Khuất Đẩu

Mở
Các nhà viết sử ngày xưa rất kiệm lời. Câu chuyện Công Chúa Huyền Trân chỉ có mấy dòng như thế này :
“ Năm Tân Sửu (I301) Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông đi sang Chiêm Thành xem phong cảnh có ước gả Công Chúa Huyền Trân cho Chế Mân. Được ít lâu Chế Mân cho người đưa vàng bạc và sản vật quý hiếm sang cống và xin cưới. Triều thần có nhiều người không thuận. Chế Mân lại xin dâng châu Ô và châu Rí làm lễ cưới, bấy giờ vua Anh Tông mới quyết ý thuận gả. Đến tháng sáu năm Bính Ngọ (1306) cho công chúa về Chiêm Thành. Chưa được một năm, Chế Mân mất, mà theo tục Chiêm thành vua chết thì hậu phải chết theo. Anh Tông được tin ấy sai Trần Khắc Chung giả mượn tiếng vào thăm để cứu công chúa . Nhân đó Khắc Chung cùng nàng tư thông trên biển.“
Đọc những dòng trên tôi cứ trăn trở mãi : vì sao một vì vua anh minh và nhân hậu như Trần Nhân Tông lại đem con gái yêu của mình gả bán cho Chế Mân? Trần Khắc Chung là ai mà sau khi cứu được công chúa lại cùng nàng tư tình trên biển gần cả năm mới về ? Và Huyền Trân, một trong ba nàng công chúa Việt Nam có số phận nghiệt ngã ( hai nàng kia là Mị Châu và Ngọc Hân ) đã đi vào lịch sử như một người có công lớn sao vẫn bị hậu thế mỉa mai ? !
“ Hai châu Ô Rí vuông nghìn dặm
Một gái Huyền Trân đáng mấy mươi !”
Chính vì muốn tìm hiểu những vấn nạn nói trên , cùng với lòng yêu thương và cả căm giận, tôi viết nên tập sách nhỏ này. Tôi không có ý viết lại lịch sử, điều ấy là không thể được. Nước Chiêm bé nhỏ đã không còn bên cạnh một nước Việt hùng mạnh. Sự khôn lanh lọc lõi đă đánh gục sự chân thật đôi lúc gần như dại khờ!
Quê tôi gần thành Đồ Bàn. Cái kinh đô đã từng in dấu chân của Huyền Trân qua bao cuộc biển dâu giờ chỉ còn lại một bờ thành cũ bằng đất và tháp Cánh Tiên. Ngọn tháp đẹp nhất trong các ngọn tháp của xứ Chămpa, vẫn đứng sừng sững cùng với thời gian. Phải chăng vì có bóng dáng của Huyền Trân nên nó vẫn sáng long lanh như một khối ngọc khổng lồ. Ngọn tháp đẹp đến nỗi dù ở xa tận xứ Trầm Hương này, tôi vẫn thấy nó chiếu sáng từng đêm. Đó là cái Đẹp đã cứu rỗi cả một dân tộc.
Với cuốn sách nhỏ này, trước hết tôi muốn dâng tặng quê hương tôi, một nơi rất vinh hạnh có được hai người con dâu nổi tiếng là Huyền Trân và Ngọc Hân.
Tôi cũng xin tặng một người con dâu khác của đất Bình Định mà ngẫu nhiên tên nàng là Huyền Chiêu và các con của nàng.
Sau cùng, tôi xin tặng những người học trò cũ hơn 40 năm trước đã từng ngồi nghe tôi dông dài chuyện ngàn năm sử lịch.
1
Thành Thăng Long vào thu. Trời xanh như chưa bao giờ xanh như thế. Gió heo may chỉ làm cho những chiếc lá vàng đẹp hơn lên chứ không tàn nhẫn ném chúng xuống mặt đường như những cơn gió bấc lạnh buốt. Điện Diên Hồng đón vua Nhân Tông trong cảnh đất nước rất thanh bình.
Ngài vừa đi thăm chơi nước Chiêm trở về. Hẳn là có biết bao điều vui. Cứ trông nét mặt tươi tắn hồng hào của ngài là đủ biết. Ngài nói :
– Hỡi các khanh, ta báo cho các khanh một tin vui. Cái miền đất phương nam xinh đẹp mà ta vừa sang thăm chơi sẽ là quê chồng của con gái ta .
Giá như ngài bảo Thoát Hoan đang quay trở lại hay Ô Mã Nhi sống dậy từ lòng biễn cũng không làm cho các quan kinh ngạc bằng!
Qua hai cuộc chiến khốc liệt với quân Hung Nô, ngài đã trở thành vị thần chiến thắng. Mỗi lời nói sáng đẹp của ngài như châu ngọc luôn nở hoa trong tim của trăm họ. Hôm nay những lời vàng ngọc ấy vẫn nở hoa, nhưng là hoa xương rồng ! Nghe như có hàng trăm cây gai nhọn làm nhức buốt thịt da. Cả điện Diên Hồng nín lặng. Chỉ có một người dám hé mở lòng mình cho ngài thấy những giọt máu ứa là đức vua Anh Tông Tiếp tục đọc →