Nguyễn Bá Trạc
San Jose, 15 tháng 5, 1987
Anh Nguyên,
Có biết từ khi nào một người trở thành thi sĩ? Câu trả lời lãng mạn và dễ dãi: Từ khi người ấy đưa mắt lên nhìn trời sao, tay gãi cằm và trong trái tim phát ra một điệu nhạc dịu dàng. Hoặc giận dữ. Hoặc nhỏ nước mắt buồn bã, đau thương. Cô quạnh, bùi ngùi. Bất cứ lúc nào nào điệu nhạc ấy, những cảm xúc ấy làm rung động bên trong, vùng vẫy truyền ra bên ngoài, trong khoảnh khắc, anh ta trở thành thi sĩ.
Còn một câu trả lời khác – khó khăn hơn, nghiêm khắc hơn – cho một thi sĩ trọn vẹn, đích thực hơn. Ðó là: Từ khi người ấy dám kết hôn với thơ. Chỉ với thơ thôi, không với ai khác. Dẫu cho thế giới chung quanh tràn ngập những người đàn bà đẹp (có cái cẳng dài, đôi mắt chớp chớp đầy mộng mơ), hắn cũng chỉ yêu thơ hơn hết thẩy. Mà thôi.
Thế thơ gì? Cũng là một người đàn bà đẹp chăng? Ðúng vậy. Cũng có thể là một người đàn ông đẹp. Cái đẹp ấy, dĩ nhiên nó chủ quan. Có nhiều người đắm đuối yêu một người như tôi hay như anh. Ðiều ấy đã chết ai?
Hình thức của thơ có thể xếp theo hình quả trám, hình vuông, bực thang hay vòng tròn. Có thể ầm ầm như nhạc Rock hay cò ke như cái đàn gáo. Có thể hững hờ suối chảy mây bay. Quan trọng là cái gì trong trái tim mà điệu nhạc đã phát ra kìa?
Nó đau đớn trước quê hương đất nước? Ưu phiền trước thảm kịch? Êm ả hoà bình? Lồng lộn như chiến tranh? Rộng rãi và cao cả như bầu trời? Thế nào cũng được, nếu nó đến thành thật như sự giản dị của tâm hồn.
Hãy chỉ cho tôi biết người yêu của anh thế nào, tôi sẽ nói thơ của anh ra sao!
Nó có cái cổ dài như tranh Modi? Ðội cái nón rơm xinh đẹp như nàng Anabel của Buffet? Nó nhăn mũi? (Tây Thi). Ỡm ờ như cô đầu? Rền rĩ như nhạc Jazz, nhạc Blue? Sáng như sao sáng? Tối như bóng đêm?
Thơ, trước tiên nó làm người ta mất ngủ. Vì sao? Vì những anh những chị thi sĩ hễ đã bị thơ nhập vào thì hai, ba giờ sáng cũng thao thức viết, đang ngủ cũng nhỏm dậy. Thơ, là một liều thuốc thức.
Nó bắt người ta ý thức toàn bộ thế giới với trí tuệ tràn đầy, rồi cất tiếng ru người ta ngủ trong những cảm xúc và ngôn ngữ dù thuận lý hay bất thuận lý (bất cần). Thi sĩ đã ý thức triệt để, toàn bộ và cao độ trước khi lăn mình vào kết hôn với nàng thơ. Lý hay không lý? Ðiều này không quan trọng với trái tim thi sĩ vốn là:
-Thứ nhất mềm mại như trẻ con.
-Thứ nhì sắt thép như chiến sĩ xung phong bắn ra, tung ra các nốt nhạc có phép biến hoá như những sợi lông khỉ Tôn Ngộ Không. Phóng ra những chữ có uy lực để khóc cười, thương giận, buồn hay vui.
Xin để ý: Những nốt nhạc, những chữ, những câu thần chú có thể dễ hiểu như bài tập đọc, có thể thầm kín sâu xa nhưng vẫn đôn hậu như anh nông dân cơm nước no nê với cà pháo, rau muống, tép rang, anh chàng vươn vai nhỏm dậy xỉa răng, xỏ đôi guốc mộc ra ngồi thẫn thờ ê a nhìn trăng sáng trên một cái chõng tre. Anh ta làm gì? Anh ta gặm nhấm nhiều cái riêng tư mà người ta không biết, không hay (Muối xát lòng ai nấy mặn mòi tức là chuyện riêng của ai thì chỉ có người ấy biết mà thôi).
