NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, “Hãy để tôi chết trong ánh mặt trời”

nuocmattruocconmua

TRẦN THỊ MỸ NGỌC
“Hãy để tôi chết trong ánh mặt trời”

Ngày 25 tháng Chạp 1979, tôi phải rời Saigon xuống Cần Thơ. Do đó, vào ngày 24, mẹ tôi mua đồ ăn Giáng Sinh, theo thông lệ hàng năm. Người Việt Nam ưa mừng mọi sự. Và gia đình tôi theo đường lối Âu Tây nhiều hơn. Vì thế, vào dịp Giáng Sinh, chúng tôi có cây Noel, dự tiệc tùng, trở về nhà ăn khuya. Chúng tôi không đi dự tiệc sau 1975 nữa vì sống với Cộng Sản. Kỳ đó mẹ tôi làm bữa ăn Giáng sinh sớm, vì tôi phải ra đi ngày 25. Bữa ăn đó có bánh ngọt, thịt nguội, thịt gà đủ thứ. Những loại thức ăn thường có vào dịp lễ.

Tôi không được vui với mẹ tôi. Thật ra việc ra đi là một việc làm tôi đau lòng vô cùng mà không biết cách nào diễn tả tâm trạng mình. Buổi ăn Giáng Sinh to lớn này càng làm tôi buồn hơn. Vì tôi mà mẹ tôi tổ chức buổi này, nhưng tôi không làm sao nuốt trôi một miếng, trong gia đình ai cũng thế. Ai cũng biết một khi tôi đi thì sẽ không trở về, đây có thể là lần cuối cùng tôi thấy họ và họ thấy tôi. Bữa ăn Giáng Sinh đó giống như bữa đưa ma hơn là một tiệc mừng.

Để chuẩn bị cho sự ra đi của tôi, mẹ tôi đưa tôi một tờ giấy một trăm đô và một mớ nữ trang. Chúng tôi biết là ở trại tỵ nạn nữ trang có giá. Trong gia đình tôi, mỗi đứa nhỏ đều có nữ trang riêng, tôi lấy đi theo ba chiếc nhẫn, trong đó có một chiếc nhẫn vàng. Tờ một trăm đô thì để khi cần dùng lúc đến Mỹ.

Mẹ tôi may tiền và nhẫn trong mép áo quần. Sau đó tôi cải trang một chút. Cần Thơ là một tỉnh lỵ, không phải là thành phố. Người dân ở đó khác người dân Saigon. Tôi phải giả dạng làm một người lao động, mặc bộ đồ đen, đội nón lá.

Ngày hôm sau, tôi rán giữ nước mắt, nhưng người ta vẫn có thể biểu lộ sự thương tâm mặc dù nước mắt không rơi. Mẹ tôi khóc. Bà núp sau cánh cửa. Mẹ tôi ôm tôi, chị em tôi ôm tôi, họ phải hành động một cách bình thường vì bọn nằm vùng dòm ngó. Sau đó, tôi bước chân ra cửa, đi không nhìn lại.

Tôi đi xe đò xuống Cần Thơ. Tôi được dặn là phải chờ tại bến xe đò Cần Thơ để có người đến dắt tôi đi. Đêm đến mà vẫn không thấy ai.

Tôi phải ngủ trên giấy báo trải dưới đất tại bến xe. Đêm sao mà dài quá. Cuối cùng, với những người cùng xuống Cần Thơ để ra tàu, người ta dắt chúng tôi đến căn nhà của một người đàn ông có tàu. Họ cho chúng tôi ăn ở đó chờ đến tối.

Đêm đó, chúng tôi đến bến tàu, nơi có những chiếc ghe nhỏ. Chúng tôi lên ghe nhỏ. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi đi ghe. Tôi sợ rơi xuống nước. Ở mỗi chiếc ghe nhỏ có mười người. Những chiếc ghe này đưa chúng tôi ra một chiếc ghe lớn hơn trên đó có khoảng hai mươi người. Chúng tôi ngồi chật ních như mắm. Và chúng tôi chờ trong đêm tối. Không biết ông có bao giờ ông ở trên sông ban đêm không? Đây là lần đầu tiên của tôi. Mặt trăng chiếu sáng. Chúng tôi giữ im lặng tối đa. Một em bé trong ghe khóc, tiếng khóc vọng ra cả vùng sông. Ai nấy kinh sợ vô cùng vì họ ngại tiếng khóc sẽ mang bọn Cộng sản tuần canh đến. Bọn này chuyên đi tìm người như chúng tôi, những kẻ muốn bỏ trốn.

Do đó, trên ghe có tiếng xì xào: “Làm ơn làm cái gì đó. Cho nó cái gì đi”. Đứa bé thật may mắn là không bị giết chết lúc đó. Cuối cùng, họ cho đứa trẻ uống thuốc ho để say ngủ.

Chiếc ghe này lại đưa chúng tôi đến một chiếc ghe to hơn. Trên chiếc ghe này có khoảng tổng cộng năm mươi người giống như ép cá mòi. Họ chất dừa trái và dưa hấu ở hai đầu cho giống như dân buôn. Chúng tôi kẹt vào chính giữa. Không có nước uống. Chúng tôi chờ cả ngày. Ngày thì nóng. Chúng tôi không có gì ăn và cũng không có cách gì đi vệ sinh.

