XE LỬA Ở QUÊ TÔI

huyenchieu

Ngày xưa ông bà mình đi Nha Trang bằng xe gì hả mẹ?
-“đi bộ. Ông ngoại con đi ra Bình Định học cũng đi bộ. Khi qua đèo Cả, sợ cọp , phải chờ những người buôn trâu dẩn trâu qua đèo, ông đi theo. Đến thời của mẹ, muốn đi Nha Trang mẹ được đi xe ngựa. Phải mất một ngày mới đến được Nha Trang”
Như vậy, tôi đã hưởng được một nền vận tải văn minh khi tôi được đi Nha Trang bằng xe lửa.
Khác với bến xe ngựa hôi hám, bến xe đò chật hẹp , ồn ào, ga xe lửa là nơi sang trọng có cảnh quan đẹp nhất ở quê tôi.
Tôi không biết Ga xe lửa Ninh Hòa được khánh thành từ năm nào, chỉ biết các ga và tuyến đường rầy đều do người Pháp xây.
Thuở ấy xe lửa chạy bằng đầu máy hơi nước. Sợ hãi nhưng thích thú nhìn đoàn tàu tới gần với đầu máy nặng nề tỏa khói đen sì là một cảm giác khó quên của bọn trẻ nhà quê chúng tôi thời đó. Tiếng bánh xe nghiến ầm ỉ trên đường rầy , tiếng còi tàu lanh lãnh cũng thật kỳ vĩ.
Ga Ninh Hòa là một trong những nhà ga hiếm hoi còn nguyên vẹn sau chiến tranh và có cảnh quan vô cùng ấn tượng..
Ga có vị trí thoáng mát với bốn bề núi non, ruộng đồng xanh ngát.Đứng trên sân ga chúng ta có thể nhìn thấy một kiến trúc uy nghi và có dáng dấp của một ngôi nhà kiểu đền đài Hy Lạp, thực ra nó là đề pô , nơi sửa chửa đầu máy. Cái bồn nước trên cao để tiếp nước vào nồi súp de cũng thật lạ mắt và còn cả một cái lô cốt chắc là nơi ngày trước quân đội Pháp canh gát cho an ninh của ga…
Chiếc cầu dành riêng cho xe lửa bắt qua sông Dinh cũng rất quen thuộc với người dân Ninh Hòa mặc dù hình ảnh con tàu ầm ầm vượt qua cây cầu bằng sắt thật tương phản với phong cảnh êm đềm hai bên bờ sông .
Nói đến chuyện đi xe lửa , thú vị nhất là được chui qua hầm.
Tối thui, ngộp thở, kinh hoàng vì tiếng bánh xe nghiến trên đường rầy bất ngờ nghe như tiếng núi lở , nhưng cũng thật ngây ngất.
Rồi bóng tối nhạt dần báo hiệu …hết hầm. Không khí mát rượi tha hồ tràn đầy buồng phổi, ánh sáng chói chang làm lóa mắt và dù mặt mủi có thể dính đầy bụi than bọn trẻ con vẫn chờ đợi nhất được hưởng giây phút xe lửa chui qua hầm.
.
Thập niên 50 , cuộc sống không nhiều biến động và người nông dân ít có lý do di chuyển. Ga xe lửa luôn vắng vẻ với năm ba người khách mỗi lần tàu vào ga.
Cuối tuần, tàu nhiều khách hơn nhưng những vị khách ấy cũng chỉ là đám học trò đi học ở Nha Trang về thăm nhà và hầu hết là khách đi cọp!
Dầu sao truyền thống của một ngành hỏa xa văn minh cũng còn lưu dấu trên bộ đồng phục của sếp ga, của nhân viên soát vé, của người gác ghi với lá cờ hoặc chiếc đèn có mặt kính nhiều màu mà ông ta cầm lắc lư báo hiệu cho tàu ra vào ga trong đêm tối.
Từ năm 1964 hệ thống hỏa xa miền Nam ngưng hoạt động. Đường rầy ở nhiều nơi bị phá dở, xe lửa bị đặt mìn. Từ Nha Trang muốn đi Saigon phải đi bằng máy bay vì không ai dám đi xe đò qua Rừng Lá. . Từ Tuy Hòa vào Nha Trang chỉ có thể đi bằng ghe bầu.
Sau năm 1975 ngành hỏa xa được tái thiết và được gọi là Đường Sắt Việt Nam.
Không còn dáng vẻ văn minh năm nào, đường Sắt Việt Nam đã trở thành một phương tiện giao thông xô bồ chưa bao giờ có và sẽ không bao giờ lập lại.
Xe lửa đã trở thành phương tiện để người ta bấu víu vào kiếm sống .
Những năm ấy , những chiếc xe đò cũ kỷ lại càng thêm kỳ dị khi phải gắn một thiết bị phía sau để chạy bằng than. Giá tiền đi xe đò lại đắt nên người ta ùn ùn rủ nhau đi buôn bằng xe lửa.
Đường sắt trở nên quá tải và chen được một chân lên xe lửa là một kỳ công .
Đường cát trắng hồi đó biến mất và người dân quê tôi theo xe lửa ra tận La Hai để buôn loại đường vàng làm từ mật mía , cô lại thành bánh. Người đi củi cũng biến gon xe lửa thành xe chở củi. Xe lửa không dừng lâu nên ng, cứ quăng bừa các thân củi vào cửa sổ toa xe.. Rồi hàng chục bao gạo, bao bắp, bao khoai mì tiếp tục được nhồi nhét , rồi cá khô, mắm muối, đậu mè từng bao tới tấp quăng lên mặc cho những tiếng chửi rủa náo động cả toa tàu. Khi tàu chuyển bánh, hàng chục người vẫn thản nhiên chạy nhảy …trên mui xe để di chuyển từ toa này sang toa khác. Đã có mấy em bé bán nước trà đá đã rơi xuống đường rầy khi tàu chuyển bánh. Và không ít dân nghèo đã mất mạng vì không tiền mua vé phải nhảy tàu khi tàu đã tăng tốc.
Nhớ lại những ngày khốn khổ ấy mà thương cho người dân của thời hòa bình thống nhất.
Ngày nay ga Ninh Hòa không còn hổn loạn như thế nữa. Sân ga , nhà ga được tu sửa sạch sẽ hơn và đầu máy hơi nước đã được thay bằng dầu máy diesel.
Tuy nhiên khách nước ngoài đến Việt Nam rất ngạc nhiên vì hàng trăm năm rồi sao Việt Nam vẫn còn sử dụng đường ray có chiều ngang 1 mét.
Riêng tôi, tôi rất sợ một ngày nào những đường tàu cũ kỷ ấy biến mất.

