NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, “Các ông ra khỏi tàu tôi ngay!”

nuocmattruocconmua|

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before The Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

Đại úy Nguyễn Quốc Định
(Sĩ quan hải quân)
“Các ông ra khỏi tàu tôi ngay!”

Tôi là sĩ quan hải quân Việt Nam, lúc ấy phụ trách một chiếc tàu tuần tiễu nhỏ, thủy thủ đoàn chỉ có sáu người. Chúng tôi có nhiệm vụ tuần tiễu dọc vùng duyên hải để chặn các tàu chở hàng lậu và tìm Việt Cộng chở vũ khí xâm nhập. Công tác không có gì nhiều. Việt Cộng chỉ mạnh dưới vùng đồng bằng, nhưng ở vùng duyên hải thì không.

Khi nhận chức với cấp bực đại úy năm 1969, tôi hãy còn rất trẻ. Tôi đã theo học trường đào tạo sĩ quan ở Hoa Kỳ. Lúc bấy giờ, khi tôi gia nhập hải quân, người ta đang cần nhiều sĩ quan, nhưng chỉ có một trường huấn luyện tại Việt Nam, nên người Mỹ đã giúp huấn luyện sĩ quan tại New Port, Rhode Island. Tôi được học Anh văn ở Việt Nam sau khi tốt nghiệp khoá huấn luyện căn bản. Họ gửi tôi đi học Anh văn tại một trường Sinh ngữ do các binh sĩ Hoa Kỳ phụ trách, tám tiếng một ngày.

Tôi không biết nhiều về chính trị, nhưng hiệp định Ba Lê làm tôi lo ngại. Sau khi quân đội Mỹ rút, người ta cắt giảm tiếp liệu, chúng tôi bắt đầu thiếu xăng nhớt đạn dược. Đôi khi có vài bộ phận trên tàu hư hỏng, chúng tôi phải chờ rất lâu mới có bộ phận thay thế. Rồi, vì thiếu nhiên liệu, chúng tôi phải rút bớt những chuyến tuần tiễu. Trước hiệp định Ba Lê, tôi có thể cho tàu đi tuần suốt ngày đêm. Sau hiệp định này, chỉ còn có thể tuần tiễu vài giờ mỗi ngày.

Mùa Xuân 1975, tôi ở Qui Nhơn. Sau vụ bỏ cao nguyên, tôi cho tàu đi bốc thường dân và binh sĩ dọc bờ biển, đưa họ lên tàu vào Cam Ranh, rồi chúng tôi lại rút thêm người đưa vào Sàigòn.

Tôi thấy tình trạng lúc ấy rất tệ hại. Không có kế hoạch gì đàng hoàng, binh sĩ phải vứt bỏ tất cả mọi thứ mà chạy.
Khi cuộc rút lui bắt đầu, tàu chúng tôi vẫn còn tiếp tục tuần tiễu. Nhiều người tỵ nạn đã ở vào hoàn cảnh thật khốn cùng. Một số binh sĩ lúc rút lui trở nên điên rồ, họ đã biến thành một bọn thô bỉ. Họ hãm hiếp cả những người đàn bà đi cùng tàu với họ.

Những người tỵ nạn đều chạy ra Phú Quốc. Tôi ở đấy, thấy tình trạng nơi này cũng rất xấu. Họ lại chuyển tôi ra Qui Nhơn. Vì địa bàn chiến tranh càng lúc càng thu hẹp, chúng tôi ngưng tuần tiễu. Từ đó, cấp trên bảo làm gì tôi làm nấy. Nếu họ bảo không làm gì, tôi chẳng làm gì. Các sĩ quan cao cấp có vẻ cũng không hiểu tình hình diễn tiến ra sao, nên họ chẳng ban lệnh lạc gì nữa. Họ giữ cho cấp dưới bình tĩnh bằng cách không làm gì cả, tôi nghĩ họ không còn biết hết mọi chuyện. Các thủy thủ trên tàu hỏi “Tinh hình ra sao” tôi trả lời “Chẳng biết ra sao. Chẳng người nào biết được tình hình ra sao cả.”

Thỉnh thoảng, bản thân tôi tự kiểm soát loanh quanh, xem chừng lỡ có người nhái của đối phương đến phá hoại tàu bè của chúng tôi chăng. Nhưng cũng chẳng có chuyện gì xảy ra.

