CƯỠI NGỌN SẤM(12)

cuoingonsam

richardbotkin

Chương 7

Một thoáng thiên đường… và rồi quay thẳng về địa ngục

Nghỉ phép tại Hawaii
Mùa hè 1967

Các cuộc hành quân liên tục hằng ngày tại Việt Nam đã tạo nên một sự căng thẳng cùng cực trong 15% tổng lực lượng quân số tác chiến và 85% thuộc lực lượng yểm trợ về các mặt tiếp liệu, ẩm thực, doanh trại và y tế. Các đơn vị lãnh nhiệm vụ tại Đông Nam Châu Á một khi đã trú đóng rồi thì không rời khỏi nơi đó. Không phải chuyện luân chuyển toàn bộ các Tiểu đoàn hay Không đoàn nhằm giữ một mối liên kết thích hợp cho cả một tổ chức, mà quyết định ban đầu của cấp trên chỉ thuyên chuyển các cá nhân đã tạo ra nhiều tranh cãi nhất. Trong mỗi đơn vị tác chiến có những quân nhân mới từ trong nước sang, mặt mũi sáng sủa và được huấn luyện khá kỹ lưỡng nhưng chưa được thử lửa ngoài trận địa bao giờ. Trong khi đó thì có các chiến binh kỳ cựu, đa số chỉ nôn nóng được trở về nước và đang chờ đến phiên mình. Sự hỗn hợp giữa lính cũ và lính mới đã tạo ra một sự khó khăn lớn cho vấn đề chỉ huy ở mọi cấp đơn vị.

Một trong những quyền lợi của chu kỳ nhiệm vụ thường kỳ 12 hay 13 tháng tại Việt Nam là các quân nhân có cơ hội ít nhất là một lần, hoặc hai lần nếu người đó vô cùng may mắn, được năm ngày nghỉ phép tại các nơi xa vùng chiến trận. Theo qui định thì những khu nghỉ mát này không nằm trong các khu vực thuộc nội địa nước Mỹ. Do đó những địa điểm thông thường nhất là Hongkong, Bangkok, Taipei, Penang, Australia và Hawaii.

Các địa điểm vùng Á châu được những người độc thân ưa thích nhất nhờ mãnh lực của đồng đô-la và luôn sẵn có các kiều nữ để thỏa mãn các nhu cầu căn bản về thể xác của họ. Các huyền thoại về rượu chè và trụy lạc thì đầy dẫy và không thiếu gì các chàng trai trẻ nôn nóng muốn được trải qua kinh nghiệm này. Đối với những người đã có gia đình hay đã có người yêu thì Hawaii là nơi họ thích nhất.

Giống như Gibraltar của Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, Hawaii có một khí hậu gần như tuyệt vời nhất và mùa hè quanh năm tại đó là nơi lý tưởng để những người con của đất nước hồi phục lại sức khỏe bên cạnh các bà vợ hay người yêu đi theo.

Công tác chuẩn bị cho một chuyến dưỡng sức tại Hawaii là một giải pháp 50-50. Quân đội có nhiệm vụ đưa các quân nhân qua phía Đông và các phụ nữ tự sắp xếp để đi qua hướng Tây. Thông thường thì các phụ nữ đến trước người thân của họ.

Những bà vợ và bạn gái mới đến thường dễ nhận ra. Họ là những người duy nhất có kiểu tóc đúng mốt, da chưa sạm nắng và mặc những bộ đồ tân thời nhưng khá thường đối với tiêu chuẩn thời trang của Hawaii. Vẻ mặt họ tràn đầy hy vọng và phấn khởi, các cặp mắt đảo quanh mọi phía để cố tìm chàng chiến sĩ hay TQLC của họ với niềm hy vọng mong manh là anh đã đến sớm hơn và mang lại cho họ một sự bất ngờ thích thú. Họ hoàn toàn tương phản với những người vừa mới tiễn người thân ra đi.

120 giờ nghỉ phép bắt đầu và họ cương quyết sẽ sống từng giây phút một cách có ý nghĩa nhất, sẽ tạo dựng những kỷ niệm êm đềm nhất trong trường hợp chẳng may sau khi phải chia tay nhau lúc đồng hồ điểm 12 giờ đêm, sẽ không còn có một cuộc hội ngộ nào khác, hoặc giả đoạn kết của câu chuyện thần tiên của họ không phải là loại có hậu.

Trung tâm tiếp đón là trại DeRussy nằm trong lòng thành phố Honolulu, nơi vùng Ewa, đầu đại lộ Kalakaua và là đoạn đầu của vùng Waikiki. Nơi đây là trọng tâm, là điểm khởi đầu và chấm dứt của tất cả các kỳ nghỉ phép dưỡng sức. Thế giới xoay vòng trong vùng đất thiêng liêng một vài mẫu đất đó và khi mặt trời quay đủ năm vòng cho từng cặp nam nữ, họ đã sống qua những cảm xúc nồng nàn nhất cũng như các giây phút đau khổ nhất vì thời gian không đủ cho nhau.

Trong một khoảng khắc ngắn giữa hai buổi hoàng hôn, người chiến sĩ hay lính TQLC có thể được bốc ra khỏi mặt trận từ một cánh đồng ruộng hay khu rừng già, được tống lên máy bay và sau đó không lâu được nhâm nhi ly rượu pha mai-tai với vợ hay người yêu trong lúc thưởng thức giọng hát của ca sĩ Don Ho chính hiệu trong khu chợ quốc tế tại Waikiki. Khả năng của trí óc nhằm đáp ứng với sự chuyển tiếp bất ngờ này thường bị quá tải và làm họ không còn biết đâu là thực tế nữa.

Nếu người lính đó được đi phép thẳng từ một đơn vị đang chiến đấu thì rất khó cho họ lắng dịu lại tâm hồn, bớt thủ thế đi để trở thành một người chồng đáng yêu biết lắng nghe vợ. Điều này đòi hỏi họ phải có khả năng quyết liệt tách biệt những cảm xúc ra khỏi các sự kiện họ đã trải qua. Thật khó mà có thể bỏ qua hết mọi thứ đằng sau trong một thời gian ngắn như vậy và hành xử như thể đang thực hiện một công vụ kéo dài nào đó, nhất là khi biết chắc chẳng bao lâu nữa sẽ phải trở về lại cái lò xay thịt kia.

Đối với những bà vợ và người yêu, đặc biệt là các bà đã làm mẹ thì phải cố tạo ra một hình ảnh tươi vui nồng thắm, phải chứng tỏ mình là yếu tố giữ chặt mối tình cảm gia đình trong thời gian ngăn cách trầm trọng này. Những nỗ lực trong thời gian qua nhằm làm giảm thiểu các khó khăn của cuộc sống chiếc bóng nuôi con, những lời cầu nguyện hằng ngày xin sứ giả của Thần Chết hãy tránh xa ngưỡng cửa nhà phải được xếp qua một bên trong một vài ngày tới đây. Mọi thứ không được quá đáng, nhất là không được than vãn vì đây là lúc mọi chuyện phải tuyệt đối hoàn hảo. Đã đến được lúc này rồi. Lạy Chúa, phần còn lại của chu kỳ nhiệm vụ chỉ có thể xấu hơn nữa từ đây mà thôi.

Các phụ nữ đến lẻ tẻ từng người một từ miền Tây hay xa hơn là từ miền Đông nước Mỹ. Họ được hướng dẫn về các phương tiện di chuyển dưới sự dẫn dắt của các nhân viên liên lạc quân sự tại phi trường quốc tế Honolulu. Rốt cuộc rồi mọi người cũng tụ họp lại trong khu Waikiki. Thường thì họ có đủ thời giờ để lấy phòng, sửa soạn chương trình, giải quyết vài chuyện lặt vặt và sắp xếp để mọi chuyện sẽ diễn tiến như ý muốn một khi những chiếc xe buýt chở người thân của họ đến.

Trong khu tiếp tân là địa điểm của những chiếc xe buýt chở các quân nhân đến, mùi thơm của những tràng hoa tươi leis hòa chung với mùi hương của từng người phụ nữ đã cố ý xức các loại nước hoa tốt nhất mặc dù khí hậu ẩm ướt của vùng đảo Thái Bình Dương không quen thuộc lắm đối với mọi người. Nhạc nền Hawaii dập dình phía sau, nếu nghe kỹ thì thấy khá tươi vui, sôi động nhẹ nhàng như báo trước những điều tốt lành sắp xảy ra.

Các nhà kế hoạch quân sự đã tỏ ra sáng suốt trong công tác chuẩn bị cho các quân nhân đi nghỉ phép dưỡng sức. Những người nào bắt đầu thời gian sung sướng này được tách riêng ra về thời điểm cũng như khu vực đối với những người sắp sửa phải chịu đựng sự đau khổ của biệt ly. Tuy vậy, những phụ nữ mới đến cũng thoáng nhận ra họ trong lúc rời phi trường hoặc nếu họ còn nán lại ở Waikiki.

Họ là những người buồn rầu ủ rũ với các khuôn mặt chảy dài và cặp mắt sưng húp cho thấy họ vừa mới khóc như mưa. Bây giờ làn da họ đã rám nắng hơn và bắt đầu bị lột từng mảng vì không phải tất cả các cuộc nghỉ phép đều xảy ra trong bóng mát. Họ đã thay đổi y phục nội địa bằng trang phục Hawaii sau một chuyến viếng thăm Hilo Hattie hay Ala Moana Center. Đối với họ, chuông đã điểm 12 giờ đêm và câu chuyện cô bé lọ lem thần tiên đã chấm dứt, cỗ xe ngựa đã trở lại thành quả bí và các người hầu đã trở thành chuột cả rồi. Những gì còn lại chỉ là kỷ niệm và lời nguyện cầu cho niềm hi vọng là phần hai của chu kỳ nhiệm vụ sẽ mang lại người thân trở về, và mọi chuyện sẽ trở lại y như hồi anh mới ra đi.

Các chuyến bay đến Hawaii từ Việt Nam đa số là thuê của bên dân sự. Ngay khi vừa đáp xuống phi trường, các quân nhân được nhanh chóng đưa lên các chuyến xe buýt đang chờ sẵn để trực chỉ về trại Ft. DeRussy cho cuộc hội ngộ đầy mong đợi.

Cứ mỗi một chiếc xe buýt đậu lại là có một nhóm phụ nữ ùa đến đón chào. Sự mong đợi và háo hức cuối cùng được kiềm chế lại bằng những tiếng rên mừng rỡ và những nụ hôn dài say mê. Khi cuộc đón tiếp ban đầu lắng dịu dần thì mọi người bắt đầu ý thức một cách sâu sắc về yếu tố thời gian. Con “bồ tượng” vô hình đã bước vào phòng rồi và cho dù họ có làm gì đi chăng nữa trong vòng 120 tiếng đồng hồ tới đây, hoặc ít hơn thế nữa, nó sẽ vẫn nằm chình ình tại đó và sẽ hút đi từng khối dưỡng khí càng lúc càng mạnh dần từ những giây phút hạnh phúc còn sót lại mà các cặp tình nhân có thể san sẻ cho nhau.

Bên cạnh những điều hiển nhiên mà những cặp vợ chồng xa cách nhau lâu ngày cần phải trao đổi cho nhau còn có những tiết mục bắt buộc phải có đối với mọi du khách đến thăm viếng hải đảo. Hawaii tràn ngập các tiệm ăn ngon và các câu lạc bộ đẹp. Ngoài những lúc âu yếm hay ăn uống thì họ đến các nơi như Kodak Hula Show, Polynesian Cultural Center, lặn hụp xem cá tại Hanauma Bay, đi thăm vùng North Shore, hoặc mua sắm tại hàng trăm các cửa hiệu bán lẻ sẵn sàng đáp ứng cho những người mới tới này. Các quân nhân đi nghỉ phép thường rất dễ nhận ra đối với các du khách thường, đa số lớn tuổi hơn, không khỏe mạnh bằng và nếu họ còn tóc thì thường để dài hơn.

Dù cùng một điểm hẹn nhưng nếu cho rằng hai vợ chồng John Ripley đến từ hai hành tinh khác nhau cũng không ngoa chút nào. Cái thế giới mà mỗi người đang sống không còn cùng là một nữa.

Chú bé Stephen Ripley hai mươi mốt tháng tuổi đã được bà ngoại yêu quý nhận chăm sóc tại tỉnh nhà Radford, Virginia cho nên Moline có thể yên tâm tập trung vào việc đi thăm chồng.

Moline Ripley diện một bộ đồ mới y chang như từ trong số cuối của tạp chí thời trang Ladies Home Journal hay Good Housekeeping bước ra thành thử người vợ TQLC này đã được mời lên ngồi ghế hạng nhất trong chuyến bay đầu tiên trong đời, một dấu hiệu báo trước điềm lành và là một cách tuyệt vời nhất để khởi đầu một chuyến đi lý tưởng.

Trong khi đó thì tại giao thông hào cuối phi đạo Đông Hà không có cả nóc che để bảo vệ hỏa tiễn và pháo kích thì làm sao có nổi các phương tiện để John Ripley sửa soạn qua loa trước chuyến bay nghỉ phép của mình? Co cụm cùng với nhiều chiến sĩ TQLC từ các đơn vị khác nhau đến, Đại úy Ripley chờ chuyến bay “Chim Tự Do” chở họ đến Hawaii. Họ nằm trong bùn ngóng chiếc C-130 đang hạ cánh từ phía đầu kia của phi đạo. Khi đáp được xuống đất rồi thì cái mục tiêu di động khổng lồ đó sẽ quay ngược lại chạy chầm chậm trên phi đạo với tấm bửng phía đuôi hạ xuống, vừa đủ để các hành khách phóng vội lên máy bay, vừa khấn là bọn quan sát Bắc Việt không có đủ thời giờ để pháo kích một vài quả đạn. Khi người chậm chân nhất lên được máy bay rồi và đưa ngón cái ra hiệu mọi chuyện tốt đẹp, trưởng phi hành đoàn đóng bửng lại và phi công tống ga tối đa cho máy bay cất cánh nhắm hướng Đà Nẵng để rồi chuyển tiếp sang các địa điểm khác nữa về hướng Đông. Thời gian máy bay ở mặt đất hiếm khi quá 60 giây đồng hồ. Thật là một kiểu kỳ lạ để điều hành một đường bay.

Chuỗi dài các vấn đề, các sự kiện đã xảy ra cùng với các cảm xúc và sự căng thẳng phải đối phó trong khoảng thời gian năm ngày trong nắm ấm Hawaii quá đủ để thử thách sự tỉnh táo và ổn định của bất cứ cuộc hôn nhân hay mối quan hệ thân thiết nào.

Đến thẳng từ vùng chiến sự Việt Nam, sự căng thẳng của người lính được cộng hưởng thêm bởi sự kiện họ không có thời gian định thần lại và nỗi ân hận đã tạm bỏ rơi các chiến hữu lại phía sau. Bây giờ lại đến thời hạn đau đớn của 120 giờ phép và sự khó khăn không biết phải phải kể lại hay dấu vợ những gì mà anh đã thực sự trải qua.

Đối với người phụ nữ thì tất cả những điều như không hiểu được chồng để thực sự thông cảm cho anh, sự dằn vặt có nên biết hay không về những gì đã xảy ra cho chồng và viễn ảnh phải biệt ly lần nữa, có thể là lần cuối cùng, đã làm cho cõi lòng họ tan nát. Vì họ thường là những người ra đi sau cùng thành thử họ giống như bị bỏ rơi lại, thường là cô đơn một mình trong cái cõi thiên đường để bắt đầu cuộc hành trình dài trở về lại nhà.

Buồn vui lẫn lộn, cuộc đoàn tụ chua chát chỉ có thể là niềm vui nếu ai đó có đủ sức mạnh để sống cái khoảng khắc hiện tại mà thôi. Các kỷ niệm chỉ có thể đẹp và dễ chịu nếu câu chuyện có hậu để có thể nhớ lại hai mươi năm sau.

Moline Ripley đã sống sót qua trận kinh hoàng khi nghe tin chồng bị thương lần đầu. Do đó mọi lo lắng của nàng dồn vào vấn đề sức khỏe của chồng, cả về thể xác lẫn tâm hồn. Khi anh bước xuống xe buýt, Moline nhận ra ngay những sự thay đổi của chồng. Nàng cảm thấy anh vẫn hào hùng và, mượn lời hát trong bài ca có tên anh trong đó: “Vai rộng hông hẹp…” Đại úy Ripley trông vẫn còn hết sức phong độ, gầy hơn một chút và làn da rám nắng hơn.

Khi Moline quàng tay ôm John lần đầu, nàng cảm thấy lưng chồng rộng và các bắp thịt rắn chắc hơn trước. Cảm giác giống như ôm một cái tủ lạnh với các sợi dây thừng và cáp sắt bọc chung quanh. Ngay cả nét mặt chàng cũng có nét sắc bén hơn, giống như được tạc một cách sắc sảo và chỉ một chút nữa là trở thành hốc hác. Nàng biết ngay mà không cần phải nghe kể nữa là chồng nàng đã trải qua quá nhiều rồi.

Năm ngày – 120 giờ phép đang cạn dần

Tận dụng khoản lương đại úy còm cõi, John và Moline cố gắng tận hưởng sự sang trọng và lãng mạn của khách sạn Princess Kaiulani. Nằm tại khu vực Diamond Head phía đoạn cuối của Waikiki, khách sạn Princess Kaiulani pha trộn sự quyến rũ cổ kính của Hawaii thời trước và tinh thần hiếu khách “Aloha,” tuy bớt cuồng nhiệt hơn tại đây. Điều này hoàn toàn phù hợp cho nhu cầu của hai người. Từ khách sạn, họ có thể thả bộ một cuốc ngắn rồi dùng cơm tối dưới ánh đèn cầy tại những tiệm ăn nổi tiếng thế giới nhất. Sau đó, khi đêm xuống, họ có thể tản bộ dọc theo bãi biển, tay trong tay và quên hết tất cả những gì đang xảy ra chung quanh họ.

Sự thích nghi lại với đời sống văn minh và cảm giác sạch sẽ là một thử thách lớn đối với Đại úy Ripley. Mặc dù anh đã có mặt tại Honolulu với một bộ quân phục tương đối tươm tất, dù các bộ khăn trải giường tại khách sạn đã được giặt giũ thật sạch, và dù cho đến ngày thứ hai anh đã tắm gội biết bao nhiêu lần, anh vẫn có cảm giác là bụi đất Việt Nam vẫn còn bám trong anh và trên thân thể anh. Anh biết chắc chắn chẳng có một tên lính Bắc Việt nào trên đảo Oahu cả nhưng sự vắng bóng hiểm nguy và đạn pháo kích vẫn mang lại cho anh một cảm giác gì đó không bình thường.

Moline chẳng màng đến những chuyện đó. Đối với cả hai, đó là năm ngày trời tuyệt vời. Xen kẽ giữa những lúc đi chơi ngoài bãi biển, đi thăm các nơi, đi ăn hoặc làm những chuyện gì khác họ vẫn còn thời gian để đi xem phim. Cuốn phim The Sand Pebbles do tài tử Steve McQueen đóng vai chính vừa mới được trình chiếu tại rạp Waikiki Theater nằm phía dưới khách sạn dọc theo bãi biển. Đây là một cái rạp xi-nê khá cũ và cổ kính nhưng rất lịch sự. John Ripley đã có dịp được đọc cuốn sách trong lúc công vụ trên biển rồi và nay vì đã là một người từng trải kinh nghiệm tại Á Châu cho nên anh rất thông cảm những vấn đề và trường hợp mà các thủy thủ chiến hạm đó phải đối phó, những điều mà cấp trên chưa bao giờ huấn luyện họ. Ngoài chuyện đó ra thì không khí mát lạnh của máy điều hòa nhiệt độ, được ngồi thoải mái trên những chiếc ghế bọc nhung êm ái, ăn bắp rang và nắm tay Moline thì quả thật là hết sức thú vị.

Đối với John Ripley thì chuyến đi nghỉ phép sẽ hoàn toàn lý tưởng nếu được gặp đứa con trai Stephen. Cơ thể anh ước ao được ôm ấp và nựng nịu thằng bé. Đến giờ này chắc nó cũng chẳng còn biết bố nó là ai nữa.

Moline đã cố gắng hết sức để bù đắp điều thiếu sót này trong cuộc đoàn tụ. Nàng đã mang theo trong giỏ hàng trăm tấm hình chụp Stephen. Nàng đã chụp tất cả những tình huống có thể mường tượng được, ngày cũng như đêm và các giai đoạn con đang lớn và kể lại cho John nghe các câu chuyện lý thú về nó. Họ nói chuyện với nhau bất tận về đứa bé.

Đối với một người có tâm hồn như John Ripley thì chuyến viếng thăm địa danh mà người dân Hawaii xưa gọi là Pu’owaina, còn tất cả mọi người khác đặt tên là Punchbowl là một điều tiền định không thể tránh khỏi. Đây là nghĩa trang quốc gia của vùng Thái Bình Dương nằm trong miệng núi lửa cũ tại Honolulu, giữa đường từ Diamond Head đến Pearl Harbor. Nơi này là đất thánh cho lòng quả cảm và thịt xương của quân đội Hoa Kỳ đã đổ ra trong các trận chiến chống lại kẻ thù của đất nước. Trong một cảm giác khá rùng rợn, với ý niệm nơi mà Đại úy Ripley sắp trở lại sau này có thể sẽ làm cho anh trở nên một “khách hàng” tương lai của cái nghĩa địa này đã bám vào tâm trí của cả hai người. Tuy vậy, điều này không làm John Ripley bận tâm. Anh và Moline chỉ đơn giản muốn nhìn thấy nó, muốn tỏ lòng trân quý, bàng hoàng trước các đền thờ và tranh ghép đá mosaic của các trận đánh Thái Bình Dương lừng danh, và cung kính tưởng niệm sự hy sinh tập thể của biết bao nhiêu thế hệ thanh niên. Lẫn lộn trong những giọt nước mắt của niềm tự hào và nỗi buồn cho các chiến sĩ vô danh đã ra đi từ lâu cũng có những giọt dành cho một số không nhỏ các đồng đội mà Ripley đã quen biết trong cuộc chiến vừa qua.

Lộ trình mà John Ripley đã trải qua đến Punchbowl, đến Việt Nam và bất cứ nơi nào mà anh phục vụ chắc chắn đã khởi đầu từ trạm ga xe lửa tại quê nhà Radford đâu đó vào khoảng thời kỳ cuối năm 1942 hay đầu năm 1943. Trong một buổi sáng điểm tâm ông cha Bud Ripley đã hỏi hai đứa con John và người anh Mike có muốn theo bố đến trạm ga xe lửa hay không? Một chuyến tàu hỏa đặc biệt sẽ chạy qua vào sáng hôm đó. Vui mừng vì có dịp được gần gũi với cha và cơ hội được ra chơi vùng ga xe lửa là điều mà cả hai không thể bỏ lỡ được.

Bud Ripley là một nhân vật có chức sắc trong ngành xe lửa. Dòng họ Ripley đã dành được sự kính trọng của dân trong cái tỉnh lẻ đó. Do đó John và Mike luôn được những người có quen biết với ông bà Bud và Verna đối xử một cách đặc biệt. Đến sớm hơn chuyến tàu, John và Mike được thả dàn chạy đi chơi quanh quất. Sân ga đầy những khách đến thăm, hầu hết ăn vận chỉnh tề giống như họ đi lễ nhà thờ vào ngày thường vậy.

Hai đứa trẻ chẳng bận tâm gì đến mọi thứ cho đến khi chuyến xe lửa hụ còi báo hiệu và từ từ tiến vào ga. Khi chuyến tàu xuất hiện, họ có thể thấy được các toa phụ treo cờ xí màu đỏ, trắng và xanh trải dài qua hết khúc cong của con đường sắt. Xe lửa không dừng lại mà chỉ chầm chậm tiến qua vùng Radford. Đám đông dân chúng hầu hết là đàn ông đều đứng thẳng trong tư thế trang nghiêm. Những người đội mũ thì dở xuống đặt vào ngực trái còn những người khác thì đặt tay phải vào tim. Mọi chuyện diễn tiến hết sức tự nhiên, thật trang trọng và hoàn toàn tự động trong niềm tôn kính sâu sắc. Nhiều người rớt lệ khi chuyến tàu từ từ vượt qua. Trong số hàng chục và hàng chục toa xe lửa là niềm tinh hoa của tuổi trẻ Hoa Kỳ đang lên đường đi chiến đấu. Hầu hết các thanh niên tỏ ra phấn khởi và chắc chắn đã kích thích sự ngưỡng mộ của đám đông. John và Mike là hai đứa bé duy nhất hiện diện, do đó đã thu hút được sự chú ý của các quân nhân, các thủy thủ, các phi công và TQLC.

Khe suối nhỏ ban đầu đã trở thành một một dòng nước lũ khi các hành khách bắt đầu ném kẹo và tiền keng xuống cho hai anh em Ripley. Thật là vui nhộn khôn tả. Tuy vậy, hơn bao giờ hết, từ thời điểm đó, John Ripley luôn nhớ đến cha mình; cặp mắt đẫm lệ cùng niềm hãnh diện sâu sắc khi ông đứng nhìn các chàng trai trẻ lên đường ra ngoài mặt trận. Ngay cả sau này khi đã già dặn chiến trận, John Ripley luôn luôn tưởng nhớ lại cái buổi sáng hôm đó và bài học yêu nước của cha với lòng bồi hồi xúc động.

Trong lúc nắm tay vợ mà không nói nên lời, John Ripley mường tượng đến các trận chiến tại Guadalcanal, Tarawa, Peleliu, Guam, Iwo Jima, Okinawa… Anh hồi tưởng đến những người đó và lính TQLC của anh. Tất cả đã pha trộn với nhau trong một lòng hi sinh như nhau.

Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM

CƯỠI NGỌN SẤM(11)

cuoingonsam
richardbotkin

Chương 6: Các trinh sát của Ripley

Trận chiến tiếp tục mãnh liệt từ xế trưa đến tận chiều tối, vẫn là cận chiến và tàn bạo, thường là bằng lưỡi lê và trong tầm ném lựu đạn. Phi pháo yểm trợ cho TQLC Hoa Kỳ rất có hiệu quả và chận đứng được phần lớn quân Bắc Việt từ phía xa và làm nhụt nhuệ khí của bọn chúng tuy không hoàn toàn đánh tan được âm mưu của họ muốn tái chiếm các trang thiết bị bỏ rơi lại.

Lực lượng TQLC được tăng viện cho các Tiểu đội thuộc các Trung đội 1 và 2 mang theo đầy đủ đạn dược để sử dụng. Các trực thăng chỉ tản thương những thương binh nặng. Phần còn lại, hầu như tất cả mọi người đều ở lại chiến đấu.

Trong khi đó, Đại đội India tăng viện cho Lima vẫn tiếp tục hành quân vào trận địa ròng rã suốt ngày. Vào khoảng 5 giờ rưỡi hay sau đó một chút thì một Trung đội thuộc India đã bắt liên lạc được với tuyến phòng thủ của Lima. Thật là một điều vui mừng cho tất cả các chiến sĩ Lima khi biết rằng đoàn “kỵ mã,” mặc dù muộn màng nhưng rốt cuộc đã vào được trận chiến. Tất cả các TQLC Lima reo hò “Chúa ban phước cho India!”

Đại úy Ripley nghĩ rằng vị trí Đại đội anh đã được tăng cường và tái bố trí lại đầy đủ. Do đó, họ đủ sức để giữ lại toàn bộ các quân dụng của quân Bắc Việt không bị mất trở lại vì Đại đội anh đã trả một giá quá đắt cho mảnh rừng địa ngục tắm quá nhiều máu của đồng đội. Tuy nhiên anh vô cùng sửng sốt khi Thượng sĩ Mack, Trung đội trưởng của Đại đội India mới bắt được liên lạc, truyền lệnh của cấp trên là phải bỏ mục tiêu và lợi dụng bóng đêm rút về chỗ ngã ba đường mòn mà Trung đội 3 đang án binh bất động.

Đại úy Ripley tái cả mặt. Cho dù nếu Đại đội anh không phải trả cái giá cao như vậy để chiếm toàn bộ trang thiết bị của quân Bắc Việt, vị “đích thân” của Lima 6 không hề nghĩ đến chuyện phải bỏ hết chiến lợi phẩm để rồi lại phải tái chiếm trở lại lần nữa. Tuy nhiên, giả sử toàn bộ Đại đội Lima còn sức khỏe tối đa, hay đây không phải là một tình huống chiến thuật, hoặc giả đi mướn một công ty chuyển vận nào đó có đăng quảng cáo trên báo, Đại úy Ripley có lẽ sẽ cần cả một đội vận tải hoặc toàn bộ phương tiện chuyển vận của quân đoàn mới chở hết chiến lợi phẩm nổi.

Trên thực tế có lẽ không có phương cách hay điều nào trong sách quân sự hướng dẫn làm thế nào để ngưng chiến được. Cuộc chiến tự nó giảm dần cường độ khi bóng đêm phủ xuống vì cả hai phía đều kiệt sức về thể chất, tinh thần cũng như cạn hết thiết bị.

Trước khi tháo lui khỏi vị trí lúc này nhuộm đầy máu của chiến sĩ Đại đội Lima và bộ đội Bắc Việt, Đại úy Ripley và “Hoàng tử” Henry, cũng bị thương giống như xếp của mình, phối hợp gọi hỏa lực yểm trợ còn dữ dội hơn trước nhằm xóa trắng khu vực họ sắp rời bỏ. Tâm lý của những tay TQLC giống như những đứa trẻ ngoan cố và ích kỷ, nếu họ không giữ được vị trí thì đừng hòng quân Bắc Việt xớ rớ tới. Chẳng bao lâu các phi tuần không yểm thả xuống những trái bom “snakes” (Snake-Eye là những trái bom chứa hơn 500 cân Anh chất nổ cực mạnh) và “nape” (tức Napalm, một hóa chất dẻo có thể đốt cháy tất cả mọi thứ khi nó chạm vào). Hỏa lực pháo binh thì rót xuống hàng loạt đạn pháo cực mạnh. Đến khi cuộc không tập hoàn tất thì các đồ tiếp liệu chẳng còn lại thứ gì mà bộ đội Bắc Việt có thể sử dụng được nữa.

Trong khi giữ trật tự hàng quân để bảo đảm nắm vững được tất cả TQLC, Đại úy Ripley hỏi Thượng sĩ Đại đội để kiểm tra lại về tình hình quân số. Duyệt qua bản phân công bi thảm bị cắt xén của Đại đội Lima, với cách nói rặt theo kiểu TQLC, Thượng sĩ Đại đội báo cáo lại với anh một cách vắn tắt về kết quả khủng khiếp trong ngày: “Thưa xếp, chỉ còn 15 con là không bị chết hay bị thương trong ngày hôm nay… Đó là kể cả xếp nữa đấy.” Với quân số còn lại như vậy, Đại đội Lima đồng loạt rút ra khỏi trận địa hướng về phía con đường mòn.

Bóng dáng Lưỡi Hái Tử Thần
Cái mệnh lệnh hùng hồn, tuy không hợp pháp lắm theo quân kỷ của Đại úy Ripley cho thuộc hạ là “Dù có bị thương, không bao giờ được chuyển taovề hậu cứ!” đã được tuân hành một cách tuyệt đối. Đoạn điện đàm sai lạc “xếp gục rồi, xếp gục rồi!” của một tay truyền tin đại đội đã được loan truyền ngược về bản doanh Sư đoàn G-3, nơi theo dõi mọi cuộc trao đổi, và chắc chắn nó cũng bị phía truyền tin Bắc Việt nghe lén được.

Một nhân viên truyền tin vô danh của Sư đoàn biết Đại úy John Ripley có người anh tên là George Ripley hiện đang làm Thiếu tá, sĩ quan hành quân của Sư đoàn 3 TQLC, đơn vị chủ quản của 3/3. Do đó anh ta đã ghi lại đoạn tin này trên một trong các loại mẫu giấy đưa tin chính thức của chính phủ Hoa Kỳ, loại có ba mầu đệm giấy cạc-bon ở giữa. Thiếu tá George Ripley nhận được bản sao màu vàng chép cái tin bán chính thức và chưa kiểm chứng là: “Đại đội trưởng L 3/3 đã bị trọng thương. Vẫn còn thở…” Thiếu tá George Ripley chính là người đã trái lệnh thân phụ, cho đứa em mình mượn cuốn “Tiếng thét xung trận” của Leon Uris từ thuở nào. Chính sự kiện đó đã ghi sâu đậm vào tâm hồn non trẻ của đứa bé và đưa đẩy nó vào một cuộc sống có vẻ như sắp đến hồi cáo chung lần này. Lòng nặng trĩu vì hối hận chen lẫn bực tức, Thiếu tá George Ripley vò nhầu mảnh giấy vàng và bỏ vào túi.

Khi tin Đại úy Ripley bị thương, mặc dù chưa kiểm chứng được truyền ra thì cái thủ tục hết sức vô lý và bất di bất dịch là phải báo cho thân nhân biết ngay đã được khởi động lập tức. Vì còn ở ngoài mặt trận nên Đại úy Ripley không có cách nào để ngăn chận cái thủ tục đó được.

Trận đánh ngày 2 tháng Ba kết thúc đã lâu, để thay bằng nhiều cuộc đụng độ lẻ tẻ khác trong những ngày kế tiếp nhưng viên sĩ quan có nhiệm vụ báo tin dữ đã thông báo cho Moline, vợ của John Ripley rồi. Lúc đó Đại úy Ripley vẫn còn tả xung hữu đột ngoài trận địa chỉ huy binh lính nên không biết là vợ mình cùng gia đình đã được tin mình bị thương mà chẳng làm gì được.

Với tâm trạng khắc khoải chờ đợi tin dữ, Moline Ripley luôn chú ý đến các tin tức tường thuật có liên quan đến Việt Nam. Nàng có thể đang ở một phòng khác chăm sóc cho cậu bé Stephen hay đang lo việc nhà nhưng đôi tai lúc nào cũng lắng nghe những chữ như “TQLC” hay “thương vong” hoặc “Quân đoàn I…” Nếu không có tin gì, không có cuộc hành quân nào liên quan đến TQLC có nghĩa là tin vui.

Vào buổi chiều tối ngày 3 tháng Ba, 1967, Moline vừa đọc xong mẩu tin về đề nghị ba điểm của Thượng nghị sĩ Robert Kennedy nhằm chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Kế hoạch của ông bao gồm việc ngưng dội bom Bắc Việt, rút quân đội Hoa Kỳ và Quân Lực VNCH về phía Nam, và thay thế bởi một lực lượng quốc tế trung lập. Ý tốt của ông TNS chắc hẳn không tác động gì đến cả hai phía hiện còn đang mải mê đụng độ quyết tử tại Vùng I Chiến Thuật.

Cũng có nhiều tin tức liên quan đến phong trào phản chiến đang lan nhanh trong môi trường Đại học. Mới hai tuần trước đó, một cuộc biểu tình lớn đã xảy ra trong trường Đại học Wisconsin. Các sinh viên phản đối sự hiện diện của đại diện hãng Dow Chemical tại trường. Dow Chemical chính là hãng đã sản xuất loại bom napalm mà Đại úy Ripley và “hoàng tử” Henry mới chỉ vài tiếng đồng hồ trước đó đã điều khiển tài tình ném vào trận địa cứu các TQLC của Đại đội Lima và tiêu diệt kẻ thù. Họ đến trường đại học nhằm thu phục các nhà khoa học gia trẻ tuổi trong tương lai. Các cuộc biểu tình đã gây chú ý cho dư luận toàn quốc. Khi các cuộc biểu tình tàn lụi thì nhóm sinh viên, ngoại trừ những tay tổ chức, ai nấy trở về cuộc sống sinh viên trụy lạc muôn thuở của họ. Đối với các TQLC được sống sót nhờ tài nghệ khoa học của các kỹ sư hãng Dow thì cuộc sống và cái chết là tất cả những gì làm họ bận tâm nhất.

Moline và người chị dâu Maureen lớn hơn vài tuổi rất thân và qua lại thường xuyên với nhau. Chồng của Maureen là Thiếu tá George Ripley, người đầu tiên trong gia đình nhận được cái tin dữ. Hai bà vợ sống trong cùng một tòa chung cư tại Alexandria, Virginia trong khi các đấng phu quân đã tòng quân ra mặt trận. Họ thậm chí có thể gọi nhau ơi ới từ căn này qua căn kia. George và Maureen có ba đứa con gái đều lớn hơn Stephen cho nên hai bà mẹ có thể nhờ vả lẫn nhau những lúc cần thiết.

Cửa sổ căn bếp của Maureen nhìn ra khu đậu xe chính mà khách viếng khu vực chung cư bắt buộc phải đậu xe tại đó. Maureen là người đầu tiên phát hiện ra chiếc xe của viên sĩ quan đại diện TQLC Hoa Kỳ. Chẳng thà tay sĩ quan này là bộ xương tử thần cưỡi ngựa còn hơn. Vì Maureen và Moline là hai người vợ lính duy nhất trong khu vực này thành thử trừ phi tay TQLC bị lạc, sự kiện này đã làm hỏng ngay lập tức buổi sáng của nàng. Maureen nghĩ rằng hoặc là chồng mình hay người em rể đã ra đi.

Maureen Ripley vội vã bồng ngay đứa con gái út, hai đứa kia thì còn trong trường học. Nàng chạy ra đón viên Đại úy TQLC trẻ tuổi ngay khi anh này mới đậu xong chiếc xe. Nhận ra từ xa nỗi sợ hãi cùng cực trong ánh mắt của người phụ nữ khi nàng đến gần, anh Đại úy nói ngay một tích tắc trước khi Maureen mở lời thành thử cả hai dường như cùng nói một lúc.

“Xin bà làm ơn cho biết gia đình Ripley ở đâu?”
“Đại úy muốn tìm Ripley nào?”
Khi Maureen hiểu ra là John chứ không phải George thì nàng có một thoáng biết ơn là chồng vẫn chưa sao cả. Sự mừng rỡ lập tức bị thay thế bởi niềm hối hận của người thoát nạn và nỗi buồn và cảm thông đối với Moline và cả bé Stephen nữa. “Để tôi dắt anh gặp vợ của Đại úy John Ripley…”

Maureen Ripley dẫn viên Đại úy đến căn chung cư của em dâu mình. Trong lúc đi, mặc dù cố gắng lễ độ và giữ thái độ hết sức chuyên nghiệp, tay sĩ quan không thể nào bắt chuyện thân mật với người phụ nữ được. Và đoạn đường dài tưởng chừng như vô tận. Khi họ đến trước cửa phòng Moline, anh Đại úy gõ nhẹ một cách lịch sự lên cánh cửa. Maureen thì đứng nép phía sau.

Moline Ripley trả lời ngay vì nàng không trông đợi ai sáng hôm đó và bà chị dâu thì chẳng bao giờ gõ cửa cả. Nhưng khi mở cửa ra thì thái độ của nàng chuyển nhanh như chớp, từ nụ cười tự nhiên thành nỗi kinh hoàng, sợ hãi và buồn bã cùng cực. Mặc dù chưa quen lắm với công tác này nhưng anh Đại úy trẻ đã trải qua nhiều kinh nghiệm với những phản ứng khác nhau khi anh hiện diện trong tình huống như thế. Chẳng có lần nào tốt đẹp cả, chỉ có lần này đỡ tồi tệ hơn lần khác mà thôi. Chẳng thà anh đối diện với quân thù như Đại úy Ripley còn hơn là phải làm các công việc sĩ quan đưa tin. Nhưng nhiệm vụ thì phải thi hành thôi.

Moline kêu lên, nói lớn: “Trời ơi, không…?” Gắng gượng giữ bình tĩnh và giữ một thái độ chững chạc, nàng kiếm lời mời viên Đại úy vào. Trong giây phút hoảng hốt, Moline quên cả người chị dâu và đóng sầm cửa lại.

Nhiệm vụ sĩ quan liên lạc báo tin thương vong hết sức kỳ dị và khủng khiếp. Trong những trường hợp liên quan đến TQLC bị tử trận không bao giờ có kết quả tốt đẹp hay niềm vui nào cả. Tuy nhiên đối với gia đình của các sĩ quan hay hạ sĩ quan TQLC chuyên nghiệp thì họ gần như mừng rỡ khi biết tin người thân “chỉ” bị thương mà thôi.

Khi viên sĩ quan liên lạc đã trấn an Moline rằng chồng nàng vẫn chưa mệnh hệ nào và có lẽ sẽ hồi phục, không khí chung thay đổi hẳn. Moline cảm ơn anh ta rối rít và ghi nhận lòng tốt bụng và tính chuyên nghiệp của anh. Moline được an ủi là chồng không bị nguy hiểm đến tính mạng. Ít nhất là chưa, trong lúc này.

Thủ tục báo cho người thân nhất, tức người vợ nếu người lính đã có gia đình hay cha mẹ khi người này còn độc thân thường mang tính cách trực tiếp cá nhân hơn là khi báo cho những người không phải là trực hệ. Trong trường hợp của Đại úy John Ripley thì cha mẹ anh nhận được bức điện tín vô hồn vô xúc đặc trưng vào thời kỳ đó. Cho đến năm 1967 điện tín được sử dụng càng lúc càng ít đi vì điện thoại viễn liên đã được phổ biến nhiều hơn, ngoại trừ thói quen liên lạc kỳ lạ của một cơ quan chính phủ nào đó có nhu cầu báo tin cho gia đình biết về cái chết của một người thân ngoài chiến trường.

Trong cái tỉnh lẻ Radford nằm về hướng Tây Nam, ông bà Bud và Verna được mọi người biết đến là cả ba người con của họ đang chiến đấu tại Việt Nam trong cùng một thời điểm. Dân chúng trong các tỉnh nhỏ toàn cõi nước Mỹ vào năm 1967 đều có quan niệm là người phát tín viên hãng Western Union, tuy trông vô hại trong bộ đồng phục kỳ cục nhưng chính là “lưỡi hái tử thần” trong thời kỳ chiến tranh đang lan rộng ra. Ngoại trừ trường hợp có ai đó gởi điện tín báo tin sanh con – một tình huống đáng tiền để gọi điện thoại đường dài – còn lúc này thì không có ai trong đại gia tộc của ông bà Ripley đang mang thai, do đó bất cứ điện tín nào cũng không thể là tin vui được.

