NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, “Vâng, chúng tôi đã chiến đấu”

nuocmattruocconmua

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before The Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

 

NGUYỄN PHÚC HẬU
(Phó Chủ Tịch Hội Đồng Thị xã Nha Trang)
“Vâng, chúng tôi đã chiến đấu”

Tôi nguyên là Phó Chủ Tịch Hội đồng Thị Xã Nha Trang và Tỉnh Khánh Hòa. Tôi được bầu vào chức vụ ấy năm 1970, sau đó tái đắc cử năm 1974 với nhiệm kỳ bốn năm.
Chính trị có sẵn trong huyết quản tôi. Tôi mong tham gia chính trị để phục vụ dân tộc tôi. Tôi sinh năm 1931, thế hệ tôi chính là một thế hệ của chiến chinh. Khi tôi còn nhỏ, bấy giờ là thời Thế giới đệ nhị Thế chiến. Chúng tôi đã chiến đấu chống Nhật. Đến khi tôi trưởng thành, người Việt chúng tôi chiến đấu chống Tàu, chống Pháp, chống Mỹ và chống cả lẫn nhau. Chiến đấu không ngừng.

Tôi thực rất mong có ngày được nói chuyện với Mike Mansfield. Sau khi Saigon sụp đổ, lúc đang ẩn náu ở Saigon, mở đài Tiếng Nói Hoa Kỳ tôi có nghe Mike Mansfield tuyên bố: “Đất Việt Nam không đáng giá mảy may cho một sinh mạng Mỹ!! ” Lời tuyên bố ấy làm tôi rất buồn, vì tôi nhớ đến sự dũng cảm của những cố vấn Mỹ của tôi trong cuộc chiến, những người mà tôi đã có lòng thương mến. Tôi nghĩ những người Mỹ tham dự vào cuộc chiến Việt Nam mà tôi biết, họ đều hiểu rằng họ đã chiến đấu cho một lý do cao cả: Bảo toàn Tự do. Mike Mansfield không hề biết gì về việc đã có bao nhiêu người bỏ mình tại đất nước Việt nam trong công cuộc chiến đấu chống Cộng, ông ta không xem truyền hình để thấy hàng bao nhiêu ngàn con người tháo chạy khỏi các Tỉnh khi Cộng sản tiến vào. Ông ta cần phải biết vì đâu họ chạy. Ngay từ năm 1954 đã hơn một triệu người Việt bỏ chạy từ bắc vào Nam. Mike Mansfield cần phải biết tại sao.

Tôi ở Nha Trang ngày Thị xã này thất thủ. Tôi đã bảo vợ tôi nên vào Phan Rang với người chị cho an toàn, phần tôi ở lại Thị xã Nha Trang vì nhiệm vụ của tôi. Tôi là người đứng tổ chức cứu trợ đồng bào tỵ nạn từ các thành phố khác đến. Hai ngày trước khi Nha Trang sụp đổ, chúng tôi đã gửi một lá thư cho Tướng chỉ huy quân đội đóng quanh Thị xã, chúng tôi yêu cầu một buổi họp với ông nhằm tổ chức phòng thủ Thị xã. Chín giờ sáng, vào ngày Thị xã thất thủ, tôi đến văn phòng tham dự cuộc họp với những người trong tổ chức cứu trợ tỵ nạn và đợi viên tướng đến. Nhưng mười một giờ, vẫn không thấy. Chúng tôi điện thoại cho tòa Tỉnh, ở đó không ai có mặt. Chúng tôi điện thoại cho các viên chức khác. Cũng không có ai. Thế rồi có người đến cho biết tất cả đều đã đi. Họ đều đã ra đi mà không hề mở miệng nói một câu nào.

Tôi không còn tin nổi. Mới tuần trước, tôi với ông Chủ tịch cùng với ông Tỉnh Trưởng hãy còn đi Khánh Dương, nằm ở ranh giới hai tỉnh Ban Mê Thuột và Khánh Hòa, nơi lính Nhảy dù đóng. Chúng tôi đưa thực phẩm và đồ tiếp tế đến khích lệ anh em binh sĩ. Chúng tôi nói chuyện với họ, bảo toàn thể dân chúng trong tỉnh đứng sau lưng họ, nhiệm vụ anh em là tiếp tục chiến đấu, giữ vững, đừng để khu vực này rơi vào tay Cộng sản. Chúng tôi hãnh diện vì anh em đã chiến đấu kiên cường, chúng tôi tin tưởng anh em vẫn có thể tiếp tục chiến đấu. Nhưng ngày hôm ấy, thực đáng buồn.

