RONG TRÂU.

rong trâu

( Một câu chuyện đồng quê )

Lúc đó tôi đã được hơn gần 10 tuổi đang học lớp ba. Và đang được trong kỳ nghỉ hè. Tôi học chung một lớp với Long, người con kế của chú ba Mận, ở cùng trong vuông đất với nhà bà Nội của tôi (1). Nhà Long có một chuồng trâu nuôi khoảng năm con lớn nhỏ. Thường thì nhà của Long mướn người khác đưa trâu đi ăn. Những tháng hè thì Long tự dẫn trâu đi ăn. Tôi thì từ nhỏ lớn lên thích chơi đủ thứ trò chơi của tụi con trai như đá dế, thả diều, bắn chim, câu cá… Và mặc dù đã theo mấy đứa khác đi ra bưng(2) nhiều lần để bắt cá, nhưng chưa bao giờ tôi được đi rong trâu.
Tháng trước tôi có ngõ lời với Long cho tôi đi theo rong trâu vì sắp được nghỉ hè. Và chiều hôm qua, gặp nó đang lúc lùa trâu vô chuồng Long nói với tôi là ngày mai đi rong trâu với nó. Tôi rất vui mừng và về nhà gặp Ông Bà Nội xin phép. Vì là mùa hè nên Ông Bà đồng ý ngay và tôi cũng không quên nhờ Bà nội đánh thức dùm (quên nói vơí các bạn tôi là cháu đích tôn nên được ông bà cưng chìu nhất nhà). Thằng Tuấn, đứa em cô cậu đòi đi theo chơi. Nhưng vì em còn nhỏ nên Bà Nội không cho đi. Đêm đó nằm trên bộ ván gõ (3) mà tôi cứ thao thức trằn trọc khó ngủ. Cứ mong cho trời mau sáng để được đi chơi. Rồi con buồn ngủ chợt đến lúc nào và tôi thiếp đi mà không hay biết …
Thoáng nghe tiếng bà nội văng vẳng bên tai và chân mình bị lay mạnh. “Dậy. dậy đi con”. Bà vừa lắc chân tôi vừa gọi. Tôi thức dậy, vươn vai và leo xuống khỏi bộ ván gõ. Vừa đánh răng, súc miệng xong là tiếng gỏ năm cái “boong, boong …” của cái đồng hồ treo trên cây cột nhà báo cho tôi biết đã đúng năm giờ sáng. Bà nội đã dậy sớm chuẩn bị cho tôi một gói cơm mo cau (4), vài trái dưa leo và một ít muối tiêu. Vừa lúc đó thì Long cũng vừa bước vô ngạch cửa vồn vã nói : “ Chào bà Tư”; Nhìn thấy tôi nó hỏi liền: Vũ ơi! Xong chưa mậy? Xong rồi, tôi vừa đáp vừa quay qua hướng bà nội nói: Thưa bà, con đi. Bà tôi vừa buông tiếng: Ừa! Tôi liền vội bước lên gian nhà trên để chào ông nội thì không thấy ông đâu cả. Tôi hỏi bà, bà tôi cho biết là ông đã đi uống cà phê từ sáng sớm. Bà tôi vừa đưa túi đệm đựng cơm và móc trong túi áo bà ba cho tôi thêm tờ giấy bạc hai đồng có hình ông Tổng Thống Ngô đình Diệm. Tôi bước xuống nhà dưới kế bên bồ lúa lấy cái đụt( giỏ để đựng cá). Vừa đi vừa chạy theo qua đến nhà Long; thì thấy nó đi đang đến bên chuồng trâu, rút chốt cổng, và kéo cánh cửa bằng tre cho mấy con trâu đi ra. Con trâu đầu đàn là con trâu đực tên Chảng, to lớn với hai cái sừng cong vút, kế đó là con trâu mẹ cũng to lớn và hình như đang có mang nên tướng đi trông thấy nặng nề chậm chạp. Hai con trâu đực, một con độ hai năm tuổi, tên Kui một con khác hơn một tuổi tên Cò vì da nó hơi trăng trắng, và một con nghé cái mới mua độ sáu tháng tuổi. Mùi phân trâu hòa lẫn mùi nước đái bay lên ngai ngái xông vào mũi. Tôi phải quay đầu né tránh sang một bên. Long đem theo cái gàu bằng nhôm trái sáng . Khi lùa bầy trâu đến ngã ba đường xuống bến gần nhà ông Năm Sái, thì tôi đã thấy nhiều đàn trâu từ mấy ngã đường cùng hòa nhập nhau để đi xuống hướng bến cây Dừa. Tôi gặp vài thằng bạn học cùng lớp như thằng Sơn, thằng Tùng cũng dẫn trâu đi ăn. Tiếng la í é của những anh chàng chăn trâu kêu gọi mấy con trâu bỏ bầy vào vuông rào những nhà hai bên đường để ăn lá mía hay lá đậu phọng.. Tiếng quất roi bằng nhánh trúc vào đít trâu nghe kêu đét, kèm tiếng chửi thề ỏm tỏi… Tiếng gọi nghé ngọ, nghé ngọ của những con trâu mẹ gọi những con nghé còn mãi mê ngơ ngác rong chơi không chịu đi theo bầy…
Những tiếng chân sầm sập của bầy trâu làm tung từng đám bụi đỏ mịt mù bay theo từng cơn gió của một buổi sáng hòa theo tiếng gà gáy rộ của những anh chàng gà trống. Khi chúng tôi xuống đến bến cây Dừa, tôi nói với Long chờ tôi và vội chạy tạt vào quán cóc của bà Hai để mua cái gì đó ăn sáng.Trong quán thì rất đông người, tiếng nói chuyện rôm rã. Trên cái bàn dài lớn hình chữ nhật. Người thì ngồi trên chiếc ghế dài gọi là con ngựa, áo vắt trên vai nhâm nhi cái xây chừng đen, tay cầm cái bánh tiêu nhúng vào ly cà phê ; người khác thì ăn hủ tiếu với những lát thịt xá xíu màu đỏ trên mặt những lá xà lách. Một nhóm ba người, mới sáng sớm đã nhâm nhi bên xị đế và mấy hột gà ung, uống vô kêu ót.ót. Nhăn mặt xong thở ra: khè. khè! Tôi vội mua bốn cái bánh dừa và bịch kẹo đậu phọng rang, loại trên mặt có tráng một lớp đường vàng như mạch nha hết hai đồng bạc mà bà tôi đã cho. Bước ra khỏi quán thì thấy có hai anh đi đặt trúm(5) hay đi câu đêm mặt mũi bơ phờ. Họ ngồi chồm hổm bên cạnh mớ đồ đi câu và đang cho tay vào giỏ bắt ra mấy con cá trê vàng mập mạp đưa cho mấy chị bạn hàng,là người mua cá đem ra chợ bán kiếm lời. Họ đang mặc cả giá với nhau.
Tôi chạy ra xuống mé sông thì thấy Long vẫn còn cho đàn trâu chờ tôi. Đưa Long bốn cái bánh dừa và bịchj kẹo. Vừa đưa tay lấy bánh Long vừa nói: Mầy đi theo cỡi con trâu mẹ. Xong nó bỏ bánh và bịchj kẹo vào cái gầu bằng nhôm rồi máng lên sừng trâu. Vừa đi theo đàn trâu, tôi vừa đưa mắt nhìn theo Long coi nó làm gì để mà bắt chước…

