.
Còn anh ta ư? Suốt ngày anh ta nói chuyện Mỹ Nhựt đánh nhau. Anh đi bộ lên tận Bình Định mua nhựt trình để theo dõi tin tức. Anh đang lưỡng lự không biết sẽ đặt tên con là Mỹ hay Nhựt. Mỹ thì mạnh hơn, nhưng Nhựt thì gan dạ. Nhiều người trong làng đặt tên Đức, tên Nga. Nghe cũng hay hay, nhưng anh có vẻ thích Mỹ hơn. Nó đang đổ bộ đâu đó trên đất Pháp.
Sáng ba mươi tháng chạp chưa kịp lo cúng rước ông bà, nàng đã đau bụng. Lúc đầu râm ran, đến trưa thì đau đến nỗi phải cắn cả một con găng võng để khỏi phải la lên. Một bà mụ già đến những bảy mươi tuổi được mời đến. Người ta nói bà mát tay, sinh cho ai cũng mẹ tròn con vuông. Bà lụm cụm đi vào nhà, cái túi đựng ống ngoáy và trầu cau buộc lủng lẳng trước bụng.
Đúng giao thừa nàng sinh một cái bọc màu đỏ. Bà mụ luýnh quýnh chưa biết làm sao thì mẹ chồng đã la lên:”xé bọc ra, xé ra không nó ngộp”. Cái bọc như một cái bong bóng lợn, loay hoay một lúc bà mới xé được. Một đứa bé được lôi ra với cái dây nhau lòng thòng. Tuy mệt đứt hơi nhưng nàng vẫn nghe được tiếng reo mừng của hai người đàn bà: “con trai! đẻ bọc điều là khôn lắm đây”! Anh chồng ở bên ngoài cũng reo lên: “con trai hả, sướng quá! đặt tên cho nó là thằng Mỹ, Bùi văn Mỹ!”
Nàng nằm trên chiếc chõng tre mà sau khi đầy tháng sẽ đem đi đốt. Tục lệ không cho phép nàng sinh trong nhà nên phải nằm ở hiên sau. Có người phải làm chòi ở bụi tre để sinh. Dù được che chắn cẩn thận, nhưng giun dế vẫn rên rỉ suốt đêm. Thỉnh thoảng con cắc kè núp đâu đó trên mái nhà buông những tiếng to và khô vào đêm tối sâu thẳm. Nàng được bôi nghệ đầy mình, mỗi sáng phải uống một bát nước đái của thằng bé hàng xóm. Một bà nuôi đẻ được thuê để săn sóc hai mẹ nàng. Bà nghèo, cũng già khú, mỗi buổi tối lại mang một chậu lửa hừng hực, cởi tuột quần áo nàng ra hơ háp như người ta nướng thịt.
Suốt một tháng, nghệ và mồ hôi trộn lại thành một lớp dày như mo, trông nàng như một mụ ăn mày giữa chợ, nhưng mẹ chồng bảo phải chịu đựng như thế sau này mới chống chọi được với nắng mưa, sương gió. Chồng nàng thì không thèm tới mà cũng không ai cho bén mảng tới. Đây là nơi ố trọc chỉ để dành cho những người nằm nơi. Một nhánh xương rồng được treo trước cửa buồng, chỉ khi nào khô thì chồng mới được gần vợ. Cái lệnh ngộ nghĩnh ấy nàng thấy thế mà hay, biết bao giờ cho nó khô. Nửa năm hay một năm, càng lâu càng tốt. Nàng đã có đứa con bên cạnh, chẳng còn cần ai nữa.
Khi thằng cu Mỹ biết bò lổm ngổm thì trống đình thôn Đại Hữu muốn vỡ tung vì Việt Nam đã giành được độc lập. Bà mẹ trẻ hơn mười lăm tuổi bồng con ra trước sân xem người ta rầm rập đi biểu tình. Chồng chị ta lăng xăng chạy tới chạy lui. Cây cờ đỏ trên tay anh quơ qua quơ lại như đang đuổi gà. Ba ngày sau anh nói khào khào trong cổ họng như vịt đực vì mãi hoan hô, đả đảo. Anh nói,” độc lập rồi sướng quá”! Bà mẹ hỏi ”có ăn được không mà sướng.” Anh nói, “ăn được chớ. Lúa gạo từ đây không cho thằng Pháp đốt nữa. Ai đời nó tàn nhẫn quá sức. Ngoài Bắc không có gạo mà ăn, còn trong nam thì nó đem đốt coi chơi”! Từ đó anh lăn vào diệt giặc đói và giặc dốt.
Nàng mặc kệ anh ta, có con là có tất cả. Nàng thường áp môi mình lên mặt con lay lay cho thằng bé cười. Mùi thịt da thơm ngọt của nó khiến nàng đê mê. Như con ong say mật, nàng uống từng chút, từng chút.
Tôi đang có một đứa con, ơn Trời. Tôi cũng rất biết ơn cha, biết ơn mẹ. Như người ta nói, đúng là có con rồi mới biết ơn cha mẹ. Còn ơn chồng ư? Tôi coi anh ta một kẻ chèo đò giúp tôi qua sông. Cái việc mà anh làm hằng đêm ấy là để cho anh chứ không phải cho tôi. Tôi chẳng thích thú gì trong chuyện ấy. Nỗi lo sợ lúc nào cũng như muốn làm tôi ngạt thở. Tôi không dám nói xấu anh, nhưng anh xộc vào tôi cứ như con heo đang đói xục vào cái máng đựng đầy cám. Tồng tộc, tồng tộc rồi nằm dảnh cẳng ra ngủ. Giờ đây anh có bỏ nhà đi theo ai cũng kệ anh. Tôi không theo ai hết. Tôi theo con tôi. Con tôi là tất cả.
Nhờ cái bằng yếu lược, nhờ hăng hái đi đầu trong mọi công tác nên anh được làm cán bộ xã. Anh liền mua một chiếc xe đạp cũ và với cái chuông kính coong, đạp từ làng này sang làng nọ. Một đôi khi anh lên huyện đóng ở Phù Cát. Có lần anh chở một nữ cán bộ xuống tận Cách Thử. Trời tối, đường còn xa, không dám chở về nhà, anh gửi tạm một nhà đầu xóm. Không ngờ có người mách lẻo, bà Cửu liền tốc thẳng đến tận nơi kêu mụ chủ nhà ra chửi bắt đuổi đi. Về nhà, bà lại lôi anh đang trốn trong bồ đựng lúa ra vừa chửi vừa phết vào mông anh cả chục cán chổi. Nàng nằm trên võng đưa con, biết hết cả nhưng chỉ mỉm cười.
Bà Cửu chẳng ưa gì cái cuộc cách mạng mà anh đang chìa lưng ra đỡ. Khi không nổi trống nổi mõ, khi không kéo nhau đi như giặc dậy ma dương, khi không phá đình phá miễu mà bảo là xây dựng đời sống mới. Đau xót nhất là anh đã đem hết cả bao nhiêu vòng vàng của vợ ra nộp để được khen là gương mẫu. Những hai lượng vàng Kim Thành có đến ba hòn núi chứ ít sao. Cả một gia tài mà đem cho không. Trong khi chẳng cách mạng nào cho đứa con anh được một cái áo chứ nói gì đến nhà cao cửa rộng. Khi nghe Bảo Đại bị xuống ngôi, anh đã định ném cái thẻ bài ngà trên bàn thờ cha ra ngoài bụi tre. Anh rất khó chịu vì đó là tàn tích của phong kiến. Anh không còn cho người ta kêu mẹ anh bằng bà Cửu mà phải kêu bằng bà Hai Bang. Chính vì mới cũ xung khắc nhau mà ít khi hai mẹ con ngồi ăn chung trong một mâm cơm. Anh lại còn rằng rực con mụ vợ vì nó có vẻ như theo mẹ anh. Cái trận đòn mười cán chổi cứ bị nó nhắc lại rồi tủm tỉm cười hoài. Bầu máu nóng cách mạng trong anh cứ sôi sùng sục trước bao nhiêu người, nhưng khi về đến nhà thì lại nguội lạnh vì gặp phải hai người đàn bà. Thật là xấu hổ. Cả nước cùng một lòng chỉ có nhà anh là hai, ba lòng!
Thằng cu Mỹ đã biết gọi ba. Nghe tiếng chuông leng keng nó đã biết chạy ra chờ ba về. Nó rất thích được anh ôm trước ngực chở đi lanh quanh. Nó có vẻ thông minh. Không thông minh sao biết đòi bấm chuông. Anh rất mong nó mau lớn để vào đoàn thiếu niên nhi đồng cứu quốc. Nó sẽ đội mũ ca lô, sẽ hát những bài ca cách mạng. Nó sẽ được anh dạy dỗ để trở thành một công dân mới. Nó sẽ không lạc hậu như bà nội thấy cách mạng làm được cái gì cũng chê. Nếu không có cách mạng thì anh cũng chỉ biết theo nghiệp cha mà cầm cái dùi đục vậy thôi, có đâu được vẻ vang như bây giờ.

5
Đã đến tuổi thằng bé đi học. Dĩ nhiên đó là một ngày trọng đại. Dù cha nó không tin thánh thần, nhưng bà Cửu nhất định phải cúng khai tâm.” Không cúng thì cái đầu mi có đựng được mấy chữ mà đỗ Yếu lược”, bà nói. Một ông đồ xưa mà tay run đến nỗi cầm đũa vẫn rơi, nói gì đến cầm bút lông, được mời đến. Dù gì ông cũng đã từng biết chữ thánh hiền. Chỉ có dạy chữ nho mới đáng được bà cung kính gọi bằng thầy, còn những người dạy bình dân học vụ thì bà hứ nghe cái cốc không thèm nói tới. Mâm cỗ gồm một con gà trống, một đĩa xôi, một cây bút và quyển vở. Thằng bé được húi carê nhẵn bóng. Thầy khấn lầm rầm xong bắt nó lạy hai lạy. Nó chưa biết lạy, suýt chút nữa làm đổ cả ly rượu. Lạy xong, nó cầm bút vẽ ngoằn ngoèo trên giấy. Sau đó, nó được ăn nguyên một cái đầu gà, mà là phải ăn hai con mắt để cho nó “sáng”.
Hôm sau tới trường. Bà và mẹ đã thức dậy từ sáng sớm. Vì sợ bị zêrô nên bà không cho nó ăn trứng gà mà ăn cháo nếp với mật ong. Nó được mặc áo sơ mi bằng đũi, chân mang giày, lưng đeo cặp của cha nó để lại từ xưa. Trông nó ra dáng một cậu công tử.Bà cửu dặn vói theo: “học giỏi, trưa về bà cho bánh”. Mẹ nó dẫn con đi như chị dẫn em. Hai mẹ con líu ríu chuyện trò. Nhiều người trong làng hỏi: “ủa, dẫn ai đó?” Nàng tươi cười, hảnh diện nói:”con em đấy chứ ai”. “Dẩy na, mới đó mà đã đi học rồi”.
Nàng vừa đúng hai mươi tuổi, gái một con, đẹp đến nỗi cả trường ai cũng muốn nhìn. Lúc gặp hiệu trưởng, nàng bỗng mắc cỡ, lúng túng không biết thưa gửi làm sao. Thầy nói: “con đồng chí Bang hả, dễ thương quá, chắc học giỏi lắm đây”. Thầy vui vẻ dẫn nó vào lớp vỡ lòng. Đến lúc ra về, nàng lại nhớ hồi còn bé, vòng tay cúi đầu khiến ai cũng bật cười.
Thằng bé học ê a nghe rất vui. Nó học rất mau, viết chữ đẹp. Không như nàng và các chị phụ nữ đi học bình dân. Học mãi cả tháng mà đánh vần không xong. Đọc không được thì tụi du kích chăng dây dừa không cho vào chợ. Đó là chưa kể lúc đọc được rồi nó vẫn bảo là chưa. Nó lại bày đặt để dấu lung tung. Nhiều đứa còn viết những chữ tục tĩu làm cho ai cũng mắc cỡ đỏ mặt. Khi tập viết thì chị nào cũng như nằm bẹp trên bàn. Mấy ngón tay cắm lúa xuống ruộng thoăn thoắt nhưng uốn cho cong một chữ U hay chữ O sao mà khó quá.
Nghỉ hè, nàng xin phép mẹ chồng đem con về thăm ông ngoại. Hai mẹ con đi đường tắt cho gần. Chỉ vòng qua khỏi núi Đất, qua Mương Đôi là đã tới chợ Rượu, quê cha.
Ông ngoại đón cháu với chòm râu bạc dài tới ngực. Những giọt nước mắt hiếm hoi của ông lăn tăn trên râu như những hạt sương. Cậu và mợ đã mấy lần sang thăm cháu nhưng không ngờ nó lớn mau và đẹp quá. Hai thằng anh con cậu liền lấy cần câu dẫn nó đi câu cá. Nàng bày ra trứng và cà chua tặng cha để ông ăn cho bổ. Ông cứ ngồi nhìn mãi nàng, không ngờ đứa con út bé bỏng tội nghiệp, mới đó mà nay đã thành một thiếu phụ đẹp. Chị dâu vội cắp rổ đi ra chợ Rượu. Nàng muốn đi theo nhưng cha bảo “mấy khi con về, ở nhà chơi với cha”. Lần đầu tiên nàng nghe mấy tiếng “chơi với cha” sao mà dịu ngọt quá. Nàng rưng rưng muốn khóc.
Chợ đã tan. Chị Thừa chỉ mua được một con cá tràu nhỏ của một bà già. Nhưng ngoài vườn có chuối mốc, măng tre và rau răm nên bát cá ám rất thơm và ngon. Cả nhà ai cũng muốn nhường cho nàng và thằng bé. Cha hỏi chị Thừa, “làm mang kỹ chưa, coi chừng còn lưỡi câu trong đó. Mắc lưỡi câu là chết chứ không có chưn rái nào mà cào ra được”. Chị Thừa nói, “dạ con làm kỹ rồi, cá tuy nhỏ nhưng có trứng, thằng Mỹ không được ăn đó nghe. Dượng Hai bên ấy chắc ăn trứng cá nên mặt nhiều mụn, may mà không bị cô Thãi chê”. Cả nhà ai cũng cười.
Đêm hôm đó thằng bé ngủ với ông ngoại. Nằm bên này nàng nghe nó ngậm đường phèn lộp cộp. Cái buồng của mẹ mấy năm không có ai nằm, ẩm mốc và lạnh lẽo, nhưng nàng cảm thấy rất thích. Nàng nhớ lại những đêm mưa, những lần có kinh nguyệt, những giấc mơ nho nhỏ, những tiếng ngáy của cha và cả tiếng con mèo đực tội nghiệp của nàng. Đã năm năm qua rồi vậy mà nàng tưởng như mới hôm qua. Những trăn trở, hoảng hốt lo sợ trước khi lấy chồng. Chưa khi nào nàng thấy mình hẩm hiu và đơn độc như lúc ấy. Nghĩ lại nàng thấy giật mình. Không hiểu sao mà nàng vượt qua được.
Năm hôm sau nàng khóc xin cha về. Thằng bé nghe về lại nhảy tưng tưng rất thích. Nó nghĩ tới những bông và trái dúi dẻ thơm vàng, những chùm chim chim đỏ như xâu chuỗi. Cả nhà đưa hai mẹ con ra bến chợ Rượu. Nàng cõng con qua sông, nước mắt nhỏ xuống sông long lanh. Nàng đâu ngờ đây là lần gặp cha cuối cùng. Năm tháng sau ông mất. Nàng thì không dễ gì quên cha, nhưng thằng bé sau này chỉ nhớ chòm râu bạc và những miếng đường phèn.

