Mùa Vu Lan, Nghĩ Về Mẹ!

nguyenmonggiac

Ở cuối bài thơ Chùa Hương (Thiên ký sự của một cô bé ngày xưa) nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp ghi thêm mấy dòng dí dỏm “Thiên ký sự đến đây là hết. Tôi tin rồi hai người lấy nhau vì không Iấy được nhau thì cô bé còn viết nhiều. Lấy nhau rồi là hết chuyện.”
Nguyễn Nhược Pháp mất năm 24 tuổi, mặn nhạt chua cay của cuộc đời chưa nếm đủ, nên nhìn đời đơn giản và thơ mộng y như cô bé mười lăm theo mẹ đi chùa Hương. Ông tin rằng cô bé dễ thương rồi ra cũng lấy được anh chồng văn nhân ngẫu nhiên gặp trên đường hành hương. Lý do ông nêu ra, nghe mộc mạc tự nhiên như hai với hai là bốn: “’Lấy nhau rồi là hết chuyện!” Hết sao được! Cặp giai nhân tài tử ấy khi chưa lấy nhau được thì hồn thơ dào dạt. Nàng lén thầy mẹ thức khuya nắn nót viết cả một thiên ký sự dài. Chàng không nề hà thuyền chật, chỉ lo ngắm trời mênh mông, ngắm nước đục lờ rồi cất giọng đọc thơ. Giọng thơ chắc chắn không thua gì Quách Đàm – Hồ Điệp nên mới được ông bố vợ tương lai khen nức nở:

Thày khen hay, hay quá!
Em nghe rồi ngẩn ngơ!

Không biết văn nhân trong thiên ký sự ngâm thơ ai để biểu diễn tâm hồn với người đẹp. “Thầy” khen hay, còn “em” thì ngồi ngẩn ngơ, như vậy bài thơ chàng ngâm phải có nội dung hợp ý hai đối tượng quá khác biệt về tuổi tác, phái tính và cách suy nghĩ cảm thụ. Bài thơ hợp ý “thầy” thì bị “em” chê là khô khan khó nuốt. Bài hợp ý “em” thì có thể bị “thầy” quắc mắt, mắng là “suồng sã ong bướm”. Thế mới biết cái tài ứng biến tinh tế và trí nhớ phi thường của “chàng” đắc dụng tới mức nào. Hiểu thơ, “dùng” thơ nhuyễn như vậy, chàng là một độc giả lý tưởng. Chưa hết! Chàng còn là một người sáng tạo thơ:

Khi qua chùa Giải Oan,
Trông thấy bức tường ngang,
Chàng đưa tay, lẹ bút
Thảo bài thơ liên hoàn.

“Thầy” lại tấm tắc khen hay. “Em” lại ngẩn ngơ lần nữa. Biểu diễn tài hoa như thế, kết quả phải bảo đảm: một cuộc hôn nhân. Chấm dứt một bài thơ dài. Và . . . và bắt đầu một thiên trường giang tiểu thuyết về nỗi khổ âm thầm của đời làm vợ, làm mẹ. Thiên tiểu thuyết này không hề được ghi trên giấy. Thử phác họa lại cuộc đời cô bé chùa Hương từ ngày đẹp trời đó về sau. “Em tuy mới mười lăm, Mà đã lắm người thăm” thì chắc chắn chàng không thể bỏ lỡ cơ hội tốt. Không thể đợi lâu, một tình địch nào đó giọng thơ hay hơn, làm bài thơ liên hoàn hợp ý thầy hơn, “tướng mạo trông phi thường” hơn có thể cướp mất của chàng một người vợ xinh. Chậm nhất là nàng lên xe hoa năm sau, mười sáu trăng tròn.
Hai vợ chồng trẻ bắt đầu gấp lại trang thơ để bước vào đời thật. Chồng “thanh lạ thường”, cô bé bị mê hoặc kêu lên là “tướng mạo trông phi thường”, nhưng không phải vẻ phi thường của người vạm vỡ khỏe mạnh. Phi thường ở cái thanh nhã lịch sự. Một người tướng mạo như thế không thích hợp với tay cày tay cuốc. Mà cũng không thích hợp với nghề buôn. Đó là người sống cho sách vở, của lý thuyết, của nghệ thuật. Cũng may là xã hội ta thời xưa tuyển chọn nhân tài cho guồng máy hành chính bằng tài làm thơ và lý thuyết nho học, nên giá trị của người chồng đặt hết vào hy vọng tương lai. Một ngày nào đó, chàng đậu đạt, làm quan, nhỏ thì như Hành tẩu Bộ Lễ như thời mới bước chân vào hoạn lộ của Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, cao hơn có thể leo tới những chức như Hiệp trấn, Đốc đồng, Tham tri (như Nguyễn Du, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích).
Cho dù chàng có may mắn thành công như các bậc danh sĩ nói trên, thì cuộc đời thực tế của nàng và con cái cũng không giàu sang bao nhiêu. Nguyễn Khuyến hồi hưu về sống với bà con xóm làng vẫn chia sẻ cái nghèo với người chung quanh. Nguyễn Du con nhà đại tộc có thời đói hoa cả mắt, nhìn hoa cúc không thấy hoa đẹp, chỉ thắc mắc là liệu có ăn được cúc hay không. Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích làm quan đại thần mà vợ con chạy ăn từng bữa. Hóa ra ngày xưa khác với ngày nay, quyền lực chính trị không nhất thiết phải đưa tới giàu có. Một nhà thơ hỏng thi thất chí như Trần Tế Xương, không biết làm gì để giúp đỡ vợ con, nên bà Tú phải:

Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò nơi quãng vắng.
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

Bà Nguyễn Du, bà Phan Huy Ích, bà Ngô Thì Nhậm được xóm làng nể vì hơn bà Tú, nhưng chắc cũng phải tảo tần xuôi ngược để nuôi con y như bà Tú.
Họ là cột trụ kinh tế của gia đình, âm thầm chịu đựng gánh nặng đó mà không hề than van. Sự phân công giữa vợ chồng không bình đẳng theo cái nghĩa chúng ta hiểu ngày nay, nghĩa là người chồng có toàn quyền dốc hết khả năng, tiêu hết thì giờ cho cái “chí” của mình, việc sinh sống và nuôi dạy con cái người vợ phải đảm đương. Thời bà Tú Xương đã thế (bà Tú còn may là được ông chồng thi sĩ nhắc tới trong thơ). Bà Phan Bội Châu cũng thế. Thậm chí thời trước 1945, lúc phong trào Âu hoá đã mạnh mẽ, ý thức cá nhân và bình đẳng nam nữ đã là thời trang, bà Nhất Linh cũng thế. Một mình các bà lo chuyện cơm áo nhà cửa, sinh con đẻ cái, nuôi dưỡng giáo dục cho chúng nên người. Họ lam lũ cày như những nhà nông, nhưng phải sống cho đúng “nếp nhà thư hương”. Buôn bán mom sông nhưng phải giữ gia giáo. Như người múa kiếm mà chỉ được múa một tay. Đa số sống thanh bạch, và phải giấu sự thanh bạch của mình. Đời sống đầy mâu thuẫn, nghịch lý, chịu đựng, nhẫn nhục ấy, không phải là chất liệu của loại thi ca “chàng” lẹ bút thảo ra ở bức tường ngang chùa Giải Oan. Nỗi khổ của người vợ, người mẹ, không thể ngâm vịnh biểu diễn trước đám đông. Nó âm thầm lưu cữu từ đời này sang đời nọ, thấm vào những lời hát ru con.
Mãi về sau, những người viết văn xuôi mới chứng minh rằng “Lấy nhau rồi chưa phải là hết chuyện!” Lấy nhau rồi, chuyện mới bắt đầu. Lấy nhau rồi, mới có Nhà Mẹ Lê của Thạch Lam, mới có Chân Trời Cũ của Hồ Dzếnh, mới có Đoạn Tuyệt của Nhất Linh, mới có Giông Tố của Vũ Trọng Phụng. Người tình vẫn cứ là mẫu ăn khách của văn chương, nhưng từ đây những mẫu
người nữ khác đòi được quyền hiện diện: người vợ, người mẹ, người chị. Đất nước càng lâm vào cảnh chiến tranh điêu linh, hình ảnh người mẹ càng hiện diện, như hiện thân của Bao Dung, như ánh sáng ở cuối đường hầm, như liều thuốc màu nhiệm hàn gắn được mọi tranh chấp. Trong đớn đau người Việt Nam thống thiết gọi Mẹ.