Nước sông đang dâng lên, mênh mông tràn đầy cả hai bờ. Tiếp giáp giữa ngã ba sông và bến cây dừa là những dãy cát, người dân trong làng đến đây xúc cát chở về xây nhà năm này qua năm nọ mà cát không bao giờ vơi.
Đàn trâu đã bắt đầu lội nước, Long ngồi trên lưng con Chãng, nó lội đi phăng phăng . Nắm đuôi con trâu mẹ nó kéo tôi đi một hồi, rồi tôi đưa bàn tay vuốt nhè nhẹ lên lưng và thì thầm như ngầm muốn nói với nó cho tôi leo lên lưng. Xong tôi leo lên lưng nó. Mới sáng sớm ngâm mình dưới nước da gà nổi lên cùng mình, lội theo đàn trâu một hồi cảm thấy bớt lạnh vì quen dần. Trên mặt sông hơi nước bốc lên thoang thoảng, lững lờ chầm chậm như còn lưu luyến không muốn rời xa. Hai bờ sông đầy những lùm mây dóc(6), trâm bầu, mù u… từ từ lui lại phía sau. Đàn trâu đang bơi về phía hướng Láng Chà. Mặt trời đã ló dạng từ phía xa xa, những ráng mây màu vàng rực rỡ hừng lên từ phía chân trời, vài đám mây xám nhỏ lãng đãng trôi. Một bầy cò trắng độ hơn chục con sãi cánh dài hình chữ V đang bay về hướng Tây, có lẽ chúng đã ăn đêm trên cánh đồng nào đó bây giờ bay đi tìm chổ ngủ. Bầy trâu lội sát bờ sông nên tôi nhìn thấy nhiều trái bình bát chín vàng!( mấy trái này mà hái đem về dú vào lu gạo vài ngày xong dầm với nước đá đập nhuyễn trộn đường cát ăn là hết xẫy!).
Nhiều hàng cây mua,trái chín tím chiếm cả một khoảng đất dài ( trái sim rừng, tôi thích ăn những trái mua này, rất ngọt, ăn nhiều mặt đỏ hừng hừng như ăn cơm rượu nếp nhưng cái lưỡi thì tím ngắt!). Trên bờ lác đác từng nhóm người vác cộ đập lúa, người thì gánh hai cái thúng, bên trong lỉnh kỉnh như ấm nước, bánh ú hay khoai lang nấu, xôi đậu để đãi những người cắt, phụ đập lúa ăn giậm(7). Tiếng nói cười, trêu chọc vang cả một góc trời. Cuối cùng khoảng chừng một tiếng sau đàn trâu cũng lội đến chỗ để cho ăn. Đó là một vạt trống có nhiều cỏ mọc cao và trên đám ruộng những gốc rạ màu nâu sậm, đã mọc lên những chùm lúa non xanh mơn mởn. Đàn trâu bây giờ tự do ăn lúa non. Cuối đám ruộng là một đàn trâu khác cũng đang ăn. Trên lưng chúng một vài con cò trắng nhàn nhã rĩa lông. Đàn trâu đó của thằng Dứa cũng học cùng lớp ba, nhà ở ấp Ba dưới dốc.
Tôi và Long đem bánh dừa ra ăn. Mùi nếp bay lên mũi thơm lừng khi lớp vỏ bằng lá dừa được bóc ra(8). Những hạt đậu đen béo ngậy và tiếng nhai sựt sựt của những miếng cơm dừa nạo. Hai thằng ăn chớp nhoáng hết hai cái bánh. Tôi cảm thấy còn muốn ăn thêm cái nữa! Long bước về hướng góc ruộng tìm chỗ vạt nước trong, đưa tay vốc lên môt bụm nước. Tôi cũng bước tới tìm một chỗ để uống. Nước ruộng hay sông uống vào mát lịm và ngọt. Đôi khi cũng chua chua vì có những chổ nhiều phèn(độ PH cao).
Nắng đã lên cao gần chếch đỉnh đầu. Long đưa mắt quan sát một vòng đàn trâu xong buột miệng nói với tôi: Mình đi bắt cá! Nước trong ruộng không còn nhiều chỉ hơn gang tay (vì người ta đã xã bọng )(9). Long đi dọc theo bờ ruộng, tôi đi theo sau lưng nó. Thỉnh thoảng nó dừng chân dậm mạnh xuống bờ đất, miệng bậm môi lại bật ra tiếng kêu: “Bập. bập”. Nó giải thích với tôi rằng: “Nếu có cá thì nó sẽ bị động và tức thả bong bóng lên mặt nước”. Long cứ vừa đi vừa dậm dọc theo bờ ruộng cho đến gần góc thửa ruộng. Nó dậm chân xong thấy chỗ này cá thả nhiều bong bong, nên nói với tôi: Mình bắt cá ở đây! Và nó đưa tay chỉ một khoảng không gian cho tôi và nói: “Mầy làm bờ bao từ đó tới đây”. Tôi lội xuống, cách bờ ruộng khoảng 15 mét, đưa tay xuống xắn chung quanh gốc rạ thành từng khối đất đấp thành bờ cao hơn mặt nước khoảng gần gang tay. Long từ đàng kia cũng móc gốc rạ và đấp bờ chạy dần về phía hướng vị trí của tôi. Hai thằng thi nhau đấp bờ bao xem thằng nào làm nhanh hơn.
Khoảng nửa giờ sau thì bờ bao đã được làm xong. Long leo lên bờ lấy cái gàu nhôm xuống và bắt đầu tát nước . Tôi vào thay vị trí khi thấy trán của nó rịn mồ hôi và thấm mệt. Hai thằng cứ thay nhau tát cho đến khi nước chỉ còn xâm xấp. Theo đường nước chảy về hướng của chúng tôi đã thấy nhiều con cá lội ngược nước. Long nói đó là cá rô. Trong lúc tôi khom lưng tát nước thì Long lội chung quanh thấy chỗ nào dòng nước chảy yếu thì nó dùng hai tay vẹt sình bùn để cho đường cho nước chảy nhanh hơn. Nắng đã lên chếch qua đỉnh đầu. Cái nóng bắt đầu hừng hực và gay gắt. Mồ hôi nhể nhại ướt cả chiếc sơ mi đang mặc. Long đã đi mò từng vũng nước cạn. Một con cá rô gần bằng ba ngón tay bị nó bắt dơ lên và nói: “Vũ, mầy coi con cá rô này mập quá chừng. Chắc nó đang có trứng đó!”. Sau đó nỏ bỏ con cá vào cái đụt mà nó cột ngang bụng bằng sợi mây dóc. Một con cá lóc vuột khỏi tay nó phóng sang bên kia bờ bao kêu cái “tủm”. Thằng Long buộc miệng chửi thề: Mẹ nó! tao mới vừa đụng nó đã phóng mất, con này bự lắm đó ! Tôi ngưng tát và đưa mắt nhìn theo đường nước chảy, thấy một con cá rô đang lóc ngược dòng nước cách tôi một khoảng không xa. Tôi buông gàu tát và bước nhanh về hướng nó. Nghe tiếng động nó chúi xuống bên cạnh gốc rạ. Tôi rón rén bước nhẹ đến và xòe hai bàn tay úm vào xuống gốc rạ. Ngón tay tôi đã đụng trúng và nó đã nằm gọn trong lòng hai bàn tay. Đã có kinh nghiệm từ trước nên tôi nhẹ nhàng dùng ngón tay cái và ba ngón kia bấu chặt vào mang nó, nếu không bấu chặt như vậy nó vùng mình thì những vây gai sẽ chém xốc vào tay chảy máu! Tôi bước đến và bỏ nó vào đụt. Long bảo tôi khoan bắt cá vội mà hãy tát nước thêm một chút nữa.Vì nếu không tát cạn nước thì mấy con cá lóc dễ phóng đi lắm. Chừng mười phút sau sình đã lộ ra nhìn thấy gốc rạ. Theo đường nước sình mấy con tép bạc quẫy mình di chuyển chậm chạp, một vài con cá sặc trắng cũng trườn mình đi về hướng chỗ trũng . Thấy đã cạn nước Long lên tiếng: Vũ, mầy đi bắt được rồi đó.
Tôi bước ngược dòng nước lên, mò từng gốc rạ một, vì cá thường ẩn nấp vào những chỗ gốc rạ hay gốc cây( nếu là ở sông rạch). Độ khoảng chừng mười gốc rạ tôi mò trúng một con cá, tôi nhẹ nhàng tìm cách để cho cái đầu nó lọt vào bên trong lòng bàn tay, nếu nó có vùng mình để thoát thân thì không thể nào vượt qua nổi mười ngón tay như cái nôm bao bọc. Đưa lên mặt nước thì ra là một con cá tràu(9) lớn gần bằng cườm tay của tôi. Tôi đem cá về phía Long để bỏ vô đụt. Lúc đó Long cũng bắt được thêm vài con cá rô và mấy con tép bạc. Nắng đã lên quá cao, khi mò xong những gốc rạ cuối cùng thì hai đứa tôi đã quá mệt và đói bụng quá. Nhìn vào đụt thì thấy đã bắt khá nhiều cá gần nửa giỏ. Tổng cộng được năm con cá tràu, cá rô, cá sặc lủ khủ. Hai thằng bước xuống con rạch nhỏ rửa tay và mặt qua loa và cũng không quên nhúng giỏ cá cho ra bớt sình; rồi tìm một chỗ bóng mát dưới gốc cây trâm sắn to lớn. Long xuống trở lại ruộng, đi về phía những đống rơm quơ một ôm nhỏ. Nó bẻ hai nhánh cây bình bát, tuốt hết lá và bẻ hai đầu chỉ còn lại hơn hai gang tay. Thò tay vào đụt bắt hai con cá tràu ra. Đập mạnh từng con vào gốc cây trâm. Chỉ một cái vung tay hai con cá giãy bạch bạch vài cái rồi từ từ ngay đơ cán cuốc. Nó cầm con cá lên xỏ que vào miệng xuyên suốt gần thủng qua bên kia. Con cá kia cũng như vậy. Cấm hai que cá xuống bờ ruộng, hai con cá chết chổng ngược đầu xuống. Nó lấy rơm quấn chung quanh chúng rồi lấy que diêm ra. Xoẹt. xoẹt. Hai tia lửa bùng cháy lên nó châm vào hai cột rơm nhỏ. Rơm khô gập lửa bén cháy ngay tức khắc. Hai ngọn đuốc cháy phừng phừng. Nó không để cho rơm cháy tàn, nó luôn tay chêm thêm rơm vào. Tôi vội bước đến cái giỏ cá, đưa tay vào đụt lôi ra hai con tép bạc lớn gần bằng ngón tay trỏ. Tôi thảy chúng vào ngọn lửa. Tay tôi bẻ một nhánh cây mua, tuốt hết lá làm que để khều lửa và không cho con tép bị cháy. Chừng khoảng hơn 5 phút sau, Long không chêm thêm rơm nữa. Nó đợi cho tàn ngọn lửa. Nó lấy rơm chà xung quanh những lớp vỏ cá cháy đen. Mùi cá khét lẫn mùi thơm của thịt cá làm tôi cảm thấy đói quá xá, tôi thấy nước bọt ứa ra trong cổ họng mình.
Hai đứa tôi đem mo cơm muối tiêu bày ra trên mặt đất. Tôi đưa nó một con tép đã chín đỏ. Tôi lột vỏ con tép và bỏ vô miệng. Thịt nó rất ngọt. Mùi thơm của tép hoà lẫn mùi cháy khét của vỏ tép. Long cầm con cá tay nó bẻ ngang đầu cá. Bên trong ruột cá bốc khói. Nó tay vừa bẻ từng miếng cơm bỏ miệng, tay kia nhúng miếng ruột cá vào muối tiêu rồi ăn ngon lành. Nó lấy trái dưa leo cắn nghe rốp rốp. Còn tôi trông thấy nó ăn ruột cá còn máu đỏ đỏ như vậy bụng cảm thấy ghê ghê… Nhưng sau đó cũng lại bắt chước nó, lấy ruột cá chấm muối tiêu. Vị ngọt của ruột cá lẫn vị đắng của mật cá. Đầu tiên nhai không mạnh miệng sau đó chất ngọt của ruột cá làm tôi ăn ngon hơn. Hai thằng ăn ngấu nghiến nen chỉ một thoáng mo cơm đã hết sạch. Hai thằng ăn no căng bụng. Ăn xong, Long và tôi lại đi kiếm chỗ nước ruộng trong mà vốc nước uống. Tôi nói với nó Tao vơí mầy đi hái mây dóc về bắn ống thụt. Long bảo: Mầy đi hái đi. Tao phải ở đây coi chừng trâu. Ờ! vậy thì tao đi đây. Tôi đi ngược về phía hướng về làng. Đi qua mấy thửa ruộng chừng hơn trăm thước thấy mấy trái bình bát lớn màu vàng om nắm kề sát mé sông. Tôi bước men xuống bờ sông, tay vịn mấy cành cây lớn, lần tuột xuống mé nước. Nhờ nó nằm khuất mé sông nên không ai hái. Chứ trên đường bờ đê đã không còn đến tay mình. Tôi hái được hai trái lớn hơn lòng bàn tay. Leo lên bờ và đi về những hàng cây trâm. Tôi đưa mắt tìm và thấy một cây trâm lão trái nhiều và chín đen. Tôi leo lên cao, đưa mắt nhìn thấy từng chùm trái to chín đen, tôi lựa mấy trái to háibỏ vào miệng ăn. Vị ngọt bùi thấm vào cổ họng . Trái này ngon và hột nhỏ. Vì không có đem bao để đựng nên tôi lấy cái nón lưỡi trai đựng chúng. Hái hết nhánh này tôi chuyền qua nhánh khác. Chừng độ hai mươi phút sau tôi đã hái đầy cái nón. Sau đó tôi đi đên mấy cây mù u leo lên. Mây dóc là một loại dây leo nên thường bò trên những hàng cây to. Tôi bẻ từng nhánh liệng xuống đất. Chẳng bao lâu tôi đã bẻ khá nhiều. Nghĩ cũng đã đủ nên tôi leo xuống. Tôi lượm những nhánh mây xếp lại thành bó, tôi lấy một sợi mây dài cột chúng lại. Bây giờ nào là bình bát nào là nón trái trâm và một ôm mây dóc. Nhiều quá không biết cách nào xách cho hết nên tôi nghĩ ra một cách là cởi áo ra. Tướt mây dóc cột hai cái tay áo lại rồi bỏ cái nón đựng trái trâm và bình bát vô. Cột chéo hai như hình chữ nhân. Vậy là tôi có thể xách chúng dễ dàng. Hai tay xách mây dóc và bọc trái cây tôi rảo bước về hướng Long. Nó nhìn thấy tôi đem đồ về buột miệng khen: mầy hái giỏi quá Vũ; và nó cũng khoe tôi nó mò bắt thêm được một xâu cá. Mặt trời đã hạ xuống dần . Ánh nắng không còn gay gắt nữa. Tôi và Long ngồi xuống gốc cây trâm và mở bịch kẹo đậu phọng ra ăn. Tôi vói miệng kêu Dứa qua ăn kẹo cho vui. Mùi thơm của kẹo mạch nha đậu phọng nhai thật dòn và béo ngạy. Nghe nói kẹo này từ Trãng Bàng, nơi trồng nhiều đậu và ngon nhất tỉnh Tây Ninh. Ba thằng ăn một chốc hết 10 miếng kẹo! Lại vốc nước ruộng uống một bụng. Gió bắt đầu thổi mạnh, những tiếng lao xao của hàng cây trâm, tiếng chim cúm núm đâu đó kêu vang “ kum.kum”. Long nói là nước đang lớn.Trên con đê người ta đang gồng gánh trở về. Từng nhóm chín mười người. Có người vác trên vai một bao lúa mới nước còn chảy xuống vai, tay kia cầm một xâu cá. Thanh niên nam nữ cười nói trêu ghẹo nhau. Long nhìn trời và nói với tôi: Thôi, tới giờ mình lùa trâu về. Nó cầm cái đụt lội xuống ruộng về phía con Chãng, đưa tay nắm vàm (10) dẫn đi. Tôi gom bọc áo và mớ mây dóc cũng xuống theo và lùa con trâu mẹ. Mấy con trâu con thấy vậy cũng lửng thửng bước theo. Thằng Dứa cũng lùa trâu đi sau.
Đàn trâu trở lại chỗ cũ nơi lúc sáng đã đi lên (người ta chỉ cho phép lùa trâu đi lên xuống cùng một chỗ; như vậy trâu không đạp bể bờ đê).
Tôi máng bọc áo và mớ mây dóc lên sừng con trâu mẹ rồi leo lên lưng nó. Đàn trâu bơi đi một khoảng đếười chết đuốin ngã ba vàm thì gặp mấy uàn trâu khác cũng bơi về. Mấy người này là dân chăn trâu mướn kỳ cựu. Đi làm mướn từ nhỏ, vì nhà nghèo nên chẳng có được học hành. Da họ đen bóng, tướng tá vạm vỡ. Long nói họ coi trâu lâu năm nên có phép thần thông. Dân làng cúng đồ ăn trên bè cho những người chết đuối. Khi thấy bè đồ cúng trôi trên sông, mấy người chăn trâu mở miệng kêu là chiếc bè quay vô bờ đến chỗ họ ngay. (Phải chăn trâu trên 10 năm mới linh ứng)
Ngồi trên lưng trâu mình trần, gió thổi lạnh quá nên tôi tụt xuống ngâm mình dưới nước cho ấm. Thấy con trâu Kui đang bơi ở phía sau nên tôi tụt xuống rời con trâu mẹ bơi về phía nó. Tôi leo lên lưng nó ngồi thì nó không chịu cứ hết trở bụng phồng qua bên này rồi trở qua bên kia nên tôi bị rớt lại xuống nước không ở trên lưng nó được. Thấy tôi vẫn bám leo lên lưng nó hoài nên nó liền lặn một cái mất tăm… chỉ thấy những bong bong nước từ dưới sâu bung lên mặt vỡ tan! Thế là tôi đành phải buông nó ra và bơi về phía con trâu mẹ.
Phía tuốt đàng sau, đàn trâu của thằng Dứa vẫn còn bơi theo. Bên kia sông cũng có nhiều đàn trâu khác cũng đang rong về. Tiếng hú gọi nhau, tiếng cười nói xen lẫn tiếng chim kêu vang vang…Một chiếc ghe tam bản chở đầy những bao lúa, be ghe lấp liếm mặt nước vì ghe chở khẵm(chở nhiều quá trọng tải), âm thanh của động cơ máy chạy bằng dầu cặn kêu vang đinh tai, làm lổ tai kêu o o và phả khói đen mù mịt…Những lọn sóng cuồn cuộn lan tỏa ra hai bên sông chạy đánh vào mặt mấy con trâu. Làm chúng phải lắc đầu và khịt mũi vì nước!
Trên bờ đê một nhóm hai hoặc ba người vác đồ đi cắm câu đêm đi ngược ra bưng. Đoàn người trên đê vẫn cười nói vui vẽ sau một ngày cực nhọc trên đồng ruộng.
Khi đàn trâu về đến bến cây dừa, ánh sáng của mặt trời đã tắt, những đám mây xám đen đang kéo về phủ kín bầu trời. Trên không từng đàn chim rủ nhau bay đi ăn đêm. Tiếng chim gọi bầy hoà cùng tiếng người trong một cảnh hoàng hôn vội vã.Trên bến nhiều ghe chở lúa cập vào. Thanh niên phụ nhau vác những bao lúa chất lên trên những chiếc xe bò. Những con bò mộng vạm vở thư thả nhai những lọn rơm tươi; nước dãi chảy ra hai bên khóe miệng. Đi ngang quán bà hai đã đóng cửa từ chiều. Đàn trâu của thằng Dứa đi rẽ sang ngã khác về hướng dốc.
Về đến nhà thì đã lên đèn. Lùa đàn trâu vô chuồng, Long kéo cửa tre và gài chốt. Nó bước ra trước sân nhà nó. Nó lấy giỏ cá và phân chia làm hai. Của nó thì nó bỏ cá trong cái gàu nhôm. Tôi được hai con cá tràu( cá lóc nhỏ hơn cườm(cổ) tay, người dân dịa phương kêu là cá tràu. Mấy con cá rô và mấy con cá sặc.
Đem cá về nhà khoe với Bà nội. Bà cười và nói ngày mai bà sẽ kho cá rô cá sặc với củ nghệ. Còn cá tràu thì nấu canh chua lá giang. Bây giờ con đi tắm lẹ lên, cả nhà chờ con về ăn cơm đó! Mấy đứa em thấy nón trái trâm chín đen liền nói: Cho em với, anh Vũ cho em ăn với. Bà nội bảo: Để ngày mai hẳn ăn. Bây giờ lo ăn cơm trước! Mấy đứa em gái mặt xị xuống nũng nịu dường như muốn khóc!
Tôi đưa mấy trái bình bát và nói: “Mấy em đem vào dú ở khạp gạo; khi nào chín anh sẽ dầm đường và nước đá cho mấy em ăn”.
Vào buồng tắm vừa xối nước vừa nghĩ đến ngày mai tôi sẽ lựa chặt tầm vông để làm mấy cây ống thụt mới cho tôi và thằng Tuấn. Chắc chắn nó sẽ thích cây ống thụt hai gắp bắn trái mây dóc này lắm…(11) và rồi tưởng tượng đến món cá rô kho nghệ và canh chua lá giang mà nước bọt trong miệng muốn tươm ra…