6
Khi thằng bé lên tám tuổi, bỗng dưng cha nó đổi tên trong khai sinh. Không còn Bùi văn Mỹ nữa mà là Bùi văn Liên Xô. Bà nội và mẹ đều chưng hửng. Nhưng ông bây giờ đã là cán bộ huyện, nói:”cả nước đang đả đảo can thiệp Mỹ, đặt tên như thế để người ta chửi vào mặt nó à. Lẽ ra đặt Sít ta lin nhưng không ai cho lấy tên lãnh tụ đặt tên con. Liên xô là thành trì của cách mạng thế giới. Liên xô sẽ đánh đế quốc Mỹ để giải phóng giai cấp vô sản!” Bà mẹ hứ nghe còn to hơn pháo nổ. Bà nói: “Tau thì cứ gọi nó là Mỹ, nỏ thèm gọi Liên Xô mô. Tên của nó đã được ghi trong “phái” đeo trước ngực rồi. Tau cứ Mỹ là Mỹ, ai dám chửi tau!”
Nhưng trừ bà và mẹ nó, đúng là cả nước đang chửi Mỹ. Thằng bé mấy lần khóc với mẹ: “cha đặt tên kỳ quá, con bị bạn chọc hoài”. Mẹ bảo, ông ngoại nói Mỹ là đẹp chứ không phải Mỹ là đế quốc. Nhưng hơi đâu mà giải thích với đám học trò. Ngay cả thầy giáo cũng ngại khen nó giỏi, khác gì khen Mỹ giỏi, nên điểm chưa khi nào lên đến bảy chứ nói gì đến mười! Ngược lại, từ khi thay tên bỗng dưng nó tiến bộ nhanh như gió, lúc nào cũng chín cũng mười. Nó nhiều lần được khen dưới cờ, cái tên dài thòng Bùi văn Liên Xô được thầy cô đọc lên một cách trịnh trọng, âu yếm. Thằng bé rất thích, nó bắt đầu cảm thấy yêu cha hơn yêu mẹ. Con chó mực già rụng lông, bắt chước cha, thằng bé kêu là chó mỹ. Hai cha con bây giờ cùng một lòng, ông Bùi văn Bang rất hả hê!
Mấy tháng sau Sít ta lin chết, ông hú hồn.
Chiến tranh đang đến hồi khốc liệt. Đã thấy nhiều người cụt tay, cụt chân. Nhiều nhà bị đốt, đập nước bị phá. Máy bay gầm rú suốt ngày đêm. Pháp đổ bộ lên Quy Nhơn, nhảy dù xuống Sa Huỳnh. Nhưng khắp các mặt trận ta đều thắng. Điện Biên Phủ bị vây. Mấy mươi ngàn tên giặc đang khóc la xin đầu hàng.
Ông Bùi văn Bang được gọi ra Bồng Sơn học lớp chính trị đặc biệt để chuẩn bị Cải cách ruộng đất. Thằng Bùi văn Liên Xô được vào đội thiếu niên tiền phong, cũng bỏ mẹ và bà nội đi tập nhảy xôn đố mì
Nhà vắng. Vườn chuối đã già cỗi rũ xuống. Trong đêm, những tàu lá phất phơ như những cánh tay khiến nàng nhớ tới một đêm kinh hoàng.
Đó là một buổi tối mùa hạ. Trời nóng đến chảy mỡ. Dỗ con ngủ xong, nàng đi ra giếng tắm. Như thường lệ, nàng mặc nguyên quần áo, xách nước từ giếng lên xối qua mình. Mặc dù trời tối nhưng nàng vẫn đứng nép vào bụi chuối. Nàng đang kỳ cọ, bất ngờ có hai cánh tay cứng như thép từ sau vòng ra ôm lấy nàng. Rồi cả một tấm thân to như cái phản áp sát vào lưng. Hai chân hắn cũng quắp chặt chân nàng. Một cái cằm râu lởm chởm cạ vào cổ vào má. Một tay hắn giựt đứt lưng quần. Nàng xấu hổ không dám la lên, chỉ cố vùng vẫy trong tuyệt vọng. Bỗng nàng nhớ tới mẹ chồng, bà đã từng dạy nàng cách dùng cây nhím cài tóc. Nàng liền rút nó ra, nghiến chặt răng đâm thật mạnh vào đùi hắn. Nàng đâm với tất cả sức mạnh và nỗi căm hờn. Hắn rú lên một tiếng như bị đâm vào tim, liền buông nàng ra.
Từ đó không bao giờ nàng ra giếng tắm nữa.
Và, những đêm vắng chồng, nàng cầm đèn run run đi soi khắp nhà. Mẹ bảo phải soi cả gậm giường, lấy chổi mà quơ vì trộm thường đu mình lên nép sát vào vạt giường, qua loa là chết với nó. Nhưng nhà đâu còn gì mà sợ trộm. Nàng sợ những thứ khác kia, sợ những thằng phải gió. Lúc này, ăn uống kham khổ, lại phải đi cấy, đi gặt, nên trông nàng khô đét, già háp. Nhưng với nhiều người, nàng vẫn còn đẹp. Các đồng chí vẫn thường đến hỏi thăm đồng chí Bang. Ai cũng lề mề, dây dưa, con cà con kê ngồi mãi không chịu về. Lấy cớ thằng Liên Xô học giỏi, kẻ cho cây bút máy Caolô, người cho cuốn vở giấy trắng trong vùng bị chiếm…Các bà vợ thấy thế tụm nhau lại nói xấu đủ điều. Ngày mới về làm dâu, bao nhiêu người đổ ra xem đều khen nàng đẹp, dễ thương. Giờ đây nàng là cái gai trong mắt họ, là con hồ ly tinh, mắt liếc mày la rủ rê chồng con họ. Đi tới đâu nàng cũng bị nguýt háy xa lánh.
Đêm nay, trời mưa rả rích. Đồng chí Thanh mang áo tơi đi vào nhà. Con chó già mỏi mệt cũng không thèm sủa. Đồng chí đập nhẹ cửa hỏi đồng chí Bang đi học đã về chưa. Nàng đứng bên trong nói chưa, nhưng đồng chí Thanh vẫn chưa chịu về. Đồng chí nói, “mưa lạnh quá, cho vào nhà uống miếng nước”. Đồng chí cứ năn nỉ mãi, cực chẳng đã nàng mở cửa. Đồng chí Thanh liền ôm lấy nàng, giả bộ run nói “lạnh quá”. Nàng đẩy ra, gắt: “ông làm cái trò gì thế? Tôi la lên bây giờ”. “Có gì đâu, đồng chí nói, lạnh quá mà”. Bất ngờ hai người đàn bà ập vô, một người nắm áo đồng chí Thanh, một người nắm tóc nàng cùng la lớn: “sao mày dám lấy chồng tao?”.
Bà Cửu thức dậy. Khi rõ mọi chuyện bà bảo:”đêm hôm mà đàn ông tới nhà đàn bà là có ý dâm. Ngày xưa thế nào cũng bị quan căng nọc ra đánh đòn. Hai con mụ kia, khép cái mỏ lại mà về ngủ. Còn nếu muốn trị tội thì cứ đè cái thằng cán bộ kia ra mà cắn mà xé, cớ sao lại dám vào làm ầm ĩ nhà tau”? Vừa nói bà vừa cầm lấy cây chổi dựng bên cạnh quơ lên trước mặt vợ và con gái của đồng chí Thanh khiến hai người vội lôi chồng và cha ra khỏi nhà.
Bọn họ đi rồi, bà ngồi thịch xuống giường. Giận con dâu thì it mà giận con trai thì nhiều. Cứ đi theo đảng mãi như thế này có ngày bị người ta lấy mất vợ như chơi. Suốt ngày nghe nó nói leo lẻo: bảo vệ đảng như bảo vệ hai con ngươi của mắt mình. Đảng là cái thằng cha, con mẹ nào mà gìn giữ hơn cả vợ con. Vợ bị làm nhục không lo lại đi lo nước nhục dân nhục. Khéo lo ba cái chuyện bao đồng. Chửi đã, như thường lệ bà hứ một tiếng rõ to rồi mới chịu đi nằm.
Nhưng bà cứ trằn trọc mãi không sao ngủ được. Lúc nhỏ nó là một đứa con ngoan, bảo đâu nghe đó. Giờ bị ma nhập hay sao mà phế bỏ cả nhà cửa vợ con để đi theo mấy cái ông râu xồm. Nghe nó hò hét mà bà thấy tức lộn ruột. Thà nó cầm súng ra mặt trận đi. Đánh nhau với Tây có bị giết thì cũng được cái tiếng chết vì nước vì vua, chứ làm cán bộ thì chỉ có nghe dân chửi hết làng trên xuống xóm dưới mà thôi. Nghĩ mà thương cho con vợ nó. Ngày trước, khi bỏ xứ Huế theo chồng về đây, bà ăn đứt đám đàn bà con gái trong làng. Biết bao con mắt thèm thuồng. Nhưng dẫu có thèm rỏ dãi nỏ có ai dám động đến bà một sợi tóc. Có mà cái dùi đục của ông Cửu nện cho vào đầu. Khi ông mất đi, cũng có nhiều người lảng vảng muốn ghẹo nguyệt thương hoa, nhưng cũng một vừa hai phải chứ có đâu càn ngang phả sét như bây giờ. Rõ đúng là thời loạn. Chỉ khổ cho đàn bà con gái mà thôi!
Nằm ôm con, nàng khóc ướt hết cả vai áo nó. Khóc vì thương mẹ chồng, thương thân mình, khóc vì nhục. Cái nhục của đàn bà không như của đàn ông. Không thể rút súng rút gươm ra mà trả. Nó như một vết chàm trên da thịt không cách gì rửa sạch được.
Sau ba tháng trở về, cùng với những đồng chí khác, đồng chí Bùi văn Bang làm nổ tung xóm làng bằng những cuộc phóng tay phát động quần chúng để tiêu diệt địa chủ. Những đêm học tập, những đêm đấu tố đã xé nát làng quê yên tĩnh cả bao nhiêu đời thành nhiều mảnh. Bần cố nông được đẩy lên ngôi vị ngất ngưởng thay cho phú nông địa chủ bị vùi dập xuống tận bùn. Nhìn thấy cảnh những ông tổng, ông lý bị bắt quỳ giữa sân đình để bao nhiêu người hét hò mắng chửi, bà Cửu không chịu được. Bà cho rằng, ngày xưa, vua còn biết tha tội cho những người ăn năn hối cải, còn biết để họ lấy công chuộc tội, cớ sao bây giờ cách mạng lại hành hạ họ. Từ bao nhiêu năm nay họ đã đóng góp bao nhiêu của bao nhiêu công, đã quyên góp bao nhiêu vàng, ngã hàng chục con heo con bò cho dân quân, bộ đội ăn, lại đóng thuế nông nghiệp nhiều hơn ai hết sao lại đem ra sỉ nhục họ trước đám đông? Họ đáng cha đáng chú sao lại đá lại đạp họ? Đạo lý của con người để ở đâu? Bà rất đau xót, xấu hổ khi thấy con trai của giòng họ Bùi lại đi làm cái việc bất nhân đó, mà lại là kẻ hùng hổ nhất, tàn nhẫn nhất.
Từ đó, sự xung đột giữa mẹ và con trở nên gay gắt đến nỗi bà Cửu nói,” tau coi như không đẻ mi ra. Ai đời mi dám bảo tau là phản động, là cản trở cách mạng”.“Chứ không phải à, người ta ai cũng mẹ cứu quốc, mẹ chiến sĩ, còn bà là mẹ gì? Mẹ mìn thì có! Bà không xứng đáng là mẹ tôi. Đồng chí gào lên. Chính vì bà mà tôi bị phê bình là thiếu năng lực. Người ta nói, không giác ngộ được mẹ và vợ thì giác ngộ được ai. May mà tôi còn có người cha là thợ mộc tức là công nhân nên vẫn còn được đứng trong hàng ngũ tiên phong. Nhưng có một bà mẹ như bà lúc nào cũng chửi cách mạng ra rả, một con vợ ù lỳ như con vợ tôi, cứng cổ cứng đầu không chịu tham gia công tác, nên cũng có ngày tôi sẽ bị đá văng ra ngoài như một con chó ghẻ”. “Thì mi đi đâu cho khuất mắt tau, đừng có mà về cái nhà này nữa”. “Chính bà phải đi ra cái xứ Huế phong kiến của bà chứ không phải tôi”. “Mi câm cái họng thối tha của mi lại, không tau cắn lưỡi chết bây chừ”! Rồi bà bù lu bù loa: “ông ơi là ông ơi, ống chết sớm làm gì để thằng con trời đánh nó chửi tui như thế này”! Bà nằm vật ra giừa nhà, khóc suốt mấy ngày đêm. Năn nỉ dỗ dành bao nhiêu bà cũng không chịu ăn, chỉ có mỗi một việc đòi chết. Thằng bé lại càng làm cho bà bứt đầu bứt tóc kêu gào thảm thiết hơn. Nó nói, “bà không chịu tiến bộ, chỉ làm khổ cha”. Nàng lấy tay bịt miệng con, nhưng nó vùng vằng đứng dậy, đá văng mâm cơm bỏ đi. Nàng thở dài:” Đúng là cha nào con nấy!”
Chiến thắng Điện Biên cũng đem lại thắng lợi trên bàn hội nghị. Hiệp định Giơ ne vơ được ký kết. Một nửa nước đã được giải phóng. Bao nhiêu cán bộ, bộ đội tập kết ra miền Bắc. Cả hai cha con Bùi văn Bang đều được đi.
Cái tin Bùi văn Liên Xô được tập kết theo cha khiến hai người đàn bà, một già một trẻ không họ hàng gì với nhau, ôm nhau khóc suốt. Còn lờ mờ gì nữa, đi tập kết là mất con mất cháu rồi. Hai năm trở về, ai biết được là hai năm hay hai mươi năm. Mà dẫu cho chỉ hai ngày hay hai tháng cũng đã không thấy yên bụng rồi. Có bao giờ nó xa hai người nửa bước đâu. Giờ đây ai lo cho nó ăn nó mặc. Ai buổi tối đưa nó vào giường ôm ấp cho nó ngủ. Ai thức dậy sớm nấu cháo luộc trứng gà cho nó. Ai hái cho nó cả nón dúi dẻ chim chim. Ai kể chuyện đời xưa cho nó nghe. Ai thức suốt đêm bên cạnh khi nó đau. Ai lo cho nó từng cái mụt ghẻ. Ai gãi lưng cho nó khi nó kêu gãi gãi. Ai ? Buồn như nhà có tang. Nhưng thằng bé thì vui như tết.
Nó hí hửng vì được đưa ra Bồng Sơn, được học tập vui chơi với hàng ngàn trẻ em khác của liên khu 5. Lần đầu tiên được đi camnhông ray nó cảm thấy như được bay lên trời. Khi xe qua hầm nó sung sướng tung mũ lên, cái mũ bay mất. Nhưng không sao, nó sẽ được phát mũ calô đội lệch rất chi là oai vệ. Ngoài những bước nhảy xôn đố mì, nó còn được học nhảy sạp, được xem bao nhiêu là phim của Liên xô và Trung Quốc, được phát huy hiệu có ảnh Bác Hồ. Nó được các”mẹ“các”chị“may cho những cái túi dết, những chiếc khăn mùi soa có thêu chim bồ câu hoà bình. Nó cùng với các bạn như đang ở trên thiên đường. Nó quên mất hẳn bà và mẹ.
Một tháng sau nó về thăm nhà, trông nó khác hẳn. Nó như cao hơn, rắn chắc hơn. Nó đòi mẹ đan cho chiếc áo len và thương làm sao, nó muốn mẹ chụp với nó một tấm hình. Hai mẹ con đi bộ vào tận Đập Đá. Nó đứng cao gần bằng mẹ, một tay chống nạnh, một tay vịn lưng mẹ, trông đĩnh đạc cứ như một cậu con trai đã lớn.
Rồi đến lúc nó theo đoàn xuống Quy Nhơn để lên tàu ra bắc. Bà nội quá già, chỉ một mình nàng đưa tiễn. Lần đầu tiên nàng đi một quãng đường rất xa, những bốn mươi cây số. Con đường trải nhựa đen từ thời Pháp bị đào xới trong kháng chiến trông như một cái xương cá khổng lồ, bị ngắt ra nhiều khúc vì những cây cầu sập và những hố bom chưa lấp lại.
Không có tàu bay, không có súng đạn nên người ta đổ ra đường đi khơi khơi như để hít thở không khí của tự do và hoà bình. Suốt chín năm, giờ mới có được những ngày bình yên. Ai cũng vui, mặc dù người nào cũng hốc hác teo tóp. Nàng tưởng ai cũng như mình, đi tiễn chồng con đi tập kết. Thực ra họ đi gỡ dây thép gai, lượm lon đồ hộp của Pháp để lại. Ngược chiều với nàng là những người hai vai nặng quằng những khoanh dây kẽm, những đứa bé kéo cả chùm lon loảng xoảng trên đường. Đó là những thứ có thể làm ra gạo ra khoai.
Thành phố Quy Nhơn trong những câu chuyện mở đầu bằng “hồi xưa” của cha nàng với những phố lầu, những ngựa xe giờ chỉ là một đống gạch vụn mênh mông. Chỉ còn sót lại cái nhà thờ họ đạo với tháp chuông cao ngất và nhọn hoắc. Hết bị đập phá để tiêu thổ kháng chiến lại bị Pháp san bằng để chống lại du kích, cái thành phố nguy nga trong trí nhớ của cha nàng cũng đã theo ông đi xuống mồ. Nhưng hai mẹ con rất thích vì lần đầu tiên được thấy máy bay của uỷ hội quốc tế. Nó nằm phơi mình dưới ánh nắng, sáng loáng như một con thuyền sơn màu bạc. Không biết nó to và nặng như thế làm sao lại có thể bay lượn trên bầu trời như chim chèo bẻo. Không dùng để bắn giết, trông nó hiền lành như một con trâu đang nằm nhai cỏ.
Tại bến cảng, một con tàu Ba lan to như hòn núi Đất đang há cái mồm rộng để nuốt những khẩu đại bác nòng dài thòng, những xe tăng nặng chình chịch. Sau cùng, nuốt những đứa bé sắp hàng một trong đó có con nàng! Bọn nhỏ tuy hơi sờ sợ, nhưng khi được đưa lên boong, chúng lại thích thú dùng khăn tay đưa ra vẩy. Đáp lại là những giòng nước mắt, những tiếng gọi ’’ con ơi”thống thiết.
Rồi con tàu ngậm cái miệng đen ngòm lại, rúc lên những hồi còi xé ruột. Nó nhả những cuộn khói xám xịt lên trời, lừng lửng tiến ra khơi.
Nàng và bao người mẹ khác đứng chôn chân rất lâu trên bến cảng. Họ nhìn theo con tàu cho đến khi nó trở thành một cái chấm nhỏ rồi tan biến ở đường chân trời.
Đó là chuyến đầu tiên chở những mầm non ưu tú nhất của cách mạng ra bắc. Bùi văn Bang phải ở lại lo thu dấu tài liệu, chôn vũ khí, sắp đặt bố trí ai đi, ai ở, ai đổi vùng ..cả núi công việc. Mãi đến chuyến cuối cùng tức là mười tháng sau, ông mới đi. Dù cho hờn giận đến đâu thì tình mẫu tử và nghĩa vợ chồng vẫn khiến cho ba người ruột thịt của Bùi văn Liên Xô không khỏi ngậm ngùi trước lúc chia ly. Bà Cửu nước mắt lưng tròng nắm chặt tay con và anh ta đã cúi xuống ôm ngang lưng mẹ rất lâu. Vợ anh dặn phải nhớ chăm sóc con. Anh hứa hẹn: “không sao đâu, mười bốn tháng nữa thôi, cha con anh sẽ về”. Lần đầu tiên ông xưng anh với nàng và cũng lần đầu tiên nàng nghe lòng mình tan ra trong nước mắt.

