Phận gương soi

sunyata

Virginia Woolf(1882-1941) là một nhà văn nữ nổi tiếng người Anh, bà được coi là một trong những nhà văn nổi bật nhất của thế kỷ 20. Sinh thời, Virginia Woolf là một nhân vật có tầm ảnh hưởng đối với giới văn chương Anh. Những tác phẩm của Woolf có đề cập tới sự bất ổn về tâm lý và những suy ngẫm về ý nghĩa của sự tồn tại.

Sinh thời, bà cũng thường phải chịu đựng trạng thái lo lắng, bất an dẫn tới suy sụp tâm lý. Những bi kịch trong gia đình càng góp phần làm nặng thêm những rối loạn tâm thần ở bà. Thế chiến II càng khoét sâu vào sự bất an thường trực khi chứng kiến thành phố London yêu dấu bị tàn phá. Cuối cùng, Woolf quyết định tự tử.

Không nên treo gương soi trong phòng, cũng như không nên để cho người khác thấy nội dung cuốn ngân phiếu của mình hay thư từ thú nhận tội ác tày trời nào đó. Ta không thể nào mà không nhìn vào chiếc gương soi cao treo ở ngoài tiền sảnh. Cũng có chút tình cờ. Ngồi thật sâu trong ghế sofa ở phòng khách, nhìn vào gương soi, ta không chỉ thấy chiếc bàn với mặt bằng cẩm thạch, mà còn thấy cả một quãng của khu vườn phía xa xa. Ta có thể thấy lối cỏ dài len lỏi giữa hai bờ hoa cao cao, kéo mãi cho tới khi cắt góc, thì đường viền mạ vàng của gương soi mới dứt mất.
Ngôi nhà trống vắng, và vì là người duy nhất trong phòng khách, ta cảm thấy mình giống như một nhà thiên nhiên học nào đó, đang đội lốt lá cỏ, nằm dài để quan sát những con thú rụt rè nhất đang tự do di chuyển. Căn phòng vào buổi xế trưa hôm ấy cũng đầy những sinh linh rụt rè như vậy, những ánh sáng và bóng đổ, màn cửa lộng gió, cánh hoa lả tả – những điều dường như chưa bây giờ xảy ra, nếu ai đó thử nhìn vào. Căn phòng thôn dã cũ kỹ yên bình với những tấm thảm và mặt tiền lò sưởi bằng đá, với những kệ sách võng oằn, với tủ sơn vàng và son, cũng đầy những sinh linh u ẩn ấy. Chúng xoay xoay qua sàn nhà, với những bước cao chân tao nhã, đuôi xòe ra, mỏ mổ gió, chừng như chúng là bầy cò hay hồng hạc thanh tao với màu lông chớm lạt phai, hoặc như chim công với bộ đuôi phủ mờ ánh bạc.
Nhưng ngoài kia, chiếc gương đang phản ánh cái bàn ở sảnh, chiếu hoa hướng dương, rọi lối đi trong vườn thật chính xác và chắc chắn đến nỗi dường như chúng bị giữ chặt trong thực tại của mình mà không thể nào lẩn trốn được. Thật là một sự tương phản lạ lùng – ở kia thì tất cả đang biến chuyển, ở đây lại tĩnh tại. Ta không thể nào không lần lượt liếc nhìn ở đây rồi ở kia. Trong lúc ấy, vì tất cả cửa sổ cửa cái đều mở toang cho mùa hạ, cho nên có một âm thanh liên lỉ từng hồi thở dài và ngưng nghỉ, tiếng nói của nỗi phù du và héo úa, hình như vậy, rồi đến rồi đi như hô hấp của con người, đang khi đó trong gương kia, mọi thứ đã ngưng thở và nằm yên giữa cơn mê sảng trường sinh.
Cách nay nửa giờ, nữ chủ Isabella Tyson mặc áo váy mỏng mùa hè, lần xuống lối cỏ, mang theo cái giỏ, sau đó mất hút vì hình ảnh đã bị viền vàng của chiếc gương xén gọn. Chừng như cô xuống vườn dưới để hái hoa; hoặc muốn chắc ăn hơn nữa, là giả định cô xuống để hái chút gì đó vừa nhẹ tênh vừa huyền ảo, vừa rườm lá lại vừa lất lây, như hoa ông lão, hoặc một trong những chùm bìm bìm tao nhã uốn mình quanh những bức tường thô, để thỉnh thoảng òa vỡ thành từng đóa trắng đây tím kia. Ta toan nghĩ rằng cô là nhánh bìm bìm rập rờn kỳ ảo hơn là loài cúc sao thẳng thớm, cúc zinnia như đơ hồ, hoặc ngay cả khóm hoa hồng đang cháy bỏng trên cây, trông như những ngọn đèn trên trụ đứng.