Cuối cùng, vào đêm 29 thuyền đã sẵn sàng, chúng tôi xuôi dòng. Tôi nói ông nghe nha, thật kinh khủng khi ngồi trong chiếc thuyền đó. Nó vừa nóng, vừa chật chội, tôi lại vừa đói bụng, rất là khó chịu.

Chúng tôi chuyển thuyền, lại sang một chiếc khác. Sự tình càng khó khăn. Con sông chia ra nhiều nhánh. Đêm đó, chúng tôi thật im tiếng vì đã sẵn sàng ra đi. Lúc đó, có một chiếc tuần canh cập đến hỏi “Ai trong thuyền?” Hai người đàn ông giả như ngư dân nói: “Không có ai cả! Chỉ có chúng tôi chờ trời sáng”. Bọn tuần canh lại hỏi: “Có chắc không? Chỉ có hai người thôi sao?” Họ chiếu đèn nhìn. Sau cùng họ bỏ đi. Chiếc thuyền bắt đầu di chuyển dần ra cửa sông cái, hướng về biển.

Lúc đó tim tôi đập nhanh quá. Cuối cùng chúng tôi đến gần cửa sông, qua một chiếc thuyền lớn. Chúng tôi lên thuyền đó mà đi. Người tài công của chiếc thuyền này không biết gì về lái tàu cả. Cả thuyền chỉ có một người hải quân khi xưa từng đi biển. Anh là người duy nhất biết sử dụng hải bàn, người duy nhất biết về biển, thiệt tình! Những người tài công kia thật ra không biết gì. Chúng tôi không hay cho đến khi chúng tôi mắc nạn kinh khủng sau này. Nếu mẹ tôi biết trước như thế thì không bao giờ bà để cho tôi đi cả.

Tiếng máy thuyền nổ lớn quá, trong một đêm sao mà tĩnh mịch quá. Tiếng máy lớn có thể kêu gọi sự chú ý của bọn tuần cảnh. Cuối cùng, chiếc thuyền cũng hướng ra ngoài khơi được an toàn.

Tôi ở dưới khoang thuyền . Có nhiều người trên mui. Tôi bị say sóng quá sức. Những người trên mui nhìn lại phía sau bỗng thấy xuất hiện một chiếc tàu tuần cảnh tiến về phía chúng tôi. Trên thuyền, chúng tôi bàn nhau: “Trời ơi, tụi Công an biên phòng rượt theo kìa. Chắc phải ngừng lại không tụi nó bắn”. Do đó, chúng tôi ngừng lại. Họ qua thuyền chúng tôi nói: “Mấy người vượt biên phải không?” Không còn cách gì chối cãi, chúng tôi đành trả lời: “Phải rồi”. Một tên trong bọn Công an lại nói: “Sao, mấy người có cái gì đem theo?” Tôi hỏi họ: “Mấy ông có muốn lấy tiền không?” Họ nói: “Hên cho mấy người là chỉ có hai chúng tôi trên chiếc tàu này đó”. Chúng tôi gom góp vàng, đưa họ một mớ tiền. Trên thuyền có một cái máy thu thanh họ cũng lấy luôn. Sau đó, họ để chúng tôi đi. Tôi nghĩ đây là lời chào từ biệt Việt Nam của tôi, hối lộ các viên chức Cộng sản một lần cuối cùng.

Bây giờ đã ra đến ngoài khơi, thì nhóm tài công dởm của chúng tôi lại không biết đường hướng gì. Họ không biết hải phận quốc tế bắt đầu ở đâu. Mã Lai hướng nào. Biển cao, sóng động, tôi lại càng say sóng.

Lúc đó lại thấy một chiếc tàu thật to, mấy người tài công nói: “Hải phận quốc tế rồi, bây giờ mình đã an toàn. Có chiếc tàu này đây. Kêu cứu đi”. Họ thảy trái sáng. Lúc ấy tôi đã chuyển sang ngồi đàng mũi thuyền vì mấy chỗ kia làm tôi khó chịu quá. Họ thảy trái sáng để kêu chiếc tàu kia chú ý chuyển hướng lại gần hơn. Cuối cùng hiện hình ra là một chiếc tàu Việt Nam đi về hướng Việt Nam. Tôi thiệt hết tin nổi việc này. Ai nấy đều muốn chết. Đây là một chiếc tàu to vô cùng, với người gác từ đầu tới đuôi, lại có mang súng. Chúng tôi thiệt giận mấy người tài công vì họ đã thảy trái sáng để thu hút sự chú ý của tàu này.

Đây là tàu đánh cá quốc doanh của chính phủ Việt Nam. Họ vừa xong một cuộc hải hành đánh cá, đang trên đường về Việt Nam. Qua chiếc loa phóng thanh, họ biểu chúng tôi tắt máy tàu chờ đó. Họ tới gần hơn, nói: “Rồi, mấy người đi trốn phải không?” Chúng tôi lại nói: “Phải”, chớ còn nói được gì nữa. Tôi nói: “Xin làm ơn cho chúng tôi đi, vì chỉ có năm chục người thôi. Chúng tôi có cả con nít nữa”. Họ nói: “Đưa tiền và vàng thì cho mấy người đi”. Chúng tôi nói với họ: “Nhưng mà vừa rồi, tụi tôi mới bị cướp xong”.