Thế rồi đến ngày 29 tháng Tư, là lúc tôi hoàn toàn bối rối, không còn có thể hiểu chuyện gì xảy ra. Hôm ấy tàu của tôi đang phải sửa chữa, máy tàu bị hỏng. Chúng tôi ở cách Sàigòn mười dặm, trên sông Sàigòn. Lúc ấy tôi thấy trực thăng Mỹ bắt đầu bay vào.

Thực tình từ trước đến giờ tôi chưa hề nghĩ đến việc rời khỏi quê hương xứ sở. Ngay cả mơ đến chuyện ấy cũng không. Đến ngày 29, họ bảo Hải quân sẽ phải tái tổ chức. Họ bảo tôi phải ra đảo Côn Sơn để tái tổ chức. Sĩ quan Chỉ huy của tôi sẽ điều động hai mươi tàu, trong đó có cả tàu của tôi. Ông ta bảo sáu giờ chiều ngày 29 phải ra Côn Sơn. Khi nghe ông nói thế, tôi nghĩ có lẽ chúng tôi sắp mất nước rồi. Nhưng bấy giờ gia đình tôi còn ở Sàigòn, tôi không muốn bỏ gia đình tôi lại. Cho nên tôi nghĩ tôi phải về Sàigòn đón gia đình tôi trước.

Tôi bèn đi Sàigòn. Nhưng có vài người trong thủy thủ đoàn của tôi không muốn làm như thế. Vài người đi thẳng ra Côn Sơn. Vài người đi với tôi về bộ Tư lệnh Hải quân, nơi này chỉ cách nhà tôi có một dặm, tại Sàigòn. Mấy chiếc tàu lớn của Hải quân đã rời Sàigòn cả. Tôi không rõ mấy chiếc tàu lớn đã đi đâu, họ không cho một ai hay biết gì.

Tôi vào thành phố, lúc ấy nửa đêm. Tình trạng bấy giờ hết sức đông đảo chen chúc hỗn loạn, dân chúng ùa đến tìm mọi cách leo lên mấy chiếc tàu. Tôi lo người ta cướp tàu của tôi, nhiều người là binh sĩ. Thủy thủ của tôi chỉ có năm người, tôi bèn để lại tàu ba người canh gác. Tôi rời tàu với một người bạn, rồi về nhà.

Dân chúng ai nấy tràn ra ngoài đường. Tôi đi bộ qua toà Đại sứ Mỹ, thấy người bu đông nghịt xung quanh cổng chính. Tôi cố kiếm một chiếc xe gắn máy, bấy giờ xe hơi xe gắn máy bỏ ngổn ngang trên đường. Lúc ấy vẫn có giới nghiêm, nhưng thật ra chẳng hiệu lực gì. Trong đêm, tôi thấy có lửa, tôi thấy người đứng trên sân thượng toà Đại sứ, nhưng tôi không thấy trực thăng đáp xuống. Nhiều người cố tìm cách lọt vào trong toà Đại sứ, nhưng tôi nghĩ họ cũng biết không còn cách gì có thể lọt vào được nữa. Lúc ấy là hai giờ sáng ngày 30 tháng tư. Phải mất một tiếng đồng hồ đi bộ tôi mới về đến nhà. Tôi vẫn còn đội mũ sắt, mặc đồ trận, tôi cảm thấy hệt như mình đang sẵn sàng ra mặt trận.

Gia đình tôi hãy còn đầy đủ trong nhà, họ không biết tình hình ra sao. Họ đều sợ. Cha tôi, trước là cảnh sát Sàigòn, ông có quan tâm về việc ra đi, nhưng không biết làm cách nào ra khỏi xứ. Gia đình tôi gồm cha mẹ và tám đứa con nữa, tất cả là mười người tôi phải đưa đi. Trước đó, có một số phi công bên Không quân đã cố đưa gia đình sang Thái Lan, nhưng họ đều bị bắt, bị đưa trở lại Việt Nam. Người ta bảo chúng tôi rằng nếu chúng tôi đi, họ sẽ chặn lại nhốt tù.

Tôi mang về nhà vài quả lựu đạn, vài cây súng. Tôi bảo mẹ tôi nếu Cộng sản vào nhà, tôi sẽ giết và tôi cũng tự sát cùng với chúng. Mẹ tôi bảo tôi muốn làm gì thì làm. Tôi bảo tôi sẽ giết hết mọi người trong gia đình rồi cùng chết với nhau, mẹ tôi nói thế cũng được. Tôi không biết tôi có thể làm thế được không, nhưng tôi đã nói với cả gia đình như vậy. Cha tôi bảo thế cũng xong.