Khi bức điện tín đến và trước khi nó được trao cho người nhận, ngay cả cũng chưa ai biết nội dung ra sao, thì tin ông bà Ripley có điện tín lan đi cấp kỳ khắp tỉnh Radford, lan nhanh đến nỗi có một số lớn người cho rằng đã biết tin dữ rồi, ngay cả khi ông bà Ripley chưa nhận được nó.

Bà Verna Ripley đã nhìn thấy nhân viên Western Union từ xa trước khi ông ta đến cửa nhà. Cho là chỉ có tin dữ mà thôi, bà chạy ngay về hướng khác khóc la thảm thiết, làm như chẳng thà không biết chính xác thì có thể chối bỏ được thực tại. Ông chồng Bud buộc phải ở lại để nhận cái tin còn khá mông lung nhưng nhờ Trời, điều chắc chắn là người con út vẫn còn sống.

Tin Đại úy John Ripley thật ra vẫn còn sống và còn đủ sức chỉ huy đơn vị là một liều thuốc bổ cho cô vợ trẻ xinh đẹp. Moline Ripley cố gắng tiếp nhận cái tin đó và bám víu vào hy vọng là chồng vẫn còn an toàn có lẽ là cách duy nhất để nàng chấp nhận cái thực tế là không có thêm chi tiết nào khác về tình trạng của chồng. Mà nếu biết thêm thì chắc sẽ làm Moline càng lo lắng hơn nữa. Thôi thì ít nhất là chồng vẫn còn sống sót. Điều này an ủi và khiến nàng tiếp tục tập trung vào việc chăm sóc thằng con cưng Stephen, một điều hoàn toàn trong tầm kiểm soát của nàng.

Tuy nhiên tình trạng Đại úy Ripley không hẳn là đã an toàn. Mặc dù anh không muốn người thân phải lo âu nhưng thực tế là các hoạt động tại Vùng I Chiến Thuật không bao giờ chấm dứt và không hề lắng dịu trở lại.

24 tiếng đồng hồ trôi qua sau trận đánh và khi kiểm điểm quân số còn lại thì cả hai Trung đội trưởng của Ripley đã cùng bị tử thương và tất cả các Tiểu đội trưởng của cả hai Trung đội 1 và 2 đều đã bị tử trận hoặc trọng thương. Thật là một điều oái oăm là cuộc đụng độ đã được phát động và chấm dứt bởi cái Tiểu đội có người đã phát hiện ra bộ chỉ huy của Trung đoàn Bắc Việt vào khoảng 12 tiếng đồng hồ trước đó.

Sau rốt thì Đại úy Ripley cùng với một ít quân số còn sống sót cộng thêm quân tiếp viện trong ngày đã bắt tay lại được với Trung đội 3 đang trấn giữ chỗ ngã ba con đường mòn. Cùng với đám hỗn tạp TQLC của Đại đội Lima là số lớn chiến sĩ của Đại đội India và một ít chiến sĩ của Tiểu đoàn.

Vừa đánh xong một trận quan trọng, bị thiệt hại và bổ sung thêm một số lớn binh sĩ nhưng các TQLC không hề được nghỉ ngơi. Đây không phải là một trận bóng chày thể thao. Thời gian không hề đừng lại mặc dù Đai đội Lima đã gần cạn nhân lực. Họ là TQLC Hoa Kỳ và nơi đây, tại Vùng I Chiến Thuật, cuộc chiến vẫn còn đang tiếp diễn.

Khi các đơn vị rời rạc đã kết hợp lại được với nhau trước khi đêm xuống thì các biện pháp chiến thuật thông lệ được thiết lập trở lại. Các chiến sĩ được lệnh sẵn sàng ứng chiến 50%, cứ mỗi hầm phòng thủ với hai người thì một người được ngủ trong khi người kia canh gác. Mỗi Trung đội phải cử ra một toán cảnh vệ hay phục binh để phòng thủ trung tâm hành quân. Mặc dù đã kiệt sức nhưng Đại úy Ripley vẫn dùng điện đàm điều động mọi người cùng với viên truyền tin. Hạ sĩ Hobbs được phái đi cùng với Tiểu đội anh đến một địa điểm do Đại đội trưởng chỉ định. Họ chọn một vị trí phục kích thuận lợi nhất để phòng ngừa nếu quân Bắc Việt có muốn tấn công, chúng bắt buộc phải đi qua địa điểm đó. Quả nhiên Hạ sĩ Hobbs và thuộc hạ của anh chẳng cần phải chờ đợi lâu lắc gì mấy.

Một cuộc tàn sát không hơn không kém đã xảy ra. Có lẽ bộ đội Bắc Việt nghĩ rằng quân Mỹ sẽ án binh bất động vì cho rằng kẻ thù đã bị tổn thất nặng nề gấp nhiều lần họ và cũng kiệt sức như họ. Cường độ hỏa lực xé nát bóng đêm. Vị trí phục kích khá xa nhưng cũng đủ gần để toàn bộ Đại đội nghe kẻ thù kêu thét lên, giống như đang van xin: “Chiêu hồi! Chiêu hồi!” TQLC trả lời: “Chiêu hồi cái con mẹ mày… Chiêu hồi là cái quái gì?…”

Về sau này họ mới biết là toán lính Bắc Việt bị trúng phục kích của Hạ sĩ Hobbs đã có ý định muốn đầu hàng. Họ nói “chiêu hồi” ám chỉ là muốn buông súng mà thôi. Tuy nhiên đêm hôm đó TQLC đã không tha một ai. Cho dù họ có hiểu ý định của toán lính Bắc Việt nhưng trải qua nỗi kinh hoàng của trận đánh trước đó, không thể biết liệu họ có chịu bắt tù binh hay không?

Các cuộc giao tranh vào ngày 3 tháng Ba cũng chẳng khác ngày hôm trước bao nhiêu. Ngày 4, 5 và 6 cũng vậy. Đại đội Lima vẫn trấn giữ trận địa, tả xung hữu đột từ địa điểm này qua vị trí khác và đụng độ mỗi ngày. Sự nhận xét của Machete Eddie khá chí lý, John Ripley dường như là cái nam châm thu hút mọi hoạt động vào anh. Đại đội Lima đã phải nằm lại tuyến đầu cho đến hết tháng Ba. Chuck Goggin vẫn chỉ huy Trung đội 1 và được Đại úy Ripley phong lên cấp bậc Trung sĩ mặc dù anh không có thẩm quyền để làm chuyện đó. Tướng Ryan vài ngày sau đó đã thị sát mặt trận và thăng cấp chính thức cho Goggin.

Mỗi một ngày đều giống như ngày hôm trước, và ngày trước đó. Toán TQLC chỉ biết là Chủ nhật đã đến vì đó là ngày mà nhân viên thường vụ phát thuốc ngừa sốt rét. Các cuộc giao tranh và đụng độ với kẻ thù liên tục không ngừng nghỉ. Hàng ngày, binh lính bị tử trận và thương vong cũng không giảm.

Cuộc hành quân liên quan đến Lima 3/3 vào đầu tháng 3 năm 1967 không phải là duy nhất trong Vùng I Chiến Thuật. Tại các vùng còn lại của Quân đoàn I và khắp miền Nam Việt Nam, trong tuần đầu của tháng 3, quân đội Hoa Kỳ đã chịu các sự thiệt hại nặng nề nhất từ trước đến nay. Tổng cộng có 1.617 quân Mỹ đã bị thiệt mạng, bị thương hay mất tích.

Cho dù bị đánh tơi bời và kiệt sức lực nhưng các binh sĩ TQLC còn lại rất tin tưởng vào khả năng của các cấp chỉ huy họ. Các TQLC Lima còn sống sót rất đáng được tự hào. Trong mỗi cuộc đụng độ họ đều bị thiệt hại nhưng vẫn luôn luôn chiến thắng kẻ thù.

Vào khoảng hai tuần sau trận giao tranh đầu tiên ngày 2 tháng Ba thì một chiến sĩ Đại đội Lima nhận được trong thư tín của mình một mảnh tin cắt ra từ báo Boston Globe hay một tờ báo nào đó vùng Đông Hoa Kỳ mô tả về thành tích của toán quân mệnh danh là “Các Trinh Sát của Ripley.”

Điều lạ lùng đã xảy ra là trong cái ngày tưởng chừng như vô tận đó, trong một lần tiếp tế và tản thương cho vị trí của Đại đội Lima đã chiếm lĩnh được và đang phòng thủ trong ngày 2 tháng Ba, một nhóm thông tin báo chí đã được người ta chở đến để quan sát cái “tổ ong vò vẽ” mà Lima đã đụng phải. Trong lúc Đại úy Ripley và mỗi một TQLC còn bận chiến đấu thì các toán quay phim và ghi âm đã tùy tiện quay các vị trí của Đại đội Lima, làm như là họ đứng ngoài và không can dự vào cuộc chiến đang diễn ra chung quanh. Đối với các TQLC đang thi hành nhiệm vụ thì chuyện này rất bực mình và làm xao nhãng tinh thần họ. Một nhóm phóng viên với thái độ bàng quan trước các sự việc đang xảy ra chung quanh còn quay cảnh một toán TQLC khiêng thương binh trên tấm poncho dùng làm cáng ra trực thăng tản thương đang chờ ngoài bãi đáp. Một loạt bích kích pháo nổ rền làm các TQLC nhào xuống núp và đánh rớt đồng đội xuống đất. Nhóm quay phim lập tức chụp được cảnh này. Cha mẹ của người thương binh đã xem được cảnh bi đát của con mình như vậy trong bản tin chiến sự buổi chiều tại Hoa Kỳ. Điều này đã tạo cho họ một nỗi buồn sâu đậm không ngơi.

Từ lâu, trước khi sự việc này xảy ra, cảm tình của các TQLC đang lâm trận đối với giới truyền thông chẳng khá gì hơn tình cảm của họ đối với quân Bắc Việt chút nào. Khi trận đánh tiến triển và tăng dần cường độ, chính các phóng viên báo chí cũng bị lâm vào tình thế hiểm nghèo. Phản xạ bảo toàn tính mạng đã làm cho một anh ký giả chạy bổ về phía một chiếc trực thăng CH-46 đang sắp sửa bay lên với cái bửng đã bắt đầu rời khỏi mặt đất. Anh chàng này chạy thục mạng với tốc độ ngang với lực sĩ Jesse Owens và ném đồ nghề vào trong trực thăng. Chúng rơi đè lên cả một số thương binh TQLC đang được tản thương. Sau đó thì hắn cố trèo lên cái bửng đang đóng lại phía sau của chiếc Chinook. Các TQLC chứng kiến được cảnh hèn nhát này hầu hết ngán ngẩm và nổi giận. Một người của Đại đội Lima còn có ý định muốn cho hắn một phát đạn cho rồi.

Trong nhóm phóng viên thoát ra được và viết tường thuật lại thì ít ra cũng có một người rất ngưỡng mộ sự can trường và lòng quyết tâm của các chiến sĩ Đại đội Lima. Khi kể lại những gì mà anh đã chứng kiến và học hỏi từ các TQLC lúc đụng độ với kẻ thù, anh đã mệnh danh nhóm kiêu hùng này là “Các Trinh Sát của Ripley.” Họ đã chiến đấu anh dũng với quân số bị thu hẹp lại dần theo từng giờ đồng hồ.

Không rõ quân Bắc Việt có đọc tờ Boston Globe hay không, nhưng chuyện này cũng chẳng mấy quan trọng. Họ đổ vào trận chiến những đơn vị tinh nhuệ nhất càng lúc càng nhiều để quần thảo với các TQLC Hoa Kỳ khắp Vùng I Chiến Thuật. Các cuộc đụng độ đã xảy ra liên tục với cường độ tăng dần đối với các đơn vị Hoa Kỳ từ cuối tháng Hai 1967 trở đi là một thực tế mà ít người ở nhà có thể thấu hiểu nổi.

Đối với bất cứ đơn vị quân đội nào khác mà bị đóng quân tại Cà Lũ thì được mô tả là một nhiệm vụ khó khăn cùng cực. Nhưng so với trận tuyến mà Đại đội Lima vừa mới trải qua bốn tuần lễ trước đó, so với các trận giao tranh rùng rợn mà họ phải đối mặt hàng ngày với các đơn vị Bắc Việt tại vùng đất nhỏ bé phía Bắc Vùng I Chiến Thuật thì sự trở về Cà Lũ – bản doanh của Đại đội, một bản doanh kiên cố như Thành Apache giữa vùng hoang dã – lại là một điều tương đương với chuyện được lên thiên đàng nếu không bị sát hại vào đầu tháng Tư năm 1967.

Nằm trên một vị trí chiến lược dọc theo quốc lộ 9 bên cạnh giòng sông Thạch Hãn, Cà Lũ là một tiền đồn kiên cố do TQLC Hoa Kỳ trấn giữ nằm về hướng Tây trước khi đến Khe Sanh và chỉ cách biên giới Lào vào khoảng hai mươi cây số.

Nhằm giúp cho Đại đội Lima được tạm nghỉ ngơi dưỡng quân, một Đại đội khác được trực thăng vận xuống phòng thủ vòng đai căn cứ Cà Lũ. Khi người lính cuối cùng của Đại đội Lima đã vào được trong căn cứ vào khoảng 5 giờ rưỡi chiều, các TQLC được chiêu đãi theo đúng điệu của Binh chủng TQLC Hoa Kỳ. Thịt bít-tết được mang ra ăn thả giàn và bia rẻ tiền như từ trên trời rơi xuống cho mọi người. Lúc này họ trông giống như vừa tham gia vào một cuộc thử nghiệm điên khùng hàng loạt về sự mất ngủ, sự căng thẳng và thiếu thốn nhiều hơn là các chiến sĩ đã dày dạn chiến trường. Cho đến 10 giờ đêm khi một số lớn bụng đã no nê vì ăn quá nhiều thịt steak và uống say mèm bia thì lệnh trên báo xuống là một Tiểu đoàn của Sư đoàn 9 đang đụng độ lớn. Cần tăng viện gấp. Nửa tiếng đồng hồ sau, các “Trinh Sát của Ripley” đã sắp sẵn và lên đường hành quân. Họ đã trở lại trận địa… một cách nhiệt tình… thêm một lần nữa

Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM

CƯỠI NGỌN SẤM(10)

cuoingonsam

richardbotkin

Chương 5

Đại đội Lima xuất quân

Đại úy Ripley là một người luôn luôn sáng suốt, tỉ mỉ và trước bất kỳ một khả năng đụng độ nào ông đều chuẩn bị giống như ngày hôm trước hoặc có thể còn hơn thế nữa. Trước khi hành quân ông làm việc với viên sĩ quan đề-lô thân cận và gọi điện khắp nơi về mọi mục tiêu có khả năng sẽ phải pháo kích. Do đó, khi Đại đội Lima đụng trận, không yểm sẽ sẵn sàng có ngay lập tức và pháo binh còn có thể sớm hơn nữa.

Với biệt danh “Hoàng tử Hoa tiêu Henry,” viên sĩ quan đề-lô tài hoa đã được xếp thương mến và tất cả các TQLC của Đại đội Lima đều tin tưởng vào tài dẫn đường của anh ngoài trận địa. Nếu có trường hợp bất đồng ý kiến nào giữa “hoàng tử” Henry và Đại úy Ripley – mà thường thì họ đồng ý với nhau về một cái tọa độ sáu chữ số (với khả năng sai số 100 thước về mọi hướng), là họ tranh cãi một cách hòa hoãn với nhau về mức sai số 10 thước sau cùng trên một cái tọa độ với tám chữ số (tọa độ tám chữ số có thể xác định một vị trí với sai số 10 thước). Có được “hoàng tử” Henry hỗ trợ trong công việc di hành và sẵn sàng gọi phi pháo yểm trợ, Đại úy Ripley đã có thể tập trung nỗ lực nhiều hơn vào việc điều động binh lính và nắm được bức tranh tổng thể rộng lớn hơn.

Khi Đại đội Lima chuẩn bị để xuất quân, đơn vị đã sẵn sàng hơn bao giờ hết. Giống như bất kỳ một Đại đội TQLC nào, Đại đội Lima cũng phải gánh trên vai những thử thách bao gồm một loạt các vấn đề như trình độ kinh nghiệm suốt từ trên xuống dưới, khả năng chiến đấu, sự khôn ngoan và khéo léo của các cấp chỉ huy và binh sĩ.

Trong khi dư luận trong nước bắt đầu nghe đến các vấn đề như kỷ luật và xì-ke tại Việt Nam thì chuyện đó không bao giờ là những vấn nạn của Lima 3/3. Ý tưởng có một TQLC của Đại đội Lima hút xì-ke hay sử dụng ma phiến trong bụi rậm là một sự nguyền rủa đối với bất cứ ai quan tâm đến sự sống còn của đồng đội. Tất cả những công tác huấn luyện và kinh nghiệm chiến đấu sắp được mang ra thử thách một cách khốc liệt.

Trong bối cảnh tình hình chiến sự trong và quanh vùng nơi Đại đội Lima đang hoạt động, lệnh hành quân đầu tiên của Đại úy Ripley ngày 2/3/1967 là di chuyển từ vị trí đóng quân ban đêm đến một ngã ba đường mòn cách đó vào khoảng vài cây số để thiết lập một cuộc phục kích hay nút chận tại đó. Mặc dù hết sức căng thẳng và lo lắng thực hiện mọi điều thật hoàn hảo trong khả năng của mình, Đại úy Ripley vẫn thoáng có được một vài giây phút để tự hào về các TQLC dưới quyền mình. Đại đội Lima với tất cả các đơn vị phụ thuộc gồm khoảng 215 sĩ quan và binh sĩ là một cảnh tượng đáng khâm phục. Tất cả những người này, các thanh niên mà theo mọi tiêu chuẩn có thể được coi là những chàng trai mới lớn trong giai đoạn sung sức nhất giờ đây cùng nhau xung phong lên phía trước, họ di chuyển một cách lặng lẽ và bình tĩnh, với lòng quyết tâm đúng nghĩa là các chiến binh TQLC. Chẳng cần ai nhắc họ phải làm gì, vì họ đều biết cả rồi. Không một tiếng động dư thừa. Tất cả mọi liên lạc đều được thực hiện bằng thủ hiệu và dáng điệu. Tiếng giầy bốt đạp lên đất rất nhỏ và vừa lên tới đầu gối là tắt ngay. Mọi chuyện đều được thực hiện theo chủ đích. Thật giống như một con rết khổng lồ thật dài với hàng trăm bộ chân màu lục đang di chuyển một cách uyển chuyển theo dọc con đường mòn nhấp nhô trong rừng.

Chỉ trong chốc lát, nhóm TQLC bắp gặp một tay súng bắn sẻ Bắc Việt lẻ loi. Họ sơi tái ngay tên này và di chuyển xuống tiếp con đường mòn. Có nhiều bằng chứng về sự hiện diện mới đây của kẻ địch như máu và cơm gạo vương vãi. Họ biết là sắp có chuyện và có thể sớm hơn là dự tính.

Bộ đội Bắc Việt đặc biệt rất chú trọng vào chuyện di tản các xác chết và thương binh ngoài chiến trường trong nỗ lực không cho phía Hoa Kỳ, nhất là những người có cái quan niệm quái đản thích đếm xác chết của kẻ thù, được sự thỏa mãn khi biết rõ số lượng thương vong thật sự của họ. Nhiều lính Bắc Việt khi ra mặt trận có trang bị những sợi dây mây lớn quấn quanh cổ chân. Thoạt đầu lính TQLC tưởng là những sợi mây này là một loại ngụy trang rối rắm nào đó, nhưng sau này họ mới biết đó là những quai cầm để các đồng chí nắm lấy và kéo xác chết hay lính bị trọng thương ra khỏi trận địa. Bằng cách này, họ có thể che giấu số lượng thương vong nhưng các dấu tích kéo lê thường để lại dấu vết mà ngay cả một trinh sát tầm thường cũng có thể lần theo bước kẻ thù.

Dọc theo con đường mòn đầy vết gạo và máu, TQLC của Đại đội Lima phát hiện ra một số mồ mới lấp. Một trong những TQLC của Đại úy Ripley, một tay tương đối có óc khôi hài đen kỳ cục lại còn trình cho xếp một chiếc giày của lính Bắc Việt trong đó còn nguyên cái chân của nạn nhân.

Thiếu úy Terry Heekin, Trung đội trưởng Trung đội 1 tuy là người mới nhưng đã có vẻ già dặn hơn sau 24 tiếng đồng hồ chiến đấu vừa qua. Với lòng nhiệt tình của một sĩ quan cấp úy điển hình, anh đã cố rút tỉa những bài học từ các cuộc đụng độ và vươn lên như sự mong đợi. Các trận đánh ngày thứ Tư là một dạng thực tập tại chỗ để sửa soạn cho ngày thứ Năm hôm sau.

Vào đến mục tiêu chỉ định bởi Tiểu đoàn trưởng, Đại đội Lima vội vã thiết lập tuyến phòng thủ tại ngã ba con đường mòn. Đại úy Ripley quyết định đặt Trung đội 3 cùng với phân đội súng cối của Trung đội trọng pháo tại cùng một vị trí. Sau đó ông phái hai Tiểu đội lấy từ hai Trung đội 1 và 2 để đi trinh sát hai nhánh đường mòn tách ra từ vị trí sơ khởi khi Đại đội mới đến.

Lúc Đại đội Lima tiến gần đến địa điểm được lệnh chiếm giữ, Tiểu đoàn trưởng khuyên Ripley không nên đụng độ cho đến khi phần còn lại của Tiểu đoàn vào đến nơi. Theo sĩ quan Ban 3 Tiểu đoàn cho biết thì sẽ mất vào khoảng tám tiếng đồng hồ nữa. Đại úy Ripley trả lời: “Tôi sẽ triển khai để phòng thủ Đại đội.”

Hạ sĩ Hobbs là Tiểu đội trưởng thuộc Trung đội 1 TQLC mà Đại úy Ripley phái đi tuần thám về hướng Bắc. Hobbs, một trong những tay sừng sỏ của Đại đội, cùng với Tiểu đội chưa đi được bao xa thì đã hốt hoảng gọi điện thoại về bộ chỉ huy báo là Tiểu đội đã phát giác một chuyện có vẻ lớn lắm và khuyên Đại úy nên lên mà xem xét. Nhóm TQLC của Đại đội Lima chợt giữ im lặng hoàn toàn. Những tiếng động còn lại chỉ là tiếng điện đàm được cố giữ làm cho nhỏ đi.
Vượt lên đến vị trí tiền phong của Hạ sĩ Hobbs, Đại úy Ripley mang theo nhóm còn lại của Trung đội 1. Trung đội 2 được lệnh sẽ theo liền ngay khi họ thấy nhóm trinh sát đi ngược trở lại. Đại úy Ripley lặng lẽ gặp Trung đội 1. Hạ sĩ Hobbs dùng thủ hiệu để liên lạc với xếp. Ngay sau khi Trung đội 2 vào đến vị trí, Đại úy Ripley ra lệnh cho Hạ sĩ Hobbs tiến lên phía trước. Anh ta phát hiện ra một khu vực đóng quân gần giống y như lần mà họ đã từng gặp qua, trong cùng một hoàn cảnh mới chỉ non hai tuần lễ trước vào khoảng 20 cây số phía Tây gần Khe Sanh.

Biết rằng bộ đội Bắc Việt là bậc thầy về ngụy trang và thường sử dụng lợi thế tối đa về địa hình, Hạ sĩ Hobbs và Tiểu đội trừ của anh đã phải căng hết mắt mới phát hiện ra nổi. Ngay cả Đại úy Ripley khi được gọi lên để quan sát cũng phải mất một hồi lâu mới nhận ra bằng chứng sự hiện diện của bộ đội Bắc Việt. Hầm chiến đấu của kẻ địch nhiều vô số kể đã được đào chằng chịt và nối với nhau bằng những đường dây điện thoại. Nhóm TQLC nhận ra một số dây ăng-ten lớn ẩn giấu khéo léo theo hàng cây phía xa. Loại dây ăng-ten này chỉ có thể thuộc vào một đơn vị lớn hơn Đại đội Lima rất nhiều. Đại úy Ripley và toán TQLC thiện chiến đã từng chiến đấu bên nhau hai tuần lễ qua nhờ tài di chuyển tàng hình nên đã rơi vào thẳng tổng hành dinh của một Trung đoàn quân Bắc Việt. Lại một lần nữa trong ngày hôm nay, họ đã hành quân hữu hiệu đến nỗi kẻ thù chỉ có đủ thời gian để ló đầu ra mà thôi. Có vẻ như bọn chúng chưa ai biết chuyện gì sẽ xảy ra.

Điều đáng kể là cặp mắt cú vọ của Hobbs đã phát giác địch chỉ cách khoảng 50 mét đằng trước mặt. Được lệnh án binh bất động, cả hai Trung đội Lima lặng lẽ và đồng thời tiến chiếm các vị trí phòng thủ, mọi cặp mắt chăm chú vào Hobbs. Với tạng người cao lớn và khỏe mạnh, Hobbs cố bò thật chậm vào cái trảng về hướng mục tiêu mà nếu thoáng nhìn chẳng ai có thể nhận ra đó là cái gì cả. Phải cần sự tập trung cao độ, tương tự như đọc các dòng chữ nhỏ nhất của một biểu đồ xét nghiệm nhưng cuối cùng Đại úy cũng nhận ra mục tiêu đó, hay đúng hơn là ai đó. Vươn ra khỏi một cái hầm giao thông được đào khéo léo là một cái ngực và đầu của một tên lính Bắc Việt. Hắn đang chăm chú cúi người làm chuyện gì đó và không hề biết đối phương đang tới sát bên.

Đến lúc gần như là ngồi trên đầu tên địch kém may mắn kia thì Hạ sĩ Hobbs chồm xuống nắm lấy hắn một cách không thương tiếc, lôi ra khỏi cái hầm giao thông. Thật hệt như trong cuốn phim hoạt hình gã mèo túm đầu chú chim con lôi ra khỏi tổ. Điểm khác biệt duy nhất là Hạ sĩ Hobbs không có ý định ăn thịt kẻ địch. Nếu chuyện này không xảy ra tại Vùng I chiến thuật năm 1967 thì chắc mọi người sẽ cho là chuyện giỡn trước cảnh một tay TQLC Hoa Kỳ to lớn túm chặt một tên bộ đội Bắc Việt nhỏ bé dãy dụa vì sự sống còn, một người con của “Cách Mạng,” một loại chuyên viên điện đàm chuyên nghiệp và được huấn luyện kỹ lưỡng chỉ có thể thấy được trong các đại đơn vị. Hắn đang chăm chú lắng nghe máy truyền tin (tai còn đeo máy nghe) và gõ mật mã Morse trên cái bàn máy đặt trên gối cho cấp trên đâu đó ở xa thì bị quấy rầy một cách thô bạo bởi một “tên chó hoang đế quốc.” Mặc dù cố giãy dụa giằng co nhưng sức hắn kém xa Hạ sĩ Hobbs. Vả lại lúc này Hobbs có thêm đồng đội giúp sức nên kềm chế hắn một cách dễ dàng.

Sau khi bắt được tù binh truyền tin Bắc Việt đưa về Trung đội 3 với mục đích giải giao cho hậu phương để thẩm vấn thì Đại đội Lima phát hiện được thêm chuyện thứ hai. Trong một cái trảng khác ngay sát khu vực có các giao thông hào là một đống ba-lô chất cao ngất, ít ra là phải 500 chiếc, có lẽ cònnhiều hơn nữa. Đối với các TQLC với quân số quá ít ỏi thì đống quân trang này trông như một hòn núi Suribachi (Iwo-Jima) nhỏ. Đối với họ, nó quá lớn đến nỗi nếu chúng không thay đổi thì chắc phải vẽ lại bản đồ vì trông giống như một địa hình có thật. Dòng suy nghĩ của Hạ sĩ Hobbs cũng giống như của mọi người: “Bọn chó đẻ chủ nhân của đống ba-lô này đâu rồi? Phe ta có được bao nhiêu mống…?” Sự căng thẳng chung của Lima lên cực độ. Tất cả mọi người dù mệt mỏi hay sợ hãi đến đâu cũng đều tỉnh cả người.

Tuy nhiên, một lần nữa, yếu tố được huấn luyện đầy đủ đã bắt nhịp với TQLC Lima. Theo bản năng, không cần phải nhiều lời hay phải đợi có lệnh, các TQLC lập tức gắn lưỡi lê lên mũi súng và sắp hàng di chuyển qua cái địa hình lạ lùng đầy chiến lợi phẩm của đối phương mà chẳng thấy bóng dáng bộ đội Bắc Việt ở đâu. Họ cảm thấy đang bị theo dõi. Những tiếng động văng vẳng chỉ là tiếng di chuyển lặng lẽ của những chiến binh chuyên nghiệp đang tiến bước vụng về nhưng có chủ đích sẵn sàng khi có đụng độ. Mọi người đều biết sự im lặng sẽ không kéo dài và mỗi bước chân sẽ đưa đám lính TQLC ít ỏi đến gần cái vực thẳm họ biết ở đâu đó nhưng không hình dung ra được. Họ chỉ biết sẽ vượt đến đó một khi trận đánh bắt đầu mà thôi.

Với quân số hai Trung đội, một phần ba khả năng tác chiến còn lại cùng với bộ phận súng nặng còn án binh tại chảng ba của con đường mòn nơi họ được chỉ thị phải trấn thủ, Đại đội Lima tiến lên được hơn 25 thước thì địa ngục bùng nổ. Trận đánh bắt đầu thật dữ dội.

Bộ đội Bắc Việt rất hăm hở và trong một tích tắc dường như bọn chúng tung hết hỏa lực trước mặt Lima. Họ sử dụng đủ loại các súng trừ không lực; từ súng nhỏ, súng liên thanh, bích kích pháo, hỏa tiễn, đến lựu đạn. Vì nằm trong tầm ném lựu đạn nên Đại đội trưởng Lima chưa bao giờ thấy lựu đạn, loại do Trung cộng sản xuất nhiều như vậy. Kiểu lựu đạn này khác với loại cực mạnh của Mỹ có hình dáng tròn dùng để ném như ném bóng chày hay ném cầu vòng nhờ sức nặng của nó. Lựu đạn Trung cộng có vẻ giống như loại chày giã khoai tây của Đức quốc xã trong hai trận Thế chiến nhiều hơn. Khối chất nổ được gắn vào một cái cán gỗ nên kiểu này có lẽ dễ ném hơn của Hoa Kỳ. Không gian bây giờ đầy loại này bay tới tấp giống như những khúc gậy quay lòng vòng, chỉ khác một điều là đây không phải là một trận banh biểu diễn.

Hỏa lực của Đại đội Lima cũng hùng hậu không kém. Mặc dù chịu một số tổn thất ngay tức thời nhưng các TQLC vẫn giữ áp lực và tràn vào các vị trí của quân Bắc Việt. Đại đội Lima chiếm ngay được một số vị trí và dường như làm cho kẻ địch bắt đầu bị nao núng.

Đại úy Ripley không cần phải hỏi hay nói điều gì với truyền tin. Lúc trận đánh khởi đầu, không lực yểm trợ đã được yêu cầu ngay lập tức. Toàn bộ Đại đội Lima đều phải xung trận nên chẳng ai thắc mắc những chiếc A-4 Skyhawk ở đâu tới đây? Họ chỉ thấy tự dưng như phép lạ máy bay xuất hiện ngay trên đầu. Hoàng tử Hoa tiêu Henry, với sự giám sát của Đại úy Ripley, đã sát cánh với họ. Rất chặt chẽ.

Trận đánh tiếp diễn và chẳng có cách nào, hoàn toàn vô phương để Lima có thể rút ra được. Nếu ngưng giáp chiến và cố lui về vị trí Trung đội 3 đang án ngữ thì chắc chắn họ sẽ bị tiêu diệt. Cách hay nhất để đối phó trong trường hợp này chỉ là cố gắng diệt bọn Bắc Việt trước khi chúng diệt Đại đội Lima.

Hầu như đúng lúc yêu cầu về phi pháo được chuyển về, mọi người ở tuyến sau, nhất là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3/3 đều lo lắng không biết chuyện gì đang xảy ra. Đại đội trưởng Lima phải thi hành các lệnh lạc khi cần thiết nhưng lúc này anh còn phải đôn đốc đơn vị và chưa có thời giờ để “đếm xác” địch quân. Trận chiến còn lâu mới xong.

Tiếng sấm rền của chiến đấu cơ đang bay đến gần rất nghe rất rõ và chóng vánh nhưng vẫn còn dài hơn cái chớp mắt khi các phi cơ xuất hiện vọt qua tàng cây rừng. Át tiếng động cơ phản lực và vượt lên trên mọi tiếng gầm rú là tiếng va chạm và tiếng rít kinh hoàng của kim loại với nhau khi những trái bom Mk-82 “Snake Eye” được thả xuống từ các giàn phóng dưới cánh máy bay. Mỗi trái có bốn cánh nhỏ bung ra nhằm làm giảm tốc độ của những trái bom 241 kí-lô, đủ thời gian cho những chiếc máy bay sát mặt đất tránh ra xa khi bom nổ.

Khối lượng hỏa lực bên phía quân Bắc Việt cũng mãnh liệt một cách không ngờ. Với khoảng ước lượng 500 chiếc ba-lô chất thành núi mà Hạ sĩ Hobbs đã phát hiện, chắc chắn là chung quanh còn nhiều quân Bắc Việt lắm. Nếu đúng như vậy, tương tự như trường hợp có hẳn một đơn vị trung đoàn Bắc Việt họ đã phát hiện ra trước đó không lâu tại Khe Sanh, thì số vũ khí trang bị chắc chắn có nhiều súng cối hơn, nhiều súng liên thanh hạng nặng hơn và hàng hàng lớp lớp kẻ thù hung hãn đang nổi giận. Không còn nghi ngờ gì là Đại đội Lima đang bị tràn ngập về quân số. Còn chuyện bị áp đảo về khả năng tác chiến hay không còn phải xem lại.

Cuộc chiến trên bộ tại Việt Nam tùy thuộc vào các nhịp độ và chu kỳ rất khó nhận ra một khi trận đánh được khởi sự. Rất hiếm khi các đơn vị Hoa Kỳ nhận diện được kẻ thù ngoài trận địa. Bất kể là do họ khởi sự hay không, các cuộc chạm trán thường kèm theo một khối lượng hỏa lực khủng khiếp được tác động bởi phản ứng nóng nảy và nhu cầu áp đảo về hỏa lực. Chỉ khi nào tình thế tạm ổn và cấp chỉ huy được báo là sự hiện diện của kẻ địch chỉ ở mức độ những đơn vị nhỏ thì vấn đề bảo toàn đạn dược mới được nghĩ tới. Một phản ứng chừng mực và đều đặn hơn có thể được táilập.

Cùng với việc phối hợp pháo binh và không yểm cần thiết, phối trí cho hai trung đội tiến lên phíatrước, lo di tản khỏi trận địa những binh sĩ nào thật sự cần thiết vì thương tích, Đại úy Ripley còn rất ngại số lượng đạn dược cơ hữu của Lima đang cạn dần. Sự dồi dào của sức mạnh kỹ nghệ Hoa Kỳ, mức sản xuất của Detroit, Pittsburgh và Youngstown chẳng nghĩa lý gì nếu tất cả các thành quả đó còn nằm yên trong những kho bến cảng Cam Ranh hay kho tiếp vận ở Phú Bài. Điều này khiến vị chỉ huy của Lima có thể phải muối mặt vì mặc dù đại diện cho một lực lượng quân sự hào hùng nhất của nước Mỹ, ông buộc lòng phải lục lấyđồ tiếp liệu từ các xác chết và các binh sĩ bị trọng thương nhằm tiếp tục cuộc chiến.

Cuộc đụng độ ban đầu, mặc dù bị thương vong, cũng còn tương đối khả quan đối với Đại úy Ripley. Pháo binh và không quân hoạt động khá hiệu quả. Bộ đội Bắc Việt có vẻ bị chùn bước trước hỏa lực Hoa Kỳ. Tuy nhiên TQLC Lima hiểu rằng kẻ địch chỉ tạm thời lui về các vị trí phòng thủ thứ hai để từ đó có thể sử dụng nhiều vũ khí yểm trợ hơn và phóng ra các cuộc phản công.

Đại đội Lima với Trung đội 3 còn án ngữ phía sau ở ngã ba đường mòn, đồng loạt xếp hàng tấn công theo hướng Hobbs đã tìm ra. Vô tình Trung đội 2 nằm ngay trong đường nhắm của hai khẩu súng liên thanh Bắc Việt được ẩn dấu cẩn thận phía trước. Đây là loại đại liên hạng nặng có chân bánh xe và ghế ngồi cho xạ thủ do Trung cộng hay Liên sô sản xuất bắt chước theo mẫu của khẩu Maxim (thời đệ nhị Thế Chiến). Hai khẩu này bắt đầu nã đạn dữ dội vào Trung đội 2 TQLC.

Hạ sĩ Richard Strahl xuất thân từ Glendale, Arizona thuộc nhóm TQLC dù bị thương nhưng không chịu cho di tản. Anh làm truyền tin cho Trung đội 2 và đã quá hạn ba tháng trong chu kỳ nhiệm vụ 13 tháng, nhưng vẫn cảm thấy có nhu cầu phải hỗ trợ cho vị Trung đội trưởng chưa quen việc lắm. Thêm một chiến dịch nữa chắc đủ, theo ý anh. Sau nhiệm vụ kéo dài này trong rừng rậm, anh có thể rời Trung đội 2 với lương tâm yên ổn là đã làm tất cả những gì có thể làm được để truyền đạt lại kinh nghiệm học hỏi cho vị “Thiếu úy của mình.” Sau công việc này, anh có thể hồi hương để cưới người con gái đang chung thủy chờ đợi và cùng chung sống hạnh phúc mãi mãi bên nhau.

Thiếu úy Heekin và binh sĩ Trung đội 1 thành công khi đánh kẻ thù vào cánh sườn. Trận đánh diễn tiến từng phân một, từ các trảng trống qua các khu rừng rậm rồi lại tiếp vào khu trống. Trong lúc cả Đại đội Lima rượt đuổi kẻ địch, Trung đội 2 tiến vào một khoảng trống. Thật không may cho Trung đội trưởng Thiếu úy Butch Goodwin và tay truyền tin trung thành dày dặn kinh nghiệm. Họ bị rơi vào tầm nhắm một trong những loại súng kiểu Maxim đó. Một loạt đạn dài nhắm đúng đã lia trúng họ ngay khi cả hai từ trong rừng bước ra khoảng trống. Thiếu úy Goodwin và Hạ sĩ Strahl bị tử thương ngay tức khắc. Trận đánh vẫn tiếp tục không gián đoạn ở cự ly rất gần.

Trong khi đó, mọi người tại bộ chỉ huy Trung đoàn và Sư đoàn đã có thể nghe được mọi sự trao đổi giữa các TQLC đang chiến đấu, cũng như hàng loạt các yêu cầu yểm trợ hỏa lực gởi về. Cuộc hành quân của Đại đội Lima hiện đang là trận đánh lớn duy nhất đang diễn ra trên Vùng I Chiến Thuật. Chẳng có gì hứng thú để mà theo dõi cả. Một số TQLC đã thực sự ngã xuống. Những người khác thì đang mải chiến đấu, rõ ràng là với một lực lượng đối phương đông gấp bội Đại đội Lima. Những người ở hậu phương có thể biết là chuyện lớn đang xảy ra và họ bắt đầu làm việc với lòng quyết tâm hơn nữa để mang đồ tiếp vận cần thiết cũng như các nguồn yểm trợ hỏa lực đến nơi nào đang cần. Các trực thăng tản thương đang trên đường bay vào vị trí Lima. Trung Tâm Không Yểm Trực Tiếp (Direct Air Support Center) điều động tất cả các máy bay A-4 và F-4 có sẵn về nơi Lima đang đụng độ.

Sự xuất hiện đột ngột của Chuẩn Tướng Michael Patrick Ryan trên chiến trường vào khoảng xế trưa ngày 02 tháng 3 năm 1967 là một phước lành nhưng cũng là mối bận tâm cho TQLC. Với tư cách là phụ tá Sư đoàn trưởng Sư đoàn 3 TQLC và sĩ quan thâm niên của Quân đoàn I, tướng Ryan thuộc thành phần chọn lọc trong các sĩ quan cao cấp TQLC có kinh nghiệm bản thân đáng kể trong cả Thế Chiến Thứ Hai lẫn Chiến Tranh Triều Tiên. Không có gì phải nghi ngờ rằng trong nhóm những người đó, tướng Ryan thuộc vào thành phần lão làng và nòng cốt. Trường phái cổ điển của TQLC tin rằng khả năng chỉ huy phải thông qua thực hành tại chỗ và phải tự tay mình thực hiện. Do đó ông biết rằng chỉ có thể hiểu mọi chuyện không phải bằng cách nghe ngóng các đoạn điện đàm ở phía sau hay bay trên trời bằng trực thăng chỉ huy mà phải có mặt tại tại chỗ nơi các Đại đội, Trung đội và Tiểu đội đang đụng độ trực tiếp với kẻ thù.

Vào tháng 11 năm 1943, với cấp bậc Thiếu tá, 27 tuổi thuộc Sư đoàn 2 TQLC, Michael Patrick Ryan được công nhận đã góp phần vào trận chiến thắng đặc biệt đẫm máu tại Tarawa nhờ tài chỉ huy và lòng dũng cảm. Ryan đã tập hợp được một Tiểu đoàn hỗn hợp từ những Đại đội bị thiệt hại sau khi đổ bộ xuống bờ biển dưới hỏa lực tàn sát và thảm khốc của quân Nhật. Hành động của Thiếu tá Ryan đã giúp làm giảm áp lực đang đè lên Trung đoàn 2 TQLC của Đại tá Shoup và giúp quân Mỹ lấy lại được thế thượng phong. Có người tin rằng nếu không có sự chỉ huy của Thiếu tá Ryan, chiến thắng tại Tarawa chắc chắn đã phải trả bằng một giá đắt hơn. Do công lao trong khoảng thời gian 76 giờ tại địa ngục đó, Thiếu tá Ryan đã được tặng thưởng Huân Chương Hải Quân. Ông năm nay đã 51 tuổi, một vị tiền bối nếu so sánh với các TQLC của Đại đội Lima. Thật nói không ngoa là đối với các TQLC đã từng biết ông, tướng Ryan là một nhân vật huyền thoại của TQLC vào thời điểm năm 1967.

