AI ĐÃ GIẾT A.Q ?

khuatdau
Mở.

Núi đồi ở đây giống như những con khủng long đã hóa thạch. Những con khủng long trong những ngày cuối cùng đã xô đẩy giẫm đạp lên nhau và trước lúc tắt thở, vẫn còn cố vươn cái cổ lên thật cao để gào rống một cách tuyệt vọng.
Giữa đá sỏi lổn nhổn, những cây cao lương thấp nhỏ vẫn rán sức trỗ bông.
Giữa đám cao lương xơ xác buồn hiu đó, có một ngôi nhà.
Giữa ngôi nhà đó, có một xác chết đã mười chín ngày vẫn chưa được đem đi chôn.
Xác chết đã phân hủy.
Một ngọn đèn thắp bằng mỡ heo không đủ soi sáng khuôn mặt đã bị cào xé rách nát. Những con chuột sục sạo thoải mái dưới tấm chăn mỏng bẩn thỉu. Một vài con chui ra nhìn ngọn đèn. Đôi mắt láo liên quỷ quyệt. Con nào cũng béo tốt đẫy đà.
Ngoài hiên, một người con trai đang ngồi ôm một con chó đốm.
Thỉnh thoảng anh ta ngửa cổ lên hú. Con chó thì sủa.
Trong góc bếp lạnh lẽo, một người đàn bà ngồi ôm một cái hũ bằng sành dùng để ủ tương. Người đàn bà cứ để nước dãi chảy qua miệng mình thản nhiên như nước chảy qua một cái thùng thủng đáy.
Phía sau hè, một cô con gái ngồi ôm cái bọc đựng áo quần. Đôi mắt buồn và đẹp của cô chắc đã khóc nhiều nên trông ngơ ngác và mỏi mệt. Nước mắt đã làm cho màu xanh nhạt của cái bọc đậm hẳn lên như màu nước biển. Một con ruồi táo tợn đậu trên mép. Những cái chân đen và bẩn của nó dọ dẫm trên làn môi khô nứt.
Cô cũng không buồn đuổi.

Lời khai của vợ A.Q.
Tôi ấy à? Tôi đâu có giết lão ta. Tôi chỉ cắt cái đó thôi.
Tôi làm vợ lão đã ba mươi năm. Chỉ có ai sống với lão đến những ngần ấy năm thì mới biết lão ta là người thế nào.
Trước hết, lão rất độc đoán. Lão còn hơn cả vua. Lão là trời. Mà trời muốn nắng thì cứ nắng. Muốn mưa thì cứ mưa. Muốn bão lụt thì cứ bão lụt. Trời muốn thế nào mà chẳng được.
Tôi làm vợ lão ta, làm sao tính hết được những lần lão ăn nằm với tôi. Chỉ biết tôi đã chín lần mang thai. Chín lần mang thai nhưng đến những mười đứa. Trong mười đứa đó chỉ có mỗi thằng Dzành là còn sống.
Thế thì những đứa kia đâu?
Chết rồi. Chết hết rồi. Chết chưa kịp khóc.
Vậy đó
Tôi đã nói rồi mà, lão là trời, một ông trời độc ác.
Ở cái nơi sơn cùng thủy tận này, muốn đi ra phố chợ phải mất mấy ngày đường. Tôi làm sao đi ra được tới đó để mà đẻ. Mà cũng chẳng ai chịu vào cái chỗ khỉ ho cò gáy này để đỡ đẻ.
Tôi đẻ tại nhà.
Chính lão đỡ đẻ. Lão nói heo bò lão còn đỡ được huống hồ là vợ. Lão lôi cái thai ra như lôi một con chuột từ trong hang.
Thế rồi lão bóp mũi. Cũng như bóp một con chuột mới nở. Chẳng có kêu la gì hết. Con chuột còn kêu chít chít, chứ cái thai thì không.
Lão ném cái xạch trong giỏ, rồi xách cuốc đi.
Lão lấp ở đâu đó. Năm sau, chỗ những cây cao lương xanh tốt, lão bảo ấy là mồ của đứa nhỏ.
Có chín nấm mồ xanh như thế. Những nấm mồ chỉ biết thở than cùng với nắng gió và đêm tối.
Những đứa con chưa kịp khóc cho mẹ nghe một tiếng và cũng không được mẹ hát ru cho một lời
Đã chết như thế đó.
Tại sao lão giết những đứa nhỏ đó à?
Tại vì chúng là gái. Mà nhà nước thì chỉ cho phép nuôi một con thôi. Một con nên lão phải chọn trai. Để sau này thay lão làm trời.
Đêm hôm đó tôi có nghe ặc ặc. Lão vẫn thường kêu như thế. Đang ngáy o o, bỗng kêu ặc ặc như bị mộc đè. Hơi đâu mà để ý tới lão. Chỉ tới sáng, lúc đem nước vào cho lão pha trà mới thấy lão nằm chết thẳng cẳng.
Phải rồi, tôi đã cắt cái đó.
Hỏi vì sao tôi làm vậy à?
Vì ghét. Chỉ có vậy thôi. Lão ta ghét tôi bao nhiêu thì tôi ghét cái đó bấy nhiêu.
Đâu có khó khăn gì. Tôi chỉ lấy dao xén một nhát là xong ngay. Tôi ném nó vào đám cao lương.
Rồi tôi đi rửa tay. Phải mất một buổi sáng để rửa bàn tay.
Con trai tôi ấy à?
Nó yêu tía nó hơn mọi thứ trên đời. Nó sẵn sàng chết thay cho tía.
Lần sau cùng tôi sinh đôi. Đứa ra trước là gái bị lão bóp cái rẹt. Đứa sau cũng tưởng là gái, lão bóp luôn. May mà lão còn kịp nhận ra nó là trai. Từ đó lão cưng nó như vàng. Nhưng nó thì sợ lão ngay từ khi mới mở mắt. Sợ quá nên lúc nào nó cũng run lập cập. Nó đang ngồi khóc thương tía nó kia. Nó nói ngộ chỉ chôn tía khi nào tìm lại được cái đó của tía. Mà biết chừng nào mới tìm lại được. Chó đã tha đi mất tiêu rồi.
Còn con dâu hả? Cứ xem con mắt của nó thì đủ biết là nó ác độc đến chừng nào. Chính nó giết. Nó là con quỷ cái của đất phương nam. Vì nó mà nhà này phải mất đến mấy ngàn nhân dân tệ. Nhưng mà, tôi chỉ biết có nhiêu đó thôi. Tôi nhắc lại: tôi không giết lão. Chỉ khi lão chết rồi tôi mới thiến lão. Phải chi tôi thiến được lão ngay từ lúc mới về làm vợ thì đời tôi đâu có khốn khổ như thế này.
Kết luận: có âm mưu giết chồng nhưng chưa thực hiện được. Y thị gián tiếp đồng lõa .

Lời khai của con trai A.Q

Tên gì?
Prồ…
Bao nhiêu tuổi?
Prồ…
Tối hôm đó có đi đâu không?
Prồ…
Có siết cổ lão gia không?
(nhe răng, cười)
Có cắt dương vật của lão gia không?
(ngửa cổ, tru như chó)
Kết luận: y nửa người nửa thú. Không ý thức được hành động, nên dẫu có siết cổ bố cho đến chết, cũng không chịu trách nhiệm.