Và tôi sẽ không còn được bồi hồi ngắm nhìn những đường tàu trăm năm chạy song song rồi giao nhau ở đầu sân ga như lời nhắc nhở cho con tàu rằng bạn đã về tới bến.

HUYỀN CHIÊU
Ninh Hòa
Tháng 9 2014

Advertisements

NỖI BUỒN KHI ĐỌC “BA NGƯỜI KHÁC” CỦA TÔ HOÀI

huyenchieu
Trước năm 1975, nếu người dân miền Bắc không được phổ biến bất cứ văn hóa phẩm nào của miền Nam, thì người dân miền Nam vẫn được tự do hát những ca khúc của Văn Cao, Lưu Hữu Phước, Đoàn Chuẩn… Bọn trẻ nhỏ chúng tôi vẫn được đọc Những Ngày Thơ Ấu của Nguyên Hồng và rất nhiều chuyện viết cho thiếu Nhi của Tô Hoài.
Tất nhiên Dế Mèn Phiêu Lưu Ký là truyện ghi dấu ấn sâu đậm trong lòng trẻ em. Nhưng với tôi, truyện U Tám mới là câu chuyện khiến tôi xúc động sâu xa và nhớ mãi .
Chuyện U Tám ghi lại tình cảm của một cậu bé con nhà khá giả với một người giúp việc mà cậu gọi là U Tám. Mẹ bận đi buôn bán nên cậu bé quấn quít với người U hiền lành. Ngày đầu tiên đến lớp, nhất định phải có U Tám ngồi cạnh, cậu mới chịu học. Và U phải ngồi học cùng cậu mấy ngày liền cho đến khi cậu quen thầy, quen bạn.
Một hôm , đi học về, cậu ngạc nhiên và khó chịu khi thấy có một đứa bé (tôi quên là trai hay gái) sợ hãi nấp sau chân U trong nhà bếp. Đứa bé ốm yếu, đen đúa và bẩn thỉu , không dám ngước mắt nhìn cậu chủ.
Nhân vật cậu chủ xưng “tôi” cảm thấy căm ghét đứa bé vì nó dám dành U Tám , dù nó chính là con ruột của U. Cậu bé chưa đủ lớn để hiểu rằng thật đáng thương cho người đàn bà nghèo khổ đã phải bỏ đàn con nhỏ ở nhà đi chăm sóc con người khác..
Một lần, U Tám về thăm nhà và không bao giờ trở lại nữa. Năm ấy nước lũ tràn về hung bạo. Đê vỡ và làng quê của U đã chìm dưới bể nước trắng xóa. Từ đó, chiều chiều , cậu đứng nhìn xa xăm về hướng ngôi làng của U , lòng bồi hồi thương nhớ người đàn bà gần gũi, chăm sóc, yêu thương cậu còn hơn cả mẹ ruột.
Rất tiếc Chuyện U Tám và Cu Lặc không thấy hiện diện trong danh mục truyện ngắn của Tô Hoài dành cho độc giả miền Bắc.
Sau năm 1975, tôi biết Tô Hoài là một nhà văn có địa vị cao . Nhưng tôi không tìm đọc truyện của ông. Tôi không mặn mà với những nhà văn được trọng dụng ở miền Bắc.
Nhưng khi hay tin ông qua đời, tôi tìm đọc một tác phẩm được nhắc tới nhiều nhất, có tựa đề Ba Người Khác, do nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành năm 2007, và tôi vô cùng thất vọng với Tô Hoài đã khác quá nhiều với những ấn tượng tốt đẹp trong lòng tôi.
Tôi luôn kính trọng những nhà văn viết truyện cho trẻ em. Và chắc cả thế giới cũng thế. Hàng triệu người tuy đã già vẫn không quên được Sans Famille của Hector Malot, Pinocchio của Carlo Collodi. Và những câu chuyện cổ của Andersen đã nuôi dưởng biết bao tâm hồn của trẻ em thế giới. Tôi rất hảnh diện vì trẻ em Việt có Dế Mèn Phiêu Lưu Ký và những truyện loài vật của Tô Hoài.
Viết truyện cho thiếu nhi rất khó.
Muốn có tác phẩm được các em say mê , tác giả phải là người rất yêu trẻ em, hiểu trẻ em, tâm hồn đầy tính nhân bản.
Buồn thay, đọc “Ba Người Khác” tôi thấy tình người của Tô Hoài đã cạn. Chẳng những cạn mà còn trở nên tầm thường, nếu không muốn nói là ác độc.
Ở đây tôi không muốn nói nhiều đến “mục đích yêu cầu” của tiểu thuyết này. Rõ ràng tác giả muốn nói đến cái sai, cái ác, cái xấu của đám cán bộ đi làm cải cách.
Điều làm tôi vô cùng chán quyển truyện này và thất vọng về Tô Hoài là ông đã quá khai thác đề tài hủ hóa một cách quá đáng, không cần thiết.
Có hai nhân vật nữ điển hình trong “Ba Người Khác” thì cả hai đều là những thiếu nữ khao khát tình dục đi đến chổ gần như bạo dâm.
Tôi thật đau lòng khi tác giả ở tuổi trên tám mươi mà còn ngồi viết được những dòng mô tả tỉ mỉ bản năng tình dục của các nhân vật nữ, là những đứa con gái đáng tuổi cháu nội của ông.
“Ba Người Khác” là một tác phẩm mà phía phản diện thì quá tệ mà phía chính diện cũng chẳng đẹp đẽ gì..
Lẽ ra, bằng lương tri của một nhà văn , ông phải làm cho độc giả đau đớn cho một làng quê dưới trận cuồng phong mang tên Cải Cách Ruộng Đất , xót thương cho những:
“em bé lên sáu tuổi
Lủi thủi tìm miếng ăn
Bố cường hào nợ máu(*)
Thì ông lại say sưa viết về những Đơm, những Duyên với những cơn động tình.