Đại úy Ripley đang bận túi bụi khi tướng Ryan bay đến mà không thông báo trước nhằm đích thân thị sát mặt trận. Trung đội 1 và 2 của Ripley đang đụng độ nặng với bộ đội Bắc Việt một hồi lâu rồi. Tổn thất phe ta đã khá nặng nề mà còn đang chờ trực thăng tản thương lúc tướng Ryan đến thăm các vị trí tạm của Lima. Trong lúc tiếng súng vẫn còn đang bắn nhau giữa hai bên thì tướng Ryan sánh bước cùng Đại úy Ripley rảo qua các xác chết của TQLC và địch quân lẫn lộn nhau trên chiến địa hiện nằm trong tay TQLC Hoa Kỳ.

Có lẽ cảnh tượng rùng rợn nhất trên mảnh đất bé xíu mới chiếm được của TQLC là khẩu liên thanh loại Maxim có bánh xe, đúng chiếc đã bắn chết Thiếu úy Goodwin và Hạ sĩ Strahl. Khẩu súng này đã bị phá hủy gần một tiếng đồng hồ trước đó bởi một quả lựu đạn tay phốt-pho trắng mà lính TQLC gọi là “willy-peter” hay “willy-pete.” Tay xạ thủ Bắc Việt vẫn còn đang ngồi dán mình vĩnh viễn trên ghế, ngay cả trong cái chết vẫn cố gắng nhả đạn hướng về phía tấn công của TQLC. Sự kiện khẩu súng đã bị phá hủy bằng lựu đạn cầm tay trong lúc cận chiến chứng tỏ là trận đánh hết sức khốc liệt và tổn thất cao.

Mặc dù vừa trải qua một ngày đặc biệt khó khăn, và các TQLC Đại đội Lima còn chưa hết căng thẳng, nhưng sự hiện diện của cái thây ma da thịt còn bốc khói mà trước đó còn là một con người, và mùi hôi của da thịt bị đốt cháy trộn lẫn với hóa chất nào đó của trái lựu đạn willy-pete gây ra một cảm giác khá lạ lẫm. Cảnh tượng này đập vào giác quan mạnh hơn và nhấn mạnh toàn bộ trận chiến là một cái gì đó vô lý và siêu thực. Hình ảnh tay xạ thủ bị chết cũng tạo cho các TQLC một cảm xúc kỳ lạ phảng phất tính phục thù và hài lòng. Một tình cảm cá nhân đã trả được mối thù, nhất là đối với những người trong Trung đội 2.

Hàng đống thiết bị của địch quân nằm vương vãi khắp chiến trường, hầu hết bị hất văng lung tung bởi cường lực nặng của không tập và pháo binh mà Ripley đã gọi đến. Ông tướng đã ra lệnh cho các TQLC từ trên trực thăng là cố bảo quản những chiến lợi phẩm quan trọng, nhất là cỗ máy truyền tin lớn do Trung Cộng sản xuất còn nguyên vẹn để mang về phía sau cho tình báo khám xét.

Trong lúc duyệt sát tuyến phòng thủ với ông tướng, Đại đội trưởng Ripley vẫn tiếp tục tham mưu và động viên tinh thần binh lính TQLC, bảo đảm là các đường liên lạc được thông suốt, và đạn dược được chia lại từ những người đã hi sinh hay bị trọng thương không thể chiến đấu được nữa. Những người bị thương nhẹ, trong thời điểm này chiếm một tỉ lệ cao trong quân số của Đại đội Lima vẫn tiếp tục cầm súng và rất ít, hay là không có một ai màng đến chuyện được tản thương đi.

Tướng Ryan thị sát toàn bộ chiến trường. Ông khá quen thuộc với cảnh chiến đấu cùng cực vì đã từng ở vào những hoàn cảnh tương tự. Trong lúc hai người tiếp tục đi thanh tra và chậm rãi trở về vị trí chiếc trực thăng của viên tướng đậu trên bãi đáp tí hon ngay trung tâm cái trảng thì cuộc trò chuyện tập trung vào Đại đội Lima phải làm gì. Ông tướng hứa sẽ tìm mọi cách để tăng cường hỏa lực yểm trợ và tăng viện. Ông biết đây là một cuộc đụng độ lớn và Đại đội Lima đang đối chọi với một lực lượng lớn hơn rất nhiều. Tướng Ryan nhận ra sự thiệt hại về phía TQLC nhưng ông cũng thấy đây là cơ hội có thể tiêu diệt bộ chỉ huy của một đơn vị cấp trung đoàn Bắc Việt.

Khu vực hiện thuộc quyền kiểm soát của TQLC rõ ràng là một kho tàng chiến lợi phẩm đầy trang thiết bị của bộ đội Bắc Việt, hầu hết còn trong thùng đựng từ xưởng sản xuất đưa ra sẵn sàng để được sử dụng. Những cái thùng và hộp còn nguyên vương vãi khắp nơi cùng với hàng đống vũ khí, đồ tiếp liệu y khoa, ba lô, đủ mọi thứ chỉ trừ không có bóng dáng các cán binh Bắc Việt ở đâu.

Họ bước gần đến chiếc trực thăng đang chờ với máy còn nổ dòn. Phi công nhận ra họ và vội vàng sửa soạn cho chuyến bay. Động cơ cánh quạt quay tít lên. Át tiếng rú của con chim sắt đang chực phóng lên, Tướng Ryan và Đại úy Ripley trao đổi những câu đối thoại cuối cùng:

“Anh nhắm giữ được vị trí này không, Đại úy Ripley?”
“Dĩ nhiên là được, thưa Thiếu tướng, chúng tôi giữ được.”
“Tôi sẽ chuyển hết các hỏa lực yểm trợ sẵn có của vùng I cho Đại đội Lima. Tôi sẽ yểm trợ tối đa hỏa lực cho anh.”
“Cám ơn Thiếu tướng.”
“Tiếp tục nhé Đại úy Ripley. Anh cừ lắm, skipper. Rất khá.”
“Vâng, thưa Thiếu tướng.”

Cánh quạt trực thăng đã quay hết cỡ trước khi ông tướng trèo lên. Ngay khi ông vừa đặt chân lên càng máy bay và chưa kịp ngồi xuống thì tay phụ trách bãi đáp đã giơ ngón cái ra dấu cho viên phi công. Vỏn vẹn vài giây đồng hồ sau máy bay đã cất cánh và thêm vài giây nữa là họ rời khỏi cái bãi đáp tí hon và vượt qua khỏi tàng cây. Đại đội Lima lại đơn thân độc mã. Ngày còn dài và chưa hề xong đối với họ.

Mặc dù Ripley rất trân trọng sự hiện diện của tướng Ryan ngoài mặt trận nhưng ông cũng hài lòng là không phải bận tâm đến sự kiện bọn Bắc Việt có thể nhắm vào một mục tiêu quan trọng như vậy. Ripley biết chắc bọn nó đang quan sát từ khu rừng rậm chung quanh và không muốn chúng chú ý đến đơn vị của ông nữa. Một chiếc trực thăng tư lệnh UH-1 to tướng màu xanh lục với động cơ còn quay tít chắc chắn sẽ là một miếng mồi quyến rũ cho đối thủ, giống như dán một tấm bảng “Đây nè” ngay giữa trán. Ripley không cần những chuyện này.

Vừa bay lên trời, tướng Ryan lập tức liên lạc trên mạng lưới điện đàm để tìm hết cách gọi hỏa lực yểm trợ, tiếp viện đồ tiếp liệu và nhân sự, cũng như di tản thương binh. Đại đội Lima đang cần tất cả những thứ đó và ngay lập tức.

Cuộc giao tranh giữa Đại đội Lima và bộ đội Bắc Việt vẫn tiếp diễn khốc liệt, không thương tiếc nhưng với nhịp độ tương đối chậm hơn lúc khởi đầu. Một phần lý do cho những lúc tạm lắng, ngoài chuyện hết đạn dược có lẽ cả hai bên đang bị lâm vào còn có nguyên nhân là tất cả mọi người đều đã kiệt sức.

Chẳng bao lâu sau thì trực thăng của tướng Ryan bay trở lại ngay trên đầu họ. Trong lúc trực thăng còn đang treo trên bãi đáp thì John Ripley chạy tới phất tay ra dấu phải bay đi ngay. Ripley biết là bọn Bắc Việt sẽ không bỏ lỡ cơ hội thứ hai này để bắn hạ chiếc trực thăng và một số TQLC quanh đó.

Về tình hình tại Trung đội 1 thì mọi người trong lúc này, có lẽ kể cả tụi Bắc Việt nữa, đã gần như cạn sạch cả adrenalin và đạn dược. Không một ai, dù là người khỏe nhất, có thể tiếp tục duy trì cái nhịp độ như lúc đầu cho đến nay. Ngay trước khi trực thăng của ông tướng bay trở lại thì có nguồn tin là Tiểu đoàn 3/3 đã trực thăng vận được một số tăng viện, nhặt nhạnh từ các bộ phận hành chánh và yểm trợ từ hậu cứ. Họ được thả xuống một bãi đáp phía sau xa hơn vị trí hiện nay của Đại đội Lima. Ripley vội gọi điện thoại cho Trung đội 1 điều một người xuống dọc con đường mòn để đón họ lên.

Quân số Trung đội 1 hiện trải ra khá mỏng. Trung đội 2 sát bên sườn trái án ngữ sâu xuống thêm khoảng một trăm thước nữa. Ban chỉ huy của Trung đội 1 gồm Thiếu úy Heekin, Thượng sĩ Witkowski và Hạ sĩ Goggin, trấn thủ ở vị trí thuận lợi nhất để kiểm soát tình hình, tức vào khoảng 10 thước phía sau và ở khoảng giữa Trung đội. Giống như các đồng đội khác, cả ba đều bở hơi tai. Trong thoáng chốc, cuộc giao tranh tạm dừng và đơn giản là họ đã gục tại chỗ để nghỉ ngơi.

Tình trạng mong manh của Đại đội Lima chỉ còn kết dính lại bằng sức mạnh của lòng quyết tâm và ý chí chung. Tình hình có vẻ như mọi thứ sắp sửa đồng loạt vượt ra khỏi tầm kiểm soát. Khi nghe tin quân tiếp viện đã đến, Ripley và một nhân viên truyền tin của anh chạy vội ra chỗ trực thăng của Thiếu tướng Ryan sắp đáp để bảo họ rời ngay. Đúng lúc đó thì sự nhanh nhẹn của Hạ sĩ Goggin có lẽ đã cứu mạng sống của chính anh.

Là một “bô lão” của Trung đội 1, Thượng sĩ Witkowski chỉ trạc 30 hoặc 32 tuổi là cùng. Hạ sĩ Goggin thấy ngay là Thượng sĩ “Ski” và Thiếu úy Heekin đều đã kiệt sức cả rồi. Do đó, đáng lẽ Thượng sĩ “Ski” là người thích hợp nhất để ra phía sau đón tiếp viện thì Hạ sĩ Goggin tình nguyện: “Đừng lo Thượng sĩ, để em đi đón họ cho…”

Thiếu úy Heekin và Thượng sĩ “Ski” còn đang nằm phục dưới đất. Goggin, vai đeo cái máy Prick 25, dựa lưng vào cành cây nhỏ để làm giảm sức nặng cái máy truyền tin đang đè nặng trên vai. Sau đó anh ngồi dậy bước ra phía sau với bộ ống nghe vẫn còn gắn trên nón sắt. Chuck Goggin chưa đặt xong bước đầu tiên thì đã nghe tiếng “ụp ụp” quá quen thuộc của bích kích pháo bắn đi át cả tiếng vùn vụt của cánh trực thăng đang quay. Lúc đó Đại úy Ripley còn đang cố phất hiệu cho trực thăng bay đi. Goggin vội vàng nhào xuống, nghĩ rằng anh và mọi người chung quanh đang là mục tiêu của bọn đề-lô Bắc Việt gần đó. Ngay đằng trước khoảng trống nhỏ mà Thiếu úy Heekin, Thượng sĩ “Ski” và anh đang ẩn núp có một số thùng nước cỡ năm gallons có lẽ do ai đó trong toán tiếp viện mang lên trước kia. Miệng cầu trời là những cái thùng còn đầy nước để hấp thụ bớt các mảnh đạn khi anh nhào qua phía bên kia, Hạ sĩ Goggin vừa chạm đất thì cùng lúc đó một quả đạn cối bắn trúng chỗ núp. Thực ra thì đó là những can nước không, nhưng anh đã đủ xa nơi trái pháo rớt xuống. Cảm giác cháy bỏng bên cổ chân trái khiến Goggin biết là anh đã bị trúng miểng. Anh bị thương nhưng không nặng lắm. Sau một giây bàng hoàng anh ngó về phía Thiếu úy Heekin và Thượng sĩ “Ski.” Họ đã không được may mắn như anh.

Loạt bích kích pháo vừa qua đã rơi xuống gần họ hơn. Không đầy một phút sau khi Goggin nhào đến Thiếu úy Heekin thì anh biết Heekin đã ra đi. Thượng sĩ “Ski” có vẻ cũng sắp cùng chung số phận.

Đợt pháo kích làm tê liệt Trung đội 1 đã được thực hiện hoàn toàn chính xác. Không ai chối cãi là bọn Bắc Việt sử dụng súng cối rất giỏi. Cùng với loạt pháo kích đó là một đợt khác quá gần đến nỗi Đại úy Ripley thấy cả những trái đạn súng cối địch với màu sắc đặc thù chậm rãi bay lên cực điểm đạn đạo rồi thong thả rơi xuống vị trí của Ripley. Anh chắc chắn là một trong những trái đạn đã rơi xuyên qua như phép lạ cái cánh quạt trực thăng đang bay của Thiếu tướng Ryan. Tay trưởng cơ đã chất đầy y cụ tối cần thiết phía sau máy bay và đang bận đạp chúng xuống trong lúc máy bay còn đang lơ lửng vài thước trên mặt đất. May mắn thay, viên phi công giữ trực thăng vừa đủ cao do đó khi viên đạn nổ anh ta không bị thổi tung trên không. Anh nhận ra tình thế hiểm nghèo và tống ga vọt lên trời tránh ra khỏi vùng nguy hiểm.

Đại úy Ripley và viên truyền tin mải cố gắng ra hiệu cho trực thăng bay đi để kẻ thù không còn cái mục tiêu khổng lồ nhắm vào thì lại không được may mắn như phi hành đoàn trên trực thăng của ông tướng. Trái đạn rơi xuyên qua cánh quạt trực thăng đang quay có vẻ đã nổ ngay trên một trong những thùng thuốc men bên dưới. Tay phi công trực thăng đã nhanh nhẩu lái nhanh ra khỏi vùng rồi.

Nhiều trái đạn rơi xuống nữa. Một trái rớt trúng làm bắn tung Đại úy Ripley và tay truyền tin lộn ngược đầu trên không, tai còn đang đeo máy nghe và miệng như thể vẫn còn đang liên lạc điện đàm. Cả hai rơi xuống đất cách một khoảng xa. Cơn bàng hoàng ban đầu làm họ mất hết phương hướng. Đối với Lima “đích thân,” cảm giác đầu tiên là anh đã bị thương nặng rồi. Bị tung lên trời và trúng miểng ở bên sườn trái, Đại úy Ripley rơi xuống đất phía bên phải với cái báng súng nằm giữa anh và mặt đất của vùng I Chiến Thuật.

Anh bị gãy liền mấy bẹ xương sườn. Cảm giác đau đớn ngay lập tức cả hai bên ngực làm anh có cảm tưởng đã bị bắn xuyên táo gọn ghẽ. Tay truyền tin thì máu me đầy người. Lắc đầu để xua đi cơn bàng hoàng, Ripley hoàn hồn là anh chưa chết nhưng không kịp ngăn một tay truyền tin khác chạy lên kiểm tra tình hình và la lối trong máy rằng: “Xếp bị trúng đạn rồi! Xếp bị trúng đạn rồi!”

Hạ sĩ Goggin nghe được điện đàm báo tin số phận của xếp và tin ngay là thật mà không kịp kiểm chứng lại. Thiếu úy Goodwin đã bị ngã trước đó rồi. Thiếu úy Heekin và Thượng sĩ “Ski” cũng đã tử trận, tất cả sĩ quan chỉ huy coi như đã ra đi. Trong khung cảnh đất trời rung chuyển chung quanh, Chuck Goggin – ngay cả tay TQLC lạc quan và tự tin nhất này – cũng phải phân vân trong chốc lát. Sau đó anh buột miệng: “Chúa ơi! Họ đi cả rồi. Chúng ta chắc không qua nổi con trăng này đâu. Không xong rồi…” Rồi anh nhìn kỹ lại và nhận ra phía dưới viên “Đích thân” Lima 6 đang gượng đứng lại được. Bóng mây nghi ngờ tan dần.

Trong khoảng thời gian cái thông tin sai lạc được loan đi thì tiếng súng nổi dậy dường như mãnh liệt hơn. Bọn Bắc Việt chắc hẳn đã nghe được. Mặc dù người chỉ huy đã thật sự bị văng lên trời rồi gượng đứng lên được nhưng sự tác hại đã xảy ra. Bọn lính Bắc Việt giống như lũ cá mập đang lượn quanh chờ cú giết cuối cùng.

Các chiến binh TQLC trong Đại đội Lima nếu còn thở và bấm cò súng được đều phải chiến đấu cho sự sống còn của chính họ và liều mình vào trận đánh chỉ trong tầm sát hại năm thước quanh những quả lựu đạn Chi-com hay lựu đạn công phá (HE) của Mỹ. Đối với các Tiểu đội trưởng thì khoảng cách có lẽ xa hơn gấp ba hoặc năm lần và đối với trung đội trưởng thì rộng hơn một chút. Đại đội trưởng thì nhiệm vụ vô cùng nặng nề trong cái thế giới viễn ảo khoảng 150-200 thước anh chịu trách nhiệm. Tuy mới bị thương khá nặng nhưng Đại úy Ripley vẫn nắm vững tình thế chỉ huy như một phép lạ nào đó.

Chuck Goggin, mới được thăng Hạ sĩ hai ngày trước đây, còn quá non đối với ba tay Tiểu đội trưởng nhưng có cái nhanh trí cho rằng bọn Cộng sản đang nghe lén các cuộc điện đàm. Cường độ của hỏa lực địch tăng mạnh ngay sau khi tin vị chỉ huy bị trúng đạn được loan đi không thể là do tình cờ được. Điều cuối cùng Goggin không muốn bọn Bắc Việt biết là Thiếu úy Heekin cũng đã bị chúng giết chết rồi. Nhưng Đại úy Ripley cần phải hay tin này. Và ông ta cũng cần phải biết Chuck có khả năng nắm quyền thay thế. Ít nhất tạm thời lúc này.

Trong hoàn cảnh này thì tuyến phòng thủ của Đại đội Lima còn tương đối thẳng và vững vàng một cách đáng kinh ngạc. Xuyên qua trảng trống và mảnh rừng gẫy nát đầy bụi tạo ra bởi chất nổ, Goggin nhận ra viên xếp khoảng chừng 100 thước phía dưới phòng tuyến, đang chỉ huy binh lính và phối hợp hỏa lực yểm trợ. Chuck Goggin vụt chạy tới. Anh chạy tưởng chừng như mạng sống anh trông cậy vào điều đó. Và thật đúng như vậy. Cuộc đàm thoại giữa hai người hết sức ngắn ngủi. “Xếp ơi, Thiếu úy và Thượng sĩ Ski đi rồi. Em thay được lúc này…”

“Goggin, Trung đội 1 giao cho anh. Coi chừng hai bên sườn. Đừng để bọn nó đánh ngang sườn!” Chỉ có vậy thôi. Goggin chạy vội trở về Trung đội 1.

Kể ra thì Đại úy Ripley không cần phải dặn dò Hạ sĩ Goggin phải canh chừng mạn sườn vì mọi người đều đã rõ. Hạ sĩ TQLC Charles Francis Goggin, mới chỉ 13 tháng gia nhập TQLC đã nắm quyền chỉ huy phần sống sót còn lại củaTrung đội 1. Anh đã trở thành “đích thân” Lima 1.

Chuck Goggin, bây giờ là Trung đội trưởng, biết trách nhiệm và quyền hạn anh đã tăng lên nhiều hơn. Anh nắm vững nhiệm vụ trước của anh và tầm quan trọng của truyền tin đối với một Trung đội. Anh gọi xuống tuyến dưới ven rừng nơi mà quân số còn lại của Trung đội 1 đang kháng cự lại quân địch đang ẩn kỹ. Anh nhắm vào binh nhất George Petri, một tay TQLC xuất thân từ Brooklyn. Goggin biết là tay này khá cứng cỏi và vững vàng trong mọi tình huống tồi tệ nhất. Cuộc trao đổi chỉ dài hơn cuộc nói chuyện với Đại úy Ripley một chút.

Hạ sĩ Goggin ra lệnh: “Petri, lên đây ngay!”

“Sao vậy?”

“Thiếu úy Heekin ngã rồi. Xếp mới giao Trung đội cho tao và tao cần truyền tin.”

“Tôi đâu có biết cách nói điện đàm.”

“Mày đừng lo. Vác cái máy. Để tao nói.”

Chỉ có vậy thôi.

Với tư cách truyền tín viên cho Trung đội 1, Hạ sĩ Goggin vẫn luôn là người biết được nhiều chuyện hơn hết trong các đồng đội. Anh là người chuyển tin đi và anh cũng là người nhận các tin tức về. Anh còn là người của Trung đội 1 có nhiệm vụ theo dõi tất cả các cuộc điện đàm trong Đại đội.

Chỉ cần một thời gian ngắn thì một nhân viên truyền tin – mặc dù thông minh vừa phải thôi – cũng có thể đánh giá được các hành động và tâm tính những nhân vật mà anh thường nghe. Sau một thời gian dài hơn nữa thì đừng hòng mà họ qua mặt nổi một nhân viên truyền tin lành nghề. Mức độ sợ hãi hay bực bội của một cấp chỉ huy khi ra lệnh qua điện đàm đều biểu lộ ra rõ ràng với một tay truyền tin lão luyện. Làm nhiệm vụ truyền tin giống như là tham gia vào một mối liên hệ kỳ cục giống như vợ chồng vậy. Do đó, nhân viên truyền tin thường phải “ăn ngủ” với các “nàng dâu,” phải nhìn mặt mũi họ không phấn son trang điểm mỗi buổi sáng, ngày nào cũng vậy. Nhân viên truyền tin hiểu rõ từng mặt mạnh và nét dị hợm của mỗi sĩ quan chỉ huy cũng như các tay truyền tin khác trong cùng mạng lưới điện thoại. Sự căng thẳng thường xuyên không dứt của chiến tranh không cách nào dễ nhận thấy hơn là nghe họ liên lạc với nhau bằng điện đàm. Chia sẻ mạng lưới điện thoại, đặc biệt trong các tình thế cùng cực, trên thực tế là cơ hội để thấu hiểu tâm tư tình cảnh của mỗi người trong mạng lưới.

Trong nhiều mặt mà Hạ sĩ Goggin kính trọng vị chỉ huy Đại đội mà anh thường xuyên quan sát hay nghe qua điện thoại là trong tình thế khẩn trương, đặc biệt nóng bỏng như hôm nay thì “đích thân” Lima 6 tỏ ra là người điềm tĩnh nhất. Tuy mới chỉ là lính TQLC trong vòng có 13 tháng nhưng Goggin cũng đủ già dặn để nhìn ra là mức độ tự tin hay sợ hãi của sĩ quan chỉ huy đã tác động đến kết quả của trận đánh. Vào cuối chiều ngày 2 tháng 3, 1967 đó, mặc dù bị thương tích, kiệt sức, cả Đại đội tan tác nhưng Đại úy Ripley vẫn tỏ ra không chút nao núng, hay ít nhất là không hề có dấu hiệu chịu thua. Goggin, một người mới được thăng cấp thành Trung đội trưởng Trung đội 1 nhận xét như vậy.

Chẳng ai có thời giờ mà cành nanh Hạ sĩ Goggin còn kém thâm niên hơn các Tiểu đội trưởng mà anh chỉ huy cả. Hoàn cảnh là như vậy và cũng không ai hơi đâu chỉ trích hay ganh tị. Cuộc chiến tiếp diễn, thỉnh thoảng có những lúc tạm dừng hay tạm lắng, có vẻ như phù hợp với những lúc cần tiếp tế, di tản thương binh hay đơn giản hơn là mọi người mệt mỏi và hỗn loạn cùng cực quá rồi. Có một lúc Đại úy Ripley đủ tỉnh táo để quan sát trong bao lâu thì Đại đội hết đạn sau một đợt tiếp tế. Ripley nhận ra là họ cạn sạch đạn trong vòng dưới năm phút đồng hồ.

Về phía quân đội Mỹ thì đơn vị tăng viện trên bộ lớn nhất là Đại đội India, một trong các Đại đội khác của Tiểu đoàn 3/3. Họ đang di chuyển nhanh xuyên rừng tìm đường vào trận địa. Vào lúc buổi sáng khi đụng độ, sĩ quan hành quân Tiểu đoàn đã báo cho Ripley biết là Đại đội India cần tám tiếng đồng hồ mới vào tới nơi được. Trong lúc chờ đợi thì Lima phải sử dụng những người còn lại của Tiểu đoàn như tài xế lái xe tải, nhân viên hành chánh, đầu bếp, nói chung tất cả những người nào đã từng tốt nghiệp San Diego hay Parris Island.

Giữa các chuyến trực thăng đáp xuống trên bãi đáp vài trăm thước phía sau trận tuyến, nơi quân tiếp viện và đạn dược được mang tới, Chuck Goggin đã có trận cười lần đầu tiên trong ngày. Khi trực thăng tiếp tế đáp xuống bãi lần thứ tư hay thứ năm gì đó, Goggin nhận thấy một gã trẻ tuổi trèo xuống trực thăng trong bộ quân phục xanh lục sậm gồm quần láng coóng chưa phai màu và áo jacket còn mới tinh. Mắt hắn mở to vì sợ hãi, mặt thì trắng bệch chưa thấm sương gió rừng rậm. Hắn chính là một tên bạn từ trong trại huấn luyện và sau này đã trở thành nhân viên hành chánh. Anh chàng sắp sửa phải ăn lương chiến đấu thật sự, và phải sống với câu châm ngôn cũ của TQLC Hoa Kỳ là “Mỗi TQLC là một tay súng.” Cười thầm trong bụng nhưng cũng tôn trọng nỗi sợ hãi của anh lính chiến lần đầu tiên ra trận, mà lại là một thử thách quan trọng nhất sắp sửa phải đối đầu, tân Trung đội trưởng Trung đội 1 Goggin chỉ biết truyền đạt lại một ít kiến thức có thể san sẻ được trong lần tái ngộ ngắn ngủi này trước khi chuyển tên bạn thân ra tuyến đầu đụng độ

 

.Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM

CƯỠI NGỌN SẤM(9)

cuoingonsam

richardbotkin

Chương 4: Nhiệm vụ cảm tử

Trung đội 1, Đại đội Lima, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 3 (3/3)
Vùng 1 Chiến Thuật, VNCH

Thứ Năm, ngày 2 tháng 3 năm 1967 4 giờ 30 chiều
Đối với các TQLC Hoa Kỳ thuộc Đại đội Lima 3/3 đã sống sót qua cái trận đánh không tên, mà chỉ được mệnh danh bằng một tọa độ mờ nhạt ở đâu đó trong khu rừng rậm phía Tây Bắc Đông Hà gần khu phi quân sự trong buổi sáng ngày 2/3/1967, thì đó là thời điểm đã xác định, đã đánh dấu, cũng như đã thử thách xem họ có đủ các đặc tính giúp họ vượt qua được tất cả những gì mà chiến tranh có thể giáng lên họ.

Vào khoảng 3 giờ chiều ngày 2/3/1967, Chuck Goggin, mới thăng cấp Hạ sĩ hai ngày trước đó vì nhu cầu chiến trường đã lên nắm quyền chỉ huy các chiến binh sống sót thuộc Trung đội 1 Đại đội Lima. Chưa đầy 13 tháng trước đó, Chuck Noggin chỉ là một thường dân, một lực sĩ trẻ đầy triển vọng đang sửa soạn vào đội ngoại hạng Liên đoàn bóng chày Mỹ. Là một trong một nhóm nhỏ các TQLC thực sự bị động viên trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, Chuck đã được lên binh nhất trong khóa huấn luyện căn bản đã được rút ngắn lại chỉ còn tám tuần do đòi hỏi của chiến tranh. Tiếp theo những ngày gian khổ tại Parris Island là trường ITR, (Infantry Training Regiment – Trung đoàn Huấn Luyện Bộ Binh), tức một chương trình huấn luyện bốn tuần lễ dành cho các TQLC sửa soạn lên đường chiến đấu ngoài mặt trận. Vậy mà bây giờ anh đã nắm quyền chỉ huy sinh sát của những binh sĩ sống sót của Trung Đội 1 Đại đội Lima trong một trận đánh sống còn của đời anh.

Từ tháng 7 cho đến thượng tuần tháng 12/1966, Chuck là một chú lính quèn thuộc một trong ba Tiểu đội của Trung đội 1 Đại đội Lima. Thời gian đó đủ dài để biến đổi anh từ một người lính tò te trở thành một chiến binh dày dạn kinh nghiệm trong rừng rậm. Thời gian 5 tháng đó đã tạo cho anh cơ hội được tham dự chiến trận nhiều hơn là anh tưởng, cho anh chứng kiến quá nhiều đồng đội bị giết hay bị thương, và đã phát triển tình đồng đội của anh với các TQLC khác lên tới mức vượt qua tất cả những gì mà anh có thể thấy được ở bất cứ nơi đâu.

Thiếu úy John Bledsoe đã chú ý đến sự xông xáo và khả năng chỉ huy của Chuck Noggin nên đã chọn anh, lúc đó là Hạ sĩ, làm nhiệm vụ liên lạc truyền tin cho Trung đội vào đầu tháng 12. Vai trò truyền tin hết sức đặc biệt. Thông thường, kẻ địch luôn luôn nhắm bắn đầu tiên vào vị chỉ huy đơn vị, sau đó là binh lính chung quanh và nhân viên truyền tin. Cộng thêm vào chuyện trở thành mục tiêu của kẻ thù là cái thử thách phải đeo thêm khối nặng 30 cân Anh kể cả bộ pin dự bị của máy truyền tin AN/PRC-25’s (gọi là “prick 25

Nhiệm vụ truyền tin đòi hỏi phải luôn luôn đi sát như bóng và hình với sĩ quan chỉ huy mà anh phục vụ. Họ đi tới đâu thì phải theo sát tới đó. Khi truyền tin chưa cần phải gọi pháo binh, gọi không yểm hay di tản thương binh thì họ cần phải chú ý tiếp nhận lệnh lạc từ đơn vị trực tiếp cấp trên gọi xuống. Trong trường hợp Hạ sĩ Goggin thì đó chính là các mệnh lệnh từ Đại đội trưởng. Các Trung đội trưởng, Đại đội trưởng thường sống, ăn ngủ và chiến đấu bên cạnh các nhân viên truyền tin riết rồi trở thành đồng cảm với nhau. Cường độ của các trận giao tranh đã làm cho mối tương quan và nhu cầu sống còn phát triển mạnh mẽ đến mức một nhân viên truyền tin giỏi có thể đoán được ý xếp của mình để hành động trước và gần như biết hết những gì cần làm, phải yêu cầu cái gì và khi nào thì cần xin hỏa lực yểm trợ.

Cơ hội được quan sát thường xuyên các hoạt động của các sĩ quan đã từng được huấn luyện qua trường lớp, được chứng kiến sự phối hợp giữa các đơn vị yểm trợ với nhau để bảo đảm thành công, được thấy từng phần ăn khớp với nhau để kết thành một bức tranh toàn thể rộng lớn như thế không thể có được khi ở vị trí một binh sĩ bình thường. Một nhân viên truyền tin đặc biệt sáng suốt còn có thể học hỏi thêm khi quan sát các toán quân di hành, phải làm những gì để dẫn dắt một đơn vị chạm được địch và điều chỉnh pháo binh vào một mục tiêu di động. Nếu 5 tháng đầu tiên của chu kỳ nhiệm vụ tại Việt Nam là trình độ “cử nhân” về kỹ thuật chiến đấu thì Hạ sĩ Goggin đã bắt đầu chương trình “thạc sĩ” mà không cần phải trình luận án, kể từ cái ngày anh đeo vào vai cái máy truyền tin PRC-25. May mắn cho các binh sĩ của Trung đội 1 là Hạ sĩ Chuck Goggin đã chứng tỏ nhiều lần anh là một người học rất nhanh.

Không có gì bất thường cả, do cách mà những cá nhân được thuyên chuyển qua lại, bị thương hay thiệt mạng mà nhiều đơn vị được chỉ huy bằng những người mang cấp bậc thấp hơn là cấp số chức vụ. Chu kỳ nhiệm vụ của Thiếu úy Bledsoe với Đại đội Lima 3/3 đã chấm dứt vào tháng 12/1966. Vì thiếu sĩ quan cấp úy để nắm quyền Trung đội ngay tức khắc nên chức Trung đội trưởng rơi xuống viên Thượng sĩ của Trung đội 1. Thượng sĩ nhất Gerald Witkowski, lẽ đương nhiên được các TQLC gọi là “Thượng sĩ Ski”, đã đảm nhận nhiệm vụ Trung đội trưởng trong vòng chín đến mười tuần tiếp đó cho đến khi có một sĩ quan cấp úy khác đến thay. Thiếu úy Terry Heekin, mới tốt nghiệp trường Căn Bản Quantico rốt cuộc là người đến thay vị tiền nhiệm chỉ một vài ngày trước trận đụng độ của Đại đội Lima vào ngày 1 tháng 3/1967.

Trước kia, Chuck Goggin từng là cầu thủ bóng chày. So với đa số các đồng đội trong Trung đội 1 và Đại đội Lima, anh tương đối là một người lớn hơn hết với số tuổi gần hai mươi hai. Anh xong trung học tại trường Pompano Beach năm 1963 và là một ngôi sao trong đội bóng chày. Anh đã theo học một thời gian trong trường Đại học tại Florida trước khi được đội Los Angeles Dodgers chọn vào năm 1964. Trong hai năm trời anh chơi cho các đội hạng A của Dodgers, khởi đầu ở vị trí ngăn chặn với đội Salisbury Dodgers trong Liên đoàn West Carolina và sau đó giữ chân phòng thủ trong đội St. Petersburg Saints của Liên đoàn Tiểu bang Florida. Trong mùa đầu tiên anh đã bị chấn thương trặc gân chằng ở đầu gối trái, một dạng thương tích cần phải giải phẫu và đã để lại một vết thẹo lớn, một bệnh trạng có thể được hoãn dịch quân sự nếu anh muốn. Tuy nhiên đó không phải là cung cách sống của Chuck Goggin.

Ngoài những thời gian không sao kể siết phải canh điện đàm, đào hầm cá nhân, lội đường mòn trong rừng rậm, hay đánh nhau với thời tiết và quân Bắc Việt, thỉnh thoảng Hạ sĩ Goggin cũng có những giây phút xa hoa để ngẫm nghĩ về cái thế giới của bóng chày và đau lòng nhận ra là mọi chuyện vẫn trôi qua mà không cần sự có mặt của anh.

Vào khoảng thời gian Đại đội Lima bận luân chiến với các đơn vị Bắc Việt đang vô vọng cố tình muốn tiêu diệt họ bằng mọi giá thì các bạn thể thao cũ của Chuck chẳng hề quan tâm đến chuyện gì đang xảy ra tại phía Bắc Vùng 1 Chiến Thuật mà bắt đầu vào đợt tập dượt mùa Xuân. Họ chỉ lo có được tham gia đội hình hay không. Trong khi Đại đội Lima đang bị nung lửa gần khô cháy trong lò nung rừng rậm ẩm ướt của Việt Nam lại còn bị hạn chế nước uống nữa thì Goggin biết là nhóm bóng chày bạn cũ hằng đêm vẫn vui chơi với gái tơ có đầy dẫy tại xứ nắng ấm Florida.

Trong nỗ lực liên tục để truyền bá và huấn luyện các cấp chỉ huy, quân chủng TQLC Hoa Kỳ đã thành công trong việc nhấn mạnh các nguyên tắc về chỉ huy, đặc biệt là trong chiến đấu. Trong khi lớp học chỉ tập trung vào những khái niệm căn bản nhất và biến chúng thành các chữ tắt hay mẹo vặt cho dễ nhớ và làm bài tập thì thực tế ngoài đời thật khó khăn hơn rất nhiều. Khi tất cả các châm ngôn lãnh đạo, mà thường có vẻ như một trang cóp nhặt từ sách của Hướng đạo sinh được xào nấu cho hợp thực tế, thì mọi điều có thể được tóm lược là; người chỉ huy thành công là người biết chăm lo cho cả hai việc hoàn thành nhiệm vụ được giao phó và chăm lo cho binh sĩ của mình. Có một câu nói đùa đã lâu đời rằng điểm khác biệt duy nhất giữa Hướng đạo sinh và TQLC là ít nhất Hướng đạo sinh được người lớn đi theo dìu dắt. Nếu một cấp chỉ huy có thể kết hợp lại được tất cả các yếu tố phức tạp cần thiết để thi hành nhiệm vụ mà vẫn chăm sóc thực tình cho thuộc hạ thì cơ hội thành công rất cao. Hoàng đế Napoléon đã từng tuyên bố: “Các Trung đoàn không hề dở mà chỉ có các Đại tá kém.” Và có một người Pháp Dutourd vài năm sau Napoléon đã nhận xét tương tự với câu nói bất hủ: “Người lính không phải là những con sư tử hay con cừu. Chính người chỉ huy biến họ thành sư tử hay cừu.” Đại úy John Walter Ripley muốn bảo đảm rằng các TQLC của ông sẽ xung trận như những con sư tử. Mục đích của Ripley là Đại đội Lima sẽ trở thành đúng nghĩa của nó là chúa sơn lâm trong chốn rừng xanh.

Công việc xây dựng Đại đội Lima trong đầu viên Đại úy trẻ bao gồm nhiều việc hơn là những chuyện hiển nhiên, ngay cả đối với những người có nhiều kinh nghiệm. Không phải chỉ lo quân trang quân dụng là đủ mà có nhiều chuyện khác nữa phải làm. Những chuyện lắt nhắt. Hàng đống chuyện như thế. Từng chút một gộp lại sẽ hiệp lực trở thành hiện thực. Những chuyện như phái đầu bếp của Đại đội leo tận lên “đồi Đại đội” tại Cà Lũ còn hơn là giữ anh ta lại hậu tuyến để binh lính có nước nóng mà cạo râu, nấu súp và pha cà phê nóng. Những cái chuyện nói lên sự lo lắng mà người khác có thể cho rằng vô lý hay không thực tế. Nếu có ai đó ở hậu phương bảo Đại úy là “không” thì anh có cách để biến thành “có.” Trong lúc huấn luyện các TQLC của mình, trong số đó có nhiều người còn dồi dào kinh nghiệm chiến đấu hơn anh, Ripley đã mang những kiến thức học được ở trường Biệt Động Quân ra, cũng như nghề thám sát của mình trong thời gian phục vụ trong lực lượng thám báo. Anh luôn giữ vững những điểm căn bản nhất. Nếu trong dã cầu gọi là “chặn và húc” thì trong TQLC họ gọi là “di chuyển, bắn và liên lạc.” Nắm vững được những điều căn bản là bạn làm chủ được chiến trường.

Tất cả mọi thứ phải được diễn tập. Các TQLC đều thông suốt nhiệm vụ của mình và hầu hết phải biết nhiệm vụ của đồng đội để nếu trong trường hợp họ gục ngã thì anh có thể thay thế được. Khi hành quân chạm địch thì cả hơn hai trăm TQLC của Đại đội Lima đều di chuyển không để lại hình bóng, mọi liên lạc đều một trăm phần trăm thực hiện bằng thủ hiệu. Khi đụng trận, dĩ nhiên một số mệnh lệnh nào đó phải được tung ra trong sự hỗn loạn và gầm thét của chiến trường. Lúc xung trận các TQLC luôn luôn tin tưởng vào vị chỉ huy của mình. Điều này phát sinh không phải từ tình cảm cá nhân mà vì bản năng sinh tồn thì đúng hơn. Cấp chỉ huy giỏi không bao giờ thí quân của mình một cách điên rồ. Thêm vào các điều trên là niềm tin của binh sĩ Đại đội Lima đặt vào khả năng của Đại đội trưởng có thể gọi yểm trợ thật chính xác. Ngoài chuyện phải bận tâm về một loạt các chuyện mà một cấp chỉ huy ngoài chiến trường phải làm và tự giữ mình, chẳng hạn như tác phong quân cương quân kỷ của TQLC, và có lẽ quan trọng hơn cả là khả năng thực hiện giỏi các cuộc đổ bộ vào đất liền. Cộng vào đó là chuyện di tản thương binh khẩn cấp, gọi và điều chỉnh pháo binh, và nếu gần bờ biển thì gọi hải pháo, tất cả những điều kể trên chính là trình độ của Đại đội Lima đã thể hiện được trong bất kỳ lúc nào.