(Thành phố Portland, Lập Xuân )
VŨ HỒNG TRUNG

TB: Câu chuyện này viết theo kiểu hồi ký nên còn rất nhiều thiếu sót. Bây giờ nhà nông người ta đã dùng máy cày thay trâu nên ít nuôi trâu hơn.
Mong rằng đây là một câu chuyện giải trí làm cho bạn thích thú thêm về khung cảnh đồng quê Việt Nam ngày trước.

Chú thích:
-Rong Trâu: đưa trâu đi ăn bằng đường sông. Không thể dẫn trâu đi trên bờ, vì trâu quá nặng, đi sẽ đạp bể đường đê, hoặc sẽ ăn lúa ( những đám lúa chưa kịp gặt ).
-Nhà Ông Bà Nội: Tôi không nhớ rõ là sống với nhà Ông Bà Nội từ lúc nào. Nhưng có lẽ là từ lúc có trí nhớ (4,5 tuổi ). Nhà cất đàng sau nhà Bà Hai Ui, là chị em bạn dì với bà Nội. Nhà cất theo chử đinh ba gian lợp tranh. Cột kèo bằng cây dầu vuông, kê chân cột bằng đá xanh. Vách ván không bào quét dầu nhớt. Cửa lá sách. trước sân có trồng một hàng cau và mỗi gốc cau có trồng dây trầu để bà nội hái ăn. Có một cây mít nghệ múi dầy khi chín rất thơm ngon. một cây xoài thanh, hai cây trứng cá, hai cây ổi sẻ trái nhỏ, ruột đỏ chín rất thơm và ngọt(nơi đây thường là nơi tụ tập của mấy con chim hoành hoạch đến ăn ổi chín). Đàng sau nhà là một khoảng sân có trồng một hai bụi tre Tàu và Mạnh Tông(để hái măng); và một hàng tre tầm vông làm ranh giới, vuông đất sát mé đường xe bò sau nhà. Nhà có ông bà Nội và cô út Ngọc, có chồng là Trung úy lính Công binh. Họ có ba người con, một trai tên Tuấn được 6 tuổi và hai gái tên Phượng 4 tuổi, Lan 3 tuổi. Dượng út nhà có chiếc xe hiệu Citroen kiểu traction, màu đen. Thỉnh thoảng chở gia đình đi Cấp/VũngTàu hay Long Hải tắm biễn. Ông Bà có 06 mẫu ruộng cho người ta thuê. Mỗi năm đến mùa lúa chín, có người đánh xe bò đi thâu bằng lúa đem về đổ vào bồ dự trữ.
-Bưng: vùng đất thấp trũng làm ruộng trồng lúa nước, gần sông để có nguồn nước quanh năm; có thể cấy ba bốn vụ lúa một năm. Khác với ruộng gò, chỉ có nước vào mùa mưa; ruộng gò sau khi gặt lúa người dân còn trồng thêm các loại hoa màu khác như dưa leo, cà chua hay đậu phọng, thuốc lá tùy theo vùng.
-Ván gõ: Nhà quê thường trang trí phía nhà trước bằng bộ ván gõ. Gõ đỏ là một loại gỗ quý thường dùng đóng bàn ghế hay tủ thờ, tủ đựng quần áo…Mùa hè ngủ trên bộ ván này rất mát.Nhà giàu thường xài bộ ván gõ hai miếng ghép lại dầy cở một tấc (10cm). Đặt nằm trên hai con ngựa hình chữ A cũng bằng gỗ tốt.
-Mo cau: Buồng cau khi trổ có một lớp vỏ bọc phía ngoài gọi là mo. Cái này sử dụng rất bền. Người nhà quê lấy cái mo này làm quạt (Thằng Bườm có cái quạt mo…) hay dùng để gói cơm đem theo đi câu cá hay làm ruộng. Bà nội tôi thường lấy cơm nóng bỏ vào bao bồng bột( bao bằng vải dầy thường đựng bột làm bánh mì) nhồi cơm cho dẽo sau đó dùng mo cau gói lại. Cơm ăn rất ngon dẽo và dai.
– Đặt (ống) Trúm: Một cách bắt cá hay lươn, người ta dùng một thân tre già dài khoảng một thước tây. Dùng que sắt nung đỏ dùi lủng thông qua các mắt tre (đốt tre). Một đầu người ta làm hom bằng tre hay sắt để cá lươn chui vào mà không ra được. Người ta dùng mồi để bên trong ống( là những con trùn chỉ trộn thính hay ruột gà thúi để bắt lươn); đặt ống trúm chỗ gần đường nước ra vô của ruộng hay gốc rạch nước. Cá trê và lươn thường ăn vào ban đêm.
-Mây dóc: Một loại dây leo lá trông giống cây mây rừng. Trái có từng chùm màu xanh lớn hơn đầu đủa một chút; chúng thường mọc ngoài bưng.Trẻ con thường hái chúng bắn ống thụt. Loại này bắn trúng da rất rát hơn loại bằng giấy ngâm nước. Và rất thông dụng vì có thể bắn liên tục với cách làm những ống đạn ghép hai ống. Còn đạn giấy một gần bắn có một viên. Nhưng mây dóc thì có mùa còn giấy ngâm nước thì lúc nào cũng có!
-Ăn giặm: Nhà nông thường đãi ăn nửa buổi cho những người phụ họ vần công. Tùy theo mỗi gia đình, có khi họ đãi ăn xôi gà cho vụ đập lúa hay khoai lang nấu cho những vụ nhổ cỏ lúa. … Họ không lấy tiền mà tính công như công nhổ cỏ hay công cấy lúa cho nhau. Ví dụ: anh nợ tôi hai công nhổ cỏ. Lần sau anh phải nhổ (nhà nông thay phiên nhau phụ giúp nhau công việc như cấy lúa, nhổ cỏ cho tôi hai ngày công để trừ lại… họ gọi là vần công)
-Người ta gói bánh bằng lá dừa nên gọi là bánh dừa.
-Bọng: giống như một ống cống nhưng làm bằng cây. Thường là cây dừa chết ( cây dừa ngâm dưới nước không bị mục nát). Người ta đẽo bên trong cho rỗng. Đặt bọng dừa nằm ở dưới giữa thửa ruộng và con rạch để lấy nước ra vô.
-Vàm (trâu): Người ta dùng một sợi dây gai cột vòng quanh cổ con trâu. Từ cổ, cột một sợi dây khác xuyên qua hai lỗ mũi nó rồi cột trở lại phía bên kia cổ. Người ta muốn nó đi đâu nắm dây vàm kéo nhẹ. Nó sẽ đi theo vì dây kéo ngang lỗ mũi làm nó đau nên phải tuân theo.
Tôi có người bạn người Min ở TP Portland này cũng chạy xe taxi (ở VN gọi là đồng bào dân tộc người Dao, họ sống trên miền thượng du Bắc Việt như người H’ Mong). Tôi kể câu chuyện này cho bạn tôi. Bạn tôi cũng biết chơi ống thụt này, cũng bắn bằng giấy ngâm nước và trái mây dóc. Nhưng bạn tôi kêu là trái Ton Ton.

ống thụt làm bằng tre tầm vông và trái mây dóc.
images (1)

CHỢ TRỜI XE GẮN MÁY CŨ GIA LONG.

Lời nói đầu: Bài viết này được viết với dạng hồi ký. Nên những tên tuổi hay năm tháng không được chính xác. Xin quý vị vui lòng tha thứ. Rất hân hạnh khi được quý vị bổ sung thêm, để cho bài viết được phong phú hơn.
Trân trọng.

VŨ HỒNG TRUNG

10941831_788456594580689_4911785192387835305_n

PHẦN MỘT.

SỰ HÌNH THÀNH.

