LỜI TẠ ƠN BÉ NHỎ của TUONGTRI.COM dành cho các tác giả yêu quý, các độc giả tuyệt vời, các thân hữu dễ thương và tất cả các thâm tình suốt đời không trả nổi.
Category Archives: Tương Tri
Alexandre de Rhodes
Đúng ngày 5 tháng 11 năm 2015, bên cạnh một tấm bia mộ, nếu có, với hàng chữ như thế này:
Alexandre de Rhodes
15-3-1591 Avignon, France
5-11-1660 Isfahan, Persia
nếu còn đọc được, ở trong một khu nghĩa địa cổ, nếu còn hiện diện, ở cái xứ Iran, sẽ không có một vòng hoa, một bó hoa, hay ngay cả một bông hoa nhỏ nào hết dành cho người nằm dưới mộ.
Ông là Elexandre de Rhodes, sinh ngày 15 tháng 3 năm 1591 tại Avignon, nước Pháp, gia nhập dòng Tên tại Roma, được chỉ định truyền giáo tại Ma Cao rồi sang Việt Nam truyền đạo hơn 20 năm, học tiếng Việt rồi đi khắp nơi từ Nam ra Bắc, từ Đàng Trong tới Đàng Ngoài giảng đạo. 6 lần bị trục xuất và cả 6 lần ông đều tìm cách trở về, để rồi bị mang bản án tử hình rồi bị trục xuất ra khỏi Việt Nam vĩnh viễn.
Hơn 20 năm ở Việt Nam, ông không để lại một công trình gì lớn cho giáo hội, ngoài một cuốn từ điển để đời, cho cái xứ sở không muốn ông hiện diện, không chấp nhận và ngay cả muốn lấy đi mạng sống của ông.
Cuốn Từ Điển Việt Bồ La dựa trên các ký tự tiếng Việt của những giáo sĩ người Bồ Đào Nha và Ý trước đó.
Cũng vì cuốn từ điển này mà cách viết của một dân tộc luôn luôn tự hào với “bốn ngàn năm văn hiến” phải đổi thay.
Cũng vì cuốn từ điển này mà ông bị đội thêm trên đầu cái mũ tiếp tay cho thực dân xâm lược.
Cũng vì cuốn tự điển này mà ông được trao tặng bằng sáng chế.
Alexandre de Rhodes có phải là người “sáng chế” ra chữ quốc ngữ? Ông không phải là người “sáng chế” ra chữ quốc ngữ. Ông chỉ là người “tổng hợp” và có “tham vọng” làm cho chữ quốc ngữ phát triển rộng hơn ra ngoài cái mục đích ban đầu của những người sáng chế ra là những nhà truyền giáo Bồ Đào Nha chỉ để dành dạy tiếng Việt cho các nhà truyền giáo mới đến Việt Nam. Sáu lần ông bị trục xuất, sáu lần ông đều kiếm mọi cách để trở về, và lần cuối cùng bắt buộc phải ra đi, sau khi cái bản án tử hình treo trên cổ, ông vẫn tìm mọi cách trở lại Việt Nam mà không thành, là đủ thấy cái “ý đồ” và “tham vọng” của ông đối với chữ quốc ngữ như thế nào.
Không có công trình “tổng hợp” lại những công trình của những vị khác của ông thì người Pháp không thể lợi dụng để thay thế chữ Tàu và chữ Nôm. Ý đồ “xấu xa” “thâm độc” của thực dân Pháp vô hình trung lại làm lợi cho người Việt, có một thứ chữ viết vừa dễ học và vừa dễ viết.
Những nhà truyền giáo Bồ Đào Nha chỉ sáng tạo ra chữ quốc ngữ. Alexandre de Rhodes chỉ tổng hợp và viết ra cuốn từ điển. Còn ai mới là người làm cho chữ quốc ngữ phát triển rộng rãi và trở thành một thứ chữ viết chính thức cho Việt Nam ngày nay? Oái oăm thay lại chính là thực dân Pháp với công trình “tổng hợp” của Alexandre de Rhodes.
