NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, “Chúng tôi tin vào sự tha thứ và rộng lượng bỏ qua”

nuocmattruocconmua

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before The Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

TƯỚNG TRẰN BẠCH ĐẰNG
“Chúng tôi tin vào sự tha thứ và rộng lượng bỏ qua”

Mùa xuân năm 1975 tôi ở trong ban lãnh đạo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đặt tại Tây Ninh. Tôi công tác với các chỉ huy cấp cao để hoạch định cuộc tiến công mùa Xuân đánh chính quyền Nam Việt Nam. Tất nhiên tôi đã có liên lạc chặt chẽ vói tướng Văn Tiến Dũng, người chỉ huy quân đội Nhân Dân Việt Nam.

Đạo Cao Đài đặt trung tâm tại Tây Ninh. Mặc dù là một tôn giáo, nhưng đạo này vẫn có vũ trang, binh sĩ riêng. Tuy nhiên họ chia làm hai nhóm. Một nhóm hoạt động như lực lượng phụ của chính quyền miền Nam, nhóm kia lại hoạt động với người của Mặt Trận Giải Phóng miền Nam.

Ở Ban Mê Thuột vùng cao nguyên năm 1975, người Thượng cũng vậy. Một số ở trong tổ chức Fulro, thiết lập bởi cơ quan Trung ương Tình báo Hoa Kỳ. Nhưng cũng có một nhóm người Thượng khác do Ibid Aleo lãnh đạo, nhóm này hoạt động với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam từ lâu. Và khi trận Ban Mê Thuột bắt đầu, nhiều người Thượng đã đi theo quân đội của tướng Văn Tiến Dũng, chống lại binh sĩ Nam Việt Nam mà tham gia lực lượng chúng tôi. Còn một nhóm khác cũng hoạt động cho chúng tôi tại khắp vùng cao nguyên.

Chúng tôi đã trà trộn vào được hàng ngũ cao cấp của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Tổ chức chúng tôi cũng bị xâm nhập, nhưng chỉ ở những cấp dưới thôi.

Tôi muốn làm sáng tỏ một điểm quan trọng: Tướng Dũng chỉ là môt bộ phận nhỏ của cả tổ chức lớn lao. Ông là tư lệnh tiền phương. Ông không liên hệ gì đến các chiến thuật và việc ấn định thời điểm cả. Ông có các nhiệm vụ khác tại tiền tuyến. Vị Tổng tư lệnh bấy giờ là Tướng Võ Nguyên Giáp.

Mối quan tâm chính là làm sao loại bỏ được sự can thiệp của chính quyền Mỹ tại Việt Nam. Chúng tôi đã tập trung vào Hiệp định Pa-ri để tìm cách loại bỏ sự hiện diện của Mỹ. Chừng nào lực lượng ấy rút, kế hoạch lấy miền Nam sẽ chỉ còn là một bước toan tính dễ dàng. Và một khi người Mỹ đi rồi, thực là dễ, vì cuối cùng chỉ còn người Việt đánh người Việt mà thôi. Khoảng đầu năm 1975 khi lấy Phước Long, chúng tôi biết có thể tiến nhanh hơn dự liệu, vì sẽ không còn Mỹ can thiệp. Và quân đội Nam Việt Nam cũng đã không thành tựu trong việc phản công Phước Long. Trước kia họ luôn luôn đánh lại, nhưng nay họ không còn hành động gì để tái chiếm tỉnh lỵ Phước Long, nên chúng tôi tin lần này chúng tôi có thể tiến, tiến nhanh.

Sau khi Phước Long thất thủ, Tổng thống Thiệu đã gửi một phái đoàn quốc hội sang Hoa Kỳ để xin thêm đạn dược và tiếp vận. Phái đoàn này được hướng dẫn bởi ông Đinh Văn Đệ, Chủ tịch ủy Ban Quốc Phòng tại Quốc Hội. Ông yêu cầu Tổng thống Ford 300 triệu Mỹ kim quân viện. Ông đã trình bày hình ảnh Nam Việt Nam với Ford. Sau khi tổng thống Ford nghe xong những gì ông Đệ trình bày thì Ford biết chẳng có thể nào ngăn cản sự thất trận của miền Nam được nữa. Khi phái đoàn quay về Việt Nam, ông Đệ đã soạn một bản báo cáo gửi cho Lực lượng Cách mạng ở Hà Nội, báo cho Hà Nội biết những gì xảy ra. Đấy, ông thấy, ông Đệ là một dân biểu Nam Việt Nam, nhưng ông ấy cũng hoạt động cho Mặt Trận Giải Phóng. Ông đã luôn luôn thông báo hết cho chúng tôi biết những gì xảy ra. Đó là mức độ chúng tôi đã trà trộn vào chính quyền miền Nam Việt nam. Một mức độ rất cao. Ông Đệ đã trình bày vấn đề bằng một cách làm chính phủ Hoa Kỳ phải từ chối, phải cho là viện trợ không ích lợi gì nữa. Khi nhận báo cáo của ông Đệ, chúng tôi biết chẳng thế nào chính phủ Hoa Kỳ sẽ quay lại can thiệp vào Việt Nam nữa.