Phần lớn các bài học tại Trường Căn Bản chú trọng vào việc nắm vững các khía cạnh trong việc di hành địa hình. Các sĩ quan trẻ dành thật nhiều thời gian trong lớp học để xem lại những nguyên tắc căn bản và các điều thiết thực nhằm sử dụng bản đồ và địa bàn một cách đúng nhất. Từ trong lớp học ra đến ngoài trời họ phải khổ nhọc cố gắng di chuyển thật chính xác từ một điểm này đến một điểm kia, sử dụng tất cả khả năng và trau dồi các kinh nghiệm về địa hình của mình. Một số người bẩm sinh giỏi hơn những người khác, tương tự như ở bất cứ môi trường nào, nhưng việc nắm vững di hành địa hình đòi hỏi một sự tập trung và nỗ lực về đầu óc rất nhiều. Một trong những lỗi lầm lớn nhất của một sĩ quan non nớt có thể phạm vào, một cách chắc chắn nhất để phá tan niềm tin của Trung đội hay Đại đội là bị lạc hướng, nhất là nếu nơi ấy là Vùng I Chiến Thuật.

Một trong những chương trình truyền hình phổ biến trong thời kỳ đó là chương trình F. Troop. Bộ phim này chế diễu cả hai phía trong thời kỳ Viễn Tây của Hoa Kỳ trong đó lính kỵ binh Mỹ vụng về, đọ sức với mọi Da đỏ cũng vô dụng không kém. Bộ lạc da đỏ gọi là Hekawi có cái tật là hay đi lạc. Do đó cái câu mà Trung sĩ O’Rourke hay Hạ sĩ Agarn trong phim thường hỏi sau này đã trở thành nổi tiếng là: “Bọn Hekawi đâu rồi?” Lính TQLC nói chung không phải là kém văn hóa thành thử mỗi khi bị dắt đi lạc hướng, nếu tình hình chưa đến nỗi nguy kịch, họ thường hỏi cấp trên bằng câu hỏi ý nhị là: “Bọn chết tiệt Kawi đâu rồi?” Một sĩ quan TQLC không bao giờ muốn và cũng không thể trở thành là mục tiêu của cái câu nói đùa đó hoặc là thủ lãnh của một bộ lạc da đỏ như vậy.

Bẩy tuần trước ngày sinh nhật của mình, Thiếu úy Terry Gene Heekin từ Covina, California vừa mới tốt nghiệp khóa Căn Bản Quantico đến nhận nhiệm vụ tại Việt Nam. Được bổ nhiệm về Trung đội 1 Đại đội Lima vào hạ tuần tháng Hai, hoạt động đầu tiên đáng kể nhất của anh là tham gia chiến dịch bắt đầu vào ngày đầu tháng Ba năm 1967.

Áp lực đè lên các tân sĩ quan rất nặng nề. Vốn không được cơ hội thứ hai để gây cảm tưởng ban đầu, các sĩ quan mới ra lò đều biết là họ luôn bị các TQLC soi mói bằng kính hiển vi về khả năng chỉ huy của họ. Thật nhanh, các Trung đội trưởng chưa đủ kinh nghiệm và thử thách cần phải xây dựng lòng tin cậy và sự kính trọng của thuộc hạ, đồng thời phải mau chóng học hỏi nghệ thuật chiến đấu đầy khó khăn. Có vài sĩ quan trẻ, trong sự cố gắng thật tình để chứng tỏ bản thân, lại thường hành động quá độ hay áp dụng các điều quá bài bản sách vở.

Thông thường thì sự chuyển biến từ một người mới thành một người dầy dạn kinh nghiệm chiến trường chỉ đòi hỏi một ít thử thách không quan trọng lắm. Thiếu úy Terry Heekin ngay từ đầu đã có vẻ thuộc vào nhóm người này. Anh là một người thông minh, sâu sắc và đàn ông tính đủ để hỏi những câu hỏi đúng, biết dựa vào sự đánh giá của viên Trung sĩ Trung đội giàu kinh nghiệm cũng như tay truyền tin để học hỏi nhanh hơn ai hết.

“Lưỡi lê em chưa gãy!”

Khi Đại đội Lima cụ bị hành trang di chuyển vào sáng sớm ngày 1 tháng Ba năm 1967, Đại úy Ripley chỉ định Trung đội 1 đi tiên phong. Trên đường tiến công chạm địch, đặc biệt là trong môi trường rừng rậm, những binh sĩ dẫn đầu hầu như luôn luôn bị đụng độ hay bị lọt vào ổ phục kích trước khi phần còn lại của đơn vị tới được chỗ giao tranh. Do đó những khinh binh và đơn vị trinh sát có một nhiệm vụ đặc biệt phải cảnh giác đề phòng các dấu hiệu chứng tỏ sự hoạt động và hiện diện của kẻ địch, các mìn bẫy v.v… Toán tiên phong có thể chỉ cần một người, một toán trinh sát, hoặc một trung đội trinh sát hoạt động thật hữu hiệu để bảo đảm kẻ thù không thể sử dụng yếu tố bất ngờ đối với đại đơn vị đi phía sau.

Đại úy Ripley đã cho Trung đội 1 đi đầu vì nhiều lý do. Ngoài chuyện đã đến phiên họ và mức độ đe dọa khá cao, đi trinh sát cũng là một dịp học hỏi cho Thiếu úy Heekin để hòa nhập nhanh hơn. Và mặc dù Heekin là một Trung đội trưởng chưa dày dạn lắm nhưng Đại úy Ripley tin tưởng đã có Thượng sĩ Trung đội và các Tiểu đội trưởng mà kinh nghiệm và sự phán đoán có thể bù đắp phần nào cho sự non nớt của viên Thiếu úy.

Cách di chuyển đúng và hiệu quả nhất theo dọc các đưòng mòn trong rừng rậm, đối với một Đại đội bộ binh trang bị đầy đủ trên đường chạm địch không phải là chuyện dễ dàng. Cho dù mọi chuyện suôn sẻ, mà thường thì hiếm khi như vậy, việc duy trì sự tập trung và định hướng cho chính xác đòi hỏi khả năng chỉ huy tối đa từ Đại úy Ripley xuống cho đến từng chiến sĩ một.

Đại đội Lima được chuyển vận bằng xe vận tải qua hướng Đông trên đường số 9 từ một căn cứ hỏa lực gọi là Rockpile đến một điểm xuống xe đâu đó giữa căn cứ và thị xã Đông Hà. Tại đó thì họ bắt đầu hành quân. Hầu hết binh lính đã bắt đầu vã mồ hôi đầm đìa khi Đại đội di chuyển hơi gấp gáp, nhưng rồi nhịp độ của cuộc di hành đã được điều chỉnh lại. Có vẻ sẽ lại là một ngày vất vả nữa, họ đoán vậy và vẫn còn nhiều giờ nữa trước khi mặt trời nóng cực điểm.

Khi buổi sáng trôi qua và họ chậm chạp tiến lên hướng Bắc, cánh rừng bắt đầu dày lên và các ngọn đồi dần dốc lên nhiều hơn. Một vài tiếng đồng hồ trước ngọ Đại đội Lima có đụng nhẹ với một đơn vị Bắc Việt không rõ bao nhiêu tại một ngã rẽ của con đường mòn mà kết quả lạ lùng thay là không có nổ súng hay thương vong nào cả. Khoảng một tiếng đồng hồ sau, trong lúc Trung đội 1 còn đi trinh sát, với Binh nhất Taylor đi trước cách đơn vị vào khoảng 20 thước. Ngay lúc anh vượt qua đỉnh đồi với triền đồi bên kia có nhiều trảng trống và trong lúc anh đang tìm cách leo theo đường mòn xuống đáy một khe núi có rừng phủ dầy đặc thì một loạt đạn nổ ra. Bị bất ngờ, Taylor trúng đạn vào chân và ngã xuống.

Toán còn lại của Trung đội 1 còn chưa lên đến đỉnh đồi. Ngay tức khắc, không một lời nói hay chỉ thị của Trung đội trưởng hay Tiểu đội trưởng, mọi người tản ra theo hàng ngang thẳng góc với hướng di chuyển, một nửa bên trái và một nửa bên mặt. Hạ sĩ Goggin băng qua đồi theo Taylor và mang anh về tuyến phòng thủ mới do các TQLC Trung đội 1 mau mắn dựng lên.

Ngay trước khi Hạ sĩ Goggin kéo Binh nhất Taylor về được chỗ an toàn thì TQLC bắt đầu bắn trả đũa, dù chưa biết được tiếng súng kẻ thù từ đâu tới. Bụi cây và cỏ dại trong cánh rừng cao gần ngang đầu gối và các TQLC cúi sát đất chỉ có thể bắn trả theo tiếng súng vì không thấy được mục tiêu bị che khuất. Qua cường độ hỏa lực, họ đoán là kẻ địch có ít nhất hai khẩu liên thanh đang nhả đạn về phía họ. Tuy nhiên đạn đối phương chỉ có hiệu quả làm cho các TQLC không tiến lên phía trước được mà thôi.

Đàng sau lằn lửa của Trung đội 1, phần còn lại của Đại đội Lima tản ra dọc đường mòn, mọi người núp xuống ở tư thế phòng thủ, súng chĩa ra đàng trước và sẵn sàng nhả đạn. Trong vòng vài giây đồng hồ sau loạt súng liên thanh đầu tiên của địch nổ ra, Đại úy Ripley lập tức gọi truyền tin yêu cầu Trung đội 1 báo cáo tình hình. Sau khi kéo Binh nhất Taylor về xong thì Hạ sĩ Goggin chụp máy truyền tin trả lời viên chỉ huy.

Đại đội TQLC ra trận với ba Trung đội bộ binh và một Trung đội vũ khí. Với quân số tương đương một Trung đội thường, Trung đội vũ khí là “pháo binh riêng” của Đại đội trưởng và là hỏa lực nặng cơ hữu của đơn vị. Trung đội vũ khí được trang bị hai loại vũ khí chính là một số toán sử dụng đại liên M-60 còn một toán khác thì sử dụng bích kích pháo 60 ly, thường là 3 khẩu. Phải khiêng súng cối cùng với hạ bàn và đồ phụ tùng lỉnh kỉnh ra chiến trường thật khổ nhưng trong những tình huống mà Đại đội Lima đang gặp phải ngay lúc này thì lại rất hữu ích. Với tầm hữu ích tối đa khoảng 800 thước, khả năng bắn cầu vồng với góc độ cao (mà không cần trông thấy mục tiêu), súng cối có thể được đặt thật gần với mục tiêu giống như kẻ địch đang ở ngay bên ngoài bờ phòng thủ vậy. Súng bích kích pháo thật sự là vật cứu sinh cho đến khi hỏa lực yểm trợ thứ thiệt có thể được mang tới.

Ngay lúc tiếng súng ở tuyến đầu nổ ra là không cần phải đợi có lệnh, đội súng cối bắt đầu dàn đội hình. Theo bản năng họ biết ngay chuyện gì sắp tới. Những quả đạn được truyền tay nhau giữa các binh sĩ cũng vui vẻ được cởi bớt gánh nặng phụ trội đeo trên vai. (Đạn súng cối và súng liên thanh thường được chia ra cho tất cả mọi người trong đơn vị phải đeo theo).

Có một thủ tục và thông lệ nhất định cho TQLC trong công việc liên lạc truyền tin. Trong giao tranh, thủ tục này thường phải được tuân theo với hiệu ứng thích hợp. Mỗi đơn vị có một tần số và mật hiệu được thay đổi hàng ngày nhằm tránh kẻ địch nghe lén và nhận diện được ai đang gọi. Để giảm thiểu thời gian phát sóng, các cuộc điện đàm phải thật ngắn. TQLC có lý do chính đáng để làm chuyện này. Quân đội Bắc Việt có khả năng tìm mục tiêu rất nhanh và cho phép họ điều chỉnh pháo binh vào vị trí phát sóng của đối phương trong một khoảnh khắc cấp kỳ. Cho đến năm 1967 TQLC Hoa Kỳ đã thấm thía điều này đủ để giả định rằng phần lớn các cuộc điện đàm của họ đã bị địch nghe lén được.

Trong lúc gọi điện qua lại bình thường trong phạm vi đơn vị, người chỉ huy được mệnh danh là “anh Sáu.” Đại úy Ripley do đó là “Lima Sáu.” Khi Ripley gọi đi hay nhận điện thì tự xưng hay được gọi là “Đích thân Lima Sáu” hoặc “Đích thân Sáu” cho ngắn gọn. Mỗi Trung đội trưởng được nhận dạng qua một con số và chữ “Đích thân” phía sau. Trung đội 1 như vậy là “Lima Một,” và Trung đội trưởng là “Lima Một đích thân,” Trung đội 2 là “Lima Hai,” và Trung đội trưởng là “Lima Hai đích thân,” v.v… Tuy khó tin là quân Bắc Việt có thể bị lừa bởi chuyện này nhưng đó vẫn là một thủ tục tốt hơn là gọi thẳng tên ra.

Trung đội 1 lúc này tiếp tục tưới đạn về hướng bìa rừng dưới chân đồi. Qua nhận định tình hình chung được báo cáo từ Hạ sĩ Goggin, Đại úy Ripley ra lệnh đội súng cối nã đạn, hi vọng là chỉ một loạt ba quả là có thể làm tắt tiếng súng địch thủ. Trong lúc đó thì một TQLC của Trung đội 1 bực mình vì không thấy mục tiêu bèn nhổm lên để bắn. Bạn bè gọi anh là “Vịt Cồ Baby Huey” do cái tướng đồ sộ và sức lực phi thường. Tuy nhiên anh chỉ nhả được vài phát đạn thì bị địch bắn thủng cho một lỗ ngay trên ngực. Có lẽ chính cái kích thước khổng lồ của mình đã cứu mạng anh ngày hôm đó nhưng anh đã trở thành người thứ hai của Trung đội 1 bị thương trong buổi xế trưa hôm đó.

Sau loạt đạn bích kích pháo bắn rào đầu tiên, binh sĩ của Trung đội 1 thất vọng là quân Bắc Việt tiếp tục bắn xối xả tuy không chính xác nhưng với hỏa lực tương đối lớn. Trong vài phút đồng hồ tiếp theo, Trung đội 1 duy trì bắn trả nhưng cầm chừng hơn để tiết kiệm đạn dược.

Ở phía sau trên đường mòn, Đại úy John Walter Ripley cùng thành phần còn lại của Đại đội Lima bắt đầu hết kiên nhẫn. Với lòng tự tin tuyệt đối và có lẽ hơi lỗi thời một chút, Ripley tiếp tục đích thân gọi điện đàm. Quân Bắc Việt bắt đầu làm ông bực mình vì đã cản trở bước tiến của lính ông. Lúc này trực thăng cứu thương đang bay tới để di tản Taylor và Vịt Cồ Baby Huey. Quyết định tiếp theo của Ripley đòi hỏi truyền tin của Trung đội 1 phải tròn xoe mắt.

Đại úy Ripley gọi Trung đội 1 trên mạng của Đại đội: “Gọi đích thân Một tới đây.” Lúc này Thiếu úy Heekin đang bận chỉ huy binh sĩ như nhiệm vụ anh phải làm như vậy. Tiếng súng bắn mỗi lần chạm địch ở đâu cũng vậy thật là điếc tai.

Hạ sĩ Goggin trả lời Đại úy: “Đích thân Một khá bận, xếp.” Lúc này gọi điện đàm cũng rất cực nhọc.

“Tôi muốn anh chuyển lệnh này lại cho đích thân Một.” Ngưng một chút. “Tôi ra lệnh cắm lưỡi lê lên súng.”
Hạ sĩ Goggin không thể nào tin được tai mình mới nghe cái gì. Anh hy vọng nghe lộn hay nhiễu loạn cách nào đó trong cuộc điện đàm. Ngạc nhiên, anh hỏi lại: “Đích thân Sáu, nói lại câu chót.”

Đại úy Ripley khẳng định:

“Gắn lưỡi lê vào. Tôi sẽ bắn dọn đường một loạt súng cối. Xong phát cuối, đứng dậy xung phong. Gắn lưỡi lê vào.”
Vẫn còn choáng váng bởi cái lệnh, Hạ sĩ Goggin bò lại hướng Thiếu úy Heekin đang chỉ huy tuyến trước. Thiếu úy Heekin biết đúng ngay là Đại đội trưởng đang phát lệnh cho anh. Khi thấy Goggin trườn đến gần vừa đủ để có thể hét lớn hơn là tiếng đạn, anh hỏi: “Ổng muốn cái gì?”

“Thiếu úy, ổng muốn lên lưỡi lê và xung phong.”
Không chần chừ, Thiếu úy Heekin yêu cầu:

“Hỏi lại coi.”
“Em hỏi rồi, Thiếu úy.”
Sau đó Hạ sĩ Goggin giải thích kế hoạch do Đại úy Ripley chỉ thị. Hạ sĩ Goggin đề nghị với Thiếu úy Heekin:

“Thiếu úy truyền lệnh bên trái, để em nhắn bên phải nhe?”
Cả hai thầy trò chỉ trang bị súng lục.

Trong cảnh ồn ào, la hét và hỗn loạn, thật khó mà ra lệnh lạc. Do đó lệnh phải được truyền dọc theo tuyến phòng thủ cho từng người một. Ngay bên tay mặt Goggin là một tay lính trẻ từ Louisana đang say sưa chiến đấu, tập trung vào địch ở dưới chân đồi. Mặc dù anh chàng chắc không học trường Harvard hay sẽ chẳng được học tại đó sau khi mãn hạn nhưng đã chứng tỏ là một tay súng cừ khôi. Anh mải bắn nên không nghe Goggin hét ra lệnh. Sau cùng hạ sĩ Goggin phải dùng báng súng lục gõ lên nón sắt hắn để gây chú ý. Mặt sát mặt chỉ cách nhau vài phân, Goggin thét lên,

“Gắn lưỡi lê!” (Fix bayonets! – Trong tiếng Anh, fix còn có nghĩa là sửa chữa.)
Tay TQLC trẻ ngẩn ngơ một chốc để ngẫm nghĩ về cái lệnh, cố gắng hiểu những điều có vẻ hoàn toàn vô lý đối với anh ta, rồi trả lời một cách thành thực:

“Lưỡi lê em đâu có bị gãy!” Tạm dừng.
“Bố cắm cái lưỡi lê vào đầu súng cho con đi!!!”
và Hạ sĩ Goggin ra hiệu cho hắn.

Lệnh được chuyền từ TQLC này đến TQLC kia và sau đó những người còn lại thấy chuyện gì sắp xảy ra nên làm theo. Chẳng hề có tình cảm lãng mạn gì trong cái lệnh này. Cũng chẳng có hào quang Holywood chói sáng hay kèn trống gì ráo. Tiếng bập của kim loại khi lưỡi lê được gắn vào đầu họng súng không thể nghe thấy được trong tiếng súng bắn nhau. Không ai biết thời gian trôi qua bao lâu. Có lẽ khoảng một phút thì tất cả Trung đội 1 gắn xong lưỡi lê. Thiếu úy Heekin liếc nhìn tay truyền tin. Vì là ma mới nên Heekin hỏi một cách thực thà:

“Hạ sĩ Goggin, có bao giờ chúng ta làm chuyện này chưa?”
“Thưa Thiếu úy, em nghĩ là chưa hề có chuyện này kể từ thời nội chiến Hoa Kỳ.”
Đúng lúc đó thì Đại úy Ripley gọi tới qua truyền tin:

“Sẵn sàng cả chưa?”
“Xong rồi!”
“Chờ đó.”
Ngay tức thời tiếng đề pa thật nhanh và tiếng nổ của hàng loạt đạn 60 ly từ 100 mét phía sau bắn tới tấp qua đầu.

Chỉ một khoảnh khắc ngắn sau đó, tiếng Đại úy Ripley vang lên qua tần số truyền tin:

“Xung phong.”
Đầu tiên cả Trung đội 1 đồng loạt đúng dậy không chừa một ai. Khoảng đâu chừng 40 TQLC còn lại dàn hàng ngang. Mọi người đều căng thẳng khô đắng cả miệng nhưng vì lý do nào đó, dường như được kích thích bởi cái táo bạo tuyệt đối của hành động đó, họ chủ đích xông nhanh lên phía trước. Và họ cũng bắt đầu la hét chửi bới như những gã điên. Tiếng hét của kẻ khởi loạn. Tiếng hét đầy sắt máu. Giống như những người đã từng đi theo Stonewall Jackson và Jeb Stuart. Ngày nay trong khu rừng rậm bị bỏ quên của Việt Nam một trăm năm sau lại có một tay Virginia điên như chó dại ra lệnh thuộc hạ lên lưỡi lê và xung phong. Tưởng chừng như họ nhào vào họng súng sát thủ của súng liên thanh quân đội Bắc Việt. Nhưng khi họ tới cuối chân đồi thì không bị một phát đạn nào cả. Gần như là rơi vào hầm ngụy trang khéo léo của Bắc quân bỏ chạy mất tiêu, tất cả những gì họ thấy là hàng trăm và hàng trăm vỏ đạn. Và một vài vết máu. Với lượng adrenaline tiết ra trong máu ở những mức độ chưa từng thấy dù là đối với những người lính dày dặn nhất, cảm giác còn sống thật là dễ chịu. Thật là tốt.

Tiến lên mục tiêu kế tiếp

Tuy nhiên không có mấy thời gian để mà ăn mừng. Đây không phải là xi-nê. Phần còn lại của Đại đội Lima tiến lại. Đại úy Ripley và những người khác đánh giá tình hình. Các vết máu chứng tỏ ít nhất TQLC cũng “xơi được vài mống.” Cuộc di hành tiếp tục sau đó.

Đại đội Lima chưa đi mấy xa trên đường mòn thì phát giác ra thi thể của nhiều quân Bắc Việt hiển nhiên là đã bị giết trong trận đụng độ vừa qua. Rõ ràng là Đại đội Lima đang tiến vào, chứ không phải là rời xa, đất của “mọi da đỏ.” Họ đi thêm không đầy một cây số nữa thì Đại úy Ripley quyết định đóng quân lại và sửa soạn qua đêm. Ripley tìm được một vị trí khá tốt, được che chắn và khuất có thể tổ chức phòng thủ hữu hiệu. Các TQLC Đại đội Lima bắt đầu đào hầm trú ẩn.

Khi TQLC ngoài chiến trường cắm trại ban đêm thì những việc đầu tiên họ thực hiện đồng thời là chỉ định một ít ra ngoài vòng đai an ninh phòng thủ, đào hầm cá nhân và tổ chức các toán tuần tiễu gần chung quanh bộ chỉ huy nhằm bảo đảm là quân Bắc Việt không thể bất ngờ tấn công họ. Không thể không phòng bị được. Buổi tối hôm đó ngày 1 tháng Ba 1967 tương đối vô sự, giống như câu châm ngôn nói về sự yên lặng trước cơn giông vậy. Ít nhất các binh sĩ có dịp đổ đầy bình nước từ con suối gần đó và ăn tạm khẩu phần C-rations mà họ mang theo. Từ đầu cuộc hành quân sáng sớm trong ngày đến nay, Đại đội Lima vẫn chưa được tiếp tế. Đại úy Ripley ra lệnh đạn dược từ các Trung đội khác được san sẻ đều cho Trung đội 1 đã sử dụng một số lượng đáng kể trong trận đụng độ trước đó.

Với sinh mạng của hơn hai trăm TQLC trong tay, Đại úy Ripley cảm thấy bị áp lực khá nặng nề trong cái xứ “mọi da đỏ” này. Lúc này cả Đại đội đã được bố trí thành một vòng tròn phòng thủ khá chặt chẽ, các Trung đội trưởng và Tiểu đội trưởng ai công việc nấy, vị trí tọa độ đã được chuyển về tổng hành dinh cấp trên và sẵn sàng trong tay một hỏa lực pháo binh yểm trợ dồi dào chỉ đợi lệnh bắn, Đại úy Ripley đã sẵn sàng cho buổi đêm. Hoàn toàn sẵn sàng.

Đối với bất kỳ chiến sĩ nào, thật khó mà tưởng tượng nổi cái vũ trụ bên ngoài thế giới của họ lại có thể tiếp tục trôi qua nhưng mọi người đều biết điều đó đang xảy ra và họ biết ơn chuyện đó. Với Đại úy Ripley, cái thế giới bên ngoài của anh là Moline và Stephen. Với tất cả nghị lực có thể cố gắng được, anh gắng bỏ ra ngoài tâm trí để chỉ nghĩ về ngày thứ Tư 1 tháng 3, 1967 mà trên thực tế nó vẫn chưa đến tại quê nhà tại Alexandria, Virginia.

Vì giờ đi sau Việt Nam 11 tiếng, nên trong khi mỗi Tiểu đội của các Trung đội Lima đang âm thầm len lỏi trong bóng tối của rừng rậm để tuần tiễu bên ngoài vị trí Đại đội thì chắc Moline đang lo cho thằng bé Stephen, lau cho nó, cho nó ăn, tắm và dắt nó đi dạo trong chiếc xe đẩy hay chơi trong một công viên nào đó, hoặc làm bất cứ chuyện gì. Ripley cũng yên tâm khi biết rằng cô chị dâu Maureen, vợ của ông anh lớn George và ba đứa con gái của họ, đều lớn hơn Stephen, đang sống chung trong một chung cư tại Alexandria, phía Nam thủ đô Washington DC. Cả hai người chồng đều đang ở Việt Nam, Maureen và Moline đã trở nên thân cận với nhau hơn lúc nào hết. Và cũng không xa nơi đó lắm, chỉ chừng hai giờ lái xe, là Moline có thể sắp xếp để chạy xuống Radford nơi cả phụ mẫu của Moline, ông bà Blaylocks và cả bố mẹ của Ripley cũng đang cư ngụ. Về phía dòng họ Baylocks thì Stephen là đứa cháu ngoại đầu tiên và duy nhất. Khi nó về nhà thì luôn luôn là trọng tâm của mọi người. Ngay cả trong nhà Ripley, dù đã có vài đứa cháu nội còn lớn hơn Stephen, mẹ con nó luôn luôn được tiếp đón nồng nhiệt. John Ripley không phải lo lắng cho hai mẹ con nhiều lắm, anh chỉ thấy nhớ họ vô cùng.

Dù dễ chịu cách mấy khi nghĩ về Moline và Stephen, cái thực tại gần gũi nhất là trong phạm vi cái thế giới vài cây số vuông của Ripley có sự hiện diện của ít nhất hàng trăm, có thể là hàng ngàn lính chính quy Bắc Việt bằng xương bằng thịt như binh sĩ Lima, cũng lăm le chực tiêu diệt lẫn nhau. Anh luôn cần phải giữ cái quan điểm đó với khía cạnh của một chiến binh. Ripley cần phải tập trung tư tưởng để mà sống còn.

Một nơi nào đó phía Bắc con lộ số 9, hướng Tây của Đông Hà
Thứ Năm, ngày 2/3/1967
Khoảnh khắc nào đó khi mặt trời đã lên
Mặc dù theo lịch thì một ngày mới được xác định bằng mặt trời mọc, nhưng rất khó mà mường tượng ra được là một ngày trời đã trôi qua. Tỉnh giấc vào ngày thứ Năm, 2/3/1967 đối với các TQLC của Đại đội Lima, nếu họ có chợp mắt được chút nào, nó không giống như bất kỳ nơi nào khác ngoại trừ Vùng I Chiến Thuật.

Sống trong xứ của kẻ ác không có chuyện tạm ngưng đối với ngày hôm trước, đừng có mơ tưởng chuyện ngưng đấm đá cho đến khi Lima được rút ra khỏi chiến trường, mà chẳng biết đến bao giờ nữa. Ở ngoài đó, hoặc là họ bận chiến đấu, hồi phục sau trận đánh vừa qua, hoặc sửa soạn cho trận kế tiếp. Ngoài chuyện lúc nào cũng bẩn thỉu, ngoài chuyện lúc nào cũng mệt mỏi, lúc nào cũng đói khát và vã mồ hôi, còn có cái điều liên tục hiện diện là nỗi sợ hãi, sợ hãi một cách đơn điệu. Trong bụi cây cỏ không hề có chuyện tạm nghỉ, không có quảng cáo thương mại, không có chiếu lại cấp thời, không có giờ hạnh phúc, không có nghỉ cuối tuần; mà chỉ có cái chết và sự sống còn.

Mặc dù các biến cố trong ngày thứ Tư khá sôi động đối với Đại đội Lima 3/3, Đại úy Ripley và các TQLC của anh chỉ là một con ốc nhỏ trong một nỗ lực khổng lồ đang tiến hành trên toàn cõi Việt Nam. Chỉ riêng tại Vùng I Chiến Thuật, Tiểu đoàn mẹ của Lima được sự hỗ trợ của bốn Tiểu Đoàn TQLC Hoa Kỳ khác tại mặt trận. Yểm trợ trực tiếp cho năm Tiểu đoàn đó là toàn bộ Trung đoàn 12 pháo binh TQLC cùng với nhiều phi đoàn trực thăng và chiến đấu cơ cánh thẳng. Chuyên viên phân tích của tình báo tin tưởng rằng quân Bắc Việt có ít nhất bốn Sư đoàn hoạt động trong vùng. Nếu họ đánh giá đúng thì TQLC Hoa Kỳ sẽ vất vả để đối phó với tình thế đó.

Thông thường thì lính Mỹ rất thích hỏa lực áp đảo tại chỗ, đặc biệt là nếu hỏa lực không yểm được sử dụng tối đa, và nếu gần bờ biển đủ thì họ có thêm hải pháo thêm vào nữa. Trực thăng được sử dụng để chuyển vận binh sĩ và quân dụng khiến cho các cấp chỉ huy có nhiều phương tiện linh động vô tiền khoáng hậu. Hệ thống tiếp tế khá nhanh chóng khiến cho các chiến sĩ trên bộ tin tưởng là nếu họ có bị thương thì bằng mọi cách họ sẽ được tản thương cấp kỳ đến một bệnh viện gần nhất. Và nếu thực phẩm và đạn dược có sắp cạn thì chúng sẽ được tiếp vận ngay lập tức. Mặc dù vậy, kết quả của một trận giao tranh vẫn nằm trong tay một đám thanh niên thuộc cả hai phía thường chỉ là các thiếu niên chưa đầy hai mươi tuổi được chỉ huy bằng những người cũng chẳng già hơn bao nhiêu.

Lính Bắc Việt cũng không phải là không có những lợi thế tại địa phương. Họ hoạt động khá gần phần đất Bắc Việt và Hạ Lào nơi mà các nhánh phụ của con đường mòn Hồ Chí Minh giúp cho họ được tiếp tế dồi dào, mặc dù nỗ lực tiếp viện phần lớn là về nhân lực và công việc chuyển vận dựa vào sức người nhiều hơn là phía Hoa Kỳ phụ thuộc vào khoa học kỹ thuật. Thông thường thì lính Bắc Việt không bị trở ngại về tiếp vận tại Vùng I Chiến Thuật.

Có lẽ lợi điểm lớn nhất của Bắc Việt là lời tuyên bố công khai của chính sách Hoa Kỳ là các lực lượng bộ binh sẽ không xâm phạm biên giới Lào hay Bắc Việt. Điều này đã giúp cho Bắc Việt giải phóng được vô số binh lính cần thiết để bảo vệ các mật khu, kho tàng tiếp vận, vị trí pháo binh nếu phải lo lắng các lực lượng Hoa Kỳ và VNCH có thể tấn công qua. Sự hạn chế tự áp đặt này về chính trị đã nhường thế chủ động chiến lược ngoài chiến trường cho quân địch.

Chiến thương bội tinh và Anh dũng bội tinh
Các tiêu chuẩn trong việc trao tặng các huy chương về lòng dũng cảm – Bảo Quốc Huân Chương, Hải Quân bội tinh (Phía Quân đội trao tặng Lục Quân bội tinh và Không quân thì trao tặng Không Lực bội tinh), Anh Dũng bội tinh với ngôi sao bạc, Anh Dũng bội tinh với ngôi sao đồng – được đi kèm theo các điều hướng dẫn của Quân chủng TQLC.

Việc báo cáo nhằm trao tặng huy chương được khởi xướng và xem xét đầu tiên ở cấp độ Tiểu đoàn và chuyện quyết định trao tặng các huy chương vì lòng dũng cảm này tùy thuộc vào một số nhận xét chủ quan. Việc thuyên chuyển bình thường nhưng tương đối nhanh của các Tiểu đoàn trưởng là những nhân vật chủ chốt làm cho các tiêu chuẩn bị thay đổi vì họ thường có ý kiến khác nhau rất nhiều liên quan đến lòng dũng cảm. Những vấn đề khác có tác động đến việc tặng thưởng cũng tùy thuộc vào khả năng viết lách của người viết biết mô tả kỹ lưỡng các biến cố đã xảy ra và đưa chúng vào một bản báo cáo thật hấp dẫn. Số lượng và uy tín của các nhân chứng cũng rất quan trọng. Trong hàng ngũ các sĩ quan trung và cao cấp của Quân chủng TQLC có một số không ít tin rằng chỉ mặc bộ quân phục, và hiện diện ở vị trí chỉ huy trong những tình huống đặc biệt nghiêm trọng đầy thử thách cũng đủ để được công nhận rồi. Vấn đề này khi áp dụng cho TQLC nói chung và Đại đội Lima 3/3 nói riêng thì hết sức nhỏ mọn hẹp hòi và vô lý trong việc trao tặng các huy chương anh dũng cho các sĩ quan và binh sĩ tình nguyện đã sống sót qua thời gian chiến đấu của họ.

Các tiêu chuẩn trong việc trao tặng Chiến thương bội tinh dù ít keo kiệt và ít chủ quan hơn cũng tùy thuộc vào một số điều kiện rất khắt khe. Một điều đáng khuyến khích được nêu ra ở đây là có một số lớn những người bị thương thường từ chối Chiến thương bội tinh vì có điều lệ là nếu một chiến sĩ bị thương ba lần là coi như phải tự động giải ngũ. Lòng trung thành và tình đồng đội đã quá nhiều lần giữ các TQLC ở lại chiến đấu tiếp. Sau khi đã xem qua những điều trên thì tiêu chuẩn đối với Tiểu đoàn 3, Sư đoàn 3 TQLC gồm ba yếu tố. Đầu tiên vết thương phải do đạn thù. Thứ hai, TQLC đó phải bị “ngã gục.” Và sau cùng, phải có vết đạn xuyên qua người. Chiến thương bội tinh không bao giờ được ban cho TQLC bị thưong khi chạy núp. Các vết thương do nhảy xuống hầm hố khi bị pháo kích hay quên cúi đầu lúc chạy ra hay chạy vào một tòa nhà rồi va đầu vào thanh sắt nóc nhà treo thấp không đạt tiêu chuẩn 3/3 cho một vết thương lúc chiến đấu.

Trong trường hợp Đại úy Ripley sau khi lãnh trách nhiệm chỉ huy Đại đội Lima, anh đã báo cho cấp trên là đừng bao giờ di tản anh nếu không có sự đồng ý của anh hay thực sự là anh đã thiệt mạng. Các biến cố xảy ra ngày 2/3/1967 đã chứng minh sự tiên đoán của ý nguyện đó

Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM

CƯỠI NGỌN SẤM

cuoingonsam
richardbotkin

Chương 3

Đại úy Ripley – Đại đội Lima 6

Khi Đại úy John Ripley đến vùng đất này vào tháng 10 năm 1966, có lẽ ông là người cuối cùng trong số ba anh em nhà Ripley cùng năm đó đã đến để chiến đấu chống kẻ thù Cộng sản. Trong lúc người anh Mike lớn hơn John một tuổi, nhưng là người sau cùng trong dòng họ Ripley gia nhập vào binh chủng TQLC, đã từng lái chiến đấu cơ A-4 và đã hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu của mình vào tháng 6, thì người anh cả George, vốn đã “đầu độc” đứa em ruột của mình bằng cách cho đọc “Tiếng thét xung trận” của Leon Uris và do đó củng cố ước vọng trở thành TQLC của cậu ta, lúc đó đã là một Thiếu tá phục vụ với vai trò sĩ quan ban 3 cho Trung đoàn 3 TQLC, đơn vị phụ thuộc 3/3. Cũng trong năm đó, người cha Bud Ripley đã viết một bức thư rất xúc động gởi đến Bộ trưởng Hải quân xin cho cả ba đứa con trai của ông cùng lúc được phục vụ trên chiến trường. Lo ngại các điều luật hạn chế sự tổn thất mà một gia đình có thể chịu đựng nổi sẽ không cho phép tất cả các con trai ông được thi hành nghĩa vụ cho tổ quốc, ông đã vì đất nước thân yêu mà sẵn lòng phó thác những người con ông yêu thương nhất cho sự may rủi.

Số mệnh của Đại úy John Ripley đã không hề bị ngăn trở bởi điều luật hay bất kỳ ai. John Ripley đã tự nhủ, tính toán và tự nguyện thực hiện ước nguyện mình. Đại đội Lima, gần đây đã thay hai người chỉ huy trong một thời gian ngắn và từ đơn thuần là một Đại đội bộ binh, đã thay đổi trong vòng vài tuần khi có viên Đại úy mới đến thành một trong những đơn vị tinh nhuệ nhất. Chỉ chưa đầy một tháng khi anh nắm quyền, sự biến chuyển đã trọn vẹn.

Lê Bá Bình
Sài Gòn
Tháng Hai năm 1965

Nhận xét bên ngoài từ quan điểm của người Mỹ, thật là kỳ lạ khi mà Lê Bá Bình, mới được thăng chức trung úy gần đây và nắm quyền chỉ huy Đại đội 1 Sói Biển, vừa quay về nhà đã lại phải trở ra mặt trận. Ngoại trừ trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ, người Mỹ không có kinh nghiệm nào về chiến tranh trong nội bộ đất nước họ. Đối với những người còn sống, trong ký ức chung của họ là các chàng trai Mỹ luôn luôn đi ra mặt trận hay các nơi khác ngoài nước Hoa Kỳ – thường là châu Âu nhưng cũng có ở Thái Bình Dương hoặc tại châu Á – một nơi nào đó rất xa nhà. Mặc dù viễn cảnh hạt nhân của ngày tận thế luôn ám ảnh trong tâm trí của cả quốc gia, sự kiện một thanh niên trở về quê hương để chiến đấu thật sự là một điều quá khủng khiếp để có thể suy ngẫm một cách cặn kẽ được.

Đối với người dân, nước Mỹ là nhà, nơi mà trái tim họ đang đập, được cô lập và ngăn cách bởi hai bờ đại dương, là một pháo đài hùng vĩ. Binh lính Hoa Kỳ không lo là thành phố hay quê hương họ có thể bị cướp bóc, hay vợ con họ có thể bị xâm hại. Nhưng đối với Lê Bá Bình và những người lính TQLC thì không như vậy. Không có những chuyện tương tự như là “Pháo đài Việt Nam.” Ít nhất là chưa có ngày ấy.

Chuyến trở về Việt Nam của Bình gần như không có gì đáng lưu ý. Anh nhớ nhà, nhớ đồ ăn Việt Nam, nhớ những mùi vị và âm thanh thân quen của gia đình. Thật là hạnh phúc khi được trở về nhà và anh hài lòng khi nghĩ rằng sẽ sớm được đáp ơn những gì mà Tổ quốc đã kỳ vọng nơi anh. Anh rất thích nước Mỹ, thích cái vĩ đại và các khoảng không gian mở rộng, thích sự chuyển động không ngừng của người dân tại đó.

Bình đã học được rất nhiều trong trường Huấn Luyện Căn Bản và kết thân được với một số TQLC Hoa Kỳ, những người sẽ sớm đến cùng sát cánh trong cuộc chiến đấu ngay trên quê hương anh. Bình rất háo hức được áp dụng những bài vở đã học được với mong muốn, mà theo anh, sẽ cứu sống những người lính của anh, và quan trọng hơn hết, là tiêu diệt thêm nhiều quân cộng sản nữa.

Vào những năm sau khi kết hôn với ông Lê Bá Sách, bà mẹ kế của Lê Bá Bình đã sinh hạ ra thêm bảy người con, nuôi nấng bốn người con riêng của chồng cũ và tất bật với cửa hàng tạp hóa kiêm luôn gian hàng thực phẩm ở chợ Tân Định. Bà chuyên bán những món ăn bún và gạo miền Bắc và làm ăn khấm khá với sự hỗ trợ của bầy con đến giúp sau khi tan học.

Đối với Bình, Tân Định là nhà, một ốc đảo yên tĩnh, một nơi trú ẩn, một nơi để luôn luôn quay về vào cuối tuần khi Tiểu đoàn 3 nghỉ hành quân, từ căn cứ bản doanh chỉ cách xa mười lăm cây số ở Thủ Đức. Cuộc sống hàng ngày tại Tân Định dường như không bị ảnh hưởng bởi cuộc chiến đang xảy ra liên tục trong các làng mạc và vùng quê không xa nơi đó mấy. Ngay bên ngoài Sài Gòn, bằng chứng về sự bành trướng của Cộng sản và các vùng kiểm soát của Việt Cộng rất dễ nhận thấy.

Người Mỹ rất khó mà hiểu nổi hoàn cảnh của bạn đồng minh Việt Nam. Đối với họ, ra mặt trận có nghĩa là một chuyến đi dài đằng đẵng bằng máy bay hay tàu thủy. Đối với Bình và hầu hết các quân nhân TQLC Việt Nam, thường thì là vài phút rong chơi trên yên một chiếc xe gắn máy.

Vào những lần xuất hành trong các cuộc hành quân thường lệ, các đơn vị chiến đấu TQLC Việt Nam thường mang theo khẩu phần ăn cho sáu ngày gồm có gạo, cá khô, xúc xích, và nước tương. Khẩu phần C-rations cũng được mang theo nhưng chỉ được sử dụng như sự lựa chọn cuối cùng đối với những người lính TQLC Việt Nam với khẩu vị khác với người Mỹ.

Một phương cách ít phức tạp và rườm rà hơn là các Tiểu đoàn trưởng được trợ cấp tiền mặt và ông có thể xuất ra để bổ sung vào khẩu phần ăn cho các binh lính của đơn vị mình.

Mang tiền mặt theo dễ hơn là mang theo cả tấn lương thực. Tiền mặt có khả năng mua được cá, gạo, sản vật và bất cứ thứ gì mà quân đội cần thành thử lại khiến cho các đơn vị tạo được ảnh hưởng trong các vùng mà họ hoạt động. Tiền nhẹ nhàng hơn cũng giúp đơn giản hóa các nỗ lực về tiếp vận.