Không có thực dân Pháp và không có công trình “tổng hợp” của Alexandre de Rhodes, Việt Nam tới thế kỷ 21 này vẫn còn phải sử dụng thứ chữ viết của người Tàu, dù có viết bằng chữ Nôm cho “đậm đà bản sắc dân tộc”, chữ viết không hoàn toàn Tàu 100% nhưng vẫn cứ là chữ Tàu.
Không có thực dân Pháp và Alexandre de Rhodes, không có chữ quốc ngữ, Việt Nam giờ đã là anh em thắm thiết tình hữu nghị keo sơn mặn nồng với người anh cả phương Bắc Trung Hoa. Dù có nói thứ tiếng khác nhau nhưng sẽ cùng viết thứ chữ như nhau. Dù có nói tiếng Quan Thoại, tiếng Quảng Đông, tiếng Tiều, tiếng Ngô, tiếng Mân, tiếng Việt thì cũng cùng viết một thứ chữ như nhau là chữ HÁN.
Và biết đâu chừng giờ này đâu có cái cảnh biểu tình phản đối đuổi “TÀU KHỰA VỀ NƯỚC”
TƯƠNG TRI
GIỚI THIỆU SÁCH MỚI:LÃNG ĐÃNG VỚI CÀ PHÊ & NHẠC
PHẠM VIỆT HÙNG
• 1949: sinh ở Nha Trang
• 1970: Cử nhân triết Văn khoa Sài Gòn.
• 1972: Nhập ngũ, dạy trường Thiếu sinh quân
Vũng Tàu.
• Trước 1975: thuộc ban chủ trương tập san
Nghiên Cứu Triết Học ĐH Văn khoa SG và
nguyệt san ĐH Minh Đức; ký giả các tuần báo
Đời, Nạng Thép, Quyết Sống; ký/truyện trên các
báo Sóng Thần, Tự Thức, Khởi Hành …
• Sau 1975: phóng viên báo Tin Sáng và Điểm
Phim; ký/truyện trên các báo/trang web: Dân
Việt (Úc), trietvan.com, newvietart.com, vanchuongviet.org…
• Bút hiệu: Phạm Nga, Phạm Nha Trang, Phạm
Khả Nghi …
* Đã xuất bản:
• Thứ Nhục Dục Tủi Nhục (Tuyển tập ký/
truyện, 2007)
• Người Thế Hồn Cho Thần Linh (Truyện kỳ ảo
– Ebook Vietvanmoi, 2013)
PHÂN ƯU
Nhận được tin buồn, Thân mẫu bạn Tạ Chí Thân là:
Cụ bà :Tạ Chương Trực
Nhủ danh : Nguyễn thị Vinh
Sinh : 1926
Đã mãn phần ngày : 26/10/2015
An táng tại quê nhà : An Thái , An Nhơn, Bình Định.
Xin thành kính phân ưu cùng tang quyến
Nguyện cầu hương linh cụ sớm về miền cực lạc.
Các thân hữu của TUONGTRI.COM
THÔNG BÁO
PHÂN ƯU
NHÀ XUẤT BẢN TƯƠNG TRI và TUONGTRI.COM thông báo:
Cô Nguyễn Thị Sương (Sương Nguyễn, Tố Chân), một tác giả của chúng tôi, một người thân của chúng tôi đã từ trần ngày thứ bảy 3/10/2015
-Thứ tư 7/10, 3 PM, lễ nhập quan và phát tang.
-Chủ Nhật 11/10, 1 PM, di quan và hỏa táng.
Thăm viếng từ thứ sáu tới thứ bảy (9am-9pm) Nhà Quàn Vĩnh Phước Winford 8514 Tybor Drive, (Gessner@S59), Houston, TX 77074.
Không nhận vòng hoa và phúng điếu.
