NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, “Chắc chúng tôi bỏ mạng nơi đây”

nuocmattruocconmua

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before The Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

NGUYỄN THỊ LẠC
(Thương gia)
“Chắc chúng tôi bỏ mạng nơi đây”

Tôi chào đời ở Đà Lạt, lớn lên ở Huế và Đà Nẵng. Tôi học trung học tại thành phố Đà Nẵng. Sau nhờ cha mẹ tôi giúp cho chút ít vốn liếng, tôi mở một gian hàng buôn bán nhỏ ở Nha Trang, một tiệm bán đồ kỷ niệm. Nhờ buôn bán khá, tôi mở thêm một tiệm nữa ở Saigon. Khách hàng đa số là người Mỹ.

Khi Mỹ rút khỏi Việt Nam năm 1973, nhiều người Mỹ đã bảo tôi rằng Nam Việt Nam chẳng thể nào sống sót nổi. Họ nói công chúng Mỹ đã chán ngán chuyện Việt Nam lắm rồi. Không có Mỹ trợ giúp, Việt Nam tất sẽ bị đánh bại thôi. Tại Nha Trang và Saigon bấy giờ cũng có nhiều dư luận cho rằng trong khi Mỹ và Cộng sản thương thảo tại Ba Lê, hai bên đã có những thoả thuận ngầm. Dư luận bảo Mỹ sẽ rút, Cộng sản sẽ chiếm cả miền Nam, chẳng ai sẽ chặn chúng lại được nữa. Dư luận bảo chỉ trong vài tháng miền Nam sẽ bị chiếm. Những dư luận ấy được chứng tỏ là đúng.

Ngay sau khi Hiệp định Ba Lê ký kết, tôi về thăm cha mẹ tôi và nói rằng: “Quốc gia sẽ thua. Mỹ đã bán đất nước này cho Cộng sản rồi. Bây giờ người mình chẳng còn cơ may nào. Việt Nam sẽ chẳng còn nữa đâu”. Tôi nói với cha mẹ tôi nếu không muốn sống dưới chế độ Cộng sản thì tốt hơn hết phải tìm cách ra khỏi nước. Đầu năm 1975, tôi cũng có nghe những chuyện về ong và sâu rầy. Nhưng không phải ai cũng tin những chuyện ấy. Dân quê có khuynh hướng tin mấy chuyện này hơn là dân thành thị. Ớ thành phố, chúng tôi thường không tin dị đoan như thế.

Khi người tỵ nạn từ cao nguyên đổ xuống và từ phía Bắc chạy vào, tình hình Nha Trang hết sức tệ hại. Lính tráng mất kiểm soát. Họ thẳng tay giết người không lý do. Họ dùng súng cướp bóc dân lành. Hãm hiếp các em gái. Họ làm mọi người kinh sợ, không ai ngăn chặn họ được.

Tôi muốn cha mẹ tôi rời Nha Trang vào Saigon, nhưng cha mẹ tôi không chịu. Nha Trang là quê cha mẹ tôi. Tôi cũng muốn đứa em gái tôi ở Đà Lạt vào Saigon cho an toàn, nhưng em tôi không muốn rời xa người bạn trai ở Đà Lạt. Em tôi bây giờ vẫn còn ở đấy.

Nha Trang rơi vào tay Cộng Sản. Người tỵ nạn chạy túa vào Saigon. Tôi biết chúng tôi đã lâm tình thế ngặt nghèo. Những người tỵ nạn vào bảo Cộng sản sẽ giết những ai làm ăn buôn bán với Mỹ. Họ nói Cộng sản có sẵn một danh sách những người chúng muốn xử tử. Vì tôi buôn bán với Mỹ, tôi đâm lo. Tôi nghĩ có thể tôi đã có tên trong danh sách ấy. Nếu chúng vào đến Saigon, chắc chúng giết. Tôi phải đi thôi.