Ðúng đấy. Thơ, có thể bắt thi sĩ ra đứng trước công chúng như một người ở truồng. Ai cũng có thể thấy hết như nhìn qua tấm kính trong suốt. Mà ngược lại, thơ có khi chỉ lấp ló cái ánh đèn dầu leo lét, mấy giọt nước mắt từ từ chẩy xuống canh khuya.
Ôi, cũng đúng vậy.
Một thi sĩ, trước hết chỉ là một người như mọi người: Phải ăn, phải ngủ, phải bài tiết các thứ, phải đóng thuế nếu có đi làm, phải lái xe ô tô (nếu sống ở Mỹ, ngoại trừ một số rất ít các thi sĩ già, hễ lái ô tô lên xa lộ thì sợ không dám lái, muốn đi nhậu cũng phải nhờ người ta lái).
Tất nhiên, một thi sĩ lâu lâu cũng đi bầu, hay không đi bầu, nhưng ít ra cũng phải yêu nước, yêu nhân dân, yêu đồng bào. Phải biết yêu nhân loại. Phải biết yêu cái hành tinh mình đang sống với các giống người, các dân tộc khác nhau. Phải biết yêu cả cái vũ trụ nhiệm mầu sâu thẳm trong đó có một quả đất con con đang xoay vòng vòng cho tới khi tắt lửa.
Ở bên Tầu có một chàng thi sĩ tên là Lý Bạch. Chàng từ con thuyền đã nhẩy ùm xuống nước để ôm cái bóng trăng lấp lánh trên dòng sông. Tất nhiên, nhẩy như thế thì chết. Chết thì chết, đời vẫn cho là đẹp. Và đẹp thì đẹp, đời vẫn ít ai dám nhẩy xuống sông ôm trăng mà chết.
Nhưng chữ “Phải” cũng chỉ có ý nghĩa tương đối. Ví dụ: Phải đi bầu. Phải yêu tổ quốc. Phải yêu nhân loại. Phải đóng thuế. Phải lái xe ô tô. Không phải cũng chưa sao. Thi sĩ Tú Xương (người Việt Nam) không bao giờ biết lái xe ô tô: Lúc ông ấy sống, chỉ có xe ngựa thôi. Thi sĩ Rimbaud, đi buôn nô lệ, điều ấy thực bỉ ổi, nhưng ông ấy vẫn là thi sĩ.
Appolinaire hình như có lúc để râu quai nón? (Người Âu Châu thích để râu quai nón. Người Việt Nam thích để râu ba chòm). Nguyễn Khuyến, đỗ đạt cao như thế, làm quan to như thế, mà lại bỏ thì giờ làm thơ tả cái chân đàn ba: cái gì trăng trắng như con cúi (Ðầu làng Ngang có một chỗ lội. Có đền ông Cuội cao vòi vọi. Ðàn bà đến đó xắn quần lên. Chỗ thì đến háng chỗ đến gối).
Chân dung của thơ, những cái “Phải” của thơ, cũng vậy. Có khi trọc đầu (thi sĩ T 1984). Có khi để tóc dài (thi sĩ Ðoàn thị Ðiểm, Hồ Xuân Hương, thi sĩ Bà huyện Thanh Quan). Có người trán hơi hói: Theodore Roethke, Hiệp chủng quốc. Có người để râu mép: Keneth Rexroth, sinh năm 1905 ở Indiana. Có người chột mất một mắt: Robert Creeley, tốt nghiệp đại học Harvard. Có người bụ bẫm, mắt đeo kính trắng, hình dáng như một nhà điạ ốc thành công: thi sĩ James Wright, người xứ Ohio, tác giả bài Ba Ðoạn Thơ Cho Một Con Thiên Nga Chết Tiệt (Three sentences for a dead swan). Ðó là nói về các thi sĩ hiện đại của Tư Bản Mỹ. Còn các thi sĩ Cộng Sản Nga cũng kỳ cục chẳng kém. Có anh trịnh trọng ra tiệm thợ giặt lấy áo sơ mi mới về mặc vào rồi lấy súng bắn vào thái dương, chết!
Tự do! Ðúng vậy, thơ và tấm lòng lồng lộng của thi sĩ như nhựa xuân tràn trong trí tuệ, đi lối quanh co dưới cõi đời, sống cùng một lúc với thực tại ngắn ngủi, đồng thời, với cái vô cùng â tận của thời gian. Nó đến từ lúc tóc còn xanh. Nó về làm cho người ta xanh tóc.