Đọc “Ba Người Khác” tôi mang nỗi buồn của những đứa trẻ bị hụt hẩng. Chú dế mèn đáng yêu, Chú mèo mướp sinh động, đôi chim Gi dể thương, anh Cu Lặc thật thà, U Tám nhân hậu đã bị ông dấu biến đi, để rồi thay thế bằng những con rối tục tĩu, bẩn thỉu
.
Ông vừa mới mất ở tuổi chín mươi lăm. So với Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, ông đã được trời và đời cho hưởng quá nhiều lộc. Nhưng nếu ông biết rằng đối với thế hệ trẻ em chúng tôi ông đã biến thành “một người khác” ông đã ra đi không thanh thản.
Thật thương (mà không tiếc) cho ông.

Huyền Chiêu
Tháng 7 – 2014

(*)Em Bé lên Sáu Tuổi (Hoàng Cầm)

CẢM XÚC HỘI AN

huyenchieu

Chuyến xe lửa Sài Gòn- Huế ghé Ninh Hòa đưa tôi đến ga Đà Nẵng vào lúc 7g30 sáng. Tôi nhờ một anh xe ôm chở tôi đi xem dung nhan Đà Nẵng bây giờ ra sao. Anh xe ôm chở tôi đi lòng vòng qua 6 trong 9 cây cầu bắc qua sông Hàn. Đà Nẵng nhà cửa, cao ốc nở rộ nhưng không gợi cho tôi điều gì mới lạ cho nên khi anh xe ôm vừa cho tôi xuống xe ở Ngũ Hành Sơn tôi đã quên Đà Nẵng rồi.
Ngắm nhìn Ngũ Hành Sơn bây giờ đã trở nên bé nhỏ, nằm lọt thỏm vào khu dân cư đông đúc, mất đi nét hoang sơ thuở nào, tôi buồn bã đứng đón chuyến xe bus đi về Hội An.
Con đường từ Đà Nẵng đi Hội An chật hẹp và quang cảnh hai bên đường không khác mấy với Ninh Hòa quê tôi. Cũng những ngôi nhà nho nhỏ nằm sau một hàng rào dâm bụt, bên mấy bụi chuối thấp lè tè làm tôi nôn nóng, không biết Hội An có gì đặc biệt.
Xuống xe bus, tôi hỏi thăm đường về phố cổ. Tôi đi bộ để ngắm nhìn được nhiều hơn địa danh nổi tiếng này. Chưa có gì lạ và đường phố quá giống Ninh Hòa ở những nhà cửa lô xô nhỏ bé. Đến đường Hai Bà Trưng tôi đã mỏi chân và thèm một chỗ nghỉ ngơi nên bước vào một khách sạn nho nhỏ. Sau một giấc ngủ ngon tôi thong thả đi khám phá phố cổ.
Điều tôi hài lòng trước tiên là không có một ngôi nhà cao tầng nào ở thành phố Hội An, không có ngôi nhà nào được sơn quét bằng các màu sắc sặc sỡ của sơn nước hiện đại. Hầu như tất cả vách nhà đều mang màu vàng xưa cũ nằm khép nép dưới những mái ngói âm dương rêu mốc. Một vài đám cỏ dại, hoa dại ngây thơ mọc lên trên những mái ngói quá cũ kỹ, mục nát mà chúng nhầm tưởng là mặt đất thân quen.
Không thấy tiệm bán tủ lạnh, TV, bàn ủi điện, nồi cơm điện. Không thấy tiệm bán xe gắn máy, quạt máy. Chỉ thấy rất nhiều tiệm bán quần áo, nhiều tiệm may mà du khách có thể có ngay một bộ vest sau vài tiếng đồng hồ.