Thế rồi, một người kia thiệt lạ lùng vì ông ta có mang theo một mớ tiền Việt Nam. Không hiểu để làm chi? Chúng tôi bèn đưa hết số tiền Việt Nam của người này cho họ. Tiếp theo là vẫn còn vàng trên thuyền nên chúng tôi lại hùn nhau đưa cho họ. Họ không tin chỉ có thế cho nên họ đưa một đứa con trai nhỏ khoảng mười tuổi qua thuyền chúng tôi kiểm soát coi ai còn giấu vàng không.

Tôi mệt và say sóng nên cứ nằm đó. Nhẫn của tôi đã đi hết rồi nên tôi đưa chiếc lắc ra nói: “Nè, đưa cho họ để cho mình đi”. Còn tờ một trăm đô, tôi đưa cho anh ngồi bên cạnh giấu đi.

Tôi lại còn phải đóng kịch. Tôi nghĩ một ngày nào đây tôi sẽ trở thành lão luyện trong việc này, chỉ vì đã phải sống trong một nước Cộng sản. Đứa nhỏ đi sờ mó từng người để tìm vàng. Nó tiến đến gần tôi, nếu nó tìm, nó sẽ thấy sợi dây chuyền vàng mà tôi giấu. Vì thế, tôi giả bộ bịnh. Thiệt tình thì tôi cũng mệt nhưng không đến nỗi như thế nhưng tôi giả bộ thiệt là bịnh rất nặng. Mấy người trên thuyền nói giùm cho tôi là: “Thôi, để cho cổ nằm yên đi, cổ mệt, bịnh quá rồi”. Đứa bé trai đi đến gần tôi -cho đến lúc này thì tôi đã không ăn uống gì, chỉ vài giọt chanh cho đỡ khát, do đó, nhìn tôi cũng eo xèo lắm. Nó ngó tôi. Nó để tôi yên, không đụng đến. Nếu nó lục soát, nó sẽ tìm thấy sợi dây chuyền vàng này chắc mẽm.

Cuối cùng, họ cảm thấy thoả mãn. Họ nói: “Mấy người chỉ gặp có một chiếc tàu của tụi tôi. Vậy là hên lắm đó. Nếu mấy người đi về hướng Nam chút nữa là sẽ đụng mười sáu chiếc tàu trên đường về, mấy người không có đủ tiền hối lộ đâu, họ sẽ giải tất cả về. Chúng tôi chỉ một chiếc thôi nên chúng tôi để cho mấy người đi đó”. Và nhóm tài công dởm của chiếc thuyền chúng tôi thiệt là hết nói nổi, họ lại hỏi: “Mấy ông làm ơn chỉ giùm hướng đi Mã Lai?” Những người kia nói: “Mấy anh không biết đi hướng nào để tới Mã Lai?” Tụi tôi nói: “Dạ không”. Thấy vậy họ chỉ hướng đi bằng cách chỉnh hải bàn và họ cho chúng tôi hai con cá lớn để ăn.

Khi họ tách ra đi, họ kêu chào: “Goodbye” và nói: “Đừng có rầu là bị cướp hai lần. Vậy là hên lắm, chỉ có hai lần thôi đó”.

Bấy giờ, tôi chỉ có một ý nghĩ trong đầu là: Vì sao mà tôi lại kẹt trong tình trạng này? Như chưa đủ là tôi sợ muốn chết. Thêm nữa tôi đã phải trả vàng cho chuyến đi. Và bây giờ lòi ra việc nhóm tài công không biết gì cả. Bây giờ thì thiệt rõ ràng là những người lái thuyền không biết con khỉ gì cả về việc làm sao đi đến nơi.

Thiệt tình, đằng nào thì chiếc tàu kia đã chỉnh hải bàn cho cho chúng tôi, nên chúng tôi cũng theo hướng đó. Tôi nghĩ là bọn kia cũng được. Chỉ có một điều là họ cướp của chúng tôi, ngoài ra cũng không đến nỗi nào.

Chúng tôi hướng thuyền về lối họ chỉ. Khi ra đến biển sâu thì tôi không còn bị say sóng nữa. Tôi quen đi. Thêm nữa, tôi đã không ăn gì cả. Hiện giờ còn một giỏ xách nhỏ trong đó có một quần Jean, một áo thun, và vài bộ đồ lót. Tôi đã lạc mất cái nón lá và cả đôi giày. Đi chân không, tôi cũng không màng. Tôi chỉ muốn thoát khỏi Việt Nam lúc đó thôi. Cuối cùng cũng ra đến hải phận quốc tế. Như vậy nghiã là không còn phải sợ tàu bè Việt Nam nữa rồi. Chúng tôi tiến trên đường đi, đi về đâu ai biết, và đêm mùng 1 tháng Giêng tây, chúng tôi vào hải phận Mã Lai.

Có nhiều con cá mập chờn vờn xung quanh thuyền. Tôi lại nghĩ miên man: Với nhóm tài công này, mình chắc là chết thiệt. Tôi cảm thấy buồn rầu cho mẹ tôi đã phải tốn hao tiền bạc cho tôi nếu tôi chết. Tôi cũng không màng sự chết vì đã chọn con đường ra đi, nhưng nếu tôi chết ở biển, mẹ tôi sẽ không bao giờ biết. Ý nghĩ này cứ luẩn quẩn mãi trong đầu tôi.