(Các bạn có thể đọc những truyện ngắn khác làm đau nhói của tác giả SƯƠNG NGUYỄN tại https://tuongtri.com/
-Được phước
-Má tôi
-Nguyệt áo đỏ
-Những giọt mưa
-Đá xanh
-Phản hồi và liên tưởng
-Nước mắt chảy xuôi
-Chuyển nghiệp
-Cho thuê phòng v.v…)
TUONG TRI đau buồn vĩnh biệt chị.
PHÂN ƯU
Nhà văn Võ Phiến là một trong những nhà văn hàng đầu của Việt Nam, vừa qua đời tại bang California, Hoa Kỳ, hưởng thọ 90 tuổi.
Sinh năm 1925 tại Bình Định, ông nổi tiếng ở miền Nam trước 1975 qua hơn 20 tác phẩm thuộc nhiều thể loại.
Đa số các nhà phê bình và độc giả cho rằng ông thành công nhất ở thể loại tùy bút.
Nói với BBC ngày 29/9, nhà phê bình Đặng Tiến từ Pháp nhận xét tùy bút của Võ Phiến rất đa dạng.
“Tùy bút là thể loại mà Võ Phiến thành công nhất, để lại nhiều tác phẩm và tư liệu hay nhất.”
Từ sau 1975 đến nay, hầu hết tác phẩm của Võ Phiến vẫn chưa được xuất bản tại Việt Nam.
TÍNH CHUYỆN PHẢI QUẤY(thụyvi)
…Đọc hết tập sách… nói chung là thật buồn. Cuốn sách không phải loại giải trí, không cổ điển, chẳng hậu hiện đại, nhưng rất ư là hiện thực… xã hội chủ nghĩa. Buồn, rất buồn như uống cà phê thay vì bỏ đường mà bỏ lộn muối. Muối với đường hai thứ đều như nhau, cùng màu trắng…
Nhưng thôi, Tương Tri chỉ xin có vài câu thơ tặng chị để tỏ lòng thấu cảm:
Mở,
ngại ngần trang sách.
Sợ,
nỗi niềm xót xa
Đóng,
nghe lòng hoang lạnh.
Buồn,
tình người phong ba.
Phải ,Quấy …làm sao tính
Khi đời chỉ…sát na!
TƯƠNG TRI
I HAVE A DREAM : BÀI DIỄN VĂN BẤT HỦ VỀ “GIẤC MƠ” CỦA MỤC SƯ LUTHER KING
Ngày 28/8/1963, mục sư Martin Luther King, một nhà hoạt động vì dân quyền, chống phân biệt chủng tộc, đã đọc bài diễn văn “Tôi có một giấc mơ” tại Đài tưởng niệm Lincoln (Washington D.C, Mỹ) trước hàng nghìn người tham gia cuộc tuần hành đến Washington vì việc làm và tự do.
Một trăm năm trước đây, một người Mỹ vĩ đại mà chúng ta giờ đây đứng dưới bóng của ông, đã ký một bản Tuyên ngôn giải phóng. Tuyên ngôn lịch sử này đã trở thành ngọn đuốc hy vọng cho hàng triệu nô lệ da đen, những người bị thiêu đốt trong ngọn lửa của sự bất công. Nó đến như vầng dương chấm dứt đêm dài tăm tối. Nhưng một trăm năm sau, chúng ta lại đang phải đối mặt với một sự thật bi kịch khác, người da đen vẫn chưa được tự do.
Một trăm năm sau, cuộc sống của người da đen vẫn bị kéo lê bởi xiềng xích của sự cách ngăn và cùm gông của nạn kỳ thị. Một trăm năm sau, người da đen vẫn đang phải sống trên hoang đảo nghèo đói giữa biển cả phồn vinh. Một trăm năm sau, người da đen vẫn tiều tụy lang thang nơi góc phố tối tăm trên đất Mỹ, chỉ thấy chính họ là kẻ lưu vong trên ngay mảnh đất quê hương mình.