Sau này tôi nghe nói hầu hết những chiến sĩ nhảy dù ấy đã tử trận. Ngày Cộng sản tấn công, họ không hay hậu tuyến đã rút chạy. Họ tiếp tục gọi yểm trợ, gọi không quân, gọi tiếp vận, nhưng không ai trả lời. Bị Cộng sản bao vây, họ vẫn tiếp tục đánh, không chịu hàng nên bị Cộng sản giết sạch. Nhảy dù là những người lính thiện chiến. Những chiến sĩ ưu tú nhất.

Tôi là người rất bướng bỉnh. Có lần vợ tôi đến bảo rằng: “Ông ạ, tôi nghe nói Mỹ đã rút, mình thất trận rồi” Bà ấy hỏi: “Ông định chuyện gia đình thế nào, có chạy đi đâu hay không?” Tôi nói: “Tôi không tin mấy chuyện ấy. Ngu ngốc quá!” Bấy giờ hãy còn là vào khoảng đầu năm 1975. Tôi nói: “Chúng ta vẫn còn có thể đánh Cộng sản được”. Vợ tôi lại bảo đã có nhiều gia đình dọn vào Saigon cả rồi. Tôi vẫn nói “Kệ xác cho họ dọn. Mình cứ ở lại”

Tôi đã tin tưởng rằng ngay cả trong trường hợp mất các Tỉnh khác, người ta vẫn giữ được Nha Trang, chúng tôi vẫn được an toàn.

Nhưng sau các Tư lệnh, các Tỉnh trưởng, Thị Trưởng bỏ chạy thì Nha Trang hỗn loạn. Tù nhân thoát ra, đập phá hàng quán, đốt cháy chợ búa.

Cách thất trận của chúng tôi thực hết sức lạ lùng. Có một gã gác dan trong một ngôi trường dòng ở Nha Trang vốn là Cộng sản, hắn chứa vũ khí Cộng sản trong trường, chính hắn dẫn Cộng sản vào Thị xã. Sau này hắn bảo chúng tôi Cộng sản ở Nha Trang không biết các chỉ huy quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã rời Thị xã rồi. Nếu họ biết thì họ chiếm ngay hôm ấy, như thế đã tránh được việc hỗn loạn trong Thị xã. Hắn kể hắn đi Tuy Hòa báo cáo với Trung đoàn trưởng Trung Đoàn Sao Vàng: “Ổn thỏa rồi, thị xã Nha Trang đã trống rỗng. Dân chúng và các cấp chỉ huy quân đội đều đã chạy. Ta nên vào chiếm lấy thôi”. Nhưng viên Trung đoàn Trưởng vẫn không tin nổi. Hắn kể rằng viên Trung đoàn trưởng vẫn cho hắn báo cáo láo. Hắn phải thuyết phục viên Trung đoàn trưởng cho người theo hắn vào Nha Trang quan sát tình hình. Bọn trinh sát trở lại, báo rằng quân đội Việt Nam Cộng Hòa quả đã rút hết, do đó họ mới vào chiếm thị xã. Chúng tôi chỉ buông xuôi mà bỏ đi.

Chúng tôi đã bỏ đất nước Việt Nam cũng như đã bỏ Thị xã Nha Trang. Chúng tôi đã có thể thắng trận chiến này, nhưng chúng tôi đã buông mà tháo chạy. Việc sụp đổ Nha Trang và việc Cộng sản tiến chiếm thị xã này chính là điển hình cho tất cả cuộc chiến Việt Nam vậy.