Nó có thể ích kỷ như con bé gái khó tính ôm ấp mãi không rời một con búp bê đã cũ. Nó có thể cởi mở vị tha giữa anh em, giữa các người.
Thuật của thơ không phải ở số chữ, số câu. Thuật của thơ không ở cái bực thang, hình tròn hay hình quả trám. Nó là cú bắt như một cầu thủ bóng tròn với đôi bàn tay nhựa, bắt dính cái khoảnh khắc mong manh của cảm xúc trong một cái chớp ngắn ngủi giữa dòng thời gian và vũ trụ trôi qua.
Nó bắt ngay hồn thơ một cách hùng tráng, dịu dàng hay dấm dẳn. Như Nguyễn Công Trứ:
Nhớ mi tau phải bước chân đi!
Không đi mi biểu răng không đến!
Ðến thì mi biểu đến mần chi?
Mần chi tau đã mần chi được?
Mần được tau mần đã mấy khi!
Vậy còn ai thi sĩ hơn nữa, hỡi dân tộc Việt Nam? Cái dân tộc chèo đò: ngâm thơ. Ði cầy: ngâm thơ. Tát nước: ngâm thơ. Ru con: ngâm thơ. Nhớ chồng: ngâm thơ.
Than ôi, bố mê gái mà con cũng ngâm thơ, thiệt phũ phàng!
Tôi ngồi tôi nghĩ bố tôi, tôi buồn
Bố tôi dở dại, dở khôn
Say mê cái l… bỏ mẹ con tôi
(Nguyễn Văn Ngọc, Tục ngữ phong dao, trang 156)
Một dân tộc thi sĩ như thế hẳn là một dân tộc thở ra hút vào bằng thơ. Thơ là khí trời. Thơ bay trong khí trời. Thơ tự do như khí trời. Muốn vần thì có vần. (Thơ hay lọ phải có vần – Thăng Long Văn Sĩ). Không vần, cũng không ai bắt buộc như Cộng Sản bỏ tù Quốc Gia, Quốc Gia bỏ tù Cộng Sản, Mỹ bỏ tù gián điệp Nga, Nga trục xuất gián điệp Mỹ.
Không! Thơ của dân tộc Việt Nam đã xuất hiện từ mấy nghìn năm trước ông Adam Smith, trước Karl Marx, trước Lenin, trước các cuộc cách mạng mùa thu mùa đông, trước khi nước Mỹ thành trì của chế độ Tư Bản trở thành một nước. Thơ của dân tộc Việt Nam: Thơ ấy không bắt bớ ai làm cái gì. Nó có thể trên sáu dưới tám. Ngũ ngôn tứ tuyệt. Hay hát nói, nói gì thì nói. Thơ của dân tộc Việt Nam: Nó đứng trên xa những chuyện Cộng Sản độc tài, Tư Bản bóc lột, nhưng nó vẫn gần ơi là gần với cái ăn, cái mặc, cái chổi, con mèo, cây cau, thằng mõ, con chuột, ông tiến sĩ giấy, ông sư bà vãi, cái tóc đuôi gà (Một thương tóc để đuôi gà. Hai thương lời nói mặn mà có duyên).
Một dòng thơ như thế trong nhân loại đã xuất hiện, đã có mặt, trôi chảy luân lưu, trường tồn từ mấy nghìn năm thì dẫu cho Cộng Sản Quốc Gia gì cũng mặc, những cái áo mỏng manh sẽ cũ, sẽ rách, cái lồng ngực và bắp tay mạnh khoẻ chắc nịch sẽ còn, sẽ trường tồn vĩnh cửu, mãi mãi, mãi mãi (Trừ phi bọn khùng cho nổ bom nguyên tử chết sạch sành sanh).
Dù ai xoay hướng đổi nền mặc ai.
Vì những chuyện như thế nên dòng thơ Việt Nam dẫu có mặc áo Tầu (Ðường luật) áo Tây (Xuân Diệu: Núi đứng im như một miếng bìa. Huy Cận: Có chàng ngơ ngác tựa gà trống) áo Mỹ (Thi sĩ Y) áo Liên Xô (Tố Hữu). Có vần hay không có vần (các ông Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền làm thơ ít khi có vần nhưng thơ tuyệt hay, họ sẽ được ngàn đời ghi nhớ. Cước chú: Hiện nay Cộng Sản đang dại dột bỏ tù rục xương các văn thi sĩ, việc ấy người yêu văn thơ ngàn đời sau còn xét còn chê).