Về nước uống thì thường được lấy từ các nguồn nước tại địa phương, thường là giếng hay suối. Các quân nhân TQLC Việt Nam, dù là gốc thành thị hay nông thôn, thường có thể tạng phù hợp với các loại nước uống kém tinh khiết hơn là lính Mỹ. Việt Cộng nổi tiếng hay bỏ thuốc độc vào các giếng bất cứ lúc nào họ làm được. Một cách thử tuy thô sơ nhưng hữu hiệu nhằm đối phó với những sự phá hoại ngầm như vậy là nhúng ớt tươi vừa cắt vào nước mới lấy được. Tùy theo sự thay đổi màu sắc của nước mà biết được nước có an toàn để uống hay không.

Một trong những khó khăn lớn nhất khi hoạt động trong hoặc xung quanh khu vực đông dân cư là làm thế nào xác định được ai có cảm tình với Cộng sản. Khác với bộ đội Bắc Việt, Việt Cộng không mặc đồng phục. Họ luôn luôn tìm cách khai thác các lợi thế như lén lút và lừa dối, với khả năng có thể trà trộn lại vào đám dân chúng mà họ vừa từ đó chui ra.

Người Mỹ đặc biệt gặp khó khăn khi muốn phân biệt những người dân bình thường với kẻ thù mang vũ khí. Sự khác biệt quá lớn về ngôn ngữ và văn hóa cộng lại đã làm cho việc giao tiếp và hiểu biết về những nét tinh tế của lối sống Việt Nam rất khó khăn. Những điều này hoàn toàn ngoài tầm hiểu biết của của người lính Mỹ bình thường. Đó là một trở ngại lớn đối với nỗ lực của người Mỹ để đánh bại một kẻ thù mà họ hơn hẳn về hỏa lực nhưng kém hơn trong sự xảo quyệt hay sự quyết tâm.

Lính TQLC Việt Nam không hề bị các rào cản về văn hóa hay ngôn ngữ như vậy nên nói chung dễ phát hiện các khu vực mà Việt Cộng hoạt động hơn là người Mỹ.

Có nhiều phương cách và dấu hiệu để phát hiện ra Cộng quân. Chỉ cần nói chuyện bâng quơ với dân làng là đã có thể nhận ra lòng dạ hay ý định của họ. Một điều rõ ràng là nếu họ chịu tiết lộ thì biết ngay họ có chống Cộng hay không vì nếu giúp chính phủ thường phải trả giá rất cao. Việt Cộng sẵn sàng trả đũa những hành động giúp địch như vậy một cách nhanh chóng và tàn bạo. Trong vùng kiểm soát hay khủng bố của Việt Cộng, người dân thường giữ im lặng và miễn cưỡng trả lời những câu hỏi thông thường nhất.

Chỉ nội sự im lặng cũng đủ báo hiệu cho TQLC biết cần phải thận trọng hơn. Trong các làng mạc và cánh đồng lúa giáp với khu dân cư mà chỉ có lác đác vài người lớn làm việc trong giờ làm đồng vào ban ngày thường có nghĩa là họ phải tham dự các lớp học về tuyên truyền và nhồi sọ. Đôi khi TQLC yêu cầu các ngôi làng nghi ngờ có VC hiện diện phải đốt đèn ban đêm để có thể dễ dàng quan sát mọi sự di chuyển. Đèn tắt chứng tỏ cho TQLC biết có điều gì đó ám muội đang xảy ra.

Có một loạt các dấu hiệu riêng rẽ hay liên quan với nhau, có khi rất rõ ràng và đôi khi mù mờ nhưng nếu biết kết hợp lại với nhau thì có thể xác định mức độ đe dọa của bất kỳ một khu vực cụ thể nào đó. Tuy nhiên có một nguồn tin tức tốt, chắc chắn nhất để biết có Cộng sản chung quanh hay không là hỏi trẻ em. Tách chúng ra khỏi đám đông, ân cần hỏi han và cho bánh kẹo là cách dễ dàng nhất để lấy niềm tin của đám trẻ thơ ngây mà bất cứ sự huấn luyện hay đe dọa nào của cha mẹ chúng đều không ngăn chận được, cho dù là họ có là cán bộ nòng cốt của Việt Cộng đến đâu đi nữa.

Những điều mà Bình và số lượng ngày càng đông các sĩ quan trẻ TQLC đã được học thêm tại Quantico rất có ích. Khả năng tác chiến của họ đã được nâng cao và quy mô của TQLC Việt Nam cũng được phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của chiến tranh vào năm 1965 cùng với sự khốc liệt của cuộc chiến đang được tiến hành. Khi Bình còn là một thiếu úy, phần lớn các trận chiến gần Sài Gòn hơn để đối phó với các đơn vị nhỏ của Việt Cộng. Ngay sau khi được thăng chức trung úy và nhận nhiệm vụ Trung đội đội trưởng TĐ1 của TĐ3, đơn vị Bình được điều ra phía Bắc đánh nhau với các đơn vị VC lớn hơn và cả bộ đội Bắc Việt nữa.

Từ lúc đầu tiên ra mặt trận, ngay trước những ngày tại Quantico, Bình đã chiếm được cảm tình của các cố vấn TQLC Mỹ hiện diện bên cạnh các đồng minh Việt Nam nhằm bảo đảm cung cấp một hỏa lực dồi dào. Sự yểm trợ của không lực nếu được đáp ứng một cách nhanh chóng và tương đối chính xác từ các phi công Việt Nam và Mỹ cùng với yểm trợ pháo binh từ của tiểu đoàn pháo binh TQLC thường đánh dấu sự khác biệt giữa chiến thắng và thất bại, sự sống hay cái chết, đặc biệt là chống lại các lực lượng thù địch Bắc Việt thường có quân số đông hơn.

Địa bàn hoạt động của Đại Đội 1 vào năm 1965 thường diễn ra tại một vùng mà giới quân sự và dư luận Hoa Kỳ gọi là Vùng I (còn gọi là Quân Đoàn 1), phát âm là “Ai-Coọc” (I-Corps). Việt Nam Cộng Hòa được chia ra làm bốn vùng chiến thuật. Vùng I là phần đất nằm phía Bắc của Việt Nam Cộng Hòa. Vùng chiến thuật này bao gồm biên giới với Bắc Việt (vùng phi quân sự) cũng như tiếp giáp với biên giới Lào nơi quân Bắc Việt duy trì đường mòn Hồ Chí Minh cùng với các căn cứ quan trọng có thể dùng để xâm nhập miền Nam Việt Nam qua nhiều ngả khác nhau. Vì vậy đây là một trong bốn vùng chiến thuật xảy ra các trận đánh khốc liệt và gây nhiều thương vong nhất trong suốt cuộc chiến.

1965 chưa phải là năm đẫm máu nhất cho Tiểu đoàn Sói Biển TQLC Việt Nam. Do nhu cầu chiến sự, khả năng chỉ huy cấp đại đội bộ binh của Bình đã được nâng cao theo cấp số nhân. Các cuộc đụng độ quan trọng với các đơn vị lớn gấp bội của Việt Cộng tại những nơi như Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, tiếp giáp với Quốc lộ I, cách 60 km về phía nam Đà Nẵng, 570 km về phía bắc Sài Gòn, và chỉ cách bờ biển sáu cây số, đã là nơi Đại đội 1 của Bình tham gia vào một chiến thắng quan trọng trước một số trung đoàn VC. Các cuộc đụng độ khác, như trận đánh tại Ba Gia và tiến sâu vào nội địa, cách Tam Kỳ 40 km về phía nam, là một bài học đắt giá trong việc tránh bị đánh lừa. Tại Ba Gia, VC đã xuất sắc trong việc chuẩn bị chiến trường trước trận chiến. Mặc dù Đại đội 1 đã tiêu diệt được một số quân Cộng sản đáng kể, sau trận đánh chính kẻ địch đã gây tổn thất nhiều hơn cho quân VNCH trong lần đó.

Bị thương lần thứ tư lúc chỉ huy Đại đội 1 đánh nhau phía Bắc và một lần nữa được công nhận là chiến sĩ anh hùng, danh tiếng của Bình như một nhà tư tưởng và một chiến sĩ không quản gian nguy chiến đấu chống một kẻ thù dai dẳng đã lan truyền sâu rộng trong giới TQLC tuy còn nhỏ bé nhưng đang phát triển lớn mạnh dần. Bố mẹ Bình, đám em và bạn bè rất ngưỡng mộ lòng quả cảm của anh và dường như lúc nào anh cũng đang phải hồi phục từ các vết thương do mảnh bom đan hoặc rừng rậm ô nhiễm. Giữa những cuộc hành quân, Tiểu đoàn Sói Biển bổ sung quân số, nghỉ ngơi và tái huấn luyện tại Thủ Đức. Vì vậy Bình có thời gian rảnh rỗi để thăm gia đình và bạn bè gần đó tại Tân Định.

Trong vùng Tân Định không có vị trí chiến lược nào ngoại trừ một đồn cảnh sát nhỏ cho nên khả năng VC tấn công khủng bố rất xa vời. Đối với Bình sự thay đổi liên tục giữa chuyện phải điều đi đánh nhau ở bất kỳ nơi nào đó và trở về nơi tạm yên Tân Định đã trở thành một tập quán. Ngày nào Cộng sản bị đánh bại và hòa bình tái lập, họ sẽ trở về cuộc sống mà thực sự chưa có ai từng sống qua nhưng tất cả đều hoài mong chờ đợi. Trong lúc này họ phải chịu những sự hy sinh cần thiết thôi.

Không có nơi nào mà niềm tin tưởng là những sự hy sinh cần thiết ngày nay cho một tương lai tốt đẹp hơn được thể hiển rõ ràng nhất trong âm nhạc của thời đó. Nền tân nhạc cận đại của Việt Nam vào thời kỳ đầu và giữa thập niên 1960 là một sự pha trộn khác thường của nhạc trẻ Mỹ và Pháp cùng với hai ngàn năm văn hóa của đất nước. Nhạc mới Việt Nam có thể được chia ra thành hai giai đoạn chính. Từ 1954 cho đến khoảng 1962, lúc nỗ lực chung được tập trung vào việc xây dựng nội bộ đất nước, các bài hát ghi chép lại các cuộc đấu tranh gần nhất và niềm tự hào về khả năng của nước cộng hòa. “Chuyến đò vĩ tuyến” nhằm vinh danh hơn 800 ngàn người đã hy sinh rất nhiều để di cư vào Nam bằng đường thủy. “Nắng Đẹp Miền Nam” (The Rising Sun of the South), một giai điệu rất được ưa thích và được phổ biến rộng rãi như cái tựa đã nói lên được ý chính, là một trong những bài ca theo chủ đề tương tự tiêu biểu cho thời kỳ đó.

Từ năm 1962 trở về sau, âm nhạc được phát triển cùng với nhịp độ ngày càng tăng của cuộc xung đột. Giọng ca ủy mị và diễn xuất tuyệt vời của Hoàng Oanh trong bản “Tình Anh Lính Chiến” (The Love of a Fighting Man) đã được biết đến và ghi khắc trong lòng của mỗi quân nhân cũng như những phụ nữ đang chờ đợi họ. Trong bài hát, người lính chiến đấu ngoài mặt trận và người yêu thì ở lại hậu phương. Trong màn đêm, chàng trai ngắm trăng tròn và tự hỏi, giống như mọi chiến binh khắp nơi, không biết người yêu có đang ngắm cùng một vầng trăng và nghĩ đến mình hay không?

Nhiều bài ca khác không ủy mị bằng thì kêu gọi lòng ái quốc và gương hy sinh. “Ai Ði Chinh Chiến” đặt và giải đáp câu hỏi “Ai là những người tòng quân để xây dựng một tương lai hòa bình?” Có thật nhiều các bài hát yêu nước và chống cộng nhưng không phải tất cả các bản nhạc đều như vậy. Miền Nam đã đủ lớn mạnh và an ninh để chấp nhận cả nhạc phản chiến của Phạm Duy rất được phổ biến.

Ngay từ năm 1962, dấu chân của người Mỹ ở Việt Nam là đủ quan trọng và phổ biến, cũng như các chuyến công vụ của họ cũng đủ lâu dài để ảnh hưởng nền văn hóa Mỹ lên nước nhà. Do đó người Mỹ không muốn và cũng không có lý do nào để họ vượt ra ngoài những điều dễ dàng có sẵn. Ngay từ việc chuyển từ tiếng Anh qua tiếng Việt đã không giống như việc học tiếng Tây Ban Nha hoặc tiếng Pháp ở trung học. Bạn không thể thêm một “o” ở cuối của mỗi từ và giả bộ đó là tiếng Việt, mặc dù một vài từ tiếng Pháp vẫn còn được dùng như vậy. Chẳng lẽ binh sĩ và Thủy quân lục chiến Mỹ lại nói: “Boocoo VC,” “boocoo này” và “boocoo đó?” (beaucoup).

Người Mỹ, ngay cả cách sử dụng đôi đũa còn nhiều lúng túng, hoàn toàn không hiểu các ngữ điệu tinh tế tựa như tiếng hát của ngôn ngữ địa phương. Vì vậy họ thấy văn hóa Việt Nam có vẻ cầu kỳ vòng vo và không thích hợp với những phương pháp kinh doanh Tây phương thẳng thắn trực diện mà họ tin là có ưu thế hơn.

Trong đám thương gia Việt Nam có những người đàn ông cũng như đàn bà tham lam và siêu-tư-bản chỉ muốn bám vào sự hào phóng của người Mỹ còn chưa biết cả cách đổi tiền sòng phẳng. Trong phạm vi những khu vực “Hoa Kỳ nhỏ”, thường xuất hiện bất kỳ nơi nào có quân đội Hoa Kỳ hoạt động, có đủ các thú vui thể xác mới lạ mà hầu hết những người lính Mỹ trẻ rất muốn thử qua. Do đó, rất ít người Mỹ thật sự hiểu được dân bản xứ và nền văn hóa một cách thân thiện ngoài những gì có sẵn trong khu ồn ào, các nhà thổ và các quán ba.

Trong khi chủ nghĩa đế quốc văn hóa Mỹ dường như chừa lại chẳng bao nhiêu cho những gì không phải là văn hóa Mỹ thì Bình, cũng như đa số bạn bè của anh và gia đình, lại thích loại âm nhạc tổng hợp nhiều màu sắc lúc nào cũng hiện diện trên các làn sóng phát thanh hơn. Mọi người đều thuộc lòng nhịp điệu bản “C’est Si Bon” và hầu hết đều hiểu “thấu lời bài hát do di sản văn hóa Pháp để lại. Với trình độ tiếng Anh của mình, Bình còn hiểu được lời các bản nhạc của Beatles như “I Saw Her Standing There.” Và anh cũng thích những bài hát như vậy, giống như hàng trăm ngàn người Việt Nam thuộc giới trẻ không cần biết và cũng không quen với ý nghĩa lời nhạc nhưng lại được truyền cảm hứng qua các giai điệu. Ít nhất là người Việt Nam và người Mỹ còn có chung một thứ gì đó để chia sẻ với nhau trong tính phổ quát của nhạc Rốc.

Đối với những người Mỹ yêu nước thuộc thế hệ xưa, những người thích Trung sĩ Barry Sadler với bài “Ballad of the Green Berets” nếu như họ biết thì có lẽ “Tình Anh Lính Chiến” sẽ hấp dẫn và quen thuộc với họ hơn.

Với tư cách một Trung úy bộ binh trẻ, Lê Bá Bình tập trung vào nhiệm vụ chiến đấu và chăm lo đến các binh sĩ trong Đại đội 1 nhiều hơn mọi thứ khác. Tuy anh rất thích âm nhạc thời đó nhưng anh không màng đến ý nghĩa của bất kỳ bài hát đặc biệt nào. May mắn cho anh là có một người phụ nữ trẻ, đặc biệt với một nhận thức sâu sắc hơn về nghệ thuật và thơ văn cũng như tính lãng mạn của thời kỳ độc đáo duy nhất đó. Sau này Bình có lý do riêng để cảm ơn Hoàng Oanh đã hát bài “Tình Anh Lính Chiến” ra rả liên tục vì điều này chính là yếu tố quyết định sau rốt để Cầm Bành nhận lời cầu hôn của anh.

Đại đội Lima 6

Khi John Ripley có mặt tại Việt Nam, ông chỉ có một mục tiêu chuyên nghiệp trong đầu. Mặc dù lòng thương nồng nàn anh dành cho bà vợ Moline và đứa con trai Stephen, nhưng John Ripley vẫn là một sĩ quan bộ binh thuộc binh chủng TQLC. Anh là một đại úy Thủy quân lục chiến. Cấp bậc Đại úy thuộc binh chủng TQLC, trên danh nghĩa, có nhiệm vụ chỉ huy Đại đội bộ binh để ra mặt trận khi cần thiết. Bất cứ cấp chỉ huy “skipper”* (danh xưng chỉ huy trong TQLC, vốn thuộc vào bộ Hải Quân được gọi là “skipper” tức thuyền trưởng) nào với mức độ nam tính vừa phải hoặc đủ mức gan lì thường sẵn sàng vượt chông gai để có cơ hội dẫn dắt đám TQLC đi đánh nhau. Người nào mà không đủ mức độ nhiệt tình như vậy thường thất bại khi chỉ huy binh lính của mình. *

Rất ít người sống ngoài quân ngũ hiểu và đánh giá nổi cái quyền quyết định tuyệt đối như ông Trời đã giao cho những thanh niên chỉ ngoài đôi mươi ngoài mặt trận.

Trong chiến sử đầy dẫy các trường hợp những chàng trai mới lớn và quá trình thay đổi nhanh chóng của họ. Bản chất cuộc chiến tại Việt Nam là trên bộ thành thử đã có một số lượng hỏa lực khổng lồ được tập trung vào những tay Đại úy chỉ mới hai mươi bốn, hai mươi lăm, hoặc hai mươi sáu tuổi. Họ thường xuyên dẫn Đại đội hành quân xuyên qua những cánh đồng, những cánh rừng rậm và lên xuống các đường mòn quanh co. Đối với những sĩ quan bộ binh nào thích được thử sức tới cùng và dứt khoát muốn biết mình có đủ đảm lược để chỉ huy binh sĩ chiến đấu trong tình huống tuyệt vọng hay không thì nhiệm vụ Đại đội trưởng bộ binh chính là cái thử thách đó.

Có nhiều yếu tố kết hợp lại để nhiều người gọi chiến tranh tại Việt Nam là một cuộc chiến “cấp Đại đội.” Thế đất và địa hình thường giới hạn việc sử dụng các đại đơn vị cũng như các chiến thuật càn quét. Hầu hết các trận đánh xảy ra trong rừng rậm, tầm nhìn bị hạn chế, thông tin liên lạc khó khăn và kẻ thù thì phải cận chiến. Điều này có nghĩa là những đơn vị lớn hơn cấp Đại đội thường không được sử dụng với một hiệu quả tối đa. Chính vì những giới hạn về địa lý cho nên các tướng lãnh tư lệnh Sư đoàn, các Đại tá chỉ huy Trung đoàn, ngay cả cấp Trung tá Tiểu đoàn trưởng thỉnh thoảng phải chấp nhận quan sát mặt trận từ những hầm chỉ huy ở phía sau hay phải bay trực thăng trên không, rất hiếm khi nào ngay từ tiền tuyến. Cuộc chiến tại Việt Nam được lên kế hoạch tỉ mỉ từ cấp cao và trung bình nhưng phần lớn được thực hiện bởi cấp Đại úy trở xuống. Vai trò của một “skipper” có một sức hấp dẫn đặc biệt. Nó là điểm tựa, là trung tâm tuyệt đối của thế giới TQLC mà chung quanh đó là một sự pha trộn đặc biệt của tinh thần chỉ huy tại chỗ. Sĩ quan Đại đội trưởng là người điều hành và quyết định tuyệt đối. Tuy nhiên họ cũng có thể gần gũi như một người anh cả đối với các cấp Trung đội trưởng và binh sĩ, có thể nhìn thấy ngay các kết quả tức khắc – thành quả của khả năng đơn vị mình – và đồng thời sử dụng được toàn bộ kỹ năng trí tuệ nhằm phối hợp và hướng dẫn các phương tiện hỏa lực hỗ trợ trong quá trình suy luận có thể thực hiện được.

Trong một trận đánh không có điều gì khó khăn hơn là việc gọi hỏa lực khủng khiếp từ các chiến hạm, các đơn vị pháo binh, không lực yểm trợ, để rồi phối hợp thành công và điều chỉnh lại qua những người trên mặt đất. Khi mọi chuyện kết hợp lại với nhau tốt đẹp như vẫn thường xảy ra thì chiến thắng gần như là chắc chắn. Thỉnh thoảng cũng có những trường hợp mọi chuyện không tốt đẹp như vậy.

Ngay cả những lúc như thế, vẫn luôn luôn có những hành động chung của các TQLC được huấn luyện và chỉ huy đúng mức trong các toán hỏa lực, các Tiểu đội và Trung đội trong thành phần Đại đội vượt qua được các sai lầm về phán đoán, liên lạc bị thiếu sót, những vụ bắn lầm phe bạn, những tình huống bất thường và một kẻ thù không kém ngoan cố để tạo nên sự khác biệt giữa thành công và thất bại.

Một giàn hỏa lực có sức tàn phá khủng khiếp chỉ kém vũ khí hạt nhân một mức, được thiết kế bởi những khoa học gia lỗi lạc nhất của các công ty lớn nhất của ngành kỹ nghệ chiến tranh Hoa Kỳ hùng mạnh luôn luôn sẵn sàng chờ đợi sự phán đoán chín chắn đã được giao cho viên chỉ huy “skipper.” Anh ta chỉ việc yêu cầu và chỉ định sự tàn phá cần thiết sẽ được thực hiện tại đâu. Tất cả đã được dọn sẵn cho anh ta và các chiến binh TQLC như một mâm cỗ khổng lồ vô hạn định về thời gian. Toàn là những thứ “nặng ký”; một hỏa lực tàn khốc có khả năng xé toạc mặt đất ra từng mảnh, một hỏa lực khốc liệt có thể biến con người thành tro bụi, xóa hết vết tích người đó đã từng hiện hữu. Tất cả sức mạnh đó nằm trong tay một thanh niên trẻ tuổi. Trách nhiệm nặng nề về sự an nguy của hai trăm binh sĩ và khả năng nắm trong tay một hỏa lực vô giới hạn tùy thuộc vào sự quyết đoán của một người còn chưa biết cạo râu mà một hay hai năm trước đó còn thắc mắc làm sao qua được một kỳ thi đại học hay giường chiếu của một vài cô gái đầy hứa hẹn, hoặc chẳng suy nghĩ gì cao xa hơn những bản nhạc như “Who Wrote the Book of Love” hay “Who Put the Bomp in the Bomp Bah Bomp Bah Bomp?”

Không có một nơi nào có thể mang lại một cảm giác kinh sợ, những tình cảm cao độ, tinh thần trách nhiệm và cơ hội rủi ro cá nhân và phần thưởng tinh thần và sự mất mát như vậy được. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ chỉ huy Đại đội, người đàn ông sẽ không bao giờ có lại được cái cảm giác tuyệt đối như thượng đế nữa. Sau này nếu có trở về đời sống dân sự, mọi của cải tích lũy được cũng không sánh bằng mức độ trách nhiệm và uy quyền đã từng có được trước kia. Ngay cả nếu có được thăng cấp lên chỉ huy các đơn vị lớn hơn, kinh nghiệm này cũng sẽ làm kém đi tình cảm gắn bó với thuộc cấp nơi đầu sóng ngọn gió. Người ta nói rằng hầu hết các tướng lãnh TQLC đều sẵn sàng đánh đổi các ngôi sao của mình để làm chỉ huy Đại đội ngoài mặt trận một lần nữa.

Phải mất một chút thủ tục sau khi đến Việt Nam nhưng cuối cùng John Ripley đã được giao nhiệm vụ chỉ huy Đại đội mà anh hằng khao khát. Sự vụ lệnh bổ nhiệm là sĩ quan chỉ huy Đại đội Lima tương đối nhanh chóng. Chẳng là Đại đội đã trải qua nhiều cấp chỉ huy trong một thời gian ngắn vì những lý do không khác thường lắm. Mặc dù còn sót lại một ít chiến binh đầy kinh nghiệm từ những chiến dịch trước, nhiệm vụ này đã có nhiều sự thay đổi. Trước kia đơn vị này được phối trí tại một khu vực gần Đà Nẵng và hoạt động chính của Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 3 nhằm chống lại du kích Việt Cộng trong những cuộc đụng độ không thường xuyên và nhanh chóng. Cuộc giao tranh mà họ sắp tham gia ở phía Bắc Vùng I Chiến Thuật sẽ gay go hơn, có tính cách qui ước và liên tục hơn so với những gì đã trải qua. Hằng ngày phải chạm trán với các lực lượng Bắc Việt mạnh và được huấn luyện khá hơn (so với Việt Cộng) trên một địa bàn khắc nghiệt đã làm cho cuộc chiến trở nên đẫm máu hơn. Khi Đại úy Ripley nắm quyền chỉ huy Đại đội Lima, anh chưa có kinh nghiệm cá nhân mấy. Nhưng anh cũng không có tật xấu nào cả. Một tâm trí cởi mở đi đôi với lòng nhiệt thành muốn làm hết khả năng của mình đã là một sự khởi đầu tốt đẹp. Kinh nghiệm Thám Sát kết hợp với sự huấn luyện về Biệt động cùng với nhiệt huyết riêng về Trinh sát, tài năng dọ thám địa hình, đồng thời một khái niệm vững chắc làm cách nào tận dụng hỏa lực yểm trợ có sẵn là những yếu tố anh sớm sử dụng với một hiệu quả trông thấy được.

Đại úy Ripley là một người rất khó tính khi huấn luyện lại Đại đội Lima với những chiến thuật bộ binh căn bản nhất. Muốn di chuyển toàn bộ một Đại đội bộ binh cộng thêm mọi trang bị với con số lên tới 225 lính TQLC cùng với lính Hải quân không phải là chuyện đùa, đặc biệt tại phía Bắc của Vùng I Chiến Thuật. Tuy nhiên chỉ trong vòng hai tuần lễ, Đại đội Lima đã có khả năng thực hiện được điều đó chỉ bằng cách ra dấu 100%.

Không có chuyện lộn xộn hay giỡn chơi được. Mọi giác quan lúc nào cũng phải căng thẳng sẵn sàng. Mỗi TQLC và lính đều phải biết vai trò của mình, biết khi nào sẽ có đụng độ. Các chiến binh đều trở thành chó săn, đánh hơi được từng dấu hiệu của sự hiện diện của đối phương trước khi quân Bắc Việt nhận ra họ. Trong những tháng sau đó, Đại đội Lima không bao giờ bị bất ngờ hay bị phục kích bởi kẻ thù. Chính Đại đội Lima chủ động các cuộc chạm trán và không hề thiếu những tình huống như vậy. Một người bạn đồng thời là đệ tử của Ripley tên là Ed “Ed mã tấu” McCourt, khi đó là Trung úy của Trung đội 3, Ðại đội 3 India, đã nhanh chóng nhận xét về anh: “Rip là một thứ nam châm hút bộ đội Bắc Việt. Đám TQLC chúng tôi thường xin hành quân bên hông của Đại đội Lima vì chúng tôi luôn luôn thấy chắc chắn là có đánh đấm.”

*Danh xưng “skipper” không được gọi một cách dễ dàng. Trong Hải Quân Hoa Kỳ, skipper là sĩ quan chỉ huy của bất cứ loại tầu bè nào; từ cái xuồng thoát hiểm cho đến hàng không mẫu hạm. Trong TQLC Hoa Kỳ, danh xưng này dùng để chỉ người nắm quyền chỉ huy Đại đội – trong trường hợp này là Đại đội bộ binh. Trong mọi trường hợp, đây là một danh xưng để bày tỏ niềm kính nể và sự thân mật.

Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM

CƯỠI NGỌN SẤM

cuoingonsam

richardbotkin

Chương Hai (3)
Đến năm 1962 thì binh chủng TQLC với tám năm thành lập ngắn ngủi đã được tăng cường thêm Tiểu đoàn 3. Với Tiểu đoàn pháo binh cơ hữu, một Tiểu đoàn hỗ trợ đổ bộ và một ban tuyển mộ huấn luyện đã đủ lông đủ cánh, TQLC Việt Nam đã có khả năng đưa vào chiến trường cả một Lữ đoàn đầy đủ. Vào thời điểm Bình được gắn lon Thiếu Úy với vạch vàng lên cầu vai, đã có gần sáu ngàn quân nhân Việt Nam được đặc quyền mặc bộ đồ trận rằn ri riêng biệt của binh chủng với châm ngôn “Danh Dự – Tổ Quốc.”

Sau khi tốt nghiệp trường sĩ quan, sáu mươi Thiếu úy TQLC tân khoa được theo khóa thực tập một tháng tại Thủ Đức để học tập thêm về các đường lối của binh chủng, tập trung vào các chiến thuật bộ binh và đổ bộ, đồng thời để chuẩn bị cho họ đảm nhận công tác chỉ huy ngoài mặt trận ở cấp độ Trung đội và Đại đội. Bình đã tốt nghiệp thủ khoa trong toàn khóa huấn luyện này.

Vào lúc đó, Trung tá Lê Nguyên Khang là một sĩ quan cao cấp của TQLC vừa nhận quyền chỉ huy Tiểu đoàn 3, còn được mệnh danh là “Sói Biển.” Hãnh diện vì đơn vị cũ của mình, ông muốn đưa các sĩ quan trẻ tuổi đầy triển vọng về Tiểu đoàn “Sói Biển” thân thương của ông. Và đó chính là lý do tại sao Bình đã được điều về Tiểu đoàn 3 TQLC.

Các sĩ quan TQLC Hoa Kỳ được giao nhiệm vụ cố vấn cho các TQLC Việt Nam thường thấy nhiều điểm tương đồng với họ vì những người này đã tiếp nhận một cách nhanh chóng tinh thần dẻo dai và niềm tự hào đơn vị mà các cố vấn Mỹ đã truyền bá thành công trong tâm trí họ. Do giá trị quân sự xuất chúng nên các Lữ đoàn TQLC và Nhẩy Dù Việt Nam nổi tiếng đã được chỉ định là lực lượng tổng trừ bị cho toàn bộ QLVNCH vào giữa năm 1959. Hai đơn vị này tuy nhỏ nhưng đáng tin cậy đã trở thành lực lượng ứng trực của quốc gia, các Lữ đoàn “lửa” để sử dụng trong trường hợp cực kỳ khẩn cấp và là những đơn vị để được gởi đi hoàn thành các nhiệm vụ khó khăn nhất.

Đơn vị triển khai chính của TQLC là cấp Tiểu đoàn. Được tổ chức tương tự như các Tiểu đoàn TQLC Hoa Kỳ bạn, hoạt động Tiểu đoàn TQLC Việt Nam còn mang sắc thái của hệ thống Trung đoàn Anh quốc trong các hoạt động có tính cách lâu dài. Là một nhánh nhỏ của quân đội, chưa có bề dầy lịch sử hoạt động nào đáng kể cho nên điều hiển nhiên là các sĩ quan và quân nhân thường được giữ lại trong đơn vị rất lâu tùy theo nhu cầu thực tế. Tuy chưa có ai đủ thâm niên để có thể coi thời gian phục vụ trong TQLC là một binh nghiệp nhưng điều hợp lý là một quân nhân, nếu sống sót qua các chiến trận, có thể được giữ lại trong cùng một Tiểu đoàn trong suốt thời gian phục vụ của anh. Những người chống đối hệ thống này cho rằng điều này có thể bóp nghẹt sự cải cách và ngăn không cho những nguồn “máu” mới được bổ sung vào. Lập luận ngược lại là mặc dù có sự phân loại về đẳng cấp, một môi trường có tính cách gia đình sẽ đóng góp vào nỗ lực chung và tinh thần đồng đội.

Tinh thần chiến đấu của TQLC là một sự pha trộn nét đặc thù Việt Nam và một phần ảnh hưởng của Hoa Kỳ. TQLC Việt Nam cũng giống như bên phía Hoa Kỳ là không hề có một mẫu người riêng biệt nào khi họ tình nguyện vào lính. Tuy vậy cũng có các nhóm người đại diện khác nhau. Chẳng hạn như đối với các giáo phái đặc biệt bị Cộng sản để ý đến như các thanh niên gốc Hòa Hảo và Cao Đài thì họ cho việc gia nhập TQLC là một cách để phục thù lại. Và trong khi báo chí Mỹ thường xuyên trong nhiều năm dài nói về các thanh niên Việt Nam tìm cách trốn tránh hoàn toàn nghĩa vụ quân sự hoặc ít nhất là phục vụ trong những vị trí an toàn đến tính mạng thì không hề thiếu các thanh niên Việt Nam yêu nước khác tin tưởng là chủ nghĩa Cộng sản không phải là câu giải đáp và quan niệm việc nhập ngũ vào TQLC là phương cách tốt nhất để đóng góp cho nền Tự Do của miền Nam Việt Nam.

TQLC Việt Nam là một tổ chức tình nguyện. Việc gia nhập thường lệ, tối thiểu lúc tân tuyển, là ba năm. Công tác huấn luyện dài tám tuần được tổ chức tương tự như các phương cách của TQLC Hoa Kỳ. Rất nhiều huấn luyện viên Việt Nam đã từng học tại San Diego và Parris Island.

Các sĩ quan được giao phó trách nhiệm với thời gian lâu dài hơn. Theo dòng chiến sự, nếu không bị tử trận hay trọng thương thì họ được giữ quân vụ một cách vô hạn định. Và cũng giống như các cấp bậc đã nhập ngũ khác, sĩ quan TQLC Việt Nam không nằm trong bất cứ nhóm người đặc biệt nào khác. Họ bao gồm những người miền Nam, người Bắc di cư, Phật tử và Công giáo.

Không có nơi nào mà sự tôn trọng Khổng giáo và quyền hành theo cấp bậc rõ ràng hơn là trong TQLC. Trong bốn quân chủng Hoa Kỳ thì TQLC là tổ chức chú trọng đến sự phục tùng các cấp trên nhiều nhất. Đối với những người không biết hoặc ngoại cuộc thì họ không hề cảm nhận được cái tình cảm sâu sắc thường chỉ biểu hiện dưới bề mặt sự tương quan giữa sĩ quan và các quân nhân hoặc sĩ quan cao cấp và cấp dưới của mình. Tuy các sĩ quan ít khi gọi thuộc cấp của mình bằng tên riêng và ngược lại kẻ dưới luôn xưng hô cấp trên bằng “Thưa (hay trình)…” cùng cấp bậc của họ, tình huynh đệ chi binh giữa họ hết sức mạnh mẽ ngay cả trong các đơn vị chiến đấu nhỏ nhất. Và mặc dù cấp bậc và chức vụ phần nào phân chia sĩ quan với thuộc cấp nhưng gian khổ và khó khăn là điều phổ quát chung.

Quân đội Hoa Kỳ, nhất là TQLC đặc biệt nhấn mạnh công việc đào tạo những người có khả năng kế thừa mỗi khi cấp trên bị tử trận hay bất khiển dụng. Đây là một điều gần như là độc đáo trong nền văn hóa của Hoa Kỳ, có thể là một phần của tư tưởng “anh hùng cá nhân” và bản chất thứ hai nữa là nó đã cho các đơn vị này có thể tiếp tục chiến đấu một cách hiệu quả ngay mặc dù cấp chỉ huy chính thức đã ra đi.

Sự phân cấp trong TQLC Việt Nam ít phức tạp hơn quân đội Hoa Kỳ, có vẻ Việt Nam hơn hoặc giống hệ thống Âu Châu trên thực tế. Khi đối diện với cấp trên, điều lịch sự và kính trọng thông thường là không nhìn thẳng vào mắt của người đối diện. Khái niệm sĩ diện hay giữ thể diện là điều tối ưu không thể coi nhẹ được. Đối với các cấp chỉ huy, điều quan trọng nhất là các mệnh lệnh phải được thi hành và mọi hành động phải được chấp thuận trước khi thi hành. Khoảng cách giữa sĩ quan và lính tráng khá rõ ràng ngay từ cấp Thiếu úy trở lên. Mỗi Trung đội trưởng đều có một bộ phận nhỏ trong bộ chỉ huy tí hon của mình, thường là từ một đến ba người để làm những chuyện vặt vãnh, phục dịch, đưa tin hay chạy việc cho viên Thiếu úy trẻ. Chức vụ càng cao thì nhóm quân nhân được giao trách nhiệm phục dịch sĩ quan càng đông hơn. Trong quân đội Hoa Kỳ thì nhóm người này thường được gọi là “cao bồi.” Đây là một trách nhiệm danh dự chứ không hề là một sự miệt thị khi được làm “cao bồi” cho một sĩ quan nào đó.

Thiếu úy Lê Bá Bình trình diện “Sói Biển” vào tháng 10 năm 1962, một tháng sau khi chương trình “Beverly Hillbillies” được trình chiếu lần đầu trên truyền hình Mỹ, cùng tháng với ca khúc “Monster Mash” do ca sĩ Bobby “Boris” Pickett trình bầy được xếp hạng nhất của nhạc Pop Mỹ, cũng đồng thời cũng là tháng mà “Đại Bàng Hoa Kỳ” và “Gấu Mẹ Liên Sô” suýt nữa đã choảng nhau bằng hỏa tiễn nguyên tử tại Cuba. Trong một chiến dịch gọi là “Operation Shufly” được tiến hành từ đầu năm, các trực thăng TQLC Hoa Kỳ nay được chỉ định yểm trợ không vận cho các đơn vị TQLC cũng như quân đội QLVNCH bay ra bay vào mặt trận.

Phương pháp sử dụng các tân sĩ quan trong TQLC Việt Nam hầu hết là huấn luyện tại chỗ. Ngay sau khi trình diện Tiểu đoàn 3, Bình được bổ nhiệm Trung đội trưởng thuộc Đại đội 2. (Khác với TQLC Hoa Kỳ đặt mã chữ cho các Đại đội, phía Việt Nam thì vẫn sử dụng mã số ở cấp Đại đội).

Kể từ lúc Thiếu úy Lê Bá Bình trình diện vào tháng 10/1962 cho đến đầu tháng 11 năm 1963, Tiểu đoàn 3 đã được điều động không biết bao nhiêu lần ra mặt trận quần thảo với các đơn vị Việt Cộng từ vùng Trung nguyên mạn bắc Saigon cho đến mỏm Nam bán đảo Cà Mau.

Đối với những người trong cuộc như các TQLC với những người như Lê Bá Bình đầy kinh nghiệm trận mạc thì các cuộc tiếp cận với kẻ địch mang tầm ý nghĩa rất quan trọng. Nhìn theo cách vô tư, từ xa và có tầm bao quát hơn thì có vẻ những cuộc giao tranh này không có gì quan trọng lắm. Trong thời gian hai năm thử thách này, Thiếu úy Lê Bá Bình đã bị thương ba lần khi dẫn Trung đội xung phong tấn công kẻ thù Cộng sản và đã được ghi công trạng anh dũng. Đó là những kinh nghiệm sẽ giúp anh và những binh lính anh sẽ chỉ huy trong các cuộc giao tranh sắp tới. So sánh với những thử thách sau này trong cương vị Đại đội trưởng hay Tiểu đoàn trưởng thì sự khởi đầu chậm chạp và tương đối nhẹ nhàng lại là cách tốt nhất để nhập cuộc đối với một sĩ quan trẻ.

Do sự tình cờ của số mệnh mà vào đầu tháng 11 năm 1963 hầu hết các sĩ quan và quân nhân của Tiểu đoàn 3 đang được nghỉ phép trong khi toàn bộ Sài Gòn cũng như bộ Tư lệnh quân đội Việt Nam lao vào các âm mưu dẫn đến cuộc đảo chánh để thay thế TT Ngô Đình Diệm. Họ đã trình diện lại vài ngày sau khi tướng Dương Văn Minh, được hầu hết người Mỹ biết đến như “Minh cồ”, đã nắm quyền lãnh đạo và sau này bị thay thế bởi tướng Không quân Nguyễn Cao Kỳ vào cuối tháng Giêng năm 1964, sau một vài thay đổi chính quyền. Đối với các TQLC Sói Biển, công tác chiến đấu chống Việt Cộng đã trở lại bình thường.

Trong khi còn đang thu thập kinh nghiệm chỉ huy trong cương vị Trung đội trưởng, Bình được chọn và thông báo sẽ được điều đi học khóa Căn Bản TQLC tại Quantico ở Virginia, Hoa Kỳ. Đối với Lê Bá Bình, viễn ảnh được đi du học ở Mỹ và thụ huấn một khoá huấn luyện cao hơn là một thử thách mà anh rất hăm hở chờ đợi.

Có một điều gì đó không cưỡng lại và né tránh được mà mọi người phải chấp nhận là sự hiện diện và ảnh hưởng toàn diện của nền văn hóa Hoa Kỳ. Trong đề tài này thì không mấy ai thích tranh luận. Lập luận khởi đầu là liệu cái sức mạnh này có tính cách cố ý và liệu có phục vụ cho lợi ích của người Mỹ hay không?

Thành phần ghét Mỹ tại Âu Châu và Á Châu, nhất là những người có khuynh hướng thiên tả hay thân Cộng thì luôn luôn lên án Mỹ vì chủ nghĩa đế quốc xâm lược. Thành phần khác không phản đối Mỹ thì đơn giản thích hưởng thụ phim ảnh và nhạc Mỹ mà cả 48 tiểu bang và ngay các tiểu bang Alaska và Hawaii tuôn ra không ngừng.

Có thể nào một người yêu quê hương đất nước của họ, đặc biệt là trong một nước thuộc thế giới thứ ba, vừa có thể giữ lại được những tinh hoa của nền văn hóa mình mà vẫn thấy thích thú trước vẻ đẹp nam tính phổ quát của Burt Lancaster hay Gary Cooper hoặc sức quyến rũ của Esther Williams và Deborah Kerr hay không?