Theo lời Bác Mười Vũ ( Trần Vũ ), là cha ruột của anh em nhà anh Hai Rổ, Tỷ lùn, Sáu Lùn… Nhà Bác Mười ở trong hẻm đường Trần Hưng Đạo, gần đường Nguyễn Cảnh Chân, quận Nhì, Saigon. Bác kể lại: “ Khoảng giữa năm 1965. Bác thường ra nhà xuất nhập cảng xe gắn máy Thanh Tâm, (sau này bán lại cho nhà buôn Phi Hùng ) số 323, ở đầu đường Gia Long, Ngã Sáu đánh bài. Một hôm bác đang đứng trước cửa, thấy người ta đem chiếc xe Gobel bán lại ( xe đã mua của tiệm này, cách đó một tháng ). Nhưng ở đây, chủ tiệm từ chối. Vì họ không mua xe cũ.
Thế là Bác Mười bỏ tiền ra mua chiếc xe đó. Cùng với vài người bạn góp vốn. Bác là một trong những người tiền phong, sáng lập chợ trời mua bán xe gắn máy cũ, ở đường Gia Long từ đó.

SỰ PHÁT TRIỂN.

Thấy vậy, nhiều người làm việc ở Tổng nha Cảnh sát, ngành an ninh. Họ theo chân Bác Mười cũng ra mua bán xe cũ như: Chú Chánh lùn, Bác Chí Mập. Hay những anh được hoãn dịch vì lý do gia cảnh đông con ( 06 con trở lên) như Anh Hai Đẩu, Anh Hai Sao, Anh Năm Thà…
Cho đến tháng 04 năm 1975. Đã có hơn 20 người mua bán xe cũ.

XE MỚI.

Còn những tiệm bán xe gắn máy ở đây, như Thanh Tâm, Hòa Bình, Mỹ Tấn, hai anh em nhà Vinh Sơn, Kim Sơn… hay xa hơn qua khỏi rạp Long Phụng, có các nhà buôn Phi Hổ, Phi Long, Liên Chi… vẫn bán các loại xe nhập cảng của Pháp, Đức, Ý và Nhật như Velo Solex, Mobylette, Puchs, Lambretta, Honda, Suzuki, Yamaha…

Thử hình dung đoạn đầu đường Gia Long, từ Ngã Sáu chạy vô, vào thời điểm năm 1969.
Hai bên lề đường, trước những nhà buôn, là những thùng gỗ hình chữ nhật, chứa các xe gắn máy bên trong, chồng chất lên cao 5, 6 lớp.
Khách hàng tấp nập trước các cửa tiệm. Có người đang hỏi thăm về giá cả. Có người đang chờ thợ ráp xe…
Phần đông nhiều khách hàng thích mua xe còn nguyên trong thùng.
Mỗi thùng chứa 02 hoặc 03 xe Honda SS 50/ 1967, hay 03 xe Honda Dame C50.
Có những người chuyên môn khui thùng chứa xe. Họ liên lạc với cửa tiệm. Nếu có nhu cầu. Họ khui và mua lại những thùng cây này.
– Xe Honda SS 50 năm 1967 có hai màu đen và đỏ.
Vào thời gian này đã nhập qua xe Honda Nam SSM 50 còn gọi là xe 69. ( năm 1969 ). Xe thiết kế đồng hồ tốc độ rời. Bình xăng màu xám dẹp, yên ngắn, pô vắt. Có hai màu đen và đỏ. Hộp số có 6 =012345
Giá mỗi chiếc là: 36.500 đồng.
-Xe Honda Dame C50 cũng có hai màu xanh và đỏ.
Giá mỗi chiếc là 30.500 đồng .
Chánh phủ không có đánh thuế vào người tiêu thụ. Người mua chỉ có chịu thêm vài chục đồng tiền con niêm ( tiền tem ).
Nhà buôn cũng chỉ có đóng thuế môn bài buôn sĩ và lẻ mà thôi.

RÁP XE

Đôi khi quá đông khách hàng, thợ ráp xe ngay trên vĩa hè, trước cửa tiệm.
Mỗi xe có kèm theo một thùng đồ.
Thợ ráp vè, bánh xe trước, dây đồng hồ tốc độ, thắng trước, đèn trước, nối các dây điện, tay lái, kiếng chiếu hậu, yên xe… ( ráp bửng che gió cho xe nữ).Đổ nước acid vào bình ắc quy.
Tùy theo nhu cầu. Có người mua thêm borbagare, để bảo vệ đèn lái sau và đèn signal, bao yên xe, bao tay cầm, gắn hai hình Honda hai bên thùng xăng ( để chống ăn cắp hai miếng cao su ), khóa nắp xăng, hộp bao bọc bình carburatuer / bộ chế hòa khí xăng cho xe nam.
Riêng xe nữ, khách hàng còn mua thêm chiếc giỏ sắt đàng trước, để dựng thêm đồ khi đi chợ, hoặc thêm ghế nhỏ để chở trẻ con.
Phần đông, khách hàng ai ai cũng nhờ thợ chạy xe đi hàn thêm pát sắt vào chân chống để làm khóa đứng. Vì khóa cổ theo xe, chỉ cần gặt tay lái mạnh, thì ổ khóa bung ra, trở nên vô hiệu. Ở đây cũng có bán các loại khóa của Đức hay Mỹ. Nhưng mọi người lại thích khóa điện tử của Nhật mới nhập ( Khóa này hình chữ nhật, chìa khóa là một thanh kim loại cũng hình chữ nhật, bên hông ổ khóa có một nơi để đặt thanh chìa khóa vào để mở ra. ( Khóa này áp dụng lực đẩy của nam châm để mở khóa )

Quà tặng của hãng Honda dành cho khách hàng là:
Mỗi xe được một túi xách màu đỏ bằng simili, có dây kéo fermatuer, nhản hiệu Hm / Honda Motor, bên trong vòng tròn màu trắng và cánh chim lớn bên ngoài.
Một quyển sách cẩm nang hướng dẫn về những cơ bản khởi động máy xe bằng tiếng Việt, và một bộ đồ nghề bao gồm:
01 tuýp mở bu-gi, 01 khóa vòng 17 để mở ốc bánh xe, 01 cây kềm nhỏ, 01 chìa khóa miệng 10-14, 01 cán cây tuột nơ vít bằng nhựa cứng màu đỏ, cây vít có hai đầu bằng và tứ giác, và sau cùng là một lon sơn để dậm vá nếu sơn xe bị trầy xướt.

Trong khi chờ đợi vì người mua quá đông, thợ ráp xe không kịp, mà bụng lại đói. Khách mua xe chỉ băng qua bên kia đường đối diện. Thưởng thức một tô mì vịt tiềm hay mì bồ câu nổi tiếng của Kim Phụng mì gia. Bảo đảm sẽ trở lại lần sau. Vì mì ở đây, nổi tiếng ngon nhất ở khu vực Sàigòn.
Hay nếu khát nước. Khách có thể kêu sinh tố hay các loại nước ngọt như cocacola hay xá xị, ngay xe bán sinh tố ở bên kia đường đối diện.
Sau khi ráp xe xong, người mua xe thanh toán tiền cho cửa tiệm. Thợ nổ máy cho khách hàng xem. Theo nhu cầu của chủ xe, người thợ ráp chạy xe về hướng rạp Long Phụng, quẹo tay phải trên đường Nguyễn Phi, ghé tiệm hàn nằm ngay góc đường Lê Thánh Tôn, nhờ thọ hàn hai miếng bát vào chân chống. Sau đó ghé đổ đầy bình xăng ở cây xăng Shell hay Esso, tùy theo yêu cầu của khách hàng.
Nhiều người ở Trãng Bàng Tây Ninh không biết chạy xe. Họ đẩy bộ ra bến xe hành khách, ở đường Phan Văn Hùm, Ngã Sáu. Nhờ xe đò chở về nhà. Bến xe khách này chạy các tuyến đường:
SG – Bà Điểm – Hóc Môn.
SG – Củ Chi – Trảng Bàng.
SG – Long Hoa – Tây Ninh.
Đôi khi người mua không quen chạy xe trong thành phố, hoặc sợ chạy xe đường xa. Họ thuê thợ ráp xe, chạy về nhà dùm ở các tỉnh lân cận như Biên Hòa, Bình Dương…
Mỗi chiếc xe bán ra nhà buôn kiếm được 2.000 đồng, tương đương với ½ lượng vàng 24K của Kim Thành.
Thành phố với 04 triệu dân. Sự mua bán rộn rịp như vậy ở đây mỗi ngày. Ban đêm, xa xa bên ngoài thành phố… đâu đó tiếng nổ của bom đạn vọng về. Cuộc chiến đấu của quân đội VNCH, đang chống lại thảm họa xâm lăng của Cộng Sản Bắc Việt, vẫn đang tiếp diễn…
Xe Honda càng ngày càng chiếm lĩnh thị trường. Vì người dân chọn sự tiện lợi của nó. Không phải đổ xăng pha nhớt giống như các loại xe 2 thì khác như Kawasaki,Yamaha hay Suzuki. Và động cơ xe Honda 4 thì, máy xe chạy mạnh và bốc hơn.
Công việc kinh doanh mua bán thuận lợi. Ngoại trừ thời gian Tết Mậu Thân. Việt cộng đánh phá và chiếm đóng đồng loạt các thành phố lớn. Những nhà buôn phải bán lỗ, thấp hơn giá xe nhập cảng ( ví dụ nhập một chiếc xe tổng cộng luôn phí chuyên chở vận tải là 30.000 đồng. Bán chỉ được 28.000 đồng )
Sau năm 1972. Chánh phủ không cho nhập cảng xe nữa. Giá xe mới còn tồn kho, bán ra nhảy vọt lên đến 300.000 đồng một chiếc ( Theo lời Bà Tố Nga, chủ nhà buôn Vinh Sơn kể lại )

Tất cả các xe gắn máy được nhập cảnh theo các đại lý như sau:
Xe Brumi, Gobel, Ischia máy Sachs.
Xe Honda nhập qua hãng Vạn Tín.
Xe Lambretta & Lambro nhập qua hãng Vinaco.
Xe Puch nhập qua hãng Đặng Đình Đáng.
Xe Velo Solex, Mobylette nhập vào qua hãng Lucia đường Lê Lợi.
Sau này nhà buôn Vinh Sơn còn nhập xe Daihatsu bán.
Năm 1975, Chánh phủ dự định thay thế các loại xe chở hành khách công cộng Lambro, bằng loại xe Daihatsu của Nhật. Nhưng chưa kịp, thì Việt Nam Cộng Hòa mất nước.

ĐUA XE.
Nhộn nhịp nhất là những cuộc đua xe gắn máy, trong các dịp lễ như Quốc Khánh 26 tháng 10 của nền Đệ Nhất Cộng Hòa, hay Ngày Quân Lực 19 tháng 6 của nền Đệ Nhị Cộng Hòa. Được tổ chức ở sân Cộng Hòa hay sân Hoa Lư.
Các lò làm xe đua như lò Tám Giàu / Xóm Cũi, Thành Hưng quận Nhì…

Tay đua Trần Văn Hai, còn gọi là Hai Tịnh, là tay đua của lò Thành Hưng. Lò Thành Hưng nằm ở góc đường Phát Diệm và Võ Tánh, quận Nhì, là một trong những lò làm xe đua, đã đạt được nhiều giải Huy chương Vàng trước năm 1975 ( Bác Chín, chủ lò Thành Hưng là anh ruột của Bác Mười Vũ )

Vào những ngày trước cuộc đua xe xảy ra. Các tay đua của lò Thành Hưng hay các tay đua độc lập như Anh Năm Thà, số 35, thường đem xe ra chạy thử, ở khoảng từ đầu đường Gia Long đến ngã ba Nguyễn Phi. Tiếng máy xe gầm rú, phóng lướt đi với tốc độ rất cao, gây nhiều âm thanh náo nhiệt, ồn ào nơi đây!

XE ĐUA.