Chúng tôi đã không lọt vào tòa Đại sứ Hoa Kỳ và cơ quan Trung ương Tình báo tại Saigon ở cấp độ thấp, như thư ký chẳng hạn. Chúng tôi thực sự cài người vào những chức vụ rất cao trong các tổ chức này. Những chức vụ tuyệt đối cao. Chúng tôi đã gửi một Đại tá của Mặt Trận Giải Phóng miền Nam cũng là Đại tá miền Nam, vào làm việc trong hệ thống Quân báo Hoa Kỳ. Một trong những người nằm vùng khác của chúng tôi, ông Phạm Xuân Ẩn, là người đã viết rất nhiều cho tạp chí Time. Một cố vấn đặc biệt của ông Thiệu cũng là người của chúng tôi, đó là ông Huỳnh Văn Trọng. Với tư cách cố vấn của ông Thiệu, ông đã gặp gỡ nói chuyện với Kissinger và với Nixon, thế mà suốt thời gian ấy, ông đã hoạt động cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Hà! Hà!

Chúng tôi không sử dụng đến đàn bà để ngủ với viên chức Mỹ hay với các sĩ quan tình báo. Ông thấy tại sao chúng tôi không hoạt động cách đó, là bởi vì chúng tôi đã nhìn ra được việc gài người vào tòa Đại sứ Hoa Kỳ và cơ quan Trung Ương Tình báo không đến nỗi quan trọng, bởi vì thực ra họ chẳng biết được bao nhiêu.

Tôi đã nhiều lần nằm vùng ở Saigon, đã vào Saigon năm 1975 mà không sợ ai phản bội. Hệ thống chúng tôi rất chặt chẽ, ở đấy tôi đã tổ chức tất cả, nên tôi biết hệ thống an ninh chúng tôi rất tốt. Tôi là Bí thư Đảng bộ miền Nam đầu tiên đặt trụ sở tại Saigon, trong những năm 1960 tôi đã ở đây. Rồi đến năm 1975 tôi ở Tây Ninh cho đến khi tôi tiến vào lại Saigon với các lực lượng Cách mạng.

Tôi vào Saigon với đơn vị chỉ huy buổi sáng ngày 30 tháng Tư. Tôi không đến dinh Tổng Thống, đấy không phải là nhiệm vụ của tôi. Tôi đã được ủy nhiệm giám sát việc tiếp thu tất cả các phương tiện truyền thông và báo chí trong thành phố. Tôi lãnh nhiệm vụ coi sóc phương diện tâm lý và tư tưởng trong thành phố.

Người miền Nam có sợ tắm máu khi quân đội miền Bắc tiến đến không? Tôi không tin là như thế. Hãy nhớ tôi đã đến từ thành phố, trong năm 1968 tôi đã tổ chức và chỉ huy cuộc tổng công kích Saigon. Tôi biết rõ người trong Thành phố, tôi biết họ nghĩ gì. Họ đã tràn ra đường hoan nghênh quân đội tới, nên tôi biết họ không sợ.

Bây giờ xin kể chuyện về căn nhà của cựu Đại tá Mỹ William Porter. Đấy là nơi cả ông Mc George Bundy cùng nhiều giới chức Mỹ cao cấp khác đều đã đến thăm viếng. Nhưng quý ông có biết ai ở cạnh nhà ông Phó Đại sứ Mỹ hay không? Chính là tôi! Trong lúc Porter cùng nhiều giới chức Mỹ cao cấp khác đứng nói chuyện trong sân, tôi sống ngay sát cạnh nhà. Ngay đấy, tôi có thể nhìn thấy họ, nghe họ nói. Không việc gì mà tôi phải sợ tại Saigon. Tôi được quần chúng bảo vệ. Nhân dân biết tôi là ai, họ biết tôi làm gì.