Phố cổ đây rồi.
Tôi có cảm giác mình như Alice đi lạc vào một thành phố cách đây vài thế kỷ. Con đường dẫn vào phố cổ nhỏ bé và chật hẹp. Tôi không hiểu làm sao mà tất cả những ngôi nhà hai bên phố cổ đồng loạt cố thủ với nguyên mẫu của cha ông từ hàng mấy trăm năm trước.Người Việt theo ý riêng của tôi, dễ chạy theo cái mới. Có một ít tiền người ta sẽ vội vàng xô ngã ngôi nhà cũ kỹ để xây nhà mới rồi tô quét theo phong cách hiện đại. cho nên tôi vô cùng ngạc nhiên, vô cùng thú vị với từng cánh cửa, từng căn gác gỗ, từng ban công thấp thoáng sau khóm hoa vàng.
Du khách đến từ châu Âu, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hong Kong….thong thả đi dạo trong lòng con phố chật hẹp nhưng an toàn vì không có xe hơi, xe gắn máy.
Một chị bán bắp luộc chìa một bao bắp nóng trước mặt tôi:
-Corns, corns, corns….
À, thì ra chị tưởng tôi là người Nhật.
Tôi mỉm cười:
:-Việt Nam, Việt Nam.
Ở phố cổ Hội An, tôi không bị khó chịu bởi cảm giác bị bao vây bởi những nhà giàu mới nổi. Người Hội An mang vẻ khiêm nhường của những nhà giàu suy tàn và sự nhỏ nhẹ lịch sự của họ lại làm tôi hiểu rằng đó chính là niềm kiêu hãnh của những người mà tổ tiên của họ vừa giàu có vừa rất có văn hóa.
Dưới những mái ngói cổ xưa, chủ nhân của ngôi nhà mở tiệm bán tranh, bán tượng, bán lồng đèn, bán quà lưu niệm. Trong lòng phố du khách đi bộ, đi xe đạp hay thưởng thức sự êm ái, nhẹ nhàng của vòng bánh xe xích lô.
Rất nhiều chùa chiền, hội quán cổ kính còn nguyên vẹn ở phố cổ. Thật tiếc vì tôi không đủ thời giờ và sức khỏe để đi thăm cho hết các chùa chiền, nhà thờ họ, hội quán..
Đi trong lòng phố cổ, thật dễ chịu vì không có cảnh ăn mày lê la, không có người bán dạo chèo kéo, không có tiếng nhạc ầm ĩ, thỉnh thoảng có tiếng piano của clayderman dặt dìu vang ra nhè nhẹ từ một tiệm buôn nho nhỏ.
Vì sao Hội An còn sống sót sau mấy trăm năm lịch sử đầy chiến tranh, bom đạn?
Số phận của của Hội An là một chuỗi bi kịch của thăng trầm, kỳ lạ giữa may và rủi.
Tôi được biết, thời chúa Nguyễn, Hội An sầm uất, giàu có, nhộn nhịp hơn những gì còn lưu lại trên những dấu vết hiện nay. Cửa biển Hội An thuở ấy từng có một khu phố của người Nhật với hàng trăm ngôi nhà. Tàu buôn của Trung Hoa, Nhật Bản, Ấn Độ… đã từng vào ra tấp nập ở cửa biển Hội An. Hội An bị tàn phá nhiều bởi loạn lạc dưới thời vua Quang Trung. Triều Nguyễn, với chính sách bế môn tòa cảng góp sức tàn phá Hội An. Ông trời cũng nhẫn tâm đưa cát về bồi lắng cửa biển làm cho tàu thuyền phải nói lời từ biệt với điểm giao thương một thời lừng lẫy…. Hội An như nàng vương phi nhan sắc phai tàn, bị thất sủng lui về ẩn mình trong căn phòng bé nhỏ quạnh hiu.
Điều may mắn của Hội An là bom đạn của cuộc chiến vừa qua không rơi trúng phố cổ.
May mắn hơn nữa, Hội An không phải là mảnh đất “giàu tiềm năng”, “nhiều cơ hội” để người xứ khác tìm đến chiếm đất, xây nhà cao tầng, kinh doanh địa ốc. Thật dễ chịu để không nghe giọng xứ lạ ở thành phố này.
Nàng vương phi đã sống sót chính nhờ số phận bi đát của nàng.
Và Hội An vẫn nguyên chất là Hội An dù không giàu có, hiện đại.
Ở Hội An, tôi rất ít thấy người ta treo cờ. Bù lại người ta treo rất nhiều lồng đèn.Tôi được cho biết cứ mỗi tối 14 âm lịch, toàn bộ khu phố cổ sẽ được tắt hết điện để dành ánh sáng cho rất nhiều lồng đèn và của ánh trăng tròn lung linh treo trên bầu trời êm dịu.
Đi dạo trong phố cổ, tôi quên mất mình đang sống ở một đất nước xã hội chủ nghĩa vốn rất thích treo cờ.
Bước đến bờ sông Hoài, chân đã mỏi, tôi đi qua chùa Cầu về phía bên kia sông tìm xe taxi trở về khách sạn.
Nhờ thông tin của người tài xế taxi, buổi tối tôi đến nghe nhạc ở phòng trà ca nhạc Hạ Uy Cầm. Lâu lắm rồi tôi mới được nghe lại tiếng đàn guitar Hawaii, đàn Accordion, đàn banjo. Ở đây du khách có thể nghe nhạc tiền chiến, nhạc Flamenco, nhạc semi classic nhạc rock… Sau 9 giờ khách có thể xin lên hát cùng ban nhạc.
Bỗng nhớ nhạc sĩ người Hội An, La Hối. Chàng thanh niên tha thiết yêu đời với ca khúc bất tử “Xuân Và Tuổi Trẻ” đã bị Phát Xít Nhật tra tấn dã man và bị bắn chết chôn chung cùng 10 người khác năm chàng mới 25 tuổi.
Hội An còn đây nhưng La Hối không còn. Xin một phút tưởng nhớ người nhạc sĩ tài hoa bạc mệnh.
Không khí trong phòng trà cực kỳ lịch sự. Khách yên lặng nghe nhạc và vỗ tay sau mỗi bài hòa tấu. Có hai vị khách trẻ xin phép được trò chuyện với “Cô”.
– Các cháu là du khách hay người ở đây?
– Tụi cháu người Đà Lạt. Tụi cháu làm nghề đầu bếp và làm việc trong một nhà hàng ở Hội An. Tối nào không có ca làm việc, tụi cháu đi nghe nhạc. Tuy còn trẻ, tụi cháu thích nghe nhạc xưa.
Đêm đã khuya. Ban nhạc nói lời cám ơn và chào tạm biệt.
Hội An thật yên lặng và thanh vắng. Một trong hai đầu bếp tình nguyện chở “Cô” về khách sạn.
Cám ơn Hội An, Cám ơn một ngày bình yên đầy cảm xúc.