Bùi Văn Liên Xô
1
Chẳng có tổng tuyển cử. Chẳng có thống nhất. Sông Bến Hải như một nhát chém cắt đôi đất nước ra làm hai miền thù địch. Miền Bắc thề đốt cả dãy Trường Sơn để giải phóng. Miền Nam cũng đòi lấp sông Bến Hải để giải phóng. Những cái “giải phóng” ấy đụng nhau nảy lửa ở khắp các mặt trận.
Như cá trong chậu, những người có chồng con đi tập kết bị gọi lên xã, lên huyện cứ như cơm bữa. Người ta hỏi có biết chồng con ở đâu không, đã nhận bao nhiêu lá thư gửi từ Pháp về, nhận những công tác gì, có gặp bọn nằm vùng hay không …Bọn họ tối đến còn phải đi ngủ tập trung, giống như trâu bò sau một ngày đi cày lại vào trong chuồng mà ngủ. Nhưng trâu bò còn được thả rơm cho mà nằm nhai lại suốt đêm. Bọn họ thì cứ bị dựng dậy bất cứ lúc nào. Nhất là những người có chút nhan sắc như nàng. Những cái nhìn như xé toang quần áo nàng ra, những câu nói tục tĩu, những tiếng cười dâm ô của bọn lính gác, của quan chức lớn bé làm cho nàng cảm thấy những năm tháng không có chồng con ở nhà thật là ô nhục.
Dù nàng chưa bị lột truồng ra, nhưng cuộc đời của nàng đã trần truồng như nhộng. Chẳng có một bàn tay đàn ông nào che chắn bảo bọc. Những người khác, mong đợi một ngày được chồng con trả thù rửa nhục, chứ nàng thì chẳng mong đợi gì hết. Nàng sống mà không một chút hy vọng. Sống như một lưu đày ngay chính quê hương mình. Sống như đốt cháy mọi niềm tin. Sống như tự mài mòn đi để trở thành đá cuội trong lòng thác. Nói như mẹ chồng: sống mà như đã chết rồi.
Bà Cửu tuy không phải đi ngủ tập trung, không phải bị gọi lên gọi xuống, nhưng với một đứa con ngỗ ngược, một đứa cháu hót những điều trái tai như sáo khiến bà còn chán nản tuyệt vọng hơn cả nàng. Lấy chồng xa, mấy mươi năm chưa một lần về thăm quê, cha chết rồi mẹ chết cũng chỉ biết khóc sưng mắt mà thôi. Chồng chết, bao nhiêu năm ở vậy nuôi con, những tưởng lớn lên nó đã có thể thay cha đưa mẹ về thăm nhà. Nào ngờ chiến tranh, rồi tập kết và nhất là nó coi bà như kẻ thù giai cấp, thì chắc đến lúc nhắm mắt bà cũng không thể trèo qua đèo Hải Vân mà thắp cho cha mẹ một nén nhang của đứa con bất hiếu.
Đã hơn mười năm, bà đã sống những tháng ngày nhạt nhẽo nhất trong đời. Sống với con dâu thì mặn nồng làm sao được. Cho dù nàng dâu của bà cũng đã làm tròn, có khi là hơn, bổn phận của mình với mẹ chồng, nhưng khác máu tanh lòng, sao bằng đứa con đứa cháu ruột rà. Nhiều đêm bà nghĩ thương cho phần số của cả hai người. Giống như hai cái cây bị róc hết cành nhánh, hai người sống cạnh nhau như hai cay cau bị gió bão làm cho trốc gốc, nằm vật lên nhau cũng chỉ đợi người ta cưa xẻ mà thôi.
Những tưởng bà sẽ phải chết dí ở cái nơi xa xôi này, không ngờ một ngày tháng năm, người em trai út của bà tìm đến thăm. Hôm đó, một người đàn ông trọ trẹ mới tới đầu đình đã làm cho mọi người tin chắc là ông ta đi tìm họ hàng. Những đứa bé nhanh chân đã chạy nhong nhong đến báo tin cho bà. Chúng nó nói, bà Huế ơi, cái ông mô mô tê tê gì kia có phải bà con của bà không? Trống ngực đánh thình thình, bà không tin vào đôi tai đã bắt đầu nằng nặng cho đến khi người em trai lúc bà đi theo chồng mới có 5 tuổi đứng trước mặt bà.
Khỏi phải nói là họ đã ôm nhau khóc một bữa đã đời. Khóc và tranh nhau nói. Những tê, những mô, những răng, những rứa, những hỷ, những tề, những tiếng lâu nay chưa có dịp tuôn ra giờ chảy ào ào như mưa nguồn thác lũ. Bọn trẻ con há hốc mồm ra nhìn cuộc trùng phùng sau hơn 40 năm. Bà cho chúng quà, nào kẹo gầng nào mè mè xững, những thứ lâu nay chúng chưa hề thấy bao giờ.
Bà Cửu cũng cảm thấy mình như được trẻ lại đến mấy chục tuổi. Bà nhớ lại hơn 40 năm trước đã từng bồng ẵm cậu em út, đã từng nựng nịu tưng tiu nó và thầm mong khi lấy chồng cũng sinh một đứa con xinh như thế. Bà hỏi han đủ thứ chuyện và mặc dù cậu lặn lội đường xa, bà vẫn muốn được chuyện trò suốt đêm. Cậu em đã nói cho bà nghe chuyện cha mẹ, chuyện các anh chị thương nhớ bà như thế nào, nhất là trong chín năm không biết bà sống chết ra sao. Khi nghe đình chiến đã muốn vào thăm, nhưng tang cha, tang mẹ, rồi bận lo con cái học hành đi lính đi tráng mãi đến nay mới vào được. Cậu tha thiết muốn được đưa bà về thăm quê.
Về thăm quê, còn gì vui hơn nữa. Mà lại về bằng máy bay thì đúng là dẫu có nằm mơ cũng không thấy!
Ở Huế hai tháng bà nhận ra được một điều: Chiến tranh dù đã xảy ra trên 20 năm nhưng ở tận đâu đâu chứ không ở thành phố. Bảo Đại dù xuống ngôi nhưng kinh thành Huế vẫn nguy nga đường bệ. Vẫn còn đó cửa Ngọ Môn, điện Thái Hoà. Vẫn còn đó cầu Tràng Tiền, chợ Đông Ba. Phố xá ngày càng tấp nập hơn. Những người bán hàng xén ngày trước như bà giờ là chủ những cửa hàng đồ sộ. Họ giàu ngất trong khi bà còm cõi dưới luỹ tre, hết chín năm kháng chiến đấu tố lại đến mười năm tố cộng.
Ở đây đâu có ai đi tập kết, đâu có ai phải đi ngủ tập trung. Giữa thành phố và làng mạc cách xa một trời một vực. Ở đây đèn điện sáng choang, còn ở làng quê đèn dầu leo lét. Ở đây, những người cỡ tuổi bà vấn khăn nhung, đeo chuỗi ngọc đi chùa, cỡ con trai bà mặc áo vét đi giày tây, cỡ con dâu bà áo dài màu tha thướt, cỡ cháu trai bà đi xe đạp sáng choang…Chiến tranh đâu có trùm lên tất cả.
Sao không bỏ nơi thù hằn, nơi ô nhục mà đi tìm nơi ánh sáng, nơi đồng tiền sẽ đẻ ra tiền. Việc gì phải chui rúc trong gian nhà mà cứ tối đến là phải thắp đèn đi soi từng hang hốc, việc gì phải còng lưng gánh từng gánh khoai gánh lúa chỉ để đổi lấy một đôi dép mới mang ba bữa đã đứt quai, một cái áo mới giặt vài nước đã tã ra, việc gì phải run sợ trước những thằng cha con mẹ còn thua bọn khuân vác hay đạp xích lô mà lên giọng này giọng nọ, việc gì phải cúi đầu chịu khổ khi trong tay mình có cả chục lạng vàng.
Đó là tài sản của cha mẹ để lại được anh em chia cho bà. Bọn họ còn đưa bà ra chợ Đông Ba để xem người ta mua bán, nhất là xem hàng vải của đứa cháu dâu. Bọn họ nói nếu không về Huế thì cũng phải bỏ cái xứ Đại Hữu tối tăm, cái xứ mà đêm đêm thường nghe cộng sản đánh trống khua chiêng ở phía bên kia sông, cái xứ mà con dâu bà không trước thì sau cũng bị làm nhục. Với ngần ấy vốn hai mẹ con dư sức mở một cái sạp nhỏ. Nếu buôn may bán đắt thì chẳng mấy chốc sẽ phất lên.
Bà nghe bùi tai quá và với cái nhìn và suy nghĩ còn hơn cả làm cách mạng, bà quyết đinh giao căn nhà họ Bùi cho người cháu họ. Cùng lúc ấy những ấp tân sinh ở gần núi đã bị đốt. Không đắn đo gì nữa, bà và con dâu chỉ mang theo những thứ cần thiết nhất lặng lẽ đi xuống Quy Nhơn.
2
Đầu tiên hai mẹ con thuê một căn nhà nhỏ ở gần kho xăng ông Tề. Phía sau là đầm Thị Nại, trước mặt là núi đá vôi với những con dê thả rong suốt ngày kêu be be trên những gộp đá. Hàng xóm cũng là những người đã sớm rời bỏ làng quê, những Trung Lý, Trung Định, những An Đông, An Ngãi, An Nhơn. Vẫn chỉ có một mình bà nói trọ trẹ mô tê giữa những âm thanh dẩy na chói tai ngộ nghĩnh. Tuy tiếng nói có đôi chút âm sắc khác nhau, nhưng tim họ như cùng đập một nhịp khi nghe nói tới hai tiếng cộng sản. Chẳng còn ai lạ gì những tiếng đấu tố, địa chủ, khả năng. Chín năm đủ cho họ dù không ruột rà thân thích hay bè bạn, chỉ một cái liếc nhìn cũng hiểu nhau những nỗi niềm lo sợ còn dội mãi trong lòng.
Cô cháu dâu nằn nì: “o vào trong nớ cố mà sang một cái sạp vải dù trong chợ nhỏ cũng được. O và chị Hai nghe nói dễ thương lắm thế nào cũng bán được mà. Cháu sẽ giới thiêu o với các đại lý ở Sàigòn, thấy bán được người ta sẽ cho o gối đầu lo gì mà không đủ vốn”. Mặc dù đã có người bày cho đi buôn, nhưng bà vẫn chưa dám. “Thôi hãy thư thả rồi sẽ liệu, bà nói với cô con dâu, giờ mình bày ra bán bánh canh cua hay bánh bèo kiếm sống qua ngày đã”. Cô con dâu dĩ nhiên là thuận theo ý bà. Nàng tất tả đi mua những thứ vật dụng cần thiết. Bà đi chợ xem cách người ta mua bán cua, học cách chọn cua gạch và tìm người thuận bỏ mối cho bà.
Với sự khéo tay của bà, cộng với sự ngăn nắp sạch sẽ của con dâu, chỉ dăm bữa là cái gánh bánh canh cua của hai mẹ con bà đã được cả xóm cây xăng ông Tề biết tiếng. Người ta khen sợi bánh canh mềm mà lại dai, thịt cua chắc và nhất là gạch cua đỏ như son chen lẫn với hành ngò xanh trông rất bắt mắt. Một bát chỉ hai đồng bằng giá một ổ bánh mì thịt, mà ăn tới đâu ngọt lịm tới đó.
“Cũng chẳng có bí quyết chi mô, bà nói, cái khó là phải lựa cho được cua gạch. Bánh canh cua mà không có cua gạch cũng như một cô gái thiếu phấn son. Đẹp thì có đẹp nhưng chưa chắc đã giữ được ai lâu dài”. Tuy không nói ra, nhưng bà tin sở dĩ đắt hàng, một phần cũng nhờ cô con dâu có con mắt đen ướt khiến bà cũng phải xiêu lòng huống hồ là đàn ông. Ngu chi mà ngu lạ rựa, bà nói, khi nghĩ tới cậu con trai đi theo đảng không biết đói no thế nào trên đất Bắc. Vợ đẹp như rựa mà bỏ đi đành đoạn!
Sống được với gánh bánh canh, hai mẹ con cũng quên luôn cái sạp vải trong dự tính. Thực ra họ có nghĩ tới. Bán vải thì nhàn hơn, chỉ ngồi trong mát khỏi phải kĩu kịt gánh từ xóm nọ sang xóm kia, khỏi phải lặn lội dưới mưa nắng và bà, nhất là, bà khỏi phải thức khuya dậy sớm trong khi tuổi già làm cho lưng cổ lúc nào cũng đau nhức. Nhưng bán vải thì to thuyền lớn sóng, lỡ trộm cướp hay cháy chợ cháy nhà thì tiêu ma cả vốn liếng. Sống cái nhà, thác cái mồ, chi bằng mua một căn nhà, dẫu có bị pháo kích cháy cũng hãy còn lại cái nền đất. Ở thành phố, một tấc đất là tấc vàng., giữ vàng trong mình đâu bằng giữ đất. Thế là một năm sau họ mua được một căn nhà bề ngang bốn thước, bề dài mười hai thước cũng ở trong xóm cây xăng ông Tề.
Vậy là an cư lạc nghiệp.
Và, nàng trở thành cô hàng quà.
Chẳng còn bị ai gọi tới gọi lui, chẳng còn ai lăm le làm nhục. Nàng thấy cuộc đời bỗng dưng trở nên dễ sống, đáng yêu. Và còn đáng yêu, còn đẹp hơn nữa nếu bên cạnh nàng có Bùi văn Mỹ. Nàng chi xiết nhớ con. Mặc dù lúc này nó đã 20 tuổi nhưng trong tâm trí nàng nó hãy còn là một đứa bé. Nàng nhớ xiết bao cái tiếng gọi mẹ ơi, mẹ ơi. Nàng nhớ hai bàn tay bé bé xinh xinh với những ngón đỏ hồng của nó xoè ra nâng niu những bông dúi dẻ, nhớ hàm răng lòi xỉ khi nó cắn những trái chim chim đỏ mọng, nhớ cái đầu hơi méo của nó tựa trên đùi nàng khi hai mẹ con ngồi nghỉ ở tảng đá đen trên núi Đất. Nhớ quá chừng, quá đỗi, mẹ nhớ quá con ơi! Không đêm nào là nàng không khóc khi nghĩ tới nó.
Giờ nó đang ở đâu trên đất Bắc xa xôi? Nó đang đi học hay đi lao động ở các nông trường. Nó ở Liên Xô, Trung Quốc xa tít tắp hay đang lẩn trốn ở núi rừng Trường Sơn đầy ma thiêng nước độc. Làm sao tôi lại để nó đi được nhỉ? Sao tôi không đu lên tàu mà kéo nó xuống, sao tôi cứ lặng lẽ khóc mà không biết đấu tranh cho sự sống còn của chính nó và của tôi?
Đằng đẵng hơn mười năm trời, chồng nàng gần như chưa bao giờ hiện diện trong tâm trí. Có những cặp vợ chồng, nàng thấy, họ mắng chửi nhau thậm tệ, nhưng sau đó dường như người nào cũng thấy mình có ít nhiều lầm lỗi, nên lại thấy người kia tội nghiệp, lại thấy thương, lại làm lành, lại chăm sóc nhau như lúc ban đầu. Nàng thì chưa bị chồng tát cho một bạt tai nào chứ đừng nói tới chuyện nắm tóc cột vào chân giường, xé đốt quần áo. Nhưng mà sao cứ thấy nhạt như nước ốc. .
Nghĩ lại, nàng thấy mình cũng còn may. Có một bà mẹ chồng biết phải biết trái, không hà khắc con dâu là xưa nay rất hiếm. Ngày trước nghe bà nổi tiếng khó tính nàng rất lo sợ, nhưng có ở với nhau nàng thấy bà cũng đâu có khác gì mẹ ruột dù nàng chưa biết mặt mẹ. Cái lần nàng ngủ trong ang lúa, cứ tưởng bà sẽ chì chiết suốt đời, không ngờ bà nói như nói với con gái: dại chi mà dại rựa! Đến bây giờ nàng vẫn thấy mấy tiếng dại chi mà dại rựa nó dịu ngọt làm sao. Một lời nói như vậy, dẫu có chết vẫn còn muốn mang theo xuống mồ cho nó ấm áp.
Hai mươi năm.
Không như ngày trước, chiến tranh không chỉ là bom rơi đạn nổ ở làng quê, mà bây giờ còn là đạn pháo kích vào thành phố,là lựu đạn nổ trong bar, là cầu bị gài mìn, là truyền đơn trong rạp hát, là xe hụ còi inh ỏi, là máy bay trực thăng bay lên bay xuống mệt nhoài để tải thương, là bồng bế gồng gánh, cả người và trâu bò chen chúc nhau vào thành phố. Cái bộ mặt chiến tranh trở nên đểu cáng hết chỗ nói. Thả bom cho nát bét ra rồi hội này hội nọ tới cứu trợ. Đốt làng đuổi dân chạy như chuột rồi dựng lều dựng trại tiếp cư. Đùn đẩy đàn bà trẻ con đi biểu tình chửi mắng để cho lính bắn rồi lu loa lên là tàn ác dã man. Chiến tranh quy ước, chiến tranh nhân dân, chiến tranh chính trị, chiến tranh kinh tế… đủ thứ chiến tranh trút xuống như mưa trên đầu những người dân vô tội.
Một sáng nọ có một người đàn bà ăn bánh canh xong lại lẽo đẽo đi theo nàng. Đến một chỗ vắng người, bà ta dúi vào gánh nàng một xấp truyền đơn. Bà bảo bà biết rõ chị là ai và vừa khuyên vừa doạ chị hãy tỏ ra xứng đáng với chồng và con. Nàng sợ đến nỗi không dám đi bán nữa mà gánh chạy tuốt về nhà. Mẹ chồng hỏi “sao về sớm”, nàng bảo “con thấy chóng mặt nhức đầu quá”. Bà bảo,” thôi còn bao nhiêu để lại ăn khỏi nấu cơm. Ngã bệnh thì khổ”. Nàng dạ, rồi vội vàng xuống bếp ném thẳng vào lửa. Mãi đến khi tất cả đã thành tro, nàng vẫn còn run.
Hai hôm sau, cũng người đàn bà đó cố ý bỏ quên một cái xách tay trong một tiệm ăn. Đến trưa thì nó phát nổ.
Thế là người ta bắt đầu chú ý đến những gánh hàng rong, những thúng xôi, những rổ bắp. Những gã đàn ông không ăn quà chỉ đứng xa xa hút thuốc. Là công an chìm, là mật vụ. Những con mắt cú vọ theo đuổi nàng như những con ruồi bay theo nồi bánh canh. Cả trong giấc ngủ nàng cũng mơ thấy những tờ truyền đơn bay chấp chới và những trái lựu đạn nằm lăn lóc.
Nàng sợ tưởng sắp phát điên, đành nói thật với mẹ chồng. Bà cụ thở dài. “Đồ vô hậu, bà nói, thôi để mạ sang cho một sạp bán quần áo cũ. Mạ chỉ còn chút ít để dành lo đau bệnh. Cũng đành dốc hết ra mà làm ăn chớ biết sao! Loạn chi mà loạn rựa tề!”
3
Sạp bán quần áo cũ sang lại ở chợ nhỏ khu Năm. Mỗi bề rộng một thước rưỡi chỉ đủ đặt một cái thùng gỗ cao hơn nửa thước. Có đến nửa thùng là đồ viện trợ gồm những cái váy to như bồ lúa, những chiếc quần kaki rộng thùng thình mà dân tản cư thường chọn mua lấy vải để may cho chồng con. Nó vừa rẻ vừa chắc. Nhiều bà, trời lạnh, cả mấy mẹ con cùng chui vào một cái váy là đủ ấm, khỏi cần phải chăn nệm. Các bác xích lô, bốc vác lại thích quần áo lính ta, trong khi thanh niên, công chức thích vải gabacdin của Mỹ. Ngoài ra còn có giày bố, giày bốt đờ sô… Cửa hàng tầm tầm nhưng cũng đã vét của bà Cửu đến những lạng vàng cuối cùng.
Được ngồi suốt ngày trong mát, được ăn mặc sạch sẽ dễ coi, nên dù không phấn son như mấy cô bán hàng khác, nàng vẫn có một nét đẹp mặn mà. Không ai nghĩ là nàng đã quá ba mươi.Trái lại người ta cứ tưởng là nàng kén chồng hơi kỹ nên tận bây giờ vẫn chưa có ai.
Trong số những người để mắt đến nàng có một anh công chức làm ở toà hành chánh. Anh đã mua của nàng cả chục bộ quần áo treo đầy tủ nhưng không mặc bao giờ. Cứ mỗi lần ghé lại là anh mua một bộ. Anh chỉ chọn lựa, trả tiền rồi đi, không nói với nàng tiếng nào. Chừng như, mối tình của anh tính theo quần áo, đã đến lúc chạm nóc tủ, anh liền mua tặng nàng một chiếc nhẫn.
Nàng ngạc nhiên bảo là nàng có chồng rồi nhưng anh không tin, anh bảo là anh sẽ cưới nàng làm vợ và nàng sẽ chỉ ở nhà lo cơm nước khỏi phải buôn bán chi cho khổ cực. Nàng hơi bối rối, nhưng cái ý nghĩ lấy chồng một lần nữa làm cho nàng cười thầm.
Ừ nhỉ, sao không bỏ quách mà đi lấy chồng khác như nhiều người vợ có chồng tập kết mỏi mòn không chờ đợi được. Có chồng, còn là một cách vứt bỏ cái mũ thân cộng đang đội trên đầu, là xoá sạch quá khứ tối tăm hướng đến một tương lại sáng sủa. Có chồng, được quá đi chớ. Nàng đâu đã già.
Nhưng, dù anh Bùi văn Bang yêu đảng hơn yêu vợ, và Bùi văn Mỹ dù đã được đổi thành Bùi văn Liên Xô cũng vẫn là con nàng, cho nên dẫu có phải đội hàng chục cái mũ thân cộng trên đầu thì nàng cũng không thể nào hất xuống mà đi lấy chồng được.
Chỉ khổ một điều, trong bóng tối người ta vẫn tưởng là nàng chung thuỷ với chồng và trung thành với đảng nên vẫn tìm cách liên lạc để xin được tiếp tế hay mua thuốc tây. Những lần như thế, nàng phải lén lút mua gửi lên núi mà xong việc rồi đến cả tháng vẫn còn sợ. Nếu mật vụ biết được thì chẳng những nàng bị đi tù mà sạp hàng, cơ nghiệp của mẹ chồng cũng bị tịch thu sạch!
Đồng tiền trong chiến tranh như nước chảy vào chỗ trũng. Dân càng chạy loạn nhiều thì túi càng rổng, trong khi những người phố thị túi lại cứ càng ngày càng đầy lên. Nàng tuy chẳng thấm vào đâu so với những nhà buôn lớn, nhưng cứ thêm nhiều làng bị đốt là nàng lại bán thêm được nhiều hàng. Ngoài chuyện đủ ăn đủ mặc, nàng còn dành dụm gửi mẹ chồng mua vàng. Giờ đây, nàng đẹp hơn, tươi tắn hơn, áo hoa quần lụa chứ không phải thô nhám, xấu xí và đã biết lén thoa một chút phấn, bôi một chút son mỗi khi ra chợ. Có người rủ nàng phi dê nhưng nàng lắc đầu không chịu. Ai lại để cái đầu như tổ quạ. Nhưng nàng cũng biết để cho thợ hớt bỏ cái búi tóc và kẹp bằng một cái kẹp đồi mồi. Những người quê cũ gặp lại nàng đã phải kêu lên: chu cha sao bữa nay đẹp dử dẩy?
Mặc dù nàng không chịu nghiến răng cắt đứt quá khứ, nhưng cái tuổi xuân hơ hớ cứ như gọi như mời, hết anh thư ký tỉnh lại đến một anh thượng sĩ.
Đó là một người cũng ngoài ba mươi như nàng. Một người Bắc di cư ăn nói từ tốn nhỏ nhẹ. Anh không tán tỉnh, không chọc ghẹo nàng. Anh chỉ làm như tình cờ một bữa trưa ghé qua hàng của nàng không mua mà xin đổi một đôi bốt đờ sô vừa chân, bù bao nhiêu cũng được. Sau một hồi xỏ chân thử hết đôi này đến đôi khác, anh chọn được một đôi giày Mỹ mới toanh. Anh hỏi nếu bán thì giá bao nhiêu. Theo lời mẹ chồng dặn, nàng nhìn mặt anh một lúc rồi nói năm trăm. Anh rút bóp đếm tiền trả đủ, không cò kè thêm bớt. Anh lại để đôi giày của mình nói, tôi không cần đến nó nữa, rồi anh đi. Tuy được món lời kha khá, nhưng nàng cũng thấy bình thường, chẳng một chút gì để ý đến anh ngoài cái ý nghĩ là anh ta làm ra bộ bảnh.
Nàng quên mất anh ta cho đến một hôm trời mưa như trút, nước trong chợ dâng lên đến chân sạp. Nàng loay hoay lo dọn dẹp. Đúng lúc ấy anh ta xuất hiện và giúp nàng che chắn cho khỏi dột. Để cảm ơn anh, nàng kéo mấy chồng quần áo vào trong cho anh ngồi ghé lên sạp.
Anh đem kẹo lạc ra mời, nàng lắc đầu. Nàng lờ mờ cảm thấy anh ta cười cái tiếng nẫu, nên nàng chỉ ngồi im nghe anh nói. Không ngờ cũng giống như trời mưa, anh tuôn ra hàng bao nhiêu chuyện. Anh nói tới những miền quê xa xôi của anh, những con đê cao vút, những mái chùa xanh rêu, những cổng làng với cây đa, rồi tới những ngọn tháp Chàm ở Bình Định…
Với một giọng ấm áp, thân tình anh đưa nàng đi từ chùa này đến tháp nọ. Nàng trố mắt ra nhìn anh như một cô bé ngây thơ mười lăm tuổi. Mãi đến khi anh đi rồi nàng vẫn còn ngẩn ngơ vì lần đầu tiên nàng được nghe một người đàn ông ăn nói dịu dàng đến thế. Không như chồng nàng lúc nào cũng dấm dẳng nếu không muốn nói là như dùi đục chấm mắm nêm!
Rồi sau đó, thỉnh thoảng những buổi trưa chợ vắng khách anh lại tới.
Vẫn những câu chuyện thương nhớ quê hương xa xôi, vẫn những nỗi buồn trầm trầm lành lạnh. Dường như tất cả những thứ ấy đang ẩm mốc trong lòng anh cần phải đem ra phơi nắng và nàng chính là thứ nắng mới ấm áp mà anh cần. Lạ lùng làm sao, là chính nàng cũng có những thứ cần đem ra phơi dưới ánh nắng của anh. Không còn sợ anh cười cái tiếng xứ nẫu nữa, nàng cũng nói về con sông chảy qua làng, những cánh đồng lúa chín, những trái chim chim dúi dẻ ở núi Đất, về bộ râu dài và trắng như bông lau của cha, về tiếng goi mẹ ơi nũng nịu của con trai.
Dĩ nhiên nàng không nói về chồng. Nhưng anh nói về vợ anh. Cô ấy đẹp, thích chưng diện, thích phiêu lưu tình ái, nên không chịu bay về cái tổ nghèo nàn không được ấm của anh.
Thế rồi người nọ thấy nhơ nhớ người kia và người kia thấy thinh thích được gặp người nọ.
Một ngày đẹp trời mùa hạ, bỗng nàng bằng lòng chịu để anh đưa đi chơi. Anh đã đưa nàng lên tháp Đôi sờ những viên gạch đỏ thắm dù đã ngàn năm, đưa xuống gành Ráng thăm mộ Hàn Mặc Tử, rồi đi ăn cao lâu ở tiệm người Tàu.
Lần đầu tiên nàng được một người đàn ông gắp bỏ vào chén những con tôm bóc vỏ, những miếng mực trắng bong, rót nước ngọt cho nàng uống.
Lần đầu tiên nàng thấy mình được chìu chuộng cứ như một khách quý.
Suốt một ngày, nàng như một con nhộng được anh ta trói buộc bằng những sợi tơ mềm. Cho nên khi anh nằm xuống bên nàng nhẹ nhàng cởi cúc áo, nàng đã không bỏ chạy trốn vào ang lúa! Nàng cũng không cảm thấy mình bị cưa xẻ ra làm đôi và dường như nàng có kêu lên nhưng không phải là tiếng thét hãi hùng.
K.B.C của anh là…
Số quân của anh là…
Đơn vị của anh là …
Nơi đóng quân của anh: Phú Tài.
Nhiệm vụ của anh: giữ kho đạn.
Anh hứa tháng tới anh sẽ cưới nàng cho dù nàng là vợ của cán bộ đi tập kết. Anh nói, “anh không đủ sức giải phóng miền Bắc. Anh chỉ đủ sức giải phóng em”.
Và họ tạm xa nhau.
Anh về kho đạn, nàng về sạp hàng.
4
Một tháng sau không thấy anh.
Hai tháng sau không thấy anh.
Ba tháng sau cũng không thấy anh.
Nhưng nàng thấy mất kinh đã hai lần!
Một hôm, đang ngồi ăn cơm, mẹ chồng bỗng hỏi, sau khi nhìn sững vào cổ nàng.: “mi có mang rồi hỉ?”
– …ơ mà…!
– Có mang mà không biết à?
– Dạ…con chỉ thấy tắt kinh!
– Rựa là có mang rồi! Ai? Chẳng lẽ thằng Bang mò về?
– Dạ không…!
– Với người khác hả? To gan chưa tề! Thế hắn ở mô?
– Dạ ở Phú Tài.
– Làm chi?
– Dạ lính.
– Rứa là tiêu đời mi rồi. Lính tráng làm sao tin được. Nay chỗ này mai chỗ khác, hắn quất ngựa thì biết tìm mô!
– Ảnh hứa sẽ cưới con.
– Ai cho hắn cưới mà cưới. Nói sướng chưa. Vậy mà mi tin hắn?
– Dạ con lỡ dại!
– Đã ba lăm tuổi đầu mà dại à?
– Dạ, thưa mạ tha tội cho con.
– Tội lệ chi mi. Chỉ có tội con gái già này thôi. Cả tiền oan nghiệp chướng của cả nhà họ Bùi chỉ trút lên đầu tau mà thôi!
Bà buông đũa đứng lên. Ngay cả những lần bị gọi lên quận để tra hỏi về tung tích của chồng con cũng không làm cho nàng sợ như vừa rồi.
Đêm hôm đó nàng khóc ướt cả gối.
Chẳng lẽ anh ta quất ngựa như mạ nói. Nhiều người trong chợ bảo chớ tin những cái miệng người Bắc. Nàng cũng đã phát khùng với những cái miệng như thế. Nhưng với anh, không hiểu sao nàng lại tin. Tin hơn cả cha, hơn cả mẹ (nếu còn mẹ). Anh đâu có nói nhiều, cũng không trao nhẫn. Anh chỉ đón nhận một cách trân trọng những gì nàng đã trao và nói như đinh đóng cột: “coi như chúng mình đã là vợ chồng”.
Không thể chờ đợi được nữa, nàng nghỉ một ngày chợ, đi xe lên Phú Tài. Có phải ra Bắc đâu mà không thể tìm tới.
Người sĩ quan trực sau khi nghe nàng nói là vợ chưa cưới, liền chỉ tay về phía những bức tường ám khói, những miếng tôn vặn vẹo, cháy đen. “Đấy là cái kho đạn vừa mới bị pháo kích, ông ta nói. Chẳng tìm được chút gì của anh ta. Thành thật chia buồn. Phải chi đã cưới nhau thì đơn vị sẽ làm hồ sơ để cô nhận chút ít tiền tử”
Nghe chưa xong, nàng đã ngất xỉu tại chỗ.
Phần số của tôi như thế này sao? Tôi biết mình sinh ra là để chịu đựng, nhưng cũng một vừa hai phải thôi, chứ cay nghiệt như thế này làm sao tôi chịu đựng nổi! Tôi có tội tình gì? Anh có tội tình gì? Chẳng lẽ thương nhau là một cái tội. Hay là tôi ngu dại quá. Phải chi tôi lấy một anh thư ký hành chánh thì tôi đã được yên thân rồi. Còn anh, sao không chọn làm lính văn phòng mà lại đi giữ những thứ giết người để nó làm cho anh tan xác. Ai chết đi cũng có một nấm mồ. Còn với anh như thế, tôi biết tìm đâu mà thắp cho anh một nén nhang.
Trở về nhà, nàng nằm suốt ba ngày không ăn uống. Mẹ chồng cũng hơi lo. Bà vào buồng, ngồi xuống bên cạnh nàng. Bà nói trong tiếng thở dài:” Dại chi mà dại rựa! Hắn trốn mất rồi phải không?” Nàng bỗng ngồi dậy ôm chầm lấy bà khóc nức nở. “Anh ấy chết rồi mạ ơi!” “Ủa, răng mà chết”, bà hỏi dồn. “Dạ bị pháo kích”.” Trời, ạc chi mà ạc rựa” Bà lại kêu lên câu nói quen thuộc. Một lúc sau bà nói “ Thôi đừng khóc nữa. Cũng may còn được giọt máu của hắn, đừng có dại dột mà đi phá. Mạ sẽ giúp cho con sinh nở đàng hoàng.” Rồi bà lại nói tiếp một cách ngậm ngùi:” cũng hay đấy, vậy là mạ sẽ có cháu bồng!”
Năm ấy, trời bỗng mưa suốt hai tháng. Bà Cửu nói, chắc Diêm vương đi lấy gỗ về xây cung điện. Hà bá phải dâng nước lên mới đem đi được. Ngọn núi trước mặt sạt một mảng lớn. Chợ lúc nào cũng ngập. Nàng lội nước mãi, chân trắng bệch, sưng phù lên. Bà Cửu bảo ở nhà nhưng nàng nghĩ sắp đẻ chửa, kiếm được đồng nào hay đồng nấy. Ngồi không mà ăn, dù của núi cũng lở huống hồ là cái sạp đồ cũ bé nhỏ của nàng.
Lúc này, VC áp sát thành phố. Chỗ nào cũng bị gài chất mổ, ném lựu đạn. Liên gia đại biểu lập danh sách đen những gia đình thân cộng. Nhà nàng đứng đầu sổ. Đây có thể là đầu mối giao liên, là cơ sở. Sạp hàng của nàng bị dòm ngó rất kỹ.
Một hôm, trên đường ra chợ, không có một cớ gì hết, nàng vẫn bị bắt đưa về đồn. Một nữ an ninh hỏi nàng:
– Chửa ai đó? Nàng lặng im.
– Câm à? Mụ đập bàn quát.
– Tôi chửa ai thì việc gì đến bà!
– Chồng đi tập kết, không chửa chồng thì chửa ai?
– Không chửa chồng bà là được rồi.
– A, mày dám láo với bà hả. Bà sẽ cho mày tù rục xương.Chồng mày ở đâu, nói mau!
– Tôi không biết!
– Chỉ biết chửa thôi à?
Mụ nguýt nàng một cái rõ dài rồi tống giam. Mãi ngày hôm sau bà Cửu mới tìm được chỗ giam nàng. Như một con gà mái xù lông để che chở đàn con trước diều hâu, bà cũng xù lông ra trước bọn an ninh. Bà lớn tiếng:
– Răng mà nhốt con tui?
– Con gái bà ?
– Con dâu
– Vậy bà là mẹ Việt cộng?
– Thì đã sao!
– Có chứ. Bà phải nói con bà trốn ở đâu. Nếu không cũng bị giam đấy!
– Thì cứ giam tau đi!
Nói thế chứ không ai muốn giam bà.
Buổi chiều bà lại đến. Rất bất ngờ, bà lôi từ trong bụng ra một chai xăng:”Tau tự thiêu như Thích Quảng Đức cho mà coi.” Người ta vội vàng ôm chặt lấy bà. Và cũng vội thả nàng ra. Từ đó, cả xóm cây xăng ông Tề đều gọi bà là bà Huế lựu đạn.
Cuối năm, nàng sinh một đứa bé trai, tính ra thiếu mất một tháng. Nó được ghi trong khai sinh là con tư sinh. Và vì sinh ở Quy Nhơn nên nàng dặt tên nó là Trần văn Quy Nhơn. Nó èo uột khóc ngằn ngặt suốt cả ngày lẫn đêm. Cả nàng và mẹ chồng đều phải khổ vì nó. Mặc dù chẳng phải máu mủ ruột rà, nhưng bà Cửu lại rất thương thằng bé. Bà nói” chẳng đứa mô tội nghiệp như nó. Mới tượng hình trong bụng mẹ mà đã mồ côi cha. Chết chi mà chết oan chết ức. Từ nay lấy ngày kho đạn nổ mà cúng kỵ.”
Thật hiếm có người mẹ chồng nào như bà. Chỉ cần thấy con dâu vác cái bụng chang bang về nhà là đã nổi xung thiên lên rồi. Không tống cổ ra khỏi nhà đã là may. Lại còn cho phép giỗ thằng chồng mới trong nhà, lại xưng bà ngoại với thằng bé. Vậy thì có khác gì là mẹ đẻ. Nàng xúc động nói:”con xin cảm ơn mạ. Không có mạ, con chẳng biết day trở ra làm sao”! Bà nói:”ừ, nghiệp chướng chẳng phải riêng gì tau mà còn cả mi cũng phải chịu. Thôi ráng mà ăn uống giữ gìn. Nghĩ mà thương cho thằng Mỹ, chẳng biết lúc nào nó về! Còn thằng cha nó nữa, dại chi mà dại rựa”!
Nghe nhắc đến hai cha con, nàng ngồi ôm mặt khóc nức nở.
Đúng là khôn ba năm dại một giờ. Dù sao tôi cũng có lỗi với anh. Có khác gì tôi đi ngoại tình. Nhưng anh cũng biết đấy, sống với anh tôi héo hắt biết chừng nào. Chỉ đến khi gặp anh ta, tôi mới biết cuộc đời tôi có thể tươi lên đôi chút. Tôi chẳng ham gì chuyện ân ái, nhưng buổi chiều hôm đó, dưới bóng nắng lưa thưa, tôi thấy mọi sự tự nhiên như nước sông là phải chảy, giọt mưa là phải rơi. Tôi lại càng có lỗi với con tôi. Chính mẹ mới phải xấu hổ vì con, chính mẹ mới bị con mắng té tát vào mặt. Nhưng mà con ơi, suốt bao nhiêu năm không thấy mặt con, lòng mẹ lạnh lẽo quá. Mẹ là đàn bà, mẹ cũng cần có tiếng khóc tiếng cười để sưởi ấm cho mình. Dù cho thế nào thì nó vẫn là em con, vẫn trong bụng mẹ mà chui ra, vẫn cùng bú sữa của mẹ. Vả lại, anh ta đã không còn trên đời này nữa thì nó chính là giọt máu linh thiêng mà tôi phải thờ phụng. Tôi phải nuôi nó thành người. Tôi sẽ không để cho ai cướp đoạt con tôi một lần nữa.
5
Nhờ được chăm chút, nâng niu, thằng bé rồi cũng qua khỏi cái “đốt” khó nuôi. Nó đã biết chạy biết chơi như những đứa trẻ khác. Trong căn nhà nhỏ lúc nào cũng rộn vang tiếng nói tiếng cười. Giữa hai người đàn bà bao nhiêu năm khô mục héo hắt, nó vươn lên như một mầm xanh tươi mới.Tết này nó được ba tuổi. Nó đã có thể nắm áo theo bà đi lễ chùa.
Hàng họ khá đắt, nàng định năm nay sẽ ăn một cái tết to. Sẽ mua một nhành mai để giữa nhà, sẽ đốt pháo, sẽ mua cho con quần áo đẹp, giày trắng và mũ kết đỏ. Tuy chưa dám nói ra nhưng nàng dự tính sẽ thuê xích lô để hai mẹ con lên thăm tháp Đôi. Rồi lớn thêm một chút nữa, nàng sẽ đưa nó đi ăn ở tiệm cao lâu, sẽ đi thăm gành Ráng, nơi mà từ đó như hương hoa của đất trời, nó đã được sinh ra. Nó càng lớn, nàng càng nhớ người cha tội nghiệp của nó, nhớ cái phút giây kỳ lạ như một ánh sao băng bay qua giữa trời.
Dù vẫn không ngớt bị pháo kích, dù cái vòng đai an ninh đã bị thu hẹp lại dần, nhưng dân thành phố vẫn rộn ràng chuẩn bị một cái tết có lẽ là sẽ to hơn mọi năm. Dường như chiến tranh kéo dài lâu quá khiến người ta chai lỳ. Biết đến bao giờ có hoà bình mà chờ. Biết chết nay sống mai đâu mà đợi. Thôi thì sống được ngày nào hãy cứ sống. Vả lại, tết năm nào chẳng có hưu chiến. Hai bên cũng phải nghỉ xả hơi chứ. Thế là rượu cứ chảy tràn, bia cứ việc rót tới, áo quần là lượt cứ đem ra mà mặc, xe cứ chạy như bay…
Pháo đã nổ ran từ hăm ba tháng chạp để đưa ông táo về chầu trời cho nhanh. Pháo lại nổ suốt chiều ba mươi để đón rước ông bà tổ tiên. Rồi pháo lại rền vang hơn lúc nào hết trong đêm giao thừa. Cái phút giờ huyền bí linh thiêng ấy đã mở ra trong lòng mọi người cánh cửa của bình minh. Người ta chúc mừng nhau đã sống thêm được một tuổi, đã tai qua nạn khỏi, đã tránh được hòn tên mũi đạn…Tủi tủi, mừng mừng, những người lính xa nhà thay tiếng pháo bằng tiếng súng. Bắn cho đỡ nhớ người yêu, bắn cho tan nỗi buồn “xuân này con không về thăm mẹ”. Súng to, súng nhỏ đều ngửa nòng lên trời mà bắn.
Nào ai có ngờ, cộng sản cũng muốn ăn một cái tết to bằng…súng đạn! Súng của họ không chỉa lên trời mà chỉa vào những đồn bót “ngọn cờ ngơ ngác trống canh trễ tràng”! Từ sông Bến Hải đến mũi Cà Mau, đạn của lính miền Nam xé nát bầu trời, còn đạn của lính miền Bắc xé tan những lồng ngực. Những người lính đang nhớ mẹ, nhớ người yêu, ai ngã xuống thì cứ ngã, ai tỉnh giấc mơ thì cứ đều quay ngang đầu súng mà thi nhau vãi đạn về phía những người anh em lật kèo. Đạn đan nhau còn dày hơn lưới một. Mọi người đều nằm rạp xuống sàn nhà.
Bỗng một tiếng nổ to: kho xăng ông Tề đã bốc cháy.
Bà Cửu và nàng ngồi ôm thằng bé nép sát vào một góc nhà Ánh sáng của ngọn lửa kho xăng soi rõ như ban ngày. Nó nhắm mắt, rúc sâu vào ngực mẹ.
Vậy là hết tết, hết mặc quần áo đẹp, hết đi lên tháp Đôi. Chưa bao giờ nàng thấy buồn như lúc này.