Không ai nên bỏ tù các văn thi sĩ dẫu cho họ thiếu thuế lái xe ô tô không đúng luật đi đường, hay là vì họ yêu tự do công chính theo cách của họ, họ chống lại mọi hình thức áp bức con người theo cách của họ. Thi sĩ và thơ, họ làm bằng hương hoa huệ, hoa hồng hay hoa nhài, đôi khi bằng mắt và nước mắt, bằng tất cả những niềm vui nỗi khổ trong nhân loại, trong chúng sinh ba ngàn thế giới. Khi một con người đã chịu khổ trong nhân loại thì dẫu họ thiếu thuế cũng còn phải tha thuế, huống gì…
Lý Bạch bên Tầu được ông vua (phong kiến) ban cho một cái tín bài (ngày nay ở Mỹ gọi là credit card). Lý Bạch đi đâu, Lý Bạch cứ việc ăn nhậu. No say rồi, việc ấy đã có vua quan tính tiền. Việc ấy được đời ca tụng. Việc ấy làm cho ngày nay người ta mới được thưởng thức những câu thơ mênh mông khoan khoái, cả những tâm hồn bụi bặm nhất khi nghe đến, đọc đến cũng được tắm gội sạch sẽ, gột rửa kỹ lưỡng trước khi bay lên cõi trời gặp mặt tổ tiên. (Cước chú: Lý Bạch là một chàng rất thông minh. Mười tuổi đã đọc sách bách gia chư tử. Mười lăm tuổi vừa học đánh kiếm vừa luyện văn chương. Từ hai mươi đã dạo chơi khắp vùng, nuôi chí làm chính trị để giúp nước cứu đời).
Và tình yêu! Chao ôi tình yêu của loài người, cái lưỡi cuộn tròn êm ả, cái hình dáng dịu dàng cao quý mà nó đã nhập vào người ta làm cho người ta chỉ có thể yêu nàng mà thôi (phỏng dịch vài chữ của Applolinaire).
Chao ôi, cái tình yêu ấy đã hoang vu như sa mạc trong buổi chiều quạnh quẽ, ánh trăng non buông xuống một vùng xám trắng trên đám xương rồng gai góc, những cây thánh giá trên mồ kẻ chết in lên nền trời những tay khô, không thịt, không tuỷ, chỉ có xương, vẫn nắm chặt vũ khí (AK47, M16, 17, gươm Nhật bổn, lưỡi lê phát xít Ðức). Ôi những cánh tay khô mỗi ngày tuyệt vọng bám lên chấn song nhà tù. Phải chăng đấy là tình yêu Bà mẹ Suốt? Phải chăng đấy là chàng Huy Cận khi xưa hay buồn lắm?
Thương mình thương một thương ông thương mười.
Ông đây là ông nào? Là ông thi sĩ, có thể là bà thi sĩ. Không có thi sĩ lấy đâu ra thơ mà hút thở ở cõi đời? Lấy đâu thơ mà uống? Lấy đâu thơ mà ăn? Lấy đâu những tiếng chim: Ta là con chim đến từ núi lạ ngửa cổ hát chơi?
Bạn tôi, anh Phan Nhật Nam không làm thơ, nhưng là một nhà văn nhân bản. Theo cách của anh. Một người Việt Nam yêu nước. Hễ đã nhân bản và yêu nước thì viết thế nào cũng là thi sĩ. Một thi sĩ viết bằng văn xuôi. Bạn tôi rất sợ ở tù. Cái gì cũng chịu được chứ ở tù thì không chịu được (đọc Tù binh và hoà bình). Thi sĩ đó – Phan Nhật Nam – đang ở tù cải tạo từ 12 năm nay không xét xử, không thời hạn. Than ôi, người ta không hiểu thơ là cái gì. Lúc nào cũng “phải đạo” 100%, lý tính 100%, nghệ thuật 100%. Thế là ba trăm phần trăm? Con người ta chứ đâu phải châu chấu? Hay con dế? Con chuồn chuồn (Bắt con chuồn chuồn, cắm cái tăm vào đít cho nó đi tu?)
Thú thiệt ra: Bàn về thơ mà nói chuyện Quốc Gia Cộng Sản là xoàng. Quốc Gia Cộng Sản Tư Bản chỉ là chuyện dưới đất. Thơ ở trên trời. Thơ Tố Hữu, Huy Cận, Xuân Diệu mặc dù Cộng Sản nhưng cứ đếm thì biết. Thơ của họ có cả vạn chữ “Trời”. Vậy có trời hay là không có trời? Giết trời đi thì ta ở với ai? (Thi sĩ Nhất Hạnh: Kẻ thù ta nào phải người. Giết người đi thì ta ở với ai?!”)
Thi sĩ, họ ở dưới đất. Ðúng vậy. Nhưng hồn họ gặp nhau ở trên trời, nếu đích thực họ là thi sĩ. Nói thế này cho dễ hiểu: Họ gặp nhau ở trên mây. Trên trăng trên sao. Họ xuống đất đi cầy, đi cấy, đi lính, đi thu thuế, đi cắt cỏ, đi bán bảo hiểm bán nhà, đi tu, đi làm cách mạng, đi xe đạp, ô tô.
Ði đâu thì đi. Ðâu đâu mà chẳng phải về? Vậy nên có mấy đoạn rằng:
I. Thơ giữa mây trời
Thơ là chiến sĩ tiền phong
Cơm nước nguôi ngoai muối xát lòng
Thơ đứng thơ cười trong nắng gió
Trong cõi đời có cũng là không
(Trong cõi đời có vẫn hơn không)
Thơ lối quanh co dưới cõi đời
Giữa rừng giữa suối giữa xinh tươi
Giữa cuộc thời gian vô cùng tận
Giữa các anh em giữa các người
Thơ rước mùa xuân đến viếng nhà
Vườn sầu thơ tới cũng đơm hoa
Thơ nhựa xuân tràn trong trí tuệ
Trên đám mây trời xa quá xa.
Trên đám trời mây thực nhiệm kỳ
Khi mùa đông đến tiễn thu đi
Khi xuân về lại thơ xanh tóc
Thơ vẫn như xưa đẹp lạ kỳ.
II. Vọng cổ
Chiếc bóng bên trời
Nhân vật: Thi sĩ, văn sĩ, đều là người Việt Nam ở Mỹ
Thời gian: Tháng 6, 1987
Văn sĩ: (Ðang đi đi lại lại trên sân khấu, sau lưng là phông cảnh nước Mỹ. Chợt dừng lại)
Tôi biết hồn anh là giếng thẳm
Là mây hồ hải ốm tương tư
Là Trăng! Trăng! Trăng! của Hàn Mặc Tử
Là anh Xuân Diệu của Thơ Thơ
Thi sĩ: (Ðứng chính giữa sân khấu trả lời) Dạ phải.
Văn sĩ: (giơ lên một ngón tay trỏ)
Anh chính là trai của gió sương
Của đồng lúa chín bát ngát thơm hương
Của sao muôn kiếp mây muôn thuở
Của những niềm đau nỗi đoạn trường
Thi sĩ: Vâng, chính phải.
Văn sĩ: (ca)
Thi sĩ ơi, lòng tôi luống ngậm ngùi
thương cho chàng trai lẻ bóng
Con chim hót trong lồng là con chim trống…
Thi sĩ ơi đường chiều lẻ loi chiếc bóng
Ai chờ ai ngóng
(Mà) ai vẫn đợi ai trông
Thi sĩ:
Con đò vẫn đợi vẫn trông
Con kinh cũng đợi con sông cũng chờ
Văn sĩ: (ngâm)
Anh vẫn là anh của hải hồ
Của trăng đồng vọng bãi hư vô
Khi sầu mây úa phai tà áo
Khi vui câu hát nối câu hò
Thi sĩ: Dạ, chính phải.
Văn sĩ:
Anh vẫn là anh chính là anh
Sầu như trăng héo rũ trên cành
Khờ như bé dại mười hai tuổi
Hơn nửa cuộc đời tóc vẫn xanh
Thi sĩ: Dạ, phải
Văn sĩ: (nghiêm giọng)
Anh làm mây bão nổi muôn phương
Làm trăng pha máu chiếu bên giường
Làm sương khuya đọng lưng chừng mắt
Làm lệ pha đầy một đại dương?
Thi sĩ: Tôi rất tiếc…(Ngậm ngùi)
Có nhiều chuyện xẩy ra ngoài ý muốn của người ta.
Văn sĩ: (chậm rãi ngâm nga) Thế…
Anh thiết tha chi với cuộc đời?
Không làm mây trắng nhởn nhơ chơi
Sao không vể hẳn Bồng lai đảo
Cùng các tiên đồng mở cuộc vui?