HUYỀN CHIÊU
Tháng 6 2013

NGÀY TRỞ VỀ CỦA KHÁNH LY

huyenchieu
Ngày trở về” là tên bài hát của Phạm Duy mà cô bé Khánh Ly đã hát và đoạt giải nhì trong một lần trốn gia đình đi thi tại một cuộc thi hát ở Saigon . Có lẽ bà không ngờ cuối đời, bà lại trốn dư luận để trở về đứng trên sân khấu đất nước mà bà đã bỏ ra đi , ở tuổi 69.
Với thông tin Khánh Ly sẽ nhận khoảng 100.000 Dollars trong tất cả buổi biểu diễn tại VN, nhiều người trách Khánh Ly vì tiền phản bội lại những tuyên bố trước đây của mình.
Tiền là đương nhiên cho một ca sĩ chuyên nghiệp và hầu như đang thất nghiệp như Khánh Ly..
Riêng tôi, tôi cho rằng Khánh Ly về VN hát vì bà là một nghệ sĩ thật sự. Một nghệ sĩ thật sự luôn khao khát được hát ở nơi có người muốn nghe mình hát. Không có gì đau đớn cho bằng một nhà văn mà tác phẩm không được phép xuất bản , một họa sĩ không có điều kiện triển lãm tranh, một nhạc sĩ mà ca khúc của mình bị cấm phổ biến, một ca sĩ không đến được với quần chúng đang chờ đợi mình.
Ai là người đang muốn nghe Khánh Ly hát?
Sẽ biểu diển tại Hà Nội ngày 9 tháng 5 2014, bà giải thích rằng vì đó là nơi bà ra đời. Tôi cho rằng đó là câu trả lời khôn khéo. Theo tôi bà hát ở Hà Nội vì đơn vị tổ chức, người tài trợ , muốn bà hát ở đó. Là nhà kinh doanh , họ biết họ sẽ không lổ khi trả cat xê cao cho Khánh Ly.
Họ đánh hơi được một thị hiếu ở một nơi đang có người dư tiền.
Hơn ai hết, họ hiểu người Hà Nội chỉ từng nghe bà hát trong băng đĩa , vì tò mò , sẵn lòng mua vé với với giá cao ngất ngưởng để được nhìn tật mặt , nghe tận tai giọng hát của người ca sĩ đại diện cho dòng nhạc mà họ phải nhịn nghe trong mấy chục năm trời.
Người Hà nội không dại dột hay tiêu hoang. Họ quá biết với những ca sĩ mấp mé tuổi 70 thì giong hát đã “phều phào” (*) Chế Linh, Tuấn Ngọc, khánh Ly , trình độ thanh nhạc cùng độ khỏe của giọng hát làm sao bằng Thanh Lam, Hông Nhung, Mỹ Linh…Nhưng có vẻ như người Hà Nội đang muốn bày tỏ họ muốn gì.Đã đến lúc họ đòi hỏi mọi thứ thuộc về nghệ thuật phải xuất phát từ cái thật.
Chế Linh, Tuấn Ngọc, Khánh Ly, Lệ Thu họ chính là họ. Họ không mặc đồng phục , không bị lẫn lộn.
Cho nên vấn đề không phải là Khánh Ly được cấp giấy phép, vấn đề là có ai chịu đi nghe bà hát hay không?
Và dù rằng lần này :
về đây với xác hiu hắt lạnh lùng
Ôi lãng du quay về điêu tàn”(*)