Ba ngày sau phía bên kia rút. Bên nào cũng nói chiến thắng. Chỉ có cửa nhà đổ nát, người chết và bị thương là thất bại hoàn toàn. Mặc dù rất bàng hoàng, lo sợ, nhưng mọi người cũng phải lao vào cuộc sống. Chợ vẫn nhóm và tại đây người ta kháo nhau đủ thứ chuyện mà ai cũng bảo là chính mắt mình trông thấy. Cảnh bắn nhau, cảnh rượt đuổi trên đường phố. Và nhất là những xác VC được đem ra phơi nắng như những chiến công. Có người rủ nàng đi xem. Nàng rùng mình lắc đầu.
Buổi chiều, đang lay hoay dọn dẹp, có một người ngó trước nhìn sau, lén đưa nàng một tấm hình.
Đó là tấm hình đen trắng đã ố vàng. Nàng cũng có một tấm hình như thế, chụp hai mẹ con ở Đập Đá. Nàng muốn hỏi xem ở đâu mà có được. Người ấy nháy mắt ra dấu bảo dọn hàng. Nàng liền tộng tất cả vào thùng, khoá lại rồi đi theo.
Quanh co một hồi ở khu Sáu, hai người đến một căn nhà không số. Cửa hé mở cho nàng vào nhà, người ấy ở lại bên ngoài cảnh giác. Chủ nhà là một cơ sở đưa nàng ra sau. Trong gian buồng tối tăm chật chội, một người bị thương nhuộm đầy máu đang nằm thở thoi thóp. Đó là chủ nhân của tấm hình.
Đây là con tôi, đứa con bé bỏng tội nghiệp đã xa mẹ gần mười lăm năm.
Đây là con tôi, là con của tôi, cho dù nó có là Việt cộng.
Con ơi, sao lại về với mẹ trong tấm thân rách nát như thế này?.
Sao con không đi Liên Xô Trung Quốc như cha con bảo?
Còn cha con sao không bảo bọc che chở, sao để con tết đến không được một chiếc áo mà mặc, trên người chỉ có mỗi một chiếc quần cụt!
Sao con về mà không đi thăm mẹ, sao không để mẹ mua quần áo mới cho con, sao không để mẹ dọn cơm ngon canh nóng cho con, sao không nằm ngủ bên cạnh mẹ một đêm, sao con không mừng tuổi bà nội?
Trời hỡi, tôi biết kêu ai, biết gọi ai! Ai cũng lặng câm, những người chỉ biết đứng sau lưng đàn bà và trẻ con mà hò hét, mà xúi dại như xịt chó vào bụi.
Nàng gục đầu lên ngực con muốn gào khóc thật to. Nàng nghe tiếng thì thào: “mẹ ơi, mẹ đấy hả mẹ?”
Nàng vừa khóc tấm tức, vừa bế con lên. Người ta hỏi:”Làm gì vậy?” “Đi nhà thương”, nàng nói thảng thốt. “Không được đâu. Đem đi là lính bắt ngay”
“Dù có bị bắt, dù có tù đày, tôi cũng phải cứu được con tôi”.
“Đã bảo là không được. Đưa bà tới đây là để cho đồng chí ấy được nhìn mẹ lần cuối, chứ cứu chữa được gì”
“Vậy sao? Không ai cứu được con tôi sao. Thì bom đạn hãy rơi xuống đây cho mẹ con tôi cùng chết”. Nàng không giữ gìn gì nữa, gào to lên.
Người chủ nhà hốt hoảng bịt miệng nàng. “Lộ ra là chết cả đám!”
Trong tay mẹ, Bùi văn Liên Xô bỗng rùng mình như một con gà vừa bị cắt tiết, rồi tắt thở.
Phải khó khăn lắm nàng mới đưa được xác con ra khỏi thành phố. Nhiều chốt kiểm soát được dựng lên để ngăn không cho VC thoát ra ngoài. Người ta nghĩ rằng VC nhiều mưu mẹo có thể chui vào hòm giả người chết để trốn đi. Vì vậy, ngang qua chốt nào cũng bị bắt mở nắp. Người ta lật khăn liệm, sờ nắn, xem đã chết thật chưa.
Xe đến Đập Đá, chủ xe không chịu đi tiếp xuống làng vì sợ mìn. Phải mướn tám người thay nhau khiêng mới đến được chân núi Mồ cu, là nơi thằng bé từng hỏi mẹ sao con chim nhỏ mà mồ lại to thế. Người ta chôn vội chôn vàng để kịp về khi trời tối.
Thôi con hãy nằm lại đây, còn hơn là phơi xác trên rừng Trường Sơn hay làm mồi cho cá mập ở dưới biển. Chim cúc cu sẽ gù cho con nghe, bông dúi dẻ sẽ toả hương cho con ngửi. Ông ngoại sẽ chống gậy đến thăm con, sẽ cho con đường phèn để con nhai lộp cộp. Mai mốt hoà bình, mẹ sẽ xây cho con ngôi mộ to và đẹp. Mẹ sẽ đặt bia đề tên là Bùi văn Mỹ chứ không phải Bùi văn Liên Xô. Giờ con là con của mẹ, không ai rù quến phỉnh gạt con được nữa. Con vẫn trong trắng ngây thơ như ngày nào. Con sẽ gọi mẹ ơi mẹ ơi khi mẹ đến thăm con.
Giữa cây cỏ hoang vu, nấm mồ trông bé xíu như những cái mả chuồn chuồn mà lúc nhỏ hai mẹ con thường chơi trò đám tang. Những sợi khói mong manh, khói của nhang và của trấu tan nhanh trong bóng hoàng hôn.
• Năm ấy là năm Mậu Thân, hãy nhớ lấy!