Tôi cố xoay sở, bán tiệm. Nhưng không ai mua. Tiền nong vốn liếng đều kẹt cả trong cửa tiệm và căn nhà. Nhưng ngay đến lúc ấy, nhiều người ở Saigon vẫn không tin Cộng sản sẽ vào thành phố. Người ta bảo “Chuyện này sẽ qua, Cộng sản sẽ thua, nếu ngặt nghèo quá, Mỹ lại nhảy vào”. Nhưng cũng có người bảo: “Điên vừa thôi, Cộng sản đang thắng, ta thua đến nơi rồi”. Những người này đều tìm mọi cách ra khỏi nước.
Tuy nhiên, muốn ra khỏi nước cũng chẳng phải dễ. Người Mỹ, người ngoại quốc còn có thể đưa gia đình đi, người Việt làm sao? Ít nhất cũng phải có bạn Mỹ. Có người bảo trợ. Phải kiếm ra một người như thế…. Nên khi đến Tòa Đại sứ Mỹ thăm hỏi thủ tục xin đi, người ta chỉ trả lời tôi gọn lỏn: “Chẳng cách gì!”

Nhưng tôi vẫn cố chạy. Tôi thăm hỏi đầu này đầu nọ. Nghe nói có một người Mỹ dân sự làm ở Tòa Đại sứ, người này có vợ Việt, họ có đường dây đưa người đi. Nhưng cũng nghe nói họ đòi giá rất cao. Tiền nong chẳng có nhiều, nhưng tôi thầm nghĩ: Tại sao không thử. Biết đâu họ đưa đi được?

Thế rồi một bà Việt Nam làm việc với người Mỹ ấy cùng đi với vợ ông ta đến gặp tôi. Bà ta bảo có bao nhiêu tiền nong thì phải đưa hết mới đi được. Tôi nói tôi không có nhiều lắm đâu. Bà ta bảo cô phải biết những nhân vật cao cấp trong quân đội đã trả đến ba chục ngàn đô để ra đi. Có tiền mới đi được. Không tiền, đừng hòng đi nổi.

Tôi chạy vạy được một số tiền để thu xếp đến gặp người Mỹ nọ. Tôi nhờ một người bạn lái xe đến điểm hẹn, nơi người Mỹ đặt đường dây đưa người đi. Đó là một cao ốc ở đường Hai Bà Trưng. Tôi bước vào, đi thẳng lên lầu bốn, ngoài cửa chẳng có bảng đề cơ quan gì, nhưng chung quanh có lính Mỹ mặc đồng phục đứng canh. Khi lên lầu bốn, đã thấy rất đông người có mặt. Tôi chờ trong hành lang cùng với những người khác. Đợi rất lâu. Trong cái phòng trên căn lầu bốn ấy có một người đàn bà đang phỏng vấn từng người. Đợi mãi, cuối cùng mới đến lượt họ gọi tôi vào.

Trong phòng có một người đàn bà và một người đàn ông. Họ hỏi: “Bao nhiêu tất cả?” Tôi đưa hết ra. Tất cả nữ trang, tiền nong tôi có. Họ bảo: “Bấy nhiêu sao đủ?” Tôi hỏi: “Vậy ông bà đòi bao nhiêu?” “Mười ngàn đô. Không đủ cứ việc ở lại. Cộng sản nó chiếm đến đây phiền phức rán chịu. Biết đâu Cộng sản chẳng sơi luôn cái mạng của cô!” Tôi bảo tôi đâu còn có tiền nong gì nữa. Tôi khẩn khoản xin họ cho tôi đi. Họ bảo ra ngoài hành lang ngồi đợi.

Thế rồi họ cũng cho tôi đi. Họ bảo cứ chờ trong hành lang với những người khác. Lát sau họ đưa chúng tôi xuống dưới phòng khách. Đợi một lúc nữa, có xe đến đón. Một người Mỹ lái nhưng hắn không mở miệng nói câu nào. Họ bảo vào xe. Bấy giờ tôi chỉ mang theo có mỗi cái va ly, nhưng vội vã chạy vào xe, đã bỏ quên cái va li tại phòng khách. Vậy là tôi hoàn toàn trần trụi. Chẳng còn gì ngoài hai mảnh quần áo che thân.
Người Mỹ lái xe đưa chúng tôi đến một cao ốc khác, cũng ở trên đường Hai Bà Trưng. Họ đưa chúng tôi vào, dắt lên từng hai, đến một căn phòng trống. Họ bảo chúng tôi im lặng đợi.

Suốt đêm, chúng tôi ở trong căn phòng, lăn ra sàn mà ngủ. Ai cũng bồn chồn, lo lắng. Chẳng ai nói với ai một câu. Họ cảnh cáo không cho chúng tôi nói chuyện. Không ai biết chắc mình đang ở đâu, rồi đến nơi nào. Cho đến sáng, chúng tôi mới dám mở miệng nói với nhau, đùa bỡn chút đỉnh. Đã mười hai tiếng đồng hồ không hề có miếng cơm, miếng nước, ai nấy đói lả.