Sự so sánh chứng tỏ rằng, sau từng năm tháng ấy, người ta ít biết về cô đến nhường nào; bởi vì không thể nào một phụ nữ bằng xương bằng thịt vào độ ngũ tuần lục tuần như vậy phải thực sự là một vòng hoa hay chỉ là tua dây leo. Loại so sánh như vậy còn tệ hơn là rỗi hơi và nông cạn nữa, thậm chí tàn nhẫn, bởi vì sẽ tựa như hoa bìm bìm đang run rầy kia đem so với thực tế. Phải có sự khớp khít, phải có một chỗ dựa chứ. Cũng thật lạ là đã quen Isabella sau từng ấy thời gian, ta lại không thể biết sự thật về cô; ta vẫn buông ra những câu kiểu như hoa bìm bìm và hoa ông lão. Muốn thực tế, thì thực tế rằng nàng là một bà cô; rằng nàng giàu; rằng nàng đã mua ngôi nhà này và chính tay nàng đã thu thập những tấm thảm, ghế bành, tủ nhỏ mà giờ đây đang sống một cuộc sống âm thầm trước mắt nàng. Đôi khi dường như chúng biết về nàng nhiều hơn là chúng ta, trong khi chúng ta vẫn thường xuyên ngồi trên ghế hoặc đi trên thảm ấy.
Ở mỗi tủ nhỏ như vậy có nhiều ngăn kéo, hầu như mỗi ngăn đều chứa thư từ, được bó lại bằng dải nơ, được rắc lên nhiều mảnh oải hương hay cánh hoa hồng. Vì có một thực tế nữa – nếu thực tế là những gì ta muốn có – rằng Isabella từng gặp gỡ nhiều người, kết nhiều bạn bè; và do đó nếu đủ táo bạo mở một ngăn kéo và đọc thư của nàng, ta sẽ bắt gặp dấu vết của nhiều bối rối, của nhiều hẹn hò, nhiều hờn trách khi lỡ hẹn, những bức thư dài thật thân thiết mến thương, những bức mãnh liệt của đố kỵ và trách cứ, những lời khủng khiếp sau cùng của chia phôi – bởi vì những gặp gỡ và hẹn hò kia chẳng dẫn đến đâu cả – nghĩa là, nàng chưa bao giờ lập gia đình, và rồi đó, xét thấy sự dửng dưng như chiếc mặt nạ của nàng, ta sẽ biết rằng nàng đã trải qua những say mê và kinh nghiệm nhiều gấp hai mươi lần hơn ai kia từng lu loa về các mối tình của mình cho cả thế giới biết. Bị căng thẳng do nghĩ sâu về Isabella, căn phòng của nàng mang nhiều nét biểu trưng ẩn dụ hơn, trong góc tối tăm hơn, các chân bàn chân ghế càng thêm ẻo lả và ẩn chứa.
Bỗng dưng những phản chiếu ấy dừng lại thật mãnh liệt – mà không phát ra âm thanh nào cả. Một hình thù to lớn đen ngòm hiện lù lù trong gương, che mờ hết mọi thứ, rải lên bàn một xấp phiến màu cẩm thạch có gân hồng và xám, rồi đi mất. Nhưng ảnh trong gương đã hoàn toàn thay đổi. Ngay trong khoảnh khắc ta không thể nhận ra vì nó mờ ảo phi lý. Không hiểu người ta sẽ làm gì với những phiến kia. Và rồi dần dần một tiến trình lôgic nào đó bắt đầu, và cuối cùng ta nhận ra rằng chúng chỉ đơn giản là những bức thư. Gã kia đã mang bưu tín tới.