Lúc ấy, tôi không rõ đất nước mất hay còn. Nhưng trước đấy một tuần, tôi đã mang một số vũ khí về nhà, bởi tôi nghĩ nếu bất cứ chuyện gì xảy ra, sớm muộn tôi cũng chết và tôi muốn gia đình tôi có thể tự vệ được khi tôi không có mặt.

Tôi là người trụ cột trong gia đình. Cha tôi không làm gì được nữa. Phần tôi, lúc ấy thực tình không rõ phải đi đâu, hoặc nếu rời Sàigòn rồi làm gì.

Nhưng tôi quyết định phải đi. Tôi nói với cha mẹ tôi rằng nếu muốn đi thì đi với tôi. Tôi có một chiếc xe gắn máy, tôi chở dần hai đứa bé ra cảng, bỏ chúng đấy, rồi quay lại chở hai đứa nữa. Tàu của tôi vẫn còn đấy, có một đám đông bu lại gần nhưng họ không lấy được tàu, vì có lính canh. Tàu đậu giữa sông, mỗi lần tôi mang người trong gia đình đến thì tàu chạy vào, rồi chạy ra, cứ mỗi lần đến, tôi lại phải gọi.

Sau chuyến thứ hai, tôi nhờ người đi về đón số người còn lại trong gia đình tôi. Mấy thủy thủ đâm hoảng, họ lo nếu rời tàu thì tôi có thể bỏ họ mà đi. Tôi hứa bảo đảm vói họ là tôi sẽ đợi cho đến trưa. Vậy mà họ vẫn quyết định cứ ở lại hơn là rời tàu đi đón thân nhân.

Bảy người trong gia đình tôi ra đến tàu. Cha tôi cùng một người em trai và một cô em gái của tôi ở nhà. Họ không đi. Cô em gái tôi là giáo viên, nó và người chồng không muốn đi.

Trong lúc đợi gia đình tôi thì ở ngoài tàu đã có nhiều người lọt được vào trong tàu. Tôi phát điên lên. Mấy người thương gia đưa ra đô-la, đưa ra vàng. Tôi quát: “Các ông ra khỏi tàu tôi ngay!” Tôi rút súng bắn chỉ thiên, đuổi họ đi. Họ van vỉ khóc lóc, nhưng làm sao đủ chỗ cho họ đi. Tôi bảo thủy thủ của tôi ném họ ra khỏi tàu. Vài người có vợ, con, và cả hành lý. Nhưng tôi phải mang gia đình tôi đi. Tôi phải lo gia đình tôi trước.

Cũng nhiều người có súng, nhưng họ không lên tàu vì họ thấy tàu không đi nổi, lúc ấy đã có khoảng bốn chục người trên tàu rồi. Quá đông, chiều dài chiếc tàu chỉ có mười thước, chiều ngang ba thước và có hai tầng.

Chúng tôi đi khoảng 11 giờ sáng ngày 30 tháng Tư, chạy đường sông, ra biển Nam Hải. Chúng tôi phải qua Rừng Sát là nơi đầy Cộng sản, lòng sông rất cạn, qua đây hết sức nguy hiểm. Có hai chiếc tàu nữa cùng đi với chúng tôi. Lúc ấy tôi rất sợ vì lẽ chiếc tàu rất nhỏ, chỉ một quả rốc-két bắn đến là mọi người tiêu hết. Rồi chúng tôi thấy có một chiếc tàu lớn chạy đến, một chiếc tàu dân sự, trên tàu chở đầy những người giàu có. Chiếc tàu này tên là Vong Hong Ni, chở khoảng ba trăm người. Tôi cho tàu cập lại, bắt họ dừng. Tôi rút súng cầm tay, bảo họ nếu không dừng là tôi bắn. Họ sợ, nên dừng tàu, cho tất cả chúng tôi leo lên. Sau đó chúng tôi cắt dây, thả chiếc tàu nhỏ của chúng tôi trôi đi. Đêm hôm ấy chúng tôi đi ngang Vũng Tàu, nghe máy thu thanh nói Sàigòn đã đầu hàng. Tôi tự bảo “Thôi, thế là xong.”