Lời khai của con dâu A.Q
Tôi là người Việt Nam.
Nhà tôi rất nghèo. Lại đông con.
Tôi là chị cả, 19 tuổi.
Dzành là chồng tôi. Mọi sự là do người môi giới. Anh ta lúc nào cũng chỉ cười. Trông anh cũng dễ thương. Chỉ phải tội là anh vừa cà lăm lại vừa ngọng nghịu .
Mẹ bảo, thằng đó ngó vậy mà coi được. Trông bộ dạng thế kia thì nó không đánh nổi mày đâu. Lấy nó biết đâu lại sướng thân. Chứ lấy người mình hả, như cha mày đó, suốt ngày nhậu nhẹt, say xỉn. Tối đến thì đem vợ con ra mà hành hạ. Cực nhục lắm.
Cha thì bảo, lấy chồng Tàu được cái ăn ngon. Mày không nghe người ta nói đó à? Ở nhà Tây, ăn cơm Tàu, cưới vợ Nhật.
Người môi giới đưa cho cha mẹ tôi 500 đô, coi như trả công sinh thành.
Tôi gạt nước mắt theo anh với chút an ủi là đã một phần nào báo hiếu cho cha mẹ.
Suốt một chặng đường dài xuyên rừng lội suối rồi qua nước Tàu mênh mông, khi đi xe, lúc đi tàu, anh đều cư xử với tôi khá tốt.
Còn chuyện vợ chồng đó à?
Tôi nghĩ rằng anh ta rất muốn. Tôi cũng đâu đến nỗi xấu. Nhưng ngay trong đêm đầu tiên, anh đã làm cho tôi sợ điếng hồn. Khi áo quần tôi được trút bỏ, mắt anh bỗng dưng trợn trừng, mồm anh sùi bọt. Tay anh co giật khi chạm vào tôi. Rồi anh ngã vật ra, chết giấc Mãi đến khi từ trong anh bắn vọt ra như súng phun nước, anh mới tỉnh dậy và nằm khóc nức nở.
Một vài đêm sau cũng vậy.
Trước khi lấy anh, tôi chỉ nghe bạn bè kháo nhau chứ chưa biết gì về chuyện đó. Tôi nghĩ, không có cũng chẳng sao, miễn là được có cơm ăn áo mặc.
Dù bà mẹ chồng thủ cái thạp gạo và hũ tương như một thủ kho keo kiệt, anh vẫn có cách lấy gạo và tương cho tôi ăn. Anh cũng thường giành lấy những việc nặng như đốn củi hay gánh cao lương về nhà. Tôi nghĩ đó là cách anh chuộc lỗi và đền bù cho tôi.
Anh vẫn thường ngắm tôi và lúng búng phun ra những tiếng gì tôi không hiểu. Tôi biết là anh thương tôi lắm. Nhưng cứ gần tôi là anh nổi cơn động kinh.
Người thực sự làm chồng tôi trong đêm lại là tía anh. Ông ta đến dày vò tôi suốt đêm như để cho đáng đồng tiền bát gạo. Tôi nghĩ là anh ta biết việc đó. Trong những tiếng động mà tôi nghe được: tiếng rầm rập như ngựa chạy, tiếng hổn hển như hụt hơi, có tiếng của anh ta. Một tiếng hú thảm thiết như tiếng sói tru trên cao nguyên. Nghe buốt đến tận óc.
Ôi những đêm dài cực nhục. Tôi nhớ mẹ nhớ cha, nhớ các em xiết bao.
Đêm hôm đó, khi tôi bị lão ta phủ lên mình như một con ngựa đực, thì anh ta vào. Trong bóng tối mờ mờ tôi vẫn nhận ra anh. Tôi chưa kịp kêu lên thì con ngựa trên mình tôi bị lôi dậy. Tôi nghe tiếng thở khò khè, ặc ặc rồi lịm dần.
Tôi vơ lấy áo quần chạy ra khỏi nhà. Tôi chạy mãi cho đến khi ngã quỵ trong đám cao lương.
Tôi không tin anh ta cố ý giết tía anh. Nhưng tôi biết sức mạnh khủng khiếp của hai bàn tay mỗi khi anh nổi cơn động kinh. Những lúc đó, dù chỉ muốn vuốt ve tôi một chút, tay anh cũng biến thành những cái tát. Tôi nghĩ anh chỉ muốn kéo tía ra khỏi người tôi thôi. Như con chó bênh chủ ấy mà.
Kết luận: Y thị lấy cả cha lẫn con là loạn luân. Y thị vốn có dòng máu căm thù người Hán chúng ta. Tuy y thị không giết A.Q, nhưng chính y thị là nguyên nhân dẫn tới cái chết của A.Q.

Lời khai của con chó đốm.
Mày tha cái đó đi đâu?
Gâu, gâu.
Mày phải mang trả lại cho chủ mày chớ.
Gâu, gâu.
Hay là mày ăn rồi?
Gâu, gâu.
Mày hãy đưa chân ra.
(Nó đưa một chân. Người ta bôi mực vào)
Mày không biết ký thì hãy in dấu chân vào đây.
(Người ta đặt chân của nó lên biên bản)
Kết luận: Con chó đốm đã ăn cái dương vật. Đó là thứ quý nhất của A.Q. Nó là đồ phản chủ. Lòng trung thành không còn nữa thì tội nó là đáng chết.

Kết luận cuối cùng:

Con chó đốm chính là thủ phạm. Nó sẽ bị hành quyết nội nhật trong ngày hôm nay. Tài sản của người quá cố là thị Á nàm dzành* còn trẻ đẹp kia sẽ được đem đấu giá. Số tiền có được sẽ giao cho vợ và con A.Q tùy nghi sử dụng./.

Khuất Đẩu

20/5/2014: Đọc lại, sau khi có cuộc biểu tình chống TQ, gửi đăng Tương Tri `

NAM MÔ CHIẾC ÁO CÀ SA

khuatdau

Ngôi chùa ấy lợp tranh. Như thế đủ biết chùa nghèo lắm. Chùa lại nằm giữa một xóm còn nghèo thảm hại hơn. Những mái tranh xiêu vẹo, những tấm tôn rỉ sét, những tấm bạt cũ kỹ. Một mớ xệch xạc nằm chênh vênh cạnh một con đập đắp bằng lá. Cứ như một đám rác lều bều để lại bên bờ sau những cơn lụt.

Nhưng chùa có nhiều tượng Phật bằng gỗ. Tượng lớn to bằng trái bầu. Tượng nhỏ như trái chuối. Đen thui như bới từ trong đống than ra. Dễ chừng có đến hàng trăm tượng. Trước ngày Phật Đản, một chú tiểu nhỏ như cây tăm xỉa răng, lùa hết các tượng trong một cái thúng đem xuống sông tắm rửa. Chú dùng rơm kỳ cọ như các bà rửa xoong nồi. Vì thế có nhiều tượng sứt môi, gãy mũi. Sư cụ biết vậy nhưng cũng chẳng dám quở mắng. Chú chỉ là một đứa bé mà cha mẹ ép tới chùa để bớt đi một miệng ăn, chứ không phải nhất tâm thành chánh quả. Nhỡ chú buồn bỏ đi thì biết cậy nhờ ai trà nước, thỉnh chuông.

Có mỗi câu kinh học mãi cũng không thuộc, lại mắt nhắm mắt mở, nên tiếng chuông của chú cứ cà gật, cà gật. Mặc dù ở bên sông nhưng nó không đủ sức ngân nga để làm sực tỉnh một nhà thơ như chùa Hàn Sơn ở bên Tàu. Dù vậy có tiếng chuông vẫn hơn. Chùa mà không có tiếng chuông sao gọi là chùa.

Nhưng đó là những đêm về sáng, còn đầu hôm công phu chỉ mỗi mình sư cụ. Tuổi già sức yếu, cụ chỉ tụng có mỗi một bài kinh. Hơi thở ngắn, tay lại run nên người ta chỉ nghe thấy tiếng è è cùng tiếng mõ khành khạch như tiếng thở của một người bị bệnh hen và tiếng nấc của một người mắc chứng nấc cụt nằm cạnh nhau trong một đêm khó ngủ. Nhưng dẫu sao, đó cũng là những âm thanh dễ chịu giữa những tiếng ầm ĩ vợ chửi chồng, cha mắng con, tiếng cãi cọ của đám bầu cua cá cọp, tiếng hú hí cười cợt của đám đĩ rạc bị công an rượt đuổi ở thành phố đã trôi dạt tới đây.

Nhiều người ái ngại, lên tiếng chê trách. Ban hộ tự đâu, mà để chùa xơ xác như thời mạt pháp vậy? Nhưng chỉ dăm bà già ốm yếu, nghểnh ngảng đến chùa nhiều khi quên mất đường về nhà, thì đào đâu ra ban hộ tự! Người ta cũng chẳng mấy khi mời sư cụ đến nhà tụng kinh cầu siêu gia đạo hay cầu hồn. Mà nếu có, cụ cũng chỉ uống chén nước trà rồi về chứ không hề nhận một đồng công đức. Chùa như thế nghèo là phải lắm.

Sư cụ, gầy nhom như một con muỗi đói. Nói thế hơi hỗn, nhưng trông cụ gần như cái xác ve, chẳng có một hột máu nào. Ấy là bỡi cụ thường nằm ngủ gối đầu lên một cái trống tum. Mà trống bị bể, cụ lại kiêng sát sinh nên bao nhiêu rệp của cả xóm đều kéo tới. Đương nhiên chúng không phải đến để nghe kinh, mà để hút máu cụ cho đến phễnh bụng ra rồi chui vào trống ngủ. Chúng càng béo tốt thì cụ lại càng gầy ốm.

Một hộm thằng bé nghịch lấy cây gõ lên mặt trống. Trống không kêu. Gõ nhiều lần cũng chỉ nghe cành cạch. Nó bực mình ném xuống đất. Trống vỡ toang. Một đám rệp căng tròn như đậu đen văng ra khắp chùa. Nếu đếm được, dám đến cả triệu con.