Thư nằm trên mặt bàn cẩm thạch, thoạt tiên tất cả đều nhỏ giọt ánh sáng, thô và trơ. Và rồi thật lạ khi nhìn thấy chúng được thu nhỏ, sắp xếp, hình thành một phần của bức tranh, phát ra vẽ tĩnh tại và bất tử mà chiếc gương dành tặng. Chúng nằm đó, được khoác thêm một thực tại và ý nghĩa mới, và cũng thêm mật độ, giả như nếu muốn bứng chúng khỏi mặt bàn, thì ta phải dùng lưỡi đục. Và, cho dù có do trí tưởng hay không, chúng hình như đã không chỉ trở thành một mớ thư tín bình thường, mà là những phiến được khắc bởi sự thật vĩnh cửu – nếu có thể đọc chúng, ta sẽ biết những điều cần biết về Isabella, vâng, và cả về cuộc đời nữa. Những trang thư bên trong các phong bì như cẩm thạch ấy có lẽ đã được khắc sâu bằng những vạch đậm đà ý nghĩa. Isabella sẽ vào, và nhón lấy chúng, từng chiếc một, thật là chậm, rồi mở ra, rồi đọc thật kỹ từng chữ một, rồi thở hắt ra hơi dài thông cảm, tuồng như cô đã đáo để mọi việc, cô sẽ xé phong bì thành mảnh vụn, và buộc các trang thư lại, rồi khóa ngăn kéo tủ nhỏ, quyết định giấu kín những gì mà cô không muốn tiết lộ.
Chỉ mỗi ý tưởng đó thôi cũng trở thành thách thức. Isabella không muốn lộ chuyện riêng tư – nhưng cô cũng không thể tránh mãi được. Thật là phi lý, thật là kinh khủng. Nếu cô giấu giếm quá nhiều và biết chắc rằng người ta sẽ ép cô mở toang ra bằng dụng cụ tiện dụng nhất có sẵn: trí tưởng tượng. Người ta sẽ chăm chú vào cô ngay ở khoảnh khắc ấy. Người ta sẽ trói chặt cô xuống. Người ta sẽ không để cho cô hẹn lần khất lữa chút nào nữa, cho dù bằng những câu bãi buôi hay cách ửng xử hợp với hoàn cảnh lúc đó – chẳng hạn như bữa dạ tiệc, chuyến viếng thăm, hay chút trò chuyện khách sáo. Người ta sẽ đặt mình vào địa vị của cô, mà nói sát sườn hơn, theo nghĩa đen, là đặt chân họ vào chính đôi giày của cô, đôi giày mà cô đang mang ngay giây phút ấy, ở khu vườn dưới. Giày của cô rất hẹp và dài và hợp mốt – chúng được làm bằng loại da mềm nhất và dẻo nhất. Cũng giống như bất kỳ trang phục nào khác của cô, chúng rất thanh tú. Và cô sẽ đứng dưới rào giậu cao ở khu vườn phía thấp, giơ kéo lên để cắt vài cánh hoa tàn, vài cành tua tủa. Mặt trời sẽ vỗ vào mặt cô, vào mắt cô; nhưng không, ngay thời điểm nhạy cảm, một màn mây che phủ mặt trời, khiến cho mắt cô có vẻ lưỡng lự – là vẻ chế giễu hay dịu dàng, lấp lánh hay mờ đục? Ta chỉ có thể thấy đường viền mơ hồ của gương mặt cô đang nhìn trời, gương mặt thanh tú nhưng đôi chút nhạt phai. Có lẽ cô đang nghĩ rằng mình phải mua một dàn lưới mới cho đám dâu tây; rằng mình phải gửi hoa cho góa phụ Johnson; rằng đã đến lúc mình phải lái xe sang thăm nhà mới của gia đình Hippesleys . Chắc chắn đó là những điều mà cô bàn bạc lúc ăn tối. Ta lại muốn nắm bắt và thể hiện bằng chữ nghĩa cái thể trạng sâu lắng hơn của cô, cái trạng thái có tầm quan trọng đối với tâm trí cũng như hơi thở đối với thể xác vậy, tức là điều mà ta gọi là hồng hạnh hay bất hạnh. Khi nhắc đến những từ này, thì chắc chắn một điều hiển nhiên là cô phải hạnh phúc. Cô giàu, cô sang, cô giao thiệp nhiều, cô du lịch – cô mua thảm ở Thổ Nhĩ Kỳ và chậu lam ở Ba Tư. Những luồng mãn nguyện tỏa ra theo cách này hay cách khác từ chỗ cô đang đứng cầm kéo tỉa cành, trong khi mây giăng che chắn mặt cô.