*

Những người cha trên đời có quyền khiếu nại giới sáng tạo ra văn học nghệ thuật rằng họ bị phân biệt đối xử, bị kỳ thị. Họ ít được nhắc tới trong văn chương kịch nghệ, hội họa. Thỉnh thoảng nếu có được nhắc tới, thì qua hình ảnh cứng cỏi, nghiêm khắc, lạnh lùng, rất ít chất người. Cha là hiện thân của Lý Trí, Nguyên Tắc, Sức Mạnh, Quyền Lực. Không biết từ lúc nào, sách vở đã “tuyên truyền” cho mọi thế hệ thiếu nhi tin rằng hình ảnh một gia đình lý tưởng là cảnh ban đêm, dưới ánh đèn ấm cúng, cha ngồi đọc báo, mẹ Io vá may, con cái học bài. Những ông cha “hiền” ấy tìm đọc thứ gì trên báo vậy? Tin xe cán chó? Không. Cách nấu nướng? Không. Tử vi? Không. Thì thầm bên gối? Không. Truyện diễm tình hấp dẫn đăng nhiều kỳ? Không. Ông ấy mải mê theo dõi tin chiến sự, tin thể thao, và nếu đã đọc hết mọi tin tức mà chưa buồn ngủ, thì đọc truyện trinh thám phiêu lưu. Tóm lại những gì thu hút tâm trí người cha trong khi vợ may vá con học bài đều có dính tí máu. Đều có liên hệ đến sức mạnh. Người cha có vẻ hiền lành ấy thật ra không hiền chút nào. Ông ta là một hỏa diệm sơn sắp bùng vỡ, là một con hổ nhớ rừng,
là con gấu sắp choàng thức dậy khi tuyết tan mùa đông. Ông ngồi bên vợ con dưới mái ấm gia đình mà mơ mình đang làm Tarzan ở rừng Phi châu, điệp viên 007, James Bond, Tổng bí thư đảng Cộng sản Liên Xô, Tổng thống Hoa Kỳ, chúa trùm Mafia, Magic Johnson, Maradona, Platini . . . May cho đời là những giấc mơ ấy không thành. Những người cha ấy vừa bỏ tờ nhật báo xuống, mắt lim dim mơ mộng, là những người mẹ đã kịp thời ngừng kim nhắc nhở cho chồng nhớ rằng hồi sáng ông mua chịu bà Ba Bủng bốn điếu thuốc lá lẻ, hai ngày nay ông lười không chịu tắm rửa, đêm ông ngủ đã ngáy lớn còn nghiến răng trèo trẹo, chiếc áo lót dưới chiếc áo sơ mi trắng và cà vạt nghiêm chỉnh đã có màu cháo lòng và rách lưng. Các bà vợ vì tế nhị và yêu chồng không tiện nói ra lời, nhưng các bà hiểu hết. Các bà biết đâu là cải vỏ đâu là thực chất, đâu là đời sống và đâu là những giấc mơ.
Cảnh gia đình hạnh phúc trong sách giáo khoa chỉ khả tín nếu người cha không bị những trang báo trang sách che mắt tầm nhìn để trở thành mù lòa, mất hết những ý niệm đúng về cuộc đời, về khả năng hạn hẹp của mình. Lịch sử tiếp nối hỗn loạn đẫm máu chỉ vì những trang giấy mỏng ấy đủ rộng đủ dày lấp hết thực tế. Chữ nghĩa nhảy múa hấp dẫn như những vũ nữ lắc rốn Ai Cập, từ đó người cha dựng lên những lý thuyết cứu đời, những tòa kiến trúc vĩ đại, những phác họa cho làng nhân loại thế kỷ hai mươi mốt. Từ đó vẽ ra bức tranh thế giới đại đồng, ra đường không ai thèm nhặt của rơi, không ai là chủ không ai là tớ, làm tà tà tùy thích mà hưởng thì thả giàn. Lúa thóc đầy đồng, cá tôm đầy sông, trái chín rơi vào túi người hứng, chim chóc đậu trên vai người mà hót khúc ca chào mùa Xuân! Muốn được cảnh thái bình thịnh trị như thế ư? Chữ nghĩa lại nỉ non vào tai người cha rằng muốn xây nhà thì trước hết phải phát quang cỏ dại, cây cằn, dọn nền, xây móng. Thế là có máu. Máu thấm vào vũng đất hẹp dưới xác tử thi. Rồi suối máu, sông máu, biển máu. Những người cha không còn đêm đêm đọc báo bên cạnh vợ vá may và con học bài, đã trở thành “cha già dân tộc”, “lãnh tụ anh minh”, “người cầm lái vĩ đại”, “Vị cứu tinh muôn đời”. Hình ảnh của cha ở cùng khắp, trên nóc tòa thị sảnh, khoảng tường trên bàn thờ ông bà, ngoài công viên, trang bìa sách giáo khoa, đề thi tốt nghiệp. Ai dám bảo văn học nghệ thuật kỳ thị người cha?