Đáng lẽ, nếu Hoa Kỳ để lại một số nhân viên cấp dưới tại tòa Đại sứ lúc ra đi vào năm 1975 thì sẽ thuận lợi cho cả đôi bên. Đại sứ Graham Martin đáng lẽ không phải đi. Vũ Văn Mẫu đã đòi người Mỹ ra đi chỉ vì, theo ông ta nói, là do Mặt Trận Giải Phóng đòi hỏi điều ấy. Nhưng thực ra, các chỉ thị không nhắm tòa Đại sứ cùng các nhân viên ngoại giao, nó chỉ nhắm đến những người bên văn phòng Tùy viên quân sự là những người chúng tôi muốn họ ra khỏi nước thôi. Thực là một lỗi lầm lớn. Người Mỹ hiểu sai điều ấy mà rút tất cả nhân viên tòa Đại sứ ra đi.

Trước khi tấn công Phước Long cuối năm 1974, kế hoạch chúng tôi là chiếm miền Nam vào khoảng 1976. Thật thế. Chuyện này đã ở ngoài tầm tay chúng tôi. Sau khi đánh Phước Long, rồi đến Ban Mê Thuột, bấy giờ chúng tôi định lên Kontum, và Pleiku, hoặc là sang phiá Đông. Những gì xảy ra sau đó hoàn toàn chỉ là lỗi lầm của quân đội Nam Việt Nam. Họ cứ thế tháo chạy. Vì vậy lập tức chúng tôi phải sửa lại các kế hoạch khẩn cấp. Đột nhiên chúng tôi không còn phải đợi đến 1976 mói hoàn tất các kế hoạch. Chúng tôi biết rõ Thiếu tướng Ted Serong đã từng đề nghị một kế hoạch rút quân cho Tổng thống Thiệu, nhưng chúng tôi không hề nghĩ Thiệu sẽ sử dụng đến. Ngay khi kế hoạch này vừa được trình bày với Thiệu, cùng một lúc chúng tôi đã tức khắc biết ngay từng chi tiết kế hoạch, chúng tôi cũng đem cả kế hoạch ra phân tích. Theo kế hoạch ấy, quân ở cao nguyên sẽ được rút đi, miền Nam sẽ được bảo vệ. Nhưng Thiệu đã ra lệnh triệt thoái, một cuộc triệt thoái tán loạn, thế là hết chuyện. Sau khi lấy Ban Mê Thuột, chúng tôi có buổi họp các cán bộ cao cấp để cân nhắc việc Mỹ có thể can thiệp trở lại hay không. Buổi họp này có đồng chí Lê Duẩn tham dự. Kết luận là chẳng cách gì Mỹ sẽ tái can thiệp vào việc đánh cứu miền Nam nữa. Do đó chúng tôi nhất quyết đạt thắng lợi cuối cùng vào năm 1975, sớm hơn dự định một năm.

Trong cao điểm đêm 30 tháng Tư, tôi đã ngủ ở dấy. Tôi hết sức bận rộn trong nhiệm vụ mới để giám sát ngành truyền thông báo chí, làm việc 24 giờ một ngày nên hôm ấy chẳng có thể còn ý nghĩ riêng tư nào. Tại Saigon có đến 400 thông tín viên, vì thế nhu cầu quan hệ là phải duy trì việc cung cấp tin tức cho các thông tín viên ngoại quốc. Trong suốt tuần lễ đầu tháng Năm, tôi rất bận rộn trong công tác duy trì việc cung cấp tin.

Lúc ấy vẫn có nhiều thông tín viên Tây phương ở lại Không phải tất cả đều chạy. Tôi nhớ Alan Dawson đã ở đây, tôi đã gặp ông ta.

Về việc Đại sứ Graham Martin quan tâm đến câu hỏi tạo sao chúng tôi pháo kích đêm 29 tháng Tư, và cho rằng đấy là bởi vì Không quân Nam Việt Nam đã được phép đưa máy bay sang Thái Lan. Thật ra đây chỉ là câu chuyện dựng đứng. Không bao giờ có việc thoả thuận với người Nga về thời điểm Mỹ rút đi. Người ta đã dựng lên chuyện ấy. Vào lúc này người Nga không kiểm soát gì ở Việt Nam cả. Chúng tôi hoạch định thế nào, chuyện gì xảy ra, ngay như thế chúng tôi cũng không thông báo gì cho người Nga biết.

Lý do thực sự tại sao chúng tôi đã pháo phi đạo Tân Sơn Nhất không phải vì lẽ Không quân miền Nam đã rút máy bay đi. Chúng tôi pháo phi trường giản dị chỉ vì lúc ấy đơn vị pháo binh đã vào đến tầm bắn Tân Sơn Nhất mà thôi.