Tôi không hiểu được tại sao. Khi ở Vũng Tàu, tôi đã vào Saigon dự phiên họp các cấp chỉ huy Hội đồng Tỉnh để duyệt lại tình hình mỗi Tỉnh. Bấy giờ tôi có liên lạc với một số nhân vật chính trị, chúng tôi đều quyết định là chúng tôi muốn tổ chức và quay lại: Một tổ chức để giữ vững miền Nam Việt Nam. Thắng hay bại không quan hệ. Chúng tôi đã có kế hoạch di chuyển chính quyền xuống Cần Thơ, bỏ trống Sài Gòn cho Cộng sản, chúng tôi sẽ chiến đấu, cố giữ một chính quyền, như thế sẽ có tiếng nói hợp pháp với thế giới bên ngoài.

Kế hoạch này làm tôi thấy phấn khởi. Tôi phát biểu rằng: “Chúng ta sẽ gửi một thông điệp. Bất cứ ai muốn chiến đấu chống Cộng đều có thể xuống mạn Cần Thơ, chúng ta sẽ tổ chức tại đó một tiền tuyến để đánh Cộng sản và giữ cho chính quyền được an toàn”.

Một tuần lễ trước khi Sài Gòn hoàn toàn sụp đổ, tôi quay trở lại xem xét tình hình thì bạn tôi bảo: “Không được nữa rồi. Bọn Mỹ không chịu.”

Trong năm 1975, tôi đã từng có rất nhiều cơ hội để ra khỏi nước. Tôi có rất nhiều bạn bè từ Nha Trang vào, họ có tàu; nhưng vì tôi rất thất vọng với người Mỹ, tôi bảo: “Tôi sẽ ở lại”. Đấy là một lỗi lầm đeo đẳng suốt đời tôi. Lỗi lầm ấy gây ra cái chết cho người con trai lớn của tôi.

Bấy giờ chiến trận mỗi lúc một gần Vũng Tàu, nơi tôi đưa gia đình vào. Ở đấy hãy còn Thủy quân Lục chiến Việt Nam, họ vẫn tiếp tục chiến đấu. Vào hôm mất Vũng Tàu, tôi chứng kiến hai người lính Mỹ cùng với Thủy quân Lục chiến bị Việt cộng bắt. Tôi không rõ số phận họ ra sao.

Vợ con tôi và tôi họp lại cầu nguyện và cùng khóc. Toàn thể đất nước sụp đổ rồi. Cộng sản là bọn sát nhân. Một người bạn tôi rất kinh hoảng. Anh vào một Trung tâm tỵ nạn ở Vũng Tàu, mở buồng tắm khóa chặt cửa lại, suốt ngày ở bên trong. Anh sợ Cộng sản vì anh đã suýt bị Cộng sản chôn sống trong kỳ Tổng công kích Tết Mậu Thân ở Huế. Tôi đến gọi anh ra, mang cho anh ít đồ ăn. Cuối cùng anh ra, rồi chạy mất. Tôi không rõ sau đó anh ra sao.

Sáng 30 tháng Tư, có tiếng súng máy nổ bên khách sạn gần chỗ chúng tôi. Vẫn còn những trận đánh diễn ra, mặc dù nghe đài phát thanh chúng tôi được biết tại Saigon người ta đã trao quyền cho Cộng sản.

Tôi mong ông sẽ kể lại chuyện này cho công chúng Mỹ: Đó là vào buổi trưa ngày 30 tháng Tư, sau khi chính phủ đã chuyển giao quyền hành cho Cộng sản rồi, thì tại một địa điểm ở Thị xã Vũng Tàu vẫn còn một cuộc chiến đấu cho đến tận hai giờ ba mươi phút. Bởi những thiếu nhi. Những thiếu nhi theo học quân trường. Những thiếu nhi, những trẻ em con cái các tử sĩ đã hy sinh trên chiến địa. Các em vẫn tiếp tục chiến đấu sau khi tất cả những người khác đều đã đầu hàng! Các em thiếu nhi của trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu.

Rất nhiều em trong đó đã bị sát hại. Một ngày sau đấy tôi có gặp một em trong nhóm giữa lúc thị xã này náo loạn. Tôi không quen em, nhưng tôi nhận ra nhờ mái tóc cắt rất đặc biệt của các Thiếu sinh Quân. Tôi hỏi thăm: “Chuyện ra sao? Ở đấy các em vẫn còn tiếp tục đánh à?” Em nói: “Vâng, chúng tôi đã đánh với Cộng sản” Em rất hãnh diện đã chiến đấu chống Cộng.