Cuối cùng, một người đàn ông đề nghị để anh ra ngoài kiếm ít đồ ăn cho mọi người. “Tui đi kiếm ít ổ bánh mì với vài ly cà phê cho bà con”. Anh ta nói. Tôi bảo: “Ông ơi đừng đi. Không chừng quay lại chẳng kịp đâu”. Những người khác cũng bảo: “Đừng đi”. Anh ta bảo: “Tại sao lại đừng đi? Tui biết người Mỹ chớ. Họ tốt lắm đó. Tui đi vài phút thôi, họ sẽ đợi mà”.

Thế là anh ta đi kiếm bánh mì, cà phê. Một người đàn ông hiền lành, tốt bụng. Anh đi mua đồ ăn thức uống cho tất cả mọi người. “Một bữa ăn cuối cùng ở Việt Nam”, anh ấy nói. Vài phút sau khi anh ta đi, mấy người Mỹ đến. Họ bảo chúng tôi tới giờ rồi. Chúng tôi bảo làm ơn chờ cho một người nữa. Họ bảo không được. Thế là chúng tôi phải đi. Khi người đàn ông trở lại, chúng tôi đã đi cả.

Mấy người Mỹ bảo bây giờ họ sẽ lái xe đưa chúng tôi đến phi trường. Chúng tôi dùng thang máy xuống hầm đậu xe. Cửa thang máy mở, chúng tôi thấy để sẵn một cái xe thùng bít bùng. Không cửa sổ. Hệt cái xe chở bánh. Chúng tôi vào cả trong xe. Họ lái chúng tôi lên Tân Sơn Nhất. Bấy giờ mọi người mới bắt đầu cảm thấy âm thầm buồn bã về chuyện rời bỏ quê hương đất nước ra đi. Vài người gạt nước mắt.

Chúng tôi đến phi trường gần trưa. Ra khỏi xe, họ chỉ dẫn cho chúng tôi đến một khu doanh trại lớn. Trong những căn trại này chúng tôi thấy đã có nhiều người chờ. Họ chờ đợi trong những căn trại khác nhau. Mỗi khi có một chuyến bay tới bốc người đi xong, tất cả những người ở căn trại dưới được chuyển lên căn trại kế. Khi chúng tôi đến, họ cho chúng tôi vào một căn ở xa chỗ máy bay nhất.

Tôi bước ra ngoài. Bên ngoài căn trại tôi chợt thấy một người Mỹ. Ông ta là một người bạn quen biết, tên là ông Albertson thì phải. Ông ấy mừng rỡ trông thấy tôi. Ông ta hỏi: “Cô làm gì ở đây”. Tôi bảo: “Tôi sắp đi khỏi nước, tôi đang chờ máy bay cùng với nhiều người ở căn trại kia”. Ông ta bảo: “Những người ấy sẽ không bao giờ đi được đâu. Đã trễ lắm rồi”. Nghe thế tôi choáng váng. Tôi bảo ông Albertson tôi sợ lắm, tôi sợ Cộng sản giết. Rồi tôi bắt đầu khóc. Ông ta nói: “Đừng lo, tôi sẽ giúp cô đi”. Ông ta dắt tôi lên căn trại đầu tiên, ở trên cùng. Ông chỉ cho tôi một chiếc máy bay lớn, một chiếc C-130, bảo đó là chiếc máy bay kế tiếp sắp cất cánh, cô sẽ được đi chuyến này. Tôi bước vào trong căn trại, cùng chờ với những người ở bên trong.

Vài phút sau, chiếc xe buýt đến. Người tài xế bảo chúng tôi lên đi chuyến bay kế. Chúng tôi lục tục vào xe. Tài xế chở chúng tôi chạy ra phi đạo. Rồi ông ta ngừng lại. Chúng tôi cứ thế ngồi chờ rất lâu. Thế rồi trong khi ngồi chờ, trên phi đạo, chợt vài chiếc phi cơ bay đến. Mấy chiếc máy bay này bay rất thấp. Họ dội bom lên phi đạo.