Chúng tôi không thấy đất liền đã lâu rồi. Đã hết nước, hết thực phẩm. Tôi nhấp nước từ quả chanh ra. Tôi cũng không được ăn lâu rồi. Có nhiều chiếc tàu đi ngang chúng tôi, nhưng họ không đến cứu dầu cho chúng tôi đã hết sức cố gắng kêu họ. Chiều đó, khoảng sáu giờ, chúng tôi kêu được sự chú ý của một chiếc tàu. Nó hướng về chúng tôi, ông thử đoán xem là kỳ này ngoắc được tàu gì? Cướp Thái Lan! Ông có thể tưởng tượng nổi không? Nhóm tài công dởm lại thành công lần này trong việc kêu cứu dởm.

Lúc ấy tôi không còn say sóng nữa và đang ở trên boong thuyền thở gió biển. Nhìn chiếc tàu tiến về phía chúng tôi, thấy họ đeo dao và súng, tôi nghĩ ngay đây là bọn cướp biển.

Chúng ra lệnh chúng tôi phải cập sát thuyền vào tàu chúng, chúng thảy dây thừng qua thuyền chúng tôi để quân bằng nó. Chúng bắt chúng tôi nhảy từ thuyền qua tàu. Đêm đó, biển lại động. Sóng thật cao, hai chiếc tàu và thuyền đánh vào nhau và bị đưa ra. Ba người bên chúng nhảy qua thuyền lùa chúng tôi nhảy qua tàu họ. Một trong ba tên còn trẻ khoảng mười bảy tuổi nhìn tôi cười. Hắn kéo tôi lại. Tôi quá sợ hãi.

Thật ra chúng tôi chưa nghĩ là sẽ bị cướp. Chúng không có hành động gì khả nghi. Chúng tôi nghĩ chắc là chúng sẽ cứu mình. Chúng tôi bèn nhảy qua tàu. Không hiểu vì sao tôi cứ luôn tâm cầu nguyện, do đó tôi thật tình không hiểu là tên này nhìn tôi cười và đang rán trì tôi lại. Tôi quá lo. Lúc đó tôi mười chín tuổi, tôi rất là ngây thơ.

Lúc đó ai cũng nhảy qua tàu nên tôi cũng nhảy. Tôi nhảy trúng một vật gì, ngón chân cái bật máu. Tôi không cảm thấy đau, chỉ thấy vết cắt sâu. Cái giỏ nhỏ đựng quần áo, tôi đã thảy qua tàu họ trước. Một cô gái nhảy qua tàu bị hụt, rơi xuống biển. Hai chiếc tàu và thuyên lại bị sóng tạt gần nhau. Nếu không kéo cô lên kịp thì chắc sẽ bị nghiền nát. Chúng tôi kéo được cô ấy lên, còn tôi không hiểu sao lúc đó có thể nhảy xa đến thế. Không có cách gì tính toán được. Chỉ hên xui may rủi thôi. Tôi thấy cô ấy hụt, rơi xuống nước, tôi la lên “Trời ơi”. Bấy giờ đêm đã xuống, chỉ có ánh sáng duy nhất toả ra từ chiếc tàu lớn. Nhưng chúng tôi kéo cô ta lên kịp, cô ấy ướt như chuột lột.

Không phải ai trong chúng tôi cũng may mắn như thế. Một người đàn ông trong nhóm lại nhảy thì hai chiếc tàu và thuyền tách ra, anh rớt xuống biển. Hai chiếc thuyền và tàu ập vào nhau mau quá, chúng tôi không làm sao vớt anh ấy lên được, anh ấy bị ép mà chết. Chúng tôi buồn bực quá.

Bọn Thái bắt chúng tôi xếp hàng, ngồi xuống vùng mũi tàu. Sau đó bắt đầu cướp bóc. Chúng đi chung quanh rờ mó áo quần, tìm kiếm tiền và vàng. Ba tên trong bọn chúng còn ở trên thuyền chúng tôi. Một cô gái nhỏ còn kẹt ở trên thuyền vì quá mệt. Cô ấy nằm trong khoang thuyền, chúng đã hãm hiếp cô bé ấy. Cả ba tên. Chiếc thuyền bị sóng đưa đẩy khi gần khi xa, chúng tôi vẫn nghe tiếng sóng vỗ, tiếng thuyền rên rỉ, tiếng cô bé khóc, kêu gọi cầu cứu. Chúng tôi không thể làm gì được. Chúng tôi khóc cho cô bé đó và cho cả bản thân mình.

Trên tàu cũng có đàn bà con gái, chúng vẫn có thể hãm hiếp tôi bất cứ lúc nào. Thật kinh khủng. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi chứng kiến những hành động như vậy. Tôi ngồi gần vài người trai trẻ. Họ bàn tán việc phản công. Tôi nói: “Tính vậy không xong. Mình không có súng ống gì cả. Mình sẽ bị giết sạch nếu chống cự lại. Tụi nó có ba người dưới thuyền, năm đứa ở đây nhưng lại không biết còn bao nhiêu đứa dưới khoang tàu. Đừng hành động gì”.

Chúng tôi đưa tất cả cho chúng những gì chúng tôi có. Bọn này là ngư phủ biến thành cướp biển nên chúng cho chúng tôi ăn. Ở trên tàu, chúng cho chúng tôi cơm, cá khô và cả dầu nóng trong khi ba tên đi cưỡng dâm cô gái trên thuyền. Bọn dã man, hành động man ri mọi rợ. Bọn chúng để mình trần, hôi hám, dơ dáy và rất nhẫn tâm.