Vào thời kỳ đầu các lò đua đều sử dụng xe máy Sachs, sườn Brumi. Xy- lanh 49cc xoáy hết cỡ cốt 4. Tôc độ chạy đường trường đạt đến 100 Km / giờ.
Chỉ riêng độc nhất tay đua Năm Thà, số 35 sử dụng xe Bridgestone.
Sau khi xe Honda nhập vào năm 1966. Lò Anh Tám Giàu ở Xóm Củi, đầu tiên làm xe Honda đưa vào sân đua cùng xe Sachs. Nhưng chạy không lại. Tay đua Trần Văn Hai chạy xe Brumi hảng Sachs vẫn đoạt giải Huy Chương Vàng.
Sau đó vào khoảng năm 1970. Các lò đua đã biết kỹ thuật, móc lổ xăng, vớt quyclas, thông pô… Và xe Honda đã làm mưa làm gió trong các đường đua.
Chính tay đua Hai Tịnh, cũng phải chia tay với chiếc xe Brumi của mình.
Ngoài những kỹ thuật về máy như xoáy lòng cy- lanh, khoét lổ xăng, lổ lửa, móc pô… Các xe đua phải tháo rời những gì không cần thiết, để cho xe nhẹ bớt đi trọng lượng. Họ còn phải thay nhông trước, dĩa sau cho xe đạt đến tốc độ tối đa.
Người viết bài cũng đã từng chạy xe lòng cy-lanh 50 móc 65 cc, nằm trên yên trên xa lộ Đại Hàn, xe đạt đến tốc độ 120- 125 Km/ giờ lúc đó. Nhưng khi vào đường đua sân Hoa Lư. Chạy thử chiếc xe đua, chỉ có một vòng tròn. Đã cảm thấy muốn rớt tim ra ngoài. Vì máy xe rất mạnh, mà đường đua toàn là đá nhỏ, quá trơn trợt. Như vậy mới cảm thấy bái phục những tay đua xe dũng cảm và gan lì.
Vì sau này các lò đua đã gắn nòng cy-lanh 89 cc xoáy lên đến 110 cc. Nên xe rất mạnh (lòng 89cc lấy ra từ các xe Honda S90, mua lại của người Mỹ).
Còn những cuộc đua xe bất hợp pháp, được tổ chức trên xa lộ Biên Hòa hay khu vực Bà Hom, vòng đai xa lộ Đại Hàn vào khoảng năm 1969 – 1970. Các tay đua được truyền miệng nhau, về địa điểm sẽ tranh tài. Rất đông những người đi theo xem, hay cá độ tiền.
Tham dự những cuộc tranh tài này thật thú vị, vô cùng hào hứng và thật là hồi hộp…
Thường khi phải có người canh chừng cảnh sát bố ráp. Cảnh sát mà bắt được, phải đóng phạt tiền rất nặng. Những cuộc đánh cá thường từ 500 ngàn hay bạc triệu.
Đoạn đường đua trên xa lộ thường không dài lắm, khoảng chừng 8- 10 Km. Sau khi đưa tiền cho trọng tài giữ. Hai tay đua đem xe chạy đến chỗ xuất phát.
Sau khi nhận được dấu hiệu xuất phát. Hai chiếc xe phóng đi như hai viên đạn pháo, bay lướt trên mặt đường nhựa nóng bỏng. Thường thì những người đi theo cá độ hay đi coi, thường thích chạy xe theo sau.
Vì xe đua chạy tốc độ cao, nên dĩ nhiên muốn chạy theo xem, thì máy xe của mình cũng phải có tốc độ mạnh.
Nếu đứng tại chổ gần mức đến, xem cuộc đua xe. Bạn sẽ nghe từ xa xa âm thanh thật dòn của hai chiếc xe vọng đến. Và rồi hai chiếc xe trông như không có người lái. Vì hai tay đua này, hai tay cầm tay lái, đang nằm dài, dẹp sát trên yên xe, hai chân duỗi thẳng đàng sau. Khi xe chạy ngang qua mức đến, âm thanh của nó gầm rú như tiếng nổ của máy bay phản lực…
Có khi cuộc đua bất phân thắng bại. Vì hai tay đua đã cùng bay xuống ruộng nước (khi gần đến mức đến ăn thua, một tay đua đã thấy mình thua, liền ép xe khác cùng lao xuống ruộng )
Hoặc bị cảnh sát rượt đuổi. Thiên hạ mạnh ai nấy chạy bung ra tứ phía. Có người bị bắt đem về đồn. Tạm giữ vài giờ, rồi đóng tiền phạt.
Trong các lò móc xe chạy trên xa lộ. Có anh gọi là Phì Lũ (người Tàu, to Mập) ở khu vực chợ Thị Nghè. Chuyên môn xoáy nòng xe và chỉnh bình xăng con ( Carburateur/ bộ chế hòa khí hổn hợp xăng ). Một người bạn thân, đã tốn không biết bao nhiêu tiền bao anh ta ăn uống, để nhờ làm xe độ. Vậy mà khi chạy trên đường ra Vũng Tàu chơi. Người bạn thì nằm trên yên xe chạy trên 120 – 130 Km / giờ. Mà Phì Lũ thì ngồi sõng lưng, xe vẫn chạy phom phom, qua mặt xe người bạn nhẹ nhàng. Người bạn rất buồn, vì Phì Lũ không thật lòng đối với anh ta. “ Vẫn còn dấu nghề ”!

CÁC LOẠI XE ĐÃ NHẬP CHÍNH THỨC VÀ CÓ MẶT TRÊN THỊ TRƯỜNG MIỀN NAM.
honda dame c 50

-Hãng BMW Đức quốc /Germany.
Sử dụng xăng pha nhớt.
Xe 250 cc, 350cc, 750 cc.
-Hãng Bridgestone. Nhật Bản. Japan.
Động cơ xăng pha nhớt.
Chỉ nhập có xe Nam 50cc màu đỏ và màu đen. Không có xe của nữ.
-Hãng Ducati. Đức quốc / Germany.
Động cơ xăng pha nhớt.
Nhập xe Nam loại 50 cc. Không có xe nữ.
Harley Davidson 600cc & 900cc, Sử dụng xăng Super. Xe viện trợ của Chánh phủ Hoa Kỳ dành riêng cho ngành Cảnh sát Công lộ sử dụng.
-Hãng Honda. Nhật bản / Japan.
Máy Honda dưới 50 cc / phân khối. Là một cuộc cách mạng cho các động cơ xe gắn máy nhỏ.
Sử dụng nguyên liệu xăng super, không pha nhớt. Động cơ bốn thì ( 04), rất mạnh và bền. Chạy đường xa máy lâu nóng hơn các máy loại xe hai thì( 02), chạy xăng pha nhớt ( Xe hai thì, chạy trên 100 Km, máy nóng, bu- gi / Spark – plus bị đóng chấu, phải ngừng lại nghỉ cho máy nguội, tháo và làm sạch chất dơ trên đầu bu gi (lửa không đốt cháy hết nhớt, nhớt trong hỗn hợp của xăng bị nóng khô lại,)
Xe Honda Nam S 50/1965, SS50/ 1966 – 1967, CL50/ 1968, SS50M/ 1969, CD 50/ 1970, SS50E/ 1971, SS50V/ 1972.
Honda Nữ C50 các đời số sườn C50 YA/ 1965 – C50 YK/1972
Honda Nam S 90/ 90cc, Honda CB + CD 90/ 90cc, CB + CD 250/ 250cc, CB 350/ 350cc, và CL 750/ 750cc, do người Mỹ đem vào.
Các loại Cub Nữ C 65, C90 do người Mỹ đem qua.
Vào năm 1970, Kiều bào sau khi bị người Miên cáp duồn, chạy về nước có đem theo xe Honda Nam S 90 màu đỏ rượu chát / Bordeau và xe hơi Peugeot 404 hay 505. ( cáp duồn= bị sát hại, giết chết vì kỳ thị dân Việt Nam )
Hãng Honda đầu tiên sản xuất xe Cub 50 năm 1958. Nhưng Miền Nam bắt đầu nhập xe từ năm 1965. Trong các dòng xe Nữ đầu tiên. Quỹ tiết kiệm Quân đội có bán xe trả góp cho quân nhân. Nên thường gọi là xe Dame đời Quân đội.
Xe Kawasaki, Nhật Bản.
Sử dụng nhiên liệu xăng pha nhớt. Nhập cảng vào SG năm 1965. Độc nhất loại xe chỉ có loại xe nam 50 cc. Có hai màu đen và đỏ. Hộp số có 04 số = 1230 ( ba số đạp tới đàng trước). Máy chạy rất bền. Nhiều xe còn sử dụng đến ngày nay.
Xe Lambretta Ý quốc / Italy.
– Sử dụng nhiên liệu xăng pha nhớt .
– Loại Mini Scooter 50 cc, loại 150 cc, loại 175cc.
– Xe Lambro. 450 & 550 cc. Dùng để chuyên chở hành khách và hàng hóa.
– Xe nhập qua đại lý Vinaco.
Xe Mobylette. Pháp quốc. France. Xe nhập qua hãng Lucia, đường Lê Lợi ngay Thương xá Tax.
– Sử dụng nhiên liệu xăng pha nhớt .
– Xe Nam 50 cc Vàng & Xám ( sườn hai ống đũa)
– Xe Mobylette Xanh và Xám 50 cc, Và một loại Mobycane tên Cady 50 cc, rất dể thương dành cho các cô gái tuổi teen.
Xe cyclo máy ba bánh, do hãng Motobycane sử dụng động cơ 250 cc.
Hãng xe Puchs. Áo quốc . Austria. Sử dụng nhiên liệu xăng pha nhớt .
Do ông Đặng Đình Đáng nhập vào VN. Xe Nam 50 cc, có hai kiểu đèn thường và ba đèn. Máy rất mạnh có 3 số 0123, chạy vọt hơn xe Gobel.
Bạn có thể thấy sức mạnh của nó khi người ta ráp máy vào xe ba gác. Sức kéo của nó trên một tấn vẫn chạy phom phom.
Hảng Sachs. Đức quốc. Germany. Sử dụng nhiên liệu xăng pha nhớt .
Loại kiểu Ischia, Gobel, Brumi 50 cc. Sử dụng xăng pha nhớt. Chỉ có loại xe Nam. Hộp số có ba số 012.
Xe Brumi máy Sachs đã một thời làm mưa làm gió, trên các đường đua xe gắn máy trước năm 1970 trong sân vận động Cộng Hòa hay sân Hoa Lư.
Hãng xe Suzuki. Nhật Bản. Japan.
Sử dụng xăng pha nhớt.
Các loại xe Nam, Nữ 50 cc. Nhập vào Miền Nam từ năm 1965- 1968.
Các nhà buôn không nhập nữa. Vì không cạnh tranh nổi với hãng xe Honda.
Các lọai phân khối lớn hơn như Suzuki 250cc, 350cc… nhập khẩu theo đơn đặt hàng cá nhân.
Hãng xe Triump. Đức quốc. Germany.
Sử dụng xăng pha nhớt.
Các loại xe này máy phân khối lớn 250 – 350 cc.
Nhập vào Miền Nam khoảng năm 1950 – 1955.
Hảng xe Velo Solex. Pháp quốc .
Sử dụng nhiên liệu xăng pha nhớt. Dung tích 50 cc kiểu 2200 năm 1958, kiểu 3300 năm 1964 và kiểu 3800 năm 1966. Không có số. Máy xe nằm đàng trước, có bánh đá nhám. Đạp xe chạy lấy đà. Tay trái bóp air. Tay phải kéo máy thả ra về đàng trước. Bánh đá nhám làm lăn bánh xe trước, khởi động máy xe. Khi muốn hãm tốc độ xe lại, chỉ cần bóp hai thắng tay. Ngày trước, phụ nữ mặc áo dài chạy xe này trông rất thanh lịch và duyên dáng.
Hãng xe Vespa. Ý quốc. Ytaly.
Sử dụng nhiên liệu xăng pha nhớt .
Xe loại Mini 50 cc / 1965.
Xe Vespa Standard 150cc / 1960.
Xe Super 150 / 1965.
Xe Sprint 150 / 1968.
Và Vespa 175cc chở hành khách vào năm 1960.
Hãng xe Yamaha. Nhật Bản. Japan.
Sử dụng nhiên liệu xăng pha nhớt .
Loại xe 50 cc Nam & Nữ.
Yamaha 100 cc Nam.
1399262_545082535580239_1402384974_o

B. PHẦN HAI.

Sau khi hiệp định ngưng bắn được ký kết tại Paris vào ngày 27 tháng 3 năm 1973. Mỹ và các Quân đội đồng minh đã rút quân về nước. Cuộc chiến đấu cho Tự Do, và ngăn chận hiểm họa Cộng Sản, giờ chỉ còn lại một mình. Dân quân Miền Nam phải chiến đấu trong cô đơn và khó khăn. Vì Chánh phủ Mỹ đã bội ước, cúp viện trợ, cũng như ngưng cung cấp, thay thế chiến cụ…
Với sự viện trợ tối đa của Liên Xô và Trung Cộng. Cộng Sản Bắc Việt đã xé bỏ lời cam kết, xua quân tấn công vào các tỉnh thành Miền Nam. Quân Đội chỉ còn sử dụng hàng tồn kho, cung cấp cho chiến trường một cách nhỏ giọt. Phi cơ không xăng, súng không có đạn… Do vậy QLVNCH chỉ còn cầm cự, rút quân, di tản để bảo vệ người dân. Cuối cùng một mình không thể chống lại với ba bốn, mà họ lại được trang bị vũ khí tận răng.
Sau hai năm chiến đấu cầm cự. Ngày 30 tháng 4 năm. Tổng thống Dương Văn Minh, đã kêu gọi quân nhân các cấp buông súng đầu hàng vô điều kiện.
Không đánh mà thua. Quân đội VNCH bị bức tử. Miền Nam đã lọt vào tay của Cộng Sản.