Lúc ấy xế trưa, trời nóng bức, đột nhiên bom nổ khắp chung quanh. Người tài xế thét lên. Ông ta kêu chúng tôi nhảy khỏi xe, nằm trên mặt đất. Khắp nơi rối loạn, súng ống, tiếng nổ rầm trời. Hỏa tiễn bắt đầu đánh vào những cao ốc chung quanh. Lính Thủy quân Lục chiến bên ngoài xe buýt bảo mọi người nằm dán chặt trên mặt đất. Đừng nhúc nhích. Chúng tôi nghe bom xé nổ, tiếng hỏa tiễn rít ầm đánh xuống. Chúng tôi nghe đủ thứ âm thanh trong không gian. Trong phút giây nằm đây tôi chợt nghĩ chắc chúng tôi sẽ bỏ mạng. Mặt đất rung chuyển. Người kêu khóc. Có người thì thầm nói chuyện. Tôi nghe họ bảo Cộng sản đã chiếm Biên Hòa, bây giờ chúng không còn cho ai ra khỏi nước. Họ nói với nhau là Cộng sản đã tiến tới phi trường, giờ này lên máy bay mà chúng thấy ắt vong mạng thôi.

Nhưng rồi bom và hoả tiễn ngừng. Một Thủy quân Lục chiến Mỹ cất tiếng bảo: “Đừng lo, đây chỉ là phản ứng cuối cùng của Nam Việt Nam. Chính quyền Minh chơi đấy thôi!” Tôi chẳng hiểu anh ta nói gì. Chẳng còn ai hiểu gì. Anh ta muốn bảo vụ tấn công phi trường này là do chính phủ chúng tôi, nhưng chúng tôi đều biết không đúng thế. Có lẽ anh ta chỉ muốn làm chúng tôi bớt sợ. Có lẽ anh ta muốn lừa chúng tôi. Lẽ nào chúng tôi tin chuyện chính phủ chúng tôi lại muốn sát hại chúng tôi.

Chúng tôi vẫn nằm ép trên mặt đường như thế dăm phút nữa. Lính Thủy quân Lục chiến chợt bảo: “Vào lại xe buýt ngay. Nhanh, đừng mang hành lý. Đi!” Họ lái chúng tôi đến góc sân bay nơi chiếc C-130 đang đợi. Cửa sau máy bay đã hạ sẵn xuống. Cửa xe buýt mở ra. Lập tức người ta thét lên, bảo: “Mau! Mau! Năm giây đồng hồ thôi! Mau! Mau! Chỉ còn năm giây đồng hồ thôi!” Thế là mọi người đẩy nhau ùa ra cửa, nháo nhào chạy vội đến máy bay. Nhiều người hãy còn ôm mấy cái túi xách, lập tức họ vừa chạy vừa quăng đi. Vào lúc đang chạy ra máy bay, tôi nhìn xuống thấy có một cái khăn lông do ai bỏ rớt trên mặt đất. Người ta đạp lên, có người vấp. Có người đá phải mà chạy. Trong khoảnh khắc tôi chợt thấy đống khăn lông động đậy. Tôi ngừng lại một giây, bảo người đàn bà chạy qua tôi: “Có gì trong cái khăn lông!” Người đàn bà tiếp tục lên máy bay, không lưu ý gì cả. Tôi bèn túm lấy đống khăn lông, cảm thấy trong đống khăn rõ rệt có một vật lạ. Vừa chạy, tôi vừa trụt chiếc khăn ló ra cái đầu một đứa trẻ sơ sinh. Đứa bé không động đậy. Tay tôi chạm vào chân đứa bé. Bàn chân không động. Tôi thầm nhủ: “Trời ơi, tôi vừa lượm được một đứa bé đã chết. Làm thế nào bây giờ?”.

Tôi chạy vào máy bay. Cánh cửa bắt đầu đóng. Chúng tôi chen chúc nhau. Bên ngoài phi đạo vẫn còn người chạy đến, nhưng không kịp. Cánh cửa vừa đóng lại, máy bay bắt đầu chuyển ngay ra phi đạo.

Bên trong chúng tôi đều đứng, không cựa quậy. Tôi ôm đứa bé mà tôi nghĩ là nó đã chết fôi. Tôi ôm sát đứa bé, thử nghe tim đập, nhưng chính lồng ngực tôi dồn dập và tiếng động cơ ầm ĩ đã át đi, không nghe gì nữa. Tôi tựa vách máy bay, cố chống vào vách để đừng đè lên đứa bé, đừng để đứa bé ép lên tôi. Mỗi lần nhúc nhích, tôi lại đạp phải người khác. Tôi tự nhủ: “Sao có thể đến nước này hở Trời, khi không ôm lấy cái khăn lông làm gì? Lúc máy bay hạ cánh mà vẫn ôm đứa bé chết queo thì thực rắc rối. Chẳng biết chừng người ta gửi mình về lại Việt Nam…” Nghĩ thế đâm sợ nên tôi lại khóc.