Có khi nào một người bình thường, dù chỉ là để giải trí, sau một lần được xem Gene Kelly hay nghe Singin’ in the Rain, có thể biến thành Cộng sản được hay không? Có mấy ai có thể cưỡng lại nổi các phản ứng nhún nhẩy tự nhiên của cơ thể khi thưởng thức Temptations hay Four Tops Song? Mặc dù không hiểu tiếng Anh một chút nào, người ta vẫn cảm thấy hạnh phúc và niềm vui khó tả khi được tiếp cận với một nền văn hóa vượt không gian như vậy.

Điều đó đã xảy đến với Lê Bá Bình, một người Việt Nam yêu nước và một sĩ quan trẻ TQLC. Ngay từ lúc còn nhỏ anh đã không hề bị mất gốc hay vọng ngoại. Anh đã hấp thụ ảnh hưởng Tây phương mà không từ bỏ những gì tốt đẹp nhất của Việt Nam và thường ư ử nhái lại những nhạc điệu của Nat king Cole. Anh vẫn thường đi đến các rạp hát nhỏ bé của Sài Gòn, tay nắm một đống tiền để mơ màng đến sự bao la của Miền Viễn Tây hoang dã trong những phim như High Noon hay Veracruz. Đến tuổi mới lớn thì anh chỉ trễ vài tuần lễ sau giới thiếu niên Mỹ khi tiếp xúc với các giai điệu mới của Bill Haley, nhóm tứ ca Danny and the Juniors, cùng tất cả những người sau đó. Cũng nên biết rằng cuộc “xâm lăng của Anh quốc” không chỉ ngừng lại ở Bắc Mỹ sau này. Các ban nhạc the Beatles, the Animals, Herman’s Hermits, the Yardbirds, the Rolling Stones cũng đã hạ cánh và chinh phục được Đông Nam Châu Á.

Bình đã trải qua quá trình thay đổi từ một sinh viên đại học thành một sinh viên sĩ quan rồi tân Trung đội trưởng và trở thành một thanh niên đầy tự tin sau khi đã sống sót qua chiến trận triền miên. Cách huấn lưyện tại chỗ như một tân sĩ quan thật khác xa với phương cách học hỏi lý tưởng về nghệ thuật chỉ huy nhưng lại là sự lựa chọn duy nhất trong điều kiện đất nước vào thời điểm lúc đó. Do đó, cơ hội được du học tại Hoa Kỳ thật là một món quà từ trên rơi xuống. Anh đã tự hiến mình để thu thập phần lớn kinh nghiệm từ khóa học Cơ Bản.

Gánh nặng là phải duy trì sự hiện diện thường trực của quân đội Hoa Kỳ ở một cấp độ nào đó về sức chiến đấu đã khiến cho những người Mỹ chào đời sau Thế Chiến Thứ Hai không có sự lựa chọn nào khác. Cho đến tận thời điểm đó, kể từ khi lập quốc cho đến lúc khởi đầu của Chiến Tranh Lạnh, Hoa Kỳ chỉ động viên cho mục đích chiến tranh, chưa bao giờ phải răn đe ai cả. Với những thay đổi của tình thế, tốn phí của Chiến Tranh Lạnh về nhân lực, tài nguyên và của cải đã vượt quá xa kinh nghiệm đất nước nhưng sự cần thiết phải cảnh giác nhằm đẩy lùi hiểm họa Cộng sản đã đặt cho nước Mỹ vào thế không còn sự lựa chọn nào khác.

Từ sau Thế Chiến Thứ Hai, người Mỹ nghĩ rằng nếu có một cuộc khủng hoảng nào xẩy ra bất cứ chỗ nào trên thế giới thì họ chỉ đơn giản gởi TQLC đến, cùng một lực lượng đặc nhiệm với hàng không mẫu hạm gần đó, hoặc máy bay ném bom chiến lược luẩn quẩn đâu đó trên bầu trời sẵn sàng đợi lệnh Tổng thống để xung kích là đủ.

Thế Chiến Thứ Hai đòi hỏi quá nhiều nơi mức sản xuất và nỗ lực của quốc dân tới mức không một bộ phận nào là không bị chiếu cố. Trong bốn năm trời đó, tất cả dồn vào kinh tế. Vào thời kỳ trước khi giành được chiến thắng, sự lựa chọn của kinh tế quốc gia là “bánh mì hay khẩu súng.” Nói chung dân chúng đã chịu đựng và chấp nhận gian khổ cùng nhau. Ngay cả mặc dù có một số thành phần không phải ra trận phục vụ, nhưng những ngày thứ ba không có thịt và sự hạn chế về xăng nhớt cũng là một cách chia sẻ hy sinh vì mục tiêu chiến thắng.

Trong hoàn cảnh hậu chiến với nền kinh tế phát triển mạnh mẽ đã có sự thay đổi quan niệm từ “bánh mì hay khẩu súng” thành “bánh mì và khẩu súng.” Trong khi tốn phí về quốc phòng vượt xa mức sản xuất quốc gia còn hơn thời kỳ Thế Chiến Thứ Hai nhưng sự tăng trưởng kinh tế và tiến bộ khoa học kỹ thuật đã đạt tới mức là những chi tiêu thường xuyên cho Chiến Tranh Lạnh vẫn cho phép người dân được tự do hưởng thụ các lợi ích vật chất mà họ không bị đòi hỏi phải hy sinh cá nhân như vài năm trước đó.

Tầm cỡ tuyệt đối của sức mạnh quân sự Hoa Kỳ thật khó mà đo lường được. Từ giai đoạn phác thảo hay tuyển mộ từ tứ phương cho đến lúc huấn luyện các cá nhân thành những quân nhân, thủy thủ, phi công hoặc TQLC, rồi nhiều người trong số đó lại còn được huấn luyện thêm về chuyên ngành đặc biệt để bổ nhiệm họ vào các đơn vị mà sau này họ sẽ phải được huấn luyện thêm nữa, cho tới sự trù liệu một uy lực của Hoa Kỳ ở bất cứ nơi nào cần đến thì quả thật chỉ có một quốc gia thực sự giàu có mới kham nổi. Từ lúc khởi đầu cho đến lúc thật sự tác chiến hay phô trương lực lượng còn có vô vàn phí tổn cho việc tích trữ, xây dựng căn cứ và chăm lo cho các nhân viên phục vụ cho nhu cầu quân sự của quốc gia. Các đòi hỏi về nghiên cứu và phát triển lại còn làm tăng thêm chi phí để bảo đảm cho các chiến đấu cơ Mỹ luôn luôn nắm thế thượng phong đối với các đối phương không thể nào có sức chạy theo cách người Mỹ làm. Thật là không đơn giản chút nào nếu muốn phái một phi đội B.52 đủ sức dội bom trúng mục tiêu, hoặc điều một lực lượng đặc nhiệm hàng không mẫu hạm đến một vị trí chiến lược có tầm ảnh hưởng thuận lợi cho lợi ích của Hoa Kỳ. Người Nga cũng đã cố gắng thực hiện điều đó nhưng họ không bao giờ đạt được chữ “và” trong khái niệm “bánh mì và khẩu súng.”

Một nước nhỏ như VNCH chắc chắn không có đủ nguồn lực hay hạ tầng cơ sở khả dĩ có thể cưu mang và huấn luyện một đội quân đủ sức để thi hành nhiệm vụ sau này được giao phó. Ở giai đoạn phát triển tiên khởi, quyết định phái các tân sĩ quan TQLC đi thụ huấn Trường Căn Bản ở Quantico dường như là một điều tiên tri đúng đắn. Khi một quân nhân tiến dần lên trong hệ thống quân giai và nếu điều kiện cho phép, người sĩ quan này có thể trở lại Quantico để được huấn luyện thêm với tư cách một Đại úy, Thiếu tá hay cao hơn nữa.

Việc cử Thiếu úy Lê Bá Bình và bốn sĩ quan TQLC khác theo học tại Trường Căn Bản Quantico tại Virginia thật hết sức đúng lúc. Cả năm anh TQLC Việt Nam đều là các chiến sĩ dày dạn kinh nghiệm. Các sĩ quan cấp úy này đều đã thực hiện hàng chục chuyến bay chiến đấu bằng trực thăng xâm nhập hoặc máy bay cánh thẳng để nhẩy vào mục tiêu trong nội địa trên những chiếc C-47 hay đủ loại các máy bay quân sự khác. Họ đều quá quen với hiểm nguy nên chuyến đi Mỹ là một giai đoạn nghỉ ngơi, học hỏi và đơn giản là chuyến đi chơi đầy vui thú. Ít nhất là chẳng có ai tại Mỹ, trong tâm trí họ, muốn hại họ cả.

Từ phi trường Tân Sơn Nhất ở ngoại ô Sài Gòn, qua căn cứ không quân Clark tại Philippines, đến Guam, rồi Seattle và căn cứ không quân Travis tại California, chuyến đi thật là dài, buồn tẻ và lạnh lẽo. Vì lý do nào đó công tác chuyển vận lại thay đổi và đoạn đường ba ngàn dặm cuối cùng là một chuyến xe lửa dài ba ngày trời. Chuyến đi mất ba ngày từ Fairfield, thành phố bên ngoài căn cứ Travis cho đến Quantico. Cuối cùng thì Bình đã có thể nhìn và gần như là sờ thấy khoảng không gian rộng mở bao la mà anh vẫn mường tượng từ lúc còn nhỏ trong những buổi trưa đi coi xi-nê ngay tại Tân Định cách đó không lâu.

Khóa học Căn Bản bắt đầu vào tháng 7 năm 1964 và được đặt tên là khóa Đại đội H, hay Đại đội “Hotel,” có khi gọi đơn giản hơn là “Hotel.” – là một lớp học đa ngôn ngữ và đa văn hóa. Trong đám sinh viên sĩ quan người Mỹ mới tốt nghiệp mặt còn non choẹt còn có các sĩ quan cấp úy trẻ người Đại Hàn, Trung Hoa, Indonesia, Venezuela và Tây Ban Nha cũng mới mẻ không kém. Trong cả nhóm chỉ có đám Việt Nam là những người đã từng có kinh nghiệm chiến trường đáng kể.

Trong lúc tầng lớp thiếu niên Hoa Kỳ còn bận rộn với giày Beatles, nhạc, thời trang tóc tai thì Bình và các bạn trong Đai đội H miệt mài trong Trường Căn Bản để cố gắng học hỏi tất cả những điều học được về chiến thuật bộ binh, thực tập kỹ thuật phối hợp các hỏa lực theo kiểu Mỹ, quân phong quân kỷ, và tất cả những gì mà các sĩ quan huấn luyện có thể nghĩ ra được.

Bình và bốn Thiếu úy Việt Nam khác đều từng là sĩ quan tác chiến. Bạn bè người Mỹ rất kinh ngạc trước những câu chuyện của họ và thường đối xử với họ một cách trân trọng hơn. Thấy trước là không bao lâu nữa sẽ cùng chiến đấu bên nhau thành thử sự quan tâm trên phương diện nghề nghiệp của họ hết sức chân thành.

Đối với các sĩ quan Việt Nam thì cơ hội được chia sẻ ý kiến với các bạn học và giảng viên rất bổ ích và dễ chịu. Cùng với sự lan rộng của chiến trận, việc được học hỏi chính quy các chiến thuật và áp dụng hỏa lực trong lớp học cũng như ngoài trời là những điều mà các TQLC Việt Nam chưa hề có cơ hội được biết đến. Nhóm Việt Nam do đó thường thảo luận với nhau các lợi ích của từng bài học, đi vào những chi tiết nhỏ nhặt nhất và trao đổi với nhau sẽ làm sao để áp dụng những điều học hỏi được với đồng đội khi họ trở về nước.

Trong lúc Đại đội H đang ngày đêm thụ huấn trong các cánh rừng Quantico thì sự tham gia của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á từng bước tiến lên cường độ cao hơn. Ðúng lúc khóa học vừa hoàn tất xong chương trình tập bắn súng trường thì Quốc Hội Mỹ thông qua Nghị Quyết Vịnh Bắc Bộ. Mặc dù không chính thức khai chiến nhưng trên thực tế, Hoa Kỳ đã nhập vào cuộc chiến.

Khi mùa Hạ bước sang mùa Thu, các sĩ quan TQLC Việt Nam tận hưởng sự thay đổi màu sắc của đất trời. Và mặc dù họ đều đã biết đến cái lạnh buốt giá thấu xương trong rừng núi Việt Nam nhưng những nụ tuyết đầu tiên rơi xuống là một trải nghiệm như thể là ma thuật, gây ra niềm vui giống như tất cả các trẻ em khi lần đầu tiên được tiếp xúc với một hiện tượng như vậy.

Sự huấn luyện tại Trường Căn Bản rất khắt khe nhưng hoàn toàn không căng thẳng bằng chuyện có thể bị đạn thù thật sự trên chiến trường. Mặc dù đầu bếp nhà trường phải mất nhiều tuần lễ mới tìm ra cách nấu cơm đúng nhất, và dù họ dùng loại hạt gạo dài theo kiểu Mỹ nhưng Bình không nề hà thưởng thức thịt bí-tết, hamburgers và hotdogs. Cuối tuần thường là thời gian dành cho du ngoạn và đi thăm các thắng cảnh lịch sử và văn hóa trong khoảng cách lái xe được từ Quantico.

Bình tốt nghiệp vào tháng 12 và có được một tháng phép trước khi phải về nước. Chẳng có gì vội vàng cả vì Cộng sản vẫn còn đầy ra đấy để tiễu trừ. Bình đã đi thăm những nơi có thể đi được trong những buổi cuối tuần và bây giờ trong chuyến hồi hương dài và thong thả. Mặc dù anh đã không để lại trái tim nơi đó nhưng San Francisco và khu phố Tầu là nơi anh thích nhất. Anh đã được một người bạn trong Trường Căn Bản hướng dẫn đi chơi rất rành rọt vì anh ta vốn sinh trưởng ngay tại vùng Vịnh.

Vào tháng Giêng 1965 Lê Bá Bình trở về Việt Nam và tái nhậm Tiểu đoàn Sói Biển, giờ đây với cấp bậc Trung úy Đại đội trưởng trung đội cũ của anh. Anh phục vụ tại đó một thời gian nữa trước khi một số bạn học người Mỹ của anh từ trong Trường Căn Bản sẽ đổ bộ xuống phía Bắc gần Đà Nẵng cùng với Sư đoàn 9 TQLC Hoa Kỳ.

Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM

CƯỠI NGỌN SẤM

cuoingonsam

richardbotkin

Chương Hai

Bức Màn Tre Sụp Xuống

Từ 1946 cho đến giữa 1954, lực lượng Việt Minh và quân đội Pháp đánh nhau khắp các vùng Đông Dương nhưng hầu hết các trận đánh nghiêm trọng đều diễn ra tại Bắc Việt. Khi cuộc chiến kéo dài mà không có triển vọng sớm kết thúc và tình hình thương vong cao dần, lòng nhiệt huyết của người Pháp đã bị héo mòn. Trận đánh quyết định cuối cùng tại Điên Biên Phủ ở vùng Tây Bắc – Bắc Việt gần biên giới Lào là một chiến thắng vang dội cho Cộng quân. Mặc dù quân Pháp bị thất trận một cách nhục nhã nhưng sự chuyển tiếp từ chiến trường qua bàn hội nghị hòa bình đã không mang lại sự hài lòng cho bất kỳ phe nào có liên quan.

Hiệp định Genève bắt đầu từ tháng 5 năm 1954 có sự hiện diện của bốn quốc gia mới của Đông Dương thuộc Pháp trước đây, nước Pháp, Anh, Liên Sô, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa và Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Khi các cuộc đàm phán kết thúc vào tháng bẩy thì một cuộc ngưng bắn đã được thỏa thuận. Vĩ tuyến 17 giữa Quảng Bình ở phía Bắc và Quảng Trị ở phía Nam có giòng sông Bến Hải chảy ngang ra Biển Đông được chọn làm đường chia cắt Đông Tây, tách rời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (phía Bắc, Cộng sản) và Việt Nam Cộng Hòa (phía Nam, không Cộng sản). Vùng ranh giới mà sau này thế giới biết đến như vùng phi-quân-sự trên thực tế chẳng có gì là “phi” quân sự cả.

Thỏa hiệp ngưng bắn dành một thời hạn 300 ngày để cho mọi người có thể tự do di chuyển giữa hai miền Nam và Bắc mà không bị giới hạn bởi các chính quyền mới. Đến giữa năm 1955 có hơn 1 triệu người dân, phần lớn là Công giáo, đã quyết định nhặt nhạnh những gì mang được, bỏ lại hết mồ mả tổ tiên và bao nhiêu thế hệ truyền thống làng xã để lìa bỏ miền Bắc còn hơn là chịu sống dưới chế độ Cộng sản. Trong khi có một số lượng nhỏ không xác định được gồm các cán bộ Cộng sản Mác-Xít tập kết ra ngoài Bắc thì không có người dân bình thường nào ra theo.

Người Bắc di cư vào Nam bằng đường hàng không, đường xe lửa, đường bộ nhưng hầu hết là bằng tầu vận chuyện đường biển. Rất ít người ngoại cuộc biết đến ảnh hưởng và hậu quả của nhóm cộng đồng di cư này đã tác động đến miền Nam như thế nào. Văn hóa và tính tình của người Bắc Kỳ thường nghiêm khắc và khó tính hơn bởi họ phải sinh nhai trên vùng đồng bằng sông Hồng khó nhọc. Với làn da nhạt hơn, cách phát âm hơi khác, cách ăn mặc và truyền thống tương đối khác biệt, họ gặp nhiều điều va chạm với người miền Nam vốn dễ tính và nhàn nhã hơn, bởi có thể sinh kế thoải mái từ một vùng mầu mỡ của đồng bằng sông Cửu Long. Vào năm 1955 có thể so sánh điều này với Mỹ nếu 12 triệu dân New York với lối sống hối hả nhộn nhịp đột nhiên được di chuyển vào vùng nông thôn Georgia hay Mississipi mà chỉ nhận được sự trợ giúp tối thiểu hoặc mạng lưới an toàn từ chính quyền trung ương.

Một điều khoản của Hiệp Định Genève vốn được tất cả các phe chấp thuận ngoại trừ Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa, là kêu gọi tổng tuyền cử khắp nước Việt Nam vào tháng 7 năm 1956. Với tương quan dân số vào khoảng 16 triệu ngoài Bắc và 14 triệu trong Nam, Hồ Chí Minh và lực lượng của hắn tin tưởng sẽ loại trừ hết các phe chống đối quan trọng và củng cố được miền Bắc từ vĩ tuyến 17 trở lên nên đã vui vẻ đồng ý với các viễn ảnh đó.

Từ giữa năm 1953, khi chiến tranh chưa kết thúc, cho đến tận năm 1956, bọn Cộng sản đã tiến hành hàng loạt những cuộc thanh trừng đẫm máu nhằm loại trừ tất cả những tàn tích của chế độ tư bản một cách tàn nhẫn. Trong những đợt cải cách ruộng đất vào thời kỳ bọn chúng cho rằng trong mỗi làng mạc có vào khoảng 5% dân chúng thuộc thành phần địa chủ và nhóm “nhà giàu” này đã bóc lột 95% số người còn lại. Do đó, tài sản của họ đã bị tước đoạt và phân phối lại cho những người còn lại này. Đồng thời những vụ giết hàng loạt người trong nhóm 5% có đồng ra đồng vào này được tiến hành một cách chính xác bởi những đội đặc biệt gọi là cán bộ cải cách ruộng đất.

Không có chi tiết chính xác nào về số lượng người đã bị trừ khử trong giai đoạn này, và cũng không có hồ sơ nào về những người bị mất mạng hay bị đe dọa trong các nỗ lực trốn về phía Nam. Báo chí thông tin rất ít và tin tức về những cuộc thanh trừng qui mô này chỉ đến tai người miền Nam bằng những lời kể lại nên không gây chú ý mấy trên các phương tiện truyền thông Tây phương.

Mặc dù rất phôi thai và còn xa mới gọi là hoàn hảo nhưng chính quyền mới thiết lập tại miền Nam còn tốt đẹp hơn nhiều đối với những người đã nếm mùi Cộng sản. Trong khi hoàng đế Bảo Đại đã lỗi thời chỉ còn đứng đầu quốc gia trên danh nghĩa thì thực quyền nằm trong tay Thủ tướng Ngô Đình Diệm và tay chân thân cận gồm các thành viên trong gia đình của ông. Quyền uy của ông đã phải trực diện với các thử thách mà nó còn lớn hơn ở bên phe đối thủ Bắc Việt, và thật là một điều kỳ diệu là, mặc dù với sự trợ giúp của chính quyền Eishenhower, chính phủ non yếu đó đã xoay sở để vượt qua được hết.

Ngay từ khởi đầu, chính quyền Diệm đã bị tràn ngập bởi các thử thách. Báo chí phương Tây vốn không ưa ông đã không khoan nhượng khi tường thuật những sự cố gắng của chế độ ông Diệm để giải quyết bằng quân sự đối với các sự đe dọa từ các nhóm Hòa Hảo, Cao Đài và các lực lượng Phật giáo khác. Họ hoàn toàn bất tín nhiệm khuynh hướng thiên Công giáo của Thủ tướng Diệm và nhóm những người di cư của ông. Thêm vào cuộc xung đột tôn giáo và văn hóa, và gánh nặng đầy ắp do việc thu hút quá nhiều công dân mới, chính phủ mới còn phải đối phó với ảnh hưởng về tài chính và chính trị của nhóm Bình Xuyên. Nhóm này thực chất là một nhóm thổ phỉ chuyên cướp bóc tàu bè di chuyển trên sông Sài Gòn vào những thập niên 1930 và 1940. Sau Thế Chiến Thứ Hai, Bình Xuyên được giao đặc quyền tổ chức cảnh sát và khu ăn chơi trong Chợ Lớn, một vùng của người Hoa tại Sài Gòn. Ông Diệm quan niệm Bình Xuyên, giống như Hòa Hảo và Cao Đài là một mối đe dọa đối với khả năng lãnh đạo đất nước của ông.

Sự thắng thế của Cộng sản trên toàn thế giới, đặc biệt là ở Á Châu, đã làm gia tăng mối quan tâm của người Mỹ tại Việt Nam. Ngay từ giữa những năm 1950, nhằm phản ứng lại cuộc xâm lăng của Bắc Hàn, Tổng thống Truman đã ra lệnh thành lập một Phái Bộ Cố Vấn Quân Sự (Military Assistance Advisory Group MAAG) tại Đông Dương thuộc Pháp. Được sử dụng phần lớn như là một phương tiện tài trợ qua đó các viện trợ được chuyển qua cho người Pháp trong những nỗ lực chống lại Việt Minh, sự ra đời của Việt Nam Cộng Hòa đã mang lại cho tổ chức này một mục đích mới. Nhóm MAAG của Hoa Kỳ bắt đầu đưa vai chịu lấy gánh nặng trong cuộc chiến chống lại Cộng sản.

Một tổ chức được thành lập thông qua nỗ lực của một nhân viên MAAG chính là binh chủng phôi thai Thủy Quân Lục Chiến của nước Cộng Hòa mới.

Giới quân sự Hoa Kỳ đã trực tiếp đầu tư những khoản xương máu và tiền của khổng lồ khi tiến hành cuộc chiến tranh lạnh. Một trong những điều không được biết đến và trân trọng đúng mức là công việc huấn luyện và trợ giúp đã cung cấp cho các quốc gia đang chiến đấu có thể duy trì nền Tự Do của họ trong một thế giới ngày càng thù nghịch nhiều hơn. Trong những năm ngay sau Thế Chiến Thứ Hai, một món quà khác của binh chủng TQLC Hoa Kỳ cho Thế Giới Tự Do là sự tham gia vào việc hình thành bốn Quân đoàn TQLC tại Á Châu.

Đối với các nước Cộng hòa Đại Hàn, Trung Hoa Quốc Gia và Phi Luật Tân thì TQLC Hoa Kỳ đã rộng rãi gieo những hạt giống về chiến tranh viễn chinh cho các nhóm nhỏ lực lượng đặc biệt trong mỗi xứ sở tương ứng. Trong mỗi quốc gia, các đơn vị TQLC mới sẽ mang dấu ấn của người anh cả Hoa Kỳ. Một chuyện nhỏ nhặt nhất là, giống như ở Mỹ, danh xưng “TQLC” đã trở thành đồng nghĩa với tất cả những gì tốt đẹp nhất của tinh thần thượng võ và đức hạnh của người lính.

Trong bốn tập thể TQLC tân lập, mối liên hệ giữa TQLC Hoa Kỳ và TQLC Việt Nam Cộng Hòa đã trở thành thân thiết nhất, mãnh liệt nhất và cũng tốn kém nhất. Đối với VNCH chỉ có Sư đoàn Nhẩy Dù mới được sánh như tương đương nhờ ở các thành tích chiến đấu và mức độ tin cậy cao của họ. Cái nhóm nhỏ các quân nhân làm nòng cốt cho TQLC Việt Nam từ 1954 trở về sau đã chứng tỏ niềm hăng say đặc biệt của tổ chức. Đặc điểm này hiển nhiên đã đưa binh chủng TQLC đứng riêng ra trong mọi nền văn hóa.

TQLC Việt Nam có nguồn gốc từ một tổ chức rất nhỏ gồm các đơn vị rải rác theo kiểu biệt kích được thành lập với sự trợ giúp của quân đội Pháp vào năm 1946. Những đại đội xung kích trên sông với biệt danh là “Ðoàn Thủy Binh Xung Phong” (Dinassauts), là một sự kết hợp của các đơn vị bộ binh đặc biệt có khả năng chiến đấu trên cạn lẫn dưới nước. Những hoạt động đầu tiên của họ là ở miền Bắc trong vùng đồng bằng sông Hồng Hà. Trong các đơn vị chiến đấu của Việt Nam được sự giúp đỡ của người Pháp thì những toán Dinassauts có uy tín đặc biệt nhờ ở khả năng chiến đấu và tinh thần đồng đội cao độ.

Sự chia cắt đất nước Việt Nam vào năm 1954 đã có hậu quả là nỗ lực phát triển đầy đủ một cơ cấu lực lượng quân sự quốc gia đủ sức để bảo vệ nền Cộng hòa mới thành lập đối với hiểm họa từ phương Bắc. Đồng thời với nhu cầu có một lực lượng Hải Lục Không quân tối tân là sự thừa nhận phải có những đơn vị đặc biệt có khả năng tiến hành các cuộc hành quân đổ bộ trên nhiều dặm dài của bờ biển và đường thủy lộ nội địa Việt Nam.

Tuy nhiên Việt Nam cũng không tránh khỏi sự cạnh tranh giữa các quân chủng trong tổ chức quân đội, một tình trạng khá phổ biến trong mọi quốc gia. Từ lúc khởi đầu thành lập, TQLC Việt Nam, giống như người anh em Hoa Kỳ đã phải đối phó với những chuyện nhỏ nhặt nhất như tranh đấu cho những nguồn tài lực. Hàng tháng trời bàn cãi giữa các nhóm lớn gồm các sĩ quan quân đội Việt Nam, Pháp và Hoa Kỳ vẫn không mang lại một sơ đồ tổ chức có thể chấp nhận được, hay phát triển được vai trò và nhiệm vụ mà lực lượng đổ bộ mới mẻ này sẽ đảm trách. Sau cùng đã phải cần đến sự quyết tâm tập thể, nhiệt tình và sức mạnh về ý chí của một Thiếu tá Việt Nam, một Đại úy quân đội Pháp và một Trung tá Hoa Kỳ để làm cho chuyện thành lập một tổ chức TQLC Việt Nam riêng biệt trở thành hiện thực.

Với cương vị là người con trưởng, công việc chính của Bình là đi học. Người cha và bà mẹ kế đồng lòng quyết tâm cho sự thành công của con và anh đã chăm chỉ để thực hiện điều này.

Nhập học mẫu giáo tại một trường nam sinh nhỏ tại Tân Định trong thời kỳ Nhật chiếm đóng, trạng thái bình thường của sự hỗn loạn vẫn tiếp tục không hề suy giảm qua sự kiện đầy tranh cãi về việc người Pháp trở lại Việt Nam, cuộc chiến với Việt Minh và sự thành lập đầy trắc trở của một đất nước mới.

Mặc dù những người miền Bắc chống cộng nhất đã di cư toàn bộ từ năm 1954, vẫn còn rất nhiều người trong Nam không nhiệt tình lắm với chế độ ông Diệm. Sự quyến rũ của chủ nghĩa Cộng sản đối với nhiều người là một sự lựa chọn tốt hơn là ách áp bức của thực dân Pháp, do đó đã được sự chấp nhận của một số người chuyển đổi thuộc thế hệ đầu tiên. Một số thì bị mê hoặc bởi Cộng sản ban cho họ cái quyền lực được giết các địa chủ hay tất cả những ai mà họ coi như đã bóc lột thành phần vô sản. Những thành phần cốt cán của bất cứ đảng phái nào đều sẵn sàng chấp nhận lời kêu gọi hy sinh của đảng  nhằm chống chủ nghĩa tư bản và ngoại xâm. Những gia đình giống như của Bình, đã từng sống và bị tác động xấu bởi Việt Minh cũng nóng lòng xóa bỏ vết tích của thực dân. Tuy nhiên họ không hề tán thành những điều dối trá trắng trợn của Cộng Sản hoặc những điều nửa vời mà họ biết được qua kinh nghiệm cay đắng từ trong gia đình.

Một số giáo sư tại trường trung học của Bình, có thể đã từng là những thành viên thuộc một nhóm nằm vùng cán bộ Cộng sản được gài lại phía sau vào lúc phân vùng đất nước. Họ có thể chỉ đơn giản thuộc vào một nhóm nhỏ nhưng rải rác ở miền Nam vốn là những người có cảm tình với Cộng sản. Bằng cách nào cũng vậy, họ không lo ngại bày tỏ những điều mà chàng thanh niên Bình cho là những lời tuyên truyền không hơn không kém. Khi có thể, cậu ta sẽ trân trọng thách thức quan điểm thế giới của họ về sự vĩ đại của Trung Quốc và Liên Xô. Trong khi các học sinh được học về chiến thắng của Trung Quốc trong Chiến tranh Triều Tiên và về sự vinh quang của chương trình không gian của Nga với việc phóng thành công phi thuyền Sputnik, Hoa Kỳ ít khi được nhắc đến và nếu có thì không bao giờ là tích cực cả. Khi cậu Bình chia sẻ điều này với cha của mình, ông cụ sẽ lấp vào đấy những điều gì ông biết về những sự kiện lịch sử mà các giáo viên đã tự tiện bỏ đi.

Bất kể chiến tranh, cùng sự bất ổn và các âm mưu không dứt về chính trị đã cấu tạo nên đời sống thường ngày tại Việt Nam, cuộc nhân sinh vẫn tiếp diễn như thường lệ. Người Nhật, người Pháp, Việt Minh và cả cuộc nổi loạn của nhóm Bình Xuyên chống lại chế độ Ngô Đình Diệm vào năm 1955 cũng không ngăn trở Bình hăng say trong việc học hành mà gia đình đã kỳ vọng rất nhiều vào anh. Mãi đến năm 1957, khi anh hoàn tất chương trình Trung học tại trường Petrus Ký thì những sự khủng hoảng không tên diễn ra gần như hằng ngày cuối cùng mới làm ảnh hưởng đến việc học của anh trong một thời gian ngắn. Thời gian Bình tốt nghiệp Tú Tài và bước vào Đại học, anh đã chán ứ đến cổ về mối đe dọa độc ác của Cộng sản qua các câu chuyện về cuộc sống tại Hà Đông trước khi Việt Minh cướp chính quyền, anh đã nghe kể hàng trăm lần về những cách đối xử hèn hạ của họ đối với bà nội, các chú bác và anh em họ của anh. Để làm một điều đúng, là trả lại danh dự cho gia đình, thực hiện một chuyện mà bất cứ một thanh niên chân chính đều phải hành động tương tự, anh tham gia vào nỗ lực nhằm giải phóng đất nước khỏi cái mà anh coi là căn bệnh ung thư quái ác của chủ nghĩa Cộng sản đang trên đà phát triển. Đến năm 1957 thì Bình biết rằng sự lựa chọn duy nhất là gia nhập quân đội để phục vụ đất nước.

Bình chỉ là một học sinh trung bình. Bất kể theo con đường nào, anh biết chắc là không một ai trong những đội ngũ mà anh sẽ dẫn dắt sẽ hỏi đến bằng cấp của anh.

Tuy việc theo đuổi học hành không hẳn là dễ dàng gì đối với anh nhưng chuyện anh tốt nghiệp ban Sử Ðịa vào năm 1961 đã là một thước đo khiêm tốn về sự bền bỉ trong trí tuệ và tính tự giữ mình trong kỷ luật mà không một vị giáo sư hay một kỳ thi nào có thể đánh giá được.

Trong thời kỳ hai nước Việt Nam bị tách riêng từ 1954 đến 1959, cả hai chính phủ đều tập trung nỗ lực vào việc củng cố chính trị nội bộ. Trong khi việc cưỡng bức tập thể hóa toàn bộ dân cư tại Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và việc giết hại hàng ngàn người mà nhà nước cho là thành phần phản động ít được giới truyền thông tường thuật thì các thách đố màchế độ Ngô Đình Diệm đang phải đối mặt cùng những khó khăn và thiếu sót của họ lại được phơi bày một cách hết sức rộng rãi.

Ngô Đình Diệm, kẻ ngoại cuộc dưới mắt nhiều người và là một tín đồ Công giáo của tòa thánh La Mã, đã từng sống một thời gian tại Hoa Kỳ, thoạt đầu được giới chống cộng Tây phương chú mục tới. Trong nước thì nhiều Phật tử và các giáo phái khác lại mất niềm tin trầm trọng vào phe đảng của Ngô Đình Diệm. Việc sử dụng quân đội để đè bẹp các nhóm đối kháng Hòa Hảo, Cao Đài và Bình Xuyên chỉ tạm thời dập tắt những mối nguy hại đối với quyền lực của chế độ.

Vào năm 1958 sau khi hoàn tất việc củng cố quyền lực ngoài bắc, Hồ Chí Minh ra lệnh cho cán bộ trở lại miền Nam và năm sau đó, tập họp với đám người đã được cài lại phía sau cũng như những người mới tuyển mộ được sau này, bắt đầu cuộc chiến tranh “nhân dân” chống lại chính quyền Sài Gòn một cách hung hãn nhất.

Khoảng từ giữa năm 1954 đến cuối năm 1960, Việt Cộng đã ám sát gần 1.700 người và bắt cóc thêm 2.000 người ủng hộ chế độ Sài Gòn gồm các xã trưởng và những người có chức sắc trong xã. Từ năm 1961 trở đi các nỗ lực khủng bố của chúng có chiều hướng gia tăng. Nhu cầu gia tăng của Cộng sản về nhân sự và tiếp liệu đã khiến chúng khởi công con đường mà sau này toàn thế giới biết đến là đường mòn Hồ Chí Minh. Đến năm 1965 thì hệ thống đường mòn có khả năng vận chuyển được từ năm đến sáu ngàn người hàng tháng cộng với hàng tiếp liệu đuợc đưa xuống hầu “giải phóng” người “anh em ngoan cố.”

Những cuộc biểu tình lớn của Phật giáo bắt đầu vào năm 1961 sau cùng đã dẫn đến một loạt các những biến cố ngoạn mục được truyền thông rộng rãi vào năm 1963. Trong thời kỳ này có những vị sư nhân hậu và trông rất vô hại trong các tấm y màu vàng nghệ đã ngồi thiền và tẩm xăng tự thiêu nhằm thu hút sự chú ý đến nỗi bất công dưới chế độ Ngô Đình Diệm.

Từ lâu trước khi có sự kiện này, Cộng sản đã xâm nhập một cách có hiệu quả vào nhiều nhóm chống đối chính quyền Sài Gòn. Đối với nhiều người, cũng khó mà không cảm thông với phe đối lập khi mà nạn tham nhũng của chế độ Diệm rất dễ nhận ra, còn tập thể lãnh đạo Sài Gòn thì kém cỏi và thiếu kinh nghiệm thấy rõ thành thử đã làm mất lòng dân.

Trong khi người Mỹ có lẽ đang mong sự xuất hiện trở lại của một nhân vật tương tự như phu nhân tướng Tưởng Giới Thạch, một phụ nữ thanh nhã, dịu dàng, tốt nghiệp trường Wellesley thì bà Ngô Đình Nhu, em dâu của Tổng thống Ngô Đình Diệm, với biệt danh “Long Nữ” (Dragon Lady) đã ngang ngược báng bổ và tuyên bố công khai rằng họ đã chứng kiến một màn “nướng thịt” (barbecue) sau một vụ tự thiêu. Bất kể những người có thể không bằng lòng với quan điểm của bà sẽ có thái độ ra sao nhưng bà vẫn trả lời phỏng vấn rằng: “Cứ để cho họ bị thiêu và chúng ta sẽ vỗ tay hoan nghênh.”

Với vai trò lãnh đạo về chính trị trong các thập niên 1950 và 1960, nước Mỹ phải đối phó hàng ngày trước nguy cơ chiến tranh hạch nhân với Liên Bang Sô Viết cùng với nguy cơ được định nghĩa là “chiến tranh nhân dân” tại một loạt các quốc gia chư hầu ngày càng gia tăng tại Âu Châu và khắp Á Châu. Tuy vậy, nỗi ám ảnh bởi cái mà người Mỹ cho là một cuộc hiệp ước đình chiến mong manh tại Đại Hàn đã khiến cả hai siêu cường tìm cách giảm thiểu nguy cơ xung đột trực tiếp có thể nhanh chóng dẫn đến chiến tranh nguyên tử. Nỗi thất vọng trước sự bất lực trong việc đạt được một chiến thắng toàn diện đã được xoa dịu bằng niềm tin rằng sẽ khó có thể toàn thắng như lần 1945 nữa.

Kinh nghiệm tại Triều Tiên chứ không phải là Thế Chiến Thứ Hai đã hoạch định sự dính líu của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á trong bối cảnh Chiến Tranh Lạnh. Tình hình của Việt Nam Cộng Hòa có nhiều điểm tương đồng với với bán đảo Triều Tiên. Cả hai quốc gia Cộng sản Bắc Hàn và Bắc Việt đều có chung biên giới với Trung Cộng và được trợ giúp đáng kể từ họ. Cả hai cũng đều nhận được những khối lượng viện trợ khổng lồ từ Liên Sô. Đồng thời cả hai quốc gia cũng đã vừa trải qua kinh nghiệm ngoại xâm của thực dân mà đáng kể nhất là Nhật Bản là kẻ đàn áp tàn bạo nhất.

Chiến tranh Triều Tiên là một cuộc chiến hầu như qui ước diễn ra trên một lãnh thổ mà cả hai bên đều không đóng ở các vị trí cố định, do đó cho phép huy động các đại đơn vị chống lại một kẻ thù dễ nhận diện ra. Bắc và Nam Hàn đã bị chia cắt dọc theo vĩ tuyến 38 bởi cách lý luận tùy tiện tại Yalta vào năm 1945 giống như trường hợp của Việt Nam vậy. Vùng biên cương dài hơn 150 dặm này là khu vực duy nhất có thể xâm nhập được vào miền Nam hoặc rút ra khỏi đây. Bởi rừng cây thưa thớt, lực lượng địch quân rất khó ẩn tránh máy bay đồng minh bay tuần tiễu, việc cô lập chiến trường được thực hiện tương đối dễ dàng. Vì khả năng hải quân bị hạn hẹp nên cơ hội xâm nhập của Cộng sản bằng đường biển chỉ hạn chế ở các đơn vị nhỏ.

Những khác biệt so với Triều Tiên đã khiến cho việc bảo vệ miền Nam gặp nhiều khó khăn hơn đối với các cố vấn Mỹ và những người miền Nam đang tìm cách tránh sự thống trị của Cộng sản. Trong khi dân tộc Đại Hàn, cả Nam lẫn Bắc gần như là thuần nhất thì Việt Nam và các nước láng giềng phía tây có chung những đường biên giới lỏng lẻo không được xác định rõ ràng và là nơi trú ngụ của nhiều sắc tộc thiểu số khác nhau. Qua các qui định chiến tranh do họ tự đặt ra và với những sự hạn chế về địa dư,  các khu vực rừng rậm, núi non phía Đông Căm-Pu-Chia và Lào đã biến thành những mật khu ẩn núp của Cộng sản. Việc ngăn chặn sự xâm nhập vào Việt Nam hầu như không thể thực hiện được. Do các khó khăn về địa dư và chính trị này, thế chủ động trên chiến trường phần lớn đã phải nhường lại cho phía đối phương.

Bắt đầu bằng cuộc Khủng hoảng Kênh đào Suez vào đầu mùa hè năm 1956, một loạt các hành động gây hấn của phe Cộng sản được tung ra: sự đàn áp tàn bạo các chiến sĩ tranh đấu cho tự do Hungary bởi quân Liên Sô, cuộc xâm lược của Cộng sản Trung Hoa chống lại phe quốc gia trong cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai vào cuối năm 1958, sự kiện Cuba rơi vào tay du kích quân của Castro ngay tại “cửa sau” của Mỹ vào năm 1959, việc bắn hạ máy bay thám thính U-2 của Gary Power trên đất Nga, sự thất bại vùng vịnh Con Heo, sự kiện bức tường Bá Linh được dựng lên, và những thách thức đối với Tây phương ở Congo từ Patrice Lamumba và nhóm lâu la của ông.

Tình thế trên bộ tại Đông Nam Châu Á vào đầu năm 1960 cũng không khá hơn các nơi khác bao nhiêu. Cho dù cố vấn quân sự Hoa Kỳ đã hoạt động tích cực trên tất cả các nhiệm vụ không chiến đấu tại Việt Nam từ 1954, nhu cầu phải đưa người Mỹ ra tiền tuyến để mở rộng tầm quan sát và sự hỗ trợ trong việc phát triển khả năng chiến đấu của Việt Nam cuối cùng đã được chấp thuận vào năm 1960 trên một căn bản hạn chế. Các sĩ quan Hoa Kỳ không mấy phấn khởi trong các thời kỳ đầu tiên này.