1. SAU 30 THÁNG 4 NĂM 1975.

Sau khi CS cưỡng chiếm miền Nam, những nhà buôn nhập cảng xe đã bỏ đi hết, như anh em nhà Vinh Sơn, Kim Sơn, Hòa Bình, Phi Hùng, Phi Long, Liên Chi và các nhà nhập cảng len như Cự Hà Lê Tiến…
Quân Quản đã tiếp thu và đóng quân trong những nhà đó.

GIAI ĐOẠN. Tháng 4-1975 – 1980.

Thành phố Sài Gòn thanh lịch, với những chiếc xe gắn máy cùng tà áo dài thướt tha, đã biến mất sau ngày mất nước.
Bầu trời thật u ám, ảm đạm với những chiếc xe đạp uể oải, lang thang vô định trên đường phố. Những cô giáo không dám mặc áo bông, mà phải mặc áo bà ba màu màu đậm khi lên đứng lớp. Những sĩ quan và những người làm việc trong các cấp chánh quyền, bị gọi đi học tập cải tạo. Thân nhân của họ bị cưỡng bức hồi hương hay đi lên vùng Kinh tế mới. Đó là những vùng đất hoang vu, trước đây là những vùng đất trắng ( vùng được oanh kích tự do). Họ được cung cấp một mái nhà giống như cái chòi, không có vách. Một nơi ở không có căn bản tối thiểu về y tế. Những người ăn trắng mặc trơn, chưa bao giờ biết cầm cây cuốc, giờ phải học cuốc cày, trồng trọt để mưu sinh. Với sự khắc nghiệt của môi trường sống, bị sốt rét hay bị bệnh vì chướng khí. Dù đã tận lực lao động. Nhưng họ vẫn không có đủ thức ăn. Phần nhiều họ nhờ sự tiếp tế, giúp đở thực phẩm của thân nhân họ hàng ( hoặc nửa gia đình đi KTM, nửa ở lại TP mưu sinh, tiếp tế cho những người vùng KTM). Vì bị chết chóc, bệnh tật và không thích hợp môi trường, nên họ đã trốn về sống lây lất trên vĩa hè. Những người còn tiền vàng hay có thân nhân gởi chui về. Họ tìm đường ra đi, tìm cách để vượt thoát ra khỏi Thiên đường Cộng sản. Họ đã ra đi dù biết rằng trên đường đi, có thể sẽ bị hải tặc cướp bóc, hãm hiếp hoặc chết. Nhưng họ vẫn ra đi với sự hy vọng. Đi tìm cái sống trong cái chết. Cuối cùng một số người đã đặt chân đến bến bờ Tự Do.
Theo thống kê của Boat People / Hội Cứu Người Vượt Biển từ năm 1975 – 1990, có trên 600,000 người đã vùi thây trong rừng sâu, hay chôn vùi trong lòng đại dương. Những người dân ở vùng đảo Thổ Chu, Phú Quốc, đã chôn nhiều người con gái, đàn bà thân thể trần truồng, bị hãm hiếp rồi quăng xác xuống nước, trôi dạt vào bãi biển. Và từ đó, trong Tự điển quốc tế, có thêm một từ mới “ Boat People ”.

2. CHỢ TRỜI.

Hầu hết dân chúng ở SG phải đem đồ trong nhà ra bán để sống. Vì là thân nhân của công chức, hay quân nhân trong QĐVNCH, nên khó tìm việc làm. Ngoài trừ nhà nước cần lưu dụng những nhân viên cũ như y tá, bác sĩ, thầy cô giáo, một thời gian.
Vì vậy nhiều chợ trời mọc lên như nấm:
– Chợ bán bàn ghế, tủ thờ, giường nệm ở đường Trần Quý Cáp.
– Chợ đồng hồ Huỳnh Thúc Kháng.
– Chợ chén dĩa, sành sứ, đồ kiểu…trên đường Lê Công Kiều.
– Chợ quần áo cũ Hàm Nghi.
– Chợ sách cũ trên đường Hồ Văn Ngà.
– Chợ thuốc tây Nguyễn Phi.
– Chợ thuốc tây Tân Định.
– Chợ xe đạp Ngã Bảy.
– Chợ quần áo cũ ở đường Thoại Ngọc Hầu, Tân Bình.
– Chợ quần áo cũ khu vực Lăng Ông Bà Chiểu.
– Trong số các chợ trời. Chợ trời mua bán xe gắn máy cũ khu tam giác Gia Long + Phạm Hồng Thái + Nguyễn Phi là chợ trời lớn và đông người nhất ( thời điểm từ năm 1985- 1990, ước lượng khoảng trên 500 người vừa lái buôn vừa cò ).

XE ĐẠP

Vì xăng chỉ cung cấp cho cán bộ và công nhân viên làm việc trong các cơ quan. Dân thường không có phiếu mua xăng. Nên thiên hạ đành rủ nhau đi xe đạp. Những chiếc xe đạp treo trên gác xép mấy chục năm nay giờ lấy ra sử dụng.
Và vì nhu cầu, nên các hãng sản xuất xe đạp phải tăng tối đa năng xuất.
Xe đạp hãng Lucia. Mới đầu bán ra hơn 200.000 đồng một chiếc xe đạp Mini. Thiên hạ sắp hàng chen lấn nhau để mua. Vì xe làm bằng tube sắt tốt, ráp đồ của Pháp. Nhưng bán chưa được bao lâu thì phải đóng cửa đi về Pháp. Sau đó nhà nước tiếp thu, đổi tên thành nhà máy xe đạp Sài Gòn Giải phóng.
Các hãng xe đạp nhà nước khác cũng cho ra lò xe Chiến Thắng, xe Cửu Long…
Và từ đây người dân xài hàng nội hóa. Cũng như các mặt hàng khác tất cả do nhà nước quản lý như xăng dầu, thực phẩm, gạo thóc…
Vì nhu cầu quá thiếu thốn, mà nhà nước ngăn Sông cấm Chợ. Nên người dân tìm cách sinh tồn bằng đi buôn. Tất cả mọi mặt hàng nhu yếu phẩm đều là buôn lậu hết như gạo, thịt, đường dầu ăn…
Và mỗi tỉnh, nhiều trạm kiểm soát mọc lên để lục xét, đóng thuế, và tịch thu hàng hóa.
Vào thời gian tháng 3 năm 1979, xãy ra cuộc chiến biên giới phía Bắc. Tàu Cộng đã xua quân đánh chiếm Cao Bằng Lạng Sơn, chúng đốt phá, tàn sát, hãm hiếp phụ nữ…
Phong trào vượt biên nở rộ. Đến đâu cũng nghe thiên hạ bàn tính đường đi. Những người quen từ từ biến mất. Có người được tin đã đến đảo như Điệp, Vân, Quang em của Sỹ. Có người mất tích.
Sau đó nhà nước cho phép người Hoa đóng vàng, mua tàu đi bán chánh thức. Nhiều chuyến vượt biên đã làm mồi cho cá. Vì họ bị lũ người gian ác lường gạt, bán tàu đường sông lên be, làm mũi lại. Nên khi ra biển gặp sóng lớn đánh chìm!
Nhiều tàu vượt biên lênh đênh trên biễn 30, 40 ngày. Vì không ai biết lái và định hướng la bàn. Nhiều chiếc hết lương thực, người ta phải ăn thịt người chết để sống sót…

Khoảng 1980 – 1985.

Xe đạp Pháp / Peugeot.

Những chiếc xe đạp hiệu Peugeot, do thân nhân từ các nước Tư Bản, đặt hàng bên Pháp, đã nhập qua đường biển vào Cảng Sài Gòn.
Hàng này được dân miền Bắc có tiền ưa chuộng. Dân miền Nam chỉ biết bán ra để mà ăn.
Ngoài Bắc, những du học sinh đi học ở các nước như Tiệp Khắc, Hung ga ry, Bung ga ry. Khi về nước mua xe đạp. Xe của Tiệp Khắc được dân miền Nam ưa chuộng vì thép tốt, nhẹ và mẫu mã đẹp.

Xe đạp Mỹ.

Xe đạp Mỹ được thân nhân gởi về qua Cảng SG.
Trong số các lái buôn bán xe đạp có anh em Anh Tài Đen, ở Khánh Hội.
Lái ngoài Hà Nội vào mua xe đạp ngoại..

XE GẮN MÁY MỚI XHCN ANH EM.

• Những cán bộ đi công tác hay du sinh Miền Bắc, đi học ở các nước XHCN, khi trở về nước đã đem về các lọai xe gắn máy của Tiệp khắc như
Simson S50 cc, S 70 cc
Babetta cũng 50 cc,
Xe Jawa 50 cc.
Sau này đem về xe Jawa 350 cc
Tất cả các loại xe này đều chạy xăng pha nhớt.
Thời gian này ở SG, dân chúng đã có tiền mua xăng bán lậu ở ven đường; nên hàng xe Babetta bán chạy. Lái buôn Bắc như Dân ở đường Nguyễn Thị Nghĩa ( Phan Văn Hùm cũ ), hai vợ chồng Bắc kỳ ở nhà 301 bis… nhờ con buôn phía Bắc đem xe vào Nam, bằng tất cả mọi phương tiện tàu thủy, xe lửa, xe hàng …

XE NGHĨA ĐỊA 1984 – 1990.
TÀU VIỄN DƯƠNG

Những dòng xe cũ / Second hand, được thủy thủ tàu viễn dương đem về. Mỗi thủy thủ được mua đem về một chiếc xe. Khi về đến Cảng SG. Các anh thường đến đường Gia Long, kêu mối lái xuống tàu mua. Các anh chỉ lấy vàng 9 tuổi 6. Vào thời gian này có nhiều chỗ thử vàng kiếm tiền dễ dàng, chỉ cần mỏ hàn xì để khè và đá mài để định tuổi vàng.
Theo lời kể lại của các thủy thủ. Đầu tiên, họ vào nhà người Nhật gần bến cảng chơi. Thấy xe cũ để trong sân nhìn thèm thuồng. Người Nhật hỏi các anh có muốn không? Họ gật đầu muốn. Người Nhật không những cho, mà còn chất lên xe tải nhẹ, chở ra chỗ bến tàu đậu. Sau này các anh em vào bãi xe nghĩa địa. Chọn xe. Xe nào máy nổ trả 100 USD. Máy không nổ 80.
Những hàng xe hút nhất là xe cub 1981, đồng hồ báo tốc độ, nhún sau ba tầng, màu xanh rêu, có khi bán ra trên ba cây vàng!
Thỉnh thoảng anh em thủy thủ cũng đem về xe Honda Twin 100 hay Honda CB 125 màu bạc. Riêng loại xe CB này, gọi là hàng ” Chiến “, vì có chiếc trị giá đến 8 lượng vàng.