Tôi bắt đầu suy nghĩ: Biết đâu có một trái hỏa tiễn giờ này bắn đến trúng máy bay thì chúng tôi chết hết. Như những người trên chuyến C- 5A. Và tôi tự hỏi vẩn vơ: Nếu bây giờ chết, chẳng hiểu mình lên thiên đàng hay xuống hỏa ngục? Tôi có gì lầm lỗi trong cuộc đời? Sau một lúc tôi lại nghĩ: Không, nếu chết bây giờ mình sẽ lên thiên đàng. Tôi có làm gì xấu xa đâu? Thượng đế vẫn biết tôi là một người lương thiện. Nếu phải chết thì cũng lên thiên đàng. Thôi… Đừng khóc nữa. Tôi tự bảo và im tiếng. Nhưng lúc máy bay cất cánh, tôi vẫn miên man nghĩ về bức ảnh thiên đàng hoả ngục. Những bức ảnh tôi nhìn thấy từ khi còn là một con bé con. Người ta đã cho chúng tôi xem bức ảnh hoả ngục với cảnh nướng người trên lửa. Bức ảnh những con người gào khóc, lửa cháy bốn bề vây bủa. Bức ảnh những con người khiếp đảm trong một màu đỏ rực. Và tôi nghĩ: “Cảnh ấy nào có khác gì cảnh Tân Sơn Nhất chỉ mới vừa cách đây vài phút”. Tôi biết tôi không muốn chui vào hoả ngục. Tôi không muốn quay về lại Tân Sơn Nhất. Rồi tôi tiếp tục miên man nghĩ đến thiên đàng. Những bức ảnh đã nhìn thấy trong một màu trắng với những thiên thần trắng toát. Những thiên thần hiền hậu nở nụ cười xinh xắn thương yêu. Tôi tự nhủ: ừ, nếu cái máy bay này trúng phải một quả đạn thì đó chính là nơi mình sẽ bay đến ngay khoảnh khắc. Trong cái suy tưởng miên man ấy, tôi đã cất bước đi qua hỏa ngục, Thượng Đế đã mở cửa cho tôi. Giờ đây Thượng đế đang dắt tay tôi lên ngưỡng cửa thiên đàng. Chẳng có gì mà sợ.

Phải mất mấy tiếng đồng hồ chúng tôi mới đến được phi trường Clark ở Phi Luật Tân. Tôi bực bội, đôi chân tê dại vì đã không nhúc nhích được. Tôi cảm thấy bánh xe buông xuống, cảm thấy chúng tôi ở trên mặt đất. Rồi chiếc máy bay dừng hẳn.

Khi cửa sau chiếc máy bay bật mở, chúng tôi ngóng nhìn ra. Một vùng ánh sáng trắng toát, rất sáng, bỗng hiện ra. Những người đàn bà mặc quần áo trắng đang chờ chúng tôi. Họ mỉm cười. Đã đến được Thiên đường rồi. Tôi mê man suy nghĩ. Một cái chết thực dịu dàng. Nào có khó gì. Thế là giải thoát. Tôi đã bước vào ngưỡng cửa thiên đàng. Tôi biết Thượng Đế đã thương tôi bởi vì các thiên thần của Ngài đã đến.

Các thiên thần bảo chúng tôi: Ra khỏi máy bay. Tôi trông thấy các thiên thần đều mang chữ thập đỏ trên tay áo. Những thiên thần này đều là những cô y tá của Hội Hồng Thập Tự. Tôi vẫn sống. Tôi không ở thiên đàng, mà đã đặt chân lên đất Phi Luật Tân.

Một cô y tá chận tôi lại, hỏi có đau đớn gì không? Cô ấy nhìn thấy bên mình tôi ướt đẫm. Cô ấy lại hỏi tôi ẵm gì trong cái khăn lông. Tôi kinh hoảng chìa đống khăn cho cô. Cô ấy nhìn vào, rồi bảo hãy đi theo cô. Cô ta dẫn tôi đến phía ông Bác sĩ.

Họ đặt mớ khăn lông lên bàn. Mở chiếc khăn. Bên trong là một trẻ sơ sinh. Một chú bé trai.