Dù phải hốt hoảng trốn chạy, nhưng rồi đâu cũng vào đó, không còn trống thì chúng lại chui vào kẹt ván, vào vạt giường, vào áo quần, ngay cả chiếc áo cà sa treo trên vách. Chúng vẫn cứ nhởn nhơ ăn, ngủ, rồi sinh sôi nảy nở cái giống nòi mà không hiểu thượng đế sinh ra làm gì khi đã có cái giống thượng đẳng là loài người.

Chùa nghèo chẳng ai buồn biết tới. Sư cụ ốm cũng chẳng ai hay. Nhưng cái sự vụ mà tôi sắp kể ra đây xứng đáng được coi như tiếng nổ giữa trời quang. Một tiếng nổ hất tung mọi sự và đổi thay biết bao số phận.

Đó là một buổi tối cuối tháng giêng khi cái máu ăn chơi của người mình, càng nghèo lại càng chơi, vẫn còn hừng hực: những quán cóc vẫn không ngớt dô dô, mùi thịt nướng (chẳng cần biết thịt gì, hễ cứ nướng là thơm) vẫn cứ bay ngào ngạt và các ả bán thịt người đắt khách đến nỗi không cần phải ra chào mời tận ngoài đường. Một buổi tối như thế trên quê hương tôi, khiến sư cụ nằm trên chiếc võng rách lơ mơ muốn ngủ mà không ngủ được.

Đương nhiên là vì rệp cắn. Mà cũng đương nhiên vì cái đạo hạnh của cụ chưa đủ đức độ cảm hóa cái cõi ta bà nhỏ bé kia. Cửa chùa vẫn cứ rộng mở nên bao nhiêu âm thanh và mùi vị cứ như nước lụt tràn vào. Chuông thì rè, mõ thì bể. Mà dẫu cho không rè, không bể, dẫu có hàng chục cái chuông, mõ, kể cả trống, cũng không át nổi cái cơn cuồng say của cả xóm. Chỉ có cây đũa thần mang phép nước, tục gọi là cây gậy của công an, mới mong có thể dẹp yên được.

Thì đúng là cầu được ước thấy, vì ngay lúc đó sư cụ nghe tiếng tu huýt, cùng tiếng chân chạy rầm rập, tiếng hô bắt lấy nó, tiếng tru tréo không phải tui đâu, tui đâu có làm đĩ, tiếng van xin nịnh nọt, thôi mà sếp, tha cho em lần này…Và chỉ đúng một khắc, tất cả đã trở lại cái trật tự đìu hiu, cái buồn muôn thủa của xóm nghèo. Lại nghe tiếng nước chảy rì rầm qua đập, tiếng giã bột bún thình thịch, tiếng các bà vợ chì chiêt chồng con. Chỉ thiếu có tiếng chuông, vì chú tiểu nhỏ mãi mê chạy theo coi đám con gái quần áo sáng ngời, bị công an còng tay dẫn đi.

Đó là nghe.

Còn thấy, thì Giời Phật ơi, có cái gì trăng trắng lao vào chùa, như một cái gối ôm bị ai quẳng vào chánh điện, nơi có đến hàng trăm tượng Phật sắp hàng ba trên bệ nhìn xuống. Ừ, thì cứ cho là cái gối ôm đi, nhưng là một cái gối ôm có tay dường như đã nhăm nhe từ trước, nên giống như một con cò mổ ruồi, nó phóng tới đúng chóc chiếc áo cà sa đang treo trên vách; rồi loáng một cái, nó cuộn tròn vào mình, nằm phủ phục trước bệ thờ như lúc sư cụ đảnh lễ.

Sư cụ ốm nhom có cảm giác thân mình bỗng dưng nặng như đá. Chiếc võng cọt kẹt rít lên, như sắp đứt phựt. Hả cái miệng không răng nhưng vẫn còn lưỡi, sư cụ muốn la to lên mà la không được (người ta bảo lúc ấy sư cụ sợ quá thụt mất lưỡi). Chiếc áo một năm chỉ có mấy lần giặt (sợ rách), dù cho âm ỉ mùi mồ hôi, mùi cáu ghét, có cả mùi rệp vẫn là chiếc áo thanh khiết không hề chung chạ, chỉ mặc khi tụng kinh gõ mõ, sao lại có thể khoát lên cái trăng trắng nhất định là không sạch đó! Nếu quát lên được cụ đã quát: “cái con đàn bà dơ dáy kia, mi có trả cái áo lại không thì bảo!” Nhưng nếu nó cởi ra trả, thì… cụ lại ú ớ như bị mộc đè, cái trăng trắng kia mà phơi ra lồ lộ, không chừng hàng trăm tượng trên bệ sẽ nổ bung hết cả hai con mắt!

Đang lưỡng lự chưa biết tính sao thì ngoài cửa có một vị mặc đồ công an cầm roi điện ngoái cổ nhìn vào, tưởng là sư cụ đang quì mọp, cất tiếng “mô Phật!” một cách diễu cợt, rồi bỏ đi.

Đợi cho kẻ săn đuổi đi khá xa, cái trăng trắng ngồi bật dậy lao ra khỏi chánh điện. Trước khi lẫn mình vào bóng đêm đã không quên ném trả lại chiếc áo và nói: “con xin thầy thông cảm!”

Phải một lúc lâu sư cụ mới đứng lên được. Cái lưng đau sẵn cọng với chiếc áo trên mình ả khiến cụ cảm thấy đau lịm cả người. Chiếc áo mà cụ giữ gìn cung kính là thế, giờ đang nằm hớ hênh một nửa vắt lên bệ thờ một nửa thòng xuống đất. Chao ôi! sao mà giống cái bộ da cáo của con hồ Nguyệt Cô quá! Đến nước này thì liệu có dám khoát lên mình mà đứng trước Phật đài?! Nó đã phủ lên cái gì trăng trắng đó rồi thì chính nó cũng đâu dám chường mặt ra trước cặp mắt của hàng trăm vị bồ tát.

Cụ run rẩy đặt mấy ngón tay lên lớp vải vàng ố vì đã quá cũ. Thường thì nó nhạt nhạt, lạnh lạnh. Nhưng giờ, như nó vừa được hơ lửa, nóng đến bỏng tay. Áo nóng hay tay mình nóng? Cụ ngơ ngác tự hỏi. Nó đã được cái gì trăng trắng cuộn tròn vào mình, khít rịt từ đỉnh đầu cho đến gót chân, đã từng nghe máu chạy dưới da, từng hít cái hơi son phấn nồng nàn, nó nóng là phải. Đó là cái mùi của tội lỗi. Còn mình? Mình cũng có tội chứ không à? Sao không nhào tớí mà ngăn nó laị? Cùng lắm thì cứ đè nó ra mà lột, đến tuổi này thì còn sợ gì cái trăng trắng đó nữa! Nhưng như thế thì ác quá! Nó sẽ bị công an lôi đi đưa vào những trại giáo dưỡng như nhà tù. Con nó ai nuôi, cha mẹ nó ai săn sóc?! Giá như hôm nay có đức Phật, chắc ngài cũng để cho nó mượn áo mà thôi. Có phải vì thế mà chiếc áo trở nên ô uế đâu. Khi hành đạo chính ngài đã nhặt nhạnh từng miếng vải vụn trên đường đi, kết thành một tấm vảỉ lớn quấn quanh mình. Chẳng thịt da nào là có tội. Cũng chẳng quần áo nào là đáng khinh. Không chừng chiếc áo vừa rồi đã làm nên ơn phước vì cứu được một người. Như thế cũng là công đức.

Sư cụ bình tĩnh nhặt lên, vuốt lại cho thẳng thóm, ướm thử lên ngực, ngần ngừ một lúc rồi treo lại trên vách.

Ngay sau đó, cái tin con điếm mượn áo cà sa để che cái ba vạn chín nghìn đã lan xa nhanh hơn cả điện. Người từ trên phố ùn ùn kéo tới. Kẻ thì đòi xé xác con đĩ đó ra vì làm ô uế cửa Phật, kẻ thì hí hửng muốn nhìn tận mặt con nhỏ chịu chơi dám đùa dai với sư cụ. Người ta xông vào chùa tranh nhau: sờ, ngửi, hít rồi khạc, nhổ, khiến chiếc áo được kết bằng trăm miếng vải vụn rớt rơi thành nhiều mảnh. Nhiều kẻ đòi đem đốt hoặc thả trôi sông, nhưng cũng nhiều người đòi giữ lại. Có kẻ muốn mua với giá lên đến bạc triệu.

Thôi thì mạnh ai nấy nói, la hét, cười cợt, vung tay, múa chân cứ như phát rồ. Sư cụ ngồi co ro trong góc, ngơ ngác, sợ hãi. Một người được xưng tụng là đại gia bổng chen vào, xốc áo sư cụ lên như xách một con nhái.