Bởi vậy, chúng ta cùng nhau có mặt tại đây hôm nay, cất chung tiếng nói về điều kiện thương tâm của chúng ta. Theo một nghĩa nào đó, chúng ta đã tới thủ đô để đòi một khoản nợ. Khi các kiến trúc sư của nền dân chủ Mỹ viết những lời tuyệt đẹp cho bản Hiến pháp và Tuyên bố Độc lập, họ đã ký nhận vào một tờ tín phiếu, theo đó mọi công dân Mỹ đều có quyền thừa kế.
Tờ tín phiếu này mang theo một lời hứa hẹn rằng mọi người dân đều được đảm bảo quyền không thể tách rời là quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Nhưng hôm nay, thực tế hiển nhiên cho thấy nước Mỹ đã thất hứa vì rằng màu da của người dân Mỹ lại bị xem là rào cản trong việc sử dụng tờ tín phiếu này. Thay vì trân trọng trách nhiệm thiêng liêng ấy, nước Mỹ đã trao cho người dân da đen một tờ séc khống không có giá trị thanh toán. Nhưng chúng ta không tin rằng ngân hàng công lý đã bị phá sản. Chúng ta không tin rằng quốc gia không có đủ ngân quỹ trong hầm dự trữ chứa đầy những cơ hội của đất nước này.
Bởi vậy, chúng ta đến đây để đòi nợ, một khoản nợ về quyền tự do và sự đảm bảo về công lý. Chúng ta có mặt tại nơi linh thiêng này để nhắc nhở nước Mỹ về sự cấp thiết trong thời điểm hiện nay. Lúc này không phải là thời điểm của sự nhượng bộ thỏa hiệp hay xoa dịu bằng những viên thuốc an thần. Giờ là thời điểm mở tung cánh cửa cơ hội cho tất cả những người con của Chúa. Giờ là thời khắc đưa dân tộc ta từ vũng lầy của bất công kỳ thị tới một nền tảng vững chắc của tình đoàn kết anh em.
Sẽ là tai họa cho cả dân tộc nếu lờ đi tính cấp bách của thời cuộc hiện nay và đánh giá thấp lòng quyết tâm của người dân da đen. Không khí ngột ngạt oi bức chứa đầy sự bất bình trong mùa hè này chưa thể qua đi tới khi có được làn gió thu của tự do và công bằng tiếp sinh lực. Những ai có hy vọng rằng người da đen cần phải xả bớt sự căng thẳng và hài lòng với những gì đã có sẽ bị vỡ mộng nếu như đất nước này trở lại với công việc như thường ngày. Nước Mỹ sẽ chưa thể bình yên, chừng nào người da đen chưa giành được quyền công dân của mình.
Cơn lốc của cuộc nổi dậy sẽ tiếp tục làm lung lay nền móng của quốc gia này cho tới ngày thấy được ánh sáng của công lý. Trong quá trình đấu tranh giành lại vị trí xứng đáng cho mình, chúng ta không cho phép mình mắc phải những hành động sai lầm. Hãy đừng thỏa mãn cơn khát bằng chén hận thù và đắng cay.
Chúng ta phải xây dựng các cuộc tranh đấu của mình trên nền tảng của các giá trị và nguyên tắc. Chúng ta không cho phép những chống đối biến thái thành các cuộc xung đột bạo lực. Chúng ta phải đứng trên tầm cao của sự hòa trộn tâm lực và trí lực.
Tính chiến đấu thấm nhuần trong đông đảo người dân da đen không được làm cho chúng ta mất lòng tin vào những người da trắng. Rất nhiều những người anh em da trắng, như bằng chứng sự có mặt của các bạn ở đây hôm nay, đã cho thấy vận mệnh của các bạn cũng là vận mệnh của chúng ta và tự do của các bạn cũng gắn liền với tự do của chúng ta.