Chú bé nhoẻn cười, đạp đôi chân khi họ tháo chiếc khăn. Chú bé mới sinh chưa đầy một ngày. Mọi người đứng quanh bàn nhìn tôi cười. Tôi cũng cười. Rồi tôi lại bắt đầu khóc. Tôi sung sướng quá.

Ông Bác sĩ khám chú bé rồi bảo: “Chả sao”. Tôi bảo: “Thực thế ư? Không có lẽ nào. Người ta đã đạp cả lên thằng bé, đã đá lên thằng bé. Xin Bác sĩ khám lại xem?” Ông Bác sĩ khám lại lần nữa. Ông bảo:

“Đúng vậy. Chả sao, chú bé khoẻ như voi”.

Họ bảo chú bé đói lắm, phải cho chú bú chút chớ. Họ hỏi tôi muốn cho chú bé bú bây giờ không? Tôi dãy nảy: “Bú cái gì?! Lấy đâu ra sữa mà cho nó bú? Ô hay, tôi có phải là mẹ thằng bé đâu?”.

Những người khác cùng đi máy bay đứng vây quanh. Bây giờ ai nấy đều tử tế. Họ bảo nhau: “Tránh rộng chỗ cho bà má và chú bé thoáng chút nào”. Trước đây không lâu, chính họ là những người đã dẫm lên đứa bé mà chạy.

Các cô y tá bắt đầu đi kiếm xem ai là mẹ chú nhỏ. Họ tìm ra được một cô gái trẻ, dưới hai mươi. Xanh xao ốm yếu… Đôi môi nhợt nhạt. Họ vặn hỏi một lúc, rồi đưa cô ấy lại phía tôi. Cô ta nhìn tôi nhỏ nhẹ hỏi “Chị đã cứu con tôi phải không?” Tôi nói: “Vâng”. Cô ấy bảo cô ấy đã sinh đứa bé ngay trong phi trường ngày hôm trước, cô sợ người ta không cho đem đứa bé mới sinh vào máy bay, nên đành để con trên phi đạo, hy vọng người nào có từ tâm nhặt lấy đem về. Cô ta bật khóc nói rằng lúc ở Tân Sơn Nhất cô đã hoảng sợ quá. Chẳng biết đã làm gì. Cô ấy không chồng. Cô đi một mình và quá sợ. Bây giờ cô lại sợ người ta không trả đứa bé. Cô sợ tôi muốn giữ lấy đứa bé.

Tôi ôm chú nhỏ lên, trao vào tay cô mà nói: “Cho con bú đi nào”.

Tại Phi Luật Tân lòng tôi tràn ngập yêu thương. Tôi nghĩ Trời vẫn thương xót dân Việt. Tôi nghĩ biết đâu Thượng đế đã nâng ẵm chúng tôi như tôi đã nâng ẵm lấy chú bé… Tôi bỗng nhìn thấy kỳ diệu biết bao là cuộc sống. Và kỳ diệu biết bao khi được sống còn.

Tôi lại miên man chìm vào những ý nghĩ riêng tư. Tôi nghĩ biết đâu chính đứa bé sơ sinh quấn trong chiếc khăn lông chẳng là một thử thách. Biết đâu chính vì tôi ẵm đứa bé mang theo mà Thượng Đế đã cho chiếc máy bay an toàn đến đất Phi. Biết đâu nếu tôi bỏ chú bé lại, một trái đạn đã nhắm trúng máy bay mà kết liễu tất cả. Tôi đã cúi nhặt đứa nhỏ, đã ẵm nó lên mà Thượng Đế cứu rỗi chúng tôi. Tôi cho rằng đấy chính là sự thực.

Vâng, tất cả mọi sự rồi cũng trở lại yên lành. Và cuộc sống vẫn là cuộc sống đẹp tươi.

Advertisements

One thought on “NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, “Chắc chúng tôi bỏ mạng nơi đây”

  1. Chiến tranh cơn hỗn loạn kinh hãi! Chuyện gì cũng có thể xảy ra…Cánh-cứu cánh -muốn thoát bám vào…Máy bay -Mặc bom nổ xung quanh..Hành động đúng trái tim thanh thản-Đứa bé giữ chặt lỡ phải nắm.Sống chết-Niềm tin vào thần thánh..Sự linh thiêng ứng với tâm lành…”Tình Người dòng suối bình an.Dịu êm nước chảy nhẹ nhàng dịu êm…?”

Comment

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s