Tôi tự nghĩ: “Thế là hết. Không hiểu việc gì sẽ xảy ra, nhưng nếu nó mà đụng mình, mình sẽ tự vận cho xong”. Tôi thật sợ nhưng lại bình tĩnh. Nếu bọn chúng tính việc hãm hiếp tôi, tôi sẽ nhảy xuống biển tự tử. Tôi đã quyết định thế.

Bất thình lình nhìn xuống, thấy bên chân phải chảy máu. Tôi không cảm thấy đau. Bình thường thì tôi biết đau. Nhưng khi đó tôi đang trong tình trạng kinh sợ, lo sự sống còn nên không cảm giác được cái đau nữa. Tôi ngó xuống, ngón chân cái đang chảy máu. Có một cái bóp nhỏ tôi vẫn giữ bên mình. Mẹ tôi có để vài viên thuốc trụ sinh cho tôi đem theo phòng xa lúc đến trại tỵ nạn. Tôi đã giữ cái bóp nhỏ này và tôi nghĩ những viên thuốc trụ sinh đó đã giúp cho tôi sống còn.

Sau khi đã xong việc cướp bóc chúng tôi và hãm hiếp cô gái ấy, bọn chúng lùa chúng tôi về thuyền trở lại. Chúng lại bắt chúng tôi nhảy tàu nữa. Chúng phá thuyền, đục lỗ, đập đồ, lấy hải bàn, bản đồ, đèn pin, hầu như tất cả. Chúng tôi thì vẫn cảm thấy mừng được trở về thuyền vì có nghĩa là sẽ không bị họ giết ngay lúc đó.

Khi chúng tôi về thuyền thì nước trào vào, thuyền muốn chìm. Đêm tối, trời mưa, biển động. Chúng nó để chúng tôi tự chết đi.

Trên thuyền có nhiều cây tre dài và to. Chúng tôi tìm kiếm người rơi xuống biển lúc đầu. Có lẽ khoảng cả một tiếng đồng hồ, nhưng đối với tôi thì dài như thiên thu. Chúng tôi gọi tên anh ấy và bỏ những cây tre này xuống biển để không chừng anh ấy cần dùng. Trong đáy lòng, chúng tôi đều biết anh đã chết, nhưng chúng tôi vẫn cố gọi tên anh ấy và thả những cây tre này vì nó nổi để lỡ khi anh ấy có trồi lên được thì có phao mà nương tựa.

Thuyền thì cứ tiếp tục vô nước cho nên chúng tôi chia làm hai bên để đứng cho cân bằng thuyền lại. Nghĩ cũng lạ vì lúc đó ai nấy đều kinh hãi mà vẫn có sự sáng suốt để làm như vậy. Đúng là bản năng sinh tồn của con người thật tuyệt diệu. Thuyền nghiêng một bên và nước vô, thì một người nói: “Quân bình lại”, tức thì chúng tôi chia nhau chạy ra hai bên vách thuyên cho đều. Đàn ông thì tát nước. Hên cho chúng tôi, bọn cướp không lấy đồ trám lỗ hổng nên nhóm tài công ít nhất cũng có được một lần làm việc giỏi khi tìm ra những vật liệu này.

Sau khi xong việc tạt nước, lại không có đèn. Một người dùng diêm quẹt soi tìm xem mấy cái lỗ hổng bọn cướp đục ở đâu. Chúng tôi làm thiệt lẹ, phối hợp rất mau mắn. Không tưởng tượng nổi. Cho tới ngày hôm nay, tôi vẫn không thể tin nổi những việc chúng tôi làm đêm hôm đó.

Chúng tôi vẫn còn sống nhưng vẫn chưa thấy đất liền. Chúng tôi cũng không biết mình ở đâu? Hải phận Thái Lan hay Mã Lai? Chúng tôi bảo nhau đến khi trời sáng mà không gặp đất liền thì có lẽ sẽ phải chết vì không nước uống hay thực phẩm. Phần chiếc thuyền đã bắt đầu bục nát lắm. Nó không có chống chỏi được lâu hơn. Chắc sẽ tan rã, tất cả cũng sẽ chết. Trời thì mưa, chúng tôi lạc giữa biển mà lại không có người lèo lái. Người hải quân duy nhất biết đường đi thì đã chết rồi – anh chính là người rớt xuống biển mà chết. Nhóm tài công nói: “Tụi tui cũng không biết đi đâu bây giờ. Làm sao đi?” Trời ơi, tôi nghĩ là tôi đã chết tiếp mười lần hơn nữa rồi.

Cuối cùng, ai nấy đều mệt mỏi và đều nói thôi mặc, thuyền cứ trôi, chúng tôi đành chờ chết. Máy thuyền thì đã hư luôn vì nước vô. Hên là biển không có bão, chỉ mưa lớn.

Chúng tôi cứ để thuyền trôi đi theo các hướng chung chung mà mấy người hải quân đã chỉ. Còn tài công bây giờ chỉ đoán chừng. Thuyền chúng tôi cứ trôi trong đêm, suốt đêm, cái đêm đó dài vô tận trong đời tôi. Tôi không ngủ.

Ông có bao giờ cảm thấy đêm sao mà thật là dài, mình thì quá sợ hãi và quá cô thân, cho đến nỗi cái ước ao duy nhất là chỉ muốn thấy chút ánh sáng hay không? Ánh sáng gì cũng được? Bóng tối bao trùm thật nghẹt thở. Đêm đó tôi thật nóng lòng muốn được nhìn thấy một tia sáng. Tôi nói: “Xin để cho tôi được chết trong ánh sáng mặt trời cũng được!”