Tôi tin bà sẽ thành công.
Tôi không phải là fan của Khánh Ly.
Ngoại trừ Khánh Ly với những ca khúc Da Vàng , tôi thích Lệ Thu, Thái Thanh hơn.
Dấu sao tôi cũng cảm phục Khánh Ly trong cách biểu diển trên sân khấu.
Tiểu sử của bà cho biết bà là một người đàn bà phóng túng.
Bà từng uống rượu, hút thuốc , đánh xì phé và… có nhiều đời chồng.
Nhưng khi đứng hát trên sân khấu , bà rất tư cách.
Bà thường mặc áo dài chứ không chọn trang phục hở hang. Bà không nhoẻn miệng cười ngỏn nghoẻn khi hát. Bà không đùa cợt chớt nhã, vô duyên với MC trên sân khấu.
Điều này chúng ta cũng tìm thấy nơi Lệ Thu, Thái Thanh, Hà Thanh…và hầu hết các ca sĩ thời trước.
Tôi thích và hãnh diện về điều này và mong lần biểu diển ở Hà Nội ,dù “phều phào” bà sẽ chinh phục đươc khán giả bằng phong cách của một ca sĩ nghiêm chỉnh với âm nhạc. Hy vọng bà sẽ gây thiện cảm cho khán giả Việt Nam đang bội thực với những trò lố lăng của một số ca sĩ vô ý thức và những ca sĩ có giọng ca thiên phú nhưng thiếu hồn.
Vậy thì Khánh Ly trở về hát ở Việt Nam, tại sao không???

HUYỀN CHIÊU
(*) chữ dùng của nhạc sĩ Tuấn Khanh
(**)Lời nhạc của Phạm Duy trong “ Trở Về Mái Nhà Xưa”

BUỒN GA NHỎ

huyenchieu

Những ngày nghỉ học tôi hay tới
Đón chuyến tàu đi đến những ga
Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt
Lòng buồn đau xót nỗi chia xa

Tế Hanh

Ga Ninh Hòa đối với tôi luôn là nơi đẹp và buồn nhất. Thuở bé tôi vẫn thường một mình đến đó , thơ thẩn trên sân ga ngổn ngang những đường tàu để thưởng thức một nỗi buồn êm dịu khi nhìn thấy những con đường sắt giao nhau rồi lại chia hai và dường như ra đi mãi mãi không bao giờ gặp lại.

Tôi không bao giờ thôi xúc động khi nhìn ngắm Ga Ninh Hòa. Tôi yêu nét đẹp sang trọng của kiến trúc châu Âu lạc lõng trong màu xanh buồn buồn, quê mùa của núi non ruộng lúa mây trời. Rồi trên khoảng không gian dịu dàng ấy bỗng nổi bật lên những ngọn cau, đứa cao, đứa thấp làm tôi cứ liên tưởng đến những nốt nhạc của một bài hát. Có ngờ đâu Ga Ninh Hòa còn quan trọng với tôi nhiều hơn là tôi nghĩ.
Năm tôi 12 tuổi, theo lệnh của ba tôi, tôi phải xa lìa cuộc sống êm đềm nơi quê nhà, xa lìa cái ga xe lửa thân yêu của tôi để sống cùng ba tôi ở Tuy Hòa, nơi ba tôi làm việc như là một công chức. Làm sao tôi quên được buổi chiều hôm ấy khi tôi nước mắt giọt ngắn giọt dài ôm cặp theo ba tôi lên Ga Ninh Hòa để kịp chuyến tàu đi Tuy Hòa. Con đường tàu qua đèo Cả đẹp quá làm tôi tạm quên đi nỗi đau buồn.Chiều xuống nhanh. Trời trở lạnh và cây cỏ, núi rừng buồn hiu hắt. Sau khi thoát ra khỏi cái hầm cuối cùng dài hun hút, đoàn tàu cũng chui sâu vào bóng đê của địa phận Tuy Hòa. Lúc này, không còn gì để ngắm, nỗi sầu khổ của tôi lại trỗi dậy, trái tim tôi lại thổn thức, nước mắt lại tuôn rơi.