Chúng ta không thể bước những bước đơn độc.
Mỗi bước đi, chúng ta phải nối vòng tay bè bạn cùng đồng hành.
Chúng ta không thể quay trở lại.
Có những người đang hỏi bạn, “Rồi chừng nào bạn mới yên lòng?”, Chúng ta sẽ không bao giờ thấy yên lòng khi mà ta không thể tìm được một nơi trú ngụ trong một nhà nghỉ bên đường hay tại một khách sạn trong thành phố sau chuyến đi mỏi mệt. Chúng ta chưa thể yên lòng chừng nào sự di chuyển của một người da đen vẫn đơn giản chỉ là từ một khu ghetto nhỏ sang một khu ghetto lớn hơn. Chúng ta chưa thể yên lòng chừng nào một người Negro ở Mississipi còn chưa được quyền đi bầu cử, khi một người da đen ở New York còn tin rằng anh ta chẳng có gì để đi bầu. Không, không, chúng ta không yên lòng, và chúng ta sẽ chưa thể yên lòng cho tới ngày công lý được tuôn tràn như dòng thác, và công bằng sẽ như một dòng sông cuộn chảy.
Tôi biết có những bạn tới đây vượt qua những nỗi khổ đau, gian nan thử thách. Có những bạn mới vừa ra khỏi xà lim. Có những bạn đến từ những nơi mà cuộc tìm kiếm tự do của bạn bị chà đạp bởi sự ngược đãi cuồng bạo và bị cản trở bởi sự tàn bạo của cảnh sát. Các bạn đã trở thành những người kỳ cựu về chịu đựng khổ đau. Tiếp tục tiến lên với niềm tin rằng sự thống khổ oan ức là cứu thế.
Trở về Mississippi, trở về Alabama, trở về Georgia, trở về Louisiana, trở về với những khu nhà ổ chuột ở các thành phố phía bắc của chúng ta, chúng ta tin rằng bằng cách nào đó tình trạng này có thể và sẽ đươc thay đổi.
Hãy đừng đắm mình trong nỗi tuyệt vọng.
Hôm nay, tôi muốn nói với các bạn rằng, dù hiện tại có muôn vàn khó khăn và nỗi bức xúc, tôi vẫn luôn mang trong mình một giấc mơ. Đó là một giấc mơ bắt nguồn từ giấc mơ nước Mỹ.
Trong giấc mơ của tôi, tới một ngày đất nước này sẽ cùng đứng lên và sống một cuộc sống với niềm tin “Chúng ta coi sự thực này là điều hiển nhiên: con người sinh ra là bình đẳng”.
Giấc mơ của tôi là một ngày kia, trên những ngọn đồi ở Georgia, những đứa con của những người nô lệ và những đứa con của những người chủ nô trước đây sẽ cùng ngồi bên chiếc bàn thân thiện của tình anh em.
Trong giấc mơ của tôi, thậm chí một ngày kia, bang Mississippi, một hoang mạc ngột ngạt trong bầu không khí của bất công và kỳ thị, sẽ biến thành một ốc đảo của tự do và công bằng.
Trong giấc mơ của tôi, 4 đứa con tôi tới một ngày sẽ được sống trong một đất nước mà ở đó giá trị của chúng được đánh giá bởi chính ý chí, nghị lực cá nhân, chứ không phải bằng màu da.
Ngày hôm nay, tôi có một giấc mơ!.
Tôi mơ một ngày kia bang Alabama, nơi vị thống đốc hiện thời đang luôn mồm nói về quyền can thiệp và vô hiệu hóa sẽ trở thành nơi các trẻ trai và trẻ gái da đen cùng nắm tay các bạn da trắng như anh em một nhà.
Hôm nay, tôi có một giấc mơ!.