“Giữ chùa mà thế này à? Tôi xin hỏi bà con: để làm trụ trì hay nên thôi?”

“Thôi! Thôi!” Người ta gào lên. “Đuổi lão ra khỏi chùa, đồ sư hổ mang!”

Nhưng cũng có kẻ bênh vực: “tại con đĩ đó chớ đâu phải tại thầy”.

Kẻ khác lại nói: “chung qui là tại công an. Bắt bớ loạn cả lên. Hết chiến dịch lại thả ra chứ bài trừ được cái gì”.

Có kẻ xỏ lá: “biết đâu là cái cơ duyên, không chừng con đĩ đó sẽ cạo đầu đi tu. Cái áo cà sa đó hãy để dành cho nó!”

Ngay lập tức, người ta lập ra ban hộ tự. Trưởng ban là ngài đại gia nhà đất, phó ban là một nữ doanh nhân kinh doanh vàng bạc. Hai mươi mốt vị, có người đang mặc áo ngủ, có người đang mặc quần lửng, có người đang mặc áo không dây, có người đang mặc quần xệ rốn đứng thành hai hàng mà ánh điện của nhà chùa yếu quá soi không rõ mặt. Nhưng trông cũng bừng bừng khí thế như ủy ban cách mạng lâm thời vừa được chọn sau một cuộc đảo chính. Các vị hứa sẽ mở cuộc lạc quyên để vận động xây chùa.

“Chùa phải ra chùa, đại gia trưởng ban nói, bước đầu tôi xin cúng dường một tỷ ”.

Tiếng hoan hô như sấm dậy.

Đúng như lời hứa, chỉ trong vòng nửa năm thôi, trên nền đất của ngôi chùa cũ đã bị phá hủy, lễ khai kinh mừng đặt viên đá đầu tiên được cử hành dưới sự chứng giám của các vị đại sư mặc y vàng rực rỡ.

Và cũng chỉ hai năm sau, ngôi chùa mới đồ sộ với những mái ngói cong như đuôi rồng, với lầu chuông gác trống đứng uy nghi soi bóng xuống dòng sông.

Giữa chánh điện là một tượng Phật thếp vàng cao đến 2 thước. Hào quang bằng điện tỏa ra sáng ngời, vun vút lao đi như tên bắn. Hòa thượng trụ trì là một tiến sĩ Phật học từng du học ở Tích Lan. Ngài lúc nào cũng tinh tươm, áo cà sa bằng lụa tơ tằm vàng rực, hai tay chắp trước ngực như búp sen non, nhỏ nhẹ, dịu dàng giữa đám đệ tử kỉnh Phật chuộng tăng, đa phần là nữ, lúc nào cũng lượn lờ những mong được ngài sai bảo.

Sư cụ bị tước y bát, cho hoàn tục. Các tượng Phật bằng gỗ cùng với chiếc áo trơ trẽn hơn một lần khoát lên mình con đàn bà ô uế bị rưới dầu đem đốt trên bờ đập, lúc này đã xây thành đập tràn kiên cố. Mùi gỗ mít, mùi vải mục, mùi con đĩ cọng với mùi dầu tạo thành một thứ mùi, nặng đến nỗi những người đứng xem phải bịt mũi mà vẫn cứ ho sặc sụa.

Cái xóm nhà lá đầy bọn đĩ điếm, ma cô, xì ke, bài bạc bị hốt đem đi kinh tế mới. Khoảng đất trống biến thành tiểu công viên với những cây dương trồng từng khóm cắt thành những chiếc thuyền và những cái tháp nhỏ nhiều tầng.

Thôi thì cũng đành một nhẽ, chùa đẹp như thế, tinh khiết như thế, nhất định là sẽ có Phật vàng.

Đời tốt biết bao!
Đạo đẹp biết bao!
Nam mô A Di Đà Phật!
Nam mô chiếc áo cà sa!