Đây, bằng một nhát kéo nhanh gọn, chùm hoa ông lão rơi xuống đất. Và khi rơi, chắc chắn hoa sẽ nhường chỗ cho ít nhiều ánh sáng, chắc chắn ta sẽ len lỏi vào tâm thể của cô thêm một ít. Lúc ấy hồn cô đang mềm và nuối… Cắt một nhánh trội lên cũng khiến cô buồn bởi vì nhánh ấy từng đã sống, và với cô, cuộc sống thật quý giá. Vâng, và cùng lúc ấy sự rơi rụng của nhánh hoa cũng nhắc nhở rằng bản thân cô sẽ phải chết như thế nào, cùng với sự vô nghĩa và vô thường của mọi vật. Và rồi một lần nữa khi nhanh chóng phát hiện ý tưởng ấy, tính cách tích cực bộc trực giúp cô nhớ rằng cuộc đời đã nồng hậu với mình; thậm chí nếu có phải ngã, thì cũng chỉ là nằm trên đất và tan biến êm đềm vào rễ của loài hoa tím. Cô đứng suy tư như vậy. Không hiển rõ bất kỳ ý tưởng cụ thể nào – vì cô thuộc tuýp người trầm mặc, giữ tâm tư trong đám mây bòng bong im lặng – tâm cô tràn đầy ý tưởng. Tâm cô giống như không gian của cô, nơi mà ánh sáng tới rồi lui, khi đến thì xoay tròn với những bước nhỏ nhẻ, xòe đuôi, mổ lấy đường đi; và rồi cả người cô tràn ứa, lại cũng giống như không gian ấy, với một vầng am hiểu sâu xa nào đó, dăm ba nuối tiếc lặng câm, và rồi tâm hồn cô đầy ắp những ngăn kéo khóa kín, nồn nộn thư từ, giống như những chiếc tủ nhỏ. Thật là bất kính và phi lý khi nói là “ép cô mở ra” như thể cô là một con sò, cho dù có dùng bất kỳ dụng cụ nào tinh vi nhất, đẹp đẽ nhất, uyển chuyển nhất. Ta phải tưởng tượng – đây, cô đang ở trong gương.
Thoạt tiên cô đứng ngoài tầm soi của gương nên ta không thể thấy rõ. Cô tiến đến thật uể oải và nhẩn nha, nơi đây chỉnh sửa cành hồng, chỗ kia lại nâng đóa hoa lên ngửi, nhưng cô không dừng chân hẳn; và như thế trong gương cô cứ mỗi lúc to hơn, càng lúc cô càng trở thành người mà ta muốn len lỏi vào chốn tâm tư. Ta kiểm tra cô từng cung bậc – kết hợp cái cơ thể phàm trần ấy với những phẩm chất mà ta đã phát hiện. Này là cái áo váy xám xanh, và đôi giày dài, cái giỏ, và cái gì đó lấp lánh ở cổ của cô. Hiện ra từng chút một, nên dường như cô không làm rộn cái khuôn mẫu trong gương, mà chỉ mang đến yếu tố mới nào đó đang dịch chuyển nhẹ nhàng và thay đổi những vật thể khác, chừng như lịch sự yêu cầu chúng dành cho cô chút không gian. Và những lá thư và cái bàn và lối cỏ và lũ hoa hướng dương, vốn đợi chờ trong gương, giờ lại tách ra và cởi mở, như thể đón mời cô. Ít ra thì cô cũng đã ở đó, ở tiền sảnh. Cô dừng chân đột ngột. Cô đứng gần cái bàn. Cô đứng yên tuyệt đối. Ngay lập tức, gương soi bắt đầu rót lên cô một ánh sáng dường như ấn định cô; dường như có loại axít nào đó đã ăn mòn những gì phu phiếm và không cần thiết, để chỉ chừa lại sự thật. Cảnh tượng thật lôi cuốn. Mọi thứ rơi rớt khỏi cô – những mờ mịt, y áo, giỏ xách, kim cương – và tất cả những gì mà ta đã gọi là dây leo và bìm bìm. Có một bức vách cụ thể đã lộ diện. Có một phụ nữ là chính mình. Cô đứng trần trụi trong ánh sáng nhẫn tâm. Và hư vô. Isabella hoàn toàn trống vắng. Cô không có ý niệm. Không bạn bè. Không quan tâm đến ai. Và những cánh thư? Tất cả đều là hóa đơn. Nhìn xem, cô đứng đấy, già nua và xương xẩu, nổi gân và nhăn nheo, với sóng mũi cao, cổ xếp nếp, thậm chí cô không buồn mở phong bì.
Lẽ ra người ta không nên bỏ mặc những gương soi lơ lửng ở nơi của chúng.