B. XE NGHĨA ĐỊA TỪ THÁI LAN.

Về bằng đường bộ nhập khẩu qua Tịnh Biên, An Giang.
Nhiều anh em bộ đội đóng quân gần cửa khẩuTịnh Biên, đã mua lại xe của các lái buôn Cambodia. Mà hàng này từ Thái Lan đem sang. Anh em lái buôn bộ đội này, sau khi mua xe xong, làm giấy Hải quan nhập khẩu. Và chạy xe từ An giang về bán ở Gia Long. Mỗi xe lời được vài chỉ vàng. Thời gian này hàng hút là xe cub cối 1978- 1980 (tay lái ngang, máy bền hơn. Khác tay lái cánh én, máy cánh)

C. XE MỚI.

Dream 100 / I & II hàng TháI Lan.
Nguồn hàng đầu tiên do các cán bộ đi công tác mua đem về. Giá ban đầu lên đến 7 cây vàng ( USD 2,400 ). Sau đó, dân buôn mua lại của các lái buôn Cambodia, nhập qua các cửa khẩu làm giấy Hải quan.
Sau khi Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh ra lệnh mở cửa( 10 năm tự cô lập và bị cấm vận với các nước Tư bản. Nên quá nghèo đói ). Sau khi được lênh mở cửa. Thân nhân của người dân Miền nam từ các nước Canada, Mỹ, Nhật, Pháp … thay vì gởi hàng quà như trước đây. Đã ào ào gởi các loại xe cũ mới theo các ngã sau:

1. KHO NHẬN HÀNG NƯỚC NGOÀI CÔ GIANG.
Xe SPREE 50 cc màu đỏ tay ga/ Xe này khi nổ máy đèn trước cháy sáng. Bên Mỹ mua USD 1,000. Lúc đầu xe này lái mua vô được 18 chỉ. Bán ra được 20 hoặc 21 chỉ. ( hiện giờ năm 2014, thỉnh thoảng cũng còn thấy dân Mỹ chạy trên đường )
Xe mới Honda Z2DK, 50 cc gọi là xe Dame năm 1979. Giá mua 17- 18 chỉ vàng. Có hai màu đỏ và xanh dương.
Honda C70 DD màu đỏ, màu xanh ve chai, lái buôn mua với giá 23- 24 chỉ vàng 24K.
Ở đây, cũng cho nhận các hàng xe Honda cũ đời từ 1978 _ 1982

2. CẢNG SÀI GÒN.
Kho 5. Cảng Sài Gòn cũng cho nhận hàng xe cũ Honda / Second- hand từ năm 1978_ 1982.
Lái buôn xe liên lạc với anh em cò ở nơi đây, hay anh em chạy xe ba gác đạp, ba gác máy ( nếu người nhận hàng ở xa ). Phần đông, những người nhận xe về, đều bán để trang trãi chi tiêu, hay mua vàng để đóng tiền cho người nhà tìm đường vượt biên.
Theo như người quen cho biết. Thân nhân bên Mỹ mua mỗi chiếc xe Honda cũ đời từ 1978 – 1980 giá USD 400. Gía vàng dao động theo thời điểm từ 02 chỉ 02, 02 chỉ 03 # USD 100.

D. HÀNG DỊCH VỤ XUẤT NHẬP KHẨU.
Sau này nhà nước thấy xe nghĩa địa mua về bán có lời. Nên cho quota, các công ty XNK được nhập xe về hàng loạt.

E. HẢI QUAN.
Thường thì xe nhập vào Cảng làm thủ tục Hải quan phải mất thời gian tử 15 này đến 3 tuần. Và lái buôn xe phải biết đường dây để cho nguồn hàng không tồn đọng lâu.

F. ĐĂNG KÝ XE.
Người dân bình thường khi đăng bộ xe mới, phải chờ chực và mất thời gian lâu mới có giấy đăng bộ xe. Và đôi khi người mua muốn số xe của mình mang số đẹp ( không bị số bù… ). Do vậy có những người chuyên lo dịch vụ giấy tờ đăng ký xe.

G. LÁI BUÔN ĐƯỜNG DÀI.
Lái buôn Miền Trung như Anh Lai râu, chuyên mua xe từ SG đem ra Đà Nẵng hay ngược lại. Có thời gian những loại xe như Honda SS 50 đời 1967 nước sơn còn origin rất hút hàng. Anh mua đem về Đà Nẵng bán.
CÁC LOẠI XE SAU NĂM 1990.
Xe nội địa Hàn Quốc.
Honda Citi 100.
Honda DH 88.

H. TÂN TRANG.
ĐỒNG.

Nếu xe bị hư sườn hay cần phải làm đồng. Có rất nhiều thợ đồng không xa khu vực ngã sáu như Năm thợ đồng ở đường Ngô tùng Châu, hay Tư chín ngón bên đường Nguyễn Du.
Nhưng không ai làm đồng qua mặt được tiệm người tàu Hùng Thăng, gần góc đường Lê Hồng Phong và Hùng Vương.
SƠN.
Những lái buôn bán xe cũ, phải biết tìm những nơi nào giá phải chăng để sơn xe. Và các anh thợ sơn họ thường tập trung, chung quanh không xa gần khu vực Ngã sáu.
Sau ngày 30 tháng 4 có gia đình ông Tư Nổi, anh Tư Tiện, sơn xe bên vĩa hè.
Đôi khi những chiếc xe xịn quá, cần dậm vá sơn chút ít, thì cần kiếm mấy người có tay nghề cao. Và anh Hai, biệt danh Hai Lưỡi Lam, ở đường Hồng thâp Tự, gần sân vận động Hoa lư, là cao thủ nổi tiếng trong giới thợ sơn ở SG. Và cũng đúng như biệt danh, giá sắc như lưỡi lam. Nhưng không ưu phiền về sau. Bảo đảm sơn không mau phai, đổi màu.
MÁY.
Tay nghề thợ máy xe giỏi nhất ở đây rất nhiều.
Và, Anh Hai Rổ là một trong những thợ máy nổi tiếng.
ĐÁNH BÓNG ĐỒ NHỰA.
Đồ nhựa xài lâu bị ngã màu, bị trầy, bễ… Cần đem đến những tay thợ hàn, cạo đánh bóng lại để tăng thêm giá trị của chiếc xe.
YÊN NỆM.
Trên đường Lê Văn Duyệt và Ngô Tùng Châu có nhiều tiệm chuyên bao bọc các loại yên nệm xe gắn máy và xe hơi.
XI MẠ.
Những gì có liên quan đến đồ xi mạ. Thì đã có người nhà của Ông Ba Thầy Xi. Nhận và trả hàng tận tay với giá phải chăng. Gia đình Ông ở Trung Chánh, Quang Trung, đã làm nghề này mấy chục năm nay trước năm 1975.
SỦI VỎ XE.
Một nghề xuất hiện sau ngày 30 tháng 4. Vì vỏ xe mới mắc và chưa được nhập sang. Gia đình anh Năm có mấy người con chuyên Xũi vỏ xe. Những chiếc vỏ cũ được vẽ lên bằng bút mực các đường rãnh. Sau đó họ dùng các công cụ đặc biệt, chế tạo bằng thép cong như các mũi thép của đồ nghề thợ mộc để vét các đường rãnh sâu xuống gần các lớp bố ( Không được chạm lớp gai bố ). Khi tác phẩm hoàn tất. Các đường gai nhô cao lên. Sử dụng thêm được một thời gian khoảng vài tháng.
Vào những thời gian này có GĐ Bác Chí, nhà ở đường Lương Hữu Khánh, quận 1, cạnh đường rầy xe lửa cũ, gần nhà thương Từ Dũ, bán các loại vỏ xe nhập mới. Nguồn hàng có lẽ do những nhà buôn trước tháng 4/1975 còn tồn trữ lại cung cấp. Về sau này vỏ ruột xe hàng Thái về nhiều. Bác Chí chuyển nghề lái buôn xe.
DỌN XE.
Là một công việc quan trọng nhất trong dịch vụ mua bán xe cũ. Và nhiều người làm công việc này trở nên chuyên nghiệp thành một “ Nghề ”gọi là Dọn Xe mướn.
Trước khi tháo rời xe ra để dọn, người nhóm trưởng này phải có nhiều kinh nghiệm, nghe được tiếng máy nổ của xe, để định bệnh và báo cho lái buôn xe, biết được tình trạng máy cần phải sửa chữa bộ phận nào… Đôi khi những người này kiêm luôn sửa chữa máy.

Nếu xe không cần phải sửa chữa các bộ phận liên quan đến máy. Thì chiếc xe được tháo rời ra. Tất cả các chi tiết tháo ra, như một chiếc xe sắp đem sơn lại nguyên chiếc vậy.

Máy xe phải được hạ xuống. Và dùng dầu hôi cùng bàn chải cước nhuyển làm sạch các lớp dơ.

Tất cả những đồ nào có si mạ, được ngâm vào một thùng hay thau nhôm có chứa dầu hôi. Người thợ dọn này, dùng bàn chải đánh răng nhỏ, chà rửa các lớp dơ như khói hay mở bò khô bám dính. Những lò- so nhún trước nào bạc thau bị mòn, phải đem thay đóng lại. Sau đó cần phải vô mở bò mới ở những chỗ cần thiết. Nếu bố thắng mòn cần phải thay mới.

Sau khi đã chà rửa bằng dầu hôi rồi. Chiếc xe được lắp ráp trở lại và được rửa lại bằng nước sạch. Phải cho máy nổ nóng lên. Và dùng savon bột chà sẽ làm sạch bóng những đồ cấu tạo bằng nhôm.

Nếu xe cần phải dậm vá về phần sơn. Thì đem đi đến thợ sơn.

Bên cạnh đó các món đồ mủ đã được đánh bóng. Hay yên nệm đã được bao bọc xong rồi.

Sau đó, đến phần đánh bóng xe. Tay nghề đánh bóng cao, khi dùng bông gòn và dầu bóng, đánh cho đến khi nghe được âm thanh “ chét.. chét ” ( Ruồi đậu vào chắc không được, vì quá trơn trợt )

Mỗi xe tiền công dọn tương đương hơn một chỉ vàng.

Anh em Đạt và Tuấn chín ngón là những nhóm dọn xe có uy tín nhất ở đây.

CÒ, BẮT MỐI, MÔI GIỚI.

Cò, từ này có nguồn gốc từ tiếng Pháp La commission: người hưởng hoa hồng ( còn có nghĩa khác là người bắt mối, người trung gian, người ăn huê hồng ).Nhưng ở chợ trời thường được gọi nôm na là Cò.
Có nhiều loại Cò:
Cò đậu. Là cò chỉ đón bắt được mối xe bán, rồi bàn giao cho những cò khác.
Cò bay. Là cò trả giá, thương lượng gần đến đích giá, và kêu lái đến và đi về nhà chung với lái để mua xe đem về. ( Phải biết nắm vững giá thị trường. Trả giá chừa lại một khoảng cách vài chỉ. Để cho lái mua còn được trả giá. Như vậy người mua mới hài lòng)
Cò Vịn: Là người khác đón xe được. Cò này chỉ cần đến lấy ngón tay nhịp vào yên xe ( hàm ý tui cũng có phần). Ai thương lượng trả giá, đi theo mua xe đem về không cần biết. Như vậy cũng được chia phần trăm.
Siêu Cò. Cao nhất là loại cò nắm vững giá cả mua bán thị trường. Có khi nhiều người khách không đem xe ra bán. Chỉ ra đây thăm dò giá cả thị trường, hoặc muốn bán xe với giá cao.
Người cò này luôn có sẳn vài chỉ vàng đem theo. Vô đến nhà, xem xe và giấy tờ hợp lệ. Trả giá xong, đặt tiền cọc. Về chợ, biết lái nào ưa thích mua xe loại nào. Miêu tả lại cho lái nghe. Ra giá tiền cò. Đưa lái đến nhà chồng tiền lấy xe. Loại cò này nhiều khi ăn tiền cò đến 2, 3 chỉ vàng. Tùy theo tình trạng loại xe đang hút khách trên thị trường.
Có khoảng thời gian cực thịnh, cò ở đây mỗi ngày kiếm hơn 01 chỉ vàng.

BỐ RÁP. DẸP LÒNG LỀ ĐƯỜNG.

Thời gian từ năm 1977 – 1980, là những năm đen tối nhất của dân mua bán xe và làm cò. Thành phố theo chính sách dãn dân, dẹp lòng lề đường… Công an và TP và Phường đội thường xuyên phối hợp mở chiến dịch càn quét. Nhiều anh em làm cò bị bắt đi cải tạo. Những người còn bám trụ được là nhờ thân thế quen biết với Cán bộ hay có hợp tác với Công an…

CÔNG TY KINH DOANH TỔNG HỢP MUA BÁN XE GẮN MÁY QUẬN 1.

Nhà nước muốn kiểm soát tất cả mọi kinh doanh. Giống như trước đây những Hợp tác xã Nông nghiệp, HTX Thương Nghiệp …
Và UBNDQ 1 đã thành lập Công Ty Kinh Doanh Tổng Hợp Mua Bán Xe Gắn Máy, để kiểm soát và thu tiền của tất cả các cửa hàng buôn bán xe ở chợ này.
Nhưng công ty này chỉ hoạt động một thời gian không lâu.