25/3/2014
KHUẤT ĐẨU

TỨ TUYỆT

khuatdau

Bác tôi có bốn người con, đều là gái. Nói theo kiểu miền Bắc là vịt giời, nói theo xứ này là ngao. Toàn là những tiếng dè biểu, chê bai.
Chờ mãi mà chẳng có một thằng cu, nên bác trai cảm thấy cái chức trưởng họ của mình nó lỏng chỏng cứ như một tổng thống được chỉ định chứ không phải do dân bầu lên. Còn bác gái, cứ mỗi lần nghe bà mụ bảo:”ơ lại là con gái” thế là thở dài; lần sau dài hơn lần trước, và lần sau cùng thì khóc. Chẳng phải bác lo chồng cưới vợ bé để kiếm con trai, (có cho cũng không dám) mà vì như bác nói, làm đàn bà khổ lắm, vui vẻ gì mà sinh ra cả lũ!
Tuy vậy, nhìn bốn cô con gái xinh xinh hai bác cũng yên ủi ít nhiều. Bác trai vốn là người sinh ra chỉ biết làm thơ chứ không làm gì khác, đã rất lạc quan, tự hào. Bác nói, ”nhà có con gái như có ngọc, sáng hẳn ra. Mình được đến những bốn viên, sang quá chớ bộ!”.
Bác gái thì nguýt:”ở đó mà sang, ông không nghe người ta nói, đó là bom nổ chậm à? Một trái đã mất ăn mất ngủ, đến những bốn trái thì biết làm sao đây!”
”Vớ vẩn! bác tôi cãi lại, bà có biết làm thơ không đấy, mỗi đứa là một câu thơ, bốn đứa làm thành một bài thơ tứ tuyệt. Ôi chao, Lý Bạch, Đỗ Phủ cũng phải thua tôi nữa kìa!”
“Hay nhĩ, bác gái cười, vậy ông thử đọc bài thơ đó nghe xem nào!”
Ông trợn mắt ngạc nhiên:”Thơ nào nữa. Bốn đứa là bốn câu thơ, tròn trịa, xinh xắn. Sống động như thế, nhìn chưa đã con mắt hay sao mà còn đòi đọc cho nghe nữa!”
Rồi mỉm cười ý nhị, bác hạ thấp giọng như chỉ đủ cho bà nghe:”Mà bài thơ tuyệt tác đó, chính bà là tác giả. Bà chẳng biết vần điệu gì ráo, nhưng đã đã sáng tạo ra chúng trong những phút xuất thần, đúng là thiên tài!”.
Mặc dù được bác trai bốc lên đến tận giời, nhưng bác gái tôi chỉ cười. Một lúc, bác nói như thể kéo bác trai xuống mặt đất.
“Tôi thì tôi lo lắm. Thời buổi này, kiếm được một thằng rể đã là khó. Mà đến những bốn đứa thì biết kiếm đâu cho ra. Bọn con trai, nếu không suốt ngày say xỉn thì bài bạc hút xách. Những đứa coi được được lại vô công rồi nghề, cứ ngồi chảy thây ra ở các quán cà phê! Ông hãy liều liệu mà ăn với ở. Con gái nhờ đức cha kia đấy!”
“Bà khỏi phải lo, bác tôi cao giọng, ăn ở như tôi đấy à? Đến mười đứa còn chưa hết đức, nói gì bốn đứa. Này nhé, tôi không tham nhũng thụt két, không bóp hầu bóp họng ai, không nịnh trên nạt dưới,…tôi chỉ là nhà thơ, một nhà thơ chân chính không thèm vào hội nhà văn, thì đứa nào bẻ cong ngòi bút tôi được!”
“Thì đấy, bác gái đãi giọng ra, điều tôi lo là ông thừa cái đức của các cụ xưa mà thiếu cái đức của bọn trẻ ngày nay!”
“Đức của bọn trẻ ngày nay là đức thế nào?”
“Là tiền!”
“Ơ! Bác tôi kêu lên như từ trên trời rơi xuống, là tiền à? Đức mà lại là tiền à? Thế cái bọn bán rừng bán biển, cướp đất cướp ruộng của dân, bọn vun quén tài sản rồi chuồn ra nước ngoài với cả đống đô la, là đức đó à?»
«Cũng gần như vậy».
«Đó là cái đức cống, thối hoắc!» Bác tôi phẩn nộ.
«Nhưng đời này thì nó thơm lắm. Không thối như ông tưởng đâu. Này tôi hỏi ông, khi ông đi ra đường với chiếc áo xệch xạc, chiếc mũ bèo nhèo, đôi giày vẹt gót, thì đúng là nhà thơ đó, nhưng có ai chào nhà thơ không? Hay là người ta chỉ chào ông giám đốc này, ông chủ doanh nghiệp nọ, ngay cả một chú công an đứng đường, cũng được thưa gửi kính cẩn. Nói đâu xa, anh em trong họ nhà này, dù ông là trưởng họ nhưng có ai coi ông ra gì. Ông còn thua cả thằng Bang, làm chủ hàng trăm con vịt đẻ, là cháu ông nữa đấy!»
Bác gái tôi nói tới đó thì nghèn nghẹn, rơm rớm nước mắt. Một lúc, bác thở ra: «tôi nghĩ mà thương cho tụi nó. Bốn chị em mà có mỗi chiếc xe cà tàng, thì ai mà thèm vào. Tụi nó nói, mỗi đứa một chiếc tay ga, còn chưa chắc nữa là. Làm cha làm mẹ mà để con cơ cực như thế, tôi xấu hổ quá!». Và, bà khóc thành tiếng.
Bác trai cứ trợn trừng ngó lên trần nhà, miệng lẩm nhẩm hai tiếng «đức» và «tiền» như người bị ma nhập; rồi bất ngờ nắm lấy vai bác gái, nói như reo :
«Tiền cả đống kia đấy! Hơ hơ!»
Bác gái mệt mỏi đứng dậy định đi, nhưng bác trai giữ lại.
«Nhiều tiền thật mà. Bốn đứa con gái là bốn cục vàng, hà hà. Này nhé, con Phong mà ai cũng kêu là cây sào, thử hỏi ở cái xứ dân lùn này có ai chân dài bằng nó không. Nó mà đi thi hoa hậu thì đoạt vương miện là cái chắc. Còn con Hoa suốt ngày hát hò, cứ ghi tên mà thi Idol hay Giọng hát Việt. Con Tuyết dù còn đi học nhưng cái làn da trời cho đúng như tên nó, thì thi người đẹp sinh viên. Con Nguyệt lém lỉnh giỏi ngoại ngữ, làm phóng viên cho Việt tấn xã, đi nước ngoài như đi chợ, miễn là đừng có chỉa hàng. Bốn đứa là bốn cái máy in tiền. Bà là mẹ, rồi sẽ được đăng hình lên báo, còn tôi, khi được phỏng vấn, chúng nó thỏ thẻ: dạ bố em là nhà thơ ạ, nghe còn oách hơn cả giám đốc ngân hàng đấy chứ! Ơ kìa, nhưng bà sao thế, bà ngất đấy à? Này cháu, giúp bác đưa bác gái vào giường, bà ấy vui quá, ngất đi đấy!»
Đúng là bác gái tôi đang ngất, nhưng chẳng phải vì vui. Sau này bác nói:«Chán bác giai mày quá! Toàn những chuyện không đâu. Cầu trời cho tụi nó không đứa nào vớ phải một thằng chồng như bác mày!»
Cũng vì không thể tin được một ông chồng cứ mãi nghĩ chuyện đâu đâu, nên bác gái dẹp bốn cái máy in tiền qua một bên. Bác bảo:«ai thì mơ chứ bác không mơ. Hay ho gì cái trò thi hoa hậu với thần tượng. Cứ phơi tồng tộc ra trước bàn dân thiên hạ như phơi bánh tráng ấy, thì là con gì chứ đâu phải con gái!»
Cái nỗi lo ế chồng cứ mãi ám ảnh bác gái tôi, như một người chèo đò lo thuyền chìm khi phải chở nặng. Mỗi khi nhìn cái Phong, đã hơn ba mươi tuổi đầu mà chẳng thấy tăm hơi động tĩnh gì cả, bác cứ thở dài thườn thượt. Nhưng bác trai, lúc nào cũng lạc quan tin tưởng:
« Sao mà ế được. Chẳng qua là, nó phải chịu cái dớp của một câu thơ hay, thế thôi. Mà thơ hay cũng như ngọc trong đá. Phải mất một thời gian đẽo gọt người ta mới tìm ra được ngọc. Bốn đứa là bốn câu thơ toàn bích. Thì bốn thằng rể cũng phải vậy. Bà làm thơ xướng thì tôi làm thơ họa. Nhất định tôi sẽ làm. Tôi sẽ tìm ra đủ bốn đứa để họa lại. Phong, Hoa, Tuyết, Nguyệt thì họa lại phải là Cầm, Kỳ, Thi, Họa. Tôi ví dụ là vậy, chứ không phải đốt đuốc đi tìm bốn cái thằng có tên như thế. Nhỡ cầm mà không biết đàn thì sao. Nhỡ kỳ mà không biết đánh cờ cũng hỏng. Nhỡ thi mà nói một câu chẳng nên lời thì thi cái nỗi gì. Còn họa mà vụng về làm gì cũng không nên thì chỉ có nước là tai họa. Những câu thơ tôi chọn phải thật giàu hình tượng, nhiều ý tưởng ; nói rõ hơn là phải đẹp giai này, chỉ số IQ thông minh phải cao đến tận nóc!»
«Thôi, thôi, bác gái kêu lên như hét, một mình ông là thơ, tôi đã đủ mệt quá rồi. Thêm bốn đứa con gái ông cũng gọi là thơ. Giờ thêm bốn thằng rể, ông lại gọi là thơ nữa, có mà tôi chết sớm!»
«Bà không việc gì phải chết sớm đâu. Hãy cứ sống mà xem tôi chọn rể. Đẻ như bà thì tôi không làm được, nhưng người khác đẻ để tôi chọn, thì là nhất!»
Thế là bác tôi, với bổn phận nặng nề làm cha, cọng với nguồn thi hứng dạt dào, đã lùng sục trong đám con cháu bạn bè quen biết, đưa về một « lũ bốn tên » như bác gái tôi mỉa mai. « Một lũ người không ra người, ngợm không ra ngợm, nhưng ăn thì như ngạ quỷ, bao nhiêu cơm, phở, bún, bánh đều sạch nhẵn. Rể như thế thì chỉ có nước bán nhà!»
Nhưng bác tôi cãi lại: «Có như thế chúng mới là đàn ông. Chúng ăn như hổ, uống như rồng, bà không thấy là đối quá chỉnh với thực như miêu của các con mình à? Còn cái bề ngoài, bà phải nhớ chiếc áo không làm nên thầy tu, đừng tưởng chúng khùng, chúng là những nhà thơ đương đại, có điều chưa kịp nổi danh đấy thôi».
Bác gái tôi lại buông một câu quen thuộc:«chán bác giai mày quá!» Còn các câu thơ trong bài tứ tuyệt, khi thấy các «câu thơ» nửa như tân hình thức nửa như hậu hiện đại mà ông đem về, thì đồng loạt kêu lên: «Thôi, bố gả chúng con cho Đại Hàn hay Trung Quốc đi. May ra bố mẹ còn được vài trăm đô!».
Cuộc chiến về thơ cứ nhùng nhằng như thế thì đùng một cái, bác tôi lăn ra chết! Không phải chết trong một đêm trăng huyền hoặc như Lý Bạch, mà là chết trong một đêm ba mươi tối đen như mực. Bác chết ngoài hiên, bác gái nói đi giải ngã đấy thôi, trong khi các thi hữu thì bảo bác đi tìm vần thơ. Dù sao thì bác cũng đã chết rồi. Cái nỗi buồn mất cha, mất chồng không đủ che lấp cái nỗi nhẹ người, tôi không dám nói nỗi vui, khi trong nhà bớt đi một bóng người mà ai cũng cho là lẩn thẩn.
Di cảo của bác để lại là những tập vở học trò đề bên ngoài là thi phẩm, nhưng lật bên trong chẳng có bài thơ nào, ngay cả một câu cũng không! Nhớ lúc sống bác bảo, tác phẩm chưa hoàn thành là tác phẩm hay nhất, đạt nhất. Tiếc rằng, bác không sống đủ lâu để hoàn thành, cho dù khi ấy nó không còn là hạng nhất nữa. Cái hay, cái đạt ấy bác đã đột ngột đem theo xuống mồ!
Như thế, cả một đời làm thơ, bác chỉ còn để lại duy nhất một bài thơ tứ tuyệt. Tiếc rằng, (cũng lại tiếc) bài thơ còn sống lâu hơn bác đó, không phải bác làm một mình mà đồng tác giả cùng với bác gái!
Bốn câu thơ ấy, sau khi mãn tang cha cũng lần lượt đi lấy chồng. Người chèo đò chở khẳm là bác gái tôi cũng cặp được bến. Bác đã có thể thở phào nhẹ nhõm.
Có điều bốn chàng rể chưa chắc đã làm nên một bài thơ họa đắc ý như bác trai tôi mong muốn. Nếu còn sống, thế nào bác cũng chê là sai niêm luật, lạc vần lạc điệu, chỉ được cái đối nhau chan chát.
Cô chị cả tên Phong, cao một thước tám thì lấy một anh chàng mà chiều cao khiêm nhường của anh ta, chỉ vừa đúng cái chân dài của cô. Ngày cưới, cô dâu mặc váy trắng trông như nàng Bạch Tuyết, còn chú rể tuy vậy mà rất tự tin, tự cho mình là một trong bảy chú lùn.
Cô hai Hoa, thì lấy một anh mặt mụn nhiều như cám. Cô không đủ tự tin để chụp hình bên anh, nhưng cô rất thích khi thấy anh chường mặt ra quảng cáo đủ kiểu trên truyền hình. Anh sẽ đem về cho cô ngoài những tấm ngân phiếu còn có cả đống kem dưỡng da, thuốc tẩy trắng.
Cô ba Tuyết, không thể tìm đâu ra cách đối nào hoàn chỉnh hơn, khi sánh duyên với một cầu thủ bóng đá người Gana. Cô tự hào mà bảo rằng, anh ấy là đêm, cô là ngày, có như thế cuộc sống lứa đôi mới không buồn chán.
Cô út Nguyệt, có lẽ là xấu số nhất, lấy một ông chồng già những mong được cưng chiều, nhưng chưa hết tuần giăng mật thì chồng bị đột quỵ, chữa chạy lắm cũng chỉ lập bà lập bập tiếng được tiếng mất.
Các thi hữu của bác tôi khi dự lễ cưới, đều khề khà phẩm bình những câu thơ «đực» không hợp vì chúng mới quá, lạ quá, «đối» với các câu thơ «cái» nghe trúc trắc làm sao! Nhưng các cụ cũng gật gù mà khen rằng, bày ra được một cuộc trình diễn nghệ thuật có một không hai như thế này: nào có cao có thấp, có trắng có đen, có xấu có đẹp, có già có trẻ, thì chỉ có mỗi một nghệ sĩ bậc thầy duy nhất, là số phận mới tạo dựng được mà thôi.
Bác gái tôi, suýt chết ngộp vì thơ, nên chẳng ưa gì bốn câu thơ mới. Chỉ có một điều làm bác nguôi ngoai, ấy là cả bốn đều nhiều đức, tức là nhiều tiền.
Thôi, nói nhiều thêm tội cho cái linh hồn thanh cao của bác giai tôi!