Ga Tuy Hòa hiện ra sau ánh điện mờ mờ. Gọi là ga nhưng đó chỉ còn là một tấm vách đen sì, lỗ chỗ đạn bom và ngay lúc ấy tôi bỗng nhớ đến Ga Ninh Hòa thanh bình, hạnh phúc và thân yêu của tôi đến nao lòng.
Sáng hôm sau, một cuộc đời mới, hay nói cho đúng hơn một cuộc chiến đấu mới đã chực sẵn. Từ nay, tôi tự hiểu, mình phải bằng mọi cách, học thật giỏi để tỏ lòng biết ơn ba tôi và ông Vũ Trí Phú, Hiệu Trưởng Trường Nguyễn Huệ.
Hai con người khả kính này, vì thương tôi mà đã cấu kết làm một điều phi pháp là đưa tôi từ lớp Đệ Thất trường Bán Công vào thẳng lớp Đệ Lục trường công lập Nguyễn Huệ không qua kỳ thi nào. Điều khó khăn nhất cho tôi là tôi phải hoàn tất bài vở sao cho ngày thứ bảy và chủ nhật phải là hai ngày hoàn toàn rảnh rỗi. Đó là những ngày tôi phải về Ninh Hòa thăm nhà.
Trong năm năm liền Ga NinhHòa đã đưa đón một cô bé đi, về trên một hành trình đều đặn. Ga Ninh Hòa thì vẫn thế còn cô bé thì có nhiều đổi thay.
Một hôm cô bé nhận ra rằng mỗi chiều thứ bảy có một cậu bé luôn đứng chờ cô ở sân ga. Cô bé không biết cậu bé ấy tên gì, ở đâu, nhưng cô biết rằng mình sắp trỡ thành một thiếu nữ.
Nhưng cũng năm đó một biến cố khác đã xãy ra cho gia đình cô bé và cô đành chia tay cùng thành phố Tuy Hòa thân yêu, tam biệt những cuộc hành trình 84 cây số bằng xe lửa.
Không biết cậu bé đứng chờ không nói một lời trên sân ga ấy có thấy Ga Ninh Hòa là nơi đẹp và buồn nhất giống như tôi không??

THƠ BUỒN, GA NHỎ
Tàu vào ga nhỏ
Rồi đón người đi
Buổi chiều rét mướt
Biết nói câu gì

Tàu rời ga nhỏ
Tàu chở người đi
Hỡi người có biết
Nỗi niềm phân ly

Chiều mưa ga nhỏ
Có người tình si
Nghe hồn thổn thức
Lệ ướt đầm mi
Huyền Chiêu

LƯƠNG LỆ HUYỀN CHIÊU

NGÀY TRONG THIÊN ĐƯỜNG

Huyền Chiêu

small_1200962564.nv_

Hỏi rằng: đất trích chiêm bao.
Sá gì ngẫu nhỉ mà chào đón nhau
Thưa rằng ly biệt mai sau
Là trùng ngộ giữa hương màu
nguyên xuân

Bùi Giáng

Đó là ngày không bao giờ có mưa to, bão lớn, thường chỉ có dịu êm phơn phớt mưa phùn. Nắng cũng không bao giờ chói chang đổ lửa. Nắng chỉ vừa sưởi ấm hồn người và gợi niềm nhung nhớ, chờ mong.

Đó là ngày mà người vợ thức dậy đã thấy nước đầy trong tất cả các lu, vò, nhà cửa không cần quét, quần áo không phải giặt. Nàng chỉ còn một việc phải làm là chải cho thật đẹp mái tóc thơm mùi bồ kết và tô một làn son mỏng lên đôi môi đã có sẵn một nụ cười. Ai đó đã đặt một bình hoa rực rỡ lên trên chiếc khăn bàn mới tinh. Nàng sẽ mặc vào chiếc áo đẹp nhất và đôi má sẽ ửng đỏ trong tia nhìn ngạc nhiên của chồng. Chắc chắn hôm nay trong nhà sẽ không có tiếng cải cọ. Cả hai đều dành phần thua và lặng lẽ biết rằng mình thật ra là người chiến thắng.

Đó là ngày đứa trẻ ngạc nhiên, sung sướng thấy chung quanh mình cái gì cũng mới. Căn nhà đã được quét vôi mới, tường nhà đã được treo tấm lịch mới và mọi người đều được mặc áo mới. Trong ngày tuyệt diệu này đứa bé thấy mình được yêu thương chìu chuộng hơn bao giờ. Bé sẽ được ăn những món ngon nhất và sẽ không bị đánh mắng dù pham lỗi nặng. Bé sẽ bất ngờ trở nên giàu có, túi đầy ắp tiền lì xì. Điều quan trọng nhất là bé sẽ được tự do dùng những đồng tiền ấy cho những sở thích riêng tư mà suốt cả năm trời bé ao ước. Bé sẽ đi xi nê, bé sẽ chúi đầu vào đám bầu cua, bé sẽ leo lên xe đò làm một chuyến viễn du nào đó. Một việc duy nhất bé bị bắt buộc phải làm là vòng tay nói với mọi người những lời chúc phúc nhân ngày đầu năm.

Bên song cửa có cô gái mười sáu tuổi đang soi gương. Cô hạnh phúc vì biết mình xinh đẹp và rất được mọi người yêu thương. Sáng nay mẹ cô dặn “sáng mùng một phải kiêng cử con ạ. Con không được đi đến nhà ai”. Sợ cô buồn, mẹ cô an ủi “Nhờ phong tục này mà gia đình nào cũng có một ngày sum họp bên nhau…”. Thật ra cô không buồn vì trái tim cô vẫn đang đang cất cánh hát lời yêu đương.

Trong căn nhà mái ngói âm dương cũ kỹ có ông lão đang hạnh phúc. Đứa con trai đã trở về để cùng ông thắp lên bàn thờ tổ tiên những nén hương chào đón phút giao thừa. Ngày hôm nay trong không khí thiêng liêng đượm ngát hương trầm hai cha con ông sẽ đón tiếp vong hồn của những người quá cố trở về thăm cõi dương gian. Người sống và người chết đang đoàn tụ. Ông rơi nước mắt khi biết chắc rằng bà vợ quá cố cùng cô con gái yểu mệnh đang quanh quẩn trong nhà .