Tôi hỏi thăm thì em kể lại rằng một ngày trước khi Việt cộng vào Thị xã, cố vấn Mỹ đã đến trường đưa Đại tá Chỉ huy trưởng lên trực thăng đi mất với ông ta. Do đó, người chỉ huy kế tiếp là một Đại úy đã tập họp tất cả Thiếu Sinh Quân lại mà bảo: “Được, bây giờ chúng ta sẽ đi đến một địa điểm”. Các Thiếu sinh quân đều đi với Đại úy, nhưng chẳng biết đi đâu. Đại úy không có chỉ thị chính thức nào của Đại tá nên cũng chẳng biết làm gì. Cuối cùng ông cho các em dừng lại, nói rằng ông muốn đưa các em ra khỏi Thị xã, nhưng cũng chẳng biết đi đâu. Vậy bây giờ tất cả phải giải tán mà đi đi. Nhưng các Thiếu sinh quân cũng chẳng biết đi đâu nữa. Có em ở Vũng Tàu. Có em ở Cần Thơ. Chẳng em nào có tiền bạc gì mà đi.

Vì thế các Thiếu sinh quân lớn nhất đã tập họp tất cả các Thiếu sinh quân khác trên đường phố, quyết định rằng những em lớn sẽ quay về lại trường, tổ chức phòng tuyến đánh Cộng sản. Còn các em nhỏ hãy chạy đi, biết đâu có thể may mắn kiếm được gia đình nào nuôi dưỡng các em. Thế rồi khoảng năm mươi em lớn nhất trong bọn, tuổi chừng mười hai mười ba, đã phá kho quân dụng của trường Thiếu Sinh Quân, lấy được một khẩu súng máy, tổ chức phòng tuyến, lập đồn chiến đấu khi Cộng sản đến. Và quả khi Cộng sản đến, các Thiếu sinh quân đã chiến đấu chống lại. Cộng sản không thể nào lọt vào trường. Khi kể lại chuyện này, các Thiếu sinh quân rất kiêu hãnh. Trưa hôm ấy, chính phủ đã trao quyền tại Saigon, nhưng các em Thiếu sinh quân vẫn tiếp tục cuộc chiến. Cho đến hai giờ ba mươi trưa, Cộng sản loan báo là nếu các em không ngừng đánh, chúng sẽ bắn rốc kết vào trường tiêu diệt hết.

Tôi hỏi thế khi Cộng sản vào được trong trường thì chuyện gì xảy ra. Các em bảo chúng tập họp các em trong sân rồi nói các em về nhà.

Phần tôi cùng gia đình cũng chẳng biết đi đâu. Cuối cùng chúng tôi quyết định lấy một chiếc xe vận tải đi Saigon. Trên đuờng đi Saigon, chúng tôi gặp tai nạn chết một người con lớn. Chiếc xe vận tải của chúng tôi bị sa vào hố do rốc kết cầy lên. Bánh trước bể. Đó là một cái xe tải, phần sau trống. Xe lật nhào. Con trai tôi tử nạn.

Tại Saigon bấy giờ tình hình đang hỗn loạn. Người nào cũng ngơ ngẩn, chẳng ai còn hiểu chuyện gì. Chẳng khác nào khi bị xúc động quá mạnh, người ta không còn cảm thấy gì và tin gì nữa.

Chúng tôi chôn cất đứa con đã mất, và cuộc chiến đã tàn.

Advertisements

One thought on “NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, “Vâng, chúng tôi đã chiến đấu”

  1. Kẽ Mạnh-Lớn Quyền -Phách Lối!Huênh hoang coi thường kẽ ngồi đợi mình!Cần dụng thì ban bố Lệnh…Hết dụng để mặc tình hình ra sao!?Lo Thân chạy trước xa bay…Mặc tình ”con cờ”sợ hãi hoang mang!Đấu không có vị Tướng Lãnh!Phương hướng-Thất trận-DỄ DÀNG HY SINH!Thảm trạng chết trong vô nghĩa!Chết trong cái Thế ”đánh khỉa”tội nghiệp!Chiến trong Thế”Rắn mất Đầu!”Cựa quậy chẵng biết hướng nào lần ra…!”Thiệt thòi vẫn ngã về ta-Binh sĩ quèn-Vận đen!?”

Comment

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s