KHUẤT ĐẨU
01/4/2014

NHỮNG HẠT NÚT

 

khuatdau

Bà cụ ấy đi xin. Nhưng không xin tiền, xin cơm. Chỉ xin mỗi một thứ mà ít ai chịu cho: nút áo. Cái bàn tay gân guốc ngoằn ngoèo của cụ làm nhiều người từ chỗ thương cảm, ngạc nhiên đến phát bực khi thấy cụ không chịu cầm lấy tiền, lấy bánh mà lại chỉ tay lên những hạt nút áo trên người họ.
“Xin cái này à?”. Cụ gật.
“Có điên không đấy?”. Cụ lắc.
Cứ như thế, mười người hết chín đều hỏi cụ những câu như vậy. Và cụ cũng chín lần gật và chín lần lắc như thế.
Chín người xua đuổi cụ đi, nhưng vẫn còn một người hỏi “hạt nào?” và khi cụ run run nói “hạt nào cũng được”, liền đưa áo lên miệng bứt ra một hạt để tặng cụ.
Đó là một cậu bé chừng mười tuổi. Mặc dầu biết mình sẽ bị mẹ hoặc chị cho ăn đòn vì cái tội làm mất nút áo, nhưng cậu vẫn thích cho cụ. Người ta thấy trong đôi mắt mờ đục của cụ ánh lên một nét cười long lanh. Còn cậu thì toét miệng ra đến tận mang tai để lộ cả một hàm răng sún.
Lâu dần họ thành bạn.
Bảo rằng cụ là tỉ phú nút cũng phải thôi. Bởi vì cụ có cả một kho nút áo. Nút đen, nút trắng, nút xanh, nút đỏ. Nút tròn, nút dẹt, nút hình vuông, nút tam giác. Nút ta, nút Tây, nút Tàu, nút Mỹ. Cả một thế giới nút được cụ giấu dưới chân cầu thang.
Hai mươi bốn người con vừa dâu rể và rất nhiều cháu chất đầy trên những căn lầu kia đều bảo cụ lẫn, dở hơi nếu không muốn nói là khùng. Họ cũng đành chiều cụ nên đã để thằng bé ngớ ngẩn kia đến chơi chung với cụ.
Mà họ chơi gì với nhau? Người ta thấy cụ đổ từng hộp đựng nút ra cho thằng bé đếm. Cả một ngày chủ nhật nó đếm được một trăm hai mươi bảy ngàn tám trăm chín mươi chín hạt. “Vậy là còn thiếu một hạt nữa mới đủ một trăm hai mươi bảy ngàn chín trăm hạt chẵn”, thằng bé nói. Nó kéo áo định cắn rời một hạt, nhưng cụ bảo, “thôi đừng”. “Sao vậy bà?” “Bà không thích những hạt nút kiểu ấy. Dầu sao nó cũng có lỗi. Ở chung với bọn kia nó sẽ mắc cỡ”. “Nút mà biết mắc cỡ sao bà?” “ Biết chớ. Bởi vì cháu biết mắc cỡ thì nó cũng vậy”.
Cụ nói như có vẻ phân trần: “ bao nhiêu nút ấy đâu phải chỉ có xin không thôi. Bà phải đi nhặt trong những đống rác ấy chứ. Bà già rồi không thể ngồi bươi rác mãi được. Với lại làm vậy con cháu bà nó không thích. Người ta cười vào mặt nó, giàu mà để mẹ đi lượm ve chai. Bà cũng kiếm được khá nhiều nút ở những đám ma. Người ta lấy hết những quần áo cũ ra lắt nút, thế là bà có cả bụm. Đó là những hạt nút dù có kỳ cọ tắm rửa thì mặt mày vẫn cứ ủ ê. Chúng nó buồn vì nhớ chủ”.
Nhìn những hộp giấy đựng nút của mình, cụ thở dài nói “bao nhiêu nút đây rồi cũng sẽ nằm trong đống rác. Cháu thích thì bà cho”. Thằng bé vội nói như sợ cụ đổi ý:
– Thích, cháu rất thích bà ạ!
Nó thích là phải bởi vì mỗi hạt nút của bà cụ đều có một câu chuyện, thường là rất buồn. Chẳng hạn hai mươi sáu hạt nút màu hồng và tím này là của những con búp bê. Sau một hồi thương yêu chiều chuộng, lúc nào cũng ôm ẵm bên mình, những cô bé một hôm bỗng giận dỗi xé áo, bứt tóc ném vào góc nhà. “Cháu đã thấy lần nào chưa?” Cụ hỏi, “chưa à. Bà thì thấy rồi. Nhiều lần lắm. Là cháu gái bà chứ ai. Bà phải đi chôn những con búp bê tội nghiệp đó và bà cũng lắt nút để lại như chôn người chết vậy”.
Bà cụ lại lựa ra vài hạt nút xà cừ rất đẹp. Cụ nói “còn đây là những hạt nút biết xấu hổ”. “Trời ơi, thằng bé kêu lên, nút còn biết xấu hổ nữa sao bà?” “Ừ, biết mắc cỡ thì cũng biết xấu hổ chứ. Đó là những hạt nút trên những chiếc áo của con dâu và con gái bà. Chúng đánh nhau với chồng. Vì rượu chè, cờ bạc và nhất là vì ghen tuông. Trong những lần cuồng điên như thế, nếu không phải bị tát sưng mặt thì cũng bị chồng xé nát áo ra..”.
Cứ thế, hết ngày này sang ngày nọ cụ kể cho thằng bé nghe bao nhiêu chuyện về những hạt nút. Chúng cũng biết vui biết buồn, cũng hờn cũng giận. Trong đêm chúng rúc rích như chuột, hết chuyện trò kình cãi, lại nhảy múa hát ca.
Một hôm thằng bé báo cho cụ một tin khủng khiếp. Đó là lớp của nó sẽ đánh nhau với lớp khác. Chiến trường là một bãi cỏ đầy cóc nhái ở ngoại ô. Chúng bắt cặp vật nhau, bên nào thua sẽ bị bên kia lặt trụi nút áo. Đứa nào cũng biết mang cái áo không còn nút về nhà thế nào cũng bị ăn đòn. Vì vậy trận chiến diễn ra rất ác liệt. Nghe thế cụ liền vét hết tiền có được đi mua rất nhiều bánh kẹo, đồ chơi. Cụ còn mang theo rất nhiều nút và cả kim chỉ.
Hai bà cháu đến nơi thì quả đúng là có đến vài chục đứa đang vật nhau. Đứa thua đành đứng im nhìn đứa thắng bứt hết nút áo. Có đứa đang dùng đá đập chan chát lên những hạt nút trắng tội nghiệp. Cụ nói như khóc: “Cho bà chuộc. Đây kẹo bánh đồ chơi, cứ ăn cứ chơi nhưng đừng bứt nút áo nữa”. Bọn trẻ con ngơ ngác nhìn cụ. Vừa sợ vừa mắc cỡ, chúng tiu nghỉu đem cả bụm nút đến cho cụ. Ăn đi, cụ nói, đem áo lại đây bà kết nút cho!”
Hôm ấy cụ đã cứu được hàng trăm hạt nút không phải bị đập vỡ và tránh cho những đôi mông khỏi bị những ngọn roi của bố mẹ chúng.
Nếu những hạt nút ao ước có một bà tiên thì chính cụ đã là một bà tiên.
Và vì là tiên nên cụ không thể ở mãi nơi trần gian. Cụ mất trong một đêm tối trời sau khi nghe xong một bài đồng ca của tập thể nút. Cậu bé cõng cả kho tàng trên lưng đi theo sau xe tang. Cứ như có cả một thành phố nút cùng đi theo đưa tiễn cụ.