Binh chủng TQLC Việt Nam, với quân số không bao giờ quá hai phần trăm của toàn bộ quân lực đã được cải thiện liên tục về khả năng tác chiến và binh đoàn nhỏ này đã được liệt vào hàng ưu tú trong Quân Lực VNCH. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa  có quân số lớn hơn rất nhiều và cũng không thiếu các chiến sĩ dũng cảm nhưng lại bị thất lợi bởi những vấn đề thường gặp trong các tổ chức quân sự mới được thành lập tại các quốc gia nghèo. Nguồn lực thì có giới hạn, huấn luyện thì thiếu sót và các sĩ quan chỉ huy, nhất là các cấp tư lệnh thường gồm những nhân vật được lựa chọn không phải do khả năng tác chiến hay chỉ huy mà chỉ vì lòng trung thành về chính trị và sự quen biết. Điều này đã khiến cho các đơn vị của chế độ Sài Gòn bị thất lợi rất nhiều so với các lực lượng Cộng sản nhiều khi lại còn được chỉ huy khá cũng như được động viên tốt hơn.

Các sĩ quan trong quân đội Hoa Kỳ được điều đến để giúp thành lập, hình thành và hướng dẫn thuộc thành phần quân nhân giỏi và sáng giá nhất. Với thành công tại Triều Tiên trong việc thiết lập quân đội non trẻ của nước đó, sự bổ nhiệm Trung tướng John “Iron Mike” (Mike sắt thép) O’Daniel vào cương vị tư lệnh cơ quan MAAG tượng trưng cho đỉnh cao kỳ vọng của giới lãnh đạo chính trị và quân sự Hoa Kỳ. Quá trình lâu dài và gian khổ nhằm xây dựng các đơn vị quân sự cần thiết và hỗ trợ tối thiểu cho hạ tầng cơ sở được giao phó cho hàng trăm sĩ quan Hoa Kỳ đầy lòng nhiệt huyết, một số sĩ quan người Pháp cùng chung lưng hiện đang giảm dần và hàng ngàn sĩ quan Việt Nam đồng một lòng muốn đất nước được phát triển.

Thành tích ban đầu của QLVNCH ngoài chiến trường chống du kích không được khả quan lắm.  Các chiến thắng của họ đối với Cộng sản, nay gọi là Việt Cộng thường chỉ là những biến cố tạm thời vì chính sách của chế độ Ngô Đình Diệm đã làm suy yếu hành động của họ ngoài mặt trận. Quyết định thay thế các chức sắc xã ấp được dân bầu bằng những cán bộ do chính quyền Sài Gòn bổ nhiệm đã làm mất lòng người dân địa phương. Chiến dịch đàn áp những người bị nghi ngờ là thân cộng dù vu vơ đã tiếp tay thêm cho sự tuyên truyền phổ biến do Hà Nội đề xướng.

Đồng thời những cán bộ được cài lại phía sau được lệnh hoạt động trở lại, công tác tuyển mộ cho lực lượng Việt Cộng tại chỗ được đẩy mạnh một cách hung hãn và sự xâm nhập của các đơn vị chủ lực Bắc Việt vào miền Nam đã làm dài thêm danh sách các khó khăn mà VNCH phải đối mặt. Từ năm 1961 đến 1962 ước tính trên thực tế Cộng sản đã kiểm soát được hơn một nửa miền Nam rồi.

Ở cấp cao nhất của giới lãnh đạo Hoa Kỳ tại Sài Gòn và Hoa Thịnh Đốn, các cuộc tranh cãi dữ dội đã xảy ra tập trung vào việc phải hành động ra sao và cách nào tốt nhất để đối phó với TT Ngô Đình Diệm mà hành động thường không phù hợp với ý định của người Mỹ. Đường lối cai trị của TT Diệm và nạn tham nhũng rõ rệt của chế độ là một sự bối rối và cản trở những điều mà người Mỹ tự cho là nỗ lực cao thượng nhằm ngăn chận Cộng sản. TT Diệm không được lòng dân chúng và uy tín của ông đối với quân đội làm càng bị lung lay nhiều hơn nữa.

Đến mùa hè 1963, Hoa Kỳ đã đổ công sức gần chín năm về chính trị nhằm đạt thắng lợi tại Việt Nam. Cùng với sự gia tăng về nỗ lực cố vấn và gần như là yểm trợ quân sự trực tiếp, danh sách thương vong của người Mỹ cũng tăng dần lên. Đánh đổi lại tài nguyên và xương máu đã đổ ra thì chưa có sự thành công nào đáng kể cả. Nhiều giới chức cao cấp Hoa Kỳ và một vài tướng lãnh hàng đầu Việt Nam tin rằng sự lãnh đạo của TT Diệm sẽ không mang lại hy vọng cho một chiến thắng của đất nước.

Đến nước này rồi vì đầu tư quá nhiều mà để Việt Nam bị thất bại vào tay kẻ thù phương Bắc thì có thể sẽ kích động sự sụp đổ theo thế cờ domino. Một nước Hoa Kỳ thiếu quyết tâm tại Đông Nam Á có thể sẽ khuyến khích sự bành trướng và xâm lược của Liên Sô trên toàn thế giới. Trong giới lãnh đạo quân sự Việt Nam, nhóm sĩ quan tin tưởng con đường duy nhất để cứu đất nước là loại bỏ TT Diệm đang dần tăng lên. Sự dính líu của nước Mỹ trong cuộc đảo chánh TT Diệm vẫn còn gây tranh cãi và là đề tài của nhiều cuộc tranh luận gay gắt. Tuy nhiên điều này ít nhất có thể tin được qua lời khuyên trước đó trong lá thư nổi tiếng của George Kennan gởi cho đồng nghiệp là Bộ trưởng Ngoại Giao Chip Bohlen năm 1948:

“Điều này không có nghĩa là tất cả các chính quyền mà chúng ta giúp chống lại áp lực của Liên Sô sẽ được soi sáng, sẽ là những chính quyền tự do, thực thi dân chủ theo những cách mà chúng ta có thể khen ngợi được. Rất nhiều trong số các chính phủ đó có thể sẽ trở thành những thể chế tham nhũng và độc tài. Tuy nhiên nếu đứng trên quan điểm lợi ích của nước Mỹ thì  điều này vẫn còn tốt hơn là những chế độ do Cộng sản kiểm soát vì họ sẽ không có tham vọng thống trị toàn cầu, cũng như không có đủ phương tiện để cho phép mơ tưởng đến các cuộc gây hấn ở qui mô lớn.”

Đối với các tư lệnh quân sự Việt Nam có khả năng thực hiện sự thay đổi thì điều hiển nhiên là TT Diệm phải ra đi cho VNCH có chút cơ may để sống còn.

Thành phần yêu nước của miền Nam Việt Nam có một niềm tin trực giác hợp lý rằng một khi tình hình đất nước khả quan hơn, nỗ lực về quân sự nhằm giải thoát gia đình họ khỏi ách nô lệ của con quái vật miền Bắc sẽ được tiến hành. Là một người quen thuộc với chiến lược quân sư, đặc biệt là chiến lược hải quân, ông Lê Bá Sách hiểu rằng đơn vị tiên phong chống trả một cuộc xâm lược sẽ phải là TQLC.

Ông rất thương yêu con cái nhưng ông cũng yêu đất nước, đồng thời mang một nỗi căm thù Cộng sản tận xương tủy, một mối thù sâu sắc đến nỗi ông sẵn sàng để đứa con trai yêu quý tòng quân nhằm vào mục đích đó. Ông đã cương quyết khuyên đứa con trai trưởng phục vụ trong binh chủng TQLC.

Sau khi tốt nghiệp Đại học, Lê Bá Bình lập tức được nhận vào trường sinh viên sĩ quan Thủ Đức ngay bên ngoài Sài Gòn nhằm tham dự một khóa học 10 tháng để trở thành sĩ quan. Do tầm mức tương đối nhỏ của các binh đoàn Việt Nam khác ở bên cạnh quân đội chủ lực, họ phải dùng chung cơ sở đào tạo sinh viên sĩ quan để tiết giảm chi phí và tận dụng các phương tiện huấn luyện còn thiếu thốn. Khóa học 10 tháng giúp các sĩ quan trẻ đầy nhiệt huyết tiếp xúc với đường lối chỉ huy quân sự, các tập tục, quân phong quân kỷ, cơ bản thao diễn và một số chiến thuật bộ binh căn bản vì đa số các khóa sinh nói cho cùng cũng sẽ được bổ sung vào quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Bình khi ấy nằm trong một nhóm riêng trong số vài trăm sinh viên sĩ quan, với 60 người đã được tuyển chọn vào binh chủng TQLC hiện đang thiếu trầm trọng các tân sĩ quan chỉ huy trẻ tuổi.

(Còn tiếp)

Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM

CƯỠI NGỌN SẤM

cuoingonsam

richardbotkin

Bất kể chiến tranh, cùng sự bất ổn và các âm mưu không dứt về chính trị đã cấu tạo nên đời sống thường ngày tại Việt Nam, cuộc nhân sinh vẫn tiếp diễn như thường lệ. Người Nhật, người Pháp, Việt Minh và cả cuộc nổi loạn của nhóm Bình Xuyên chống lại chế độ Ngô Đình Diệm vào năm 1955 cũng không ngăn trở Bình hăng say trong việc học hành mà gia đình đã kỳ vọng rất nhiều vào anh. Mãi đến năm 1957, khi anh hoàn tất chương trình Trung học tại trường Petrus Ký thì những sự khủng hoảng không tên diễn ra gần như hằng ngày cuối cùng mới làm ảnh hưởng đến việc học của anh trong một thời gian ngắn. Thời gian Bình tốt nghiệp Tú Tài và bước vào Đại học, anh đã chán ứ đến cổ về mối đe dọa độc ác của Cộng sản qua các câu chuyện về cuộc sống tại Hà Đông trước khi Việt Minh cướp chính quyền, anh đã nghe kể hàng trăm lần về những cách đối xử hèn hạ của họ đối với bà nội, các chú bác và anh em họ của anh. Để làm một điều đúng, là trả lại danh dự cho gia đình, thực hiện một chuyện mà bất cứ một thanh niên chân chính đều phải hành động tương tự, anh tham gia vào nỗ lực nhằm giải phóng đất nước khỏi cái mà anh coi là căn bệnh ung thư quái ác của chủ nghĩa Cộng sản đang trên đà phát triển. Đến năm 1957 thì Bình biết rằng sự lựa chọn duy nhất là gia nhập quân đội để phục vụ đất nước.

Bình chỉ là một học sinh trung bình. Bất kể theo con đường nào, anh biết chắc là không một ai trong những đội ngũ mà anh sẽ dẫn dắt sẽ hỏi đến bằng cấp của anh.

Tuy việc theo đuổi học hành không hẳn là dễ dàng gì đối với anh nhưng chuyện anh tốt nghiệp ban Sử Ðịa vào năm 1961 đã là một thước đo khiêm tốn về sự bền bỉ trong trí tuệ và tính tự giữ mình trong kỷ luật mà không một vị giáo sư hay một kỳ thi nào có thể đánh giá được.

Trong thời kỳ hai nước Việt Nam bị tách riêng từ 1954 đến 1959, cả hai chính phủ đều tập trung nỗ lực vào việc củng cố chính trị nội bộ. Trong khi việc cưỡng bức tập thể hóa toàn bộ dân cư tại Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và việc giết hại hàng ngàn người mà nhà nước cho là thành phần phản động ít được giới truyền thông tường thuật thì các thách đố màchế độ Ngô Đình Diệm đang phải đối mặt cùng những khó khăn và thiếu sót của họ lại được phơi bày một cách hết sức rộng rãi.

Ngô Đình Diệm, kẻ ngoại cuộc dưới mắt nhiều người và là một tín đồ Công giáo của tòa thánh La Mã, đã từng sống một thời gian tại Hoa Kỳ, thoạt đầu được giới chống cộng Tây phương chú mục tới. Trong nước thì nhiều Phật tử và các giáo phái khác lại mất niềm tin trầm trọng vào phe đảng của Ngô Đình Diệm. Việc sử dụng quân đội để đè bẹp các nhóm đối kháng Hòa Hảo, Cao Đài và Bình Xuyên chỉ tạm thời dập tắt những mối nguy hại đối với quyền lực của chế độ.

Vào năm 1958 sau khi hoàn tất việc củng cố quyền lực ngoài bắc, Hồ Chí Minh ra lệnh cho cán bộ trở lại miền Nam và năm sau đó, tập họp với đám người đã được cài lại phía sau cũng như những người mới tuyển mộ được sau này, bắt đầu cuộc chiến tranh “nhân dân” chống lại chính quyền Sài Gòn một cách hung hãn nhất.

Khoảng từ giữa năm 1954 đến cuối năm 1960, Việt Cộng đã ám sát gần 1.700 người và bắt cóc thêm 2.000 người ủng hộ chế độ Sài Gòn gồm các xã trưởng và những người có chức sắc trong xã. Từ năm 1961 trở đi các nỗ lực khủng bố của chúng có chiều hướng gia tăng. Nhu cầu gia tăng của Cộng sản về nhân sự và tiếp liệu đã khiến chúng khởi công con đường mà sau này toàn thế giới biết đến là đường mòn Hồ Chí Minh. Đến năm 1965 thì hệ thống đường mòn có khả năng vận chuyển được từ năm đến sáu ngàn người hàng tháng cộng với hàng tiếp liệu đuợc đưa xuống hầu “giải phóng” người “anh em ngoan cố.”

Những cuộc biểu tình lớn của Phật giáo bắt đầu vào năm 1961 sau cùng đã dẫn đến một loạt các những biến cố ngoạn mục được truyền thông rộng rãi vào năm 1963. Trong thời kỳ này có những vị sư nhân hậu và trông rất vô hại trong các tấm y màu vàng nghệ đã ngồi thiền và tẩm xăng tự thiêu nhằm thu hút sự chú ý đến nỗi bất công dưới chế độ Ngô Đình Diệm.

Từ lâu trước khi có sự kiện này, Cộng sản đã xâm nhập một cách có hiệu quả vào nhiều nhóm chống đối chính quyền Sài Gòn. Đối với nhiều người, cũng khó mà không cảm thông với phe đối lập khi mà nạn tham nhũng của chế độ Diệm rất dễ nhận ra, còn tập thể lãnh đạo Sài Gòn thì kém cỏi và thiếu kinh nghiệm thấy rõ thành thử đã làm mất lòng dân.

Trong khi người Mỹ có lẽ đang mong sự xuất hiện trở lại của một nhân vật tương tự như phu nhân tướng Tưởng Giới Thạch, một phụ nữ thanh nhã, dịu dàng, tốt nghiệp trường Wellesley thì bà Ngô Đình Nhu, em dâu của Tổng thống Ngô Đình Diệm, với biệt danh “Long Nữ” (Dragon Lady) đã ngang ngược báng bổ và tuyên bố công khai rằng họ đã chứng kiến một màn “nướng thịt” (barbecue) sau một vụ tự thiêu. Bất kể những người có thể không bằng lòng với quan điểm của bà sẽ có thái độ ra sao nhưng bà vẫn trả lời phỏng vấn rằng: “Cứ để cho họ bị thiêu và chúng ta sẽ vỗ tay hoan nghênh.”

Với vai trò lãnh đạo về chính trị trong các thập niên 1950 và 1960, nước Mỹ phải đối phó hàng ngày trước nguy cơ chiến tranh hạch nhân với Liên Bang Sô Viết cùng với nguy cơ được định nghĩa là “chiến tranh nhân dân” tại một loạt các quốc gia chư hầu ngày càng gia tăng tại Âu Châu và khắp Á Châu. Tuy vậy, nỗi ám ảnh bởi cái mà người Mỹ cho là một cuộc hiệp ước đình chiến mong manh tại Đại Hàn đã khiến cả hai siêu cường tìm cách giảm thiểu nguy cơ xung đột trực tiếp có thể nhanh chóng dẫn đến chiến tranh nguyên tử. Nỗi thất vọng trước sự bất lực trong việc đạt được một chiến thắng toàn diện đã được xoa dịu bằng niềm tin rằng sẽ khó có thể toàn thắng như lần 1945 nữa.

Kinh nghiệm tại Triều Tiên chứ không phải là Thế Chiến Thứ Hai đã hoạch định sự dính líu của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á trong bối cảnh Chiến Tranh Lạnh. Tình hình của Việt Nam Cộng Hòa có nhiều điểm tương đồng với với bán đảo Triều Tiên. Cả hai quốc gia Cộng sản Bắc Hàn và Bắc Việt đều có chung biên giới với Trung Cộng và được trợ giúp đáng kể từ họ. Cả hai cũng đều nhận được những khối lượng viện trợ khổng lồ từ Liên Sô. Đồng thời cả hai quốc gia cũng đã vừa trải qua kinh nghiệm ngoại xâm của thực dân mà đáng kể nhất là Nhật Bản là kẻ đàn áp tàn bạo nhất.

Chiến tranh Triều Tiên là một cuộc chiến hầu như qui ước diễn ra trên một lãnh thổ mà cả hai bên đều không đóng ở các vị trí cố định, do đó cho phép huy động các đại đơn vị chống lại một kẻ thù dễ nhận diện ra. Bắc và Nam Hàn đã bị chia cắt dọc theo vĩ tuyến 38 bởi cách lý luận tùy tiện tại Yalta vào năm 1945 giống như trường hợp của Việt Nam vậy. Vùng biên cương dài hơn 150 dặm này là khu vực duy nhất có thể xâm nhập được vào miền Nam hoặc rút ra khỏi đây. Bởi rừng cây thưa thớt, lực lượng địch quân rất khó ẩn tránh máy bay đồng minh bay tuần tiễu, việc cô lập chiến trường được thực hiện tương đối dễ dàng. Vì khả năng hải quân bị hạn hẹp nên cơ hội xâm nhập của Cộng sản bằng đường biển chỉ hạn chế ở các đơn vị nhỏ.

Những khác biệt so với Triều Tiên đã khiến cho việc bảo vệ miền Nam gặp nhiều khó khăn hơn đối với các cố vấn Mỹ và những người miền Nam đang tìm cách tránh sự thống trị của Cộng sản. Trong khi dân tộc Đại Hàn, cả Nam lẫn Bắc gần như là thuần nhất thì Việt Nam và các nước láng giềng phía tây có chung những đường biên giới lỏng lẻo không được xác định rõ ràng và là nơi trú ngụ của nhiều sắc tộc thiểu số khác nhau. Qua các qui định chiến tranh do họ tự đặt ra và với những sự hạn chế về địa dư, các khu vực rừng rậm, núi non phía Đông Căm-Pu-Chia và Lào đã biến thành những mật khu ẩn núp của Cộng sản. Việc ngăn chặn sự xâm nhập vào Việt Nam hầu như không thể thực hiện được. Do các khó khăn về địa dư và chính trị này, thế chủ động trên chiến trường phần lớn đã phải nhường lại cho phía đối phương.

Bắt đầu bằng cuộc Khủng hoảng Kênh đào Suez vào đầu mùa hè năm 1956, một loạt các hành động gây hấn của phe Cộng sản được tung ra: sự đàn áp tàn bạo các chiến sĩ tranh đấu cho tự do Hungary bởi quân Liên Sô, cuộc xâm lược của Cộng sản Trung Hoa chống lại phe quốc gia trong cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai vào cuối năm 1958, sự kiện Cuba rơi vào tay du kích quân của Castro ngay tại “cửa sau” của Mỹ vào năm 1959, việc bắn hạ máy bay thám thính U-2 của Gary Power trên đất Nga, sự thất bại vùng vịnh Con Heo, sự kiện bức tường Bá Linh được dựng lên, và những thách thức đối với Tây phương ở Congo từ Patrice Lamumba và nhóm lâu la của ông.

Tình thế trên bộ tại Đông Nam Châu Á vào đầu năm 1960 cũng không khá hơn các nơi khác bao nhiêu. Cho dù cố vấn quân sự Hoa Kỳ đã hoạt động tích cực trên tất cả các nhiệm vụ không chiến đấu tại Việt Nam từ 1954, nhu cầu phải đưa người Mỹ ra tiền tuyến để mở rộng tầm quan sát và sự hỗ trợ trong việc phát triển khả năng chiến đấu của Việt Nam cuối cùng đã được chấp thuận vào năm 1960 trên một căn bản hạn chế. Các sĩ quan Hoa Kỳ không mấy phấn khởi trong các thời kỳ đầu tiên này.

Binh chủng TQLC Việt Nam, với quân số không bao giờ quá hai phần trăm của toàn bộ quân lực đã được cải thiện liên tục về khả năng tác chiến và binh đoàn nhỏ này đã được liệt vào hàng ưu tú trong Quân Lực VNCH. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa có quân số lớn hơn rất nhiều và cũng không thiếu các chiến sĩ dũng cảm nhưng lại bị thất lợi bởi những vấn đề thường gặp trong các tổ chức quân sự mới được thành lập tại các quốc gia nghèo. Nguồn lực thì có giới hạn, huấn luyện thì thiếu sót và các sĩ quan chỉ huy, nhất là các cấp tư lệnh thường gồm những nhân vật được lựa chọn không phải do khả năng tác chiến hay chỉ huy mà chỉ vì lòng trung thành về chính trị và sự quen biết. Điều này đã khiến cho các đơn vị của chế độ Sài Gòn bị thất lợi rất nhiều so với các lực lượng Cộng sản nhiều khi lại còn được chỉ huy khá cũng như được động viên tốt hơn.

Các sĩ quan trong quân đội Hoa Kỳ được điều đến để giúp thành lập, hình thành và hướng dẫn thuộc thành phần quân nhân giỏi và sáng giá nhất. Với thành công tại Triều Tiên trong việc thiết lập quân đội non trẻ của nước đó, sự bổ nhiệm Trung tướng John “Iron Mike” (Mike sắt thép) O’Daniel vào cương vị tư lệnh cơ quan MAAG tượng trưng cho đỉnh cao kỳ vọng của giới lãnh đạo chính trị và quân sự Hoa Kỳ. Quá trình lâu dài và gian khổ nhằm xây dựng các đơn vị quân sự cần thiết và hỗ trợ tối thiểu cho hạ tầng cơ sở được giao phó cho hàng trăm sĩ quan Hoa Kỳ đầy lòng nhiệt huyết, một số sĩ quan người Pháp cùng chung lưng hiện đang giảm dần và hàng ngàn sĩ quan Việt Nam đồng một lòng muốn đất nước được phát triển.

Thành tích ban đầu của QLVNCH ngoài chiến trường chống du kích không được khả quan lắm. Các chiến thắng của họ đối với Cộng sản, nay gọi là Việt Cộng thường chỉ là những biến cố tạm thời vì chính sách của chế độ Ngô Đình Diệm đã làm suy yếu hành động của họ ngoài mặt trận. Quyết định thay thế các chức sắc xã ấp được dân bầu bằng những cán bộ do chính quyền Sài Gòn bổ nhiệm đã làm mất lòng người dân địa phương. Chiến dịch đàn áp những người bị nghi ngờ là thân cộng dù vu vơ đã tiếp tay thêm cho sự tuyên truyền phổ biến do Hà Nội đề xướng.

Đồng thời những cán bộ được cài lại phía sau được lệnh hoạt động trở lại, công tác tuyển mộ cho lực lượng Việt Cộng tại chỗ được đẩy mạnh một cách hung hãn và sự xâm nhập của các đơn vị chủ lực Bắc Việt vào miền Nam đã làm dài thêm danh sách các khó khăn mà VNCH phải đối mặt. Từ năm 1961 đến 1962 ước tính trên thực tế Cộng sản đã kiểm soát được hơn một nửa miền Nam rồi.

Ở cấp cao nhất của giới lãnh đạo Hoa Kỳ tại Sài Gòn và Hoa Thịnh Đốn, các cuộc tranh cãi dữ dội đã xảy ra tập trung vào việc phải hành động ra sao và cách nào tốt nhất để đối phó với TT Ngô Đình Diệm mà hành động thường không phù hợp với ý định của người Mỹ. Đường lối cai trị của TT Diệm và nạn tham nhũng rõ rệt của chế độ là một sự bối rối và cản trở những điều mà người Mỹ tự cho là nỗ lực cao thượng nhằm ngăn chận Cộng sản. TT Diệm không được lòng dân chúng và uy tín của ông đối với quân đội làm càng bị lung lay nhiều hơn nữa.

Đến mùa hè 1963, Hoa Kỳ đã đổ công sức gần chín năm về chính trị nhằm đạt thắng lợi tại Việt Nam. Cùng với sự gia tăng về nỗ lực cố vấn và gần như là yểm trợ quân sự trực tiếp, danh sách thương vong của người Mỹ cũng tăng dần lên. Đánh đổi lại tài nguyên và xương máu đã đổ ra thì chưa có sự thành công nào đáng kể cả. Nhiều giới chức cao cấp Hoa Kỳ và một vài tướng lãnh hàng đầu Việt Nam tin rằng sự lãnh đạo của TT Diệm sẽ không mang lại hy vọng cho một chiến thắng của đất nước.

Đến nước này rồi vì đầu tư quá nhiều mà để Việt Nam bị thất bại vào tay kẻ thù phương Bắc thì có thể sẽ kích động sự sụp đổ theo thế cờ domino. Một nước Hoa Kỳ thiếu quyết tâm tại Đông Nam Á có thể sẽ khuyến khích sự bành trướng và xâm lược của Liên Sô trên toàn thế giới. Trong giới lãnh đạo quân sự Việt Nam, nhóm sĩ quan tin tưởng con đường duy nhất để cứu đất nước là loại bỏ TT Diệm đang dần tăng lên. Sự dính líu của nước Mỹ trong cuộc đảo chánh TT Diệm vẫn còn gây tranh cãi và là đề tài của nhiều cuộc tranh luận gay gắt. Tuy nhiên điều này ít nhất có thể tin được qua lời khuyên trước đó trong lá thư nổi tiếng của George Kennan gởi cho đồng nghiệp là Bộ trưởng Ngoại Giao Chip Bohlen năm 1948:

“Điều này không có nghĩa là tất cả các chính quyền mà chúng ta giúp chống lại áp lực của Liên Sô sẽ được soi sáng, sẽ là những chính quyền tự do, thực thi dân chủ theo những cách mà chúng ta có thể khen ngợi được. Rất nhiều trong số các chính phủ đó có thể sẽ trở thành những thể chế tham nhũng và độc tài. Tuy nhiên nếu đứng trên quan điểm lợi ích của nước Mỹ thì điều này vẫn còn tốt hơn là những chế độ do Cộng sản kiểm soát vì họ sẽ không có tham vọng thống trị toàn cầu, cũng như không có đủ phương tiện để cho phép mơ tưởng đến các cuộc gây hấn ở qui mô lớn.”
Đối với các tư lệnh quân sự Việt Nam có khả năng thực hiện sự thay đổi thì điều hiển nhiên là TT Diệm phải ra đi cho VNCH có chút cơ may để sống còn.

Thành phần yêu nước của miền Nam Việt Nam có một niềm tin trực giác hợp lý rằng một khi tình hình đất nước khả quan hơn, nỗ lực về quân sự nhằm giải thoát gia đình họ khỏi ách nô lệ của con quái vật miền Bắc sẽ được tiến hành. Là một người quen thuộc với chiến lược quân sư, đặc biệt là chiến lược hải quân, ông Lê Bá Sách hiểu rằng đơn vị tiên phong chống trả một cuộc xâm lược sẽ phải là TQLC.

Ông rất thương yêu con cái nhưng ông cũng yêu đất nước, đồng thời mang một nỗi căm thù Cộng sản tận xương tủy, một mối thù sâu sắc đến nỗi ông sẵn sàng để đứa con trai yêu quý tòng quân nhằm vào mục đích đó. Ông đã cương quyết khuyên đứa con trai trưởng phục vụ trong binh chủng TQLC.

Sau khi tốt nghiệp Đại học, Lê Bá Bình lập tức được nhận vào trường sinh viên sĩ quan Thủ Đức ngay bên ngoài Sài Gòn nhằm tham dự một khóa học 10 tháng để trở thành sĩ quan. Do tầm mức tương đối nhỏ của các binh đoàn Việt Nam khác ở bên cạnh quân đội chủ lực, họ phải dùng chung cơ sở đào tạo sinh viên sĩ quan để tiết giảm chi phí và tận dụng các phương tiện huấn luyện còn thiếu thốn. Khóa học 10 tháng giúp các sĩ quan trẻ đầy nhiệt huyết tiếp xúc với đường lối chỉ huy quân sự, các tập tục, quân phong quân kỷ, cơ bản thao diễn và một số chiến thuật bộ binh căn bản vì đa số các khóa sinh nói cho cùng cũng sẽ được bổ sung vào quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Bình khi ấy nằm trong một nhóm riêng trong số vài trăm sinh viên sĩ quan, với 60 người đã được tuyển chọn vào binh chủng TQLC hiện đang thiếu trầm trọng các tân sĩ quan chỉ huy trẻ tuổi.

Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM

CƯỠI NGON SẤM

cuoingonsam
richardbotkin

Chương Hai:

Bức Màn Tre Sụp Xuống

Từ 1946 cho đến giữa 1954, lực lượng Việt Minh và quân đội Pháp đánh nhau khắp các vùng Đông Dương nhưng hầu hết các trận đánh nghiêm trọng đều diễn ra tại Bắc Việt. Khi cuộc chiến kéo dài mà không có triển vọng sớm kết thúc và tình hình thương vong cao dần, lòng nhiệt huyết của người Pháp đã bị héo mòn. Trận đánh quyết định cuối cùng tại Điên Biên Phủ ở vùng Tây Bắc – Bắc Việt gần biên giới Lào là một chiến thắng vang dội cho Cộng quân. Mặc dù quân Pháp bị thất trận một cách nhục nhã nhưng sự chuyển tiếp từ chiến trường qua bàn hội nghị hòa bình đã không mang lại sự hài lòng cho bất kỳ phe nào có liên quan.

Hiệp định Genève bắt đầu từ tháng 5 năm 1954 có sự hiện diện của bốn quốc gia mới của Đông Dương thuộc Pháp trước đây, nước Pháp, Anh, Liên Sô, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa và Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Khi các cuộc đàm phán kết thúc vào tháng bẩy thì một cuộc ngưng bắn đã được thỏa thuận. Vĩ tuyến 17 giữa Quảng Bình ở phía Bắc và Quảng Trị ở phía Nam có giòng sông Bến Hải chảy ngang ra Biển Đông được chọn làm đường chia cắt Đông Tây, tách rời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (phía Bắc, Cộng sản) và Việt Nam Cộng Hòa (phía Nam, không Cộng sản). Vùng ranh giới mà sau này thế giới biết đến như vùng phi-quân-sự trên thực tế chẳng có gì là “phi” quân sự cả.

Thỏa hiệp ngưng bắn dành một thời hạn 300 ngày để cho mọi người có thể tự do di chuyển giữa hai miền Nam và Bắc mà không bị giới hạn bởi các chính quyền mới. Đến giữa năm 1955 có hơn 1 triệu người dân, phần lớn là Công giáo, đã quyết định nhặt nhạnh những gì mang được, bỏ lại hết mồ mả tổ tiên và bao nhiêu thế hệ truyền thống làng xã để lìa bỏ miền Bắc còn hơn là chịu sống dưới chế độ Cộng sản. Trong khi có một số lượng nhỏ không xác định được gồm các cán bộ Cộng sản Mác-Xít tập kết ra ngoài Bắc thì không có người dân bình thường nào ra theo.

Người Bắc di cư vào Nam bằng đường hàng không, đường xe lửa, đường bộ nhưng hầu hết là bằng tầu vận chuyện đường biển. Rất ít người ngoại cuộc biết đến ảnh hưởng và hậu quả của nhóm cộng đồng di cư này đã tác động đến miền Nam như thế nào. Văn hóa và tính tình của người Bắc Kỳ thường nghiêm khắc và khó tính hơn bởi họ phải sinh nhai trên vùng đồng bằng sông Hồng khó nhọc. Với làn da nhạt hơn, cách phát âm hơi khác, cách ăn mặc và truyền thống tương đối khác biệt, họ gặp nhiều điều va chạm với người miền Nam vốn dễ tính và nhàn nhã hơn, bởi có thể sinh kế thoải mái từ một vùng mầu mỡ của đồng bằng sông Cửu Long. Vào năm 1955 có thể so sánh điều này với Mỹ nếu 12 triệu dân New York với lối sống hối hả nhộn nhịp đột nhiên được di chuyển vào vùng nông thôn Georgia hay Mississipi mà chỉ nhận được sự trợ giúp tối thiểu hoặc mạng lưới an toàn từ chính quyền trung ương.

Một điều khoản của Hiệp Định Genève vốn được tất cả các phe chấp thuận ngoại trừ Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa, là kêu gọi tổng tuyền cử khắp nước Việt Nam vào tháng 7 năm 1956. Với tương quan dân số vào khoảng 16 triệu ngoài Bắc và 14 triệu trong Nam, Hồ Chí Minh và lực lượng của hắn tin tưởng sẽ loại trừ hết các phe chống đối quan trọng và củng cố được miền Bắc từ vĩ tuyến 17 trở lên nên đã vui vẻ đồng ý với các viễn ảnh đó.

Từ giữa năm 1953, khi chiến tranh chưa kết thúc, cho đến tận năm 1956, bọn Cộng sản đã tiến hành hàng loạt những cuộc thanh trừng đẫm máu nhằm loại trừ tất cả những tàn tích của chế độ tư bản một cách tàn nhẫn. Trong những đợt cải cách ruộng đất vào thời kỳ bọn chúng cho rằng trong mỗi làng mạc có vào khoảng 5% dân chúng thuộc thành phần địa chủ và nhóm “nhà giàu” này đã bóc lột 95% số người còn lại. Do đó, tài sản của họ đã bị tước đoạt và phân phối lại cho những người còn lại này. Đồng thời những vụ giết hàng loạt người trong nhóm 5% có đồng ra đồng vào này được tiến hành một cách chính xác bởi những đội đặc biệt gọi là cán bộ cải cách ruộng đất.

Không có chi tiết chính xác nào về số lượng người đã bị trừ khử trong giai đoạn này, và cũng không có hồ sơ nào về những người bị mất mạng hay bị đe dọa trong các nỗ lực trốn về phía Nam. Báo chí thông tin rất ít và tin tức về những cuộc thanh trừng qui mô này chỉ đến tai người miền Nam bằng những lời kể lại nên không gây chú ý mấy trên các phương tiện truyền thông Tây phương.

Mặc dù rất phôi thai và còn xa mới gọi là hoàn hảo nhưng chính quyền mới thiết lập tại miền Nam còn tốt đẹp hơn nhiều đối với những người đã nếm mùi Cộng sản. Trong khi hoàng đế Bảo Đại đã lỗi thời chỉ còn đứng đầu quốc gia trên danh nghĩa thì thực quyền nằm trong tay Thủ tướng Ngô Đình Diệm và tay chân thân cận gồm các thành viên trong gia đình của ông. Quyền uy của ông đã phải trực diện với các thử thách mà nó còn lớn hơn ở bên phe đối thủ Bắc Việt, và thật là một điều kỳ diệu là, mặc dù với sự trợ giúp của chính quyền Eishenhower, chính phủ non yếu đó đã xoay sở để vượt qua được hết.

Ngay từ khởi đầu, chính quyền Diệm đã bị tràn ngập bởi các thử thách. Báo chí phương Tây vốn không ưa ông đã không khoan nhượng khi tường thuật những sự cố gắng của chế độ ông Diệm để giải quyết bằng quân sự đối với các sự đe dọa từ các nhóm Hòa Hảo, Cao Đài và các lực lượng Phật giáo khác. Họ hoàn toàn bất tín nhiệm khuynh hướng thiên Công giáo của Thủ tướng Diệm và nhóm những người di cư của ông. Thêm vào cuộc xung đột tôn giáo và văn hóa, và gánh nặng đầy ắp do việc thu hút quá nhiều công dân mới, chính phủ mới còn phải đối phó với ảnh hưởng về tài chính và chính trị của nhóm Bình Xuyên. Nhóm này thực chất là một nhóm thổ phỉ chuyên cướp bóc tàu bè di chuyển trên sông Sài Gòn vào những thập niên 1930 và 1940. Sau Thế Chiến Thứ Hai, Bình Xuyên được giao đặc quyền tổ chức cảnh sát và khu ăn chơi trong Chợ Lớn, một vùng của người Hoa tại Sài Gòn. Ông Diệm quan niệm Bình Xuyên, giống như Hòa Hảo và Cao Đài là một mối đe dọa đối với khả năng lãnh đạo đất nước của ông.

Sự thắng thế của Cộng sản trên toàn thế giới, đặc biệt là ở Á Châu, đã làm gia tăng mối quan tâm của người Mỹ tại Việt Nam. Ngay từ giữa những năm 1950, nhằm phản ứng lại cuộc xâm lăng của Bắc Hàn, Tổng thống Truman đã ra lệnh thành lập một Phái Bộ Cố Vấn Quân Sự (Military Assistance Advisory Group MAAG) tại Đông Dương thuộc Pháp. Được sử dụng phần lớn như là một phương tiện tài trợ qua đó các viện trợ được chuyển qua cho người Pháp trong những nỗ lực chống lại Việt Minh, sự ra đời của Việt Nam Cộng Hòa đã mang lại cho tổ chức này một mục đích mới. Nhóm MAAG của Hoa Kỳ bắt đầu đưa vai chịu lấy gánh nặng trong cuộc chiến chống lại Cộng sản.

Một tổ chức được thành lập thông qua nỗ lực của một nhân viên MAAG chính là binh chủng phôi thai Thủy Quân Lục Chiến của nước Cộng Hòa mới.

Giới quân sự Hoa Kỳ đã trực tiếp đầu tư những khoản xương máu và tiền của khổng lồ khi tiến hành cuộc chiến tranh lạnh. Một trong những điều không được biết đến và trân trọng đúng mức là công việc huấn luyện và trợ giúp đã cung cấp cho các quốc gia đang chiến đấu có thể duy trì nền Tự Do của họ trong một thế giới ngày càng thù nghịch nhiều hơn. Trong những năm ngay sau Thế Chiến Thứ Hai, một món quà khác của binh chủng TQLC Hoa Kỳ cho Thế Giới Tự Do là sự tham gia vào việc hình thành bốn Quân đoàn TQLC tại Á Châu.

Đối với các nước Cộng hòa Đại Hàn, Trung Hoa Quốc Gia và Phi Luật Tân thì TQLC Hoa Kỳ đã rộng rãi gieo những hạt giống về chiến tranh viễn chinh cho các nhóm nhỏ lực lượng đặc biệt trong mỗi xứ sở tương ứng. Trong mỗi quốc gia, các đơn vị TQLC mới sẽ mang dấu ấn của người anh cả Hoa Kỳ. Một chuyện nhỏ nhặt nhất là, giống như ở Mỹ, danh xưng “TQLC” đã trở thành đồng nghĩa với tất cả những gì tốt đẹp nhất của tinh thần thượng võ và đức hạnh của người lính.

Trong bốn tập thể TQLC tân lập, mối liên hệ giữa TQLC Hoa Kỳ và TQLC Việt Nam Cộng Hòa đã trở thành thân thiết nhất, mãnh liệt nhất và cũng tốn kém nhất. Đối với VNCH chỉ có Sư đoàn Nhẩy Dù mới được sánh như tương đương nhờ ở các thành tích chiến đấu và mức độ tin cậy cao của họ. Cái nhóm nhỏ các quân nhân làm nòng cốt cho TQLC Việt Nam từ 1954 trở về sau đã chứng tỏ niềm hăng say đặc biệt của tổ chức. Đặc điểm này hiển nhiên đã đưa binh chủng TQLC đứng riêng ra trong mọi nền văn hóa.

TQLC Việt Nam có nguồn gốc từ một tổ chức rất nhỏ gồm các đơn vị rải rác theo kiểu biệt kích được thành lập với sự trợ giúp của quân đội Pháp vào năm 1946. Những đại đội xung kích trên sông với biệt danh là “Ðoàn Thủy Binh Xung Phong” (Dinassauts), là một sự kết hợp của các đơn vị bộ binh đặc biệt có khả năng chiến đấu trên cạn lẫn dưới nước. Những hoạt động đầu tiên của họ là ở miền Bắc trong vùng đồng bằng sông Hồng Hà. Trong các đơn vị chiến đấu của Việt Nam được sự giúp đỡ của người Pháp thì những toán Dinassauts có uy tín đặc biệt nhờ ở khả năng chiến đấu và tinh thần đồng đội cao độ.

Sự chia cắt đất nước Việt Nam vào năm 1954 đã có hậu quả là nỗ lực phát triển đầy đủ một cơ cấu lực lượng quân sự quốc gia đủ sức để bảo vệ nền Cộng hòa mới thành lập đối với hiểm họa từ phương Bắc. Đồng thời với nhu cầu có một lực lượng Hải Lục Không quân tối tân là sự thừa nhận phải có những đơn vị đặc biệt có khả năng tiến hành các cuộc hành quân đổ bộ trên nhiều dặm dài của bờ biển và đường thủy lộ nội địa Việt Nam.

Tuy nhiên Việt Nam cũng không tránh khỏi sự cạnh tranh giữa các quân chủng trong tổ chức quân đội, một tình trạng khá phổ biến trong mọi quốc gia. Từ lúc khởi đầu thành lập, TQLC Việt Nam, giống như người anh em Hoa Kỳ đã phải đối phó với những chuyện nhỏ nhặt nhất như tranh đấu cho những nguồn tài lực. Hàng tháng trời bàn cãi giữa các nhóm lớn gồm các sĩ quan quân đội Việt Nam, Pháp và Hoa Kỳ vẫn không mang lại một sơ đồ tổ chức có thể chấp nhận được, hay phát triển được vai trò và nhiệm vụ mà lực lượng đổ bộ mới mẻ này sẽ đảm trách. Sau cùng đã phải cần đến sự quyết tâm tập thể, nhiệt tình và sức mạnh về ý chí của một Thiếu tá Việt Nam, một Đại úy quân đội Pháp và một Trung tá Hoa Kỳ để làm cho chuyện thành lập một tổ chức TQLC Việt Nam riêng biệt trở thành hiện thực.

Với cương vị là người con trưởng, công việc chính của Bình là đi học. Người cha và bà mẹ kế đồng lòng quyết tâm cho sự thành công của con và anh đã chăm chỉ để thực hiện điều này.