Và cuối cùng, buổi sáng cũng đến.

Được nhìn thấy mặt trời mọc quả là một cảm giác ấm cúng vô cùng.

Sau hết, chúng tôi nhìn thấy một cái gì xám xám nơi phía xa – đất. Chỉ là một vùng núi non, nhưng chúng tôi đã ở biển năm ngày rồi. Một hòn đảo? Thì có sao? Nhóm tài công cuối cùng đã sửa cho máy nổ được. Máy chạy như đã chết một nửa, nhưng vẫn chạy được.

Có hai tàu Hải quân Mã Lai nơi đó, họ đang nhìn chúng tôi. Chúng tôi cảm thấy dễ thở vì chúng tôi sẽ được cứu. Đúng lúc quá vì chúng tôi đã hết đồ ăn nước uống. Ai cũng cười. Tôi nói: “Nằm xuống. Mình phải làm ra vẻ bệnh hoạn khốn khổ để họ giúp. Mình không thể có vẻ vui tươi được. Vậy ai mà chịu giúp mình”.

Hải quân Mã Lai thấy chúng tôi. Họ bảo là dừng xa tàu của họ, họ sẽ cho người qua. Họ nói là đừng đến gần. Một người của họ qua xem xét chúng tôi. Tôi là người chịu đứng ra nói chuyện. Tôi biết tiếng Anh, tiếp theo đó là một anh cũng biết chút Anh văn. Tôi kể cho họ nghe mọi việc đã xảy ra cho chiếc thuyền của chúng tôi, bị cướp bóc, bây giờ thì hết nước uống, trên thuyền có trẻ nhỏ mà không có thức ăn, thêm nữa máy tàu không chạy được. Chúng tôi yêu cầu họ giúp đỡ. Người đó về tàu nói chuyện với ông chỉ huy. Tôi được mời qua tàu họ và đi cùng với anh biết chút tiếng Anh kia. Tôi đến gặp ông Thuyền trưởng, giải thích cho ông ấy rõ ràng những gì đã xảy ra. Ông này từng đến Saigon. Ông ấy hỏi tôi về những chốn như khách sạn Caravelle, vài chỗ có tiếng tăm. Tôi nói với ông ấy rằng tôi biết vì tôi là người ở Saigon. Họ đang kiểm tra tôi, tôi nghĩ vậy.

Khi tôi ở trên tàu thì Hải quân bắt đầu cho mấy người trên thuyền ăn. Tôi đi chân đất và đã không tắm từ hôm 27, tôi cũng không có dịp để chải tóc. Tôi dòm thiệt bê bối. Tôi cũng có sự tự ái, bởi vì là con gái, do đó sau khi nói chuyện với ông thuyền trưởng xong, tôi xin đến nhà tắm.

Tôi nhìn thấy tôi trong gương, trông mình giống như người ngủ đường. Tôi nói: “Trời ơi! Tôi đây sao?” Hình dáng tôi quả đã biến thành một người đầu đường xó chợ.

Ông thuyền trưởng muốn chúng tôi tiến về hướng Singapore bởi vì Mã Lai đã tuyên bố không nhận thêm người tỵ nạn, như vậy có nghiã là họ sẽ cho thuyền ra khơi, thả chúng tôi trôi nổi, chúng tôi có thể sẽ chết. Họ không thể đem chúng tôi đến trại tỵ nạn. Ông ấy cố gắng giải thích cho tôi nỗi khó khăn của ông vì ông ấy có lệnh phải thi hành. Tôi tiếp tục van cầu ông ấy.

Tôi nhớ rõ những gì tôi đã nói với ông ấy: “Đây là một chiếc thuyền nhỏ. Chúng tôi có tất cả năm mươi người. Một người đã chết, chúng tôi có trẻ nhỏ. Máy tàu đã hư. Chúng tôi không thể đi đến Singapore được. Đi được thì tôi cũng đi. Nhưng mà chúng tôi không thể làm được. Xin hãy giúp chúng tôi.”

Ông ấy nói để ông ấy suy nghĩ lại. Trong lúc này thì, trước khi tôi về thuyền trở lại, vì đây là ngày Tết Tây 1/1, ông ấy cho tôi một phong bánh ngọt, nói phần này là của tôi mà thôi. Rồi ông ấy cho tôi thêm trái cây, các món ăn vặt khác, chỉ cho mình tôi. Mọi người trên thuyền đã được uống đầy đủ, và tôi cũng được ăn khi về thuyền. Những món ông ấy cho là của riêng tôi. Như là một giấc mơ, thật bất ngờ.

Giờ đây là buổi trưa, họ để chúng tôi nghỉ ngơi một chút. Chiều đến, họ đưa dây thừng qua thuyền chúng tôi, kéo chúng tôi ra biển trở lại, bởi vì họ không thể nhận chúng tôi. Ông thuyền trưởng đã quyết như thế và tôi thì không biết nói sao hơn nữa.

Họ kéo chúng tôi đến một hoang đảo. Họ ngừng tàu lại. Đêm đã xuống, biển lại động, chúng tôi ở hoàn cảnh giống như con voi và con chuột, con voi kéo con chuột. Tàu họ thật to, thuyền chúng tôi thì quá mỏng manh. Họ và chúng tôi dừng lại hòn đảo hoang. Họ nói đàn bà con nít được lên trên tàu, còn đàn ông con trai ở lại thuyền. Ông thuyền trưởng xuất hiện, chúng tôi lại nói chuyện chút ít nữa. Họ lại cho đồ ăn, và chúng tôi ngủ trên boong tàu.