PHƯƠNG TIỆN VẬN CHUYỂN.
Anh Hai Đẩu và anh Ba Thàng là hai anh em ruột, sau năm 1975 chạy xe cylco máy. Khi nhu cầu chuyên chở các xe cũ mới, từ chổ lãnh hàng nước ngoài ở Cô Giang, hay Cảng SG. Hai anh đã nhanh chóng đem xe ra đậu ở lề đường Gia Long. Các lái buôn đã kêu hai anh đi chở xe về tiệm, hay giao hàng cho khách mua. Sau này các công ty Thương Nghiệp Dịch Vụ XNK, nhập xe cũ về nhiều hàng loạt. Một số anh em trẻ mua xe vận tải nhẹ Daewoo, hay Huyndai cũ để chuyên chở mướn.

ĂN UỐNG.
Một phần quan trọng quên nhắc ở đây là Ăn uống. Cơm trưa mỗi ngày đã có Dì Tư, Chị Sáu, chung quanh rạp Long Phụng. Họ nấu đồ ăn rất ngon. Lâu lâu có món mắm và rau là món khoái khẩu nhất của dân Gia Long.
Cà phê lề đường mọc lên như nấm phục vụ cho anh em ở đây. Chị Yến, có người em tên Hà, đã tốt nghiệp Cử nhân Pháp. Bán cà phê cho đến khi nhà văn hóa Pháp mời làm thông dịch.
Bên cạnh đó, mỗi chiều có gánh hủ tiếu bò viên của một chị người Hoa. Chị này ăn chay trường, nhưng nấu ăn thật tuyệt vời. Hay còn có chị người Bắc gánh bún mắm, thường bán ghi sổ cho những anh em cò nghèo.

KINH DOANH THẤT BẠI.
Rất nhiều người có tiền vàng mà không biết buôn bán. Đem vốn ra chợ trời này. Kiếm người hùn hạp làm ăn. Bị lừa gạt, bị ăn chận với đủ mánh khóe. Hay có người bị xúi dục mua xe giá cao. Sau đó phải bán lổ vì ngâm vốn quá lâu. Bị ăn chận khi mua và lúc bán xe. Nên bị mất vốn, giải nghệ…

THÀNH CÔNG.
Phần đông nhiều lái buôn bán xe ở chợ này đều thành công.
Tỷ phú từ tay trắng.
TRẦN CHÍN, có lẽ sanh khoảng sau năm 1960. Là con thứ 8 của Bác Mười Vũ, em trai của anh Hai Rổ.
Xuất thân từ tay trắng ra chợ này làm cò, bước theo chân của các anh lớn như Tỷ và Sáu Lùn…
Sau thời gian cùng nhóm Trung râu, Sơn cụt chuyên chạy kiếm mua xe ở Cảng SG hay Cô Giang. Ba anh em cùng Thu Vân làm ăn ( Thu Vân là một trong những lái buôn nữ ở Gia Long ). Nhóm này làm ăn cũng khấm khá được một thời gian.
Sau đó T. Chín có được một số vốn nho nhỏ. Nhờ những lúc vàng xuống bỏ tiền ra mua, và vàng lên bán ra đúng thời cơ. Nên chẳng bao lâu T. Chín phát tài. Với bản chất lanh lợi cộng thêm sự may mắn. Và nhờ năm 1990 – 1992 trúng những lô hàng Dream mới của Thái.
Và, sau này T. Chín cộng tác với Anh Tường, Anh Mạnh nhập về những lô hàng xe vận tải nhẹ second- hand nhản hiệu Daewoo, Huyndai nên rất phát tài trở thành tỷ phú.
Vào khoảng năm 2000. T. Chí đã mua được căn nhà nằm ngang rạp Long Phụng. Khai trương riêng cửa hàng mua bán xe gắn máy.

LONG MẬP. Long mập có lẽ sanh năm 1955, nhà ở Chánh Hưng Q 8, cũng xuất thân làm cò như mọi người. Sau đó đầu quân làm ăn với Anh Hiệp, em của Chị Năm Hòa Bình.

Long Mập và Anh Hiệp rất hợp, và thủy chung nhau cộng tác nhau trên 40 năm . Anh Hiệp nhờ Long phát tài, ngược lại Long cũng nhờ Anh Hiệp mà trở nên tỷ phú.

Long Mập làm rất nhiều điều thiện. Trong đó phải nói đến sự trợ giúp ma chay ở khu vực phường nhà. Nhà nào có người chết. Long Mập bỏ tiền ra để cho thân nhân mua quan tài và các chi phí khác. Sau khi chôn cất hay hỏa thiêu xong. Người nhà hoàn trả tiền lại cho Long. Tùy theo gia cảnh. Có khi Long chỉ lấy lại chút đỉnh.

KẾT LUẬN.
Chợ trời thường mang nghĩa không được tốt dẹp. Buôn bán giành giựt, lươn lẹo không chân thật…
Những người nào học hỏi, am hiểu về Định luật Nhân Quả. Chắc chắn áp dụng trong kinh doanh phải luôn luôn đặt “ Sự Chân Thật ” lên hàng đầu.
Trên đây dưới cái nhìn hạn hẹp của một cá nhân. Nên có rất nhiều thiếu sót. Chẳng qua là muốn đóng góp một phần nhỏ, nói về sự hình thành của chợ trời xe gắn máy cũ Gia Long. Là một nét văn hóa của dân Miền Nam trước năm 1975.
Kính mong quý vị lượng thứ cho.

((Viết xong tại Portland , Oregon ngày 22 tháng 01 năm 2015.)

PHỤ LỤC.
-Anh Hai Rổ.Là con trai lớn nhất của Bác Mười, anh chuyên sửa các loại xe gắn máy như Honda, Suzuki…
Anh sửa xe bên lề đường. Vợ anh, Chi Hai chuyên đi mua đồ phụ tùng. Anh Chị, thỉnh thoảng cũng mua bán những xe hàng chiến.
-Bác sĩ Đặng Văn Chiếu. Có lẽ ông là người giàu nhất khu vực này. Trước năm 1963, ông có dưỡng đường ngay mặt tiền đường Gia Long. Sau đó ông phá bỏ. Xây building cho người Mỹ thuê. Ông còn có một căn biệt thự tọa lạc trên đường Đặng Trần Côn, bên hông rạp Long Phụng.
-Bến Xe Khách đường Phan Văn Hùm. Chuyên chở hành khách đi các tuyến đường Sài gòn_ Hốc Môn. SG_ Trãng Bàng. SG_ Tây Ninh. Sau năm 1976 bến xe dời về bến xe buýt Bà Quẹo.
-Chợ ăn đêm Ngã sáu Phù Đổng. Ban đêm ở đây bán đủ thứ các món ăn chơi như: Bột chiên, Chè Xâm bổ lượng, Cơm, Mì xào… Trước năm 1975, buổi chiều khoảng 3- 4 giờ. Những người Tàu đẩy các xe bán hàng ra đây. Bán cho thực khách đi chơi đêm cho đến 3, 4 giờ sáng. Sau đó họ dọn dẹp vệ sinh và đẩy xe về nhà. Sau năm 1975, họ chiếm luôn chỗ và không còn đẩy xe về nhà nữa.
-Ciné Aristo. Nằm ngay góc đường Lê Lai và Phan Văn Hùm. Rạp xây cất theo kiểu Pháp, có hai hàng bancony hai bên. Những trang trí hoa văn theo kiểu Gothic rất đẹp. Sau đó phá bỏ xây building cho người Mỹ thuê. Sau 1975 làm nhà hàng khách sạn Lê lai. Là một phần nơi xây khách sạn New World bây giờ.
-Cự Hà Lê Tiến và những nhà nhập cảng Len…Chuyên nhập cảng các loại len từ Pháp và các nước Châu âu. Cung cấp cho toàn miền Nam.
-Cự Thất. Ông người Bắc di cư năm 1954, là thầy thuốc Đông y. Chuyên trị những người bị bong, trật gân, gãy xương… Ông nổi tiếng ở vùng SG, giống như ông Trương Quốc Cường ở đường Hậu Giang vùng Chợ lớn.
-Dì Tư bán cơm, bên cạnh rạp Long Phụng. Chuyên bán cơm trưa, cơm phần… Hơn 10 năm, đã mua được căn nhà mặt tiền đường Gia Long.
-Đức Thịnh. Ông bà gốc bắc di cư vào Nam 1954. Là chủ nhà máy sản xuất giây thun luồn quần độc nhất khu SG. Ông có thêm mấy căn nhà bán đồ len trên đường Gia Long, nhà máy sản xuất Hộp quẹt bằng nhôm, ở trong hẻm đường Phạm Hồng Thái. Vợ và các con của ông đã đi Pháp trước ngày 30/4/1975. Ông tiếc của nên ở lại, ông đã hiến mấy nhà máy cho Cách mạng…
-GĐ Hai anh em Th.và Ch. làm cò. Hợp tác với Công an chìm SBC như Dương Minh Ngọc hay Lê Văn Chiến, đã bắt rất nhiều vụ bán xe gian, có khi bắt được kẻ gây án, bán cả vũ khí.
-GĐ Hai Tây,Tư Búa. Năm Hương… Anh em rất đông. Gần chục người làm cò. Giống như tên gọi. Họ là những người tay bằng miệng, miệng bằng tay.
-GĐ Mỹ Nương. Chị Mỹ Nương người gốc Huế, rất xinh đẹp. Có chồng lính Không quân. Là một trong những người đàn bà giỏi về ngành mua bán xe gắn máy. Hiện giờ Mỹ Nương đã mua lại nhà số 307 đường Gia Long xây khách sạn.
-Kim Phụng mì gia, đường Gia Long. Đặc biệt mì Vịt tiềm, Mì bồ câu. Là một tiệm mì nổi tiếng vùng SG, giống như Mì Cây Nhãn, nổi tiếng trong vùng Gia định.
-Năm Đen. Là đội trưởng đội bài trừ du đảng thời chánh phủ Ngô Đình Diệm. Ông nổi tiếng có nhiều vợ, nhà nằm trong hẻm, sau lưng rạp Long Phụng. ( trong đó có nghệ sĩ H.N)
-Lộc và vợ tên Lan, nhà số 217. Đầu tiên hai người mở lớp dạy vẽ chân dung bằng bột than. Đã thu hút đông đảo học viên. Họ đã kiếm được nhiều tiền. Hai năm sau chuyển sang nghề mua bán xe cũ.
-Rạp Long Phụng. Chuyên chiếu phim ca nhạc, thần thoại cổ tích của Ấn độ. Lồng tiếng VN, có thêm những đoạn vọng cổ do Út Bạnh Lan hát.
-Trung tá Năng, ngành Cảnh Sát Quốc Gia, quận trưởng quận 5. Tù cải tạo 10 năm. Là người làm cò cấp bậc quân đội lớn nhất ở đây. Đi Mỹ theo diện HO 01năm 1990. Và còn nhiều anh cấp bậc nhỏ hơn như Đại úy, Trung úy.
-Trường trung học tư thục Tân Thanh, nằm trên góc đường Phạm Hồng Thái và Phan Văn Hùm, ngay chổ cà-phê Starbuck, khách sạn New Word bây giờ.

Trong thời gian đầu khi Cộng Sản chiếm SG. Nạn cướp giựt trên đường phố đã giảm rất nhiều. Vì lúc đó Quân quản ra lịnh bắn bỏ. Có rất nhiều tay anh chị, đã bị bộ đội bắn rơi đài trên đường tẩu thoát.
Hai thanh niên chạy xe 67 cướp giật ở chọ Bến Thành, chạy qua Ngã sáu Phù đổng, hướng về phía Hòa Hưng. Đã bị bộ đội đứng gác ở góc đường Gia lo Lê văn Duyệt bắn chết cả hai trước Công đoàn Lao động.
Hai thanh niên khác chạy xe 67, giựt dây chuyền trước chợ Thái Bình, chạy trên đường Vỏ Tánh hướng về phía Ngã sáu. Bị bộ đội đóng ở góc đường Bùi Chu Võ Tánh bắn hạ. Một chết tại chỗ. Một bị thương nặng.
-Tượng Phù Đổng Thiên Vương hay còn gọi là Thánh Gióng. Là biểu tượng cho Thánh Tổ Binh Chủng Thiết Giáp của QĐVNCH. Do Công Binh VNCH xây dựng vào năm 1970.

1511853_565556250199534_1801503001_o

VŨ HỒNG TRUNG