Trần Văn Qui Nhơn
1
“Nó là đứa nào?”, người đàn ông hỏi.
“Là con tôi”, người đàn bà nói.
“À ra là vậy. Thảo nào thằng Bùi văn Liên Xô chết!”
“Ông đừng nói với tôi cái giọng như vậy”
“Thế thì giọng nào. Con bị thương mà rửng mở với thằng lính ngụy, bảo sao nó không chết”.
“Ông câm cái họng lại. Nó chết là do ông và cái đảng đáng nguyền rủa của ông. Sao ông không đi giải phóng mà bắt nó đi?”
“Tôi cấm bà nói thế. Tôi cũng cấm bà và cái giòng giống Mỹ ngụy kia không được ở trong nhà này nữa”
“Ông không cần phải đuổi. Cái nhà này là của mẹ ông mua mặc dù đã làm giấy cho tôi. Khi thằng Bùi văn Mỹ chết rồi thì tôi và ông chẳng còn là gì với nhau nữa”.
Đó là những lời đối đáp của những người đã xa nhau trên hai mươi năm, giờ gặp lại.
Đó cũng là buổi tối mà cái quạt máy trên trần nhà quay 360 độ, cứ nghiêng qua nghiêng lại như máy bay sắp thả bom, khiến hai mẹ con của một người đàn bà khác cứ nép vào nhau, sợ sợ làm sao ấy!
“Đồ của tụi Mỹ, cái gì cũng như muốn giết người”, người đàn bà thầm thì với chồng.
Hai người rù rì với nhau, ước tính giá trị của những vật dụng đang bày biện trong nhà: cái T.V, cái radô, cái máy hát đĩa, cái tủ lạnh, bộ xa lông trắc cẩm lai…dù đã cũ, vẫn là một tài sản khổng lồ, cứ như trong nhà của bộ trưởng.
Người đàn bà, lặng lẽ xếp áo quần bỏ vào trong túi xách. Đến trước bàn thờ bà lấy khung ảnh của một người đàn bà tóc bạc trắng, bọc giấy báo, buộc dây thun, nói với người đàn ông:
“Đây là ảnh của mẹ ông. Cũng là mẹ tôi. Tôi xin giữ lấy để thờ. Ngoài ra không lấy thứ gì khác”.
Bà bước ra khỏi nhà, dắt con theo.
Đằng sau vọng lại những tiếng nói, tiếng cười của người đàn bà giọng Bắc, vui còn hơn khi nghe miền Nam được giải phóng.