Chúng tôi không pháo người Mỹ trong lúc họ di tản, bởi đã có một phái đoàn Nam Việt Nam tới Tân Sơn Nhất thương thuyết với người của chúng tôi tại trại Davis. Tướng Minh nắm quyền hôm 28 đã cho người đến phi trường nói chuyện với chúng tôi. Chính vì thế chúng tôi đã ngưng các kế hoạch tấn công thành phố. Chúng tôi dự định bắn vào thành phố 150,000 quả đạn, nhưng vì lời thỉnh cầu của phái đoàn từ ông Minh mà sau đêm 28 tháng Tư, chúng tôi đã ngưng pháo kích thành phố. Đến Tân Sơn Nhất để thương thảo với Mặt Trận Giải Phóng miền Nam là Linh mục Chân Tín và ông Trung Ngọc Liêng.

Minh đã chỉ thị cho những người này đến nói chuyện với phiá chúng tôi. Bấy giờ chúng tôi có một nhóm đại diện từ miền Bắc đặt tại Tân Sơn Nhất, suốt thời gian ấy vẫn có nhiều liên lạc diễn ra.

Về sự an toàn của đường bay từ Tòa Đại sứ ra biển thì nếu muốn bắn trực thăng, người ta phải đặt vị trí ở những chỗ có thể bắn được. Nhưng súng của chúng tôi đặt ở các khu đầm lầy, vì thế chúng tôi không thể bắn các máy bay ấy. Và cũng chẳng có lý do gì để làm thế, vì lẽ trên máy bay chỉ có dân sự chứ không có nhân viên quân đội. Chúng tôi chẳng có lý do gì để bắn họ cả.

Có hai điểm nữa. Thứ nhất, bởi vì phía chúng tôi là phía chiến thắng, chúng tôi vui mừng và không thù hận. Thứ hai, chúng tôi tin vào sự tha thứ và rộng lượng bỏ qua. Khi hai phía là địch thù, chúng ta phải đánh, nhưng một khi cuộc chiến đã qua, chẳng còn lý do gì để thù hận nữa. Đấy là một đặc tính văn hoá của người Việt Nam.

Năm 1954 chúng tôi đã từng nỗ lực giải phóng toàn thể đất nước, nhưng chỉ đạt được một nửa, ấy là lúc chúng tôi cay đắng hận thù. Nhưng bây giờ chúng tôi đã thắng, chúng tôi không thù ghét gì nữa cả.
Tất nhiên hiện nay chính phủ Mỹ đang mắc nợ người Việt một nghiã vụ đạo đức. Chẳng nghi ngờ gì. Nghiã vụ ấy có phải là một nghiã vụ tài chánh hay không, điều ấy tùy cách người ta tin tưởng. Đấy là một đề tài tranh luận, và có nhiều quan niệm khác nhau. Tuy nhiên, tôi tin chính phủ Mỹ nên góp phần vào việc tái thiết Việt Nam, nhưng không cần phải là bồi thường chiến tranh. Trong mấy tháng qua tôi đã gặp một số ký giả và các nhà nghiên cứu. Một số là người Mỹ. Họ đều đã hỏi cùng một câu hỏi: Nay chiến tranh đã qua rồi, người Mỹ nên làm gì ở Việt Nam?

Quá khứ đã trôi đi. Chúng ta có thể miêu tả quá khứ bằng bất cứ nhãn hiệu nào chúng ta muốn: là lỗi lầm, là tai họa, là tính sai. Bất cứ cách nào. Riêng cá nhân tôi, tôi tin chiến tranh là điều đáng tiếc. Tôi muốn dừng ở đấy. Nhưng cái gì đã qua là qua đi. Chúng ta không làm cho những người bỏ mình sống lại được. Và vì thế, chúng ta cần phải cùng nhau tiếp tục cuộc sống, chúng ta đều cùng nhau chung sống trong cùng một hành tinh này, nếu cứ ôm ấp mãi hận thù, điều ấy chẳng ích lợi gì cho ai.

Advertisements

One thought on “NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, “Chúng tôi tin vào sự tha thứ và rộng lượng bỏ qua”

  1. Tin tưởng-Tha thứ-Rộng lượng-Bỏ qua…”Nói sẽ Dễ nhưng Quên…Quả quá Khó!”-Hành động thể hiện đi hầu giảm Xóa?-Lỗi lầm – Tai họa -Nước cờ tính Sai?”Bởi thế dai dẳng dằng dai! Chiến tranh hiện diện tái lai từng hồi?Chiến tranh có ở khắp nơi! Không riêng nước Việt tơi bời chiến tranh?-Chiến tranh nhiều Dạng hình thành…!”

Comment

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s