Tôi mơ một ngày kia các thung lũng rồi sẽ được lấp đầy, những quả đồi, ngọn núi sẽ được san bằng, mặt đất gồ ghề sẽ trở nên phẳng phiu, những góc quanh co sẽ được uốn thẳng tắp, và sự huy hoàng của Thiên Chúa sẽ được bộc lộ và mọi người cùng thấy.
Đó là hy vọng của chúng ta. Đó là niềm tin tôi sẽ mang theo về miền Nam.
Với niềm tin ấy, chúng ta sẽ có thể đập nát núi tuyệt vọng thành những viên đá hi vọng. Với niềm tin ấy, chúng ta sẽ biến những tiếng kêu bất hòa trong lòng dân tộc thành bản giao hưởng êm ái của tình đoàn kết anh em. Với niềm tin ấy, chúng ta sẽ cùng sát cánh bên nhau, cùng nguyện cầu, cùng chiến đấu, cùng vào nhà lao, cùng đứng lên vì tự do, vì chúng ta biết rõ một ngày kia chúng ta sẽ tự do.
Đó sẽ là ngày tất cả những người con của Chúa cùng hòa chung một bài ca: “Quê hương tôi, miền đất thân yêu của sự tự do, của người tôi hát. Miền đất nơi cha tôi đã nằm xuống, miền đất niềm tự hào của những người hành hương, từ mọi triền núi, hãy ngân vang tiếng hát tự do”.
Và nếu nước Mỹ là một đất nước vĩ đại, điều đó nhất định phải trở thành sự thực.
Hãy để tự do ngân lên từ những ngọn núi khổng lồ ở New Hampshire.
Hãy để tự do ngân lên trên những đỉnh núi hùng vĩ vùng New York.
Hãy để tự do ngân lên trên những vùng cao Alleghenies miền Pennsylvania!
Hãy để tự do ngân lên trên những đỉnh núi Rockies tuyết phủ của Colorado!
Hãy để tự do ngân lên trên những núi đồi tròn trịa của California!
Không chỉ thế,
Hãy để tự do ngân lên từ những đỉnh núi Stone Moutain của Georgia!
Hãy để tự do ngân lên trên ngọn Lookout Moutain của Tennessee!
Hãy để tự do ngân lên từ mọi triền đồi và vùng đất cao ở Mississippi.
Từ mọi triền núi, hãy ngân vang tiếng hát tự do.
Khi chúng ta để tự do ngân lên, khi tự do ngân lên từ mọi làng quê, mọi thôn xóm, mọi thành phố và tiểu bang, chúng ta sẽ có thể làm cho ngày ấy đến thật nhanh, ngày mà mọi đứa con của Thiên Chúa, dù da trắng hay da đen, Do Thái hay không phải Do Thái, người theo đạo Tin Lành hay công giáo La Mã, tất cả sẽ cùng nối vòng tay hát vang lời ca linh thiêng của người da đen:
“Tự do đã đến, tự do đã đến, xin cảm ơn Đức Chúa toàn năng, cuối cùng chúng ta đã tự do!”.
LUTHER KING
TÁC PHẨM MỚI :VIỆT NAM YÊU DẤU ( Phạm Thu Dung)
Tôi không thể dừng lại khi bắt đầu mở ra trang thứ nhất…Không than trách cho số phận nghiệt ngã , không oán giận những người đã gây cho mình một nỗi bất hạnh lớn lao. Tôi khóc cùng bạn , một tác giả tôi chưa quen nhưng đã có một thời là con nít ở NhaTrang cùng tôi… Trường Phước Hải , Biển NhaTrang…những địa danh vô cùng quen thuộc. Bạn thật quá vĩ đại để tôi ngưỡng mộ …người bạn cùng tên ơi . Tôi sẽ gặp lại bạn nhiều lần nữa.Tại sao không??? Trên con đường chúng ta đang đi ,gập ghềnh…cô độc… những cái nắm tay đã mang lại cho mình một niềm tin , một chỗ dựa vô cùng ấm áp…
TuongTri.Com hân hạnh giới thiệu cùng quý độc giả tác phẩm này.