Hãy gượm! Đó là loại văn học giả hiệu! Văn học nghệ thuật đích thực không hề ba hoa ca tụng kẻ quyền thế. Kẻ đáng ca tụng là người mẹ hằng đêm lặng lẽ vá may. Đã có hàng triệu bà mẹ kiên nhẫn tế nhị nhắc chồng rằng bà yêu ông không phải vì ông sẽ là Tarzan, James Bond, Platini, Gorbachev, Bush . . . mà vì ông là người từng trốn học lẽo đẽo đạp xe theo bà, giọng vịt đực mà cũng rán hát bài “Ngày xưa Hoàng thị”. Bà yêu ông vì một hôm bà đánh bạo dừng xe lại, nhìn vào mắt ông hỏi: “Tại sao anh theo tôi hoài vậy?”, ông ú ớ lúng túng đưa hai tay lên gãi dầu, chiếc xe đạp ngã chỏng gọng trên hè phố. Bà yêu ông vì ông là chồng bà, cha của đàn con thân yêu của bà, yêu lúc ông nồng nhiệt hùng biện cũng như lúc ông ngáy và nghiến răng trèo trẹo, lúc ông bảnh chọe hào hoa cũng như lúc ông ngồi rờ râu nhổ lông mũi, lúc ông thơm tho mạnh khỏe cũng như lúc ông hôi hám yếu đau. Những niềm vui, nỗi buồn của bà tùy thuộc vào chồng, vào con, những bộ trường giang tiểu thuyết dài nhất cũng không thuật hết buồn vui của những bà mẹ. Không phải ngẫu nhiên mà sách giáo khoa cho mẫu mẹ hiền Việt Nam ngồi chăm chỉ vá may giữa cảnh gia đình sum họp.
Mẹ Việt Nam ngồi đó, nhưng mắt luôn luôn theo dõi những trang sách giáo khoa con đang học, nhìn suốt qua trang báo để xem nét mặt chồng. Nói như cách nói ví von của Chế Lan Viên, mẹ là “hoa ngày thường”, nhưng là “chim báo bão”. Mẹ nhắc nhở cho những người đàn ông trong nhà nhớ đâu là giả đâu là thực, đâu là đời sống vốn vậy đâu là những giấc mộng hão huyền.
Và khi những người đàn ông trong gia đình không nghe lời mẹ, chạy theo chữ nghĩa lắc rốn, vung gươm lên múa may làm cho mọi sự đổ vỡ rách nát, thì mẹ thở dài, lặng lẽ kiên nhẫn ngồi vá lại những chỗ rách, gắn lại những mảnh vỡ.
Công việc ấy thật nhọc nhằn, và không “thơ” chút nào! Nguyễn Nhược Pháp là nhà thơ, không nhắc đến đoạn đời gian truân của cô bé chùa Hương sau khi về nhà chồng, cũng phải thôi!

Nguyễn Mộng Giác

2 thoughts on “Mùa Vu Lan, Nghĩ Về Mẹ!

  1. Sau khi đọcMÙA VU LAN ,,,NGHĨ VỀ MẸ của thầy NGUYỄN MỘNG GIÁC .Đọc thêm MỘT BÔNG HỒNG CHO CHA của thầy VÕ HỒNG để mà ngậm ngùi cho một số đấng nam nhi đại trượng phu ( thời nay) nhân ngày lễ Bông Hồng Cài Áo.

    Thích

  2. Hình đại diện của aitrinhngoctran aitrinhngoctran nói:

    Tuyệt hay thằng tuột Ý..Mà nối lại cũng Lý…Bật cười vui dí dỏm…Khai thác Ông -Bà ấy!Bà Mẹ-Ông ChồngThầy!Vu Lan-Mẹ nhất nầy….Thường-Tầm mà Thượng đấy!Ôi Mẹ thật tuyệt hay…Cảm ơn Thầy Mộng Giác -Một đồng minh với Phái Nữ đã viết thay tiếng nói”Những người chân yếu tay mềm”

    Thích

Comment