Ra khỏi Vũng Tàu, chúng tôi nhìn thấy Đệ Thất hạm đội Hoa Kỳ. Chúng tôi nghĩ họ sẽ chờ sáng rồi cho chúng tôi lên, nhưng họ biến mất. Rồi một chiếc tàu Hải quân Việt Nam tiến đến, hai tàu chúng tôi cứ thế theo nhau mà đi suốt bảy ngày đêm.

Cuối cùng chúng tôi đến được Subic Bay, Phi Luật Tân, từ đây họ đưa chúng tôi sang đảo Wake rồi đến trại tỵ nạn Fort Chaffee. Sau, chúng tôi đến định cư ở thành phố Nữu Ước.

Sau đó tôi cố viết thư liên lạc vói cha tôi, nhưng không dám viết trực tiếp. Tôi gửi đến địa chỉ mấy người hàng xóm gần nhà để nhờ chuyển cho cha tôi, nhờ vậy em gái tôi biết tin chúng tôi đã tới nơi bình an. Cha tôi bị đưa vào trại cải tạo, ông bị ở đó năm năm. Cha tôi chỉ là một cảnh sát cấp đại úy, tôi không biết tại sao chúng bắt cha tôi đi lâu như vậy.

Ông được thả năm 1980. Ông muốn vượt biên cùng với cậu em trai và gia đình em gái tôi. Tôi tìm cách gửi tiền mua vàng cho họ đi. Nhưng cha tôi không thoát. Chuyến vượt biên ấy chở quá đông. Đáng lẽ chỉ chở được bốn mươi người, nhưng chủ tàu tham lam, hắn đã chở đến một trăm hai mươi người. Hắn tưởng chỉ mất hai ngày là đến được Mã Lai, ngờ đâu phải đi đến bảy ngày đêm. Tàu không có tài công nhà nghề, lại gặp bão trên biển. Cha tôi bị chết đói. Chú em trai, cô em gái tôi và hai đứa con gái của nó sống sót. Nhưng chồng nó chết. Tàu bị rỉ nước, chồng nó cố sức tạt nước cứu gia đình, nên đã chết vì kiệt sức.

Thú thực với ông, cuộc sống của tôi tại đây tốt đẹp hơn. Phần lớn bạn hữu của tôi cũng nói như thế. Nếu có cơ hội về nước thì thực tình tôi chẳng biết làm gì. Đôi khi ban đêm nằm ngủ ở thành phố Nữu Ước này tôi vẫn còn những cơn ác mộng. Tôi mơ thấy mình vẫn đang ở Việt Nam, bị Cộng sản bắt đưa vào trại cải tạo. Tôi bị mộng mị như vậy trong suốt mấy tháng.Bây giờ tôi không còn mộng mị như thế nữa.

_________________

(Ghi chú của tác giả: Sau cuộc phỏng vấn này chỉ một thời gian ngắn, Đại úy Định đã mất vì bị ung thư phổi vào mùa hè năm 1987)

Advertisements

2 thoughts on “NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, “Các ông ra khỏi tàu tôi ngay!”

  1. ”Đại úy Hải quân VN”-VC mạnh vùng đồng bằng-Duyên Hải thì không!-”Hiệp định Ba Lê ”khiến lo lắngTình hình binh sĩ !Tàu Lớn-ngầm rút lui ,để lại Tàu nhỏ lòng Hồ nghi…Tôi Đại úy -Tàu nhỏ đào thoát cùng người thân !Dành chỗ vất vả chuẩn bị!Cuối cùng an toàn trên biển vượt sóng Nhưng ác mộng cứ mãi bám riết trong tâm trí!

  2. nói:

    Châm ngôn của Người Lính: DANH DỰ – TỔ QUỐC – TRÁCH NHIỆM
    Chỉ vì một ngày mà trút bỏ, để BẢN THÂN – GIA ĐÌNH – VỢ CON lên trên…tàu!
    Thật đáng…thở dài!
    Hèn chi ngày Quốc Hận, Cộng Đồng Người Việt Tị Nạn Cộng Sản gọi là Ngày Lễ!
    Thật đáng…biết ơn Tản Đà; NƯỚC BỐN NGÀN NĂM KHÔNG NGƯỜI NHỚN, DÂN LÊN TRĂM TRIỆU TOÀN TRẺ CON!

Comment

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s