2
Đạn bom trong những ngày tháng tư tăm tối thực ra không tàn phá bằng những bàn tay của con người. Bọn hôi của làm chủ thành phố khi quân miền Nam rút đi trong khi quân miền Bắc chưa kịp tới. Bọn chúng bắn vào các ổ khóa, mở toang các cửa sắt những căn phố mà chủ nhân đã di tản, khuân hết gạo thóc, bột mì, nước ngọt, bia rượu, vải vóc, tủ giường, chăn nệm…Chúng cũng mở toang các sạp hàng ở chợ, vơ vét hết hàng hóa rồi châm lửa đốt chơi.
Cái sạp quần áo cũ của bà cũng giống như xương thịt của người chồng thượng sĩ, không còn lại một chút gì.
Hai mẹ con lầm lũi đi về phía ngoại ô. Nơi đây không có được cái ang lúa như ngày nào. Cũng không có được cái giường ngập trong bóng tối của mẹ. Nhưng có hai cái tháp đứng cạnh nhau gọi là tháp Đôi. Họ chui vào đó, ở chung với dơi, chuột.
Thế cũng xong.
Bà trở lại nghề cũ: bán bánh canh. Nhưng là bánh canh giả cua, vì người bán không mua nổi cua và người mua cũng không đủ tiền mua. Dù vậy, cái gánh hàng rong chỉ bán trong buổi sáng sớm cũng đủ tạm nuôi sống hai mẹ con.
Chiến tranh đã qua đi nhưng những người chiến thắng vẫn chưa thôi đánh những người chiến bại. Hết đánh tư sản mại bản đến đánh những tàn dư của Mỹ ngụy. Lại khám nhà, lại kìn kìn từng đoàn xe chở hàng bị tịch biên. Lại đốt sách, phá những miếu âm hồn trên khắp nẻo đường quốc lộ.
Đánh xong đến xây.
Xây dựng đời sống mới. Từng đoàn thanh niên xung phong (thực ra là bắt buột) đi đào kênh, đắp đập không công. Từng đoàn tù không mặc áo tù đi vào chốn rừng thiêng nước độc, gọi là học tập cải tạo. Và cũng từng ấy đoàn trẻ già trai gái lếch thếch bồng bế nhau lên núi, gọi là xây dựng kinh tế mới.
Trôi đi, trôi giùm cho mau những tháng năm dài không biết sống để làm gì!
Và mười năm trôi mau để cho con bà trở thành một thanh niên.
Giờ là lúc những người chiên thắng cao giọng. Mỹ còn đánh được thì Campuchia và Thái Lan là cái thá gì. Đặng Tiểu Bình bênh đàn em Pôn Pốt thì chơi luôn.
Chiến tranh lại nổ ra.
Con bà tuy không đi thi vẫn trúng tuyển nghĩa vụ quân sự.
Buổi tiễn đưa rộn ràng cờ xí, khẩu hiệu. Một màu đỏ nặng nề đang cố sức thổi bùng ngọn lửa cách mạng mùa thu đã tắt ngúm từ lâu. Hàng chục cái loa phóng thanh đang mở hết công suất để át đi những tiếng gào tiếng khóc. Của mẹ, của cha, của anh, của chị.