Đêm đó chúng tôi lo lắng không hiểu việc gì sẽ xảy ra. Ông thuyền trưởng thì tốt, nhưng thủy thủ đoàn thì sao? Một người trong thủy thủ đoàn đã say, đòi một người đàn bà đi ngủ với y. Hắn làm ồn lên, cuối cùng những thủy thủ khác đến kéo y đi.

Buổi sáng, ông thuyền trưởng lại ra, nói rằng ông ấy đã nói chuyện với tổng hành dinh, chúng tôi sẽ được họ đưa đến một trại tỵ nạn.

Bây giờ thì đàn ông đàn bà gì cũng đều lên tàu, họ kéo chiếc thuyền đến trại Pulau Bidong.

Tôi nói ông nghe, tôi thật mừng rỡ vì đã ở ngoài biển một thời gian khá lâu. Khi chúng tôi đến được đảo với ngôi trại tỵ nạn thì lúc ấy khoảng mười hai giờ trưa, bãi cát mênh mông đầy những người. Đông quá sức cho đến nỗi tôi không tin ở mắt mình. Tôi không hiểu đây sẽ là điều tốt hay không tốt. Tôi chưa từng biết trại tỵ nạn ra sao. Nhưng hiện giờ chúng tôi đã bằng an.

Tôi là người nói chuyện tía lia trên tàu, nói nhiều quá, và họ nói với tôi rằng: “Cô sẽ được rời trại tỵ nạn sớm lắm đó vì cô biết tiếng Anh”. Tôi nhớ điều họ nói. Lúc đó thì tôi đâu cần biết là biết tiếng Anh có lợi. Tại sao biết tiếng Anh thì sẽ giúp cho tôi?

Trước khi họ từ biệt chúng tôi, chúng tôi hát cho họ nghe. Chúng tôi đứng trên boong tàu ca một bản nhạc Việt Nam cho họ nghe. Đây là cách báo đáp duy nhất lúc này. Chúng tôi chỉ còn có cách này thôi, một bài ca. Đây là bài ca quen thuộc cho tất cả những người Việt Nam nên ai trong chúng tôi cũng biết. Đó là bài ca của một nước Việt Nam tự do. Một bài ca hào hùng.

Rồi họ chào từ biệt, chúng tôi cũng chào họ và cảm ơn họ giúp đỡ.

Họ cho chúng tôi xuống thuyền nhỏ bởi tàu không thể vào sâu được với san hô đầy rẫy trong đó. Lúc ấy thì tôi dính da chỉ còn có một cái quần đen và một áo sơ mi. Áo quần không còn gì hơn. Túi xách kia đã mất theo bọn cướp biển.

Những người tỵ nạn đến trước có thói quen xuống bãi mỗi khi có người đến để tìm kiếm người thân. Tôi lội nước vào bờ, đụng phải san hô rất bén. Chúng tôi cũng không có giày dép gì cả. Chiếc thuyền chúng tôi được kéo đến gần bờ, đưa lên bãi để đập nát bởi vì họ không muốn chúng tôi có thuyền để đi trong biển Mã Lai. Họ muốn cô lập chúng tôi nơi hòn đảo này.

Tôi lội nước vào bờ. Một biển người chờ đợi. Nom thật là khổ sở. Tôi đứng trên bãi không biết việc gì và đang tìm hiểu việc gì xảy ra nơi đây. Trong biển người này có một em trai kế tôi đã ra đi từ trước. Nó cũng xuống bãi để xem coi có ai quen biết. Nó đứng đó, mặc độc một cái quần xà lỏn. Và tôi cũng không hơn gì.

Nơi hải đảo này có khoảng 46,000 người tỵ nạn. Rất ít nước và đồ ăn. Đời sống rất khó khăn, tôi thì bận rộn đi làm suốt ngày. Tôi không có quần áo khác để thay đổi. Người ta sống như súc vật không có vệ sinh, không có nhà cầu. Phải đào hố để làm cầu. Những chỗ đi cầu kinh tởm hết nói nổi.

Người Mã Lai thì tìm cách ngăn người tỵ nạn cập bến. Họ kéo thuyền tỵ nạn ra khơi. Thuyền tỵ nạn chìm, người ta chết đuối. Buổi sáng đến chúng tôi xuống bãi cát thì thấy thây người, đàn ông, đàn bà, con nít. Toàn là người Việt Nam. Chúng tôi chôn cất họ. Họ là những người bất hạnh.

Tôi vì thiếu dinh dưỡng nên bị bệnh thũng. Mặt tôi bủng ra. Tôi ở trại này 3 tháng rưỡi. Chính nơi đây tôi hiểu về con người và hành động con người trong cảnh tuyệt cùng. Họ có thể giết người vì thức ăn hay chút tiền. Bạn bè trở thành kẻ thù trong phút chốc. Tôi ưa khóc và không ngủ được. Tôi ngủ hai hoặc ba tiếng mỗi đêm. Tôi thường ngồi nhìn trời vào lúc ban khuya. Tôi thấy tội nghiệp cho tôi, cho tất cả, cho mọi người.

Tất cả sức lực tôi dồn vào việc cố sống và cố thoát khỏi nơi này. Tôi không cần biết là sẽ đi đến đâu, tôi chỉ muốn đi khỏi khu trại tỵ nạn này. Tôi cần phải sống.