Sách hiện có bán tại AMAZON.COM
LỜI THÚ TỘI
Gửi các em Iraq, Libya, Syria….
Tôi tên Phạm Thu Dung, muốn thú tội.
Tôi viết Việt Nam yêu dấu với mục đích: cầu mong Hoa Kỳ cùng các Đồng Minh chấm dứt chiến tranh Iraq, Libya, Syria…và ở đâu nữa?
Khi tôi học ở Lund, Thụy Điển, có lần dạo công viên, các em bé tóc vàng mắt xanh hỏi tôi:
“Tại sao có bướu sau lưng?”
Tôi nhìn những cặp mắt tròn, ngây thơ chẳng hề biết bão lụt, cháy nhà, chiến tranh…
Tôi vẽ trên giấy vài nét giải thích xương sống tôi bị gẫy vì bom đạn. Các em chăm chú nghe rồi hỏi lúc nhỏ tôi chơi thế nào, các ngày lễ tết ở Việt Nam ra sao.
“Việt Nam Yêu Dấu” ra đời. Tôi viết cho trẻ con xem.
Loại bỏ các đoạn thương tâm không phải dễ, tôi giữ vài chỗ không vui để chuyện được liên tục và dừng bút khi tôi mười ba tuổi.
Vài người muốn biết thêm, tôi viết vài hàng như sau.
Sau khi miền Nam mất, gia đình tôi được hải quân Nam Hàn cứu và mang về nước. Nhờ chương trình nhân đạo của Liên Hiệp Quốc và Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế, chúng tôi định cư ở Úc, Pháp, Gia Nã Đại, và Hoa Kỳ.
Tôi cám ơn Thượng Nghị Sĩ Edward Kennedy cho phép người Việt được vào quốc tịch Mỹ và làm việc ở Hoa Kỳ.
Tôi có mái nhà đụt nắng che mưa và mua thức ăn cho con mèo nhỏ. Như các công dân Mỹ, tôi đi làm, đóng thuế. Một phần thuế dùng vào chế bom đạn cho chiến tranh Iraq, giết Al Q’ai dA.
Chiến tranh Libya để chấm dứt Chế Độ Qadhafi, chiến tranh Syria phòng ngừa khủng bố ISIL và chiến tranh ở đâu nữa?
Bao nhiêu bom đạn giết thường dân và trẻ con?
Chua chát thay, tôi mang quốc tịch Mỹ, cùng phe Đồng Minh gây chiến tranh Trung Đông. Tôi đóng tiền mua bom đạn giết trẻ em Iraq, Syria và Libya… những em bé chẳng gây hấn với tôi.
Bên Mỹ, trời 80 độ, tôi mở quạt máy cho mát. Bên Iraq, Syria, Libya trời hơn 100 độ, người ta sắp hàng chờ mua xăng ở xứ sản xuất hàng tỷ tấn dầu hỏa mỗi ngày.
Các em Iraq, Libya, Syria xin tha tội cho tôi.
Tôi không thấu hiểu nỗi lòng người tha phương đến khi tôi gặp người Bohemien ở Tiệp Khắc đến phi trường O’Hare. Thấy tôi cầm giấy thông hành Hoa Kỳ, anh cười:
– Cô người Trung Hoa?
Tôi nói:
– Không, tôi người Việt Nam.
– Tôi cũng có quốc tịch Mỹ. Tôi từ Tiệp Khắc.Tôi mất nước khi quân Liên Sô kéo vào Phraque năm 1968. Tôi ở Mỹ nhưng lòng tôi lúc nào cũng hướng về Praque, quê hương tôi.
Còn tôi? Thân xác bên này bờ Thái Bình Dương cách xa Việt Nam 16,000 dặm, hồn tôi theo mây trắng đến phương nào?