KHUẤT ĐẨU

Những đám mây màu lúa chín

khuatdau
Đã đến lúc những đám mây trắng lang thang trở nên ngoan ngoản như một bầy cừu kéo nhau về núi. Nền trời đã bớt xanh và lúa cũng thôi rạp mình dưới những cơn gió nồng mặn mùi biển. Mặt trời ném những tia nắng cuối  cùng trên lưng lũ cừu và chúng vụt sáng bừng lên với một màu vàng mà bà  tôi thường bảo đó là màu lúa chín.
Bà, lúc nào cũng lúa lúa! Ước gì đó là những đám mây mạch nha, bà  nhỉ! Tôi nói thế, bởi vì lúc ấy, mạch nha với tôi là ngon nhất và vì tôi hãy còn quá nhỏ để thấy được rằng, đó là cách so sánh đầy hình tượng mà bà tôi phải mất cả một đời người, sống chết với cây lúa mới có được.  Tôi chưa đủ khổ đau để thấy rằng trong cái màu vàng sậm đó có màu nâu  bùi của đất, màu mật ong của mồ hôi, màu lưu ly của nước mắt Tiếp tục đọc

NHỮNG CON ĐOM ĐÓM

chienbinh5_ISYB
Khuất Đẩu
Nếu tôi nói rằng, có một thời tôi cũng là một nữ sinh xinh đẹp, mỗi khi đi học có một cái đuôi dài những chàng trai si tình, rồi ít lâu sau có chồng này nọ các thứ, bạn có tin không? Không tin hả? Vậy thì đừng hỏi tôi những chuyện lôi thôi quê quán mẹ cha, đừng hỏi tôi cớ sao lại trở thành một con đĩ rạc.
Không ai sinh ra để làm đĩ hay giết người.
Tôi không biết được tại sao lại làm cái nghề chết tiệt đó. Nếu hỏi cho ra lẽ thì chết sướng hơn.
Tôi chỉ biết ngày ngủ cho đẫy giấc để tối đến đổi trao những thứ tôi có, lấy những thứ tôi không có. Mà thời ấy, những thứ tôi không có nhiều đến nỗi không thể kể hết được. Những đường, những gạo, những mắm, những muối, những áo cho con, những quần cho mẹ.
Vậy đó, mọi sự trên đời đều có thể xảy ra. Nếu bạn không tin, tôi cũng chẳng biết nói gì hơn.
Chỗ tôi hành nghề là một cái ngã ba bậy bạ. Giao lộ của một con đường bắc nam với cao nguyên lúc nhúc người đi kẻ đến. Những xăng nhớt, cà phê, thuốc lá. Những gỗ lậu và không lậu. Một nơi mà bọn tài xế đường dài lúc đó còn sướng hơn cả vua.
Bọn tôi ba đứa từ Sài Gòn dạt ra, toàn là hàng hết đát. Đứa nào cũng trên dưới ba mươi. Vừa thiếu ngủ, vừa đói khát, vừa làm cái việc chó đẻ đó trên những miếng nilon trải ra trên bờ ruộng hay trong những cái ống bi bỏ rải rác trên đường, nên đứa nào cũng xanh xao, ốm yếu.
Đắp lên mặt cả ký phấn son, độn trước độn sau cũng chỉ lập lờ đánh lừa được một vài kẻ tay mơ mà thôi. Cái bọn chết dẫm đó khi nhận ra bị lừa đã mắng chửi bọn tôi không tiếc lời. Có đứa còn đá đạp như vừa bắt được tại trận một đứa móc túi.
Mà thôi, một khi đã rơi xuống đáy cuộc đời thì ầm ĩ làm gì. Rồi như con Lan nằm chết trên miếng nilon ướt nhẹp tanh tuởi. Như con Huệ sáng nào cũng ho ra máu. Và như con tôi mới chết một tuần.
Con tôi, bạn không tin tôi có con sao? Nó lên ba tuổi và tôi dám cá với bạn là chưa có đứa bé nào đẹp bằng. Tôi chỉ biết nó đẹp tuyệt vời mà không cần biết vì sao nó đẹp. Con tôi có một cái miệng mà khi nó nói dù bạn đang sắp chết cũng cố ngóc đầu lên nghe nó nói rồi mới chết.
Tôi dành hết mọi sự tốt đẹp cho nó. Để khỏi phải chung đụng trong cái ổ chuột tục tĩu bừa bãi quần lót rẻ tiền và nằm ngồi hớ hênh buông thả, tôi gửi nó cho một bà lão trong xóm. Đó là một bà cụ tốt nhất mà tôi gặp được trong đời. Mặc dù biết tôi làm cái nghề đáng xấu hổ, bà vẫn coi nó như cháu ngoại của bà. Khi nó chết đi, bà khóc còn nhiều hơn cả tôi.
Vì nó, tôi chìu tất cả những thằng đàn ông có tiền. Từ đứa con trai vừa mới bể tiếng đến ông già lụm cụm muốn nhìn ngắm sờ mó này nọ một chút trước khi nhắm mắt lìa đời. Từ một thằng bạo dâm như ác quỷ cho đến cả một thằng cùi sụp hết cả mũi.
Tôi là cái hố rác trong cái ngã ba hôi hám ấy. Nhưng đồng tiền tôi kiếm được, tôi tin là đồng tiền sạch. Tôi không cướp bóc của ai. Không tham nhũng, không thụt két. Những đồng tiền dù hôi thối thế nào nhưng rơi vào tay tôi vẫn sáng lấp lánh. Nó cho con tôi có sữa để uống, có áo mới để mặc, có một đôi giày bé xíu để mang Tiếp tục đọc

NEM CẦU GỖ NINH HOÀ

KHUẤT ĐẨU

nem_ninh_hoa_1

Nem là món ăn được chế biến từ thịt heo của người Việt mà ngay cả người Tàu cũng phải ngã mũ chào. Có nhiều nơi làm nem nổi tiếng. Như nem Bắc, nem Huế, nem Thủ Đức, nem Ninh Hòa…Nơi đây, nem xóm cầu Gỗ được cho là ngon nhất.
Muốn nem ngon trước nhất phải chọn thịt ngon. Thịt không phải mua ở chợ mà được đưa tới từ các lò heo cũng ở cầu Gỗ. Mà cũng không phải thịt con heo nào cũng làm được nem. Phải là heo nuôi bằng cám, rau, không được cho ăn hèm hay thức ăn tổng hợp. Thịt phải săn, thớ nhỏ và chỉ lấy ở hai đùi sau. Loại thịt này rất mắc. Thịt được lấy ra ngay lúc con heo vừa mới cạo lông còn nóng hôi hổi. Tuyệt đối không được để dính nước.
Lúc đó mới 4 giờ sáng. Những nhà làm nem đã chuẩn bị sẵn dao thớt từ chiều tối hôm trước. Người có tay nghề cao nhất liền ngồi xuống sả thịt ra từng miếng lớn. Con em hay cháu chắt, kẻ lạng bỏ những sợi gân, người thái nhỏ thịt. Từng ký thịt màu hồng được cho vào cối gỗ. Hai thợ giã nem chuyên nghiệp giã liền tay không ngưng nghỉ. Khi đủ một số chày nhất định, người thợ chính bỏ đường muối vào cối trộn đều, rồi ra hiệu cho họ tiếp tục giã.
Số lượng những chày nện trong cối là cả một bí quyết của từng nhà. Gia giảm còn tùy thịt từng bữa, tùy cối mới mua hay đã cũ, tùy chày nặng hay nhẹ. Người giã nem không như giã gạo. Phải giữ cho được độ nặng của chày rơi xuống thịt và lúc thịt dẻo như đất sét, khó nhất là rút chày lên. Thoát khỏi sức trì kéo của khối thịt không phải cứ mạnh như lực sĩ mà làm được. Phải quen và hiểu đúng ý chủ Tiếp tục đọc

MÁI NHÀ NĂM XƯA

Khuất Đẩu

152_8_nha-co-mai-la.

Mái nhà ấy đã không còn phập phồng như một trái tim trong những đêm trăng tỏ, không còn tí tách gieo những giọt nước bên thềm trong những chiều mưa. Nó đã bị đốt cháy trong một buổi chiều tháng ba khi lúa ngoài đồng chưa gặt xong để kịp thay cho nó một chiếc áo mới.
Đó là ngôi nhà lá mái già đến hơn bảy mươi tuổi, cùng tuổi với ông tôi, như hai anh em song sinh. Nhà lá mái chứ không phải mái lá. Nghĩa là một ngôi nhà đường bệ được xây cất công phu, nếu không muốn nói là quá công phu, với những cây cột được đẽo tròn như cột đình lên nước nâu bóng, những xà những trính chạm trổ tinh vi. Nó chỉ khác những ngôi nhà rường ngày nay đáng giá hàng tỉ đồng, ở chỗ nó lợp bằng tranh thay vì lợp ngói.
Sao lại lợp tranh nhỉ? Liệu có xứng với bộ khung làm bằng gỗ quý có thể chống lại mối mọt đền vài trăm năm? Khoác lên mình nó một mái tranh, nào có khác gì khoác lên vai người đẹp một chiếc áo vải sần sùi!
Nhưng theo ông tôi, đó mới là cái độc đáo và cũng là cái bí mật của nhà lá mái ở Bình Định..Độc đáo ở chỗ cứ năm năm nó lại được thay áo mới. Áo được may bằng những tấm tranh.vàng óng. Mà tranh lại được kết bằng những thân lúa phơi khô sau khi đã để cho người những hạt lúa no tròn. Với chiếc áo mới vàng như lụa, nhất định nó lộng lẫy kiêu sa hơn những mái ngói già cỗi rêu phong. Phảng phất đâu đây mùi hương của đồng lúa chín, mùi của bùn đất và cũng là mùi của mọi người trong nhà.
Còn cái bí mật? Đó là sau khi dựng xong cái sườn nhà, thay vì lợp ngói hay tranh, người ta lại trộn rơm và đất làm thành một cái mái gọi là da cái, y như cái da cái thịt của một con người. Với bốn bức vách bằng đất, trần cũng đất, ngôi nhà đóng kín cửa giống như hang động của tổ tiên loài người xa xưa. Rất ấm áp khi mùa đông, rất mát dịu khi mùa hè, lại cũng rất yên bình trước mưa bão sấm sét và ngay cả thú dữ. Sau đó, trên nền da cái, người ta lại dựng cột kèo rui mè bằng tre, dùng chính rơm rạ ngoài đồng để lợp như mặc áo cho nó. Chiếc áo to sù như đôi cánh của gà mẹ lúc nào cũng sẵn sàng che chở cho đàn con chiu chít. Tiếp tục đọc

TIỂU CÔNG CHÚA

Khuất Đẩu

SAMSUNG

Tặng H. Ch.
Cuộc triển lãm của hoạ sĩ K. chỉ có mỗi một chữ: Tháp. Trên 50 bức tranh chỉ toàn vẽ tháp. Kỳ lạ hơn nữa là những cái tháp ấy không đứng trên mặt đất mà nghiêng ngửa như đang bay giữa mây trời hay trôi bồng bềnh trên dòng sông.
Bị dè bỉu, bị phê phán tơi bời nên chẳng có một bức tranh nào được bán ra. Một bức đã bán không trôi mà lão họa sĩ lại còn muốn bán tất cả chỉ cho một người. Có họa là điên! Những ngày cuối cùng khán phòng trống vắng đến nỗi một vài con chim sẻ bay vào định làm tổ. Chúng ngớ ngẩn húc đầu vào tranh, rồi chới với bay đi. Cũng như khách, chúng không bao giờ trở lại.
Vậy mà, ngày cuối cùng, trong lúc lão họa sĩ định thu dọn để trả lại phòng, có một người khách cũng kỳ dị không kém: chấp nhận mua tất cả. Đó là một triệu phú, dĩ nhiên, ông sẵn sàng bỏ ra một khoản tiền lớn với điều kiện muốn biết vì sao hoạ sĩ lại vẽ những cái tháp đang say nghiêng ngã như thế!
– Ông có hơi tham lam quá đấy. Cũng như tôi rất tham lam và thô lỗ nếu đã nhận tiền của ông mà còn đèo bòng hỏi: tại sao ông lại bỏ tiền ra mua như thế!
– Tôi không dám có ý ấy đâu. Tôi chỉ muốn biết cái suối nguồn hư ảo nào đã khiến ông vẽ nên những bức tranh tuyệt đẹp này. Điều ấy chỉ làm cho tôi thêm ngưỡng mộ ông và yêu quý những bức tranh mà thôi.
– Rất tiếc là không thể.
– Vậy là tôi cũng rất tiếc!
– Tôi có thể bán cho ông với một giá tuỳ ông chọn, miễn sao tôi đủ trả tiền thuê phòng.
– Tôi không dám xúc phạm những bức tranh như thế. Và không hẳn riêng tôi, nếu bán như thế thì chính ông cũng đã vùi dập những tác phẩm tuyệt mỹ của mình.
– Vấn đề là tôi cần một người biết quý trọng và nâng niu chúng sau khi tôi qua đời, chứ không phải tiền, cũng chẳng phải danh vọng, tôi đã hơn 70 tuổi rồi!
– Ý ông muốn nói, nếu không bán được thì ông sẽ hiến tặng viện bảo tàng?
– Không bao giờ! Không phải bảo tàng nào cũng có một con mắt tinh đời. Ở đó, những bức tranh tội nghiệp của tôi sẽ nằm trong nhà kho ẩm mốc, sẽ chỉ có chuột, dán và nhện tới xem mà thôi!
– Thế thì ông định sẽ làm gì?
– Điều này thì tôi có thể thổ lộ cùng ông. Tôi sẽ đốt trước khi tôi chết Tiếp tục đọc

TIÊN DUNG CÔNG CHÚA

Khuất Đẩu

Trdong1

Có hai cha con rất nghèo. Nghèo đến nỗi chỉ có mỗi một cái quần để thay nhau mặc. Người cha trước khi mất ngậm ngùi bảo con: hãy để cái quần lại mà mặc, đừng chôn theo cha. Nhưng người con nỡ lòng nào để cha mang tội khi quân khi ra mắt Diêm vương trong bộ dạng của đứa trẻ sơ sinh. Người con vì thế đành sống cùng sông nước trần truồng như con cá, con tôm.
Cuộc sống của chàng vẫn rất hồn nhiên, vẫn không vì một chiếc quần mà trở nên bối rối. Chàng lặn xuống tận đáy sâu, nép mình vào các hốc đá chờ bắt những con cá anh vũ môi dày. Đó là những con cá có những cái vảy đẹp như ráng chiều, mỗi khi nó phóng mình lên khỏi mặt nước, người ta tưởng như có ai vừa ném tung lên một nằm ngọc. Nhưng ngon nhất và quý nhất là hai cái môi dày săn chắc như hai cánh tay của một ngủ phủ. Nó không bơi mà ngậm chặt vào đá để chống chọi lại với dòng nước chảy xiết. Cũng quý như môi đười ươi, môi cá anh vũ được người ta tìm kiếm để dâng lên vua. Cả con sông Thương nước chảy đôi dòng chỉ có hai cha con chàng là biết được nơi ở thâm sâu bí mật của cá anh vũ, và, cũng chỉ có hai cha con chàng biết cách bắt mà thôi. Khi bắt được cá, chàng cột vào một cây sào cắm giữa dòng sông. Khách mua cứ việc bỏ gạo mắm vào giỏ cho chàng là xong.

Và cuộc đời của chàng họ Chữ tên Đồng Tử nếu cứ như thế thì có chi mà đáng nói. Một cuộc đời bình lặng như một chiếc lá trong muôn ngàn chiếc lá hai bên bờ sông, một hạt cát trong hàng triệu hạt cát trên cái bãi vắng nổi giữa dòng. Nhưng đôi khi một ngẫu nhĩ trùng phùng lại làm nên bất tử. Một trái táo rơi trước mặt Newton, một phút cuồng điên trần truồng của Archimède chẳng đã góp phần đổi thay thế giới đó sao Tiếp tục đọc