3
Thư viết vội của Trần văn Qui Nhơn:
Mẹ ơi, con đang ở trên đất giặc. Trời rất nóng. Chúng con thiếu nước uống. Thiếu cả lương thực. Thiếu cả đạn. Bọn giặc cởi truồng bôi lọ nghẹ, đợi đến đêm bò vào trại, gặp ai có áo quần là cắt cổ. Con sợ lắm. Lén viết mấy dòng gửi mẹ.
Thư được dấu trong một cái tượng con cóc nặn bằng đất sét.
Người đàn bà ngửa cổ nhìn lên đỉnh tháp. Ở đó có một khoảng trống hình vuông. Một chút da trời xanh thẳm.
Trời hỡi, làm sao cứu được con tôi, hỡi Trời!
Tiếng thét của bà vọt thẳng lên như một ngọn lao. Một bầy dơi bay qua, rải phân xuống đỏ như máu.

4
Lời kể của một người sau hai năm làm nghĩa vụ, cụt một tay, trở về:
“Bạn ấy chết thật rồi, thưa bác. Bọn cháu bị bao vây, nhưng chúng rất khôn, không tràn vào trại mà cố tình để ngỏ một đường rút. Chúng cháu trốn ra, bị chúng giết gần hết.”.
“Thế cậu có giữ được chút gì của em nó không?”
“Chỉ có một tấm hình hai đứa chụp chung, cháu xin tặng bác”
Người đàn bà nâng tấm hình trên hai tay. Hình đã cũ, nước thuốc ố mờ. Một tấm hình rất giống với hình của thằng anh đã chết. Hai đứa cùng một kiểu chống nạnh, rất chi là nhà quê. Nhưng đẹp xiết bao, quý xiết bao!
“Tôi xin cắn cỏ cắn rơm cảm ơn cậu”
Năm ấy là năm 1990, hãy nhớ lấy!

5
Lại mười năm sau.
Tháp Đôi đã trở thành di tích lịch sử. Và là điểm tham quan du lịch của thành phố. Những người tá túc vật vạ như bà, tuy thần không đuổi nhưng người đuổi, phải tìm chỗ khác. Trên lưng chừng một ngọn núi đối diện, bên cạnh những người thợ làm nghề đá chẻ, bà dựng một căn lều bằng những thứ nhặt nhạnh được trong các kho đồng nát.
Có hai con đều chết trong hai cuộc chiến tranh, nhưng bà không được cấp nhà “tình nghĩa”. Dĩ nhiên cũng không được phong tặng “bà mẹ Việt Nam anh hùng”.
Bà lại sống trong tăm tối và cô đơn như hơn sáu mươi năm trước đây trong căn buồng của mẹ. Chỉ còn một chút an ủi, là từ đây, sáng trưa chiều tối, ngay cả những đêm không trăng, lúc nào bà cũng nhìn thấy hai ngọn tháp đứng cạnh nhau như hai anh em.
Bà nghĩ, chúng là con của bà. Chúng đỏ rực một màu khi nắng lên và vàng óng khi chiều xuống. Chúng đẹp xiết bao, rực rỡ xiết bao, cho dù một ngàn năm nữa sẽ trôi qua.

Khuất Đẩu
Viết lần 1, 2008
Viết lần 2, 2013

CHIẾC MẶT NẠ

khuatdau

Nắng sắp tàn. Như thường lệ, người hầu bày một chiếc bàn con và một chiếc ghế trắng trên bãi cỏ sau biệt thự. Trên đó một chai vang và một chiếc ly thủy tinh.
Đang là mùa thu, nhưng trên đất phương nam này, thực khó tìm đâu ra những chiếc lá vàng lặng lẽ rơi và gió heo may se sắt để cho bữa rượu có thêm một chút buồn.
Nhưng cần gì, với một cốc rượu cầm mãi trên tay không chịu uống, một điếu thuốc đã gắn lên môi nhưng chưa chịu thắp lửa, chủ nhân đã tự vẽ nên một bức tranh thừa nỗi buồn và rất thiếu niềm vui. Tất cả không gian ngập tràn sự tĩnh lặng. Một sự tĩnh lặng cần thiết cho cuộc tiễn đưa mà chủ nhân của ngôi biệt thự đã thực hiện rất nghiêm cẩn trong từng ngày.
Đó là lúc trên bãi cỏ, bóng chiều xuất hiện và nhanh như gió lướt, đuổi ánh nắng vượt qua bờ tường, chạy mãi tới tận chân đồi rồi tan trong ráng chiều. Mới đó, cả một triền cỏ mênh mông vàng nắng bỗng xanh thẩm rồi tối sầm.
Lúc này, ông mới thong thả uống cạn ly rượu. Chỉ một ly thôi rồi ông đánh diêm châm thuốc, ngã người ra trên ghế, thở những vòng khói, mơ hồ nghĩ đến một ngày nào đó linh hồn mình cũng sẽ rời khỏi thân xác như khói thuốc, bịn rịn đôi chút rồi cũng tan nhanh trong khí trời.
Chiều chậm đưa chân ngày, ông nhớ tới câu thơ một thời rất thích của Hồ Dzếnh. Cái nghi thức mà ông lặng lẽ bày ra này, đúng là để tiễn đưa một ngày dài. Một ngày thật vô công rỗi việc. Nhưng sâu thẳm bên trong là ông tiễn đưa một phần của đời mình khi người vợ trẻ của ông tuyên bố trước tòa, tiền bạc không đem lại cho nàng hạnh phúc.
Khi nàng mang theo một nửa gia tài nặng quằng cùng với người tình trẻ tuổi, thì cũng là lúc rất nhiều người đàn bà khác muốn bước vào đời ông để chứng minh cho điều ngược lại. Cả một nửa nhân loại bỗng chốc đối với ông trở nên quá xa lạ, quá rối rắm, quá muộn phiền. Có một điều gì đó gần như niềm tuyệt vọng, một điều gì có khi là quá nhỏ lọt qua kẽ tay, cũng có khi quá to đến nỗi làm ông ngạt thở.
Để trốn chạy khỏi những cuộc tấn công mà ông biết chắc mình không đủ sức chống đỡ, ông giao hết sản nghiệp cho người con trai chỉ thua ông đúng 18 tuổi. Ông chỉ giữ lại một biệt thự nhỏ và một người hầu.
Người hầu, đúng là cái bóng của ông. Lặng lẽ, ít nói và trái tim không biết có mũi tên nào xuyên qua không, nhưng trên ngực anh ta có xăm một hình như thế.
Đúng đến từng giây, bữa sáng lúc nào cũng bày sẵn cháo trắng với củ cải muối, một tách cà phê đang nhỏ giọt và một tờ nhật báo. Lúc ấy là 8 giờ kém 15. Bữa trưa, vẫn kém 15 đúng 1 giờ. Và buổi tối, lại kém 15 đúng 8 giờ. Có thể gọi sau lưng, đây là ông Kém Mười Lăm!
Không hiểu vì sao, ông lại thích cái giờ phút lạ lùng như thế. Cuộc hôn nhân vừa đổ bể một phần cũng do cái “kém 15” bất di bất dịch ấy. Người vợ trẻ cảm thấy mình như con cúc cu, cứ kém 15 lại nhảy xổ ra kêu một tiếng. Khổ nhất là trong đêm, vẫn những cái “kém 15” ấy cho những cuộc ái ân! Dù nắng hay mưa, vui hay buồn, bao giờ cũng khởi sự lúc “kém 15” và kết thúc sau đó khi không còn kém 15 nữa! Có thể những cái “kém 15” chính xác đến từng giây trong những cuộc hẹn đã giúp ông thành công trên thương trường nhưng lại thất bại trong tình trường. Có một nhà sư đã nói với ông rằng cả hai đều là ảo, nhưng ông lại nghĩ khác, hai mặt ấy là mặt khuyết và mặt đầy của cuộc đời mình.
Khi ông vào nhà, người hầu báo cho ông có người xin được gặp. Ông nhìn đồng hồ: kém 15 đúng 6 giờ. Ông đồng ý với điều kiện chỉ tiếp đúng 15 phút. Người ấy thưa chỉ xin đúng 1 phút. Vì vậy, ông cũng chưa kịp nhìn rõ mặt người thanh niên, không nhớ nổi màu áo anh ta mặc, chỉ nghe đúng một câu: “có người xin gửi tặng ngài một món quà” Là ai?, ông hỏi, nhưng người ấy đã cúi chào với một lời dặn: “dạ, rồi sẽ biết!”
Ông có hơi khó chịu vì sự đánh đố. Muốn gọi anh ta lại bảo đem đi, nhưng ông chợt nhớ, đã là quà thì không được từ chối. Ông đành bảo ngươi hầu mở ra xem. Qua mấy lần giấy bọc, hiện ra một chiếc mặt nạ màu trắng. Không danh thiếp, không thư gửi kèm. Lạnh lùng, trơ trụi. Mặt nạ trắng giống như màu thời gian. Một màu thời gian đã chết.
Nhưng ông chợt thấy vui, bảo người hầu lui ra. Còn lại một mình, ông rót thêm một ly rượu, cầm chiếc mặt nạ mân mê. Rồi ông thử úp lên mặt mình. Mặt nạ hơi chật, ông cởi ra. Ông sờ chiếc mũi nhỏ thanh thanh, sờ đôi môi đỏ thắm hình trái tim, rồi lại úp lên mặt mình một lần nữa. Ông nhắm mắt, đê mê: trong lớp giấy bồi như hãy còn phảng phất mùi thịt da của nữ chủ nhân.
Đêm ấy, ông bềnh bồng trong tiếng nhạc. Xung quanh ông có rất nhiều người đang đeo mặt nạ. Những sư tử, gấu, cọp, những Tề Thiên, Trư Bát Giới, Ngưu Ma vương, lại có cả Bạch Cốt tinh và Dracula. Còn chính ông thì đeo mặt nạ Đường tăng Tam Tạng! Đó là trò chơi mà các bạn ông bày ra trong một đêm dạ hội để tiễn ông ra khỏi thương trường. Một đêm mà mọi người che dấu khuôn mặt mệt mỏi vì cạnh tranh, những lo toan lừa lọc, những luồn lách bơ phờ để có thể quên đi trong phút giây mà vui chơi thoải mái.
Lúc ấy, ông hơn 50. Cái tiếng bị vợ bỏ theo trai chẳng những không làm cho ông mất giá mà còn nâng ông lên trong con mắt các bà các cô, nếu không là một vì vua cũng là một ông hoàng. Trong đêm cứ cho là của quỷ, mặc dù ông đã chọn chiếc mặt nạ Đường tăng để xa lìa thế tục, nhưng biết bao cái nõn nường vẫn cứ sấn tới mời mọc. Tuy đã hóa trang, nhưng ông vẫn nhận ra từng người một trong số họ. Nhờ một bờ vai thô mà vẫn cứ để trần. Một bộ ngực chảy xệ nhưng vẫn cứ cố tình phơi ra. Nhờ một xâu chuỗi, một chiếc nốt ruồi trên cổ. Và nhất là nhờ những giọng nói tiếng cười, the thé lảnh lói. Bọn họ lượn lờ, khiêu khích quanh ông cùng những ả cave quá thiện nghệ trong những trò đưa đẩy.
Ông tìm cách thoát ra, đến ngồi trên một băng đá cạnh một gốc cây si dài thòng những rễ như một bức màn che.
Đêm vẫn xập xình với những điệu kèn nức nở ma quái. Những bước chân nghiêng ngã tới lui. Những chiếc váy xẻ đến tận hông, những chiếc mini jupe không thể ngắn hơn được nữa. Những tấm lưng trần lấm tấm mồ hôi, những bộ ngực rung rinh buông thả. Nhạc đưa họ ra sàn nhảy, trói chặt họ lại với nhau. Những ông chủ nhà đất, những bà chủ hãng này, xưởng nọ, những giám đốc mới lên, những tay môi giới lẻo mép. Từng cặp, từng cặp dính nhau tìm tới những góc khuất.
Chỉ có mỗi mình ông ngồi thu lu trên ghế. Và một người nữa lẻ loi ngồi trên một chiếc xích đu. Một người rất xa lạ lạc lõng. Thấy vậy, ông lịch sự đến mời nàng nhảy. Nàng lúng túng nói, nhảy dở lắm. Ông nói, tôi cũng có giỏi gì đâu. Cứ nhảy đại, có phải thi đâu mà ngại. Lúc nàng đứng lên, đặt tay lên vai ông, mọi người mới nhận ra nàng mặc một chiếc váy dài trắng, đeo một chiếc mặt nạ cũng trắng như của tuồng Nô. Chỉ có mái tóc nàng là đen thắm xỏa xuống hai vai.Trong đám dã thú, ác quỷ và ma vương nàng nổi bật như một bóng ma thanh thoát.
Nàng biết nhảy nhưng hãy còn vụng. Ông cảm thấy tay nàng run trong tay ông. Một đôi lần, giày nàng giẫm lên chân ông. Vì vậy khi nhạc chuyển qua điệu Tango, thì ông đưa nàng trở lại ghế ngồi. Ông hỏi:
-Cô chọn ở đâu chiếc mặt nạ đẹp thế?
-Quà tặng của một người bạn Nhật.
-Thảo nào, đẹp và rất độc đáo.
-Ông chọn Đường Tăng là có ý gì?
-Là cách muốn nói tôi sắp rời bỏ cái chiến trường khốc liệt này.
-Thế ông không còn muốn dính dáng gì đến kinh doanh nữa sao?
-Không.
-Kể cũng thật đáng tiếc!
-Sao vậy?
-Nghe nói ông là nhà kinh doanh rất có tài.
-Chữ tài liền với chữ tai một vần.
-Kinh doanh mà cũng có tai nạn sao?
-Có chứ. Còn nhiều hơn tai nạn giao thông nữa kìa.
-Thế à? Tôi cứ tưởng đó là cái nghề đáng mơ ước chứ.
-Cô mơ trở thành một nhà kinh doanh sao?
-Không, tôi chẳng kinh doanh gì cả. Trái lại là đằng khác, tôi là một trong hằng vạn kẻ để cho các ông móc túi. Tiếc rằng túi của tôi quá cạn, chẳng có gì nhiều.
-Xin lỗi, cô là quý phu nhân của vị nào?
-Quý phu nhân nào thì đã không ngồi một mình.
-Thế là em, là cháu, là con của vị nào?
-Sao ông cứ phải muốn biết tường tận đến thế? Tôi chẳng là em, là cháu, là con của vị nào ở đây cả. Ông khỏi lo bị họ mắng. Tôi là một cô bé nghèo nhưng không phải lọ lem. Tôi vào đây vì tò mò. Và cũng vì có cái mặt nạ này. Tôi muốn thử nhát ma một chút chơi, nhưng chẳng nhát được ai cả.
-Này cô bạn trẻ ạ, tôi đề nghị thế này, chúng ta bỏ cuộc chơi chán ngắt này, tháo mặt nạ ra lại đằng kia uống chút gì.
-Không được đâu. Lột mặt nạ, ông không sợ sao?
-A, cái mặt nạ đó thì khác, cái mặt nạ ấy mọi người ở đây ai cũng đeo suốt ngày.
-Giả thử tôi muốn chiêm ngưỡng khuôn mặt thật của ông, được chăng?
-Được chứ.
Ông cởi mặt nạ Đường tăng, hỏi:
-Cô thấy sao?
-Đúng ông là một nhà kinh doanh tài giỏi. Trông ông khôn ngoan chứ không khờ khạo như Đường tăng.
-Còn cô?
-Thì tôi đã nói rồi. Tôi chỉ là một học trò nghèo. Mà lại không đẹp nữa.
-Cô khiêm nhường quá đấy thôi. Nghe giọng nói của cô, nhìn cách ăn mặc và hóa trang của cô, không cần cởi mặt nạ tôi vẫn biết cô rất đẹp và thông minh.
-Ông chẳng những giỏi kinh doanh mà còn khéo nịnh.
Chợt nàng vén áo, nhìn đồng hồ:
-Đã đến lúc, tôi phải về.
-Sao về sớm vậy?
-Đã 11 giờ kém 15. Tôi không được phép về sau 11 giờ.
Lại cái “kém 15”! Ông sững người, bàng hoàng. Ông không hiểu nàng vô tình hay đã từng biết rõ cái thói quen “kém 15” của ông.
-Thế thì tôi xin được đưa cô về.
-Cảm ơn ông.
Họ ra xe. Ông thì vứt bỏ cái mặt nạ, nhưng nàng vẫn giữ rịt. Ngồi trong xe, nàng giống như một hình nộm. Đến một đầu con hẽm ở ngoại ô, nàng ra hiệu cho ông dừng xe lại. Ông muốn đưa nàng vào tận nhà, nhưng nàng nói:
-Đến đây là được rồi. Giờ tôi muốn xin ông một điều, ông thuận chứ?
-Diều gì, cô cứ nói. (ông nghĩ thầm: nàng xin giúp một số tiền để lên đại học chăng? được thôi, bao nhiêu cũng được)
-Tôi muốn tặng ông chiếc mặt nạ này để kỷ niệm một đêm nghịch ngợm của tôi.
-Rất hân hạnh. Ông mừng rỡ.
Nhưng nàng vẫn giữ nguyên mặt nạ trên mặt mình, nói:
-Nhưng chỉ khi nào tôi lấy chồng cơ.
Ông cười:
-Được mà.
-Nhưng ông phải đợi hơi lâu đấy. Cũng có thể là không bao giờ!
Ông cầm tay nàng, khẽ nói: tôi xin chờ, xin cảm ơn em.
Ông bỗng dưng buột miệng tiếng “em”, như đang ở tuổi hai mươi. Và như tuổi hai mươi, ông định hôn nàng. Nhưng chưa kịp hôn thì nàng đã mất hút trong ngõ tối như tan vào bóng đêm.