Thiên đường là cõi mơ, không bao giờ có thật. Thương cho người dân quê tôi, họ sống, làm lụng vất vả cả năm, dành dụm cả năm chỉ để cùng nhau hướng về một mộng ước. Đó là được sống, dù chỉ một ngày thôi, thực sự hạnh phúc giống như đang ở trong thiên đường .

Huyền Chiêu

RU EM HOÀI BÉ DẠI*

Huyền Chiêu

Vietnamese_woodcut_3

À ơi !
Thương nhau cau sáu bổ ba
Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười.
Từ thuở nằm nôi, tôi đã nghe bà tôi hát câu hát ấy. Lớn hơn một chút, được nằm chung võng với bà, tôi vẫn chờ nghe bà hát như thế, không bao giờ chán. Và trong trí tưởng đầu đời của tôi luôn có hình ảnh một ai đó đang loay hoay cầm dao bổ trái cau thương ghét ra làm ba, làm sáu làm mười….Rồi tôi lại ngủ thiếp đi trong tiếng à ơi…

“Ví dầu tình bậu muốn thôi
Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra.”
Bậu là ai mà ác quá chừng ? Tiếng ru của bà tôi sao mà thê thiết. Tôi đã bắt đầu biết thương bà tôi và ghét bậu. Gặp bậu thế nào tôi cũng sẽ cho bậu ăn một miếng cau bé xíu. Nhưng mặc cho bao nỗi buồn đau, bao điều thương ghét tôi vẫn vô tư ngủ ngon lành bên cánh võng đong đưa, trong vòng tay ấm áp và thơm nồng mùi trầu cay của bà tôi, yên trí rằng bà tôi sẽ dành hết phần “dữ” trong cuộc đời này về phần mình.
Rồi tôi lớn lên không còn bà bên cạnh. Mỗi lần nhớ bà, tôi hát một mình:
“Một mai ai chớ bỏ ai,
Chỉ thêu nên gấm, sắt mài nên kim.”
Muốn có một cây kim để may cho được chiếc áo hạnh phúc thật khổ công và có thể là vô vọng. Nhưng bà tôi đã suốt bao năm tháng dặn dò như thế nên tôi vẫn tin đó là điều có thật.
Những đứa trẻ rồi sẽ ra sao nếu chúng không được ngủ ngon trong tiếng ru hời?
Tôi thích bài hát ru mà các bà vú da đen vẫn hay hát bên vành nôi của các cô cậu chủ bé con da trắng ở miền Nam nước Mỹ, thời xứ ấy còn là lãnh địa bông vải.
It’s Summertime
and the living is easy.
Fish are jumping
and the cotton is high
Oh! Your dad is rich
and your mom is good looking
So hush! little baby
Don’t you cry.
Bé ngoan bé ngủ đi nào
Có con cá lội bên ao nhà mình
Bông vải đang lên giá nhanh
Cha thì giàu có, mẹ xinh đẹp hoài
à ơi…bé ngủ đi thôi
đừng khóc nữa nhé, ngoài trời nắng lên..(**)
Khác với bà tôi. Bà vú ấy là người nô lệ và cuộc sống không dễ dàng. Nhưng bà đã nén lòng,không hát lên khúc hát thương đau của thân phận. Bà yêu đứa bé thật lòng. Bà hiểu rằng bên vành nôi một đứa trẻ luôn cần có lời thủ thỉ về một cuộc sống đẹp tươi.
Khi một lời ru cất lên, luôn có một trái tim yêu thương nở hoa thơm ngát.
Khi trẻ em không được lớn lên trong tiếng hát ru mà phải sống bơ vơ, ngơ ngác trong nhà trẻ thì thế giới này lạnh lẽo và buồn bã xiết bao.

HUYỀN CHIÊU
(*) lời nhạc TCS
(**) người viết dịch

GIỮ TRONG TIM ĐƯỢC KHÔNG? NHỮNG CHUYỆN XƯA CỦA LÒNG*

Huyền Chiêu

music-by-the-moon

Nhạc sĩ Trúc Phương sống cùng thời với tôi. Thuở ấy có lẽ ông là anh lính “ở miền xa”, còn tôi là cô nữ sinh áo trắng hậu phương. Chúng tôi đã có một thời được sống trong quê hương rất đỗi thanh bình:
Hàng dừa cao nghiêng nghiêng soi bóng sông
Mộng ngày mai say sưa những ước mong” *
Nhạc Trúc Phương đã từng rất hiền :
“Quê em nắng vàng nhạt cô thôn
Dải mây trắng dật dờ về cuối trời” *
Rồi chiến tranh bổng dưng rơi xuống đúng vào tuổi thanh xuân tươi đẹp của chúng tôi. Và nhạc trúc Phương không còn mang giọng điệu thanh bình. Nhạc Trúc Phương bất thình lình trở nên ai oán như những tiếng nỉ non, than khóc trong những ”đêm lạc loài , giấc ngủ mồ côi” của những người lính bị quăng vào cuộc chiến phi lý và dai dẳng .
Thuở ấy nhạc Trúc Phương gần gũi với quần chúng miền Nam hơn Phạm Duy và Trịnh Công Sơn. Ông nói được tiếng lòng người lính trẻ Tiếp tục đọc