Nhập học mẫu giáo tại một trường nam sinh nhỏ tại Tân Định trong thời kỳ Nhật chiếm đóng, trạng thái bình thường của sự hỗn loạn vẫn tiếp tục không hề suy giảm qua sự kiện đầy tranh cãi về việc người Pháp trở lại Việt Nam, cuộc chiến với Việt Minh và sự thành lập đầy trắc trở của một đất nước mới.

Mặc dù những người miền Bắc chống cộng nhất đã di cư toàn bộ từ năm 1954, vẫn còn rất nhiều người trong Nam không nhiệt tình lắm với chế độ ông Diệm. Sự quyến rũ của chủ nghĩa Cộng sản đối với nhiều người là một sự lựa chọn tốt hơn là ách áp bức của thực dân Pháp, do đó đã được sự chấp nhận của một số người chuyển đổi thuộc thế hệ đầu tiên. Một số thì bị mê hoặc bởi Cộng sản ban cho họ cái quyền lực được giết các địa chủ hay tất cả những ai mà họ coi như đã bóc lột thành phần vô sản. Những thành phần cốt cán của bất cứ đảng phái nào đều sẵn sàng chấp nhận lời kêu gọi hy sinh của đảng nhằm chống chủ nghĩa tư bản và ngoại xâm. Những gia đình giống như của Bình, đã từng sống và bị tác động xấu bởi Việt Minh cũng nóng lòng xóa bỏ vết tích của thực dân. Tuy nhiên họ không hề tán thành những điều dối trá trắng trợn của Cộng Sản hoặc những điều nửa vời mà họ biết được qua kinh nghiệm cay đắng từ trong gia đình.

Một số giáo sư tại trường trung học của Bình, có thể đã từng là những thành viên thuộc một nhóm nằm vùng cán bộ Cộng sản được gài lại phía sau vào lúc phân vùng đất nước. Họ có thể chỉ đơn giản thuộc vào một nhóm nhỏ nhưng rải rác ở miền Nam vốn là những người có cảm tình với Cộng sản. Bằng cách nào cũng vậy, họ không lo ngại bày tỏ những điều mà chàng thanh niên Bình cho là những lời tuyên truyền không hơn không kém. Khi có thể, cậu ta sẽ trân trọng thách thức quan điểm thế giới của họ về sự vĩ đại của Trung Quốc và Liên Xô. Trong khi các học sinh được học về chiến thắng của Trung Quốc trong Chiến tranh Triều Tiên và về sự vinh quang của chương trình không gian của Nga với việc phóng thành công phi thuyền Sputnik, Hoa Kỳ ít khi được nhắc đến và nếu có thì không bao giờ là tích cực cả. Khi cậu Bình chia sẻ điều này với cha của mình, ông cụ sẽ lấp vào đấy những điều gì ông biết về những sự kiện lịch sử mà các giáo viên đã tự tiện bỏ đi

Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM

CƯỠI NGỌN SẤM, CHƯƠNG 1

cuoingonsam

richardbotkin

Chương 1

Hồng Thủy Triều

Bản đồ thế giới đang bị nhuộm đỏ dần. Từ thành trì nước Mỹ vào cuối năm 1954 nhìn ra ngoài, tình hình thế giới không được lạc quan chút nào. Căn bệnh ung thư Cộng sản bất trị đã tấy lên và lây lan với mức độ đáng sợ. Liên Sô, Đông Âu, Trung Cộng, Bắc Hàn và bây giờ là đất nước Việt Nam bị chia cắt với bọn Cộng sản thống trị ở miền Bắc đang thèm khát nhòm ngó xuống miền Nam và có lẽ sang cả Lào và Căm-Pu-Chia nữa. Số lượng các dân tộc bị nô lệ tăng dần lên làm lu mờ đi niềm vinh quang của cuộc chiến thắng toàn diện từ sau Thế Chiến Thứ Hai.

Trong khi chủ nghĩa thực dân cũ bị sụp đổ và biến dần đi thì khoảng trống về chính trị và kinh tế đã tạo ra một thế giới thứ ba trong chiều hướng thù địch với sự hình thành non yếu của nền kinh tế tự do và đối với các chính phủ được bầu lên theo thể thức dân chủ. Dưới quan điểm của người Mỹ, khối liên kết Liên Sô-Trung Cộng tựa như một con quái vật khát máu, dị dạng đang nuốt chửng tất cả những gì nằm trên đường đi của nó và đang tìm mọi cách để mở rộng ảnh hưởng bằng cách xuất cảng tràn lan chủ nghĩa Mác-xít, giúp các phong trào nổi dậy và cái gọi là “chiến tranh nhân dân.”

Tương tự như sự kiện Trân Châu Cảng đã lay động Hoa Kỳ thức tỉnh để ra khỏi sự cô lập và đã thúc đẩy đất nước này một cách toàn diện, tuy không tự nguyện, vào vai trò lãnh đạo của Thế Giới Tự Do, tình hình thực tế sau sự kết thúc của các cuộc xung đột lớn vào tháng 9 năm 1945 là yếu tố buộc anh chàng “khổng lồ” miễn cưỡng này phải thận trọng và đầu tư lâu dài của cải, tài nguyên nhân lực ở những mức độ chưa từng thấy hoặc ở mức cần thiết không tưởng tượng nổi nếu trong thời bình.

Kinh nghiệm của Hoa Kỳ trong Thế Chiến Thứ Hai, quá lớn và mòn mỏi đối với tất cả các công dân Mỹ trên mọi phương diện rất khó mà xác định hay định lượng nổi toàn bộ, đã tạo ra các tiêu chuẩn mới để từ đó các hoạt động quân sự trong tương lai cũng như các phương cách đo lường thắng bại phải được xem xét lại.

Kinh nghiệm trận chiến Triều Tiên mà nước Mỹ tham dự từ tháng 6/1950 cho đến khi đạt được một cuộc ngưng bắn mong manh vào tháng 7/1953 hết sức khác biệt với niềm vinh quang toàn diện của Thế Chiến Thứ Hai mà người Mỹ vẫn còn mang trong lòng. Với cái giá phải trả là hơn 54 ngàn binh lính bị thiệt mạng, hơn 8 ngàn người mất tích vì công vụ và hàng trăm ngàn người khác bị thương, người Mỹ bình thường không có niềm tự hào vì không thể tuyên bố đó là một sự chiến thắng được. Người nào lạc quan lắm cũng chỉ có thể quan niệm rằng ít nhất nước Cộng Hòa Đại Hàn vẫn còn đứng vững và sự hiện diện của Hạm đội thứ bẩy tại eo biển Đài Loan đã chận đứng các âm mưu của Cộng sản muốn thôn tính Trung Hoa Quốc Gia và có thể ngay cả Nhật Bản nữa. Trong khi sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản đã tạm bị ngăn chận tại vùng Bắc của lục địa Á Châu thì căn bệnh ung thư tương tự lại bắt đầu phát triển về phía Nam.

Lê Bá Bình

Cha của Lê Bá Bình là người đã tác động nhiều nhất đến ước muốn của anh là được trở thành một sĩ quan trong Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến mới được thành lập.

Ông tên là Lê Bá Sách, sinh năm 1910 tại một làng gần Hà Đông, một thị trấn nông thôn hơi chệch về hướng Nam và Tây của Hà Nội. Thấy ông là một thanh niên thông minh, gia đình đã lo cho ông đi Pháp vào cuối thập niên 1920 để theo học tại một trường đại học kỹ thuật và nhận được bằng kỹ sư. Sau khi trở về Việt Nam vào đầu thập kỷ 1930 ông gia nhập lực lượng Hải quân Pháp đóng tại vùng Sài Gòn. Vì là người Việt Nam, cho nên mặc dù có học, nhưng các cơ hội thăng cấp của ông đã bị hạn chế, do đó ông phải phục vụ dưới khả năng của mình như một hạ sĩ quan trên những chiếc tàu thuyền nhỏ của Hải quân Pháp đồn trú tại đó.

Năm 1930 mẹ vợ của ông Sách chuyển vào sống tại Sài Gòn để trông nom một quán ăn gần vùng Chợ Lớn. Cùng theo với ông Sách vào Sài Gòn là bà vợ mới cưới tên là Cát Thị Dần sinh trưởng từ tỉnh Sơn Tây gần Hà Nội. Bình được sinh ra năm 1937 và là người con trưởng trong số bốn người con của một gia đình Phật giáo truyền thống.

Một phần đất của Đông Dương thuộc Pháp sau này trở nên nổi tiếng đối với thế giới với tên gọi Việt Nam được tạo nên bằng ba khu vực riêng biệt. Ở phía Bắc, ngay bên dưới và tiếp giáp với Trung Quốc, là xứ Bắc Kỳ với nét đặc điểm địa lý chính yếu tác động đến dân cư là châu thổ sông Hồng. Về phía cực nam là vùng Nam Kỳ. Giống như miền Bắc, đặc điểm chính yếu của nó là khu vực đồng bằng to lớn hơn và là vựa lúa phì nhiêu của giòng sông Cửu Long hùng vĩ. Ở giữa hai vùng là miền Trung Kỳ với cái tên Annam là một vùng khó nhọc nuôi dưỡng dân cư ít hơn nhiều, với các cánh đồng dọc ven biển chật hẹp và chúng nhanh chóng biến thành núi rừng nếu ta di chuyển về hướng Đông qua Lào hay Căm-Pu-Chia.

Những kỷ niệm sớm nhất của Lê Bá Bình lúc còn thiếu thời chắc phải bao gồm các hồi ức về sự chiếm đóng của quân đội Nhật. Trên thực tế thì cái gọi là Khối Thịnh Vượng Chung Đại Đông Á chẳng mang lại thịnh vượng gì cho người dân sinh sống tại Đông Dương. Rất nhiều lần cậu bé Bình đã thấy những tên lính Nhật vung kiếm chặt đứt tay một số người dân ngoài phố chợ Sài Gòn chẳng biết vì lý do gì.

Trong những cuộc du hành trong nước, ông Lê Bá Sách đã tận mắt chứng kiến một viên sĩ quan Nhật dùng kiếm chặt chân một ông già phu xe vì tội không cung kính hoặc vì đã di chuyển chậm chạp kém nhiệt tình. Tại quê nhà Hà Đông của ông có một phụ nữ lớn tuổi vốn đã từng bán gạo cho đạo quân Nhật Hoàng dùng để nuôi ngựa. Khi có một con ngựa trong đám bị chết sau khi ăn gạo do bà bán, bà già bị lôi ra và nhét tươi vào bụng mổ toang của con vật đã chết. Sau khi nhồi nạn nhân vào bụng xác con vật xong, bọn lính khâu lại và đứng chung quanh cười giỡn khi thấy xác con vật quằn quại với nhịp độ yếu dần khi bà già bị chết ngạt bên trong. Người dân xứ Đông Dương đã học một bài học đắt giá là quan thầy thực dân Pháp của họ không phải là siêu nhân. Khi làn sóng chiến tranh chuyển hướng bất lợi cho người Nhật và vòng vây các tiềm thủy đĩnh Hoa Kỳ chung quanh các hòn đảo Nhật Bản siết chặt dần, nhu cầu phải nhập cảng lương thực tăng vọt lên. Người Nhật thâu tóm hết ngũ cốc từ những vựa lúa mầu mỡ của sông Hồng và, ở mức độ thấp hơn, từ vùng sông Cửu Long để chuyển về nước. Tuy không có những thống kê chính xác nhưng các ước tính hợp lý cho biết trong giai đoạn 1944-1945 chỉ riêng miền Bắc đã có khoảng hai triệu trong số 10 triệu ngưòi dân đã thiệt mạng từ nạn đói gây ra bởi kẻ xâm lược và nạn hạn hán lại còn làm cho tình hình tồi tệ thêm. So với Trung Hoa lúc đó cũng phải chịu đựng cảnh khốn cùng trong tay người Nhật, Việt Nam có lẽ đã phải trả cái giá cao hơn cho việc bị ép buộc gia nhập vào khối Thịnh Vượng Chung Đại Đông Á. (Các sự phỏng đoán được chấp nhận cho thấy số lượng người Trung Hoa bị thiệt mạng trong Thế Chiến Thứ Hai vào khoảng 10-12 triệu người kể cả đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Với một dân số khoảng 500 triệu vào lúc đó, gần 2% người Trung Hoa đã chết. Dân số Việt Nam ước tính cho ba miền Bắc, Trung và Nam vào khoảng gần 30 triệu mà đã có tới từ một đến hai triệu người chết tức từ ba đến sáu phần trăm dân số bị thiệt mạng. [Theo các nguồn tài liệu khác nhau]).

Trong cuộc họp cuối cùng của nhóm Tam Cường tại Postdam vào tháng 7/1945, Truman, Stalin, Churchill và các ban tham mưu của họ đã làm nhiều hơn là chỉ bàn thảo việc tìm kiếm kết quả cuối cùng cho cuộc chiến tại Âu Châu cũng như hoàn thiện chiến lược đánh bại nước Nhật. Trong các vấn đề phụ thuộc đối với các nước khác nhưng lại có ảnh hưởng đối với Đông Dương là thỏa thuận khi cuộc chiến chấm dứt tại vùng Thái Bình Dương. Quân đội Trung Hoa Quốc Gia sẽ giải giới quân đội Nhật tại miền Bắc xuống tới vĩ tuyến 16. Ở phía Nam, công việc tiếp nhận sự đầu hàng của quân Nhật sẽ do các đơn vị của quân đội Anh quốc trong đó có cả binh lính Ấn Ðộ đảm nhận.

Bình nhớ lại sự xuất hiện của người Anh và đồng minh người Ấn khi họ đến Sài Gòn. Hai nhóm rất khác biệt với nhau. Nhóm người Anh, mệnh danh là “Tommies” rất vui vẻ, thân thiện và thoải mái trong những lần tiếp xúc với trẻ em Việt Nam. Mặc dù không biết một chữ tiếng Anh nào nhưng Bình nhận ra ngay một nụ cười và chắc chắn là rất thích thú với cái kẹo mà những người lính trẻ ném cho đám trẻ con đang theo đuôi từng đoàn. Khác với người Anh, và có lẽ vì họ cũng đến từ một quốc gia nghèo nên người Ấn có vẻ tính toán hơn, tằn tiện, lầm lì và chẳng cần biết họ có được cảm tình của chủ nhà nghèo hèn người Việt hay không.

Dường như có một yếu tố bất biến trong hơn hai ngàn năm lịch sử được ghi lại của Việt Nam là các cuộc đấu tranh, xung đột, gian khổ và đau buồn quá liên tục đã làm cho con người trở thành quen thuộc luôn với nó. Nước Việt Nam hình như lúc nào cũng có chiến tranh, cho dù là chống người Chàm từ Căm-Pu-Chia, người Tầu tràn xuống từ hướng Bắc, hay giữa các bộ tộc Nguyễn và Trịnh trong những trận chiến cốt nhục tương tàn với nhau. Lịch sử dân tộc này suốt hai ngàn năm đầy rẫy các vị anh hùng và anh thư trong cuộc chiến bảo vệ lãnh thổ chống giặc ngoại xâm.

Khởi đầu bằng hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị vốn là những người đã chiến đấu và thành lập một vương triều trải dài đến vào tận trong miền Nam nước Tầu vào thập niên 40 trước Công Nguyên, đến Triệu Ẩu vào thế kỷ thứ ba, một phụ nữ Việt Nam tương tự như nữ anh hùng “Jeanne d’Arc” của Pháp, rồi đến Trần Hưng Ðạo, Lê Lợi, Lê Thánh Tông cho đến Phan Đình Phùng, văn hóa nước Việt gồm thật nhiều các nhân vật nam và nữ đầy dũng cảm, gan dạ mà gương hy sinh được truyền bá đến tất cả các thế hệ trẻ về sau.

Gần đây hơn cuộc đấu tranh chuyển qua chống lại người Pháp rồi tiếp theo là người Nhật. Nay quân Nhật sửa soạn rút đi, chưa rõ đến lượt kẻ thù nào sẽ thế vào chỗ trống đã được tạo ra. Sự đau khổ, đói kém và chết chóc là những chuyện thường ngày trong chuỗi nhân sinh tại Việt Nam như thể việc sinh ra, niềm vui và sự thỏa mãn vậy. Ai có thể khẳng định đời sống dưới thời kỳ Nhật là khổ nhất?

Có thể đúng như vậy thật. Những người không bị mất mạng ngay vì nạn đói đã trở nên yếu ớt và dễ bị mắc bệnh hơn. Vào năm 1946, một cơn dịch cúm đã cướp đi rất nhiều nạn nhân. Trong số đó có mẹ của Bình đã chịu đựng căn bệnh trong ba ngày trời trước khi qua đời để lại người chồng, Bình, đứa em trai và hai em gái của Bình trong một tương lai không lấy gì làm chắc chắn.

Sau khi chịu thất trận nhục nhã dưới tay người Đức trong Thế Chiến Thứ Hai, nước Pháp chỉ lăm le muốn đưa các thuộc địa cũ của mình về lại tình trạng tiền chiến. Trong khi nước Anh cùng chia sẻ ý định đó thì người Mỹ không có khuynh hướng phục hồi lại chế độ thực dân của thế giới cũ. Tuy nhiên vì làn sóng chủ nghĩa Cộng Sản đang dâng lên trên lục địa châu Á nên dường như không có nhiều sự chọn lựa lắm. Hồ Chí Minh được xem như là một viên gạch nữa đắp thêm vào khối đá Cộng sản đang lớn mạnh dần. Ngoài ra sau khi bị mất Trung Hoa và tiếp theo là trận chiến ở Triều Tiên, sự hỗ trợ của nước Mỹ đối với người Pháp là một sự chọn lựa tất nhiên và khẩn cấp.

Phong trào người Việt Quốc Gia nóng lòng đấu tranh tháo bỏ ách thực dân trên thực tế đã diễn ra từ trước khi quân đội Nhật nắm quyền hành tại vùng Đông Dương thuộc Pháp. Hồ Chí Minh mà sau này được thế giới coi như là đại diện của chủ nghĩa quốc gia Việt Nam thực chất chỉ là nhân vật còn sót lại sau khi đám lâu la của hắn đã ám sát hết những ai có thể là mối đe dọa cho vai trò lãnh tụ của hắn ở phía Bắc. Tại miền Bắc, nhất là sau chiến tranh, các phong trào quốc gia không theo Cộng sản hoặc là bị thanh trừng một cách tàn bạo bởi tay sai của Hồ Chí Minh, hoặc phải hợp tác với người Pháp và bị mang tiếng tiếp tay cho ngoại xâm. Cộng sản chẳng khó khăn gì tuyên truyền khép tội những người chống đối bọn chúng là họ đánh mất chính nghĩa và không thật lòng yêu nước. Chúng cho rằng những người này chỉ là công cụ và bị Pháp giật dây, mà trong một vài trường hợp điều đó lại đúng. Những lời kết tội này cũng được áp dụng đối với người Mỹ và những người nhận sự giúp đỡ của Mỹ từ 1954 trở đi.

Người Pháp ít đầu tư vào việc đào tạo và nâng cao vai trò lãnh đạo về chính trị và quân sự của người dân Việt Nam thành thử vai trò chỉ huy có vẻ đi theo thuyết Darwin tức luật sống còn của sự tàn nhẫn, xảo quyệt và tham nhũng trong cả miền Bắc lẫn miền Nam.

Các phong trào quốc gia khắp lục địa Á Châu có vẻ được kích thích từ sau chiến thắng của nước Nhật đối với người Nga vào năm 1905. Không có nơi nào mà dân bản xứ lại nóng lòng giành độc lập mạnh hơn là Đông Dương. Tuy nhiên ngoại trừ mục đích chung là đánh đuổi người Âu Châu, ít khi có vấn đề nào khác mà các nhóm quốc gia khác nhau lại có thể đồng thuận với nhau. Trong khi người Kinh chiếm khoảng 80% dân số các vùng miền Bắc, Trung và Nam Bộ thì có vào khoảng 50 nhóm thiểu số khác được phân bổ suốt dải địa dư dài và hẹp của cái quốc gia phôi thai đó. Những người gốc Hoa là nhóm thiểu số lớn nhất. Bao gồm gần 2% dân số, sự tập trung của họ ở những khu vực đô thị và sự thống trị của họ trong ngành buôn bán đã tạo cho họ một sự ảnh hưởng vượt mức tương xứng với dân số. Những người Thượng, H’mông, Nùng, và những sắc tộc thiểu số khác thường thấy nhiều hơn ở những vùng biên giới và núi đồi xa xôi.

Tinh thần quốc gia lên cao nhất tại Việt Nam vào cuối những năm 1920. Giới công nhân Việt Nam từ những người thợ trong kỹ nghệ may mặc đến những người phu xích lô đã tổ chức được các cuộc đình công lớn với một vài thành công nhất định. Thanh niên Cách mạng Ðồng Chí Hội, với khuynh hướng thiên cộng rõ rệt, đã được thành lập bởi Hồ Chí Minh tại miền Nam Trung Quốc vào năm 1925. Tháng Mười Hai năm 1927 Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ) được thành lập. Các thành viên bao gồm hầu hết là những sinh viên, công chức cấp thấp, các binh lính, nông dân, và thậm chí có một số điền chủ cũng tham gia [1]. VNQDĐ được phỏng theo mô hình Quốc Dân Đảng của Trung Hoa, và bị Cộng sản cho là một đối thủ trực tiếp nhất. Vào tháng Sáu năm 1929 Đảng Cộng Sản Đông Dương (ĐCSĐD) chính thức ra đời. Cùng với Hồ Chí Minh, những người khác hiện diện ở ngày khởi đầu của đảng bao gồm Lê Duẩn và Phạm Văn Đồng, là những người vốn sẽ đảm nhận những vai trò quan trọng trong các vấn đề của Ðảng Cộng Sản trong cuộc đấu tranh sắp tới bên cạnh người đàn ông một thời được biết đến như là Nguyễn Ái Quốc hoặc “Nguyễn Patriot.” (Hồ Chí Minh từ lúc đầu được người ta biết đến bằng nhiều tên họ khác nhau).

ĐCSĐD xuất hiện ngay khi cuộc Đại Khủng Hoảng tàn phá khắp toàn cầu. Tại vùng Đông Dương thuộc Pháp sự suy thoái kinh tế toàn thế giới làm gạo và cao su bị mất giá, cũng như ngành xuất cảng bị suy giảm, làm cho biết bao nhiêu người bị mất công ăn việc làm, mất nguồn thu nhập hoặc phương tiện để nuôi sống gia đình. Chủ nghĩa Cộng sản vì vậy trở nên hấp dẫn và đà ảnh hưởng tăng nhanh đối với những người bị mất định hướng đó.

Các hoạt động chính trị này đã gây được sự chú ý của giới cầm quyền người Pháp, họ đã đầu tư rất nhiều các phương tiện về cảnh sát và quân đội nhằm đàn áp các nhóm quốc gia mới nổi lên. Ảnh hưởng của ĐCSĐD mạnh nhất tại miền Bắc. Trong khi đó tại miền Nam thì sự phát triển kém hơn vì có các nhóm khác chia sẻ ảnh hưởng của họ. Với tinh thần chống Pháp và đòi độc lập không kém gì đảng Cộng sản, Hòa Hảo và Cao Đài đã thu hút được một tỷ lệ lớn những người yêu nước muốn dấn thân (*)

Khi Đức Quốc xã và Liên Sô ký kết thỏa hiệp bất tương xâm vào tháng 8 năm 1936, nước Pháp ban hành đạo luật đặt đảng Cộng sản và tất cả các đảng phái chính trị khác tại Đông Dương ra ngoài vòng pháp luật. Hành động này buộc ĐCSĐD phải rút hoạt động về vùng nông thôn và về lâu về dài đã củng cố được lực lượng, đặc biệt là tại miền Bắc [2].

Trong số những khó khăn mà các lực lượng quốc gia còn non yếu ở Ðông Dương đang phải đối đầu thì địa dư là một trong những trở ngại ác độc nhất. Từ mỏm cực Bắc của miền Bắc giáp ranh giới nước Tầu cho đến điểm cực Nam của miền Nam Bộ trải dài gần một ngàn mốt dặm, các địa hình thay đổi khác nhau và phân vùng tách biệt nhau. Hà Nội và Sài Gòn là hai thành phố lớn nhất vùng Đông Dương nhưng lại cách nhau đến 750 dặm và chỉ được nối với nhau bằng một đường xe lửa tí hon và quốc lộ 1 với nhiều đoạn chỉ là đường mòn gấp đôi đường xe bò mà thôi. Khoảng cách từ Hà Nội đến Sài Gòn giống như khoảng cách giữa các thành phố Denver và St. Louis, Chicago và Charleston, Omaha và Tuscaloosa, Boston và Grand Rapids, Seattle và Santa Cruz, New York và Nashville, Des Moines và Atlanta, hoặc Minneapolis và Little Rock, nhưng cho đến cuối cuộc chiến, vẫn giống như hai thế giới cách biệt nhau. Sự phân cách về địa dư đã tạo cho Cộng sản có cơ hội củng cố lực lượng tại địa phương và trên một bình diện nhỏ hơn đối với các nhóm người quốc gia trong miền Nam cũng vậy.

Những sự xáo trộn bởi sự triệt thoái của quân đội Nhật và khả năng tương đối yếu kém của các lực lượng thuộc địa Pháp đã làm cho Hồ Chí Minh và Việt Minh tin rằng họ đã có một cơ hội bằng vàng để hành động. Ngày 28 tháng 8 năm 1945 họ tuyên bố thành lập Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Hồ Chí Minh được cử làm chủ tịch thứ nhất. Nhằm mở rộng lời kêu gọi, Cộng sản cũng mời Cựu hoàng Bảo Đại tham gia vào chính phủ lâm thời. Những sự kiện tiếp theo đó là hàng loạt các tác động và phản tác động của người Pháp và Việt Minh cuối cùng đã dẫn đến một cuộc chiến tranh mở rộng.

Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt Quốc Dân Đảng, vốn tách ra từ VNQDĐ, đều nóng lòng thiết lập một thể chế Cộng hòa nhưng đều không chấp nhận chủ nghĩa Cộng sản. Mặc dù đã từng liên minh, tuy lỏng lẻo với Việt Minh để chống lại sự cai trị của ngoại bang tại Việt Nam nhưng vào đầu năm 1946 các đảng viên cao cấp cùng với gia đình họ đã bị phe Cộng sản thanh trừng một cách có hệ thống bằng một loạt các hành vi nhằm loại trừ mối nguy hiểm cho sự cai trị của Hồ Chí Minh ở miền Bắc. Trong khi đó thì họ vẫn phải tiếp tục cuộc đấu tranh chống Pháp.

Xáo trộn về chính trị là một điều tất nhiên do khoảng trống quyền lực quân đội Nhật đã để lại sau khi họ đầu hàng và rút đi. Liền theo đó là sự trở lại của các lực lượng người Pháp với toan tính tái lập lại quyền thuộc địa. Trước sự kiện có các xung đột nội bộ giữa các phe phái quốc gia với nhau thì Việt Minh tỏ ra mạnh hơn ở miền Bắc, tuy có kém hơn ở miền Nam. Người Pháp không hề có ý định chịu thua Hồ Chí Minh. Những cuộc thương thuyết của hai bên đã tỏ ra vô ích. Trong khi đó thì các cuộc đụng độ giữa các đơn vị quân sự đôi bên tăng dần lên. Đến tháng 11 năm 1946 thì mọi cố gắng để đoạt một thỏa thuận về chính trị bị đổ vỡ. Cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất như chúng ta biết đến bắt đầu. Mọi sự trở nên rắc rối hơn khi Việt Minh tổ chức ám sát đức thầy Huỳnh Phú Sổ, thủ lãnh của phe Hòa Hảo ở miền Nam. Tiếp theo cái chết của ông thì cả hai phái Hòa Hảo và Cao Đài đều hợp tác với người Pháp.

Theo truyền thống văn hóa của nước Việt Nam, Lê Bá Sách để tang vợ, đồng thời là mẹ của bốn đứa con trong vòng ba năm. Vì còn trẻ nên ông tái giá vào năm 1949. Bình, đứa em trai và hai em gái của ông trong những năm sau đó đã có thêm bẩy người em tiếp theo cuộc hôn nhân lần thứ hai của cha mình. Vì là một gia đình có nề nếp nên tất cả đều hòa thuận với ngưòi mẹ kế.

Đối với hầu hết các nền văn hóa Á Châu, ảnh hưởng của Khổng giáo rất mạnh mẽ. Lòng sùng bái đối với các bậc trưởng thượng, đối với gia đình và giáo dục đặc biệt quan trọng. Con trai được coi trọng hơn con gái và đứa con trai đầu lòng luôn luôn đứng hạng nhất trong mọi gia đình. Với tư cách là anh cả, nhiệm vụ duy nhất của Bình lúc còn là một đứa bé là đi học. Do đó từ lúc còn rất nhỏ Bình đã đảm nhận nhiệm vụ mình và học hành chăm chỉ.

Nhà của gia đình Bình thuộc xóm Tân Định, một khu vực được coi tương đương như là “phố chính” của Sài Gòn mà họ có thể tậu được. Khá gần trung tâm thành phố, chỉ cách sông Sài Gòn vào khoảng vài con đường, đó là một nơi chốn ấm cúng, an toàn cho ông Lê Bá Sách tạo mái ấm cho bà vợ mới cưới và nuôi nấng 11 người con của họ.

Căn nhà của ông Lê Bá Sách khá điển hình theo tiêu chuẩn người Việt Nam. Vào thời gian đó có thể gọi họ thuộc thành phần cao của giai cấp trung lưu. Ở tầng trệt ngó ra một cái hẻm hẹp, xe đạp của cả nhà được dựng ngay bên ngoài, chừa đường đi và nằm trong khuôn viên căn nhà. Giày dép luôn luôn để phía ngoài cửa cái rộng và xếp hàng ngay ngắn. Khu vực mà khách khứa hay bạn bè đến chơi và gian bếp chiếm gần hết cái tầng trệt này. Cả nhà ngủ trên tầng hai và ba, tuy nhiên họ cũng giữ một cái bàn thờ truyền thống phía ngoài trên tầng hai, một loại bàn thờ rất thông dụng trong các gia đình Việt Nam dù giàu hay nghèo. Nhang đèn được thắp thường trực và các di ảnh được sắp xếp tùy theo mức độ quan trọng của những người đã quá cố.

Các con hẻm hẹp dẫn ngược từ lộ chính vào được chia ra nhiều ngõ ngách khác khá tối tăm nhưng mở ra vùng trời bên trên. Khoảng đất trống chỉ được chiếu sáng khi mặt trời lên đỉnh đầu lại là khu vực vui chơi chính cho hàng chục đứa trẻ con từ hơn hai chục căn nhà cùng chung con hẻm này. Lối vào duy nhất có một cái cổng hẹp khá chắc chắn, tuy ít khi nào được đóng lại nhưng có thể khóa lại nếu cần. Bình và đồng bọn thường có nhiệm vụ canh gác nó để chống lại các băng đảng bên ngoài xâm nhập vào trong những lần chơi đánh lẫn nhau. Chúng không dè rằng chính những cái cổng này, rất thông dụng trong khắp các phố ở mọi nơi trong thành phố lại có một tầm mức chiến thuật quan trọng trong cuộc phòng thủ thực sự để chống lại sự xâm nhập của Việt Cộng trong cuộc công kích Tết Mậu Thân năm 1968.

Bàn tay vô hình của kinh tế tự do rất rõ ràng tại các đường phố Tân Định cũng giống như ở Denver, Detroit, Paris hay Amsterdam vậy. Cũng được thể hiện một cách quyết liệt và có hiệu quả. Những người bán hàng rong đủ loại đứng rao bán quần áo, nồi niêu xoong chảo, các loại thức ăn và đồ gia vị, gạo bún, trái cây và rau quả trồng tại chỗ, đủ các loại cá bắt gần đó, cũng như thịt lợn và thịt gà xẻ tại chỗ trong xóm. Nếu có một chiếc xe đạp hay đồ đạc máy móc nhỏ cần sửa chữa thì có sẵn thợ hàn thợ tiện chữa ngay trên vỉa hè. Nếu có vài đồng trong túi, một đứa bé không bao giờ chịu đứng xa nơi bán nước giải khát hay gánh hàng rong. Những người bán hàng rong trái cây liên tục rảo bước trên các con đường, đẩy những chiếc xe ba gác chứa đầy xoài mới hái, đu đủ, sầu riêng và mít tươi. Nếu khát nước thì đã có sẵn những người bán nước dừa tươi mát lạnh có thể uống thẳng từ những trái dừa đã gọt vỏ bằng những cái ống hút nhỏ. Trẻ con và cả người lớn dễ tính có thể thưởng thức những ly nước mía được ép từ những thân cây mía nhỏ gọt sạch chạy qua những cái máy ép trên lề đường. Những cái máy này này cô đọng được mùi vị thơm ngọt tự nhiên của mía, nhưng cũng làm cho bệnh sâu răng rắc rối thêm.

Công việc buôn bán quay nhanh theo tốc độ đạp mạnh mẽ của những người đàn ông gân guốc, lực lưỡng già cũng như trẻ. Họ có thể chuyên chở và lèo lái những khối nặng kinh hồn cùng những đồ vật đủ loại hình dáng mà bằng cách nào đó họ đã xếp lên được những chiếc xe đạp hay chồng chất trên xe xích lô. Mặc dù không mấy ai thật sự cao lớn khỏe mạnh nhưng đối với tất cả những người tháo vát và chịu khó làm lụng thì luôn luôn vẫn có cái mà ăn. Các con đường chạy ngang khu Tân Định sống động sinh hoạt buôn bán suốt ngày. Ngay cả về đêm, thành phố cũng không bao giờ ngủ mà sinh hoạt dường như chỉ chùng xuống mà thôi.

Bọn trẻ không màng đến các vấn đề chính trị với tất cả những gì đang xảy ra trên khắp nước Việt Nam và tại Sài Gòn mà chỉ chú tâm vào việc học hành và nô đùa với chúng bạn cùng xóm. Người thân thiết nhất với Bình là đứa em tên An, kém hai tuổi. An và Bình kết bè với những đứa khác trong xóm thành một trong hai nhóm băng đảng. Với lứa tuổi đó và trong thời kỳ ấy thì mục đích của bọn chúng chỉ là vui chơi, tranh đua về thể thao và chơi những trò trận chiến giả. Nếu có lỡ làm đổ máu thì chỉ là vô tình hay hăng máu quá mức mà thôi. Sự thiếu thốn về vật chất hay không có sẵn những loại đồ chơi được sản xuất trong nhà máy không hề làm giảm bớt tính sáng tạo của trẻ con vùng Tân Định.

Bình, An và lũ trẻ Tân Định suốt ngày đá banh trong các ngõ hẻm và trên những bãi trống dọc theo bờ sông bằng những trái banh cao su được sản xuất trong xóm. Giống như những đứa trẻ khắp nơi trên thế giới, trẻ con Việt Nam cũng chơi bắn bi không chán nhưng điểm khác biệt là viên bi được giữ bằng ngón tay giữa và kéo ngược lại bằng tay kia để tạo ra sức bật.

Đầy sáng kiến hơn nữa, bọn trẻ Tân Định đi thu nhặt những bao thuốc lá bỏ đi làm bằng giấy cạc tông mỏng nhưng khá cứng. Chồng những cái bao thuốc lá này lên nhau, chúng đứng lui ra sau và cố gắng tạt bằng cục đá hay hòn sỏi. Tương tự như những viên bi, các bao giấy nhỏ này trở thành những tài sản và sở hữu riêng của những tay xạ thủ lỗi lạc, cũng là một cách để đánh giá mức sắc bén về thể chất và sự khéo tay. Đối với hầu hết bọn trẻ trong nhóm thì bản năng chơi những trò chơi về chiến tranh là điều đương nhiên. Cậu bé Bình và băng nhóm suốt ngày đi rảo trong xóm mang theo súng giả đẽo từ những khúc gỗ có thể bắn ra những sợi giây thun với độ chính xác khá cao.

Thú vui nghe nhạc thu thanh và radio thì nằm ngoài tầm tay của hầu hết người dân Ðông Dương vào khoảng thời gian cuối thập niên 1940 và đầu 1950. Vì vậy nhà của cái gia đình giàu nhất vùng Tân Định mà ông chủ là một người làm công cho chính phủ Pháp được cả xóm chiếu cố bu lại mỗi khi cái máy nhạc Victorola được lên dây cót hoặc cái radio được vặn lên. Mặc dù âm nhạc là một điều gì mới mẻ được du nhập từ Pháp hay Mỹ, và bản nhạc có thể chỉ là một bản nhạc xưa, dân ca, hay tình ca khá đặc thù đối với người dân ba miền Bắc Trung hay Nam, nhưng những người lớn tuổi lúc nào cũng say sưa mỗi lần nghe tiếng cót két nổi lên từ cái đĩa xoay màu đen hay cái hộp gỗ sơn bóng.

Đối với người dân không có ngày lễ nào của Việt Nam có thể sánh nổi về mức độ trang nghiêm, ý nghĩa, lòng háo hức và phấn khởi bằng ngày Tết, ngay cả đối với những người không theo đạo Phật. Tết Nguyên Đán – Năm mới âm lịch – bắt đầu từ ngày đầu của tháng Giêng âm lịch và là mùa đầu tiên trong năm. Thường trùng vào khoảng cuối tháng Giêng hay đầu tháng Hai dương lịch, Tết Nguyên Đán vừa mang vẻ thế tục vừa có tính cách thiêng liêng. Ngày lễ quá lớn thành thử tất cả mọi người Việt Nam đều vui hưởng. Tết là một dịp để gia đình, bạn bè thăm viếng nhau, để thờ phụng những người quá cố và là một thời gian để ôn cố truy tân. Đặc biệt đối với trẻ con đó là một thời điểm thật thú vị được đánh dấu bằng những cuộc vui chơi, được lì xì và mặc quần áo mới, được đốt pháo còn đồ ăn ngon lại được dọn ra ăn thả dàn.

Bình rất thích những món ngon trong ngày Tết. Mẹ cậu và các phụ nữ khác thường nấu các món ăn từ nhiều ngày trước và luôn miệng suỵt đuổi những đám trẻ hau háu bu quanh như ruồi chờ một miếng chỗ này, một hớp chỗ kia, lúc nào cũng nôn nao để được ăn thử một cái gì đó mà người lớn có thể ban cho. Ngoài bánh kẹo ra, Bình rất thích bánh chưng – những chiếc bánh hình vuông làm bằng gạo nếp, thịt heo và đậu xanh gói trong những cái lá giong rồi bỏ vào nồi nấu. Bình cũng thích bánh tét – một loại bánh làm bằng gạo nếp gói hình tròn có vẻ giống bánh kẹp xốp hơn. Cho đến khi trưởng thành, đối với Bình, Tết vẫn luôn luôn là một thời điểm với nhiều điều mừng vui nhất.

Vào khoảng thời gian giữa các năm 1946 và 1952, ông Lê Bá Sách đã đưa gia đình năm sáu lần về quê miền Bắc để thăm mẹ và các ông cậu cùng cách cháu còn ở lại Hà Đông. Từ lâu trước 1952 điều hiển nhiên là Cộng sản đã trở thành một lực lượng đáng kể. Đối với ông Sách, sự nhận thức ra rằng Cộng sản đã thống trị miền Bắc là một viên thuốc đắng khó nuốt trôi. Ông đau đớn thấy được là cuộc chiến giữa Việt Minh và người Pháp sẽ làm cho gia đình ông phải trả một cái giá rất đắt.

Ngay trước khi lực lượng Pháp trở lại Việt Nam sau Thế Chiến Thứ Hai, bà nội Bình, một điền chủ nhỏ vùng Hà Đông, đã cảm thấy sự đe dọa trắng trợn và áp lực ngày càng nặng nề của bọn cán bộ Cộng sản và lời lẽ tuyên truyền xảo quyệt của họ. Vài năm sau khi bọn tay sai của Hồ Chí Minh tịch thu đất đai của bà để giao cho “Cách mạng và nhân dân” vào năm 1956, chúng lại còn tỏ vẻ nhân đạo và khoan hồng đối với bà. Vì thuộc thành phần tư sản ác ôn, điền chủ hút máu đáng lẽ gia đình bà đã bị giết hết, bằng một phát súng vào sau gáy, hoặc bị trói gô lại, đeo đá và thả từ từ xuống đáy ao hồ hay sông sâu rồi. Thay vào đó, bọn chúng bắt bà phải chịu nỗi ô nhục sống sót trong một phần nhỏ cái tài sản cũ của bà – nay đã thuộc về “Cách mạng” – chỉ còn là cái chuồng heo hay chuồng gà trước kia.

=============
* Hòa Hảo là một giáo phái Phật giáo được cải đổi theo cách riêng của người Việt Nam được thành lập ở miền Nam Việt Nam bởi đức thầy Huỳnh Phú Sổ vào năm 1939. Người Pháp quan niệm giáo phái Hòa Hảo là một mối đe dọa chính trị, tuy nhiên họ chống cộng một cách mãnh liệt, đặc biệt là sau khi đức thầy Huỳnh Phú Sổ bị Việt Minh ám sát chết vào năm 1947.
Cao Đài được thành lập vào thập niên 1920 và giống như Phật giáo Hòa Hảo, cũng là một giáo phái riêng biệt của người Việt Nam. Phát sinh ở miền Nam Việt Nam, Cao Đài là một sự pha trộn giáo lý của Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Đạo giáo, Phật giáo, Khổng giáo, và Ấn Độ giáo. Những người muốn theo đạo được kỳ vọng là họ sẽ từ bỏ vật chất nhằm bồi dưỡng sự phát triển tâm linh. Do mang tính chất tôn giáo nên các tín đồ Cao Đài giống như Hòa Hảo, cũng chống Cộng sản theo truyền thống. Cao Đài dùng những nhân vật đồng cốt và những người thông công tâm linh để dùng trong những buổi Cơ Bút. Những vị thánh quan trọng của Cao Đài bao gồm Trạng Trình, Tôn Dật Tiên, Jeanne d’Arc, René Descartes, William Shakespeare, Victor Hugo và Louis Pasteur.
Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM