BỒNG BỀNH QUÊ NHÀ

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

ddanh

Về quê nội, làng Thuận Mỹ, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hoà
Và quê ngoại, Phủ Thường Tín, Hà Nội

Tôi sinh ra ở Hà Nội. Nhưng ký ức về Hà Nội chỉ là một căn phòng kín bưng trong trí nhớ, tôi như luôn đứng trước cánh cửa phòng ấy với một cảm giác nôn nao, thôi thúc, và cũng buồn bã  tự hỏi, bao giờ thì tôi sẽ mở cửa căn phòng ấy và xếp đặt bày biện mọi thứ tôi đem về từ thực tại?

Ngày rời xa Hà Nội, tôi chỉ mới 3 tháng tuổi, nghe mẹ kể lại, tôi ngủ say trong vòng tay mẹ trên chuyến bay Hà Nội- Nha Trang vào một ngày cuối đông. Bàn chân tôi chưa được có kinh nghiệm về cái ấm cái lạnh của mảnh đất nghìn năm ấy. Nắng thế nào? Gió thế nào? Không một cảm nhận rõ rệt từ tâm thức lẫn trên da thịt. Như một tờ giấy trắng bong. Không đất, không nắng, không gió, không mưa, không mùi trời khí đất, không cả hương vị món ăn nơi ấy, thì làm sao còn có thể có được một giọng nói Hà Nội? Hà Nội thơ trẻ như Thanh Lan, Hà Nội nhẹ trong như gió của cô Mai Hương, Hà Nội trầm như hoàng hôn của Khánh Ly, Hà Nội nồng ấm quyến rũ của Thu Phương, và Hà Nội sang cả như của bác Thảo, (người mà theo má tôi kể là nhân vật trong Tóc Chị Hoài của Nguyễn Tuân), bởi vậy mẹ tôi vẫn thường nói, chẳng một chút gì là Bắc cho giống mẹ! Chịu vậy thôi. Cái khắc khoải Hà Nội ấy, lâu ngày thành giấc mơ, để tôi được đeo đuổi những bước chân nôn nả đến hiện thực. Có thi vị không nỗi chờ đợi ấy? Có buồn lãng mạn không khi nghĩ mình hoài là kẻ “tương tư cố lý”?

Vâng, Hà Nội là giấc mơ của tôi. Sẽ phải có một lần tôi sống thực giấc mơ ấy, đứng ở nơi, gió sẽ thổi lại cho tôi nghe tiếng mình khóc chào đời, tôi sẽ để mình rét cho thấm thía hết cái lạnh mùa đông Hà Nội, tôi sẽ đi trong đêm và nhất định là trong hương thơm hoa hoàng lan của Thạch Lam, và tôi cũng sẽ đủ tư cách để thưa với Vũ Bằng rằng tôi đã cảm nhận một cách rất thơ cái trăng non tháng giêng rét ngọt của ông rồi. Có thể tôi sẽ là người nghệ sĩ (mong vậy lắm) đi lang thang trên phố trong bàng bạc nhạc Phú Quang, để đồng cảm với nhà thơ Phan Vũ cái nỗi niềm chẳng nhớ nổi một tên đường, làm sao mà nhớ được khi ở trong cái không khí quá chừng là lãng đãng khói sương ấy, ôi, mình đi và mình tan vào trong những con đường từ lâu đã chìm trong huyết mạch mình, phải không thưa người?

Và, tôi sẽ làm một chuyến, như là hành hương của riêng tâm linh mình, về quê ngoại. Bước trên từng viên gạch cổ xưa của ngõ làng, nơi từng in dấu chân bà ngoại tôi, mẹ tôi thời ấu thơ, từng trăn trở bao buồn vui cùng họ thời thiếu nữ, và biết đâu, trời, nghĩ đến đây thì tim tôi run lên, tôi sẽ in được dấu chân mình lên dấu chân của một nhà thơ tôi hằng yêu thích, và nó sẽ dẫn tôi đến được một căn nhà, cái phòng, cái bàn, và khung cửa sổ, nơi thao thức cùng người thơ tài hoa yểu mệnh hoa cỏ mờ hơi sương? Tôi tự hỏi, nơi ấy bây giờ có không, căn nhà kỷ niệm của nhà thơ Đi Chùa Hương? Nếu có, thì tôi đem tất cả tấm lòng ngưỡng mộ nhà thơ ấy ra để biết ơn ai đã có một quyết định đầy thi tính ấy. Còn nếu không, thì sẽ là nỗi phiền muộn của nghìn nghìn tấm lòng cô gái nhỏ đã đi chùa Hương mang theo thơ Nguyễn Nhược Pháp trong lòng…Tôi biết, nếu bây giờ có đi chùa Hương, dù mái tóc bây giờ đã lưỡng lự trắng, tôi cũng sẽ vẫn đi với trái tim thanh xuân của cô gái cùng thầy me em dậy, em vấn đầu soi gương, tôi cũng sẽ em không dám đi mau…tôi sẽ…, nghĩa là tôi sẽ y chang như cô gái trong thơ Người, ôi Nguyễn Nhược Pháp. Anh bạn tôi nói, người ta bảo đi Chùa Hương đủ 3 lần thì sẽ được hạnh phúc. Đúng chăng? Tôi sẽ về, lời hẹn Chùa Hương ơi. Một ngàn điều có nói thì cũng vẫn là một vẫy gọi rất quyên rũ của một giấc mơ chưa thành, có duyên nào trong cõi đất trời của tôi đẩy đưa cho không, cố nhân?

Bỗng một ngày, trong khoảng thời gian đang phải tập làm quen mọi thứ ở Mỹ này, tôi bỗng lọt thỏm vào hai chữ Ninh Hòa, trong một bữa tiệc nhà anh Uyển. – Ninh Hòa ư? Tôi cũng quê ở Ninh Hòa- Tôi nghe câu nói của mình vang lên và trong phút giây tôi bỗng lặng người, sao tôi lại nhắc đến Ninh Hòa, trong khi xưa giờ khi nói đến quê nội, tôi thường dùng Nha Trang hơn. Có lẽ âm của giọng nói chữ Ninh Hòa quá giống giọng ba tôi và làm tôi nhớ đến ông đang bịnh nặng ở Sài Gòn, ông vừa mới kể cho tôi nghe lễ thượng thọ được làm ở “nhà quê, nhà bà nội”. Đó là làng Thuận Mỹ, Ninh Hòa. –Tôi cũng quê ở Ninh Hòa– khi thốt lên câu đó tôi muốn khóc- tôi ra sao khi tôi nói câu đó ở một nơi mà người tôi quen chỉ có mỗi anh Uyển, chủ nhà và một anh bạn văn. Nó như thể một câu đi tìm người thân vậy. Và đúng như thế, người mà tôi vừa nghe nói hai tiếng Ninh Hòa kia đã tặng tôi một cuốn sách,với lời dặn, vào đây cho đỡ nhớ nhà, đó là trang web Ninh Hòa. Tôi rất thích chữ Trang Nhà, với nghĩa Nhà, nơi mình ở, mình quen, nơi che cho mình mưa gió nắng nỏ cuộc đời.

Và tôi đã đi về nhà, như thế.

Tôi biết ra rằng bên cạnh giấc mơ Hà Nội kia tôi còn được bồng bênh một bình yên khác nữa là quê nội Nha Trang, cõi, vừa lãng đãng vừa hiện thực, một giấc mơ mà tôi biết rõ mặt ngang mũi dọc của nó ra sao, có thể cảm nhận được nó với tất cả hơi thở mình đã hít thở cùng nó, trái tim mình đã đập cùng nhịp với nó, một giấc mơ bất cứ khi nào muốn là mình sống với được. Chỉ cần khép mắt lại, là nghe và thấy mình đang ngồi trong toa xe lửa xập xình từ Nha Trang về Thuận Mỹ, nơi có một cái hộp ga nhỏ xíu, không gọi là nhà ga được vì nó bé dễ sợ, chúng tôi xuống ở đó rồi men theo con đường rầy đi xuống một cái dốc, đi, đến khi thấy một cây gạo rất cao ở đình làng là tôi biết sắp đến nhà bà nội, cái cây mà ba tôi kể ngày xưa vẫn có một con ma lớn, cao bằng cái cây đó đổ bóng xuống con đường đất rồi nó ngáp một hơi dài trong đêm, hồi đó mỗi lần đi qua anh em tôi hay nắm chặt tay nhau chạy, bây giờ nghĩ thấy đúng là dọa con nít, ma có bóng ư? Chẳng biết.

Hồi đó anh em chúng tôi hay được về quê, bằng xe lửa (xin mở ngoặc để nói với Lương Lệ Bích San, nhân đọc một bài văn, tôi được biết chị cũng quê ở Thuận Mỹ, có thể ông bà cha mẹ chúng ta có quen nhau, và nếu chị đồng tuổi tôi, biết đâu ngày ấy đã chẳng có lần chúng ta ngồi chung một chuyến xe lửa, một toa tầu?), cứ vào đêm trước cuối tuần, các anh thì xếp giấy thành hình máy bay, tôi thì xếp thuyền. Để chi? Để ngày mai khi con tầu đi qua một cái cầu nhỏ, chúng tôi sẽ thả chúng ra ngoài cửa sổ tầu, chỉ vậy thôi mà lấy về không biết bao nhiêu là niềm vui, bây giờ tìm đâu tiếng cười trong veo nắng sớm ấy. Nhưng chả bao giờ tôi nhìn thấy được con thuyền giấy đáp xuống dòng sông nhỏ dưới chân cầu. Nó bay đi đâu những chiếc thuyền giấy mỏng mảnh của tôi? Phải chi ngày ấy tôi xếp cánh diều nhỏ thì tôi sẽ nhìn được và biết được nó sẽ bay lên, cho giấc mơ của tôi lộng gió. Trò chơi ấy lập lại suốt thời thơ ấu mỗi khi sau bữa cơm tối trước cuối tuần, ba tôi bảo, mai cả nhà về quê.

Về quê. Ngày ấy chỉ đơn giản là nỗi mừng vui được đi xe lửa, được chơi dông dài hai ngày không bị học bài, được ăn đủ thứ trái cây, nhất là vú sữa, ở vườn nhà nội. Bà nội tôi ngày ấy cũng đã rất già, theo ký ức 9,10 tuổi của tôi, lưng bà còng nên trông bà bé tí, chỉ nhỉnh hơn tôi chút xíu thôi, bà sống một mình ở căn phòng thờ ông nội, bà đi ra đi vào và thường lẩm nhẩm cái gì đó một mình, thỉnh thoảng bà gọi tôi, cá cum (cơm), con ăn cum chưa, (ngày đó chắc tôi nhỏ lắm nên bà đã gọi tôi là cá cơm, còn anh Khải thì bà kêu, cá ồ, tôi không biết là con cá gì, anh Khoa, cá thu, chắc tại anh trắng và trông mạnh khỏe, mà sao toàn là cá?), rồi bà chỉ tôi nghiền trầu trong cái cối gì mà cũng bé xíu như bà, tôi không làm được, thế là bỏ chạy đi chơi, ngày đó tôi nghĩ bà buồn tẻ quá chắc, bây giờ thì tôi nghĩ bà quả là một phụ nữ can đảm vì chịu đựng trong cô đơn u uất từ thời trẻ đến cuối đời kể từ khi ông nội tôi mất, kể từ khi bác Tám tôi bị chết thiêu trong một nhà tù. Bà như một cái bóng nhỏ loanh quanh căn phòng rộng, thấp thoáng nâu giữa những hàng cây vú sữa, xoài xanh um trong vườn, trên tay cầm một con dao, hay cái rựa tôi chẳng biết. Và bà hay nói chuyện một mình. Đó là hình ảnh tôi nhớ về bà nội.

Khi tôi viết tới đây, tôi nghe tiếng mưa rơi ở ngoài thềm, gió thốc vào lạnh buốt, con trai lại quên khép cửa sổ, tôi nói thành tiếng (hình như hơi giống bà nội tôi rồi) và đi ra ngoài thềm, cụm hoa trâm trâm tím trong mưa, trời ơi, hay là hư bóng trâm ổi ngũ sắc bên vệ đường xe lửa từ ga Thuận Mỹ về tới nhà bà? Anh Khôi, anh cả tôi đã gọi nó bằng cái tên Trâm Trâm trong thơ của anh, xe lửa xa rồi những bụi trâm trâm*…, tôi đã rất thích tên này và dùng tên đó để gọi nó, (vậy thì không lý do gì mà tôi phải nhớ đến cái tên nôm na của nó cả) ngày đó, tôi hay buông tay má tôi để cúi xuống hít cái mùi hăng hắc thơm, để bứt một cái hoa rồi mút từng cánh nhỏ đủ mầu ấy, tôi đã nói với anh Quế, anh họ tôi, em biết tại sao con bướm nó thích đậu vào cái hoa này rồi, nó ngọt lắm. Chắc con ong con bướm nó cũng chỉ cảm nhận cái ngọt đến như thế, như tôi mà tôi. Và nghĩ hoa trái nào mà chim bướm ăn được thì tức mình cũng ăn được, tôi cũng hay thử, rất may là chưa gặp phải cái độc chứ không thì đâu có tôi ngồi đây để lan man chuyện quê nhà…

Mùa xuân ở miền nam California bắt đầu bằng những ngày xám lạnh như hôm nay, mưa dai dẳng buồn như một nỗi chờ. Những tin tức chiến tranh nơi đây nơi kia và động đất ở Nhật làm đông giá những cảm xúc. Những dự đoán về thiên tai  ở Calif. khiến người ta có cảm giác đang đứng sát bên lề mong manh, mất mát, nghĩ rằng, phải làm một cái gì đó đừng trễ nải, đừng để rồi không kịp nữa, tôi thì tôi chỉ biết là mỗi ngày mình phải nói ngay những lời thương yêu với những người thân yêu, bạn bè, cả cậu con đã lớn của tôi, tôi những muốn mỗi ngày phải được ôm nó hôn nó trước khi nó đi học, phải làm ngay những điều có thể, câu nói ấy bây giờ thấy thấm thía hơn rất nhiều trước những đe dọa phấp phỏng đứng bên ngưỡng cửa cuộc sống. Tôi sẽ làm. Nhất là, tôi sẽ mở được giấc mơ lung linh kia của tôi nữa, tôi phải chạm mặt nó, dù một lần trong đời…

Gần nhà tôi ở bây giờ, trời thương làm sao có một nhà trồng một hàng tre, mỗi khi nhìn nó dưới nắng trưa (nắng, tôi đang mong trời lại có nắng cho bớt sợ hãi về cơn bão dự đoán, người bạn thân thiết của tôi bảo, phải có nắng thì đời mới vui và người ta mới có tinh thần được, anh nói hoài khiến tôi bây giờ cũng tin như thế), phải có nắng thì hàng tre kia mới có cái rì rào của mùa hè, và mở ra mơ màng cho tôi con đường đất Chợ Bến, nó thấm đẫm một mùi, gọi là hương hay không hương, một mùi mà tôi luôn luôn phải nhắm mắt lại để trọn vẹn với nó, mùi đất bùn khô dưới nắng, phải là nắng trưa oi nồng, cộng mùi cỏ bên vệ đường, mùi đống rơm trong sân gạch nhà, mùi phân trâu bò trên đường đất, quyện vào trong  gió tre, bạn ơi tôi mong là bạn cũng đã từng ngửi thấy để có thể chia sẻ cùng tôi vì tôi không biết diễn tả thế nào, tôi gọi đó là mùi nhà quê, với tất cả thương yêu gắn bó mà tôi có được với nó. Nó mang ý nghĩa tâm linh đối với tôi, cũng giống như mùi đất, mùi gạch đỏ, xông lên ngào ngạt sau cơn mưa rồi bỗng rất nhanh, trời nắng. Cũng giống như mùi cống dưới cầu Trương Minh Giảng ở Sài Gòn tôi bắt gặp một lần vào lúc 11,12 tuổi khi ngồi trên một chiếc xích lô máy cùng với bà ngoại. Nó là gì mà đặt ngay vào tâm mình một dấu nhắc nhớ không nguôi?  Biết nói sao, cũng như đâu thể cắt nghĩa rốt ráo được duyên và nợ? Tôi cho những mùi ấy là duyên nợ của tôi, nó hợp với nhịp đập trái tim tôi, nó rung động với tôi ở một tần số cao nhất của tâm linh, cho nên, nói như ai kia, là chẳng lẽ mình mong quê nhà cứ vậy để mình mãi nghe được mùi cống nước dưới chân cầu, mùi phân chuồng trong đất nâu dưới cái nắng oi hay sao, thì thật là một kết luận hơi oan ức, đối với tôi. Để đổi cái văn minh mà mất hết trơn cái nhịp, cái mùi gần gũi ruột thịt như thế, tôi thà đi về trên con đê bên đường rầy xe lửa ngắt một nụ trâm trâm mà hút mật ngọt, tôi thà trở lại quê nhà, tắm trong đêm dưới ánh trăng bên cái giếng gạch đóng đầy rêu, cười khúc khích với người chị đang tuổi dậy thì, chị Bích ơi, em biết sẽ có ngày chị em mình lại về nhà nội và tắm khuya trên bờ giếng ấy, và phải là đêm có trăng để em thấy được những mảnh sáng bắn tung tóe từ người chị, hẹn thế nhé, nhưng đừng dọa em, dưới giếng có con rắn thật to nữa nghe, mà cho dù thế cũng không cưỡng được em cái thích tắm dưới trăng khuya bên cái giếng gạch cũ của bà nội đâu.
Chỉ đơn giản những tiếng Ninh Hòa, Nha Trang, tôi nghe được đêm ấy mà tôi được miên man trong kỷ niệm, và có một vòng tay thân thiện bạn bè đang cùng tôi to nhỏ chuyện trò…
Bây giờ nói về quê, không chỉ là đi về một nơi chốn, quê quán nữa, mà là về một cõi tĩnh lặng để chiêm nghiệm những điều đã trải qua, để dọn lòng bình thản đón những điều sắp đến. Cũng với tâm trạng ấy lần đầu tiên tôi gõ vào trang nhà quê hương, cái nôn nao của một kẻ xa nhà lâu ngày đi về trước cổng nhà cha mẹ, hồi hộp gõ. Và cửa đã mở. Không gian ngát mùi trâm trâm và tiếng xe lửa kéo con tầu cũ kỹ phía chân trời bên kia những cánh đồng lúa xanh.

Và, mỗi lần như thế, tôi luôn có cái tâm trạng mà tôi rất thích để nghe ngóng, để sống với. Tâm trạng của một kẻ đang về quê.

Cũng vào đêm mà tôi nghe nhắc đến Ninh Hòa, tôi nhớ đến ba tôi đang bịnh ở Sài Gòn, hôm nay khi tôi viết những dòng này thì ba tôi đã đi xa rồi, trong khoảng thời gian ấy tôi có nói chuyện điện thoại với ba tôi, kể rằng đang sinh hoạt trong hội đồng hương Nha Trang, ba tôi vui lắm. Bây giờ chắc ba tôi đang ở trong một miền xa thẳm thơm phức tiếng gió tre rì rào, trong ánh trăng êm ả trên ngôi đình làng Chợ Bến. Ba ơi, ở nơi trong giấc ngủ xanh non đồng lúa quê nhà, trong bay bổng trời chiều bình yên Thuận Mỹ, con biết ba sẽ đọc những điều con viết hôm nay…