Đài truyền hình CBS có đến đảo quay cảnh ở đây. Tôi nghĩ Ed Bradley có đến đảo. Và ông có biết việc gì xảy ra sau khi cảnh sống được quay phim? Tôi nghĩ là chính phủ Mã Lai đã bị chỉ trích về những việc diễn ra trên đảo. Nhờ nhóm truyền hình này, phần ăn chúng tôi khá hơn. Họ cho thế giới biết trại tỵ nạn như thế nào, việc gì xảy ra cho người tỵ nạn. Chúng tôi có đủ đồ ăn sau việc này. Đồ ăn đến trong từng bịch: gạo, trà, đồ ăn của Liên Hiệp Quốc. Cầu Trời phù hộ cho Liên Hiệp Quốc. Mỗi người có một bao khẩu phần mỗi ba ngày. Đồ ăn đến nhanh hơn sức chúng tôi có thể tiêu thụ bởi vì chúng tôi đã quen đói khát lâu rồi.

Em trai tôi và tôi có người bảo trợ, được chấp thuận cho đi Mỹ. Chúng tôi được ấn định ra đi ngày 19 tháng Tư. Rốt cuộc thì tôi cũng lên đường ra đi. Tôi không biết mình sẽ đi đâu. Chỉ biết sẽ qua đến Mỹ, nhưng không biết nơi nào ở Mỹ. Khi tôi ở trại chuyển tiếp, tôi được báo cho biết là tôi sẽ đến Iowa. Tôi không biết Iowa ở đâu. Họ lấy bản đồ ra, chỉ cho tôi một chỗ và nói: “Đây là Iowa, miền Trung Tây”. Tôi thực sự không lãnh hội được, nhưng tôi nói: “Được, Iowa cũng tốt lắm”.

Tôi được bảo trợ bởi một nhà thờ. Tôi đến Des Moines với khoảng ba trăm người Việt khác. Thống Đốc tiểu bang đến đón mừng chúng tôi. Sau đó họ sắp xếp theo thứ tự, đưa chúng tôi đến những chỗ mà chúng tôi sẽ về. Họ chở chúng tôi đến nhà mới của chúng tôi. Họ chở chúng tôi đi xuyên qua Iowa. Tôi nhớ đi vào một tỉnh nhỏ ngày Chủ Nhật, buổi chiều, không có một bóng người trên đường phố. Thật là đẹp. Nhưng lạnh và xám xịt. Tôi tự hỏi là chúng tôi đi đâu và tại sao ở Iowa không có một bóng người.

Họ đưa tôi vào căn chung cư đêm đó. Tôi không ngủ được. Tôi bị nhiều cơn ác mộng. Mỗi khi có tiếng động bên ngoài là tôi kinh sợ.

Tiếng động làm tôi sợ. Tôi nhớ đến tiếng máy tàu của bọn hải tặc Thái ở biển, lập tức tôi thức giấc, toàn thân bất động, sợ hãi toát mồ hôi. Việc này diễn ra gần ba tháng mới dứt.

Bây giờ đến lúc kết cuộc vui vẻ đây. Cô gái bị hãm hiếp đã định cư ở Canada. Cô ấy đã lập gia đình và có hạnh phúc. Cô ấy là một người rất dễ thương. Tôi rất vui là mọi sự trở nên tốt đẹp.

Em trai tôi tốt nghiệp Đại học, hiện làm kỹ sư. Tôi cũng đã ra Đại học, có bằng Cao học về công tác xã hội ở California. Tôi trở về làm việc tại trại Palau Bidong với người tỵ nạn sau khi ra trường.

Nhìn lại mọi việc như một giấc mơ. Bởi vậy, tôi phải trở về làm việc tại trại tỵ nạn. Đây không những chỉ là giúp đỡ người tỵ nạn mà còn là mang cho họ một niềm hy vọng tương lai khi đi định cư ở một xứ sở tự do.Ngoài ra, tôi cũng phải trở về trại tỵ nạn để tự xoa dịu tâm hồn mình. Tôi đã sống như một người đã chết. Tôi đã sống mà không có cảm giác. Sau khi đã sống còn, tôi cần phải tìm sự bình an tinh thần. Giúp người đi qua đoạn đường mà tôi đã bước qua chính là phương cách đáp ứng nhu cầu bình an tinh thần ấy.

Vì thế, bây giờ tôi không phải chỉ là một con người đã sống sót. Tôi là một con người đang sống.

( TRẦN THỊ MỸ NGỌC )

Advertisements

One thought on “NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, “Hãy để tôi chết trong ánh mặt trời”

  1. Bơ vơ cô độc vượt biển!Vượt biên giới để đi tìm Tự do!-Thiên đường Xứ sở Ước mơ!?-Chưa thấy đâu chỉ thấy Lo với Sợ!Biển không Sợ-Sợ người ta!Sợ đêm tối -Sợ lòng dạ Ác tâm!Sợ người thú tính tàn nhẫn!Sợ chết nhục nhã tối tăm cuộc đời!Vàng quí còn chút bên người…Ráng giấu giữ kỹ may rủi cầu Trời!-Hành trình mất mát thiệt thòi! An ủi- Tiếng Nói cho người sống còn!?Và nghĩ lạ xưa nay cuộc Sống”Tội Ác gây ra thường là Đàn Ông?”Có phải vì” Dục Tính ở Nam luôn Mạnh hơn Nữ?”Cho nên mới thế!?

Comment

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s