Ăn xong bữa chiều, tôi mở TV xem tin tức. Từ mấy năm nay, tin hàng đầu thường về trận chiến Iraq, Syria, Libya. Hình ảnh chiến tranh: người chết, trẻ con bị thương… em bé gào thét trong lửa đạn, em bị bom mất cả hai cánh tay. Tôi thấy mình trong các em bé này. Xương sống tôi bị gẫy vì bom Hoa Kỳ oanh tạc Hà Nội khi mẹ còn bồng trên tay, bom B52 hay F21?
Lần này B52 xé tan bầu trời Iraq, Libya, Syria mang đến tang thương khắp nơi. Đã bao nhiêu người chết và bị thương, nhưng chiến tranh vẫn kéo dài đến hôm nay, 2014?
Trên đường phố Baghdad, trẻ con tàn tật lê lết xin ăn. Người lính Mỹ cho em bánh mì kẹp thịt, em hớn hở về vỉa hè chia cho em bé… Em kia reo mừng vì nhà thương Anh quốc hứa sẽ làm cho hai cánh tay giả. Em dùng răng cắn vào cặp sách đến trường trong khi chờ đợi. Đây cũng là hình ảnh của tôi, tập bò tập đi lúc lên năm.
Ai đánh cắp tuổi thơ và giam cầm chúng tôi trong những hình hài tàn phế này?
Hôm nay đã hơn bốn ngàn lính Mỹ tử trận ở Iraq và hơn bốn ngàn thương binh. Người lính Mỹ trẻ tuổi muốn đem theo con chó con khi đi công vụ bên Iraq. Vẻ non nớt của anh khiến tôi tự hỏi “Anh có biết mình đang làm gì không?” hay là cũng bị dùng như một quân cờ thí?
Vài tháng sau, một tỉnh nhỏ bên Mỹ cử hành đám tang chia buồn với gia đình người học sinh vừa tốt nghiệp Trung học mấy tháng trước. Số lính Mỹ tử trận càng ngày càng tăng. Bao giờ các thanh niên Hoa Kỳ được trở về tắm biển, trượt tuyết… thay vì đổ mồ hôi nơi sa mạc Trung Đông?
Các em Iraq, Syria, Libya tha tội cho tôi.
Sadeko Sasaki, em bé Nhật bản bị ung thư bạch huyết vì phóng xạ của bom nguyên tử Hoa Kỳ thả xuống Hiroshima năm 1945. Chizuko, bạn em, lấy giấy gập thành hình chim hạc, tượng trưng cho Hòa Bình. Hội Chim Hạc Hòa Bình được thành lập ở Nhật Bản, người ta tin rằng :
Đây, tiếng khóc
Đây, lời nguyện cầu
Cho Hòa Bình Thế Giới
Chiến tranh Việt Nam kéo dài hơn hai mươi năm. Chiến tranh dữ dội nhất trong thời nhiệm kỳ Tổng Thống Nixon Hoa Kỳ. Oanh tạc cơ Mỹ thả bom xuống miền Bắc nhiều hơn số bom dùng trong Thế Giới Đại Chiến Lần Thứ Hai. Chẳng ai dám mơ đến hai chữ Hoà Bình, nhờ ơn trên, chiến tranh chấm dứt năm 1975.
Tôi bắt chước Chizuko, gấp giấy thành hình chim hạc tặng em Iraq, Libya, Syria cầu xin Hòa Bình đến trên quê hương các em. Tin tưởng nơi Thượng Đế và tha tội cho tôi nếu em hiểu rằng chúng ta cùng là nạn nhân của các Đại Cường Quốc.
Tôi chợt nhớ mình đang nói chuyện với trẻ em Iraq, Syria và Libya. Đôi mắt đen tròn nhìn tôi như bảo: “Chẳng hiểu cô ta nói gì.”
Các em không nói tiếng Việt. Tôi nhờ gió gửi đến em tâm sự một người cùng số phận.
Thân mến,
Phạm Thu Dung