Nguyễn Thị Khánh Minh
Santa Ana, tháng 3.2011

*Thơ Nguyễn Hồi Thủ

9 thoughts on “BỒNG BỀNH QUÊ NHÀ

  1. Xin cảm ơn chị Nguyễn thị Khánh Minh, đã nhận được tập thơ dễ thương “KÝ ỨC CỦA BÓNG” của chị.

    Thích

  2. Hình đại diện của Nguyễn Hoàng Quý Nguyễn Hoàng Quý nói:

    Rồi ra, đến một độ tuổi nào đó, những cảm thức về quê cha quê mẹ với người đi xa luôn hiện về, thôi thúc nhớ, thôi thúc viết mà cái “bồng bềnh” của tác giả Khánh Minh là một. Bài viết dễ thương và xúc động, NHQ đã đi qua ngả ba trong, ngã ba ngoài Ninh Hòa không biết bao lần nhưng chỉ ở nơi này 5 tuần( Lam Sơn Dục Mỹ) trước 75 và thị trấn một tháng năm 1985, thấy đất và người ở đây hiền hòa, riêng trái vú sữa mà tác giả nhắc là điều gợi cho NHQ nhớ nơi này nhiều nhất! Cám ơn tác giả và Tương Tri.

    Thích

  3. Hình đại diện của đinh tấn khương đinh tấn khương nói:

    Những hình ảnh “ấn tượng” nhất của quá khứ luôn được giữ lại trong tàng thức (tâm thức) mỗi người, đó là những hình ảnh thực mà chúng ta sẽ không bao giờ tìm thấy lại trong cảnh thực (hiện tại) được nữa!?
    Cám ơn tác giả Nguyễn Thị Khánh Minh.

    Thích

  4. Luôn luôn có một độc giả ở Italy vào trang tương Tri của mình , mình ao ước được biết bạn là ai ???
    Những quốc gia khác như Việt Nam , Mỹ , Úc , Canada, Singapor, Thái Lan có hàng trăm lượt người đọc mình đã rất vui , nhưng những nơi khác it người Việt cũng 5 , 10 người vô đọc . Chỉ riêng bạn , mình để ý ,chỉ một mình bạn thôi , và đọc hàng ngày . Sao bạn không cho mình vài chữ , Độc giả thầm lặng ơi !

    Thích

  5. Khánh Minh ơi . Lương Lệ Bích San có bà con chi với chị Lương Lệ Huyền Chiêu là “nhà tôi” của anh Khuất Đẩu ?

    Thích

  6. Hình đại diện của nt khánh minh nt khánh minh nói:

    Lệ Thanh ơi, ban cũng người Nha Trang, và Ninh Hòa? Những chia sẻ của bạn làm mình hạnh phúc.Trang Tuong Tri này cũng mang lại cho mình cái ấm áp của kẻ về quê đấy hỡi các bạn Tuong Tri ơi…

    Thích

    • Hình đại diện của Lệ Thanh Lệ Thanh nói:

      Khánh Minh ơi, mình sinh ở Huế, lớn lên ở Nhatrang (từ 6 đến 18 tuổi), học ở Huế 1 năm, lưu lạc vô Sài gòn, đi dạy ở Đà Lạt và bây giờ thì đang ở một nơi cách quê nhà nửa vòng trái đất. Mình có một con dâu người Dục Mỹ-Ninh Hòa.

      Thích

  7. Hình đại diện của Lệ Thanh Lệ Thanh nói:

    Bài viết đưa mình vào kí ức thẳm xa của quê nhà, quê nhà của kẻ viễn xứ đâu phải chỉ là một địa danh nào nhất định, đó là nơi gợi cho mình cảm giác yên ổn và tràn ngập yêu thương. Mình yêu tất cả những nơi Khánh Minh nhắc đến: Nhatrang( nơi tuổi thơ tôi), Ninh Hòa.( nơi mình về đón dâu)..và Hà Nội (trong thời quá vãng của Tự Lực Văn Đoàn)!..

    Thích

Comment