Ông tỉnh mộng, cầm chiếc mặt nạ trắng toát ve vuốt mãi như muốn làm cho nó hồi sinh. Như thế là nàng đã đi lấy chồng. Như con bướm xinh đẹp thoát xác bay đi để lại cho ông chiếc kén. Vẫn bỏ ông đi, nhưng lần này ông cảm thấy sao mà dịu dàng êm ái quá. Ông rưng rưng nhìn cốc rượu, tưởng chừng thấy khuôn mặt bé nhỏ của nàng. Thoáng hiện em về trong đáy cốc. Ông nâng cốc rượu lên ngang mày, ngửa cổ uống cạn.
-Xin chúc mừng em!
Đáp lại lời chúc của ông, đồng hồ gõ đúng 6 tiếng.

Khuất Đẩu

Cửa đã mở

 

khuatdau

Tặng TTM
Đúng là cánh cửa đã mở, một cánh cửa nặng tưởng chừng như Ngũ hành sơn đè trên lưng Tôn Ngộ Không.
Nặng và to như thế nhưng không hề có một tiếng động nào cho dù rất nhỏ.
Cửa mở lúc 4 giờ!
Cửa mở cho riêng ông, mỗi một mình ông, cánh cửa của một đời người. Vậy nên, trong cái lạnh của miền cao, mọi người trong nhà không một ai hay biết. Ngay cả người bạn đời đang cuộn mình trong chăn như con nhộng nhăn nheo trong cái kén vàng rực, cũng tưởng là mình đang hóa bướm.
Vậy thì đừng có khóc than giận hờn rằng, cuộc từ ly sao mà thui thủi một thân, nếu đó là cuộc ra đi không bao giờ trở lại.
Cánh cửa đã mở toang, nhưng ông chỉ cảm thấy chứ không trông thấy. Cảm thấy bằng thịt da bởi vì cửa mở dưới lưng ông, nhanh như nhát kiếm, như tia chớp với một sức mạnh khủng khiếp tưởng chừng tâm bão Haiyan cuốn lấy ông, kéo tuột ông xuống một nơi thăm thẳm không biết đến bao giờ mới chạm được đáy.
Bác sĩ hỏi, lúc đó anh thấy thế nào? Đáp: lúc 4 giờ, tôi định đi toilet, nhưng ngã vật ra, dán chặt xuống giường không cách gì ngồi dậy được.
“Sao anh không gọi tôi dậy?”
“Tôi sợ anh mất ngủ”
“Tai anh có ù không?”
“Không”.
“Mắt anh có mờ không?”
“Không”.
“Vậy thì không sao đâu. Để tôi đo lại huyết áp”
…..
“Có khi nào huyết áp anh tăng cao không?”
“Thường là rất thấp, nhưng có lần uống Bò húc lên đến 15”
“Giờ là 16,9. Cũng khá cao, nhưng sáng ra tôi kiếm thuốc cho anh uống. Sẽ hạ xuống thôi. Sợ tuột áp, chứ lên chừng này cũng không ngại lắm”
Sự bình tĩnh của bác sĩ, một sự bình tĩnh dạn dày, có sức nâng đỡ mạnh mẽ khiến ông cảm thấy cánh cửa sau lưng mình như đã được bàn tay kỳ diệu của một kẻ vô hình khép lại.
Đúng là thiếu chút nữa ông đã bị đột quỵ. Giả dụ lúc 4 giờ sáng ông không ngồi dậy trên giường mà trên một sàn nhà cứng như đá ở nhà ông, hay trong toilet, trên sân thượng, trên con dốc sâu thẳm dẫn xuống điền trang, cái cách ông ngã vật ra cứ như một người Do Thái trốn đâu đó bị một tên gestapo đạp vào ngực, thì thế nào sọ ông cũng bị rạn, những mạch máu nhỏ li ti trong não sẽ bị đứt và thế là ông đi đoang!
Có nhiều cách gọi cho cuộc ra đi không mong đợi ấy. Văn vẻ trang nhã thì từ trần. Bác Hồ đang sống bỗng sang từ trần (Bút Tre) . Bình dân quê mùa thì ngủm. Ngủm củ tỏi hay ngủm cù đeo cũng là chết giống như ngoẻo. Ở quê người đẹp của đời ông thì có một tiếng gọi không giống ai, là trẩu. Lão ấy trẩu rồi!
Ôi chao, thế thì một ngày sẽ không giống như mọi ngày, một ngày hết sức bận rộn với xe chớp đèn hụ còi liên tục, với người vợ sẽ biết thế nào là góa phụ, với điện thoại di động sẽ reo lên như dế gáy để báo cho nhau biết có kẻ chán đời bỏ cuộc chơi!
Ông đâu có chán đời nhưng cái cách bỏ đi như thế, hay bắt buộc phải bỏ đi vì đã đến lúc, nhưng quá bất ngờ khiến cho người ở lại cảm thấy giật mình. Cánh cửa của mỗi người không chỉ mở ra lúc 4 giờ sáng, mà có thể lúc 5 giờ chiều. Có thể mở ra trên cao nguyên xanh rực nắng, mà cũng có thể mở ra giữa một con phố hắt hiu đèn vàng… Mở ra bất cứ đâu, bất cứ lúc nào. Sẽ không có một hồi chuông báo tử lãng mạn. Cũng sẽ không có tiếng gõ cửa lạnh lùng của định mệnh. Chỉ giống như chiếc xe đang bon bon trên đường cao tốc bỗng sụp xuống một cái ổ voi, không phải voi buôn Đôn mà voi ma mút!
8 giờ sáng, ông ngồi dậy được, huyết áp xuống 12. Ông đã có thể một mình ra ngồi phơi nắng trước cửa. Dưới kia là vườn cà phê lác đác chín đỏ, những trái hồng ấm áp còn sót lại trên cành cây trụi lá và phía xa thấp thoáng mái chùa Tàu tưởng chừng hãy con vang vọng những câu kinh bằng tiếng quan thoại.
Đấy là đời sống, là phía bên này cánh cửa, là cái mà nhiều người và chính ông gọi là cõi tạm. Có nghĩa rằng người ta tin bên kia đời sống này còn có một đời khác miên trường vĩnh cửu.
Nhưng, đó là trước lúc 4 giờ sáng kém một phần ngàn giây, lúc mà ông và mọi người phung phí những phút giây của đời mình như tiền âm phủ; còn giờ đây, cũng rừng cây ấy, cũng màu nắng ấy, cũng trước hiên ngôi nhà ấy, giữa những lao xao thăm hỏi của bạn bè, ông không còn nghĩ đó là cõi tạm nữa.
Ông nghĩ đó là cõi duy nhất để sống, để yêu, để vui chơi, để đau khổ…ngoài ra không còn cõi nào khác.
Cửa đã mở nhưng không phải để đưa bước chân vào cõi thiên đường, cũng không phải vào chốn thường trụ, lại càng không phải là cõi vĩnh hằng như cách nói của những kẻ làm dáng. Đó là cõi không tức là không có cõi nào.
Đã đến lúc trở về nơi ông đã khởi sự đến. Cha con chủ nhân và ba người bạn già ái ngại dìu ông lên tận đầu con dốc. Ông có cảm giác như đây là con dốc của Quang Dũng, dốc cao đến nỗi súng ngửi trời. Ông cũng bàng hoàng nhận ra đó là con dốc mà lúc 4 giờ sáng ông tưởng mình đã bị đạp cho một đạp lăn xuống. Giờ ông mới thấy được đứng trên đầu dốc là cái gì gần như ơn phước, một sự bình yên nói sao cho xiết bùi ngùi.
Mọi người tiễn ông đi với nụ cười chúc phúc, nụ cười mà ông cho là rất đẹp, nụ cười của cuộc sống không bao giờ là quạnh hiu, không bao giờ bị bỏ quên.
Trên đường về xuôi, ngang qua rừng thông Dạ Oai và rừng nguyên sinh Khánh Vĩnh, mặc dù xe đi trong mưa và mây mù, trái tim ông có vẻ như đang ngủ yên. Ông lơ mơ sống lại những giờ phút cũ. Ông tưởng như đang đi trong gió lạnh quanh đường bờ hồ, rồi quành lên nhà tu kín Domaine de Marie, qua nhà thờ con gà, lên chùa Tàu, ngồi uống cà phê trong một cái quán cóc có chiếc bàn tự quay…rồi xuống thủy tạ, đi xem triển lãm tranh của Đinh Cường, Thân Trọng Minh…đêm đốt lửa ngoài sân vườn, ngồi quanh uống rượu Chivas cực kỳ ngon, nghe người vợ mộc mạc cất tiếng hát để mừng sinh nhật một người không còn trẻ nhưng chưa muốn chịu già, tiếng hát sang trọng bất ngờ nghe như của một cô đầm lai…ông sống lại chứ không phải nhớ lại khoảng thời gian mà lúc này ông thấy là tuyệt đẹp, những phút những giờ trước lúc được coi là định mệnh ấy, 4 giờ kém một phần ngàn giây.
Đương nhiên, cánh cửa sẽ mở ra một lần nữa nhưng ông tin hãy còn lâu.
Chỉ hù một chút chơi, nói như Bùi Giáng, cho vui thôi mà!

KHUẤT ĐẨU

 

ĐỪNG TRÁCH BIỂN

khuatdau

Đừng trách biển xin nhớ đừng trách biển
sóng trùng dương cũng là sóng lòng tôi
nước biển mặn nước mắt tôi cũng mặn
biển bạc đầu thì cũng bạc đầu tôi

Thuyền be bé lá tre mỏng mảnh
đạn rào rào bắn đuổi sau lưng
biển nghiêng nghiêng hết mấy từng
hứng bao nhiêu đạn xé lòng quặn đau

Đừng oán biển nhớ đừng oán biển
Thái Bình dương cũng nghĩa trang dương
nấm mồ lớn của quê hương
mây đùn trắng giải khăn tang ngút trời

Những mẹ tôi và những chị tôi
những anh tôi và những em tôi
những thuyền nhân bị người xua đuổi
nổi bập bềnh trên sóng chơi vơi

Gió mang lên trời khát vọng
sống
biển ôm vào lòng nỗi chết
đen
chỉ còn lại chút xương trên cát
long lanh buồn xá lị của ai

Chiều nay có tôi ngồi bên biển
nghe gió trùng khơi nói tiếng người
trông thấy mây chiều dài như tóc
thả xuống đại dương những sợi buồn

Nghìn năm sóng vỗ biển ơi
điệu ru nước mắt khóc người ra đi
nghìn năm biển vẫn thầm thì
rằng xưa đã có cuộc di cư buồn
bao nhiêu đá ở sườn non
cũng đều đứng ngóng như hòn vọng phu
bao nhiêu giận bấy nhiêu thù
chỉ chờ tiếng sấm phất cờ mà lên
Việt Nam tiếng sấm vang rền.

KHUẤT ĐẨU

THÁNG TƯ ĐEN

khuatdau

Tháng tư con hai tuổi
ba bồng con đứng nép bên đường
xích xe tăng rào rạo nghênh ngang
con bật khóc ngực ba đau nhói

Tháng tư với mặt trời mọc ngược
đêm thành ngày trắng bỗng thành đen
gió không thổi người đi như chạy
hầm hố nào thành lũy tan hoang

Giờ cũng tháng tư
con gần bốn mươi tuổi
xích xe tăng vẫn nghiến mặt đường
nghe rào rạo trong đêm tăm tối

Đường tự do nối mọi trái tim
bị chặt khúc đào lên lấp xuống
đường dân chủ vun vút dùi cui
nòng súng nhắm vào từng khuôn ngực

Chúng muốn ta đi bằng đầu gối
rụng hết tay chân biến thành lươn
chúng muốn biến ta thành đinh ốc
trong cổ xe bọc thép tối om

Chúng muốn ta sống đời thực vật
không biết đau la hét nói cười
chỉ mở mắt nằm như cá chết
trong nhà mồ lạnh lẽo trống không

Tháng tư trở laị làm cai ngục
thay xích xiềng ổ khóa xà lim
thay óc não buồng tim lá phổi
thay con người thành lũ cừu non

Tháng tư đen tháng tư quỷ ám
cả một bầy vượn cáo nhố nhăng
kìa lũ sói đến từ phương bắc
hú trên ngàn rớt rụng vầng trăng

Tháng tư đó làm đời con ngạt thở
ba mươi sáu lần ba mươi sáu sợi dây
mỗi lần đến lại siết thêm một chút
ba già rồi ai cởi trói cho con!

KHUẤT ĐẨU