Thi sĩ: Dạ, chưa dám! Chưa dám!
Văn sĩ:
Sao anh không ở luôn xứ Phật?
Thả tâm hồn vào cõi thinh không
Sao không phẳng lặng như trang giấy
Chép ở bên lòng chữ sắc không?
Thi sĩ: Dạ, chưa tới.
Văn sĩ:
Vậy hãy đội mão gai lên đỉnh trán
Cong lưng khiêng tội lỗi con người
Ðổ máu lệ mình xin cứu chuộc
Ngửa mặt lên trời mà gọi cha ơi
Thi sĩ: (im lặng)
Văn sĩ: (hỏi gặng) Thế nào?
Thi sĩ: Dạ, chưa dám.
(Tạm thời hạ màn)

Đọc anh Nguyễn Bá Trạc để thấy hai mặt rất khác nhau của THƠ , nhưng lại là một. Một chân trời rộng bao la, mênh mông, thật rộng nghĩa, rộng phương diện của THƠ. Mặt khác THƠ lại rất đời thường, rất gần với mỗi con người trong cuộc sống nhiêu khê nầy. THƠ lại ở trong hơi thở, trong ý nghĩ, trong lời nói, trong hạnh phúc, trong nỗi đau, trong máu, trong xương của dân tộc. Bài đọc quá cuốn hút, rất cám ơn tác giả.
ThíchThích
Một trái tim mềm như trẻ con-Con mắt tọc mạch như trăng tròn!-Soi tìm mọi vật không có không!-Để tay thi sĩ múa lông bông..-Đã là thi sĩ nào có dũng!?-Thất thơ thất thểu chốn bụi hồng!-Chỉ dũng máu liều ôm trăng tưởng!-Tử sinh quên hết nhảy xuống sông!-Lúc ấy hết thơ làm người sống-Trên bàn hương khói tỏa bóng dõng!?-Đọc bài viết của Anh Nguyễn Bá Trạc rất khâm phục;Như là một tay bút chiến rất tài.Phải luyện rất nhiều năm phải không Anh?
ThíchThích
không luyện gì cả đâu aitrinhngoctran ! Sinh ra là để viết …Mình rất muốn giới thiệu về chú Trạc , nhưng mình chỉ sợ các bạn lại cho rằng mình thiên vị…nên thôi.
ThíchThích
Một hình thức nhận định bằng “thư” về “thơ” rất lạ, nhưng gẫm-nghiệm lại rất gần, rất thực, thả đầy những hình tượng “tự vấn” thật tinh tế…
_“Nó đau đớn trước quê hương đất nước? Ưu phiền thảm kịch? Êm ả hòa bình?Lồng lộn như chiến tranh? Rộng rãi và cao cả như bầu trời? Thế nào cũng được, nếu nó đến thành thật như sự giản dị của tâm hồn…
“ Ồ, đúng vậy. Thơ, có thể bắt thi sĩ ra đứng trước công chúng như một người ở truồng. Ai cũng có thể thấy hết như nhìn qua tấm kính trong suốt. Mà ngược lại, thơ có khi chỉ lấp ló cái ánh đèn dầu leo lét, mấy giọt nước mắt từ từ chảy xuống canh khuya…”(NBT)
ThíchThích
…trái tim thi sĩ vốn là:
-Thứ nhất mềm mại như trẻ con.
-Thứ nhì sắt thép như chiến sĩ xung phong bắn ra, tung ra các nốt nhạc có phép biến hoá như những sợi lông khỉ Tôn Ngộ Không. Phóng ra những chữ có uy lực để khóc cười, thương giận, buồn hay vui.
Nghiã là : ngòi bút thi sĩ phải ẩn chứa một sự dũng cảm của anh hùng và một trái tim yêu của trẻ thơ …thưa chú ???
ThíchThích
Nếu ai từng dùng con chữ để tạo nên tên mình; dù đã hay chưa nổi tiếng cũng nên đọc bài này. Cảm ơn anh Nguyễn bá Trạc!
ThíchThích
Vâng, một bài viết rất đáng đọc! Cám ơn tác giả.
ThíchThích
Không chỉ là một lá thư riêng gởi cho người bạn thơ , chúng ta có thể thấy nhà văn đã nhắn nhủ , tâm sự ,giải bày nhiều điều với chúng ta , những kẻ có liên quan chút it đến chữ nghĩa…
ThíchThích