Tác giả: Virginia Woolf

Người dịch: Śun Yata

One thought on “Phận gương soi

  1. Một căn phòng trống vắng người !Chỉ nữ chủ nhân với lối sống Cổ Biệt lập trong căn nhà Xưa!Chiếc Gương phòng khách thật to phản ánh Tất cả mọi sự trong ngoài Hành động cử chỉ chủ nhân hằng ngày…Nàng sống khép kín thu mình Đẹp nhu mì với tâm tính đôn hậu…
    Giao thiệp rộng nhiều thư tín Tủ nhiều ngăn nhiều hộc đựng linh tinh…Chủ yếu nhiều vẫn thư tình Độc thân tình cảm yếu mềm hơi kén Dường bởi như loại bìm bìm Da6uy leo nhiều lá sống bám vươn lên…Hoa Ông Lão khoảnh lấn chiếm…Nàng êm ái để đó nhìn giàn xanh Cắt tỉa đi thấy ánh sáng Nhưng nàng vẫn để mặc tình nguyên trạng Nàng nghĩ”Cuộc sống liên quan…Sáng tối ta biết rõ ràng lòng ta!”Bàng quang thiên hạ chỉ là -Soi mói rồi cũng lãng xa một ngày.Tất cả rồi sẽ phôi phai Nào ai chú ý những gì nơi đây?”Nữ chủ nhân đã nghĩ vậy…Sống vốn cách biệt điều ấy đã quen! Ngăn tủ thư từ kỷ niệm..Tất cả rồi sẽ phong kín ! Như nàng rồi cũng sẽ quên cả đi!Nhan sắc vết hằn mặt ấy! Trong tối thường thì không thấy tò mò?Phơi ra ánh sáng hiện rõ…Đẹp vẫn có xấu gọi đó ”XÉT NÉT!?”Nàng không thích thế cho nên ..Sống đời cách biệt xung quanh mọi người!
    Vẫn thích nơi chiếc Gương Soi Một mình tự ngắm vẫn vui một mình! Đẹp xấu mình biết lấy mình! Chẳng phải nghe lấy phê bình nọ kia!…Đoản văn viết đã lột tả …Tâm tính trầm mặc ưu tư ở nàng….Những việc nhẹ nhàng nàng làm… Lãng mạn dòng nghĩ tản mạn kèm theo…..

    Thích

Gửi phản hồi cho aitrinhngoctran Hủy trả lời